Giáo Giới Mùa An Cư

Căn Trần Không Dính Nhau



Hôm nay là ngày tết Trung thu của nhi đồng, chúng ta cũng tùy tục tổ chức lễ Ăn tết Trung thu. Tất cả tăng ni ở đây, tuổi đời đa số hàng trung niên, vậy coi như mình ăn Trung thu hùn với đám trẻ. Tuy ăn theo nhưng chúng ta không vui chơi như mấy đứa con nít, mà tập sống hồn nhiên đúng với ý nghĩa thậm thâm trong nhà Phật.

Nhân ngày này, tăng ni chúng ta có dịp xoay nhìn lại mình. Dù tuổi lớn nhưng tâm hồn vẫn trong trắng ngây thơ như đám trẻ. Ngây thơ không phải là dại dột mà chính là không tâm mưu mô, tính toán, hơn thua. Vì vậy, chúng ta dự ngày tết của nhi đồng để gợi nhớ và sống lại với tâm hồn trong trắng của chính mình. Tuy đã sáu bảy mươi tuổi, đầu bạc da nhăn nhưng chúng ta vẫn còn ngây thơ và trong sáng. Đó là điều đặc biệt trong đạo.

Trung thu năm này khác với những năm về trước. Hồi đó tôi hay đặt câu hỏi hóc búa, nếu ai đủ khả năng trả lời đúng sẽ xứng đáng được nhận miếng bánh đầu tiên và vinh dự khai mạc buổi lễ Trung thu. Năm nay cũng vậy nhưng tôi sẽ hỏi một câu dễ hơn. Người nào lúc bình thường siêng đọc kinh sách có thể nhớ và trả lời được.

Nói đến Trung thu là nhắc đến ánh trăng. Năm nay trời đẹp trăng sáng cho nên tôi đặt câu hỏi liên quan tới trăng. Câu hỏi này không phải tự ý tôi đưa ra mà có trong kinh Phật. Người nào giải nghĩa xuôi câu đó chứng tỏ có khả năng nhớ giỏi hoặc chịu khó nghiên tầm.

Một hôm thầy Tỳ-kheo hỏi Phật: Bạch Thế Tôn, người làm ác như thế nào? Phật nói: Người làm ác như mặt trăng. Vị Tỳ-kheo hỏi tiếp: Người làm thiện như thế nào? Phật đáp: Người làm thiện như mặt trăng.

Tại sao? Câu này quá dễ, ai có thể cắt nghĩa được?

Hòa thượng Trụ trì Thường Chiếu thưa: 

– Bạch Thầy! Người làm thiện như trăng đầu tháng tới rằm, còn người làm ác như trăng mười sáu tới ba mươi.

Hòa thượng Trúc Lâm bảo: 

– Ừ. Chú được quyền vinh dự khai mạc miếng bánh đầu tiên. Tất cả quý vị còn lại cũng bắt đầu ăn bánh đi. Vừa ăn bánh vừa nghe tôi nói chuyện. Vui vẻ.

Như trên tôi đã nói, chúng ta ăn tết Trung thu có hai ý nghĩa. Một là thưởng thức mùi vị của tết Trung thu, tức là ăn hùn với nhi đồng. Hai là thưởng thức ý vị Trung thu trong nhà đạo. Trung thu là ngày trăng tròn sáng, đây cũng là ngày vui nhất của tất cả nhi đồng. Nhân ngày này, chúng ta làm lễ ăn Trung thu, thành thử ý nghĩa buổi lễ gắn liền với hình ảnh trăng tròn.

Trở lại câu hỏi trên, khi vị Tỳ-kheo hỏi Phật người làm thiện như thế nào, người làm ác như thế nào, Phật nói người đó như mặt trăng. Tại sao? Bởi vì người làm thiện giống mặt trăng từ mùng hai mùng ba lần lần sáng tròn tới rằm. Tức là mỗi ngày ánh sáng mỗi tăng, đến đúng ngày rằm thì sáng quắc và tròn trịa. Cũng vậy, người ở đời nếu biết làm lành và tu tập thiện pháp thì trí tuệ, đạo đức ngày càng tăng trưởng cho đến lúc viên mãn. Ngược lại, những người làm ác giống như mặt trăng từ ngày mười sáu đến ba mươi. Ngày mười sáu, mặt trăng hơi chớm khuyết. Ngày mười bảy mười tám dần dần tới đêm ba mươi, mặt trăng không còn. Cũng vậy, được sinh làm người là có phước, giống như mặt trăng ngày mười sáu. Nếu họ không biết tu phước, chuyên làm những điều tội ác thì ánh sáng dần dần trở thành tối. Liên tục làm ác như vậy, một ngày nào đó không còn chút ánh sáng, chỉ toàn bóng tối mờ mịt. Bởi vậy người làm ác càng nhiều, nghiệp sẽ dẫn vào chỗ tăm tối là địa ngục u minh như đêm ba mươi.

Qua hình ảnh mặt trăng, đức Phật đã chỉ rõ hai hạng người, một biết hướng về thiện và hai chỉ lo hướng về ác. Bên đây từ một vầng trăng lưỡi liềm ánh sáng nhỏ, dần dần tới trăng tròn, ánh sáng viên mãn. Bên kia từ một mặt trăng vừa chớm khuyết, dần dần teo lại cho tới không còn một tia sáng. Hai con đường thiện ác quá rõ ràng. Một bên càng sáng, một bên càng tối. Dùng hình ảnh mặt trăng để nhắc tất cả tăng ni và Phật tử nhớ tu. Tu là tìm đến giác ngộ chứ không phải tìm đến vô minh. Muốn tìm tới giác ngộ, mỗi ngày chúng ta phải cố gắng làm được nhiều điều thiện phước đức, đồng thời nuôi dưỡng trí tuệ tăng trưởng. Chừng nào đến được chỗ viên mãn mới xứng đáng không uổng phí đời tu của mình. Đó là ý nghĩa liên hệ tới mặt trăng.

Tôi nhớ năm rồi chúng ta ăn Trung thu trùng vào ngày khánh thành hậu đường. Đêm đó mưa tầm tã nhưng buổi lễ vẫn tương đối ấm cúng. Khi ấy tôi tuyên bố một năm sau sẽ nghỉ để làm người vô sự, mọi việc giao lại cho các vị lãnh đạo bên tăng cũng như bên ni. Hôm nay tròn đúng một năm như lời hứa, tôi mong rằng dù Phật sự có được xuôi buồm thuận gió hoặc gặp phải bão táp phong ba gì, quý vị vẫn vững tay lái không để bị lay chuyển, không để bị trôi giạt. Đây là điều hết sức hệ trọng, cũng là mong mỏi của tôi đối với quý vị.

Khi lãnh trách nhiệm gánh vác Phật sự, quý vị phải chuẩn bị tinh thần cởi mở, cảm thông với những người xung quanh, nhất là đàn em của mình. Sau mỗi thời kinh đều có phần Tam tự quy. Trong đó có câu: “Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sanh, quản lý đại chúng, tất cả không ngại.” Nghĩa là nguyện cho tất cả mọi người khi quản lý đại chúng không gặp chướng ngại. Đây là một vấn đề nan giải. Giả sử việc làm đó dễ dàng, mọi việc đều như ý, kêu đâu người ta làm đó thì chắc Phật tổ không dạy chúng ta nguyện như vậy.

Quản lý đại chúng sự thực không đơn giản chút nào. Tuy rằng mọi người cùng một chí nguyện xuất gia như nhau nhưng tâm tư không đồng. Người thế này, người thế nọ, thành thử người chịu trách nhiệm quản lý đại chúng phải có tinh thần vừa cởi mở vừa cảm thông. Làm sao toàn chúng sống bên cạnh mình luôn cảm thấy được đối xử bình đẳng trong cuộc sống an lành êm ấm. Đừng để họ phải rơi vào tình trạng đau khổ, bực bội, ray rứt. Quý vị phải khéo như vậy khả dĩ mới điều khiển được số chúng đông đảo mà không bị trở ngại.

Các công tác tôi giao lại cho những người có trách nhiệm, dù chính hay phụ đều phải cảm thông cho nhau rồi chung vai gánh vác. Một mình tôi đảm đang hết những sự được mất nên hư của thiền viện, dù có giỏi cũng không bằng giao mỗi thiền viện cho năm bảy người chung lo. Tôi hy vọng quý vị đồng tâm hiệp lực chung sức chung lòng đóng góp để các thiền viện được mở mang tốt đẹp hơn. Đó là nhắc lại chuyện cũ và định hướng cho việc mới.

Bây giờ tôi sẽ bắt đầu nói về ý nghĩa Trung thu thông qua những lời Phật dạy trong kinh điển.

Tạp A-hàm có bài kinh số 216 nói về biển: Nói biển lớn, đó là lời của người ngu nói, chứ không phải lời của bậc thánh. Bậc thánh nói mắt là biển lớn của con người và sắc kia là sóng cả. Nếu người nào chịu nổi sắc ba đào, người ấy sẽ vượt qua bờ bên kia biển cả của mắt, với các sóng cả, các dòng xoáy, sâu trùng độc hại và nữ quỷ la-sát. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý là biển cả của con người; thanh, hương, vị, xúc, pháp là sóng cả. Nếu ai kham chịu nổi pháp ba đào này, người ấy sẽ vượt qua bờ bên kia biển cả của mắt, với các sóng cả, các dòng xoáy, sâu trùng độc hại và nữ quỷ la-sát.

Bậc thánh nói mắt là biển lớn của con người và sắc kia là sóng cả. Nghĩa là khi mắt phân biệt sắc sanh ra ái nhiễm đắm trước ưa thích, thân miệng ý tạo nghiệp chìm mãi trong biển khổ sanh tử. Tất cả thế gian, a-tu-la cho đến trời thảy vì tham ưa chìm đắm nên đều ở trong ấy. Đó mới thực là biển lớn, còn biển thế gian chưa phải lớn.

Tất cả chúng ta đều tưởng núi to biển cả là hơn hết mà không ngờ trầm luân sanh tử còn to hơn núi, lớn hơn biển. Bởi vì nó có thể tràn ngập khắp cả thế gian cho đến các cõi trời. Sống trên cõi trời Dục giới và Sắc giới, hết phước cũng bị đọa trở lại, tức là vẫn nằm trong sanh tử. Sở dĩ nó làm ngập chìm tất cả là do sáu căn tiếp xúc với sáu trần phát sanh ái nhiễm và đắm trước. Cũng vậy, như chúng ta thưởng thức bánh Trung thu ngon là bởi lưỡi dính với vị sanh ra ái trước. Cho nên gần tới mùa Trung thu mà không có bánh thì đòi, tức là ái nhiễm chứ gì. Đây là nguyên nhân dẫn chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử.

Tóm lại, căn trần còn dính nhiễm là còn chìm trong bể khổ sanh tử, không biết chừng nào ra khỏi. Bởi vậy đức Phật mới nói đó là biển lớn. Chúng ta chỉ sợ biển Thái Bình sóng to chìm thuyền mà không biết biển sanh tử còn đáng sợ hơn. Sáu căn đắm nhiễm với sáu trần là những lượt sóng nhận chìm chúng ta trong biển khổ sanh tử. Học tới đây để chúng ta giật mình tỉnh giác. Đừng chỉ thấy những cái nhỏ trước mắt mà quên cái lớn lao bên trong.

Kế đó Phật dạy thêm, bậc thánh nói mắt là biển lớn, sắc là sóng biển; tai là biển lớn, thanh trần là sóng biển; mũi là biển lớn, hương trần là sóng biển… Tóm lại, sáu căn là biển lớn, sáu trần là sóng biển. Người nào kham nhẫn nổi các đợt sóng ba đào của sáu trần sẽ vượt qua được biển lớn sanh tử. Khỏi chết chìm trong sanh tử tức là giải thoát. Cho nên mấu chốt để đi đến giải thoát sanh tử rất đơn giản, ngay nơi sáu căn này. Chúng ta tu là tập kham nhẫn đối với sáu trần, tập làm con thuyền vượt thoát khỏi nạn chết chìm trong biển sanh tử. Đến đây Phật toát yếu lại ý nghĩa trên bằng bài kệ:

Biển cả sóng cuồn cuộn,

Ác trùng, la-sát sợ,

Khó qua mà qua được,

Hằng xa lìa hết thảy.

Đoạn dứt tất cả khổ,

Không sanh lại đời khác, 

Hằng sống với Niết-bàn, 

Không còn buông lung nữa.

Sáu căn là biển, sáu trần là sóng. Nếu có biển mà không sóng thì không bị chết chìm. Cũng vậy, nếu chúng ta qua không khỏi sáu trần thì nhất định phải chết chìm trong biển khổ sanh tử. Nói tóm lại, muốn qua được bể cả sanh tử chúng ta phải làm chủ được mình, đừng để sáu trần lôi kéo. Qua được biển lớn tức là đến được Niết-bàn an lạc giải thoát.

Trong bài kinh số 247 đức Phật nói về ma. Ngài dạy: Nếu Tỳ-kheo đối với mắt thấy thú vị ưa thích thì không được tự tại, vì bị trói buộc bởi bàn tay của ma. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Lời Phật dạy đơn giản vô cùng. Nếu chúng ta để sáu trần dẫn mình đi chẳng khác nào kẻ tù bị người lính ngục dẫn vô khám. Họ đi đâu mình phải theo tò tò tới đó, không dám cãi. Cho nên ma và sóng biển đều từ căn trần này mà ra.

Đến bài kinh số 244, đức Phật dạy: Này các Tỳkheo, có sáu câu móc của ma. Những là sáu? Mắt đắm trước sắc là câu móc của ma. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý đắm trước thanh, hương, vị, xúc, pháp là câu móc của ma. Như người câu cá dùng móc câu dính mồi nhử cá. Con cá vừa đớp miếng mồi, cổ liền bị móc vào lưỡi câu, giãy giụa cách mấy cũng không thoát ra được. Cũng vậy, khi chúng ta để sáu căn dính mắc sáu trần, chẳng khác nào dính phải câu móc của ma, đau khổ trong trầm luân sanh tử. Chừng nào thoát được sáu câu móc này mới an lành tự tại.

Qua mấy bài kinh trên chúng ta thấy, trọng tâm của giải thoát sanh tử và trầm luân sanh tử từ nơi sáu căn và sáu trần. Vì vậy khi tu chúng ta phải luôn luôn tỉnh giác. Nếu đợi đến lúc tụng kinh ngồi thiền mới tu, còn khi ra ngoài tiếp xúc với sắc thanh để tâm buông lung, nhất định bị móc câu lôi đi. Vì vậy quý vị phải luôn nhớ tu, khả dĩ mới thoát được bàn tay của ma và vượt khỏi biển cả sanh tử. Đó là điều thiết yếu đức Phật nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.

Trong kinh Lăng-nghiêm kể: Khi ngài A-nan hỏi đức Phật về đầu mối của luân hồi sanh tử và đầu mối của giải thoát sanh tử, chư Phật trong mười phương đồng thanh đáp rằng: Căn bản sanh tử và căn bản giải thoát từ nơi sáu căn và sáu trần. Trong khi tu, chúng ta phải nắm thật vững trọng tâm này. Nếu không hiểu chỗ đó, nghe ai nói tu thế này linh nghiệm, tu thế kia kết quả mau, thành ra dễ bị lay chuyển và đi lạc đường mà không hay. Lại một bài kinh khác trong Tạp A-hàm kể, tôn giả Câu-hy-la hỏi tôn giả Xá-lợi-phất: Con mắt buộc sắc hay sắc buộc con mắt? Nghĩa là khi con mắt thấy hình sắc liền bị cột dính, vậy con mắt buộc sắc hay sắc buộc con mắt? Cũng vậy, tai mũi lưỡi thân ý buộc thanh hương vị xúc pháp hay ngược lại? Ngài Xá-lợi-phất đáp: Chẳng phải con mắt buộc sắc, chẳng phải sắc buộc con mắt. Chẳng phải lỗ tai buộc tiếng, chẳng phải tiếng buộc lỗ tai v.v… Trong khoảng giữa ấy nếu có dục tham là cái trói buộc. Như vậy, không phải sáu căn buộc sáu trần, cũng chẳng phải sáu trần buộc sáu căn. Nếu khi sáu căn tiếp xúc sáu trần sanh dục nhiễm yêu thích tham muốn là sợi dây trói buộc.

Đến đây ngài đưa ra một thí dụ cụ thể, ví như có hai con trâu một đen một trắng cùng mang chung cái ách kéo cày. Con trâu trắng buộc con trâu đen hay con trâu đen buộc con trâu trắng? Do cái ách buộc hai con trâu chứ không con nào buộc con nào hết. Trâu đen trâu trắng đều không có lỗi, lỗi ở cái ách.

Cũng vậy, tham dục là cái trói buộc chúng ta chứ không phải căn trần. Từ tham muốn khởi nhiễm trước trói buộc và lỗi dẫn mình đi trong sanh tử. Rõ ràng tâm ham muốn ưa thích là nguyên nhân dẫn đến luân hồi sanh tử. Thấy hoa đẹp cứ thấy, đừng vừa thấy hoa đẹp liền nghĩ hoa này đẹp quá, thích thú muốn sở hữu là bị trói buộc rồi.

Qua đây chúng ta thấy được ý nghĩa của sự tu. Sáu căn sáu trần không có lỗi, lỗi tại khởi phân biệt yêu và ghét. Yêu trói buộc, ghét cũng trói buộc, vì vậy vừa khởi yêu ghét liền có tham sân dẫn đi trong sanh tử. Tóm lại trọng tâm của sự tu ngay nơi sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Không dấy niệm phân biệt sanh tâm tham sân là tu. Thí dụ, ai đó đem bình hoa thật đẹp chưng lên bàn thì mình thích; nếu đem hoa héo chưng, mình liền nổi sân lên. Như vậy vừa thấy đẹp là nhiễm, vừa thấy xấu là sân. Thành ra niệm phân biệt đẹp xấu luôn luôn đi liền với tham sân. Cái ăn cũng vậy. Mới nếm món gì thấy vừa ý liền khen: “Ai nấu mà khéo quá!” Mới nếm món gì không vừa ý liền chê: “Nấu dở quá, ăn gì nổi!” Tất cả niệm tham sân từ sự phân biệt mà ra. Chúng ta tu phải thấy rõ đâu là mấu chốt để gỡ thì sự tu mới đạt kết quả tốt.

Một bài kinh khác trong Tạp A-hàm đức Phật dạy, khi tu phải khéo thấy được lẽ thật, chứ không phải dụng công cho nhiều. Một người ngoại đạo tới hỏi các thầy Tỳ-kheo:

– Các ngài tu được giải thoát chưa?

Những vị chứng A-la-hán đáp:

– Chúng tôi đã giải thoát.

– Do được Sơ thiền nên ngài giải thoát phải không?

– Không.

– Do được Nhị thiền nên ngài giải thoát phải không?

– Không.

– Do được Tam thiền nên ngài giải thoát phải không?

– Không.

– Do được Tứ thiền nên ngài giải thoát phải không?

– Không.

– Do đạt được Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ cho tới Phi tưởng phi phi tưởng xứ nên ngài giải thoát phải không?

– Không.

– Do được Diệt tận định nên ngài giải thoát phải không?

– Không.

– Tại sao các ngài nói mâu thuẫn, trước sau không giống nhau vậy?

– Do trụ ở chánh pháp nên tôi được giải thoát. Đến đây ngoại đạo tức giận bỏ đi, rồi tới thưa hỏi đức Phật:

– Tại sao đệ tử của Ngài nói trước sau mâu thuẫn. Nếu không chứng qua các tầng thiền định, làm sao giải thoát được?

Phật nói:

– Phải, các đệ tử của ta nói đúng. Vì trụ trong chánh pháp nên họ được giải thoát.

Trụ trong chánh pháp là ngay đây, sáu căn tiếp xúc sáu trần không nhiễm không dính là giải thoát. Đạo Phật không chủ trương phải chứng Sơ thiền, Nhị thiền… mới được giải thoát. Trọng tâm sự tu nằm ở chỗ khi đi đứng nằm ngồi, sáu căn đừng kẹt sáu trần là giải thoát. Không còn tâm phân biệt đắm nhiễm tức là không còn đầu mối dẫn đi trong sanh tử.

Nếu chúng ta chỉ lo dụng công để dìm tất cả tâm thức tới chỗ như cây chết khô, cho đó là đạt định vẫn chưa phải giải thoát. Có trí tuệ thấy đúng như thật, không nhiễm không dính sáu trần là qua khỏi biển sanh tử, thoát khỏi bàn tay của ma, gỡ được cái ách trâu kéo cày, đó là chỗ giải thoát thiết thực nhất. Hằng quán xét như vậy tức là trụ chánh pháp, giải thoát. Cho nên không cần phải đợi tiến tới địa vị thiền này thiền kia mới giải thoát.

Trong kinh Phật dạy, Tứ thiền gọi là phàm phu thiền, Tứ không là định của ngoại đạo. Cả hai pháp này đều chưa đến được chỗ rốt ráo sau cùng. Chỉ có trí tuệ nhìn đúng như thật mới có thể giải thoát thực sự. Nhưng tiếc thay trong giới tu sĩ ngày nay khi nói tới tu chỉ biết tụng kinh, niệm Phật, trì chú mà không thấy được trọng tâm tu ở chỗ căn trần không dính nhau. Bởi vậy hình thức tuy rất đẹp nhưng trong tâm không được thanh thoát nhẹ nhàng.

Vì vậy chúng ta phải tu trong từng tâm niệm. Sáu căn vừa tiếp xúc sáu trần, luôn luôn tỉnh giác. Tu như vậy mới thực tu. Nếu đợi đến giờ gõ mõ tụng kinh, tọa thiền mới tu thì một ngày chỉ được chừng ba bốn tiếng đồng hồ thôi. Còn lại những giờ kia bị câu móc của ma dẫn. Do đó khi tu chúng ta phải làm sao biết được căn cội của sự tu mới mong giải thoát được.

Các ví dụ trong kinh A-hàm thuộc hệ Nguyên thủy và kinh Lăng-nghiêm thuộc hệ Đại thừa đều nói rõ ràng về yếu chỉ tu hành. Bây giờ tôi dẫn qua kinh Kim Cang liên quan đến chỗ ngộ đạo của Lục tổ Huệ Năng. Chủ đích toàn bộ bài kinh nằm gọn trong câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề: Muốn đạt được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, làm sao hàng phục được tâm, làm sao an trụ được tâm? Đức Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Khi Ngũ tổ Hoằng Nhẫn giảng tới chỗ này, Lục tổ liền ngộ đạo và thốt lên rằng:

Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,

Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt, 

Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,

Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,

Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp. 

Ngài thấy rõ khi sáu căn không dính sáu trần, còn cái thanh tịnh trùm khắp chứ không phải hết hẳn. Như vậy trọng tâm kinh Kim Cang Phật dạy an trụ tâm để đạt Vô thượng chánh đẳng chánh giác không khác với kinh A-hàm. Đối với sắc trần, nhãn căn không trụ tức là không dính mắc. Căn trần không dính nhau là phát tâm Bồ-đề cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Thành thử Vô thượng chánh đẳng chánh giác nằm sẵn ngay đó, khỏi cần tìm kiếm đâu xa. Sáu căn đừng dính mắc với sáu trần là thể Bồ-đề rồi. Từ thủy chí chung, giáo lý Phật dạy không khác. Trước kinh A-hàm, sau kinh Kim Cang vẫn một mực không thay đổi.

Chúng ta tu phải thấy được cái gốc đó. Nhiều người không hiểu dẫn đến tình trạng tu mà mong cái này ước cái kia. Nghe ai nói ngồi thấy hào quang hoặc bay lên hư không thì mừng rỡ và mơ ước cũng được như thế. Những chuyện kỳ đặc đó chưa phải trọng tâm giải thoát. Giải thoát là không bị dẫn trong sanh tử luân hồi. Sanh tử là vô thường, giải thoát là không bị vô thường, sống trong vĩnh cửu thường hằng.

Nơi mỗi con người chúng ta sẵn có cái vĩnh cửu thường hằng. Chỉ vì mình quên, chạy theo cái vô thường để nó quay cuồng trong sanh tử muôn đời muôn kiếp không ra khỏi. Lục tổ ngộ ngay nơi mình có cái vĩnh cửu sẵn từ thuở nào, cho nên ngài thốt lên không ngờ nó là như vậy. Như thế, ý chỉ Phật dạy giữa các kinh điển và dòng thiền Tào Khê một mạch thủy chung không khác. Chúng ta tu phải nắm vững được chỗ này. Tới đây tôi dẫn thêm một vị thiền sư nữa, đó là thiền sư Huệ Hải. Có người hỏi: Làm sao để giải thoát? Ngài đáp: Căn trần không dính nhau là giải thoát.

Căn trần vốn không dính nhau, chỉ vì tham sân si cột trói khiến căn trần không được tự do, thành thử không giải thoát. Cũng như hai con trâu trắng đen không bị ách cột vào cổ thì tự do tự tại. Thật hết sức đơn giản và chí lý. Cho nên không cần tìm về Tây phương mới giải thoát. Ngay đây chúng ta có thể giải quyết được liền, bằng cách đừng để căn trần dính nhau là giải thoát.

Từ giáo lý Nguyên thủy đến kinh điển Đại thừa tới các thiền sư, yếu chỉ Phật pháp không khác. Rõ ràng như vậy. Nắm ngay gốc đó mà tu, đừng bày biện thêm cách này cách kia rối rắm. Đó là người trung thành với lời Phật dạy.

Bây giờ trở lại pháp tu của chúng ta. Chỗ này nhiều người hay hỏi về đường lối tu do tôi hướng dẫn hoặc đường lối tu của thiền viện Chơn Không hay thiền viện Thường Chiếu như thế nào? Nếu quý vị không nắm vững, e rằng khi được hỏi sẽ ngỡ ngàng, kẻ trả lời bên đông người trả lời bên tây, không thống nhất nhau. Hôm nay tôi nhắc lại thật rõ cho tất cả cùng nghe và nhớ kỹ để mai kia lỡ ai hỏi, chúng ta cũng có một lập trường và hướng đi chung. Đừng nói xiên quàng để thiên hạ cười hoặc đâm ra nghi hoặc.

Đường lối tu thiền tôi đã nói rõ trong cuốn Yếu Chỉ Thiền Tông, đây tôi chỉ nhắc lại trọng tâm.

Lâu nay tôi từng nói tôi trung thành với hướng đi của Lục tổ. Hướng đi đó có hai điểm tôi hết sức tâm đắc. Thứ nhất, ngài ngộ thiền khi nghe kinh Kim Cang, thấy được tự tánh mình vốn tự thanh tịnh. Như vậy kinh và thiền không hai, Tổ và Phật không khác. Bởi vì con đường Tổ đi theo đúng hướng Phật đã dạy.

Chúng ta tu theo đạo Phật, là đệ tử của Phật thì phải hiểu và ứng dụng đúng lời ngài dạy mới xứng đáng. Đi theo hướng Phật dạy từ đó nhận ra được đạo lý thâm sâu. Điều này Lục tổ đã thực hiện được. Ngài ngộ từ kinh Phật chứ không phải nghe đánh hét mà ngộ. Cho nên chúng ta có thể dễ dàng học theo cách tu của ngài.

Trong các kinh Nguyên thủy như A-hàm đến các kinh Đại thừa như Kim Cang, Lăng-nghiêm. Phật đều chỉ rõ sáu căn đừng dính mắc sáu trần là gốc của sự tu. Lục tổ ngộ và thấy như vậy cho nên ngài cũng dạy chúng ta tu đừng để sáu căn dính mắc sáu trần. Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói: đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín động tịnh gì cũng thiền. Khi đi đứng nằm ngồi là cơ hội để sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Chúng ta phải có trí tuệ đừng để chúng dính mắc với nhau, đó là tu. Tu tức là thiền. Không phải đợi ngồi mới thiền, chính trong mọi hành động đều là thiền.

Khi đi không cho năm căn dính năm trần. Khi ngồi không cho pháp trần và ý thức dính nhau. Bởi lúc đi khó thấy pháp trần, chỉ thấy và dễ va chạm với sắc thanh hương vị xúc. Còn lúc ngồi pháp trần dấy lên, ý thức duyên theo nó dính mắc. Thành thử ngồi đó để dẹp pháp trần, không cho pháp trần và ý thức dính nhau. Pháp trần không tướng, ý thức duyên pháp trần cũng không tướng. Muốn phá pháp trần, vừa dấy niệm nghĩ liền biết hư dối không theo thì nó chìm mất. Lâu nay chúng ta thường cho cái suy nghĩ là tâm mình thật. Vừa nghĩ nhớ chuyện gì liền nuôi dưỡng rồi chạy theo nó. Bây giờ biết ý nghĩ không thật, pháp trần không thật, vừa dấy lên biết không thật, không theo là gỡ được cái ách của con trâu rồi.

Nói một cách giản đơn hơn, khi ngồi thiền hoặc khi đi chúng ta đều có trí thấy biết. Lúc đó sáu căn chưa bị cột bởi sáu trần, tức là chưa có dục tham khởi lên. Khi căn và trần tiếp xúc nhau, vừa dấy niệm liền biết không chạy theo thì không bị dục tham cột. Trường hợp ngồi thiền căn trần không tiếp xúc, chỉ có ý thức và pháp trần chúng ta cũng buông hết luôn. Nhưng khi ra ngoài, năm căn tiếp xúc năm trần, muốn không cho chúng dính nhau thì lúc mắt vừa thấy sắc, tai vừa nghe tiếng, mũi vừa ngửi mùi… dấy niệm thích quá hay ghét quá liền bỏ, đừng chạy theo. Như vậy là gỡ cột trói của năm căn và năm trần rồi.

Đi đứng nằm ngồi đều chăn giữ được như thế là tu thiền. Đây là chỗ chư Phật chư tổ thường sống. Tóm lại gốc của sự tu là khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, phát khởi vọng niệm phân biệt đừng theo. Do vọng niệm dấy khởi mới có phân biệt, do phân biệt mới sanh ra tham dục hoặc sân nhuế. Vọng vừa dấy không theo, tự nó tan thì không còn gì để cột, tự nhiên được giải thoát.

Ý nghĩa chăn trâu trong nhà thiền có giá trị hết sức đặc biệt. Chăn trâu dụ cho chăn cái niệm chạy theo trần phân biệt rồi dính mắc. Nếu chăn kỹ, con trâu vừa quay đầu mình liền giật lại bắt đi đường ngay lối thẳng.

Gốc của sự tu đúng như lời Phật dạy trong kinh. Cái ách cột hai con trâu là tham dục, sân nhuế. Tham dục sân nhuế do dấy niệm phân biệt. Nếu không theo dấy niệm phân biệt thì không bị cột trói.

Lúc ngồi thiền gỡ, trong mọi hành động sinh hoạt hàng ngày cũng gỡ. Hằng gỡ như vậy là chăn, nói cách khác là tu thiền. Tu thiền là hành theo lời Phật dạy, trụ trong chánh pháp. Không cần đợi chứng Sơ thiền hay Nhị thiền mới giải thoát. Hằng trụ trong chánh pháp là giải thoát rồi. Đây là ý nghĩa thâm sâu trong nhà đạo.

Tóm lại, trọng tâm đường lối tu của chúng ta đừng để sáu căn chạy theo sáu trần khởi phân biệt. Vừa dấy niệm phân biệt liền thắng lại không theo. Được như vậy là chúng ta hằng tu, nắm dây giàm, cầm dây cương tự tại điều khiển con ngựa ngông và con trâu hoang. Đó là chủ trương lâu nay tôi hướng dẫn quý vị tu. Kinh điển Phật dạy và những lời chư tổ chỉ dạy, gần nhất là Lục tổ Huệ Năng, không có gì sai biệt.

Khi tu có người đặt câu hỏi, chăn giữ tâm mệt quá, nhiều lúc đau đầu hoặc tâm lăng lăng liên tục chăn không nổi phải làm sao? Đâu có gì lạ, chỉ cần ứng dụng lời Phật dạy trong kinh thôi. Kinh Bát-nhã nói: “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.” Thân này do năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức kết hợp tạo thành. Năm uẩn gồm thể xác và tinh thần tức là thân và tâm. Phật nói năm uẩn không thật, không tự tánh, không chủ thể, danh từ chuyên môn gọi là vô ngã. Thân duyên hợp, không có chủ thể nên không thật. Sáu trần bên ngoài cũng duyên hợp không thật. Thân không thật, trần không thật nên không có gì đáng để chúng ta chạy theo.

Vì không chịu ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống hàng ngày, cho nên chúng ta mới thấy thân thật và trần cảnh thật. Giả sử buổi chiều nghe ai nói một câu tức quá, nghĩ bụng mình tu rồi thôi ráng nhịn. Tuy ráng nhịn nhưng nó óc ách trong bụng. Đến tối xách bồ đoàn tọa cụ lên ngồi thiền, ngồi đó chứ đâu có thiền gì. Người ta nói nặng, mình phải nói lại câu nặng hơn. Đem câu này câu kia ra so sánh, một hồi nghĩ ra quá nhiều câu nặng hơn câu của người ta. Rốt cuộc ngồi cãi nhau chứ đâu có ngồi thiền.

Bởi thấy thanh trần thật nên đánh giá câu nói đó nặng làm nhục mình, chịu không nổi. Nếu nhớ thanh trần là một trong sáu trần duyên hợp không thật thì thôi, để nó qua như gió thổi, tội gì chứa trong bụng cho khổ. Được vậy thì con trâu của mình dễ dạy biết mấy, ngoan ngoãn nằm đó không chạy đi đâu. Tu không được là do thấy căn trần thật nên tâm không yên. Vì vậy, muốn ý thức không xao xuyến và trói buộc nhiều, bước đầu tiên phải thấy căn trần hư dối.

Cửa thiền gọi là cửa Không tức là Không môn. Muốn bước vào cửa này phải có cái nhìn thấu triệt. Trong kinh A-hàm dạy, quán pháp vô ngã. Ngã là chủ thể, các pháp duyên hợp nên không có gì là chủ thể. Con người duyên hợp không chủ thể, sự vật cũng duyên hợp không chủ thể. Người và vật đều vô ngã nên không thật có. Không chủ thể tức là hư dối. Vậy có gì đâu để bám giữ? Muốn tâm yên phải có trí tuệ Bát-nhã hằng thấy thân cảnh này không thật, tức là thắng được con trâu hoang của mình. Ngược lại, nếu chăn giữ tâm mà thấy cái nào cũng thật thì không tài nào chăn nổi.

Nếu ai đó có khả năng như Lục tổ, nghe một câu kinh biết mình có tự tánh thanh tịnh trùm khắp. Nói cách khác là thấy ông chủ hay ngộ pháp thân. Thấy được, ngộ được là nhận ra cái vĩnh cửu thường hằng bất sanh bất diệt. Nhận và sống được với cái bất sanh bất diệt rồi, mọi thứ sanh diệt chỉ là trò chơi giả dối, không có gì quan trọng. Cho nên Lục tổ tu rất khỏe, một lần thấy tột chỗ chân thật, dù ở với phường thợ săn vẫn tu được như thường. Trường hợp này chỉ có những người nghiệp chướng nhẹ, nghe một câu kinh hoặc lời Tổ dạy liền nhận ra tâm thể chân thật, không chút ngờ vực. Còn chúng ta bây giờ sống trong già-lam thanh tịnh, trường chay khổ hạnh, canh giữ khổ sở vì chưa sống được với tâm thật của mình.

Đường lối tu của thiền viện Chơn Không, Thường Chiếu hay tất cả viện theo sự hướng dẫn của tôi đều lấy trọng tâm chăn giữ tâm của mình, không cho vọng niệm chạy theo trần cảnh. Nói cách khác là gỡ cái ách của hai con trâu, không cho dính nhau. Đó là gốc của sự tu. Ban ngày sinh hoạt trong mọi tư thế, ban đêm ngồi thiền đều lo gỡ sáu căn không cho dính với sáu trần

Muốn thành công được chỗ này, chúng ta phải thấy rõ bằng con mắt trí tuệ. Thân này cảnh này là tướng duyên hợp không thật, các pháp đều như huyễn. Trọng tâm trong các kinh điển Tiểu thừa cho tới Đại thừa đều không hai. Thấy rõ căn bản gốc tu rồi từ đó mới không làm trái với lời chư Phật chư tổ dạy.

Trên đây là những phần tôi hướng dẫn tất cả quý vị về đường lối tu. Qua đó chúng ta thấy học kinh không trở ngại, bởi vì kinh nào Phật cũng dạy cốt yếu của sự tu. Giáo lý căn bản trong kinh A-hàm gọi là Tứ pháp ấn hay Tam pháp ấn. Tứ pháp ấn là vô thường, khổ, không, vô ngã. Tam pháp ấn là chư hạnh vô thường, chư pháp vô ngã và Niết-bàn tịch tịnh. Trọng tâm trong Tứ pháp ấn hay Tam pháp ấn đều chỉ cho chúng ta thấy thân cảnh này vô thường, không chủ thể. Thấy được như vậy thì tâm mình nhẹ nhàng, bớt giong ruổi và dễ dàng gỡ được dính mắc. Nếu không thấy đúng như thật, sự tu rất cay đắng. Bởi vì luôn thấy thân thật cảnh thật nên không thắng nổi nó.

Hôm nay nhân ngày tết Trung thu của nhi đồng, chúng ta tùy tục thưởng thức chút ít hương vị bánh Trung thu mà quý Phật tử đã thương gửi tặng. Đồng thời nhân cơ hội này tôi đem lời Phật tổ dạy nhắc cho tất cả tăng ni và Phật tử hiểu rõ đường lối tu tôi đang hướng dẫn. Mong rằng quý vị ghi nhớ để ứng dụng, đồng thời chỉ dạy lại cho những người sau biết đi cho đúng.

Buổi nói chuyện đêm Trung thu tới đây là mãn. Tôi mong tất cả quý vị nghe hiểu rồi ứng dụng. Làm sao trên đường tu ý chí của mình quật cường trước sau như một. Đừng có nay thế này mai thế kia, nghe khen vui nghe chê thối chí. Như vậy là tự làm bại hoại con đường tu của mình và đi sai đường tôi đã vạch sẵn. Chúc tất cả cùng cố gắng để đạt được kết quả tốt đẹp.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.