Hôm nay nhân ngày mãn hạ, tôi có đôi lời nhắc nhở tăng ni cũng như Phật tử hiểu đạo lý và ứng dụng trong cuộc sống tu hành.
Tu có hai phần lý thuyết và thực hành. Kiểm kỹ lại mới thấy chúng ta thực hiện phần lý thuyết khá đầy đủ, còn phần thực hành lại thiếu sót rất lớn. Cho nên đề tài buổi nói chuyện hôm nay tôi nhắm thẳng vào chủ đề Lý thuyết và thực hành.
Chúng ta học kinh có thể hiểu được những lời Phật dạy, nhưng thực hành được hay không lại là vấn đề khác. Lý thuyết là phần Phật tổ dạy, còn thực hành là công phu của chính mình. Như người rành đường lên núi, biết từ chân núi lên tới đỉnh phải vượt qua bao nhiêu cây số, chỗ nào ngặt nghèo nguy hiểm, trèo qua bao nhiêu ngọn đồi, dốc đá… Nếu chỉ nói lý thuyết suông mà không chịu đi thì chừng nào tới được đỉnh núi?
Cũng vậy chúng ta học hiểu rành rẽ đạo lý Phật dạy, nhất là thiền sinh trong các thiền viện được học đến cả năm mười năm. Lý thuyết nắm vững nhưng thực hành được bao nhiêu rồi? Nếu chỉ biết rành mạch đường lên núi mà không chịu khó leo, chừng nào được lên tới đỉnh? Khi chưa leo tới nơi, dù có nghe nói hoặc đọc trong sách vở cũng chẳng bao giờ biết đúng với lẽ thật. Muốn biết đúng lẽ thật, phải lên tận đỉnh núi, tận mắt thấy rõ nơi này nơi kia, bốn phương tám hướng rành mạch. Người chỉ nói theo lý thuyết mà không chịu thực hành là thiếu thực tế.
Trên đường tu, Phật dạy chúng ta rất kỹ. Từ sơ phát tâm đến ngày viên mãn quả Bồ-đề phải trải qua rất nhiều cảnh giới, thứ lớp mới tới được chỗ cứu cánh viên mãn. Nghĩa là từ phàm phu tới thành Phật trải qua nhiều quả vị như Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát… Bốn quả vị Thanh văn là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Quả vị của Bồ-tát là từ Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng đến Thập địa v.v… Kể thuộc lòng vanh vách, nói nghe rõ ràng nhưng không chịu nỗ lực tu thì không bao giờ tới được vị nào hết. Người tu học lý thuyết để thực hành chứ không phải học để giảng nói. Nhưng gần đây nhiều người học đạo phần lớn giỏi ngôn ngữ văn tự, còn thực hành lại quá sơ sài. Thật đáng buồn!
Vì vậy tôi muốn cảnh tỉnh tất cả tăng ni cũng như Phật tử, chúng ta học để thực hành chứ không phải học để nói lý thuyết. Nói thì trên mây mà thực hành thua rùa bò thì chừng nào đạt đến mục đích. Quý vị phải gắng công gắng sức, đừng lôi thôi nữa. Tôi tự ngẫm thấy phần thực hành của mình quá ít, trong khi phần lý thuyết thì cao siêu. Tôi rất buồn vì điều đó. Đa số người tu ngày nay nói bằng miệng nhiều hơn là ứng dụng thực hành. Tối tụng một thời kinh, khuya tụng một thời nữa là xong. Tụng được hai thời kinh xem như hài lòng, không sợ tổn phước vì đã trả được nợ cơm áo của đàn-na tín thí.
Đức Phật thuyết kinh cho chúng ta nghe hiểu để tu, vậy mà cứ đem đọc cho Phật nghe mà không chịu thực hành. Tu như vậy chừng bao nhiêu kiếp nữa mới thành Phật? Quá ư là xa! Chúng ta bỏ tất cả việc thế tục, vào chùa tu chỉ một việc thôi mà làm rất lơ là. Như vậy đời tu của chúng ta sẽ đi tới đâu? Không biết có đủ đền trả nợ đàn-na thí chủ hay không, chứ đừng nói là phước đức dư dả. Đó là điều chúng ta phải tự kiểm xem mình xứng đáng chưa. Nếu chưa thì phải cố gắng nỗ lực thêm cho đáng một đời tu, để không hổ thẹn với đàn-na thí chủ. Tu lơ là không ra gì, chẳng những đời này hổ thẹn mà đời sau còn phải mang nợ đền trả.
Tăng ni ngày nay tu rất đông, nếu không cố gắng là lỗi lớn của những người có trách nhiệm hướng dẫn. Vì vậy tôi phải nói phải nhắc. Mong rằng tăng ni nhớ và cố gắng thực hiện, làm tròn bổn phận người xuất gia. Được như thế thì người đi trước mới không có lỗi. Tôi từng sống ở Phật học viện nhiều năm, vừa tu vừa giảng dạy cho tăng ni. Ngày nay đã quá tuổi hưu trí nên tôi nghỉ, nhưng nhìn lại tôi thấy hơi lo. Mình có trách nhiệm hướng dẫn mà không biết họ có thực hiện được những gì Phật dạy không? Hay là mình nói, họ nghe xong rồi bỏ qua hết. Nếu thật như vậy thì trách nhiệm của người hướng dẫn cũng chưa tròn. Vì thế tôi thường nhắc nhở chư tăng ni biết bổn phận của mình mà cố gắng thực hiện. Dù chưa tròn nhưng vẫn phải nỗ lực, chớ nên lơ là.
Từ khi bước chân vào đạo cho đến lúc đạt đạo, gần hay xa? Chúng ta bỏ cha mẹ đi tu, cha mẹ rất buồn. Họ cho rằng con bất hiếu không nuôi dưỡng cha mẹ. Chúng ta vào chùa tu, nhờ công đức tu hành để độ cha mẹ. Nếu tu hành không có công đức thì độ ai? Do cố gắng tu hành nên mới có công đức. Tuy nhiên, không chỉ tụng thời kinh là đủ công đức mà phải nỗ lực tu. Chẳng những đền ơn cha mẹ, còn phải đền ơn đàn-na thí chủ. Như thế vẫn chưa đủ mà phải làm sao xứng đáng mai này hướng dẫn chỉ dạy cho người đi sau. Trách nhiệm của người tu rất nặng, quý vị phải ghi nhớ và làm cho tròn.
Đối với cha mẹ phải đền ơn sanh thành dưỡng dục, đối với đàn-na thí chủ cúng dường phương tiện phải lo đền trả. Xét cái nào cũng thiếu hết là điều đáng lo ngại. Người xuất gia tự độ mình rồi độ người. Nếu bản thân không làm tròn bổn phận, độ mình chưa xong thì độ được ai? Vì vậy tăng ni phải cố gắng nỗ lực tu hành cho chín chắn đầy đủ. Thà dư chứ không thể thiếu, ngoài đền ơn cha mẹ còn phải đáp lại ơn nghĩa của Phật tử phát tâm cúng dường. Mong rằng mỗi người nên tự kiểm lại mình rồi cố gắng nhiều hơn.
Đức Phật là bậc giác ngộ viên mãn, chúng ta tu theo ngài cũng phải giác ngộ phần nào. Muốn đi trên con đường sáng thì tự thân phải sáng. Luôn luôn kiểm điểm lại mình xem đã giác ngộ được bao nhiêu, từ đó tiếp tục nỗ lực thêm lên. Cụ thể nhất là đối với tam độc tham sân si, chúng ta đã dứt trừ nhiều hay ít? Đây là điều giác ngộ quan trọng số một.
Thí dụ, một vị tăng ra đường gặp mấy đứa trẻ ngỗ nghịch kêu tên chửi, thầy giận không? Bước đầu của sự tu là diệt trừ tam độc. Nếu ba thứ này còn khá nhiều thì người tu không thể thoát khỏi đau khổ. Ba độc chưa dẹp sạch làm sao dám nói tới giải thoát sanh tử, làm sao đủ phước đức đền ơn cha mẹ, đàn-na thí chủ và thầy tổ. Bước chân vào đạo, mỗi ngày tăng ni đều nhận lãnh phần cung dưỡng của đàn-na thí chủ, từ ăn mặc cho đến các sinh hoạt khác. Ngày nào cũng mang nợ, sau này không đủ sức trả, nhất định bị đọa nhiều hơn người thế gian.
Vì vậy khi đã phát tâm xuất gia tu hành, chúng ta phải cố gắng vươn lên, vượt qua hết những gì tầm thường của thế gian, xứng đáng là người xuất thế. Phải thấy đây là gánh nặng, là bổn phận cần đền trả cho xứng đáng. Cách đền trả xứng đáng không gì hơn là tu để thoát khỏi nghiệp quả trong luân hồi sanh tử. Nếu còn lẩn quẩn trở đi trở lại trên thế gian này thì đền ơn không nổi. Tôi rất lo vì biết mình không có công đức gì đáng kể, trong khi tiếp tục thụ hưởng và mắc nợ. Nếu món nợ cứ tăng hoài như vậy, thử hỏi khi nhắm mắt mình sẽ đi về đâu? Trong lục đạo luân hồi mình ở vào vị trí nào? Đó là điều cần ưu tư trăn trở. Dù chúng ta chưa giải thoát được thì ít ra cũng phải đủ sức đền trả ơn cha mẹ, ơn đàn-na thí chủ để đời sau tiếp tục tu thêm. Đời này đã không trả được nợ mà còn chồng chất, đời sau nếu không sanh trở lại làm người là điều rất đau khổ. Chìm xuống rồi không biết đi tới đâu, thật đáng sợ!
Chúng ta mặc áo ca-sa phải làm sao cho xứng đáng. Tự bản thân tu được an vui tự tại, rồi độ cha mẹ cùng giải thoát. Như thế mới là người con hiếu thảo. Nếu đã bỏ cha mẹ vô chùa mà tu lơ mơ, tới giờ công phu lười biếng không muốn đi, buổi khuya cũng không chịu dậy thì lấy gì đền ơn đây? Ở nhà với cha mẹ cố gắng chừng năm phần, xuất gia rồi phải cố gắng mười phần. Bởi vì ở nhà còn có thể giúp đỡ những việc nhọc nhằn cho cha mẹ, vô chùa đã không làm được gì mà còn thọ của đàn-na thí chủ, nếu tu không ra gì thì cái nợ ấy biết chừng nào mới đền đáp được. Cho nên trách nhiệm của người tu rất nặng nề. Vậy mà tôi thấy một số người tu còn lôi thôi lắm. Buổi tối tụng một thời kinh, khuya tụng một thời kinh, cho đó là đủ. Khi tụng kinh còn tụng cho nhanh để mau xuống, thậm chí vừa tụng vừa ngủ gục, đủ thứ dở tệ. Quý vị cần nên cố gắng, đừng để cái dở lôi kéo mình, lôi thôi một đời chẳng ra chi. Người tu phải xứng đáng là bậc thầy của cư sĩ, nếu lơ là không ra gì thì không thể hướng dẫn được người khác. Chẳng những tu không tiến mà còn lui sụt nữa thì thật đáng trách lắm.
Vị tu trước có trách nhiệm bổn phận hướng dẫn người tu sau. Phải xứng đáng là bậc huynh trưởng giác ngộ, dìu dắt thức tỉnh đàn em. Nếu người đi trước lừng chừng, người đi sau không có chỗ trông cậy thì trách nhiệm chưa tròn. Các vị Trụ trì hay Quản chúng, tới giờ khuya nghe kẻng thức chúng mà còn thấy mấy người không chịu đi ngồi thiền, ở nhà trùm chăn ngủ phải xử sao? Đánh thức dậy hay để nó ngủ luôn? Chỗ này phải xử sự khéo léo.
Chúng ta thương huynh đệ, tình thương đó có hai cách, hoặc đưa họ lên hoặc xô họ xuống. Tới giờ thức chúng không đi ngồi thiền, tụng kinh là mê. Nếu mình thương để cho ngủ là xô xuống hố chứ không phải cứu họ. Vì vậy người lớn có bổn phận phải kêu gọi, đánh thức người nhỏ. Thậm chí khi cần phải dùng tới cách này cách khác mạnh mẽ để trị những tập nghiệp xấu ấy. Từ bi trên tinh thần giác ngộ chứ không phải từ bi với lòng thương mù quáng. Người đã dở không tự thức được, mình thương thì phải đánh thức họ. Nếu để mặc là nuôi hoài cái mê và chôn vùi nó trong chỗ tăm tối.
Phàm làm thầy phải có cái nhìn sáng suốt, cố gắng dạy bảo những đứa dở thành hay, đừng nên nuôi dưỡng cái dở của nó. Chúng ta đề cao giác ngộ để mọi người xung quanh cùng giác, nên không thể nuôi dưỡng cái mê. Người có trách nhiệm trong đạo có bổn phận coi sóc từ trên xuống dưới. Ai tinh tấn ai lười biếng phải biết, đồng thời thúc đẩy những người lười biếng trở nên siêng năng tinh tấn, không cho thả trôi.
Huynh đệ xung quanh khuyên răn, cảnh tỉnh, đánh thức lẫn nhau. Không nên mặc tình ai muốn làm gì thì làm. Trên có thầy nhắc nhở, dưới có bạn khuyên răn thì sự tu hành mới dễ tiến. Nếu chỉ một thầy mà chúng đông thì làm sao coi ngó hết được. Cho nên bạn là người cần thiết, bên tăng cũng như bên ni thấy huynh đệ nào có khuyết điểm cùng nhắc nhau, đừng đợi tới Thầy nhắc mới được.
Tôi khuyên tăng ni đều phải một lòng một dạ nhìn gương người trên mà lo lắng cho chúng. Đại chúng ở dưới cũng chung sức gắng gổ đánh thức nhau cùng tinh tấn tu hành. Đó là việc tốt chung cho cả thiền viện, không riêng cá nhân nào. Chúng ta là những người bạn đang đồng hành, cùng đi một đường thì phải thương người yếu, dìu dắt họ theo kịp với người mạnh. Không vì lý do gì để mặc họ ra sao thì ra. Người lớn có điều gì hay, nhắc nhở cho người nhỏ. Như vậy trong chúng mới cùng tốt đẹp. Nếu để mặc ai muốn làm gì không cần biết, khi nào Thầy chỉ dạy mới sửa đổi là nuôi lớn khuyết điểm trong thiền viện. Mong rằng tăng ni có bổn phận làm thầy, làm huynh trưởng phải ráng cùng chung lo, góp sức với nhau tinh tấn tu hành. Đừng để huynh đệ tu hành lôi thôi, mình cũng mang tiếng lây là chúng ở chỗ không tốt.
Hôm nay tôi nhắc nhở cho tăng ni biết những điều cốt yếu rồi cố gắng thực hiện. Làm sao sách tấn huynh đệ cùng tiến tu, xứng đáng một thiền viện có đại chúng đồng tinh tấn, là điều đáng khen đáng quý. Mong tất cả cùng cố gắng.