Giáo Giới Mùa An Cư

Bối Giác Hiệp Trần



(Giảng tại Khoá BDTT tại Phật Tích Tòng Lâm 29-05-2000)

Thể theo lời yêu cầu của Ban Trị sự giáo hội nơi đây, muốn chúng tôi góp một phần trong khóa Bồi dưỡng trụ trì. Vì vậy chúng tôi hoan hỷ hứa nhận, hôm nay về đây nói chuyện với tất cả tăng ni.

Tôi nghĩ rằng tăng ni hoặc đã là Trụ trì hoặc chưa là Trụ trì, nhưng quý vị đã có thiện tâm thiện chí quyết tu hành đến nơi đến chốn, quyết đem khả năng mình làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên đứng ra gánh vác những ngôi già-lam, để rồi mở mang Phật pháp. Tôi thấy đó là những người có trách nhiệm nặng nề ở hiện tại và tương lai. Hôm nay tôi không nói về tư cách Trụ trì, cũng không nói phương pháp làm sao để thành Trụ trì, mà chỉ nói thẳng về đường lối tu cho quý vị thấy hiểu.

Trụ trì là đem chánh pháp của Phật truyền bá cho mọi người thông hiểu để tu hành, nếu không nắm vững chánh pháp thì làm sao truyền bá? Vì thế Trụ trì là người thâm nhập, hiểu thấu được chánh pháp của Phật, tự mình ứng dụng tu học và đem giáo hóa cho bổn đạo tu hành. Vì vậy tôi chỉ dạy chánh pháp để quý vị nhận hiểu rõ, tu tập và giáo hóa các Phật tử ở tại bổn tự.

Bài nói chuyện của tôi hôm nay với đề tài Bối giác hiệp trần hoặc bối trần hiệp giác. Từ này xuất phát từ kinh điển Đại thừa.

Thế nào là bối giác hiệp trần hoặc bối trần hiệp giác? Bối là xoay lưng. Người xoay lưng với tánh giác mà hiệp với trần cảnh gọi là bối giác hiệp trần là phàm phu. Ngược lại bối trần hiệp giác, xoay lưng với trần cảnh, trở về với tánh giác là người xuất gia tu hành.

Kinh Pháp Hoa có thí dụ chàng cùng tử, bỏ cha mẹ bỏ gia đình đi lang thang nơi đất khách quê người. Càng đi lang thang càng khổ nhọc nghèo đói. Đi cho tới lúc chồn chân mỏi gối, cùng tử mới thức tỉnh. Càng đi xa càng khổ, chi bằng trở về tìm lại cha mẹ sẽ hết khổ, cùng tử bắt đầu quay lại trở về tìm cha. Khi về tới quê hương gặp cha là ông trưởng giả giàu có, cùng tử không dám nhận. Nhưng ông cha đã nhận ra con mình, từ từ ông dùng phương tiện dẫn dắt. Cuối cùng cùng tử mới dám gần cha, được cha trao cho sự nghiệp. Ngày xưa bỏ cha mẹ ra đi trở thành người nghèo cùng khốn khổ, bây giờ trở về được cha trao cho sự nghiệp, thành một người giàu có sung sướng.

Như vậy, hình ảnh bỏ cha ra đi gọi là bối giác hiệp trần. Trở về tìm cha nhận lại cha gọi là bối trần hiệp giác. Tất cả chúng ta đã từng bỏ cha ra đi làm cùng tử lang thang, cho tới khi mỏi mệt thấm được những khổ đau của cuộc đời, chúng ta mới hồi tâm hướng về để tìm cha. Hướng về tìm cha, đó gọi là bối trần hiệp giác, là hình ảnh của người tu.

Cùng tử bỏ cha ra đi tự mình khổ sở. Khi biết хоау về tìm cha gặp được cha thì mọi khổ đau ngang đây dứt. Trong cuộc sống chúng ta thấm được nỗi đau khổ của kiếp người lang thang trầm luân trong lục đạo. Khi thức tỉnh, quay lại tìm Phật tánh của mình, để rồi giác ngộ, được giải thoát sanh tử, hết mọi khổ đau. Đó là tinh thần tu của chúng ta hiện giờ.

Bài nói về Tứ Sơn của vua Trần Thái Tông, hai câu cuối là:

Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách

Nhật viễn gia hương vạn lý trình.

Lang thang làm khách phong trần 

Gia hương ngày một muôn phần cách xa.

Lang thang làm khách phong trần là cùng tử trong kinh Pháp Hoa. Cũng là hình ảnh chúng ta đang lặn hụp trong biển sanh tử luân hồi, khi thức tỉnh trở về, đó là tìm lại quê hương. Nếu còn một ngày mê chạy theo trần cảnh là một ngày đi xa, một ngày trầm luân sanh tử. Nếu biết trở về sớm một ngày thì đỡ khổ một ngày.

Cho nên câu sau Nhật viễn gia hương vạn lý trình, mỗi ngày xa rời quê nhà của mình cả muôn dặm. Trên con đường sanh tử chúng ta biết xoay đầu tìm lại tâm tánh chân thật của mình, đó là bối trần hiệp giác. Nếu chúng ta cứ thả lỏng sáu căn đuổi bắt sáu trần, bị nó lôi kéo mãi trong luân hồi, không có ngày thức tỉnh, không có ngày biết trở về, đó là bối giác hiệp trần.

Bối trần hiệp giác là người tỉnh, bối giác hiệp trần là người mê. Vì vậy tất cả chúng ta phải sớm thức tỉnh trở về, dừng con đường lang thang trong nẻo luân hồi, trở về với tánh giác của mình. Đó là người biết tu, người biết cầu giác ngộ.

Trong nhà Phật cũng có nói “hồi đầu thị ngạn”, xoay đầu lại là bờ. Nếu cứ nhìn tới chạy tới mãi, đó là con đường mê, biết quay đầu nhìn trở ngược lại là bến giác. Bờ mê hay bến giác cũng chỉ là một cái quay đầu. Tất cả chúng ta ai cũng có thể trở về bến giác rõ ràng, chỉ chịu khó xoay đầu. Bởi vì chúng ta quen phóng cái biết của mình theo sáu trần. Buông lung sáu căn đuổi bắt sáu trần là đang chạy theo đường mê, giờ đây chúng ta xoay đầu lại để hướng về tánh giác của mình. Trong kinh nói tu nhiều đời nhiều kiếp mới được giác ngộ, nhưng cũng trong kinh nói, chỉ một phen xoay đầu thì từ con đường mê trở về với bến giác liền, không xa không khó tìm.

Xét kỹ việc tu dường như là con đường xa diệu vợi, nhưng thật tình ở bên cạnh chúng ta, chỉ là mê và tỉnh thôi. Mê thì cứ như vậy mà phóng tâm chạy mãi ra ngoài, tỉnh là biết xoay về gốc nguồn, trở về với bến giác.

Trong kinh cũng có câu “phản quan tự kỷ” hoặc “hồi quang phản chiếu”. Phản là quay lại, Quan là xem xét, xoay lại xem xét chính mình gọi là phản quan tự kỷ. Chúng ta đừng nghĩ tu là làm việc gì ở bên ngoài, mà đang đi trên đường giác ngộ. Đi trên đường giác ngộ là xem xét lại chính bản thân mình, biết phản quan tự kỷ là biết trở về với mình, cũng là trở về với ông trưởng giả, cha của mình.

Hồi quang phản chiếu cũng vậy. Lâu nay mắt chúng ta phóng ra chạy theo ngoại cảnh, tai chúng ta duyên theo tất cả âm thanh, buông lung sáu căn theo sáu trần. Bây giờ chúng ta biết xoay lại để thấy nghe trở về với nội tâm, với bản tánh của mình, gọi là hồi quang phản chiếu.

Người tu là người biết xoay lại, biết soi sáng bản thân mình, không chạy ra ngoài. Đó là ý nghĩa rất rõ ràng cụ thể. Người khéo tu là người thấy rõ biết rõ mình đúng sự thật, đúng chân lý. Ngài Trần Nhân Tông khi còn làm thái tử được vua cha cho đến học với Tuệ Trung thượng sĩ. Khi học xong sắp trở về ngài hỏi Tuệ Trung thượng sĩ, thế nào là ý chỉ của thiền? Tuệ Trung thượng sĩ nói một câu “Phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc”. Phận sự của chính mình là quay lại xem xét mình, không phải từ bên ngoài mà được. Lâu nay chúng ta có bệnh, tu thì đi tìm Phật bên ngoài mà quên ông Phật của chính mình, cứ ra ngoài tìm Phật, tìm hoài không thấy. Người biết tu phải xoay lại quán chiếu nơi mình, bỏ hết những phiền não vọng tưởng để tánh giác hiển lộ hiện tiền, đó là biết trở về tìm Phật. Những cái bên ngoài không phải là gốc, nên ngài nói bất tùng tha đắc, không do bên ngoài mà được.

Như vậy, trọng tâm của người tu là phải trở lại chiếu soi nơi mình, không phải phóng chạy ra tìm cầu giác ngộ. Từ câu bối trần hiệp giác cho đến câu phản quan tự kỷ, hồi quang phản chiếu, hồi đầu thị ngạn đều nói rõ cùng một vấn đề. Ý nghĩa này rõ ràng trong giáo lý nhà Phật. Trong giáo lý Nguyên thủy Phật dạy ứng dụng ba mươi bảy Phẩm trợ đạo để tu, trong đó Tứ niệm xứ là gốc của tu thiền. Quán Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.

Quán thân bất tịnh là soi lại thân mình không trong sạch. Nhìn lại thấy tường tận nó, đó là thấy đúng lẽ thật, còn thấy thân mình sang quý đẹp đẽ chỉ là tưởng tượng. Một cái bô dù bên ngoài vẽ hình đẹp đẽ vẫn là đồ vật chứa những thứ dơ bẩn. Con người chúng ta cũng vậy. Mới nhìn lớp da mỏng bên ngoài thì thấy đẹp, nhìn thẳng vào bản chất bên trong toàn là nhớp nhúa, đẹp xấu cũng là nhớp nhúa. Đó là quán thân bất tịnh.

Quán thọ thị khổ, là quán những cảm giác nhận chịu đều là khổ. Lưỡi nếm món ngon món dở hoặc không ngon không dở. Tai nghe tiếng hay tiếng dở hoặc không hay không dở. Thân xúc chạm nóng mát hay bình thường… Tóm lại, sáu căn xúc chạm sáu trần, vừa ý gọi là vui, trái ý gọi là khổ, còn bình thường là không khổ không vui. Xét kỹ, những cảm giác nhận chịu khổ vui, không khổ không vui là cái tạm bợ vô thường. Như lưỡi xúc chạm được thức ăn ngon, vừa ý thì cái đó chỉ ở ngoài lưỡi. Chưa đầy một phút nuốt vô cổ thì cảm giác ngon dở không còn, nó chỉ là cảm giác tạm bợ không thật. Tất cả xúc chạm trên thân đều như vậy. Vì thế, Phật dạy quán thọ là khổ. Tại sao? Nếu chạy theo những cảm thọ thì thân tâm không bao giờ thỏa mãn, chỉ chuốc lấy khổ đau.

Quán tâm vô thường, tâm chỉ cho tâm sở của chúng ta luôn luôn đổi thay. Tâm sở tham sân si hay tâm sở thiện, tâm sở ác… Tâm sở đó là dòng chuyển biến thay đổi không dừng. Quán xét nó vô thường không thật để đừng bị chi phối mà luôn tỉnh thức.

Quán pháp vô ngã, pháp là tất cả tâm pháp và sắc pháp, là vật duyên hợp không chủ. Bởi không chủ nên không có ngã.

Tóm lại, quán Tứ niệm xứ là xoay trở lại nơi con người mình để quán chiếu sẽ thấy rõ đúng như thật, không còn mê lầm bị lôi dẫn theo ngoại cảnh. Pháp Tứ niệm xứ là một lối phản quan không khác.

Khi xưa, có một lần đức Phật đi vào rừng. Ngài đang ngồi thì có một con rùa lớn bò ngang qua, lúc đó có một con rái cá chạy đến định bắt rùa ăn. Nó сар đầu con rùa thì đầu rút vô mai. Nó cạp đến chân thì rùa cũng rút chân vô mai. Nó cạp đến mấy chân kia thì chúng đều rút vô mai hết. Cạp cái đuôi thì đuôi cũng rút vô mai. Cạp một lúc cứng ngắc cạp không được, nó chán nản bỏ đi. Ngài thấy vậy bèn nói kệ:

Sáu căn nhiếp như rùa 

Ý giữ tợ thành trì 

Trí tuệ dẹp ma chướng 

Sẽ thắng hết hiểm nguy.

Sáu căn của mình thu nhiếp giống như sáu bộ phận con rùa rút vào mai, giữ sáu căn không chạy theo cảnh như thành trì kiên cố. Trí tuệ sẽ dẹp được ma chướng, khi đó sẽ thắng hết những hiểm nguy. Rút sáu căn trở về không dính sáu trần, chúng ta tự bảo vệ chính mình. Đó là một lối tu.

Trong các kinh A-hàm, Phật cũng bảo chúng ta phải gìn giữ sáu căn trở về soi chiếu lại chính mình, không nên hướng ra ngoại cảnh. Ngài dạy các Tỳ-kheo:

Xưa kia có một đàn khỉ đi ăn, trong đó có khỉ con chưa biết nguy hiểm. Mấy con khỉ lớn đi trước, gặp cái gì ngon ăn hết, khỉ con không được ăn những thứ ngon nên nghĩ tách đàn đi một mình. Vừa tách đàn đi nó gặp miếng mồi ngon, tới gần đưa miệng vô cạp. Không ngờ đó chính là cái bẫy nhựa, vừa cạp là miệng dính nhựa gỡ không ra, lấy tay quào gỡ, vừa để tay vô dính nhựa luôn. Còn một tay kia nó đưa vô nắm lôi cũng bị dính nhựa. Hai chân sau ráng chòi để lột ra, rồi cũng dính nhựa. Còn lại cái đuôi nó cố gắng quẹo lại để móc giật cái cây ra và bị dính luôn. Sáu bộ phận của nó dính nhựa rồi, lúc đó ông thợ săn chỉ việc ra lượm bỏ vô giỏ xách về.

Phật nói người tu cũng vậy, tu mà không biết sống với tập thể, muốn ra đi một mình, sống một mình cho được tự do, nếu buông lung sáu căn để dính với sáu trần thì chẳng khác nào con khỉ kia. Con khỉ sáu bộ phận dính với miếng nhựa bị thợ săn bắt đem về, người tu sáu căn dính với sáu trần thì bị ma vương bắt, không thoát ra được. Chúng ta gìn giữ sáu căn đừng để bị sáu trần lôi dẫn thì được tự tại.

Trong kinh Lăng-nghiêm, ngài A-nan hỏi Phật: Cái gì là cội gốc của luân hồi sanh tử, cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn? Mười phương chư Phật đồng thanh đáp: “Này A-nan, sáu căn của ông là cội gốc luân hồi sanh tử, sáu căn của ông cũng là cội gốc Bồ-đề Niết-bàn.” Như vậy, chúng ta tu chỉ ở sáu căn. Sáu căn mê theo sáu trần là cội gốc sanh tử, sáu căn giác ngộ là Niết-bàn. Người thả trôi sáu căn dính mắc sáu trần rồi phải luân hồi sanh tử đời này kiếp nọ không cùng. Người biết tu xoay sáu căn trở lại nơi mình để biết rõ cái gì là thật cái gì là hư. Đó là trở về Bồ-đề Niết-bàn, là giác ngộ thấy đúng như thật con người mình.

Tất cả tăng ni chúng ta ai cũng thuộc lòng bài kinh Bát-nhã: Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách. Ngài Quán Tự Tại khi thực hành trí tuệ Bát-nhã soi thấy thân năm uẩn này đều không có chủ thể. Không có chủ thể thì mọi hiểm nguy đều hết, cho nên qua hết tất cả khổ ách. Chúng ta thuộc kinh Bát-nhã lâu rồi nhưng không qua được hết khổ ách. Chúng ta chỉ đọc trên chữ nghĩa nhưng không soi sáng để thấy năm uẩn “không” như thế nào, “có” như thế nào cho tường tận rõ ràng thì khi nào mới hết khổ ách?

Bát-nhã có ba: Văn tự Bát-nhã, Chiếu kiến Bát-nhã, Thật tướng Bát-nhã. Chúng ta đọc tụng Bát-nhã mà không chiếu kiến thì chỉ mới là bước đầu văn tự Bát-nhã, chưa tới bước thứ hai là chiếu kiến. Không có bước thứ hai thì không có bước thứ ba, không thấy thật tướng Bát-nhã. Muốn thấy thật tướng Bát-nhã thì từ văn tự chúng ta phải bước sang lĩnh vực chiếu kiến, từ chiếu kiến mới lên được chỗ thật tướng.

Ngài Thái Hư ở Trung Hoa dùng thí dụ rất rõ. Một người muốn qua sông, lên thuyền ngồi, nhưng cứ ngồi hoài không chịu chèo thì không qua sông được. Chiếc thuyền ví dụ cho Văn tự Bát-nhã, bơi chèo là ví dụ cho quán chiếu Bát-nhã, nhờ bơi chèo đến được bờ bên kia, gọi là Thật tướng Bát-nhã. Chúng ta hiện đang thực hiện Văn tự Bát-nhã, muốn qua sông nhưng cứ ngồi mãi trên thuyền không chịu bơi chèo thì chừng nào mới qua được?

Chúng ta học Bát-nhã mà cứ nghi, tại sao chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách, còn mình tu lâu quá mà không qua được khổ ách? Đó là vì chúng ta chỉ tu bằng văn tự, chưa tu bằng chiếu kiến. Chiếu kiến thấy năm uẩn đều không thì khổ ách nào còn?

Lẽ thật của Phật dạy mà mình không thực hành, hoặc chỉ thực hành một chặng thì không có kết quả. Nếu dùng trí tuệ quán thấy tận gốc tận nguồn năm uẩn thì phiền não đâu còn. Từ kinh Lăng-nghiêm cho tới Bát-nhã đều dạy chúng ta soi thấy tường tận thấu đáo thân năm uẩn không thật. Muốn soi như vậy phải phản quan hoặc hồi quang, mới được kết quả như lời Phật dạy. Tôi nói ý nghĩa trong nhà thiền. Kinh Nguyên thủy, kinh Đại thừa cho tới Thiền tông hướng đi không hai. Nói về thiền, trong hội thiền sư Quy Sơn có hơn một ngàn tăng chúng tu hành. Một hôm có thiền khách từ chân núi lên, gặp lúc tổ Quy Sơn đang giảng dạy. Vị thiền khách đảnh lễ, Tổ hỏi:

– Ông tên gì?

Thiền khách thưa:

– Con tên Quy Chơn.

Tổ hỏi:

– Quy Chơn ở chỗ nào ?

Thiền khách không trả lời được, xá lui trở xuống núi. Xuống tới chân núi gặp một ông thầy đang chăn bò. Ông thầy đó chính là Ngưỡng Sơn, Ngưỡng Sơn thấy thiền khách này lên không bao lâu lại trở xuống, lấy làm lạ liền hỏi:

– Sao Thầy xuống nhanh quá vậy?

Thiền khách nói:

– Tôi thấy không hợp duyên nên trở xuống.

Ngài Ngưỡng Sơn hỏi:

– Hòa thượng hỏi gì, Thầy đáp làm sao mà gọi là không hợp duyên?

Thiền khách thuật lại cho ngài Ngưỡng Sơn nghe. Ngài nói:

– Bây giờ Thầy trở lên thưa: “Bạch Hòa thượng, con nói được.” Hòa thượng hỏi “Quy Chơn ở chỗ nào?” Thầy cứ chỉ trong mắt, trong tai, trong mũi, trong lưỡi…

Thiền khách nghe xong đắc ý trở lên lại:

– Bạch Hòa thượng, con trả lời được.

Hòa thượng hỏi:

– Ở chỗ nào?

Ông nói:

– Trong mắt, trong tai, trong mũi, trong lưỡi…

Ngài quở:

– Kẻ học lóm! Đó là câu của thiện hữu tri thức năm trăm người, chứ không phải của ông.

Quy chơn là trở về nguồn chơn của mình. Trở về từ đâu? Từ sáu căn. Sáu căn biết quay lại chiếu soi bên trong là trở về nguồn chơn, phóng ra ngoài là chạy theo vọng, theo cái hư dối không thật. Vậy ý của tổ Quy Sơn dạy có khác với đoạn kinh trên không? Không hai.

Chẳng những tổ Quy Sơn mà ngài Ngưỡng Sơn sau này, khi đi thọ giới, đến thiền sư Hồng Ân ở Trung Ấp để hỏi đạo. Ngài thưa rằng:

– Bạch Hòa thượng, thế nào là Phật tánh?

Ngài Hồng Ân nói:

– Như cái lồng có sáu cửa, trong đó có một con khỉ. Bên ngoài có một con khỉ khác tới cửa này kêu “chéo chéo”, con khỉ bên trong cũng đáp lại “chéo chéo”. Nó đi giáp vòng sáu cửa kêu “chéo chéo”, ở ngoài kêu thì ở trong đáp.

Ngài Ngưỡng Sơn nói:

– Nếu con khỉ ở trong ngủ thì sao?

Ngài Hồng Ân đứng dậy nắm vai ngài Ngưỡng

Sơn nói:

– Chúng ta gặp nhau rồi!

Như vậy hai ngài gặp nhau ở chỗ nào? Nói bên ngoài có con khỉ kêu và con khỉ bên trong chạy theo đáp đều đều, đó là thí dụ ý thức của chúng ta chạy theo sáu căn dính mắc với sáu trần, đó là che mất Phật tánh. Nếu ý thức này ngủ yên không hoạt động, thì dù ở ngoài có sáu trần nó cũng không dính mắc. Không dính mắc thì Phật tánh hiển lộ. Cho nên ngài nói Chúng ta đã gặp nhau rồi, nghĩa là đã hiểu nghĩa Phật tánh.

Như vậy chúng ta tìm Phật tánh ở đâu? Làm sao tìm? Chỉ đừng để ý thức nơi sáu căn dính mắc với sáu trần. Ý thức dừng lại thì Phật tánh hiển lộ không nghi ngờ. Như hiện giờ những vị tu Tịnh độ dùng câu niệm Phật làm trọng tâm để tu. Niệm bao giờ mới thấy Phật, được Phật đón về Cực lạc? Trong kinh Di-đà, Phật nói rất rõ. Nếu người nào niệm danh hiệu Phật một ngày, hai ngày, ba ngày, cho tới bảy ngày nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung Phật A-di-đà và thánh chúng hiện ở trước. Khi chúng ta niệm cho tới nhất tâm thì con khỉ ý thức không còn chạy theo sáu trần, bởi vì nó ngủ rồi, nhắm mắt thì thấy Phật đến rước chứ không có gì lạ.

Nói về lý Tịnh độ, khi ý thức của chúng ta dừng lặng thì Phật tánh hiện tiền. Phật tánh có nghĩa là sáng suốt không còn sanh tử, Phật A-di-đà là vô lượng thọ, vô lượng quang. Không còn sanh tử là sống vô cùng tức vô lượng thọ; sáng suốt vô cùng là vô lượng quang. Chính Phật tánh của chúng ta đủ hai nghĩa đó. Sáng suốt là giác, không sanh tử là Niết-bàn. Như vậy tu Thiền, tu Tịnh tới đó gặp nhau. Chủ yếu Phật dạy không hai, nhưng phương tiện thì có nhiều. Người tu Thiền, người tu Tịnh đúng ý nghĩa thì trở về chỗ ý thức an định, Phật tánh mới hiện tiền.

Vị thiền sư gần gũi chúng ta nhất là Điều Ngự Giác Hoàng, tức là Trúc Lâm Đại Đầu-đà. Ở ngôi Thái thượng hoàng ngài có làm bài phú Cư Trần Lạc Đạo bằng chữ Nôm, kết thúc bằng bốn câu kệ chữ Hán:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên 

Cơ tắc xan hề khốn tắc miền

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch 

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, ở cõi trần này mà vui với đạo thì phải khéo tùy duyên. Khéo tùy duyên bằng cách nào? Cơ tắc xan hề khốn tắc miên, đói đến thì ăn mệt ngủ liền. Đói ăn mệt ngủ là chuyện ai cũng làm được, nhưng chư tổ nói chúng ta làm không được. Vì thiên hạ đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ. Như vị nào quen ăn ớt, tới bữa dọn cơm lên thấy thiếu ớt thì không chịu ăn, phải kiếm ớt ăn mới ngon. Hoặc có người hay uống rượu, trong bữa cơm mà thiếu chung rượu thì không chịu ăn. Hoặc khi nào mệt vô ăn cơm mà thấy thiếu canh cũng không chịu ăn, nếu là cơm nguội cũng không ăn nổi. Hoặc giả rầy rà một chút rồi mới ăn… Như vậy là chúng ta không tùy duyên. Tùy duyên là có cái gì nhận cái ấy, không phân biệt đòi hỏi.

Khi mệt có chịu ngủ không? Nhất là có huynh đệ nào đó mới chọc tức mình, gay cấn với mình thì lên giường nằm ngủ cũng không được, cứ nhớ chuyện hơn thua vừa rồi. Cái gì xảy đến làm cho mình phải suy nghĩ hay bực bội thì bỏ không được, nó cứ lăng xăng trong đầu rồi mất ngủ. Vậy là chúng ta chưa tùy duyên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, trong nhà có sẵn ngọc quý, đừng tìm kiếm đâu xa. Ý nói, nơi mình đã có sẵn của báu, phải khéo nhìn khéo thấy, quay trở về đừng chạy ra ngoài.

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền, đối cảnh là đối với sáu trần: nghe tiếng, thấy cảnh, ngửi mùi, nếm vị. không có tâm niệm dính mắc thì không cần hỏi thiền. Sáu căn đối với sáu trần không dính, không mắc, không kẹt là tu thiền. Tu thiền cũng như tu Tịnh độ, tất cả pháp tu đều cốt làm sao cho nội tâm mình đừng bị ngoại cảnh lôi dẫn.

Tất cả chúng ta tu hành gốc từ chỗ biết trở về nội tâm, phản quan soi sáng lại, đừng chạy tìm những cái bên ngoài. Chỉ vì chúng ta thích chạy ra ngoài, quên trở lại với chính mình. Trở lại buồn quá, không có gì hấp dẫn, ra ngoài thì đủ thứ cảnh lôi cuốn, nhất là thời đại bây giờ, ngồi một chỗ cũng biết được nhiều thông tin, đủ thứ giải trí hấp dẫn lôi kéo nên khó tu. Nhưng nếu chúng ta không theo thì không sao. Vì chúng ta ai cũng thích nhìn thích nghe nên bị nó lôi.

Vậy thì ai làm cho chúng ta giải thoát, ai cứu khổ chúng ta? Chính mình là chủ để thoát ra khổ ách, không ai thế cho mình được. Đức Phật thiết tha thương xót, nhưng không thể kéo mình ra khỏi khổ, mà chỉ tự chúng ta xét thấy đúng như thật thì mọi cái khổ sẽ tan.

Chúng tôi nhắc nhở như vậy có đủ cho quý vị tu chưa? Nói nhiều nữa chắc dư, mong tất cả tăng ni cố gắng.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.