Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải

Đời Thứ Mười Sáu Sau Lục Tổ Huệ Năng Tông Lâm Tế Đời Thứ Mười Hai



Phái Dương Kỳ

THIỀN SƯ TÔNG CẢO ĐẠI HUỆ ở am DIỆU HỶ – KÍNH SƠN (1089 – 1163) 

Thiền sư Tông Cảo Đại Huệ còn gọi là thiền sư Diệu Hỷ. Tông Cảo là pháp danh, Đại Huệ là hiệu vua ban. Diệu Hỷ là tên am, do thừa tướng Trương Thiên Giác đặt. Sau, hoàng đế Hiếu Tông đích thân viết hai chữ Diệu Hỷ lớn trên vách, nên thời nhân gọi ngài là thiền sư Diệu Hỷ.

Ngài Đại Huệ xuất gia lúc tuổi còn nhỏ, là một thiền sư nổi tiếng đời Tống, phần ngữ lục của ngài được ghi lại rất nhiều. Ngài tu thoại đầu nên lời nói nghe rất khó hiểu, không để cho người học có chỗ gá vào đó mà suy nghĩ.

Sư quê ở Ninh Quốc, Tuyên Châu, con nhà họ Hề. Năm mười ba tuổi Sư mới vào học vỡ lòng, học chưa được nửa tháng liền bỏ đi xuất gia. Năm mười bảy tuổi Sư được làm Tăng, thọ giới Cụ túc. Tuy tuổi Sư còn nhỏ mà đã biết có việc trong tông môn. Sư xem hết các ngữ lục, thích nhất là lời Vân Môn, Mục Châu. Sư nghi Ngũ gia tông phái buổi đầu chỉ một tổ Đạt-ma, vì sao lại có nhiều môn đình? Song tánh Sư siêu thoát không chịu ràng buộc. Cha mẹ khuyên Sư đi du phương. 

Khi nghiên cứu về thiền, ngài nghi gốc thiền tông chỉ có một tổ Đạt-ma, tại sao về sau lại chia ra năm phái. Đây là chỗ khiến ngài không an.

Khi ấy ở Tuyên Châu có thiền sư Thiệu Trình ở Minh Giáo thừa kế thiền sư Thản ở Hưng Giáo, là cháu thiền sư Giác ở Lang Nha. Sư nghe Thiệu Trình là người bão tham nên tận tâm thờ phụng. Sư thường thưa hỏi về niêm cổ, tụng cổ của Tuyết Đậu và nhân duyên các bậc cổ túc. Thiệu Trình chỉ dạy cốt phải thẳng đó tự thấy tự nói, chẳng rảnh bàn ngôn ngữ kia. Sư thấu suốt được chỗ chỉ dạy của tiên đức. Thiệu Trình lấy làm lạ, mỗi khi khen nói:

– Cảo là người tái lại.

Bậc tái lai là người đời trước đã từng làm thiện tri thức, bây giờ sanh trở lại chứ không phải người thường, mới phát tâm vào đạo.

Sư lại sang Dĩnh Châu tham vấn thủ tọa Nguyên ở Đại Dương, Hòa thượng Vi ở Động Sơn, Thị giả Kiên. Hòa thượng Vi làm Thủ chúng ở Phù Dung, thị giả Kiên làm thị giả Phù Dung mười năm. Sư tham học với ba vị này khá lâu, hiểu rõ được tông chỉ tông Tào Động. Một hôm thấy các vị kia đốt liều hương trên tay để truyền trao, tỏ là phó chúc chẳng dối, Sư bất bình nói: 

– Thiền có truyền trao, đâu phải pháp tự chứng tự ngộ của Phật tổ. 

Một hôm thấy các vị thầy đốt liều hương trên cánh tay làm lễ truyền trao cho đệ tử, ngài cho rằng đó là chuyện không đúng nên bất bình. Bởi vì thiền là tự chứng tự ngộ, nếu làm lễ truyền trao tức mắc kẹt trên hình thức. Về sau, nhiều người lầm lẫn chỗ này rồi bắt chước làm theo. Thấy học trò nào hiểu ý hoặc cảm thông với mình, liền làm lễ truyền tâm ấn, tâm pháp. Người không ngộ mà làm lễ truyền trao là điều sai lầm, chỉ là hình thức giả dối không đúng sự thật.

Bèn bỏ đi, đến dưới tòa của thiền sư Chơn Như Triết, vào thất tạng chủ Khánh, trưởng lão Hiền Bồng Đầu. Sư cùng Khánh đến Hoàng Long yết kiến Hối Đường, đến Đông Lâm tham Chiếu Giác đều chẳng hợp. Sư lại yết kiến thiền sư Tuân Tâm Ấn, Tuân là cao đệ của Tú Thiết Diện. Đàm đạo với Sư, Tuân lấy làm lạ, muốn lưu ở dưới hội mà Sư chẳng chịu. Tuân nhân đó chỉ đến Bảo Phong tham thiền sư Chuẩn. Chuẩn tức là Trạm Đường. 

Sư mới đến cơ biện tung hoành, Chuẩn bảo: 

– Lỗ mũi ông tại sao có nửa bên? 

Sư thưa: – Môn hạ Bảo Phong. 

Chuẩn bảo: – Thiền hòa đỗ soạn. 

Thiền sư Chuẩn thấy ngài lanh lợi, ăn nói lưu loát, nhưng biết vẫn chưa ngộ nên hỏi: Lỗ mũi ông tại sao nửa bên? Ngài tự hào đáp: Môn hạ Bảo Phong, con là môn hạ của Bảo Phong đây.

Chuẩn bảo: Thiền hòa đỗ soạn. Ông chỉ nói thiền đầu môi, tạp nhạp, quê mùa mà thôi.

Nhân tô vẽ lại tượng Thập vương, Chuẩn chỉ tượng hỏi Sư: 

 Quan nhân này họ gì? 

Sư đáp: – Họ Lương. 

Chính Chuẩn là họ Lương. Chuẩn xoa đầu tượng nói: 

– Tại sao họ Lương lại thiếu cái đầu trọc? 

Sư thưa: – Đầu tuy chẳng đồng, lỗ mũi tương tự.

Chuẩn bảo: – Thiền hòa đỗ soạn. 

Chuẩn xoa đầu tượng nói: Ta chính là họ Lương mà ông nói đây, nhưng tại sao họ Lương lại thiếu cái đầu trọc?

Đầu tuy chẳng đồng, lỗ mũi tương tự. Ngài tuy chưa ngộ đạo mà lý luận rất hay.

Nhân xem kinh Kim Cang, Chuẩn hỏi Sư: 

– Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp. Vì sao núi Vân Cư cao núi Bảo Phong thấp? 

Sư đáp: – Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp. 

Chuẩn bảo: – Ông làm được kẻ tớ Tọa chủ. 

Một hôm Chuẩn bảo Sư: 

– Thượng tọa Cảo! Tôi có thiền tý xíu này, ông mỗi mỗi lý hội được chăng? 

Sư thưa: – Lý hội được. 

Chuẩn bảo: 

– Dạy ông nói cũng nói được, bảo ông làm cũng làm được, niêm cổ, tụng cổ, tiểu tham, phổ thuyết thảy được, chỉ có một việc chẳng phải, ông có biết chăng? 

Sư thưa: – Chưa biết là việc gì? 

Chuẩn bảo: 

– Ông chỉ thiếu một cái “À!” Vì thế khi nói thì có, khi chẳng nói liền không. Khi vào phương trượng thì có, khi ra phương trượng liền không. Khi tỉnh tỉnh thì có, khi ngủ mê liền không. Làm sao địch được sanh tử? 

Sư thưa: – Chính là chỗ con nghi. 

Thiền sư Chuẩn bảo: Ông chỉ thiếu một cái “À!” Ngài thiếu một cái “à!” nên chưa vào cửa được. Có ai trong chúng ta được cái “à!” đó chưa? Thông thường nếu chỉ nghe hiểu trên chữ nghĩa, mà không một lần tỉnh giác thì cũng chưa tới nơi. Chữ “À!” hết sức quan trọng, vì đó là một biểu hiện của ngộ đạo. Ví dụ chúng ta để một món đồ quan trọng ở đâu không nhớ, kiếm đầu này đầu kia rối cả đầu óc cũng tìm không ra. Trước đó có người thấy mình để, nên lúc ấy họ liền nhắc, mình sực nhớ lại thốt lên: “À!” Tức là nhớ lại rồi. Cái mình đã quên, bây giờ chợt nhận ra, nên chỉ À một tiếng liền xong.

Người tu chúng ta dù rất thông minh, được hỏi trả lời lưu loát, khi cần thì lý luận rất hay, gặp việc ứng đối nhạy bén, nhưng chưa ngộ thì vẫn chưa qua được sanh tử. Vì thế khi nói thì có, khi chẳng nói liền không. Khi vào phương trượng thì có, khi ra phương trượng liền không. Khi tỉnh tỉnh thì có, khi ngủ mê liền không. Làm sao địch được sanh tử? Khi tỉnh nói mình gần bằng thánh, tới chừng gặp việc thì mê lại thôi.

Người tu hiện nay nếu không nắm vững chỗ này, khi nghe lời Tổ dạy hay các thiền sư nói, hiểu được chút chút rồi cho rằng mình hiểu thiền, đến chỗ này chỗ kia nói dóc. Như vậy làm sao địch nổi sanh tử? Phải một lần À được, từ đó hằng tỉnh thì nơi nào chốn nào cái chân thật cũng luôn luôn hiện tiền.

Chuẩn bệnh, Sư đến hỏi: 

– Con về sau nên gặp người nào?

Chuẩn bảo: 

– Có gã Cần, ta chẳng biết y, ông nên yết kiến sẽ hay biện được việc của ông. Nếu ông liễu chưa xong nên tu hành xem Đại tạng kinh, thân sau ra đời quyết định là thiện tri thức. 

Thiền sư Trạm Đường dạy rất rõ ràng, nếu chưa có duyên ngộ triệt để thì tốt hơn nên xem tạng kinh, đời sau sanh ra nhất định làm thiện hữu tri thức chứ không phải thường. Nếu không như thế, nhiều khi đã không ngộ mà kinh cũng không xem, thành ra mù mù mit mit.

Trạm Đường tịch, Sư ra mắt thừa tướng Trương Thiên Giác nhờ làm bài minh ở tháp. Thiên Giác môn đình cao, đối với thiền khách ít hứa nhận, gặp Sư một lời là khế hợp, liền xuống giường nói chuyện suốt ngày đêm, rồi đặt tên am là Diệu Hỷ, tên tự Đàm Hối. Thiên Giác cùng giúp Sư đến yết kiến Viên Ngộ. 

Khi ấy, Viên Ngộ từ Tương Sơn vâng chiếu trụ chùa Thiên Ninh tại Đông Kinh. Viên Ngộ chưa đến, Sư đã đến trước tạm dừng lại tham đường rồi. Viên Ngộ vào viện, Sư sớm chiều thưa thỉnh. Viên Ngộ nêu công án “Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là chỗ chư Phật xuất thân? Vân Môn đáp: Núi đông đi trên nước”, bảo Sư hạ ngữ. Sư tham ngót một năm, đã hạ bốn mươi chín chuyển ngữ đều chẳng hợp. 

Một hôm Viên Ngộ đến phó trai nhà một viên quan, đăng tòa nêu: 

– “Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là chỗ chư Phật xuất thân? Vân Môn đáp: Núi đông đi trên nước. Nếu là Thiên Ninh thì không như thế. Nếu có người hỏi, thế nào là chỗ chư Phật xuất thân? Chỉ nói với y, gió lành từ nam lại, lầu gác thêm mát mẻ. 

Sư nghe nhắc hoát nhiên tỉnh ngộ. Bèn đem sở ngộ trình Viên Ngộ. Viên Ngộ xét Sư tuy mé trước sau đoạn, tướng động chẳng sanh, song ngồi ở chỗ sạch trọi trơn, nên bảo Sư rằng: 

 Chưa phải, ông tuy có đắc mà đại pháp chưa sáng. 

Thiền sư Viên Ngộ biết ngài tuy đối với mé trước mé sau đều đoạn được, tướng động không còn nhưng đang ở chỗ sạch trọi trơn. Căn cứ vào Mười mục chăn trâu, tương ứng với bức tranh thứ tám, không còn trâu và chăn, tức không còn ngã pháp nhưng chưa đến được chỗ chân thật.

Người làm thầy có trách nhiệm hướng dẫn tu, phải biết chỗ này.

Một hôm, Sư vào thất, Viên Ngộ bảo: 

– Ông đến được chỗ này cũng chẳng dễ, chỉ đáng tiếc chết rồi không thể sống lại. Chẳng nghi ngôn cú là bệnh lớn. Chẳng thấy nói: “Vực thẳm buông tay tự nhận thừa đương, chết rồi sống lại dối anh chẳng được.” Phải biết có đạo lý này. 

Sư thưa: 

– Con chỉ căn cứ như chỗ được hiện nay đã là sống thích, lại không thể lý hội thêm nữa. 

Viên Ngộ không nhận, bèn sai Sư đến liêu Trạch Mộc, làm thị giả tiếp khách quan. 

Tới chỗ không còn ngã, không còn pháp nên nói chết, cũng như chỗ khác nói “nước chết chẳng chứa rồng”. Người tu thiền phải chết rồi sống lại, nghĩa là phải vượt đầu sào trăm trượng, tức đang chết trong chỗ không còn ngã không còn pháp, tới được mục thứ chín là Lá rụng về cội chim bay về tổ, mới là thật ngộ.

Con chỉ căn cứ như chỗ được hiện nay đã là sống thích. Vào được chỗ không còn ngã không còn pháp, quá yên tịnh nên thấy rất thích thú.

Mỗi ngày Sư cùng sĩ đại phu bàn luận, vào thất đến ba bốn lần. Viên Ngộ bèn nêu: “Câu có câu không như bìm nương cây”, hỏi Sư. Sư vừa mở miệng, Viên Ngộ liền nói: 

– Chẳng phải, chẳng phải. 

Như thế đến nửa năm chưa được ấn khả, niệm niệm chẳng quên nơi tâm. Một hôm cùng các quan khách ăn cơm, Sư cầm đũa nơi tay mà quên há miệng. Viên Ngộ cười bảo: 

 Kẻ này tham hoàng dương mộc thiền lại rút ngược. 

Sư liền nói ví dụ: 

 Đạo lý của Hòa thượng giống như con chó nhìn chảo mỡ nóng, muốn liếm lại liếm chẳng được, muốn bỏ lại bỏ chẳng được. 

Viên Ngộ bảo: 

 Ông dụ rất hay. Chỉ cái này là vòng kim cang, là lùm cỏ gai. 

Lúc nào ngài cũng niệm niệm chẳng quên nơi tâm, đến mức tâm chết ngay trong câu đó, nên khi ăn cơm cầm đũa gắp thức ăn mà quên há miệng.

Hoàng dương là loại cây lớn chậm, nếu gặp năm nhuận thì thân co rút lại. Ý nói người tham thiền chậm lụt không tiến được.

Con chó thấy chảo mỡ đang sôi thèm rỏ nước miếng, nhưng để lưỡi vô thì phỏng mà đi lại không đành. Đó là trạng thái tới lui đều không được.

Lại một hôm, Sư hỏi: 

– Nghe nói Hòa thượng đương thời ở chỗ Ngũ Tổ cũng hỏi thoại này, chẳng biết Ngũ Tổ đáp thế nào, xin Thầy chỉ dạy? 

Viên Ngộ lặng thinh không nói. Sư thưa: 

 Lúc đó Hòa thượng chẳng thể tự hỏi riêng, phải ở trước đại chúng hỏi, nay nói lại có ngại gì? 

Viên Ngộ nói: 

– Ta hỏi: Câu có câu không như bìm nương cây là thế nào? Ngũ Tổ bảo: Tả cũng tả chẳng thành, vẽ cũng vẽ chẳng được. Ta lại hỏi: Chợt gặp cây ngã bìm khô thì thế nào? Ngũ Tổ bảo: Theo nhau lại vậy. 

Sư nghe cử thoại ngay đó đại ngộ, bèn nói: 

– Con hội rồi. 

Viên Ngộ nói: 

– Chỉ e ông lại thấu công án này chưa được. 

Sư thưa: 

– Thỉnh Hòa thượng cử. 

Viên Ngộ liền cử một mạch những công án của tiền bối hỏi Sư, Sư theo đó đối đáp không trệ ngại. Viên Ngộ vỗ tay khen hay, lại đối chúng khen rằng: 

– Cảo chẳng phải một đời hai đời làm thiện tri 

thức lại. 

Thiền sư Viên Ngộ khen ngài là người đã từng làm thiện tri thức nhiều đời, nên đến chỗ này mới ngộ suốt như vậy.

Từ đây Sư dọc ngang tự tại, lời nói thao thao như nước đổ máng xối, như đá tròn lăn trên sườn dốc ngàn nhẫn, chư lão túc khó vượt qua được sự bén nhạy của Sư. Sư đã đại triệt, một số thiền khách có nghi đến hỏi Viên Ngộ, Viên Ngộ bảo: 

– Thiền của ta giống như biển cả, các ông đem được đồ đựng biển cả đến trút lấy mới được. Nếu chỉ đem bát chậu đến chứa được chút ít bèn thôi, khí lượng của các ông chỉ như thế, bảo ta phải làm sao. Được bao nhiêu người đến điền địa như thế, khi trước có thượng tọa Cảnh cùng các ông một loại, lại đã chết rồi. 

Thiền sư Viên Ngộ nói thiền của ngài bao la mênh mông như biển cả, những vị thiền khách tới hỏi đạo muốn được thiền này, phải đem đồ đựng như biển đến chứa mới hết. Nếu chỉ đem bát tô tới đựng thì không thấm vào đâu.

Chưa bao lâu, Viên Ngộ cử Sư làm Thủ chúng. Khi ấy, hàng sĩ đại phu thường thường tranh đến với Sư. 

Viên Ngộ trở về Thục, Sư từ giã về ở Cổ Vân Môn, học giả đua nhau đến. Lại chạy loạn sang Hồ Nam, qua Giang Hữu vào Mân, Sư cất am Trường Lạc ở sườn núi. Khi ấy theo Sư năm mươi ba người, chưa đầy năm chục ngày mà đắc pháp mười ba người. Cấp sự Giang Thiếu Minh thỉnh Sư trụ am Vân Môn ở Tiểu Khê. 

Thừa tướng Trương Ngụy Công khi ở Thục nghe Viên Ngộ nói Sư thật được pháp tủy, khi về triều mời Sư trụ Kính Sơn, phủ Lâm An. Sư đến trụ nơi đây pháp tịch hưng thịnh một thời. Những ngôi nhà chứa mấy trăm người đều không chỗ dung, phải lập lầu gác lớn chứa cả ngàn người, chúng thường có mặt trên hai ngàn. 

Người xưa học đạo rất đông, pháp hội của ngài thường có trên hai ngàn người. Chúng ta tưởng tượng bây giờ pháp hội chừng năm trăm người là dung hết nổi rồi.

Buổi khai pháp ban đầu, Sư đăng tòa vấn đáp chưa xong, lại có mấy vị tăng tranh nhau ra hỏi. Sư ngăn lại nói: 

 Dừng, dừng! Giả sử quả đất có bao nhiêu cây cỏ nghiền nát làm bụi, mỗi mỗi hạt bụi có một cái miệng, mỗi mỗi cái miệng đủ vô ngại tướng lưỡi rộng dài, mỗi mỗi tướng lưỡi xuất vô lượng âm thanh sai biệt, mỗi mỗi âm thanh phát vô lượng ngôn từ sai biệt, mỗi mỗi ngôn từ có vô lượng diệu nghĩa sai biệt. Như trên, thiền tăng bằng số bụi, mỗi mỗi đủ miệng như thế, lưỡi như thế, âm thanh như thế, ngôn từ như thế, diệu nghĩa như thế, đồng thời đặt trăm ngàn vấn nạn, mỗi vấn nạn khác nhau, mà chẳng đủ một tiếng tằng hắng của trưởng lão Kính Sơn này, đồng thời đáp xong. Khi này ở trong ấy làm Phật sự vô lượng vô biên rộng lớn, mỗi mỗi Phật sự khắp cả pháp giới. Cho nên nói, một sợi lông hiện thần biến, tất cả Phật đồng nói kinh, nơi vô lượng kiếp chẳng biết bờ mé, được thế ấy náo nhiệt môn đình thì phải. Nếu dùng chánh nhãn xem đó, chính là nghiệp thức mờ mờ không gốc để y cứ, dưới cửa Tổ sư một điểm dùng cũng chẳng được. Huống là soi móc chương cú, vạch bày ngôn phong, chẳng những chôn vùi tông thừa từ trước, cũng là cười vỡ lỗ mũi của thiền tăng. Vì thế nói, còn mảy tơ buộc niệm là nghiệp nhân tam đồ, chợt vậy tình sanh là bao vây muôn kiếp, hiệu phàm danh thánh trọn là tiếng rỗng, tướng tốt hình xấu đều là sắc huyễn, ông muốn cầu đó lại không lụy sao? Nếu là chán đó cũng thành đại hoạn. Xem tiên đức kia dạy bảo như thế, như binh khí của quốc gia bất đắc dĩ mà dùng, trên việc bổn phận cũng không có tin tức này. Ngày nay sơn tăng cử xướng như thế, giống hệt không mộng nói mộng, thịt lành khoét thành thương tích, kiểm điểm ra nên ăn gậy. Hiện nay có người hạ được độc thủ hay chăng? Nếu có, kham đền cái ơn chẳng đền, cùng giúp giáo hóa vô vi. Nếu không, lệnh này không hiệu lực. 

Sư cầm gậy lên nói: 

Cầm ngang Mạc Da toàn chánh lệnh, 

Thái bình hoàn vũ chém ngu si. 

Sư lia một cái, hét một hét. 

Ngài nói, giả sử cả quả đất, bấy nhiêu cây cối nghiền nát thành bụi, mỗi hạt bụi là một thiền tăng, mỗi thiền tăng có một cái miệng, mỗi cái miệng có đủ loại tướng lưỡi hỏi trăm ngàn thứ diệu nghĩa. Tất cả các thiền tăng ấy đều cùng hỏi, chỉ cần một cái tằng hắng của ngài cũng đáp đủ hết. Ngài nói chúng ta nghe có vẻ như phách, nhưng không phải. Ngài tu đã đến nơi, nên dùng lối nói nào cũng không sợ sệt không ngăn ngại e dè. Đây chính là bốn đức vô úy của Phật. Nếu chúng ta tu chưa đến nơi, dù biết cũng nên dè dặt, ngăn trước ngừa sau. Bởi người chưa tu xong mà nói như trên, cũng chỉ là học lỏm, lời nói ra không được mạnh mẽ.

Ví dụ mấy huynh đệ là thiền tăng, người ta tới hỏi vài câu về thiền, huynh đệ có ngại không? Coi bộ tim muốn nhảy khỏi lồng ngực. Tại sao ngại? Vì chưa sống được với chỗ chân thật, nên khi nói sợ không biết trúng hay trật. Các thiền sư khéo dùng những hành động, lời nói vô cùng đơn giản mà nghiệm người rất thấu đáo, chính xác.

Ngài dẫn lời các vị tổ trước. Còn mảy tơ buộc niệm là nghiệp nhân tam đồ, buộc niệm tức là khi niệm khởi mình ráng cột niệm, nên còn trong tam đồ chưa ra khỏi. Chợt vậy tình sanh là bao vây muôn kiếp, chợt dấy niệm khởi thương ghét là bị bao vây muôn kiếp.

Hiệu phàm danh thánh trọn là tiếng rỗng, tướng tốt hình xấu đều là sắc huyễn. Phàm là thấp, thánh là cao. Thánh phàm chỉ là tiếng rỗng, tướng tốt hình xấu cũng là sắc huyễn. Như vậy, nếu biết tất cả tốt xấu, khen chê, cao thấp… đều là đối đãi thì dễ tu không? Hai câu này chúng ta có thể ứng dụng được trong cuộc sống tu hành của mình.

Giả sử mình đang đi ngoài đường, có người chê: “Người gì mà đen thui!”, giận không? Lúc đó liền đỏ mặt. Như vậy, tiếng kia là rỗng hay thật? Một chút chỗ này cũng thấy được sự tu của mình. Mình trắng mà họ nói đen là sai, còn đen người ta nói đen là đúng, vậy nổi giận cái gì? Nếu thật biết tiếng rỗng thì tất cả tiếng đều là vô nghĩa, nghe qua chỉ cười rồi đi thì đâu có chuyện gì. Ngược lại, nghe nói vậy liền nổi sùng là hết rỗng rồi.

Lời khen tiếng chê chỉ là ngôn ngữ mà qua chưa được, thành ra có nhiều chướng ngại. Tiếng chửi có ngăn bước mình đi không? Họ chỉ kêu tên chửi chứ đâu khiêng đá khiêng cây chặn đường mình đi. Vậy thì họ chửi mặc họ, mình đi cứ đi, không có gì trở ngại. Ngược lại, khi nghe người ta chửi liền đứng lại đi không nổi là tại sao? Tại vì không thấy tiếng rỗng, nên bị ngôn ngữ làm chướng, không vượt qua được. Đức Phật khi có người theo sau chửi, ngài vẫn đi rất thong thả. Đó mới là tiếng rỗng, còn chúng ta lại xem như gai định ngăn trở mình.

Rõ tướng tốt hình xấu đều là sắc huyễn thì thấy xấu tốt đều không quan trọng. Nhưng nếu như có hai huynh đệ đang đi ngoài đường, người đứng bên lề nói thầy này dễ thương, thầy kia dễ ghét thì sao? Liền nổi sùng trong bụng. Như vậy đối tướng có thấy là sắc huyễn hay chưa? Nói thương nói ghét mặc họ, có nghĩa lý gì đâu, cứ bình thản mà đi. Hiểu thì bao nhiêu đấy đủ tu rồi, không cần học nhiều hiểu sâu, ngay đó thấy đúng như thật, đừng kẹt đừng mắc là thoát khỏi trở ngại.

Thông thường chúng ta phiền não dẫn đến cãi nhau, cũng không ngoài hai thứ thanh sắc này. Kẻ nói qua người nói lại, đến hồi hơi gay cấn thì kê mình lên cao hơn họ một chút, họ cũng kê cao hơn mình một chút, lát sau có chuyện lớn. Chỉ là tiếng rỗng thôi, đâu có gì quan trọng. Thế nhưng có vài trường hợp, vì những tiếng rỗng đó mà sanh ra bao nhiêu chuyện, có người xách gói ra đi. Không khác nào bị người ta thổi một cái phù khiến mình bay tuốt, cho nên Tổ nói: Ông muốn cầu đó lại không lụy sao? Căn cứ trên cái hư dối mà cầu là lụy, là họa.

Nãy giờ sơn tăng cử xướng như thế cũng là không mộng nói mộng, thịt lành khoét thành thương tích rồi. Nếu kiểm điểm thì đáng ăn gậy. Hiện nay có người hạ được độc thủ hay chăng? tức là có ai dám cho Ngài ăn gậy không? Nếu có mới kham đền cái ơn chẳng đền, cùng giúp giáo hóa vô vị.

Cầm ngang Mạc Da toàn chánh lệnh,

Thái bình hoàn vũ chém ngu si.

Mạc Da là cây kiếm cực bén trong truyền thuyết.

Sư dạy chúng: 

Điên đảo tưởng sanh, sanh tử nối, 

Điên đảo tưởng diệt, sanh tử dứt.

Chỗ sanh tử dứt Niết-bàn không.

Chỗ Niết-bàn không bụi trong mắt. 

Niết-bàn đã không, nói cái gì là bụi trong mắt? 

Mây trắng chợt về che núi biếc, 

Trăng trong khó bảo xuống trời xanh. 

Sư lại nói: 

Nước Ma-kiệt-đề vẫn ở giữa đường, trước ngọn Thiếu Thất toàn không lỗ mũi. Bàn huyền nói diệu, thịt lành khoét thành thương tích; nhắc xưa rõ nay, ném cát chọi đất. Đâu bằng đói ăn khát uống rảnh ngồi mệt ngủ, mặc cho bốn mùa đổi dời chẳng can hệ việc của ta. Tuy nhiên như thế, cũng phải thật đến điền địa này mới được. Chỉ như thật đến điền địa này làm sao thân cận? 

Sư hét một hét, nói: 

– Trên vết thương lại để một viên ngải cứu cháy. 

Điên đảo tưởng sanh, sanh tử nối, tưởng điên đảo còn sanh khởi là dòng sanh tử còn nối tiếp. Điên đảo tưởng diệt, sanh tử dứt, tưởng điên đảo dứt hết thì sanh tử theo đó hết.

Chỗ sanh tử dứt, Niết-bàn không. Tại sao nói sanh tử dứt Niết-bàn không? Bởi vì là đối đãi, có sanh tử mới có Niết-bàn, thế nên nếu sanh tử hết thì Niết-bàn cũng hết. Như vậy Niết-bàn hết thì sao? Chỗ Niết-bàn không, bụi trong mắt. Nếu đến chỗ Niết-bàn hết, rồi cho đó là không, tức là con mắt còn dính bụi. Bởi trong Mười bức tranh chăn trâu, mục thứ tám là hết trâu hết chăn, tức là hết đối đãi chứ chưa phải cứu cánh. Nếu cho chỗ đó là cứu cánh thì con mắt vẫn còn bụi.

Ngài nói tiếp hai câu thơ: Mây trắng chợt về che núi biếc, trăng trong khó bảo xuống trời xanh. Còn một áng mây dù là mây trắng, cũng che núi biếc. Trăng trong trời không thì không đổi dời.

Ngài lại nói: Nước Ma-kiệt-đề vẫn ở giữa đường, trước ngọn Thiếu Thất toàn không lỗ mũi. Bàn huyền nói diệu, thịt lành khoét thành thương tích; nhắc xưa rõ nay, ném cát chọi đất. Tất cả những điều đó chưa phải chỗ cứu cánh. Vậy chỗ cứu cánh là chỗ nào?

Đâu bằng đói ăn khát uống rảnh ngồi mệt ngủ, mặc cho bốn mùa đổi dời chẳng can hệ việc của ta. Đói ăn khát uống, rảnh ngồi mệt ngủ là cứu cánh, huynh đệ thích không? Chừng nào được như ngài thì thích, còn chưa được mà thích thì chẳng khác nào kẻ dân thường nói chuyện của quan lớn. Khi nào qua khỏi ngã và pháp, chết rồi sống lại mới nói điều đó được. Nếu chưa chết hoặc chết chưa sống lại nổi thì không nên nói như thế.

Hiện giờ nhiều người thường mắc bệnh này, nói rất hay rốt cuộc động tới sân đùng đùng, gặp ngũ dục thế gian không chừa cái nào, nhiễm đủ thứ. Đây là bệnh lớn của người chưa thấy tột cùng.

Tuy nhiên như thế, cũng phải thật đến điền địa này mới được. Nói là nói vậy nhưng phải đến tận nơi mới được, chứ không phải chưa đến mà nói suông.

Sư hét một hét, nói: Trên vết thương lại để một viên ngải cứu cháy. Đã châm vô thịt một vết thương, còn đem viên ngải cứu cháy để hơ lên, đó là hai lớp.

Sư thượng đường hỏi đáp xong, bèn nói: 

– Hỏi được cũng tốt, chẳng hỏi lại gần. Cớ sao? Con đường trước tiếng ngàn thánh chẳng truyền, học giả nhọc hình như khỉ bắt bóng. Trong đây nếu có kẻ anh linh, thế ấy chẳng thế ấy, tai nghe nhắc đến đứng dậy liền đi, vẫn ở trong hang ổ bìm sắn. Hẳn được trong không sở chứng ngoài không sở tu, giống như đất chở núi, đá ngậm ngọc, chưa phải chỗ thiền tăng buông thân mạng. Dám hỏi đại chúng, thế nào là chỗ thiền tăng buông thân mạng? Nếu như biết được, trần trần niệm niệm đều không rỗng thiếu, xoay quanh cúi ngước trọn ở trong kia. Chính khi ấy, cứu cánh cái gì là trăng gia phong, lại hiểu chăng? 

Ngàn thánh nào biết đi đâu tá, 

Ỷ Thiên trường kiếm bức lạnh người. 

Sư xuống tòa. 

Chỗ đó không có nghi ngờ, nên hỏi được cũng tốt không hỏi lại gần. Tại sao? Vì con đường trước tiếng ngàn thánh chẳng truyền, trước tiếng là trước khi hỏi, chỗ đó ngàn thánh chẳng truyền. Học giả nhọc hình như khỉ bắt bóng, học giả nhọc nhằn đuổi theo tìm kiếm, giống như khỉ bắt bóng mà thôi.

Dù được tai nghe nhắc đến đứng dậy liền đi, trong không sở chứng ngoài không sở tu, cũng chưa phải là chỗ cứu cánh.

Bao nhiêu hình ảnh sắc trần, bao nhiêu tâm niệm đều không rời cái chân thật. Cho nên dù xoay quanh, cúi xuống ngước lên cũng không quên, không rời xa cái chân thật đó mới được. Đây chính là chỗ buông thân mạng.

Sư nêu lên hỏi người học: 

– Tôi trong đây không có pháp cho người, chỉ là cứ khoản kết án. Giống như ông đem cái bình lưu ly đến tiếc giữ, giống cái gì? Tôi một phen trông thấy liền vì ông đập bể. Ông lại đem hạt châu ma-ni đến, tôi lại vì ông cướp mất. Đợi ông chỉ như thế đến, tôi lại vì ông chặt đứt hai tay. Vì thế Hòa thượng Lâm Tế nói gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, gặp La-hán giết La-hán. Đã xưng là thiện tri thức, vì sao lại muốn giết người? Hãy nói là đạo lý gì? 

Con đường thiền tông không pháp cho người. Như viên quan ngồi xử án, vốn không chủ ý định tội ai, chỉ y cứ theo bản án mà phân xử nặng nhẹ. Cũng vậy, thiền sư không có một pháp cố định dạy người, chỉ tùy bệnh nói phá, gọi là nhổ đinh tháo nêm.

Giống như ông đem cái bình lưu ly đến tiếc giữ, giống cái gì? Tôi một phen trông thấy liền vì ông đập bể. Thiền sư Tông Cảo đập tan chỗ chấp của học nhân. Vì nhiều người tới hỏi đạo, cốt không phải học hỏi điều cao siêu để tu, chỉ muốn khoe mình. Khoe chừng nào được tán thán chừng nấy, họ sẽ tự mãn và không tu tiến. Đó là bệnh. Ví dụ có Phật tử tới thưa: Bạch Thầy, bây giờ con thức tỉnh tu hành, luôn luôn giữ năm giới, ăn chay trường. Khi gặp ai nghèo khó, đói thiếu con đều giúp đỡ, làm bao nhiêu việc như vậy đủ chưa? Nếu họ đem cái tốt trình lên, mình liền khen cho rằng họ đắc nhân tâm, bao nhiêu đó quá hay rồi. Như vậy là họ ôm cái tốt đó về luôn, không tiến thêm được bước nào nữa.

Ông lại đem hạt châu ma-ni đến, tôi lại vì ông cướp mất. Những thứ ông chấp giữ đem tới tôi đều cướp hết, tức dẹp sạch chấp cho họ. Đây là trọng trách của một vị thầy, hiểu vậy mới thấy tầm quan trọng trong sự tiếp nhân độ chúng.

Đã xưng là thiện tri thức, sao lại muốn giết người? Chữ giết là phá hết những kiến chấp, hết chấp rồi mới có thể tiến lên được.

Những người tham thiền thỉnh Sư nói thiền bệnh. Sư bảo: 

– Thiền có bệnh gì có thể nói. Thiền lại chẳng từng bệnh nhức đầu, chẳng từng bệnh đau chân, chẳng từng bệnh điếc tai, chẳng từng bệnh mờ mắt. Chỉ là người tham thiền tham được sai biệt, chứng được sai biệt, dụng tâm sai biệt, nương thầy sai biệt. Nhân những sai biệt này nên nói là bệnh, chẳng phải nói thiền có bệnh. Như hỏi thế nào là Phật, đáp tức tâm là Phật, có bệnh gì? Hỏi con chó có Phật tánh không, đáp không, có bệnh gì? Nếu nói bảo trúc bề (thanh tre) là chạm, chẳng bảo trúc bề là trái, có bệnh gì? Hỏi thế nào là Phật, đáp ba cân gai, có bệnh gì? Hỏi thế nào là Phật, đáp que cứt khô, có bệnh gì? Ông chẳng thấu suốt, vừa khởi đạo lý cần thấu liền ngàn dặm muôn dặm không giao thiệp. Toan đem tâm phân biệt nó, toan đem tâm suy nghĩ nó, nhằm chỗ cử lên hiểu rõ, chỗ chọi đá nháng lửa luồng điện chớp hội, cái này mới là bệnh. Thầy thuốc thế gian đành bó tay. Song cứu cánh chẳng can hệ việc thiền. Ngài Triệu Châu nói: 

Cốt cùng vua Không làm đệ tử, 

Chớ bảo tâm bệnh rất khó trị. 

Thật ra thiền không có bệnh, tại chúng ta có những cái nhìn, cái hiểu khác nhau mà thành bệnh.

Như hỏi thế nào là Phật, đáp tức tâm là Phật, có bệnh gì? v.v… Hỏi đáp như thế, đâu có gì là bệnh. Nên biết, lời nói không bệnh, chỉ vì chấp nên thành bệnh.

Nếu ông không thấu suốt thì vừa khởi nghĩ đạo lý này đạo lý kia là đã ngàn dặm muôn dặm không giao thiệp, hoàn toàn không dính dáng.

Toan đem tâm phân biệt nó, toan đem tâm suy nghĩ nó, nhằm chỗ cử lên hiểu rõ, chỗ chọi đá nháng lửa luồng điện chớp hội, chính cái muốn hiểu muốn biết, đó là bệnh.

Cốt cùng vua Không làm đệ tử, Chớ bảo tâm bệnh rất khó trị. Vua Không là vua nào? Không chấp chính là vua Không. Theo cách nhìn của thiền sư Triệu Châu, tu không còn chấp thì tự nhiên hết bệnh.

Bấy giờ có trưởng lão Đàm Ý ở Tường Vân và thiền giả Tuân Phác hai vị làm bạn với nhau, buổi đầu hầu Viên Ngộ ở Tương Sơn có chỗ vào, sau lại đến dưới tòa Chơn Yết, tự vỗ ngực cho là hiện thời không ai qua nổi. Sư biết hai vị chưa triệt mà đã khai pháp, sợ e làm lầm lẫn kẻ hậu học, nên viết thư cho Đàm Ý bảo hãy tạm đến. Đàm Ý hổ thẹn chần chừ chẳng đi. Sư nhân buổi tiểu tham quở thẳng những sai lầm kia, nêu bảng ở trước cửa báo cho tứ chúng biết. Ý nghe như vậy bất đắc dĩ phá hạ đến dưới hội Sư. Sư gạn hỏi chỗ sở chứng của Đàm Ý, nói: 

– Ông kiến giải như thế đâu từng mộng thấy Lão nhân Viên Ngộ. Thật muốn cứu cánh việc này, hãy giải tán chúng đến đây. 

Đàm Ý nghe lời dạy trở về, qua hạ cùng với Tuân Phác đồng đến hội Sư. Hai vị vào thất, Sư hỏi Tuân Phác: 

 Tam Thánh nói, ta gặp người ắt xuất, xuất ắt chẳng vì người. Hưng Hóa nói, ta gặp người ắt chẳng xuất, xuất ắt vì người. Ông nói xem, hai lão túc lại có chỗ xuất thân hay không? 

Tuân Phác nhằm trên đầu gối Sư đấm một đấm. Sự hỏi: 

 Một đấm này của ông vì Tam Thánh trút giận, vì Hưng Hóa trút giận? Nói mau! Nói mau! 

Phác suy nghĩ, Sư nhằm xương sống liền đánh. Lại bảo: 

– Thứ nhất ông chẳng được quên một gậy này. Di ra! 

Hai vị tôn túc đó vì sao mà nhằm đầu gối đấm một cái? Người không biết tưởng vậy là đủ rồi, tức khẳng định đã hiểu, vì nói không được nên dùng hành động đấm. Ngài thấy được chỗ Tuân Phác tuy dám hành động mà thật chưa hiểu, nên liền hỏi: Cái đấm của ông vì Tam Thánh hay vì Hưng Hóa? Tuân Phác suy nghĩ, suy nghĩ tức là chưa hiểu. Trong nhà thiền, nhiều vị cũng thường bắt chước làm như thế, thấy như hay nhưng khi bị gạn lại một câu, lúc đó mới biết chưa xong.

Đã lâu mà hai vị chưa được vào cửa. Một hôm, nhân có vị tăng khác vào thất, hai vị nghe lỏm Sư hỏi vị tăng: 

 Đức Sơn vừa thấy Tăng vào cửa liền đánh, Lâm Tế thấy Tăng vào cửa liền hét, Tuyết Phong thấy Tăng vào cửa liền nói “là cái gì?”, Mục Châu thấy tăng vào cửa liền nói “hiện thành công án”, “tha ông ba mươi gậy”. Ông nói xem, bốn vị tôn túc này lại có chỗ vì người hay không? 

Tăng thưa: – Có. 

Sư bảo: – Tráp! 

Tăng suy nghĩ, Sư liền hét đuổi ra. Tuân Phác nghe chợt có tỉnh, Đàm Ý cũng tiếp theo nơi một câu nói có tỉnh, từ trước những ác tri ác giải khi này tiêu tan. Sau hai vị đều kế thừa Sư. 

Ngài kêu lên một tiếng, vị tăng không biết gì liền suy nghĩ, bèn bị đuổi ra. Một hành động lạ, ngang đó không biết cái gì thì trả lời có hoặc không. Nhưng qua hành động thứ hai mà không hiểu gì hết thì bị đuổi.

Có một vị tăng vừa vào cửa, Sư bảo: 

 Chẳng phải, đi ra. 

Vị tăng liền ra. Sư bảo: 

– Bậc đại nhân khôn lường bị trong ngữ mạch chuyển. 

Khi nghe nói chẳng phải, đi ra liền đi ra, tức là bị lời nói chuyển rồi.

Kế một vị tăng vào, Sư bảo: 

– Chẳng phải, đi ra. 

Vị tăng lại đến gần, Sư bảo: 

 Đã nói với ông chẳng phải, lại đến gần tìm cái gì? 

Liền đánh đuổi ra. 

Vị tăng lại gần chỉ biết làm ngược với người trước, vẫn không biết được cái gốc.

Lại một vị tăng vào nói: 

– Vừa rồi hai vị tăng chẳng hiểu ý Hòa thượng. 

Sư liền cúi đầu “hư” một tiếng. Vị tăng mờ mịt, Sư liền đánh nói: 

– Lại là ông hiểu ý lão tăng. 

Vị tăng khác bước vào với vẻ tự tin, hai vị kia kẻ bị nói một câu đi ra, kẻ đi lại gần bị đánh đuổi ra, như vậy hai người đó không hiểu ý Hòa thượng, bây giờ con vô sẽ hiểu ý Hòa thượng.

Sư cúi đầu một tiếng, Tăng mờ mịt. Sự liền đánh nói: Lại là ông hiểu ý lão tăng. Ông hiểu ý ta chưa? Đây là những thủ thuật khéo của thiền sư.

Lại có vị tăng vừa vào, Sư bảo: 

– Ông chẳng hiểu, đi ra. 

Tăng cũng ra. Lại một vị tăng vào, Sư bảo: 

– Vừa rồi có hai Thượng tọa, một người biết nắm mà chẳng biết buông, một người biết buông mà chẳng biết nắm, ông lại biện được chăng? 

Tăng thưa: – Một trạng lãnh qua. 

Sư bảo: 

– Sau lãnh qua rồi riêng có tin tức rất tốt. Vị tăng vỗ tay một cái liền ra. Sư bảo: 

– Sau ba mươi năm ngộ đi vậy. 

Ba mươi năm nữa mới xong việc.

Sư hỏi một vị tăng: 

-Trên đường gặp người đạt đạo, chẳng đem nói nín đáp là thế nào? 

Tăng trân trọng liền đi. Sư cười hả hả. 

Kế một vị tăng đến, Sư bảo: 

– Tôi vừa hỏi vị tăng này, trên đường gặp người đạt đạo, chẳng đem nói nín đáp là sao? Y trân trọng rồi đi, ông nói y hội hay chẳng hội? 

Tăng suy nghĩ thưa hỏi. Sư liền đánh đuổi ra. 

Lại có vị tăng đến, Sư nói: 

– Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì? 

Tăng đáp: – Kẻ không mặt mày. 

Sư bảo: – Vừa rồi có vị tăng nói như thế, bị đánh đuổi ra. 

Tăng suy nghĩ. Sư liền đánh. 

Một vị tăng khác đến, ngài hỏi: Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì? Tăng đáp: Kẻ không mặt mày. Người không cùng muôn pháp làm bạn là người không mặt mày, trả lời như vậy hay quá rồi. Nhưng ngài gạn lại, nói: Vừa rồi có vị tăng nói như thế, bị đánh đuổi ra. Vị tăng tuy biết mà không thật biết nên hoảng lên suy nghĩ, liền bị ngài đánh. Thiền sư rất khéo lừa, nên thiền tăng luôn bị gạt.

Sư trụ Kính Sơn nổi danh một thời, như thị lang Trương Tử Thiều, trạng nguyên Uông Thánh Tích, thiếu khanh Bằng Tế Xuyên đồng đến hỏi đạo. Ngoài ra còn bao nhiêu danh sĩ đại phu đến thưa hỏi, Sư tùy cơ khai ngộ đều được thông suốt. 

Cuối đời Tống ở Trung Hoa, các vị nho sĩ nổi danh thời ấy đều hướng về Phật pháp và đều được các thiền sư tùy theo căn cơ mà khai ngộ.

Bởi Sư đương thời giáo hóa thành lập mình, mạt sát người nên bị nạn cởi pháp phục, đày ra Hành Châu mười năm, lại đày đến Mai Châu. Mai Châu là nơi chướng khí quê mùa, mà thiền khách vẫn mang lương thực theo, dù chết cũng không hối hận. Được tám năm, vua Cao Tông đặc ân tha cho, năm sau trả lại pháp phục. Kế vua ra chiếu mời Sư trụ chùa Dục Vương, chúng tụ họp đông vô kể. Hai năm sau, chiếu vời trụ lại Kính Sơn. 

Ngài thấy người khác nói không đúng những điều mình thấy biết, nên thường chê trách thẳng. Vì bị chê trách nên họ tự ái, tức giận kiện lên nhà vua. Vua ra lệnh cởi pháp phục đày ra Hành Châu mười năm, rồi lại đày đến Mai Châu. Đây là đại nạn của ngài, tuy ngộ hiểu như thế mà vẫn chưa khỏi nạn. Bị đày mười năm, nhưng mới tám năm đã được ân xá.

Sư lại về trụ Kính Sơn, đạo tục hâm mộ như thấy gần gũi thân quen. Mặc dù tuổi già nhưng Sư tiếp dẫn đàn hậu học không chút mệt mỏi. Sau, Sư lui về trụ Minh Nguyệt Đường. Hoàng đế Hiếu Tông khi còn làm Phổ An quận vương, nghe danh Sư nên sai Nội đô giám, đến Kính Sơn yết kiến Sư. Sư làm bài kệ dâng vua: 

Đại căn đại khí đại lực lượng,

Hà đảm đại sự bất tầm thường. 

Nhất mao đầu thượng thông tiêu tức,

Biến giới minh minh bất phú tàng. 

Dịch: 

Đại căn đại khí đại lực lượng,

Gánh vác đại sự chẳng tầm thường.

Trên đầu sợi lông thông tin tức, 

Khắp cõi sáng ngời chẳng ẩn tàng. 

Vua xem rất vui. Khi dựng vương phủ, nhà vua sai Nội tri khách thỉnh Sư trong núi vì chúng nói pháp. Chính tay vua viết hai chữ Diệu Hỷ to tại am Diệu Hỷ của Sư, và làm bài tán cho Sư: 

Sanh diệt bất diệt,

Thường trụ bất trụ.

Viên giác không minh, 

Tùy vật hiện xứ. 

Sanh diệt chẳng diệt 

Thường trụ chẳng trụ

Viên giác rỗng sáng

Tùy vật chỗ hiện. 

Hai năm sau, vua lên ngôi liền ban hiệu Sư là Đại Huệ thiền sư. 

Hiệu Đại Huệ có từ lúc này. Tự tay nhà vua viết hai chữ Diệu Hỷ là tên am của ngài ở, lên trên vách. Diệu Hỷ nghĩa là cái vui rất nhiệm mầu.

Niên hiệu Long Hưng năm đầu (1163) ngày mười tháng tám, Sư thị tịch tại Minh Nguyệt Đường ở Kính Sơn. Khi sắp thị tịch, thị giả xin kệ, Sư nghiêm giọng nói: 

 Không kệ mà chết chẳng được vậy. 

Bèn cầm bút viết: 

Sanh đã chỉ nhẫm ma, 

Tử đã chỉ nhẫm ma. 

Hữu kệ dữ vô kệ, 

Thị thập ma nhiệt đại. 

Dịch: 

Sanh cũng chỉ thế ấy,

Tử cũng chỉ thế ấy. 

Có kệ cùng không kệ, 

Cái gì là quan trọng? 

Sư ném bút thị tịch, thọ 75 tuổi, 58 tuổi hạ. 

Sanh cũng vậy, tử cũng vậy, không có gì khác. Cho nên có kệ hay không kệ đều là việc thường, đâu có gì quan trọng. 

THIỀN SƯ THIỆU LONG HỔ KHƯU – phủ BÌNH GIANG (1077 – 1136) 

Sư quê ở Hàm Sơn, Hòa Chi. Năm chín tuổi đã từ giã cha mẹ vào viện Phật Huệ, trải sáu năm được độ làm Tăng thọ giới Cụ túc. Sau năm năm, Sư đến yết kiến Tín Công ở Trường Lê, được chút ít pháp vị. Có người đem lời Viên Ngộ đến cho Sư nghe. Sư than: “Tưởng đến me liền chảy nước miếng. Tuy chưa được nếm vào miệng nuốt vào bao tử, đã làm cho người thích thú. Chỉ hận chưa được nghe tiếng ho hen thôi.” 

Sư bèn đến Bảo Phong nương với Trạm Đường, rồi làm khách thưa hỏi thiền sư Tử Tâm ở Hoàng Long, sau mới đến Viên Ngộ. 

Một hôm Sư vào thất, Viên Ngộ nói: 

 Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập. 

Ngộ đưa nắm tay lên hỏi: – Thấy chăng? Sư thưa: – Thấy. 

Viên Ngộ bảo: – Trên đầu lại thêm đầu. 

Sư nghe hoát nhiên khế chứng.

Viên Ngộ quát: – Thấy cái gì? 

Sư thưa: – Tre dày chẳng ngại nước chảy qua. 

Viên Ngộ thừa nhận, sai làm Tri tạng. Có người hỏi Viên Ngộ: 

– Tạng chủ Long mềm mỏng dường ấy thì làm gì được? 

Viên Ngộ đáp: – Con cọp ngủ. 

Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập. Đây là câu nói trong kinh Lăng-nghiêm, thiền sư Viên Ngộ nói xong liền đưa tay lên hỏi: Thấy chăng? Ngài đáp: Thấy. Viên Ngộ bảo: Trên đầu lại thêm đầu. Ngài nghe nói bỗng nhiên khế chứng, Viên Ngộ quát hỏi: Thấy cái gì? Nếu là người chưa ngộ sẽ nói thấy cái tay, còn ngài thì đáp: Tre dày chẳng ngại nước chảy qua. Dưới suối, những cụm tre mọc dày khít nhưng nước vẫn chảy qua. Cũng vậy, cái thấy xuyên qua bàn tay, chứ không phải chỉ thấy ở cái tay.

Sau Sư trở về quê hương, trụ tại chùa Khai Thánh. Khoảng niên hiệu Kiến Viêm (1127-1130) có loạn, Sư bèn cất am dưới ngọn Đồng Phong. Quận thú Lý Quang mời Sư trụ chùa Chương Giáo. Kế đó Sư dời đến Hổ Khưu, nơi đây chúng rất thịnh hành, đạo được hưng hóa. 

Sư dạy chúng: 

– Mở toang cửa nẻo muôn dặm chẳng dính mảnh mây, mặt trời sáng lên không, bốn phương gió mát đầy tòa. Mặt hồ ánh sáng thênh thang, đồng nội sắc trong lặng sáng, vạn tượng sum la đồng bày hải ấn. Nếu được nơi nơi diệu dụng vật vật chân cơ, tâm cảnh nhất như mảy trần chẳng lập. Chính thế ấy là muôn cơ thôi nghỉ, ngàn thánh chẳng mang, quét sạch đảnh Tỳ-lô, chẳng theo Thích-ca Văn, xem thường Thanh văn coi rẻ Bồ-tát. Đức Sơn Lâm Tế trông thấy trợn mắt há miệng, có đánh có hét một điểm cũng dùng chẳng được. Hãy nói, khi chợt gặp người trong kia lại làm sao hội thoại? 

Lần đầu gặp nhau vốn cố cựu, 

Ngại gì đến uống Triệu Châu trà. 

Khi mở toang, không còn dính mắc gì hết thì mặt trời sáng rỡ trên không, gió mát khắp tòa, mặt hồ sáng thênh thang, đồng nội sắc trong sáng, vạn tượng đều bày hải ấn, chỗ nào cũng là đạo.

Người tâm cảnh nhất như, mảy trần chẳng lập thì phương tiện của Phật tổ cũng không làm gì người ấy được.

Sư dạy: 

– Trước mắt không pháp, vạn tượng rậm rạp, ý tại trước mắt. Chợt hiện khó biện, chẳng phải pháp trước mắt. Chạm đến gặp y, chẳng phải chỗ mắt tại đến, chẳng lìa thấy nghe hiểu biết. Tuy nhiên như thế, cũng phải là then chốt hướng thượng kia mới được. 

Vì thế nói, lưới bủa chẳng giữ được, kêu gọi chẳng xoay đầu, Phật tổ chẳng an bày, đến nay không nơi chốn. Như thế thì chẳng nhọc liễm niệm lầu các cửa mở, tấc bước chẳng dời trăm thành đều đến. 

Sư cầm gậy vạch một lằn nói: 

Rắn chết trên đường thôi chớ giết, 

Giỏ tre không đáy đựng mang về. 

Trước mắt không pháp, vạn tượng rậm rạp, ý tại trước mắt. Đã không pháp mà vạn tượng rậm rạp cái gì? Chợt hiện khó biện, chẳng phải pháp trước mắt. Vừa hiện ra liền thành khó biện, cái chân thật luôn hiện tiền, nhưng không phải vì hiện tiền mà che hết muôn sự muôn vật. Cây vẫn là cây, cỏ vẫn là cỏ, thấy rõ muôn sự muôn vật không ngăn ngại. Cho nên ý tại trước mắt, mà không phải pháp trước mắt.

Chạm đến gặp y, chẳng phải chỗ mắt tai đến, chẳng lìa thấy nghe hiểu biết. Chỗ nào cũng gặp y, tuy không phải do mắt tai thấy nghe mà cũng chẳng lìa mắt tai. Ngài nói ngược nói xuôi như vậy, ai khéo thì thấy rõ ràng.

Tuy nhiên như thế, cũng phải là then chốt hướng thượng kia mới được. Tuy thế, phải nắm lấy then chốt mới được, nếu chưa nắm then chốt thì thật khó mở. Đến chỗ đó rồi thì lưới bua cũng giữ không được, kêu gọi cũng không xoay đầu, Phật tổ chẳng thể an bày, không có nơi chốn.

Như thế thì chẳng nhọc liễm niệm lầu các cửa mở, tấc bước chẳng dời trăm thành đều đến. Liễm niệm tức là kìm giữ cho tâm đừng chạy rong ruổi. Người được như vậy rồi thì chẳng cần liễm niệm mà lầu các vẫn mở toang, không dời một bước mà trăm thành đều đến.

Sư dạy: 

– Sáng chẳng soi cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều mất lại là vật gì? Trên đầu trăm cỏ dẹp hết binh đao thì gác lại, chợt như tượng lớn Gia Châu cưỡi ngược trâu sắt Thiểm Phủ, nắm núi Tu-di một vả nát nghiến, trong nước Tân La cưỡi ngựa, Nam Thiệm-bộ Châu nói thiền, lại làm sao? 

Ngũ Đài sơn thượng vân chưng phạn,

Phật điện giai tiền cẩu niệu thiên.

Sát can đầu thượng tiễn chùy tử,

Tam cá hồ tôn dạ bá tiền. 

Dịch: 

Trên núi Ngũ Đài mây nấu cơm, 

Trước thềm điện Phật chó đái trời.

Trên đầu cột phướn nung chùy quả, 

Ba con khỉ vượn đêm xóc tiền. 

Ngài dẫn lại câu nói của thiền sư Bàn Sơn: Sáng chẳng soi cảnh, cảnh cũng chẳng còn, sáng cảnh đều mất lại là vật gì? Cảnh là bên ngoài, sáng là chỉ cho cái thấy của mình, hai cái đó đều chẳng còn thì là vật gì?

Lời kệ thật đặc biệt: mây nấu cơm, chó đái tới trời, ở trên đầu phướn nấu quả chùy, khỉ xóc tiền. Đây là lối nói không cho chúng ta vin theo để suy gẫm.

Sư dạy: 

– Phàm có bày đỡ trọn rơi thời nay, chẳng bày chẳng đỡ rơi hầm rớt hố, dù cho gió thổi chẳng vào, nước rưới chẳng dính, kiểm điểm đưa ra tự cứu chẳng xong. Há chẳng thấy, dù giống bóng trăng đầm lạnh, tiếng chuông đêm vắng, chạm sóng to mà không tan, tùy gióng đánh vẫn không thiếu, còn là việc đầu bờ sanh tử. 

Sư cầm cây gậy vạch một vạch nói: 

– Chặt sắn bìm nhiều năm của cổ nhân, đá gật đầu bất chợt vỗ tay cười. Hãy nói, cười cái gì? Sau ót thấy gò má chớ cùng qua lại. 

Những hoạt ngữ không có chỗ nào cho chúng ta suy gẫm. Vì vậy không cần phải cắt nghĩa dài dòng.

Niên hiệu Thiệu Hưng năm Bính Thìn (1136), Sư có chút bệnh rồi tịch. Tháp toàn thân ở góc tây nam chùa. 

THIỀN SƯ ĐOAN DỤ PHẬT TRÍ ở DỤC VƯƠNG – MINH CHÂU (1085 – 1150) 

Sư họ Tiền, quê phủ Thiệu Hưng. Từ khi được yếu chỉ nơi thiền sư Viên Ngộ, khắp trụ các ngôi chùa to. Ban đầu Sư phụng chiếu trụ Kính Sơn, vua ban hiệu Phật Trí đại sư. Kế, Sư dời trụ chùa Dục Vương. 

Sư thường dạy chúng: 

– Một pháp nếu có, lớp lớp vách sắt núi bạc. Muôn pháp nếu không, chốn chốn chìm không kẹt lặng. Con mắt mình nếu chánh, thấy gai nhọn cũng dẹp. Một pháp chẳng rơi vào duyên trần, muôn pháp vốn không chướng ngại. Núi là núi, nước là nước, tục là tục, tăng là tăng, chẳng khác chẳng đồng. Dù cho thế ấy, vẫn là đóng cửa ráp xe, chưa phải mở cửa lắp trục. Lại phải biết trên đánh để một cái, làm sao rõ? 

Xưa nay tròn trịa không vá thiếu, 

Sức mạnh Na-la mở chẳng ra.

Nếu thấy có pháp thật thì lớp lớp vách sắt núi bạc, chỉ chạm đến chứ không vin được. Nếu thấy tất cả các pháp đều không thì chìm nơi không, kẹt nơi lặng.

Người tu khi đã nhận được cái chân thật rồi thì trước những chướng ngại vẫn thênh thang. Núi là núi nước là nước, tục là tục, tăng là tăng, chẳng khác chẳng đồng. Tới chỗ đó rồi thì không còn phân biệt nữa.

Ở đây ngài nói, không còn phân biệt thì vẫn là đóng cửa ráp xe, tức còn ở chỗ giấu giếm, chưa phải mở cửa lắp trục. Ngày xưa người ta đem bánh xe vô nhà đóng cửa lại rồi ráp xe, để người khác không bắt chước được kiểu đóng bánh xe khéo, chừng nào đem ra lắp trục thì mới mở cửa.

Xưa nay tròn trịa không vá thiếu, sức mạnh Na-la mở chẳng ra. Cái đó tròn trịa từ thuở nào, không phải do chắp vá mà thành, dù cho sức mạnh thần Na-la cũng mở chẳng ra.

Sư dạy: 

– Khi đi bặt dấu đi, khi nói không vết nói, đi nói nếu đến thì ụ đất hứng mũi tên, đi nói chưa rõ thì tên thần cũng gãy. Dù cho nói không rỉ chảy, đi chẳng quên đường vẫn còn kẹt vỏ lủng. Nếu là chim đại bàng cánh vàng bay nhanh trăm ngàn do-tuần, ngựa thần mười bóng chạy tột bốn phương tám hướng, chẳng mắc chỗ ăn uống, chẳng tùy chỗ chôn thân, thảy không có chỗ nương tựa, lại có phần giẫm đạp hay không? Cõi cõi bụi bụi là yếu tân. 

Khi đi bặt dấu đi, khi nói không vết nói, đi nói nếu đến thì ụ đất hứng mũi tên, đi nói chưa thì tên thần cũng gãy. Nếu đi và nói đều đến thì ụ đất biến thành tên hại người. Nếu đi nói chưa rõ thì tên thần cũng gãy. Hai cái đều bệnh. Như chim đại bàng bay vút trên cao không gặp chướng ngại, người tu được như vậy thì thoát hết đối đãi, muôn pháp đều không ngăn ngại.

Sư dạy chúng nêu: 

– Nam Tuyền nói, lão tăng mười tám tuổi đã biết tạo kế sống. Triệu Châu nói, tôi mười tám tuổi liền biết phá tan nhà cửa. Hiểu chăng? Người tạo kế sống mới biết phá tan nhà cửa, người phá tan nhà cửa mới biết tạo kế sống. Giả sử vàng ròng làm thành, bạc trắng làm vách, thiền duyệt làm thức ăn, nghĩa giải làm nước tương, kẻ thiền tăng bản sắc chẳng ưng ngó lại. Sao vậy? Há chẳng thấy nói, kẻ mắt sáng vào hang ổ, dù cho muôn dặm trống không, chính nên một chùy đập nát hết. Hãy nói, một câu chẳng rơi vào tiến tu làm sao nói? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Xóc hột nếu hay vẻ mặt xưa, Khiến cho xúc xắc đỏ đầy tô. 

Sư gõ phất tử một cái. 

Thiền sư Nam Tuyền mười tám tuổi đã biết tạo kế sống, còn thiền sư Triệu Châu thì mười tám tuổi biết phá tan nhà cửa. Huynh đệ bây giờ biết cái gì? Không biết tạo kế sống, cũng không biết phá tan nhà cửa.

Hai thầy trò nói dường như khác, nhưng không khác. Kế sống và phá tan nhà cửa nghe như ngược nhau, nhưng nó vốn không hai. Muốn thấy chân thật thì phải quên hư giả, quên hư giả mới thấy được chân thật. Tuy nhiên, khi thấy được chân thật rồi, không nói quên hư giả mà cũng tự quên. Khi đã quên hư giả, dù không nói thấy chân thật cũng tự thấy.

Thiền tăng bản sắc là chỉ cho người tu thiền đã đạt đạo, thì vàng ròng bạc trắng, thiền duyệt nghĩa giải… những cái đó đều không màng tới.

Người mắt sáng rồi thì không rơi vào hang ổ, nếu vào hang ổ tức chưa phải mắt sáng. Dù cho tới chỗ muôn dặm là không, cũng phải đập nát chỗ đó đừng để mắc kẹt.

Hãy nói một câu chẳng rơi vào tiến tu làm sao nói? Chỗ chân thật không phải là chỗ dụng công.

Sư dạy chúng: 

– Khi chưa thế ấy, một câu siêu Thích-ca vượt Di-lặc, đến lúc rõ phá chẳng được nửa phần. Sao vậy? Chỉ vì chấp thói quen. Nếu gọt vuông được tròn như đầu cọp mọc sừng, lưng rồng sanh cánh là điềm lành điều tốt. Nếu bình thản trầm lặng, buồn ngủ thì nhắm mắt, cơm đến thì há miệng. Hãy nói, gọt vuông được tròn phải hay bình thản trầm lặng phải? Lại biện được chăng? Dù cho biện được cũng là gò chén bể. 

Gọt vuông được tròn tức là tu mà còn phải dụng nhiều công phu. Giống như bài kệ của ngài Thần Tú: Thân thị Bồđề thọ, tâm như minh cảnh đài, thời thời cần phất thức, vật sử nhạ trần ai. Phải luôn luôn lau chùi, chớ để bụi trần bám.

Vậy gọt vuông được tròn là phải, hay bình thản trầm lặng phải? Đối lại bài kệ của ngài Thần Tú, Lục tổ Huệ Năng có bài kệ: Bồ-đề bản vô thọ, minh cảnh diệc phi đài, bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai? Bồ-đề vốn không cây, gương sáng cũng không đài, xưa nay không một vật, bụi trần bám vào đâu? Như vậy giữa hai bài kệ, bài nào rốt ráo hơn?

Nhiều người tu cứ nghĩ phải dụng công thật nhiều, để chuyển đổi tập khí của mình; cũng có người cho rằng tu nhận được cái chân thật, không theo những thứ giả dối. Một bên từ vuông đục đẽo mài giũa thành tròn, một bên đói đến thì ăn, mệt thì ngủ, tuy thấy tầm thường, nhưng người đạt đạo mới thấy đây là chỗ chân thật.

Có một Phật tử ở Bến Tre đến hỏi tôi: Thưa Thầy, con rất thích tu, đã tập ăn chay, tụng kinh niệm Phật, đọc kinh sách cũng hiểu chút ít. Nhưng không biết sao, khi nghe người ta nói trái tai là giận, thấy cái gì đẹp liền tham. Vậy con phải tu thế nào để hết giận hết tham?

Tôi nói: Muốn bớt tham, bớt nóng giận thì trước hết đừng si mê chấp thân này là thật. Ví dụ người ta mắng mình là con chó, lần thứ nhất nhịn, lần thứ hai ráng nhịn, lần thứ ba thì nhịn hết nổi, thoi lại. Tại sao không nhịn nổi? Bởi thấy thân này thật, nên nghe người ta nói mình là chó liền xấu hổ. Nếu biết không thật thì dù có nói là chó trăm ngàn lần cũng vậy thôi, chỉ khô cổ họ chứ đâu liên quan gì đến mình. Biết thân không thật nên không tìm thứ này thứ kia để thỏa mãn, lòng tham hết thì sân theo đó cũng khô, đâu cần phải ráng nhẫn nhịn.

Thông thường những người nóng nảy, muốn bớt giận thì phải đè cơn giận xuống. Do đè nên nhịn được một hai lần, đến lúc nhịn hết nổi thì nóng giận nổ tung, gấp mấy lần bình thường. Nhẫn như lấy đá đè cỏ thì nhẫn không thể tới nơi tới chốn được.

Một lần đức Phật đi giáo hóa trong vùng Bà-la-môn, có vị Bà-la-môn ra đón đường mắng chửi Phật, Phật vẫn lặng thinh bước đi chẳng đáp. Bà-la-môn tức giận, chặn lại hỏi:

– Cù-đàm có điếc không?

– Ta không điếc.

– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?

– Này Ba-la-môn, nếu nhà ông có đám tiệc mời thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về ông lấy quà tặng, nếu họ không nhận thì quà ấy về ai?

– Quà ấy về tôi chứ ai.

– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì lời nói ấy trở về ông.

Như thế chỉ cần không nhận là được, không nhận thì đâu có gì phải nhẫn. Sở dĩ phải nhẫn phải đè là vì mình nhận. Chúng ta biết rõ thân không thật, cảnh không thật thì tất cả chỉ là tiếng rỗng sắc huyễn mà thôi. Nhiều người nói tôi nhẫn, ai nói gì tôi cũng bịt tai không nghe để khỏi giận. Vậy lúc quên bịt tai có nghe không? Nghe rồi sân, phải tìm nước lạnh uống cho nguội lại, lát sau cũng sân tiếp.

Các pháp không thật, sắc tướng và ngôn ngữ đều không thật. Hiểu được điều này thì sự tu hết sức đơn giản, không cần dụng công nhiều. Nếu không biết thì phải dụng công trầy trật lắm. Vì không buông bỏ được nên mặt mày đăm đăm, đi đâu cũng ngó xuống. Đó là còn kìm công phu, chưa tự tại.

Sư dạy chúng: 

– Trọn đại địa là con mắt Sa-môn, trọn đại địa là ánh sáng chính mình, vì sao ở Đông Phất-vu-đãi đánh trống ở Tây Cù-da-ni chẳng nghe, ở Nam Thiệm-bộ châu đốt đèn ở Bắc Uất-đơn-việt tối mò? Dù cho nhằm trong đây nói được thập toàn, vẫn là kế sống quang ảnh. 

Sư cầm phất tử đánh một cái nói: 

– Đạp nát hết, thế nào là con đường xuất thân? Nếu thật chẳng thấy, theo đường lượm tơ liễu. 

Trọn đại địa là con mắt Sa-môn, tại sao ở Đông Phất-vu-đãi đánh trống mà ở Tây Cù-da-ni chẳng nghe? Trọn đại địa là ánh sáng chính mình, tại sao Nam Thiệm-bộ châu đốt đèn mà ở Bắc Uất-đơn-việt tối mò? Trong chỗ đập nát hết, phải thấy được con đường xuất thân. Nếu không thấy được con đường xuất thân thì theo đường lượm tơ liễu.

Sư dạy chúng: 

– Một chùy liền thành, chẳng phải kẻ tánh tháo. Một nhảy ngàn dặm, chẳng phải con ngựa hãn huyết. Mũi nhọn chẳng bày, chùy sắt không cán, tám mặt linh lung, nhiều rỗng ít thật. Dù được khuỷu tay treo dạ minh phù, đánh môn đủ con mắt kim cang, tột đầu thấu đuôi sanh sát lẫn hành, mặc kia ma Phật hiện trước, liền nên đao bén chặt hết. Hãy nói, căn cứ cái gì được như thế? Cần biết chăng? Ngọc bá nhẹ đưa núi biển tối. 

Một lần ngộ chưa phải tới nơi, tuy có ánh sáng nhưng chưa phải thật. Cần đủ phương tiện, đủ khéo léo mới không còn kẹt nữa. Lúc ấy dù ma hay Phật hiện cũng đều không lầm, mới là người thấu suốt.

Trong công phu tu tập, chúng ta thường không lầm ma nhưng rất dễ lầm Phật. Ví dụ có người đang tu học an ổn, chợt nghĩ: “Tu học như vầy tầm thường quá, phải làm gì đó mới có được kỳ đặc”, nghĩ rồi muốn nhập thất để tu thành Phật. Hoặc có vị tự dưng phát tâm lên núi, nguyện tu chừng nào thành Phật mới thôi. Tôi biết hoàn cảnh lúc đó, cũng biết khả năng của vị ấy chưa được, nên khuyên: Thời này không tu như vậy được, đừng làm chuyện vô ích. Nhưng các vị ấy vẫn không nghe, nhất quyết vô núi nhập thất tu. Tôi khuyên bằng kinh nghiệm của mình, nhưng vì các vị không chịu nghe nên thất bại, chỉ chừng hai ba tháng thì bị chướng kéo ra, rồi lang thang không tu được nữa.

Kẻ đi chơi uống rượu là tội lỗi phải khuyên ngăn, còn người phát tâm tu hành thành Phật là điều tốt, tại sao phải ngăn cản? Bởi chúng ta tu có ý niệm vươn lên là điều tốt, nhưng nếu không khéo sẽ bị nó gạt, đẩy mình cố gắng một chút rồi cũng trở lại chỗ tầm thường, có khi còn tệ hơn cũ. Do vậy người tu phải thấy rõ đâu là Phật, đâu là ma. Vạch sẵn con đường mình sẽ đi, từ đó chỉ đi một đường, không quẹo qua quẹo lại, không đi ngược đi xuôi. Phát tâm học đạo phải biết lượng sức mình, bằng không sẽ hết sức mà chết dọc đường. Sức chỉ có năm phần mà phát tâm đến chín phần, rất dễ bị té ngã.

Như ở Thiền viện, người biết xây nhà thì làm nhà, ai biết trồng lúa ra ruộng, biết nấu nướng thì vô bếp. Mỗi người được phân việc tùy theo khả năng của mình, chứ không phải người cất nhà giỏi hơn người làm ruộng. Làm việc đúng khả năng, đảm bảo sẽ có kết quả tốt đẹp. Còn không biết lượng sức mình, phát nguyện rất cao cả, nhưng thực hành lại chẳng tới đâu. Bệnh này nhiều vị đã mắc phải, bây giờ tôi nhắc lại cho huynh đệ nhớ mà dè dặt, đừng để tâm ma gạt gẫm mình.

Niên hiệu Thiệu Hưng năm Canh Ngọ (1150), đầu tháng mười Sư có chút bệnh. Thủ tọa Pháp Toàn xin di huấn, Sư bảo: 

– Trọn tâm ý này, cùng đạo nương nhau. 

Nói xong liền tịch. Sư thọ 66 tuổi, 48 tuổi hạ. 

cảnh không thật thì tất cả chỉ là tiếng rỗng sắc huyễn mà thôi. Nhiều người nói tôi nhẫn, ai nói gì tôi cũng bịt tai không nghe để khỏi giận. Vậy lúc quên bịt tai có nghe không? Nghe rồi sân, phải tìm nước lạnh uống cho nguội lại, lát sau cũng sân tiếp.

Các pháp không thật, sắc tướng và ngôn ngữ đều không thật. Hiểu được điều này thì sự tu hết sức đơn giản, không cần dụng công nhiều. Nếu không biết thì phải dụng công trầy trật lắm. Vì không buông bỏ được nên mặt mày đăm đăm, đi đâu cũng ngó xuống. Đó là còn kìm công phu, chưa tự tại.

Sư dạy chúng: 

– Trọn đại địa là con mắt Sa-môn, trọn đại địa là ánh sáng chính mình, vì sao ở Đông Phất-vu-đãi đánh trống ở Tây Cù-da-ni chẳng nghe, ở Nam Thiệm-bộ châu đốt đèn ở Bắc Uất-đơn-việt tối mò? Dù cho nhằm trong đây nói được thập toàn, vẫn là kế sống quang ảnh. 

Sư cầm phất tử đánh một cái nói: 

– Đạp nát hết, thế nào là con đường xuất thân? Nếu thật chẳng thấy, theo đường lượm tơ liễu. 

Trọn đại địa là con mắt Sa-môn, tại sao ở Đông Phất-vu-đãi đánh trống mà ở Tây Cù-da-ni chẳng nghe? Trọn đại địa là ánh sáng chính mình, tại sao Nam Thiệm-bộ châu đốt đèn mà ở Bắc Uất-đơn-việt tối mò? Trong chỗ đập nát hết, phải thấy được con đường xuất thân. Nếu không thấy được con đường xuất thân thì theo đường lượm tơ liễu.

Sư dạy chúng: 

– Một chùy liền thành, chẳng phải kẻ tánh tháo. Một nhảy ngàn dặm, chẳng phải con ngựa hãn huyết. Mũi nhọn chẳng bày, chùy sắt không cán, tám mặt linh lung, nhiều rỗng ít thật. Dù được khuỷu tay treo dạ minh phù, đánh môn đủ con mắt kim cang, tột đầu thấu đuôi sanh sát lẫn hành, mặc kia ma Phật hiện trước, liền nên đao bén chặt hết. Hãy nói, căn cứ cái gì được như thế? Cần biết chăng? Ngọc bá nhẹ đưa núi biển tối. 

Một lần ngộ chưa phải tới nơi, tuy có ánh sáng nhưng chưa phải thật. Cần đủ phương tiện, đủ khéo léo mới không còn kẹt nữa. Lúc ấy dù ma hay Phật hiện cũng đều không lầm, mới là người thấu suốt.

Trong công phu tu tập, chúng ta thường không lầm ma nhưng rất dễ lầm Phật. Ví dụ có người đang tu học an ổn, chợt nghĩ: “Tu học như vầy tầm thường quá, phải làm gì đó mới có được kỳ đặc”, nghĩ rồi muốn nhập thất để tu thành Phật. Hoặc có vị tự dưng phát tâm lên núi, nguyện tu chừng nào thành Phật mới thôi. Tôi biết hoàn cảnh lúc đó, cũng biết khả năng của vị ấy chưa được, nên khuyên: Thời này không tu như vậy được, đừng làm chuyện vô ích. Nhưng các vị ấy vẫn không nghe, nhất quyết vô núi nhập thất tu. Tôi khuyên bằng kinh nghiệm của mình, nhưng vì các vị không chịu nghe nên thất bại, chỉ chừng hai ba tháng thì bị chướng kéo ra, rồi lang thang không tu được nữa.

Kẻ đi chơi uống rượu là tội lỗi phải khuyên ngăn, còn người phát tâm tu hành thành Phật là điều tốt, tại sao phải ngăn cản? Bởi chúng ta tu có ý niệm vươn lên là điều tốt, nhưng nếu không khéo sẽ bị nó gạt, đẩy mình cố gắng một chút rồi cũng trở lại chỗ tầm thường, có khi còn tệ hơn cũ. Do vậy người tu phải thấy rõ đâu là Phật, đâu là ma. Vạch sẵn con đường mình sẽ đi, từ đó chỉ đi một đường, không quẹo qua quẹo lại, không đi ngược đi xuôi. Phát tâm học đạo phải biết lượng sức mình, bằng không sẽ hết sức mà chết dọc đường. Sức chỉ có năm phần mà phát tâm đến chín phần, rất dễ bị té ngã.

Như ở Thiền viện, người biết xây nhà thì làm nhà, ai biết trồng lúa ra ruộng, biết nấu nướng thì vô bếp. Mỗi người được phân việc tùy theo khả năng của mình, chứ không phải người cất nhà giỏi hơn người làm ruộng. Làm việc đúng khả năng, đảm bảo sẽ có kết quả tốt đẹp. Còn không biết lượng sức mình, phát nguyện rất cao cả, nhưng thực hành lại chẳng tới đâu. Bệnh này nhiều vị đã mắc phải, bây giờ tôi nhắc lại cho huynh đệ nhớ mà dè dặt, đừng để tâm ma gạt gẫm mình.

Niên hiệu Thiệu Hưng năm Canh Ngọ (1150), đầu tháng mười Sư có chút bệnh. Thủ tọa Pháp Toàn xin di huấn, Sư bảo: 

– Trọn tâm ý này, cùng đạo nương nhau. 

Nói xong liền tịch. Sư thọ 66 tuổi, 48 tuổi hạ. 

THIỀN SƯ PHÁP THỚI PHẬT TÁNH ĐẠI QUY – ĐÀM CHÂU 

Sư họ Lý, người đất Thục, thuở nhỏ chuyên nghiệp Nho, văn chương nổi tiếng. Bỗng Sư chán tục xuất gia thọ giới Cụ túc. Sư dạo khắp các tùng lâm thân cận các bậc kỳ túc. Nơi Ngũ gia tông phái, Sư khéo được gia phong. Riêng ở Viên Ngộ, Sư nhận được tủy. Khi Viên Ngộ ở Đạo Lâm, Tưởng Sơn, đều cử Sư làm Thủ tọa. Sau, Sư nhận khai pháp ở Đức Sơn. 

Ngũ gia tông phái là năm tông phái chính của Thiền tông, gồm có: Tào Động, Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn. Ngài dạo khắp các tùng lâm, nhưng riêng Viên Ngộ, Sư nhận được tủy. Chữ tủy lấy từ câu của Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma nói với tổ Huệ Khả: Ông được phần tủy của ta.

Sư dạy chúng: 

– Tổ sư nói: “Muốn được hiện tiền, chớ còn thuận nghịch.” Ông già Thích-ca là cái gì? Giày cỏ rách. Một Đại tạng giáo là giấy cũ lau ghẻ. Đạt-ma chín năm xoay mặt vào vách ngủ vùi chưa tỉnh. Cả thảy các ông, dưới da không máu, trong mắt không gân, lại nhằm trong này tìm cái bát gì? Mời mỗi người trở về phòng đi. 

Muốn được hiện tiền, chớ còn thuận nghịch, nguyên văn chữ Hán là Dục đắc hiện tiền, mạc tồn thuận nghịch. Nghĩa là muốn cái chân thật hiện tiền thì trong tâm đừng có thuận nghịch.

Ông già Thích-ca là cái gì? Giày cỏ rách. Một đại tạng giáo là giấy cũ lau ghẻ. Đạt-ma chín năm xây mặt vào vách ngủ vùi chưa tỉnh. Ngài nói, đức Phật Thích-ca là giày cỏ rách, kinh điển Phật nói là giấy cũ lau ghẻ, tổ Đạt-ma xoay mặt vào vách chín năm là ngủ vùi chưa tỉnh. Ngài coi thường Phật pháp tăng quá, phải không? Nói thế là có mang tội phỉ báng Tam bảo không? Không phỉ báng cũng không coi thường Tam bảo, mà các ngài cốt dùng phương tiện để chúng ta trở về với Phật pháp tăng nơi mình, chứ đừng mắc kẹt bên ngoài.

Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói Phật là giác, Pháp là chánh, Tăng là tịnh. Đức Phật đã nhập Niết-bàn hơn hai ngàn năm, bây giờ chúng ta quy y Phật tức là trở về nương tựa với tánh giác của mình. Bao nhiêu kinh điển Phật nói chỉ là giấy mực, nhưng đều chỉ cho chúng ta khai mở chánh nhãn không còn thấy sai lầm, nên trở về chánh tức là trở về pháp. Tăng là các bậc thầy hướng dẫn chúng ta tu tập, đi theo con đường đúng đắn. Tuy nhiên, chúng ta không nên chỉ trông cậy vào chư tăng, mà phải trở về bản thể thanh tịnh của mình.

Như vậy Tam bảo tức là Giác – Chánh – Tịnh nơi tâm mình. Tam bảo ấy bất sanh bất diệt, luôn hằng hữu cho chúng ta nương tựa. Nếu còn trông cậy vào Phật pháp tăng bên ngoài thì không phải là chỗ nương tựa chân thật. Muốn đạt đạo, sống được với cái chân thật, phải trở về chính mình mà thôi.

Cả thảy các ông, trong da có chỗ nào không máu, trong mắt có chỗ nào không gân? Máu sẵn nơi da, gân sẵn nơi mắt, cứ ngay đó mà thấy, chẳng nên tìm kiếm bên ngoài. Mỗi người trở về phòng đi. Trở về phòng tức trở về cố hương.

Tóm lại, ngài khuyên chúng ta phải hướng về mình, chớ quên mình mà chạy theo bên ngoài. Người chạy ra bên ngoài, dù có lòng cung kính Tam bảo cũng không được giác ngộ.

Sư dạy: 

– “Dừng dừng chẳng cần nói, pháp ta diệu khó nghĩ.” Ông già Thích-ca vô cớ nhằm trên đất sạch mà ỉa, các người tăng thượng mạn nghe ắt chẳng kính tin. Kia kia kẻ trượng phu, các người nhằm chỗ nào thấy ông già Thích-ca? Nếu là thấy, được vào cửa Đức Sơn, chưa vào thất Đức Sơn. Hãy nói, thất Đức Sơn làm sao vào? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

 Ba mươi năm sau. 

Dừng dừng chẳng cần nói, pháp ta diệu khó nghĩ. Ngài dẫn lại lời Phật nói trong kinh Pháp Hoa, rồi bình:

Ông già Thích-ca vô cớ nhằm trên đất sạch mà ỉa, các người tăng thượng mạn nghe ắt chẳng kính tin. Kia kia kẻ trượng phu, các người nhằm chỗ nào thấy ông già Thích-ca? Đức Phật muốn chỉ pháp chân thật, nhưng cái đó không thể dùng tâm nghĩ lường. Cho nên, Phật nói như vậy là đã làm như đất sạch rồi, bởi vì pháp ấy không phải chỉ riêng Phật mới có. Vậy chúng ta phải làm sao để thấy được chỗ Phật nói pháp ta điệu khó nghĩ đó? Nếu thấy thì vào được cửa Đức Sơn, nhưng chưa vào được thất Đức Sơn.

Sư dạy: 

– Có khi mở miệng quấy, có khi mở miệng phải, lời thô và ngữ tế đều về đệ nhất nghĩa. Ông già Thích-ca tiếng bát khua, Đạt-ma Tây sang mùi phân thối, chỉ có con trâu trước núi thân phóng hào quang soi trời đất. 

Phật nói lời thô và ngữ tế đều quy về đệ nhất nghĩa. Ngài nói, tiếng Phật chỉ như tiếng bát khua, tổ Đạt-ma sang Trung thổ như mùi phân hôi thối, không có ý nghĩa gì hết. Chỉ có con trâu trước núi thân phóng hào quang soi trời đất. Con trâu đó mỗi người đang chăn, làm cho nó phóng hào quang khắp trời đất mới là thật. Nếu còn chạy theo lời Phật ý Tổ mà quên mình thì cũng chưa phải thật.

Sư dạy: 

– Pháp chẳng vậy mà vậy, tối đi sáng lại. Đạo chẳng thế mà thế, sấm chạy mưa bay. Liền được ngàn sông đua chảy, muôn suối giành trôi, đầu núi sóng bủa ngập trời, đất bằng người cá cùng ở, chớ hỏi mầm đạo tăng trưởng, như nay trên đầu mênh mông. Tuy nhiên nước đến thành đầm, đâu ngờ qua vẫn chẳng kịp. May thay! Mây tan mưa tạnh sóng lặng mòi yên, mặt trời sáng lên không, vạn tượng đồng vui. Hãy nói, công lớn chẳng chủ một câu làm sao nói? 

Lão quê chẳng biết sức Nghiêu Thuấn, 

Đùng đùng đánh trống tế thần sông. 

Pháp ấy không phải là pháp vô thường sanh diệt mà thế gian vẫn thấy. Trong cái không vô thường vẫn hiện tướng vô thường. Thể của đạo không sanh không diệt mà hiện giả tướng sanh diệt.

Sóng bủa trên đầu núi, cá ở chung với người trên đất bằng. Trên cái giả tướng vô thường có cái chân thường ở trong, nên phải khéo nhận. Công lớn này không có gì làm chủ để đưa tới mây tan mưa tạnh, sóng lặng mài yên. Chỉ có thời tiết nhân duyên, chứ không gì có thể làm sóng nổi dậy hay làm sóng lặng đi.

Các thiền sư trong giai đoạn này nghiêng về thoại đầu, nên luôn nói những lời không để cho suy gẫm, mà phải chết trong câu đó để ngộ đạo. Chỉ có một vài đoạn chúng ta có thể tạm giải thích chút ít vậy thôi.

Sư dạy: 

– Kiếm báu cầm lại liền dùng, há có nghi ngờ. Lông mày dựng đứng liền đi, lại không xoay lại. Tất cả chỗ vượt nay suốt xưa, tất cả chỗ cắt đứt lồng lưới, chẳng phạm mũi nhọn cũng chẳng đoái xem. Riêng vượt vật ngoại hãy gác lại, khi muôn cơ tan hết thì thế nào? Mùa thu tháng tám chỗ nào nóng? 

Sư dạy: 

– Nghe tiếng ngộ đạo chưa khỏi dính nước trong lỗ tai, thấy sắc sáng tâm cũng là ném cát trong con mắt. Dù được mảy may không chướng ngại, có không đồng là không, dưới bặt chính mình, trên không vin ngưỡng, riêng xa vời bặt tình trần, cao vòi vọi lìa phân biệt, vẫn là việc bên kia. Hãy nói, việc bên này lại làm sao? 

Thôi luyến đầm lạnh cây không bóng, 

Hãy xem tháng sáu hoa tuyết bay. 

Nghe tiếng ngộ đạo chưa khỏi dính nước trong lỗ tại. Kinh Lăng-nghiêm nói nếu ngộ tánh giác nơi căn, chỉ mới nhận ra nhân không sanh diệt chứ chưa phải quả viên mãn, vì vậy nói lỗ tai toàn dính nước. Thấy sắc sáng tâm cũng là ném cát trong con mắt. Thấy sắc ngộ được tâm cũng là còn ở một căn, nên nói ném cát trong con mắt.

Dù không còn ngã không còn pháp, ngã pháp đã bặt nhưng vẫn là việc bên kia. Trong mười mục chăn trâu, tới mục thứ tám trâu và chăn không còn, tức ngã pháp không còn, nhưng vẫn chưa phải cứu cánh, cần nhảy qua bậc đó nữa. Hãy nói việc bên này lại làm sao? 

Thôi luyến đầm lạnh cây không bóng,

Hãy xem tháng sáu hoa tuyết bay.

Cây đứng bên mé đầm mé hồ thì thấy bóng rọi dưới hồ, nhưng bây giờ cây không còn luyến đầm lạnh nữa, nên dù đứng gần mặt đầm cũng không rọi bóng dưới đầm. Cây không bóng cũng như mùa nắng có tuyết bay. Tháng sáu là mùa hè, mà có hoa tuyết bay. Đây là chỗ không còn hai bên.

Sư dạy: 

– Động thì bóng hiện, giác thì băng sanh, chẳng động chẳng giác đất cây không khác. Thiền tăng đến đây phải có một con đường chuyển thân mới được. Nếu chuyển được chia ba thành sáu, xướng chín thành mười, nhét Tu-di trong hạt cải, ném đại thiên ở phương ngoại. Nếu chuyển chẳng được, giữ hang quỷ ở núi người, chẳng khỏi là tinh linh. 

Động thì bóng hiện, giác thì băng sanh. Tâm vừa dấy lên liền có bóng, nghĩ về người nghĩ về cảnh thì có bóng cảnh bóng người theo đó. Bởi giác nên tâm lặng, tâm lặng thì băng sanh. Chẳng động chẳng giác thì đất và cây không khác. Tới đó tuy không còn hai, nhưng chưa phải chỗ cứu cánh.

Thiền tăng đến trong đây phải có một con đường chuyển thân mới được, như chăn trâu đến mục thứ tám cũng phải nhảy qua mới được.

Nếu không chuyển được thì rơi vào biển độc.

Sư dạy: 

– Đạt được nhân không pháp không, chưa gọi gia phong Tổ Phật. Thấu được toàn dụng toàn chiếu, cũng chưa phải yếu diệu thiền tăng. Cần phải đập phá lao quan, biết được một lỗ hướng thượng. Thế nào là một lỗ hướng thượng? Xuân hàn se lạnh cóng chết thiếu niên. 

Sư thượng đường: 

– Niết-bàn không đường khác, phương tiện cửa có nhiều. 

Nguyên văn chữ Hán trong Kinh Lăng-nghiêm là Niết-bàn vô dị lộ, phương tiện hữu đa môn.

Sư cầm gậy lên nói: 

– Xem! Xem! Cây gậy của sơn tăng, một ngụm hớp cạn nước Tây Giang. Cá lý ngư ở biển đông nhảy phóc trời Tam thập tam. Đế-thích nổi giận nắm núi Tu-di đấm một đấm tan nát. Địa thần Kiên Lao chắp tay tán thán rằng: Xem kỹ pháp Pháp vương, pháp Pháp vương như thế. 

Sư cầm cây gậy gõ giường thiền, xuống tòa. 

Sư dạy: 

– Vào cửa Đức Sơn liền đánh, đất bằng sanh gò. Vào cửa Lâm Tế liền hét, không gió nổi sóng. Câu Chi chỉ dựng một ngón tay, chưa khỏi mập mờ. Tuyết Phong lăn ra ba chiếc cầu, trẻ con đùa thích. Đến đây thảy dùng chẳng được. Đâu bằng tháng sáu tam phục cam lồ khắp ướt, nước đủ đồng cao lúa xanh nam khoảnh, nông phu vỗ bụng tiều già ca vang, gia phong cổ Phật nghiễm nhiên như còn. Nơi đây hội được cùng vui thăng bình, nếu như chưa được, chỉ biết việc đi qua trước mắt, chẳng ngờ trên đầu già đến rồi. 

Ngài nói tất cả phương tiện của chư tổ chưa phải cứu cánh. Chỗ cứu cánh là đã an ổn vui tươi, không còn gì phải lo sợ nghi ngờ, như là ruộng trúng mùa, nông phu no bụng cười. Vậy mới đúng là gia phong cổ Phật. Nếu chưa được thì chỉ biết việc đi qua trước mắt, chẳng ngờ trên đầu già đến rồi, tức là phải chịu luật vô thường.

THIỀN SƯ AN DÂN MẬT ẤN ở HOA TẠNG – phủ KIẾN KHANG 

Sư họ Chu, quê ở phủ Gia Định. Buổi đầu Sư giảng kinh Lăng-nghiêm ở Thành Đô, là bậc được trọng vọng trong hàng nghĩa học. Khi ấy Viên Ngộ ở Chiêu Giác, Sư cùng thiền sư Thắng kết bạn cùng đi đến. 

Sư nghe Viên Ngộ tiểu tham nêu công án: 

– Quốc sư ba phen gọi thị giả, Triệu Châu niêm rằng: “Như người viết chữ trong tối, chữ tuy chẳng thành, văn thể đã bày.” Trong kia chỗ nào là văn thể đã bày? 

Sư tâm nghi, thắp hương vào thất. Viên Ngộ hỏi: 

– Tọa chủ giảng kinh gì? 

Sư thưa: 

– Kinh Lăng-nghiêm. 

Viên Ngộ hỏi: 

– Kinh Lăng-nghiêm có bảy chỗ hỏi tâm, biện cái thấy có tám chỗ trả về, cứu cánh tâm ở chỗ nào? 

Sư trình nhiều kiến giải, Viên Ngộ đều chẳng nhận. Sư lại thưa thỉnh, Viên Ngộ dạy: 

 Tất cả chỗ dùng văn thể đã bày hội. 

Bỗng gặp vị tăng thưa hỏi về Thập huyền đàm, mới nhắc hỏi “tâm ấn anh nhan mạo gì”, Viên Ngộ gằn giọng nói: 

 Văn thể đã bày. 

Sư nghe liền có tỉnh, bèn cầu ấn chứng. Viên Ngộ bảo: 

– Dùng bản sắc kiền chùy. 

Sư lại mờ mịt. 

Một hôm, Sư bạch Viên Ngộ: 

– Hòa thượng thôi nhắc thoại, đợi con nói xem. 

Viên Ngộ chịu. Sư thưa: 

– Bình thường cầm chùy dựng phất, há chẳng phải trong kinh nói, tất cả thế giới đã có các tướng đều là Bồ-đề diệu minh chân tâm? 

Viên Ngộ cười bảo: 

– Ông xưa nay ở trong đây làm kế sống. 

Sư lại thưa: 

– Khi hét hay gõ giường thiền, há chẳng phải 

phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo? 

Viên Ngộ bảo: 

– Ông đâu chẳng thấy trong kinh nói, diệu tánh viên minh lìa các danh tướng? 

Sư ngay câu này liền thấu hiểu. 

Ngài Mật Ấn nói gõ giường thiền hay tiếng hét phản văn tự tánh. Chúng ta học kinh Lăng-nghiêm cũng thấy như vậy. Nhưng thiền sư Viên Ngộ nói: Ông đâu chẳng thấy trong kinh nói, diệu tánh viên minh lìa các danh tướng? Ông còn nói phản văn tự tánh, nói cái này cái kia đều là mắc kẹt trên danh tướng.

Viên Ngộ ra đất Thục trụ Giáp Sơn, Sư liền thôi giảng đi theo hầu. Viên Ngộ vì chúng dạ tham, nêu nhân duyên “buồm xưa chưa treo”. Sư nghe chưa lãnh ngộ bèn cầu quyết nghi. Viên Ngộ bảo: 

– Ông hỏi ta. 

Sư cử thoại trước. Viên Ngộ bảo: 

– Cây bá trước sân. 

Sư liền thấu suốt, thưa với Viên Ngộ: 

– Cổ nhân nói một giọt nước gieo vào hồ to, đâu chẳng biết biển cả gieo vào giọt nước. 

Viên Ngộ cười bảo: – Làm gì được kẻ này. 

Người xưa nói một giọt nước rớt xuống hồ thì hòa với nước trong hồ. Nhưng ngài nói ngược lại, biển cả gieo vào giọt nước.

Viên Ngộ bảo: Nếu ông thấy được như vậy thì không ai làm gì được ông.

Chưa bao lâu, Viên Ngộ cử làm Đệ nhất tọa. 

Viên Ngộ nói bài kệ: 

Hưu khoa Tử Phần bãi Lăng-nghiêm, 

Án hạ vân đầu triệt để tham. 

Mạc học Lượng Công thân Mã Tổ,

Hoàn như Đức Kiểu phỏng Long Đàm.

Thất niên vãng phản du Chiêu Giác,

Tam tải cao tường thướng Bích Nham.

Kim nhật phiền sung đệ nhất tọa,

Bách hoa tùng lý hiện ưu đàm. 

Dịch: 

Thôi khoe Tứ Phần, nghỉ Lăng-nghiêm,

Buông xuống mây mù triệt để tham.

Chớ học Lượng Công gần Mã Tổ, 

Lại như Đức Sơn hỏi Long Đàm. 

Bảy năm qua lại dạo Chiêu Giác,

Quanh quẩn ba năm chốn Bích Nham. 

Kim nhật phiền mời đệ nhất tọa, 

Trong rặng trăm hoa hiện ưu-đàm. 

Thôi khoe Tứ Phần, nghỉ Lăng-nghiêm, thôi không giảng Tứ phần, cũng bãi giảng Lăng-nghiêm. Buông xuống mây mù triệt để tham, tới đây triệt để tham thiền.

Chớ học Lượng Công gần Mã Tổ, lại như Đức Kiểu hỏi Long Đàm. Lượng Công là một vị giảng sư, sau theo Mã Tổ tu. Đức Kiểu tức ngài Đức Sơn, học pháp với Long Đàm.

Bảy năm qua lại đạo Chiêu Giác, bảy năm tới lui chùa Chiêu Giác. Quanh quẩn ba năm chốn Bích Nham, ba năm quẩn quanh ở Bích Nham, chỗ của ngài Viên Ngộ.

Kim nhật phiền mời đệ nhất tọa, ngày nay phiền mời làm đệ nhất tọa. Trong rặng trăm hoa hiện ưu-đàm, đóa ưu-đàm giữa rừng trăm hoa đua nở. Đây là lời khen của ngài Viên Ngộ.

Sau Sư đến yết kiến Phật Giám ở Tưởng Sơn. Phật Giám hỏi: 

– Phật Quả có câu chẳng vì người loạn nói, từng vì ông nói chăng? 

Sư thưa: – Ngậm lấy miệng chó. 

Phật Giám gằn giọng nói: 

– Chẳng phải đạo lý này. 

Sư thưa: 

– Không người cướp túi muối trà của Thầy, kêu to làm gì? 

Phật Giám bảo: 

– Nếu Phật Quả chẳng nói, ta vì ông nói. 

Sư thưa: 

– Hòa thượng nghi thì thối viện riêng tham đi. 

Phật Giám cười hả hả! 

Phật Quả tức ngài Khắc Cần, có câu Chẳng vì người loạn nói, vậy có từng vì ông nói chưa? Người chưa xong thì liền trả lời rồi hoặc chưa. Nhưng ngài thì đáp: Ngậm lấy miệng chó, tức còn nói qua nói lại là chưa đúng.

Nếu Phật Quả chẳng nói, ta vì ông nói. Nếu là chúng ta, nghe câu này liền mừng rỡ. Bởi mình còn bán tín bán nghi, nên lúc nào cũng muốn thỉnh thầy nói giùm.

Hòa thượng nghi thì thối viện riêng tham đi. Phật Giám biết là thứ thiệt rồi, cho nên cười hả hả. Người học đạo quan trọng là phải tới chỗ không còn nghi, nếu còn một mảy nghi là chưa xong. Đã là thứ thiệt thì không cần gì nữa, cũng như người ăn cơm đã no, dù ai có mời thứ gì cũng không thèm để mắt.

Sư khai pháp ở Bảo Ninh, kế dời sang Hoa Tạng, rồi về quê nhận lãnh Trung Phong. 

Sư thượng đường: 

Chúng mại hoa hề độc mại tùng,

Thanh thanh nhan sắc bất như hồng, 

Toán lại chung bất dữ thời hợp, 

Quy khứ lai hề thúy ái trung. 

Dịch: 

Chúng bán hoa chừ ta bán tùng,

Xanh xanh màu sắc chẳng bằng hồng,

Tính ra trọn chẳng cùng thời hợp, 

Về lại đi chừ trong rừng xanh. 

Tức cười cổ nhân nói thế ấy, giống như trốn núi nhảy xuống hồ, tránh chìm gieo vào lửa. Chi bằng tùy phần đến bên cây cuốc thước tám năm phân, tìm một người nửa người. Tuy nhiên như thế, Bảo Ninh nửa người cũng chẳng cần. Cớ sao? Giàu hiềm ngàn miệng thiếu, nghèo hận một thân nhiều. 

Ngài nhắc lại câu nói của người xưa rồi bình, giống như trốn chỗ núi cao mà nhảy xuống hồ, tránh chết chìm mà gieo vào đống lửa. Nói gì đi nữa cũng không thực tế bằng đến bên cây cuốc thước tám năm phân, tìm một người nửa người. Thước tám năm phân của Trung Hoa khoảng sáu tấc của chúng ta. Cứ trên đầu cuốc mà biện, chẳng cần nói xanh nói tía gì hết. Đó mới là thực tế. Ngay trong đời thường, sống và thấy được đạo lý, chẳng cần lý luận.

Giàu hiềm ngàn miệng thiếu, nghèo hận một thân nhiều. Đây là câu châm ngôn. Các thiền sư thường nói cái này bắt quàng cái kia, cái kia bắt quàng cái nọ, có khi dẫn kinh, có khi dẫn chuyện thế gian, không cố định, chỉ cốt khai mở cho người.

Đông chí, Sư thượng đường cử:

– Hòa thượng Hạo ở Ngọc Tuyền nói: Tuyết tuyết mảnh mảnh chẳng rơi chỗ khác, đến tháng chạp lại theo, năm sau tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng tư, tháng năm, tháng sáu, tháng bảy, tháng tám, tháng chín, tháng mười, như trước chẳng thôi. Chết lạnh chết đói, khỏi bảo nói hồ nói loạn. 

Tuyết rơi lạnh chết cóng, khỏi nói lăng xăng lộn xộn.

Sư bảo: 

– Chẳng phải mắng người cũng chẳng tán thán. Cao hơn Lâm Tế, Đức Sơn; chẳng giống Vân Cư, La Hán. Hãy nói, Ngọc Tuyền ý chỉ thế nào? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Chỉ cần tuyết tan đi, tự nhiên xuân lại đến. 

Phải trải qua tuyết lạnh cóng mới tới được mùa xuân. Nếu ấm hoài, làm sao có mùa xuân. Cũng vậy, người tu phải chết đi tâm điên đảo loạn tưởng, mới có được mùa xuân an lạc tự tại. Đó là lời nhắc nhở của ngài.

Sau Sư thị tịch ở bản sơn, trà tỳ lưỡi và tim không cháy. 

THIỀN SƯ TỔ GIÁC HOA NGHIÊM Ở TRUNG NHAM – MY CHÂU (1087 -1150) 

Sư họ Dương quê ở Gia Châu, thuở nhỏ thông minh, sách sử qua mắt thành tụng. Viết sách bài bác Phật giáo, bỗng thấy ác cảnh hiện, Sư liền hối cải đi xuất gia. 

Sư nương theo thiền sư Năng ở Huệ Mục, chưa bao lâu bị bệnh ung nhọt ở đầu gối, năm năm mà trị chẳng lành. Nhân Sư viết Hoa Nghiêm Hợp Luận xong, ban đêm mộng thấy điềm lạ, sáng ra bỏ gậy đi bộ. 

Thiền sư Tổ Giác lúc nhỏ thông minh, thích Nho ghét Phật nên viết sách chống lại Phật giáo, do mộng thấy bị dẫn xuống địa ngục, hoảng sợ giật mình thức dậy. Từ đó ngài sám hối và xin xuất gia. Không lâu sau, lại bị bệnh ung nhọt ở đầu gối, trị mãi không lành. Tuy bệnh nặng như vậy, nhưng ngài vẫn kiên trì ngồi viết xong bộ Hoa Nghiêm Hợp Luận. Do công đức này chiêu cảm, ban đêm ngài mộng thấy điềm lạ, sáng ra hết bệnh bỏ gậy đi bình thường.

Một hôm, Sư tụng đến phẩm Hiện Tướng nói: “Thân Phật không có sanh, mà thị hiện có sanh. Pháp tánh như hư không, chư Phật ở trong đó. Không đứng cũng không đi, chốn chốn đều thấy Phật.” Sư liền ngộ tông chỉ kinh Hoa Nghiêm. Gặp khi Sư đăng tăng tịch, Phủ soái thỉnh giảng ở Thiên Bộ đường, Sư giảng lời lẽ khoáng đạt, cả chúng đều kính phục. Chợt thiền sư Nguyên Tĩnh ở Nam Đường đi qua cửa, bảo Sư rằng: 

 Xem Thầy giảng nói vượt cả mọi người, rất tiếc chưa lìa tướng văn tự. Nếu đi hỏi đạo ở xứ ngoài, tức là Chu Kim Cang hiện nay. 

Sư vui vẻ bãi giảng Nam du. 

Sư nương Viên Ngộ ở Chung Phụ. Một hôm Sư vào thất, Viên Ngộ nêu công án: 

– La Sơn nói: “Khi có nói, chặn đầu cọp nắm đuôi cọp, dưới câu thứ nhất rõ tông chỉ; khi không nói, thấy bày máy nhọn như đồng điện chớp”, làm sao hội? 

Sư không thể đáp, ngày đêm tham cứu bỗng nhiên có tỉnh. Sư làm kệ trình Viên Ngộ: 

Gia trụ cô phong đảnh, 

Trường niên bán yểm môn 

Tự ta thân đã lão, 

Hoạt kế phó nhi tôn. 

Dịch: 

Nhà ở đảnh cô phong, 

Hàng năm đóng nửa cửa, 

Tự than thân đã già, 

Kế sống giao con cháu. 

Viên Ngộ xem hứa khả. Hôm sau vào thất, Viên Ngộ lại hỏi: 

– Hôm qua công án thế nào? 

Sư toan đáp, Viên Ngộ liền hét bảo: 

– Phật pháp chẳng phải đạo lý này. 

Sư lưu lại năm năm, lại càng mê muộn. 

Sau Sư đến chùa Thê Hiền ở Lô Sơn xem bộ luận Tước Chấp của thiền sư Viễn ở Phù Sơn đến câu “Nếu nói ngộ có thân sơ, đâu có trong rừng chiên-đàn lại sanh cỏ thối”, Sư hoát nhiên khế ngộ, làm kệ gửi Viên Ngộ. 

Ngộ thì suốt khắp đều là ngộ, chứ không có ngộ nửa chừng. Nếu cho rằng mình ngộ, mà biết cái này chưa biết cái kia, tức chưa phải thật ngộ.

Kệ rằng: 

Xuất lâm y cựu nhập bồng hao,

Thiên võng khôi khôi bất khả đào. 

Thùy tín nghiệp duyên vô tỵ xứ,

Quy lai bất phụ ngữ thanh cao. 

Dịch: 

Ra rừng như cũ vào bồng hao,

Lưới trời lồng lộng trốn được nào.

Ai tin nghiệp duyên không thể trốn,

Trở về chẳng sợ lời nói cao. 

Viên Ngộ rất vui, đem đến bảo chúng: 

– Giác Hoa Nghiêm đã triệt vậy. 

Ý của bài kệ này nói, tất cả đều hiện tiền, không ai trốn tránh được nghiệp duyên của mình.

Sau, Sư trụ viện, có vị tăng hỏi: 

– Tối sơ Phật Oai Âm Vương, rốt sau Phật Lâu-chí, chưa biết tham thấy người nào? 

Sư đáp: 

– Nhà ở thành Đại Lương lại hỏi đường Trường An. 

Tăng hỏi: Kinh nói chư Phật xuất hiện ở thế gian, đầu tiên là Phật Oai Âm Vương, rốt sau là Phật Lâu-chí. Như vậy hai vị Phật này, tham vấn ai mà được thành Phật? Ngài trả lời: Nhà ở thành Đại Lương, lại hỏi đường Trường An. Giống như bây giờ, có người nhà bên đường Phan Thanh Giản, lại hỏi Sài Gòn ở đâu? Nghĩa là nhà ở ngay bên đường mà còn hỏi. Ý nói, hãy tham với ông Phật hiện tại sẵn có của chính mình đi.

Tăng hỏi: 

– Như Đức Sơn gánh bộ Sớ Sao đi hành cước, ý ở chỗ nào? 

Sư đáp: – Đè vỡ tròng mắt ông. 

Tăng hỏi: 

– Cùng Hòa thượng ngộ tông chỉ Hoa Nghiêm cách nhau bao nhiêu? 

Sư đáp: – Đồng đường chẳng đồng dấu. Tăng nói: 

– Ngày xưa Đức Sơn, ngày nay Hòa thượng. 

Sư đáp: 

– Trời chiều về tây, nước chảy về đông. 

Mặt trời buổi chiều lệch về hướng tây. Biển thì ở phía đông, cho nên các dòng sông đều chảy về đông, tức là đều đổ ra biển cả. Lý là như vậy.

Sư thượng đường nêu công án: 

– Lúc Hòa thượng Thạch Sương thiên hóa, chúng thỉnh Thủ tọa nối tiếp trụ trì, thị giả Kiền hỏi công án. 

Sư nói: 

– Chỗ tông sư đi như lửa đốt băng, thấu qua cổng thị phi, toàn cơ quên, được tột đạo. Thủ tọa kẹt ở một sắc. Thị giả tri kiến vượt thầy, đáng gọi thể diệu mất tông, toàn mê hướng bối. Đâu chẳng biết, Thủ tọa như cò trắng đứng trong tuyết, phẩm loại chẳng đồng. Thị giả dường chim phượng bay trong không, chẳng dính lưới vàng. Một người đứng trên chót vót núi cao, một người đi tận đáy biển sâu. Mỗi vị tự theo phương mà đến, đồng hội trong thành cửu trùng. Hiện nay cần biết hai người này chăng? 

Sư dựng đứng phất tử lên nói: 

– Rồng nằm đầm biếc gió ầm ầm. 

Sư hạ phất tử xuống nói: 

– Hạc về không rộng lưng mài trời. 

Chỗ tông sư đi như lửa đốt băng, thấu qua cổng thị phi, toàn quên, được tột đạo. Đó là lời khen Thạch Sương.

Thủ tọa kẹt ở một sắc… Tuy nói Thủ tọa còn ở một sắc, mà cần tịch thì liền ngồi tịch. Nghĩa là Thủ tọa vẫn còn ở trong chỗ kẹt, nhưng chỗ kẹt đó là của người đầy đủ công phu, chứ không phải tầm thường.

Rồng nằm đầm biếc gió ầm ầm, ngài diễn tả Thủ tọa giống như rồng nằm đầm biếc, còn thị giả Kiền thì thế nào? Ngài hạ cây phất tử xuống nói: Hạc về không rộng lưng mài trời, hạc bay cao vút trong hư không, tức là Thị giả có cái thấy siêu thoát.

Có vị tăng hỏi: – Thế nào một hét như Kim cang vương bảo kiếm? 

Sư đáp: – Máu đẫm Phạm thiên. 

Tăng hỏi: – Thế nào một hét như sư tử ngồi xổm? 

Sư đáp: – Chồn hoang hoảng hốt. 

Tăng hỏi: – Thế nào một hét như sào dò bóng cỏ? 

Sư đáp: – Nghiệm được xương của ông. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào một hét chẳng có dụng một hét? 

Sư đáp: 

Phải nên biết rõ người cầm kim, 

Chớ nói uyên ương lông cánh tốt. 

Trong tông Lâm Tế có bốn thứ hét: Một là Kim cang vương bảo kiếm, hai là Sư tử ngồi xổm, ba là Sào dò bóng cỏ, bốn là Tiếng hét không có dụng của tiếng hét, cho nên vị tăng nêu ra để hỏi.

Thế nào một hét như Kim cang vương bảo kiếm? Ngài đáp: Máu đẫm Phạm thiên. Thứ nhất là tiếng hét như Kim cang vương bảo kiếm, đây là tiếng hét đầy đủ diệu dụng, một khi hét lên khiến người nghe tan thân mất mạng, nên nói máu đẫm Phạm thiên.

Thế nào một hét như sư tử ngồi xổm? Ngài đáp: Chồn hoang hoảng hốt. Thứ hai là tiếng hét như sư tử ngồi xổm, tiếng hét này làm cho người nghe kinh hoàng, phải thức tỉnh ngay.

Thế nào một hét như sào dò bóng cỏ? Ngài đáp: Nghiệm được xương của ông. Thứ ba là tiếng hét như sào dò bóng cỏ, tiếng hét để dọ dẫm. Như cạnh hồ nước trong có những bụi cỏ cao, nhìn xuống thấy bóng cỏ dưới hồ lấy sào dò thử, không chạm tới bụi cỏ thật. Cũng vậy,khi có người đến hỏi đạo, vừa bước vào cửa chưa hỏi gì hết, các ngài liền hét lên một tiếng. Đây là tiếng hét để dọ dẫm, nghiệm xem người tới hỏi phản ứng thế nào, có khả năng gì không. Nghe hét mà ngẩn ngơ không biết gì hết, tức kẻ này chưa ngộ. Nếu nghe hét liền có phản ứng thì biết kẻ ấy về sau khả dĩ thấu tột. Nên nói, nghiệm được xương của ông.

Thế nào một hét chẳng dụng một hét? Ngài đáp: Phải nên biết rõ người cầm kim, chớ nói uyên ương lông cánh tốt. Người ta thêu chim uyên ương trên vải, nhìn thấy lông cánh đều đẹp, nhưng phải biết cái khéo đó chính là của người thêu. Cũng vậy, tiếng hét vốn không có cái dụng của nó, chỉ là một tiếng hét bình thường, chẳng qua muốn mượn tiếng hét để khiến cho người hỏi rút lui. Như khi có người tới hỏi thiền, trả lời mà họ không thông, các ngài hét lên một tiếng, họ không biết gì hết liền bỏ đi.

THIỀN SƯ HUỆ VIỄN HẠT ĐƯỜNG ở LINH ẨN – phủ LÂM AN (1103 – 1176)

Sư họ Bành, quê ở trấn Kim Lưu, My Sơn. Năm mười ba tuổi, Sư theo tăng Tông Biện viện Dược Sư xuất gia. Sau đó đến Thành Đô học kinh luận. Sư lại trở về Nga My tại chùa Vân Nham, là nơi thiền sư Trưng trụ trì. Thiền sư Trưng là cháu đời thứ tư của Thiền sư Huệ Nam Hoàng Long, tri kiến khá cao. Sư mới vào cửa gặp Trưng thọ trai xong đi dạo hành lang chùa. Vừa gặp, Sư liền để túi vải xuống hỏi: 

 Văn-thù là thầy bảy đức Phật, chưa biết người nào là thầy Văn-thù? 

Trưng đáp: – Cát vàng bờ khe vợ Mã Lang. 

Khi ấy có Thiết Phất Khởi làm Thủ tọa, Sư cũng đến thân cận. Khởi thường nhắc nhở Sư, trải qua hai năm mà không sở đắc. Một hôm Sư tĩnh tọa, có một vị tăng đi một mình tự nói: “Mượn tứ đại để che đậy, duyên sáu trần mà sanh tâm, chợt gặp sáu trần liền dứt, gọi cái gì là tâm?” Sư nghe bỗng dưng có tỉnh. Sư đứng dậy trình với Thủ tọa, Thủ tọa nhận đó, đến phương trượng trình với Trưng, Trưng cũng nhận đó. Ngày hôm sau liền từ giã đi, đồng học giữ lại. Sư không chịu, nói: 

– Thầy tôi cho là được, mà tôi trọn chưa hài lòng. 

Sở ngộ của ngài trình, tuy được thiền sư Trưng chấp nhận, nhưng riêng ngài thấy mình vẫn còn mờ mịt, biết chưa tới chỗ cứu cánh nên không chịu ở lại mà từ giã đi nơi khác.

Bấy giờ Viên Ngộ từ Vân Cư trở về Thục trụ Chiêu Giác, Sư liền đến đó. Mỗi khi hỏi thoại ý chỉ rất cao vót, Viên Ngộ thầm nhận. 

Một hôm Viên Ngộ phổ thuyết nhắc, Bàng cư sĩ hỏi Mã Tổ: “Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?” Mã Tổ bảo: “Đợi ông hớp một ngụm cạn nước Tây Giang liền nói với ông.” Sư nghe nói bỗng nhiên đại ngộ, ngã tại trong chúng, chúng cho là trúng gió cùng dìu dậy. Sư nói: 

– Tôi mộng hay thức? 

Đến tối Viên Ngộ tiểu tham, Sư ra thưa: 

– Sạch trọi trơn rỗng không một vật, thân trần nghèo tột không một tiền, cửa nát nhà tan xin Thầy cứu giúp. 

Viên Ngộ đáp: 

– Bảy trân tám bảo một lúc lấy hết. 

Sư thưa: 

– Tiếc rằng cướp chẳng vào được nhà có đề phòng. 

Viên Ngộ nói: 

– Cơ chẳng rời vị rơi trong biển độc. 

 Sư theo tiếng liền hét. Viên Ngộ lấy cây gậy gõ giường thiền nói: 

 Ăn gậy được hay chưa? 

Sư lại hét. Viên Ngộ hét liên tiếp hai tiếng, Sư lễ bái. Viên Ngộ rất vui làm kệ tặng Sư, có câu “Cựu Thiết Thiệt tháo chốt cửa”, chúng gọi Sư là Thiết Thiệt Viễn. Từ đây cơ phong cao vót không ai chống lại. 

Nghe ngài Viên Ngộ phổ thuyết nhắc chuyện Bàng cư sĩ đến hỏi đạo Mã Tổ, ngài liền ngộ. Ngộ mà ngã xỉu nên trong chúng tưởng ngài trúng gió, xúm lại dìu. Tỉnh dậy, ngài hỏi: Tôi mộng hay thức? Ngộ có nhiều cách, có người ngộ cách này có người ngộ cách kia, riêng ngài thì té xỉu.

Ngài trình bày chỗ ngộ của mình rất khéo: Sạch trọi trơn rỗng không một vật, thân trần nghèo tột không một tiền, cửa nát nhà tan xin Thầy cứu giúp. Câu này giống như câu nói của thiền sư Triệu Châu, năm mười tám tuổi biết nhà tan cửa nát. Ngang đây các kiến chấp sạch hết, tất cả tâm niệm đều không còn.

Viên Ngộ nói: Bảy trân tám bảo một lúc lấy hết. Tuy bây giờ ông nghèo cùng, sạch hết trống trơn, nhưng của báu đầy dẫy sẵn có, mặc tình mà lấy. Chỗ này ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn cũng có bài kệ: “Năm xưa nghèo chưa thật nghèo, năm nay nghèo mới thật nghèo, năm xưa nghèo còn có đất cắm dùi, năm nay nghèo không có dùi để cắm.” Đến chỗ tột nghèo đó, nếu dừng lại thì vẫn chưa xong, cần phải nhận được của báu tự do sử dụng mới được.

Ngài thưa: Tiếc rằng cướp chẳng vào được nhà có đề phòng. Nhà có đề phòng thì làm sao cướp vào được. Viên Ngộ đáp: Cơ chẳng rời vị rơi trong biển độc. Vị tức là quả vị hay ngôi vị. Tới đó mà vẫn còn thấy có chỗ chứng đắc, tức còn rơi vào trong biển độc.

Sư theo tiếng liền hét. Viên Ngộ lấy gậy gõ giường thiền nói: Ăn gậy được hay chưa? Bây giờ đáng ăn gậy hay chưa? Sư lại hét. Viên Ngộ hét liên tiếp hai tiếng, Sư lễ bái. Hai tiếng hét của Viên Ngộ là tiếng hét Kim cang vương bảo kiếm, khiến ngài nghe qua tan thân mất mạng, nên liền lễ bái. Thấy ngài đối đáp nhạy bén, Viên Ngộ rất vui làm kệ tặng, trong đó có câu Thiết Thiệt tháo chốt cửa. Từ đây cơ phong cao vót, không ai có thể đương nổi. Bởi ngài tên Viễn, nhân đó trong chúng kính trọng, gọi ngài là Thiết Thiệt Viễn.

Qua đoạn này cho thấy, việc tu hành không phải đơn giản. Tuy trước đó ngài có tỉnh, được thầy bạn đồng ấn chứng, nhưng vẫn cảm thấy chưa tự tại, tức là biết mình chưa xong việc, nên ngài từ giã đi nơi khác. Khi tới chỗ Viên Ngộ nghe nhắc lại thoại cũ, lúc này ngài mới thật sự đại ngộ.

Mùa xuân năm Ất Mão niên hiệu Thiệu Hưng (1135), huyện thú My Sơn mời Sư trụ núi Tượng Nhĩ, Sư chẳng nhận. Năm ấy Viên Ngộ thị tịch, Sư than: 

– Triết nhân đã mất nối đó là ai? 

Sư xuống thuyền đi. Ban đầu đến Hoài Nam, Sư trụ ở Long Bàn tám năm, kế dạo Lang Nha, lại sang Phổ Tế, Định Nghiệp. Từ khi Sư phát minh tâm yếu liền được du hý, như gió đại tự tại tam-muội. 

Như gió đại tự tại tam-muội, nghĩa là không còn chướng ngại gì nữa.

Sư khai pháp đăng tòa nói: 

Thiên vô môn địa vô bích, 

Hồ lô bằng thượng chủng đông qua,

Lưỡng thủ phù lê thủy quá tất. 

Khiêu kim quyển thôn lật cức, 

Chiên phách bản đối vô khổng địch.

Khuất khuất. 

Độc cước sơn tiêu giải song địch,

Khử niên đông lý vô thán thiêu.

Kim niên định thị vô hỏa chích.

Cơ thời cơ đáo nhãn tình huỳnh,

Cùng thời cùng đáo xích cốt lập.

Khuất khuất. 

Dịch: 

Trời không cửa, đất không vách,

Ở trên giàn bầu trồng bí đao, 

Hai tay kéo cày nước quá gối. Thoát kim cang, nuốt cỏ gai, Nhịp phách nỉ đối sáo không lỗ. 

Thua thua. 

Yêu quái một chân biết nhảy đôi, Mùa đông năm rồi không than đốt, Năm nay định là không lửa hơ. Khi đói, đói đến tròng mắt vàng, 

Khi nghèo, nghèo đến thân trần trụi. 

Thua thua. 

Hãy nói thua cái gì? Tại sao Giám tự, Phó tự, Duy-na, Điển tọa, Trực tuế… lại cùng thợ bùn nước thương lượng. Thả ra hai con chim si vẫn, nhai nát nóc điện Phật. 

Si vẫn là loài chim thường được trang trí trên nóc chùa. Những câu nói này toàn là hoạt cú nên không giải thích.

Sư thượng đường nêu: 

– Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng: “Trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng ta đồng thể, đầu bàn chân cuối bàn chân ngang ba dọc bốn, Bắc Câu-lô Châu nổi lửa đốt lông mày Đế-thích, Đông Hải long vương không thể nhịn được, sấm vang một tiếng ầm ầm, liền được hồ nghiêng núi ngả, mây dày khắp hư không, nơi ngã tư đường họ Liêu họ Hồ trong lúc ngủ mê trỗi dậy, vỗ tay cười ha hả nói: Trong thành Quân Dương gần đây ít cướp.” Hòa thượng cầm cây gậy nói: Cướp! Cướp! 

Sư nhắc xong nói: 

– Phải thì một phen khoe khoang chẳng ít, nào ngờ lỗ mũi tròng mắt mỗi người đều có chủ. Cớ sao? Trong gò sắn bìm lấy trộm chưa phải kẻ cướp ban ngày, trước cửa quán rượu lượm của rơi chẳng phải chánh cướp. 

Khi ấy ở đông lang đường có tiếng chó sủa, Sư liền gọi cư sĩ: 

– Xem trước cửa có quan khách nào. 

Đại chúng đều xoay đầu nhìn. Sư bảo: 

– Cần thấy chánh cướp chăng? 

Sư bèn huýt sáo một tiếng, chao tay xuống tòa. 

Ngài dẫn câu chuyện của Hòa thượng Chơn Tịnh dạy chúng, rồi bình: Phải thì một phen khoe khoang chẳng ít, nào ngờ lỗ mũi tròng mắt mỗi người còn có chủ. Cớ sao? Trong gò sắn bìm lấy trộm chưa phải kẻ cướp ban ngày. Gò sắn bìm là nơi rậm rạp, núp vào đó để lấy trộm thì chưa phải là kẻ cướp ban ngày. Trước cửa quán rượu lượm của rơi chẳng phải chánh cướp. Ở trước cửa quán rượu mà lượm của rơi thì không phải chánh cướp, tức là chưa gan dạ.

Như vậy, chánh cướp là gì? Ngài đang giảng mà nghe tiếng chó sủa bên nhà đông, liền bảo cư sĩ xem có quan nhân nào lại không, tất cả đều xoay qua nhìn, đó là chánh cướp ra tay mà không ai thấy, cho nên ngài huýt sáo xuống tòa.

Khi ấy Đại Huệ ở Mai Châu, có người truyền kệ tụng và đề xướng của Sư đến, Đại Huệ ngạc nhiên nói: “Lão sư về già có đứa con như thế ư?” Nhân đây Đại Huệ biên thư thông tin và gửi tặng pháp y của Viên Ngộ. Sư làm tụng nghênh đón, hai vị gặp nhau rất vui. Đại Huệ hết lời khen ngợi, lại đề ảnh Sư: “Gã Xuyên lôi thôi này không chân không giả, một cây gậy trắng Phật đến cũng đánh, lại có một chỗ rất hay, giỏi chạy ngựa trong bình bát.” 

Kế Sư dời trụ Quang Hiếu trải mười năm. An Định quận vương Triệu Biểu Chi cùng Sư làm bạn ngoài đời, thị lang Tằng Khai theo Sư thưa hỏi. Tằng tuy là sĩ đại phu mà đã bão tham nơi chư kỳ lão, theo Đại Huệ dạo đi rất lâu mà chưa giải thoát sâu, đến gặp Sư mới dứt các nghi. 

Bão tham là gì? Bão là no, tham no tức là tham vấn đã đầy đủ rồi.

Sau Sư dời đến Nam Nhạc trụ ở Nam Đài. Khi đó thiền sư Liễn ở Long Vương, thiền sư Hạnh ở Phương Quảng đều là cao đệ của Nguyệt Am, đạo đức nổi tiếng ở Hồ, Tương. Hai vị nói với nhau: 

– Chỗ này vách đứng ngàn nhẫn, Viễn chỗ nào tá túc ư! 

Nhân thỉnh Sư đăng tòa, lập hơn ba chục câu hỏi đều hóc búa nguy hiểm, là chỗ học giả khó đến. Sư tùy cơ giải đáp, lời lẽ thâm áo, nghị luận siêu việt, mọi người rất thán phục. Liễn dẫn đồ chúng đảnh lễ nói: 

– Gối này chẳng cúi nơi người đã lâu. 

Ý nói đầu gối này đã lâu rồi chưa quỳ trước mọi người, mà bây giờ quỳ trước ngài.

Sư lại sang Thiên Thai trải trụ trì ba chùa Hộ Quốc, Quốc Thanh, Hồng Phước. Niên hiệu Càn Đạo năm Đinh Hợi (1167) thượng thư Thẩm Đức Hòa trấn thủ Bình Giang do đại đạo tràng Hổ Khưu gần đây không có người, tận tâm mời Sư trụ trì. Sư đến đây hết lòng mở mang đạo pháp. 

Sư lại vâng chiếu trụ chùa Sùng Tiên ở núi Cao Đình, chưa bao lâu Sư thối viện đến trụ am Nghênh Chiếu. 

Sư lại vâng chiếu trụ Linh Ân. Ngày khai đường có Trung sứ niêm hương chúc thánh xong, Sư niêm hương rằng: 

– Một nén hương này trời đất không thể che đậy, mắt Phật không thể xem lường, đưa lên diệt dòng giống Phật, nắm lại mờ mịt giết người, lụy ta ba mươi năm trong cỏ hoang nằm ngang, đến khiến một đời làm kẻ ngây ngô, tựu trung có chút sai lầm, đối chúng cũng phải nói phá. Sơn tăng hai mươi năm trước, bị gió nghiệp thổi đến dưới núi Mân Nga, trong rừng gai góc chạm đến chiếc chùy không lỗ, bị kia một đập nửa say nửa tỉnh, tưởng đâu câm miệng một đời không thể mở. Hai mươi năm sau lại bị gió nghiệp thổi đến bến sông Trạc Cẩm, trong gò sắn bìm gặp cọp dữ, khi ấy đích thân bị cắn một cái, đến nỗi táng đảm vong hồn, mở được miệng đến nay thọ dụng chẳng hết. Hãy nói, hương này vì thiện tri thức hai mươi năm trước là phải, vì thiện tri thức hai mươi năm sau là phải? Một con hạc chẳng đậu hai cây, một người khách chẳng phiền hai nhà. Đâu chẳng thấy nói “trước đi chẳng đến, rốt sau vượt xa”. Ngày nay thân cướp đã bày tang vật trước mắt. Phụng vì, tiền Thành Đô phủ Chiêu Giác tiên Viên Ngộ thiền sư Đại hòa thượng. Chẳng trọng Thầy đối ngự bàn không, hoành hành hải thượng, chỉ trọng Thầy trong ngực không vật trong bụng không thiền. Khói nhằm trong lò, dùng đền pháp nhũ. 

Ngài nói hai mươi năm trước bị gió nghiệp thổi đến núi Mân Nga, ở trong rừng gai góc chạm đến chiếc chùy không lỗ, hai mươi năm sau lại thổi đến Trạc Cẩm, trong gò sắn bìm gặp con cọp dữ. Chùy không lỗ tức chỉ thiền sư Trưng, cọp dữ là chỉ cho ngài Viên Ngộ. Đó là kiểu nói của các thiền sư.

Thiện tri thức hai mươi năm trước là thiền sư Trưng, thiện tri thức hai mươi năm sau là thiền sư Viên Ngộ. Vậy bây giờ nơi hai vị thiện tri thức ấy, ngài kế thừa ai đây? Một con hạc chẳng đậu hai cây, một người khách chẳng phiền hai nhà. Một người thì đâu có hai thầy, phải làm sao? Đâu chẳng thấy nói trước đi chẳng đến, rốt sau vượt xa”. Trước ngộ nhưng chưa tột, đến sau ngộ mới vượt xa, tức hoàn toàn thấu triệt. Ngày nay thân cướp đã bày tang vật trước mắt, đây là lối nói của thiền sư, còn nói theo ngôn ngữ thông thường là bây giờ chỗ ngộ đã viên mãn rồi.

Khói nhằm trong lò, dùng đền pháp nhũ. Ơn pháp nhũ là nhằm chỉ Viên Ngộ. Như vậy đến đây đã rõ, ngài kế thừa thiền sư Viên Ngộ.

Khi ấy vua Hiếu Tông để tâm về Thiền học, nhiều phen mời Sư vào triều, ban hiệu là Phật Hải thiền sư. Vua làm bài tụng tặng Sư: 

Bát vu tẩu mã hướng thiên đình, 

Quán đạp thiên nhai mã bất kinh,

Hồi thủ phi lai phong thượng vọng,

Bạch vân bao tận đế đô xuân. 

Dịch: 

Trong bát chạy ngựa đến thiên đình,

Quen đạp ven trời ngựa chẳng kinh,

Xoay đầu bay lại núi cao vót, 

Mây trắng bao trùm đế đô xuân. 

Trong bát chạy ngựa là nhắc lại lời khen của thiền sư Đại Huệ.

Một hôm đánh trống đăng tòa xong, Sư vẫn ngồi trong màn. Thị giả tìm Sư chẳng thấy. Sư vạch màn ra nói: 

– Chỉ ở trong này vì sao chẳng thấy? 

Thị giả không đáp được. Sư đáp thay: 

– Búa lớn bửa ba cửa. 

Đây là hình ảnh đáng chú ý nhất. Một hôm đánh trống để ngài đăng tòa thuyết pháp, song ngài vẫn ngồi trong màn không ra, thị giả tìm chẳng thấy. Ngài vạch màn ra nói: Chỉ ở trong này vì sao chẳng thấy? Ngài ngồi bên trong, chỉ có chút màn che mà không thấy. Ngay đó thôi, đừng tìm kiếm đâu xa. Bây giờ mấy chú thấy chưa?

Có vị tăng Nhật Bản tên Giác A, thông Thiên Thai giáo và các sách, hay nói các thứ tiếng. Ban đầu đến yết kiến Sư tỏ ra rất lanh lợi, Sư đem Thiền tông chỉ dạy. Giác A ở ba năm liền đốn ngộ, làm năm bài tụng đầu cơ rồi đi. Nhân đây có phái thiền truyền sang Nhật Bản. 

Niên hiệu Thuần Hy thứ hai (1175) năm nhuần, sáng tháng chín, Sư thượng đường nói kệ: 

Thuần Hy thứ hai nhuần, 

Cuối thu sáng tháng chín,

Chỗ ồn chớ xuất đầu,

Đất lạnh để mắt thấy.

Tối sáng chẳng tương can,

Kia đây phân một nửa, 

Một thứ làm người quý, 

Bảo ai bán củi than. 

Nói với ông, 

Không thể chê không thể khen, 

Thể dường hư không chẳng bờ mé, 

Gọi nhau kêu nhau về lại đi, 

Thượng nguyên chắc chắn giữa tháng giêng. 

Cuối bài kệ ngài báo cho biết, giữa tháng giêng năm sau sẽ thị tịch. Những câu sau cùng ngài nói rất tha thiết: Thể đường hư không chẳng bờ , gọi nhau kêu nhau về lại đi. Tất cả mọi người đều có thể chân thật đó mà quên, cho nên kêu gọi nhau hãy trở về cái sẵn có của mình đi, đừng chạy tìm chi nữa.

Sang năm, rằm tháng giêng Sư thăng tòa như thường. Thọ trai xong, thị giả cùng quan khách đồng tới phương trượng chỉ thấy cửa nẻo đóng kín. Bèn vào ngõ sau tới trước chõng vén màn thì Sư đã tịch, thọ 74 tuổi, 59 tuổi hạ. 

THIỀN SƯ TÂM ĐẠO Ở VĂN THÙ – phủ HƯỜNG ĐỨC (1058 – 1129)

Sư con nhà họ Từ, quê ở My Châu. Năm ba mươi tuổi được độ làm Tăng, Sư đến Thành Đô học tập Duy thức, tự cho là tột cùng. Có vị tăng đồng chùa hỏi: 

 Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức, nay vạn tượng trước mắt hỗn độn, tâm thức ở đâu? 

Sư mờ mịt không đáp được, bèn ra đi đến sông Giang sông Hoài, rồi đến chùa Thái Bình. Sư nghe thiền sư Phật Giám dạ tham nhắc thoại cây bá trước sân của Triệu Châu, đến Giác Thiết Chủy nói: “Tiên sư không lời này, chớ chê bai Tiên sư.” Nhân đây, Sư nghi rất thiết đề khởi khá lâu, một hôm bỗng nhiên khai ngộ. 

Sau khi xuất gia, ngài chuyên học tập Duy thức và tự cho chỗ hiểu đó là rốt ráo rồi, một hôm bị vị tăng cùng chùa hỏi một câu: Ba cõi duy tâm, muôn pháp duy thức, nay vạn tượng trước mắt hỗn độn, tâm thức ở đâu? Ngài mờ mịt không đáp được, nên lên đường du phương tham vấn các nơi.

Đến chỗ thiền sư Phật Giám, gặp lúc dạ tham, Phật Giám nhắc lại thoại có vị tăng đến hỏi Triệu Châu: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Triệu Châu đáp: “Cây bá trước sân.” Sau, Pháp Nhãn tình cờ gặp Giác Thiết Chủy ở Kim Lăng, Pháp Nhãn hỏi: Từng nghe Triệu Châu nói thế ấy, phải chăng? Giác làm thị giả Triệu Châu, có tiếng là minh nhãn. Tiền sư không lời này, chớ chê bai Tiên sư. Giác Thiết Chủy là đệ tử của Triệu Châu mà nói như thế, nên ngài sanh nghi ngờ, khá lâu mới khai ngộ.

Sư liền chạy đến trượng thất trình sở ngộ. Phật Giám thấy Sư đến liền đóng cửa. Sư thưa: 

 Hòa thượng chớ lừa con. 

Phật Giám bảo: 

Mười phương không tường vách sao chẳng vào cửa? 

Sư liền thoi phủng cửa sổ giấy. Phật Giám liền mở cửa, nắm đứng bảo: – Nói, nói! 

Sư lấy hai tay vòng quanh đầu Phật Giám, dùng miệng cạp một cái rồi đi, làm bài kệ trình: 

Triệu Châu hữu cá bá thọ thoại, 

Thiền khách tương truyền biến thiên hạ,

Đa thị trích diệp dữ tầm chi, 

Bất năng trực hướng căn nguyên hội.

Giác công thuyết đạo vô thử ngữ, 

Chánh thị ác ngôn đương điện mạn

Thiền nhân nhược cụ thông phương nhãn, 

Hảo hướng thử trung biện chân giả. 

Dịch: 

Triệu Châu có một thoại cây bá, 

Thiền khách truyền nhau khắp thiên hạ,

Phần nhiều vạch lá với tìm cành,

Không thể thẳng đến cội nguồn hiểu.

Giác Công nói rằng không lời này,

Chính là lời ác ngay mặt mắng,

Thiền nhân nếu đủ mắt thông suốt, 

Khéo nhằm trong đây biện chân giả. 

Phật Giám rất hài lòng, mỗi khi nói chuyện với khách thường khen ngợi Sư, sau lại chia tòa cùng giáo hóa. 

Cách trình bày chỗ ngộ của ngài rất đặc biệt, không nói lời nào, ôm đầu ông thầy cạp một cái, rồi sau mới làm kệ trình nói lên chỗ ngộ của mình. Phật Giám chấp nhận, mỗi khi cùng khách nói chuyện thường khen ngợi ngài, sau lại chia tòa để cùng nhau giáo hóa.

Thái thú Tương Châu thỉnh Sư khai pháp ở Thiên Ninh, chưa bao lâu lại cử trụ trì chùa Văn-thù. 

Sư thượng đường nói: 

– Sư tử ngáp voi chúa rống, Vân Môn trong Bắc đẩu ẩn thân, Bạch Vân vì sao gọi tác thủ? Chư Phật ba đời không thể biết, mèo đen trâu trắng lại biết có. Hãy nói, thế nào là việc kia biết có? 

Mưa xối hoa lê con bướm lượn, 

Gió đưa tơ liễu xoay tròn bay. 

Chư Phật ba đời không thể biết, mèo đen trâu trắng lại biết có. Sao kỳ lạ vậy? Biết có tức là Tri hữu. Đây nói lên sự tu, nếu nhằm trên ngôn ngữ văn tự mà tu thì không thể thấy được lý thật. Muốn thấy được lý thật thì phải như ngây như ngô, nên nói mèo đen trâu trắng mới biết có.

Sư thượng đường cầm gậy chỉ lên nói: 

– Khi thế ấy đâm phủng gót chân Kiều-thi-ca. 

Sư giộng một cái nói: 

– Khi thế ấy giọng vỡ xương đầu vua Diêm-la. 

Sư chỉ bờ đông nói: 

– Khi thế ấy xỏ qua tròng mắt cá lý ngư ở biển đông. 

Sư chỉ bờ tây nói: 

– Khi thế ấy bít mất lỗ mũi Tây Vương Mẫu. Hãy nói, khi thảy không thế ấy thì sao? Năm nay mưa nước nhiều, mỗi người cần hong phơi. 

Niên hiệu Tuyên Hòa cải nguyên (1119) ra chiếu đổi hiệu Tăng là Đức sĩ. Sư thượng đường nói: 

Tổ ý Tây lai sự, 

Kim triều đặc địa tân,

Tích vi Tỳ-kheo tướng, 

Kim tác Lão quân hình. 

Hạc xưởng phi ngân hạt,

Đầu bao tiêu điệp cân,

Lâm tuyền vô sự khách, 

Lưỡng độ thọ quân ân. 

Dịch: 

Tổ ý việc Tây sang, 

Ngày nay mới hoàn toàn,

Xưa là Tỳ-kheo tướng,

Nay làm hình Lão quân.

Lông hạc kết áo bạc, 

Đầu quấn khăn lá xanh, 

Lâm tuyền khách vô sự, 

Hai lần thọ quân ân. 

Sở dĩ nói, muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết nhân duyên, hãy nói hiện nay là thời tiết gì? Tỳ-lô-giá-na đầu đội bảo quan, vì bày trong chân có tục. Ông già Văn-thù thân mặc áo lông hạc, vì cốt phải tùy thuận thời nghi. Một người đã vậy đông người cũng vậy, cả đoàn thành lập tùng lâm, mừng được quần tiên tụ hội. Cùng rót rượu tiên mê, đồng xướng từ Bộ hư, hoặc xem kinh Linh Bảo độ nhân, hoặc nói thuốc trường sanh bất tử. Đàn cầm dưới trăng, đầu ngón tay phát âm thái cổ, cờ bày trước hiên, nước cờ khéo vượt ngoài thần cơ. Tiến một bước liền đến trên trời Đại La, lùi một bước lại vào trong thành Cửu U. Chỉ như không tiến không thối, một câu lại làm sao nói? 

Dù cho mọc cánh tam thanh lộ, 

Cũng vẫn luân hồi một huyễn thân. 

Đây là giai đoạn vua nhà Tống tin theo đạo sĩ, nên muốn chuyển hết các vị tăng tu ở chùa thành tu tiên. Vì vậy nhà vua mới ban chiếu đổi hiệu tăng là đức sĩ, đức sĩ cũng như đạo sĩ vậy, không gọi là tăng nữa.

Ngài nói, ngày nay đã khác ngày xưa, Tổ ý Tây sang ngày nay đổi mới hoàn toàn, xưa là tướng Tỳ-kheo nay làm hình Lão quân, bây giờ thành tiên hết rồi.

Lâm tuyền khách vô sự, hai lần thọ quân ân. Ngài nói có vẻ nhạo đời. Người tu hành ở núi rừng nay đã trở thành tiên, mình mặc áo hạc, đầu đội khăn xanh. Đó là nhờ ơn vua mà được như vậy. Lần thứ nhất được cho xuất gia làm tăng, lần thứ hai được làm đức sĩ.

Ngài nói châm biếm: Tỳ-lô-giá-na đầu đội bảo quan, Phật mà còn bắt phải đội mũ tiên, vì sao? Vì bày trong chân tục. Phật đội mũ tiên, tức là trong chân đế có tục đế. Ông già Văn-thù thân mặc áo lông hạc, ngài Văn-thù thì mặc áo lông hạc, vì cốt phải tùy thuận thời nghi. Bởi tùy thuận hoàn cảnh mà tu hành, giữ gìn đạo pháp, nên bắt mặc áo lông hạc thì mặc, không có gì ngăn ngại.

Một người đã vậy đông người cũng vậy… Từ Bộ hư tức là bài từ lễ tán xướng kinh của đạo giáo. Đoạn này ngài nhằm diễn tả những hình ảnh của tăng sĩ đã bị chuyển thành đạo sĩ. Ngày xưa chư tăng mặc áo vàng ở nơi tùng lâm, bây giờ mặc áo tiên giống như quần tiên tụ hội, hết còn tùng lâm nữa rồi!

Tháng chín năm thứ hai trở lại hiệu Tăng. Sư thượng đường nói: 

Bất quải điền y trước vũ y, 

Lão quân hình tướng phả tương nghi, 

Nhất niên bán nội nhàn tư tưởng, 

Đại để hưng suy các hữu thì. 

Dịch: 

Chẳng đắp điều y, mặc áo lông, 

Lão quân hình tướng lại tương đồng, 

Một năm rưỡi ấy tư tưởng rảnh, 

Đại để tùy thời có suy hưng. 

Phật Như Lai của ta dự biết pháp có nạn, trong kinh chép rõ thảy đều rành rành. So sánh niên đại chính là khi này, ma được tiện kia mê loạn chánh tông, Tăng đổi hình tục Phật lại danh tự, vọng sanh tà giải cắt sửa văn kinh, chuông khánh im tiếng bình bát thêm chân, nhiều loại dối trá gạt lừa Thánh quân; nhờ hoàng đế bệ hạ ta thánh đức sáng tỏ, chẳng quên dặn dò chẳng phế giáo kia, đặc tứ chấn chương ban hành khắp thiên hạ, vẫn cho tăng ni cạo tóc đắp y như trước. Thật là lò tàn nổi lửa, cây khô lại tươi, chẳng lìa hình tục mà làm hình Tăng, chẳng ra ma giới mà vào Phật giới. Tiếng trống pháp vang, lại chỉnh đốn suy đồi. Rượu tiên mê biến làm quỳnh tương cam lồ, từ Bộ hư đổi thành bản nhạc Hoàn hương. Buông đi ngân mộc giản đưa lên ni-sư-đàn. Ngày trước cúi đầu vòng tay, hôm nay hòa-nam chẳng xét. Chỉ đổi tướng thời xưa, chẳng đổi người thời xưa. Dám hỏi đại chúng, người thời xưa là một là hai? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

Gió thu cũng biết ghét hỗn loạn, 

Thổi hết năm này đạo giáo tro. 

Như vậy, chỉ một năm rưỡi sau thì nhà vua thay đổi, ra chiếu đình chỉ lệnh cũ. Thế nên đến năm thứ hai, ngài đăng tòa nói với vẻ ngạo nghễ: Một năm rưỡi ấy tư tưởng rảnh, đại để tùy thời suy hưng. Hết một năm rưỡi tư tưởng rảnh, cho thấy sự hưng suy có thời, bây giờ mới hết nạn này.

Hòa-nam nói đủ là hoà-nam thánh chúng. Lúc trước gặp nhau chỉ cúi đầu vòng tay, chứ không được chắp tay xá chào, bây giờ được xá trở lại.

Đến cuối ngài nói: Chỉ đổi tướng thời xưa, chẳng đổi người thời xưa. Chỉ có đổi tướng năm trước, chứ đâu đổi được người năm trước. Ngài tiếp: Dám hỏi đại chúng, người thời xưa là một là hai? Người thời xưa là ai, là một hay là hai? Ngài im lặng giây lâu, lại nói: Gió thu cũng biết ghét hỗn loạn, thổi hết năm này đạo giáo tro. Năm nay thổi hết tro đạo giáo rồi, tức là thời pháp nạn đời nhà Tống đã qua.

Mùa xuân niên hiệu Kiến Viêm năm thứ ba (1129), Sư dạy chúng, nhắc nhân duyên Lâm Tế sắp nhập diệt dặn dò Tam Thánh. Sư bảo: 

Chánh pháp nhãn tạng hạt lư diệt,

Lâm Tế hà tằng hữu thị thuyết.

Kim cổ thời nhân giai vọng truyền,

Bất tín đản khán hậu tam nguyệt. 

Dịch: 

Chánh pháp nhãn tạng lừa mù diệt,

Lâm Tế chẳng từng nói thế đâu.

Xưa nay thời nhân vọng truyền cả,

Chẳng tin chỉ ngóng tháng ba sau. 

Nhân dạy chúng, ngài nhắc lại nhân duyên Lâm Tế sắp nhập diệt dặn dò Tam Thánh, rồi nói: Chánh pháp nhãn tạng lừa mù diệt, Lâm Tế chẳng từng nói thế đâu. Xưa nay thời nhân vọng truyền cả, chẳng tin chỉ ngóng tháng ba sau. Tháng ba sau, chỉ cho tháng nhuần. Năm này nhuần tháng ba.

Đến tháng ba nhuần, giặc Chung làm phản, đồ chúng muốn dời Sư chạy sang miền nam, Sư bảo: 

– Học đạo sở dĩ liễu sanh tử, nào có chạy đi đâu. 

Giặc đến, Sư bảo: 

– Mời giết đi, để ngươi vui lòng. 

Giặc liền đưa giáo giết Sư, máu tuôn ra đều thành sữa trắng. Bọn giặc kinh sợ lấy chiếu đậy lại rồi đi. 

Người xưa đạt đạo đâu phải ai cũng ngồi yên tĩnh nhập Niết-bàn. Có vị ra đi an ổn, cũng có vị gặp tai nạn rồi mới ra đi. Thiền sư Nham Đầu bị giặc giết, rống to lên một tiếng rồi chết, ở đây ngài cũng vậy. Chúng ta thông thường nghe nói như thế là ngán sợ, còn các ngài thì không có gì sợ hãi. Các ngài do đã liễu tri sanh tử, thấy sanh tử không thật, hoặc chết cách này hoặc chết cách kia mà thôi. Vậy nên đối với tất cả nợ trước, các ngài đều vui vẻ trả hết, không ngăn ngại, không có gì phải lo lắng sợ hãi như chúng ta.

THIỀN SƯ TRÍ TÀI ở LONG NHA – ĐÀM CHÂU (1067 – 1138) 

Sư con nhà họ Thi, quê ở Thư Châu. Lúc trẻ đã hầu hạ ở pháp tịch Phật Giám, làm công tác chẳng từ khó khăn, tiếng vang cả tùng lâm. 

Sư du phương đến Hoàng Long, gặp thiền sư Tử Tâm ở cổng tam quan hỏi: 

 Từ đâu đến? 

Sư xưng danh, ngài liền biết là Trang chủ Tài ở Thái Bình Thư Châu. 

Trang chủ, tức là người trông coi quản lý vườn ruộng của viện, để lấy tài chánh nuôi tăng chúng tu học.

Trước đó ngài phụ trách văn thư ở pháp tịch của thiền sư Phật Giám rất giỏi, không nệ khó nhọc, tiếng tăm vang cả tùng lâm, được nhiều người biết đến. Vì vậy khi ngài đi du phương, tới chỗ Hoàng Long gặp thiền sư Tử Tâm đang ở cổng tam quan. Tử Tâm hỏi, từ đâu đến? Ngài vừa nói tên, Tử Tâm liền biết đây là Trang chủ Tài ở Thái Bình Thư Châu.

Hôm sau Sư vào thất, Tử Tâm hỏi: 

– Hội được câu tối sơ là hội được câu rốt sau, hội được câu rốt sau liền hội được câu tối sơ. Tối sơ rốt sau ném qua một bên, thoại Bá Trượng dã hồ làm sao hội? 

Sư thưa: 

– Vào cửa đã rành kiến giải của người đến, đâu cần nhắc lại lối nghẽn bùn. 

Tử Tâm nói: 

– Trưởng lão Tâm chết trong tay Thượng tọa. 

Sư thưa: 

– Ngữ ngôn tuy có khác, chí lý vẫn không sai. 

Tử Tâm hỏi: 

– Thế nào là việc không sai? 

Sư thưa: 

– Chẳng gõ sừng Hoàng Long, đâu biết châu dưới hàm. 

Tử Tâm liền đánh. 

Thiền sư Tử Tâm thấy ngài vào thất liền hỏi, là muốn dọ dẫm xem đã thấu suốt hay chưa, ngài trả lời:

Vào cửa đã rành kiến giải của người đến, đâu cần lại nhắc lối nghẽn bùn. Nghĩa là đã biết kiến giải của người đến rồi, còn nhắc chi chuyện quanh co rối rắm vô ích.

Tử Tâm nói: Trưởng lão Tâm chết trong tay Thượng tọa. Ông nói thế đó, tức là ta đã chết trong tay ông rồi! Ngài cứu lại: Ngữ ngôn tuy khác, chí lý vẫn không sai. Về ngữ ngôn tuy có khác nhau, nhưng chỗ chí lý vẫn không sai khác, ngài chết thì tôi cứu vậy.

Tử Tâm gạn lại: Thế nào là việc không sai? Ngài trả lời: Chẳng gõ sừng Hoàng Long, đâu biết châu dưới hàm. Tử Tâm liền đánh. Tử Tâm hỏi, ngài đáp như thế, Tử Tâm liền đánh là sao? Cái đánh của Tử Tâm là phạt hay thưởng, là khen hay chê? Hoàng long là con rồng vàng, cũng là chỗ Tử Tâm ở, tức nhằm chỉ cho thiền sư Tử Tâm. Nếu không gõ sừng con rồng vàng thì đâu biết ở dưới hàm nó có hạt châu. Nhờ có đối đáp với ngài, nên mới biết ngài có hạt châu. Đây gọi là một hồi hạ, một hồi nâng, do đó Tử Tâm liền đánh.

Buổi đầu Sư trụ Nhạc Lộc, ngày khai đường Tăng hỏi: 

– Đức Sơn đánh, Lâm Tế hét, ngày nay thỉnh Thầy vì niêm xuyết (nêu lên thiền cơ).

Sư đáp: 

– Tố-rô-tố-rô. 

Tăng hỏi: 

– Tố-rô-tố-rô lại có ý Tây lại hay không? 

Sư đáp: 

 Tố-rô-tố-rô. 

Do đây tùng lâm gọi Sư là Tài Tố-rô. 

Về sau ngài trụ ở Nhạc Lộc, thường có người thưa hỏi bất cứ điều gì, ngài đều đáp tốrô-tố-rô chứ không giải thích.

Sau Sư dời trụ Long Nha. Sư thượng đường khảy móng tay một cái nói: 

 “Khảy tay trọn thành tám vạn môn, sát-na diệt hết tam kỳ kiếp.” Nếu cùng thấy được hành được, khỏe thì kinh hành, mệt thì nghỉ. Nếu cũng chẳng hội, lại con cồng cộc mổ con trạnh. 

Thượng đường, ngài khảy móng tay một cái rồi dẫn câu trong Chứng Đạo Ca: Khảy tay trọn thành tám vạn môn, sát-na diệt hết tam kỳ kiếp. Rồi nói: Nếu cùng thấy được, hành được, khỏe thì kinh hành, mệt thì nghỉ. Nếu thấy được hành được thì khảy móng tay liền thành tám vạn môn, hoặc là trong một sát-na diệt hết ba kỳ kiếp. Người nào được như thế thì khỏe đi kinh hành, mệt nghỉ, không còn vấn đề gì phải lo. Còn người chưa hội được thì sao? Nếu cũng chẳng hội, lại con cồng cộc mổ con trạnh.

Sư thượng đường nhắc: 

– Hòa thượng Tử Tâm tiểu tham nói: Nếu luận việc này, như nhà người có ba con. Đứa thứ nhất thông minh trí tuệ hiếu dưỡng cha mẹ, tiếp đãi khách khứa coi sóc gia nghiệp. Đứa thứ hai hung hăng gian giảo nghiện rượu mê gái, nằm bờ té bụi phá hoại gia nghiệp. Đứa thứ ba mù điếc câm ngọng, đậu thóc chẳng phân, mọi việc không rành, chỉ biết ăn uống. Trong ba người này, Hoàng Long cần chọn một người dùng. Lại có bốn câu: trong chết có sống, trong sống có chết, trong chết thường chết, trong sống thường sống. Đem bốn câu này nghiệm thiền tăng trong thiên hạ. 

Sư nói: 

– Gọi cái gì là bốn câu? Ba người tên họ là gì? Nếu hay hiểu được, cùng Hoàng Long nắm tay đồng đi, lại không mảy may ngăn cách. Nếu chưa như thế, chẳng khỏi mượn nước dâng hoa vậy. 

Tam nhân cộng thể dụng phi dụng, 

Tứ cú đồng âm không bất không. 

Dục thức tam nhân tịnh tứ củ,

Kim ô sơ xuất nhất đoàn hồng. 

Dịch: 

Ba người chung thể dụng phi dụng,

Bốn câu đồng âm không chẳng không.

Muốn biết ba người cùng bốn câu, 

Quạ vàng mới mọc một vầng hồng. 

Ngài nhắc lại câu nói của Hoàng Long: Nếu luận việc này, như nhà người có ba con. Đứa thứ nhất thông minh trí tuệ hiếu dưỡng cha mẹ, tiếp đãi khách khứa coi sóc gia nghiệp. Đó là nghiệp thiện.

Đứa thứ hai hung hăng gian giảo nghiện rượu mê gái, nằm bờ té bụi phá hoại gia nghiệp. Đó là nghiệp ác.

Đứa thứ ba mù điếc câm ngọng, đậu thóc chẳng phân, mọi việc không rành chỉ biết ăn uống. Đứa thứ ba thì chỉ biết đói ăn mệt ngủ. Vậy trong ba đứa này, ngài Hoàng Long chọn đứa nào? Đứa thứ ba là đứa được chọn, vì chú này không có phân biệt thân sơ.

Ngài nhắc lời của Hoàng Long xong, liền hỏi: Gọi cái gì là bốn câu? Ba người tên họ là gì? Ngay lời nói này, nếu nhận được bốn câu và ba người của Hoàng Long thì cùng Hoàng Long nắm tay đồng đi, lại không mảy may ngăn cách. Còn người không nhận hiểu được thì chẳng khỏi mượn nước dâng hoa, chỉ là kẻ mượn nước dâng hoa mà thôi.

Ngài bình: Ba người chung thể dụng phi dụng. Ba người đó là chung thể, dụng phi dụng tức dụng mà chẳng phải dụng. Bốn câu đồng âm không chẳng không. Bốn câu âm giống nhau, tuy không mà chẳng phải không.

Muốn biết ba người cùng bốn câu, quạ vàng mới mọc một vầng hồng. Muốn biết ba người cùng bốn câu của Hoàng Long thì phải làm sao? Mặt trời mới lên một vàng hồng.

Sư trụ Long Nha mười ba năm, dùng thanh đạm khổ hạnh tiếp chúng, thiền tăng đều kính quý. Sau Sư dời trụ Vân Khê được bốn năm. 

Cuộc đời của ngài Trí Tài, lúc còn làm thiền khách thì chịu cực chịu khổ đi tham vấn đó đây, đến khi làm thầy thì sống thanh đạm khổ hạnh, tiếp tăng độ chúng tu học. Do đó ngài luôn được mọi người quý trọng.

Đến niên hiệu Thiệu Hưng năm Mậu Ngọ (1138) ngày rằm tháng tám, Sư họp chúng giao việc chùa, viết kệ rằng: 

Mậu Ngọ trung thu chi nhật

Xuất gia trụ trì sự tất, 

Lâm hành tự kỷ thượng vô,

Hữu thậm hư không khả mịch. 

Dịch: 

Ngày trung thu năm Mậu Ngọ 

Xuất gia trụ trì việc xong, 

Sắp đi chính mình còn không, 

Có gì hư không khá kiếm. 

Sư dạy dỗ như thường. 

Sắp tịch, ngài giao việc chùa rồi viết kệ nhắc nhở tăng chúng: Ngày trung thu năm Mậu Ngọ, xuất gia trụ trì việc xong. Đến ngày trung thu năm Mậu Ngọ này, việc xuất gia, làm trụ trì… đã xong hết rồi.

Sắp đi chính mình còn không, có gì hư không khá kiếm. Sắp ra đi chính mình còn không thật, còn tìm kiếm cái gì nữa? Nếu cho rằng có gì thì hãy kiếm trong hư không đi!

Sau đó ngài dạy dỗ tăng chúng như lệ thường.

Đến ngày hăm ba, Sư lại họp chúng dạy: 

-Niết-bàn sanh tử trọn là hoa đốm trong không, Phật và chúng sanh đều là tăng ngữ. Cả thảy các ông nên phải làm sao? 

Chúng đều hạ ngữ mà không hợp. Sư hét: 

– Khổ! Khổ! 

Lại nói: 

– Mây trắng vọt lên, trăng sáng tại trời. 

Nói xong, Sư lặng yên thị tịch. 

Đến ngày hăm ba ngài lại họp chúng dạy: Niết-bàn sanh tử trọn là hoa đốm trong không. Chúng ta bấy lâu nay si mê, nên cứ ở trong sanh tử. Vì muốn thoát ly sanh tử, nên hướng đến Niết-bàn. Như vậy, sanh tử là đối với Niết-bàn mà nói. Nếu thấy sanh tử không thật, tức là vượt khỏi sanh tử. Sanh tử đã không thật thì Niết-bàn có thật hay không? Cũng thảy là hoa đốm trong hư không mà thôi.

Như chúng ta, có lúc nghĩ tốt có lúc nghĩ xấu. Nghĩ tốt thì nói tâm tôi đang nghĩ tốt, nghĩ xấu thì nói tâm tôi đang nghĩ xấu. Vậy khi không nghĩ tốt không nghĩ xấu, lúc đó có tâm hay không? Tuy không nghĩ ác cũng không nghĩ thiện, nhưng mắt vẫn biết thấy, tai biết nghe sáng rỡ, chứ đâu phải không có mình, chỉ là không có niệm thiện ác mà thôi. Đừng lầm tưởng lúc không nghĩ thiện không nghĩ ác là không có tâm mình. Chỗ này rất tế nhị, nếu lầm một chút thì thành bệnh, cho nên người tu cần phải cẩn thận.

Nhiều người không hiểu, nghe nói Niết-bàn sanh tử đều như hoa đốm trong không, rồi cho rằng tu là cốt được Niết-bàn để giải thoát sanh tử, mà đã không Niết-bàn không sanh tử thì tu để làm gì? Đó là một vấn đề dễ bị hiểu lầm.

Phật và chúng sanh đều là tăng ngữ. Cả thảy các ông nên phải làm sao? Tăng ngữ tức lời nói thêm, nói thừa. Nói chúng sanh hay Phật cũng chỉ là lời thừa. Giả sử có ai hỏi tu làm gì, chắc hẳn mình sẽ trả lời tu để thành Phật, hẳn nhiên là vậy, tại sao ở đây ngài lại bảo đều là tăng ngữ? Nếu không thành Phật thì tu làm gì? Điều này chúng ta cần phải thấy cho thật rõ, đừng để lúng túng khi tu.

Danh từ Phật là đối với chúng sanh mà nói. Bởi mê nên gọi chúng sanh, giác ngộ thì gọi là Phật. Chừng nào hết mê, tức là hết chúng sanh thì lúc đó là Phật. Hết là hết cái mê, chứ không phải hết Phật. Phải biết như vậy.

Sở dĩ chúng ta bị lầm là vì luôn luôn ở trong đối đãi. Cho nên các ngài nói mê nói giác, gọi Phật gọi chúng sanh, cũng chỉ là nương trên đối đãi mà dựng lập, để chỉ dạy cho chúng ta tu. Bởi chúng sanh tâm còn suy nghĩ theo thiện ác, nên phải bảo họ nghĩ thiện để bỏ nghĩ ác. Nếu đến lúc tâm họ không còn nghĩ ác thì đâu cần phải nói nghĩ thiện làm gì. Chỗ không đối đãi mà nói Phật nói chúng sanh cũng là lời thừa. Đến chỗ cứu cánh, tâm thể mới sáng rỡ tròn đầy, còn một mảy may thiện ác tức vẫn là mảnh vụn của tâm mà thôi.

Như khi chúng ta ngồi thiền, không nghĩ thiện không nghĩ ác, lúc đó tâm lặng lẽ trùm khắp. Nhưng bất chợt dấy niệm suy nghĩ đây kia, lập tức tâm không còn trùm khắp nữa. Niệm dấy khởi tự bọt trên biển, chợt nổi chợt tan, không thật. Người không biết, cho niệm nghĩ suy là tâm mình, chẳng khác nào kẻ lầm nhận bọt bóng, không thể thấy được biển cả mênh mông. Nếu biết niệm tưởng chỉ là những lượn sóng dấy lặng, không phải toàn thể của tâm, thì tâm chân thật hiện tiền.

Tại sao ngài nói Khổ! Khổ! Bởi vì toàn chúng mà không có một người đáp được. Kêu khổ xong, ngài nói tiếp: Mây trắng vọt lên, trăng sáng tại trời. Ban đêm có trăng sáng rỡ, nhưng mây nổi lên thì bầu trời liền bị ngăn che khuất lấp mất rồi.

Nói xong, ngài lặng yên thị tịch.

THIỀN SƯ THỦ TUẦN PHẬT ĐĂNG HÀ SƠN – AN KIẾT CHÂU (1079-1134) 

Sư con nhà họ Thi ở bản quận (An Kiết Châu). Trước đến tham vấn thiền sư Anh ở Quảng Giám mà không khế hội, Sư sang chùa Thái Bình theo chúng thưa hỏi vẫn không có chỗ vào. Sư bèn cột cái chăn lại thệ rằng: “Đời này nếu không triệt, thề chẳng trải cái chăn này.” 

Khi ấy, Sư ngày ngồi đêm đứng, như đám tang cha mẹ. Trải qua bốn mươi chín ngày, chợt Phật Giám thượng đường nói: “Sum la cùng vạn tượng là sở ấn của nhất pháp”, Sư liền đốn ngộ đến yết kiến Phật Giám. Phật Giám nói: 

– Đáng tiếc một viên minh châu bị gã phong điên này lượm được. 

Tinh thần tu hành của ngài thật mạnh mẽ. Người xưa đi hành cước chỉ quảy một cái đãy, trong đó gói y hậu và chăn, người miền Nam gọi là cái mền, chăn vừa để trùm đắp vừa dùng làm chiếu luôn. Ngài thệ nguyện, tu mà không ngộ, nhất định không trải chăn ra, tức là không nằm. Từ đó, ban ngày ngồi ban đêm đứng, suốt bốn mươi chín ngày đêm như thế.

Người xưa chí khí cao tột, quyết liều sống chết để tu hành, cho nên các ngài mới đạt đạo. Đức Phật Thích-ca khi mới tới dưới cội Bồ-đề, ngài trải tòa thệ nguyện: Nếu không thành đạo, dù cho thịt nát xương tan cũng không rời khỏi gốc cây này. Phật lập chí kiên trì như thế, đến đêm thứ bốn mươi chín, ngài giác ngộ thành Phật. Tổ Hiếp Tôn Giả nguyện hông không dính chiếu v.v… Nếu không đạt đạo thì nhất định không nằm. Ở trong chúng đây, có ai phát tâm được như vậy không? Gan dạ, phát nguyện mạnh, không sợ gian khó hiểm nguy, nhất định sẽ thành đạo. Người tu mà sợ sệt e dè, muốn nhàn hạ qua ngày thì biết tới bao giờ mới thành tựu đạo quả!

Bèn hỏi Sư: 

– Linh Vân nói: “Sau ngày thấy được hoa đào ấy, thẳng đến ngày nay vẫn chẳng nghi.” Thế nào là chỗ không nghi của Linh Vân? 

Sư thưa: 

– Chớ nói Linh Vân chẳng nghi, chính nay tìm chỗ nghi trọn không thể được. 

Phật Giám bảo: 

– Huyền Sa nói: “Đúng thì đúng đó, dám bảo lão huynh còn chưa triệt.” Trong đây chỗ nào kia chưa triệt? 

Sư thưa: 

– Biết rõ Hòa thượng tâm lão bà tha thiết. 

Phật Giám nhận đó. Sư lễ bái đứng dậy trình kệ: 

Chung nhật khán thiên bất cử đầu, 

Đào hoa lạn mạn thủy đài mâu. 

Nhiều quân cánh hữu già thiên võng,

Thấu đắc lao quan tức tiện hưu. 

Dịch: 

Suốt ngày ngó trời chẳng ngước đầu,

Hoa đào rực rỡ mới ngẩng cao. 

Dù anh lấy lưới che trời lại, 

Thấu được lao quan liền nghỉ ngơi. 

Phật Giám dặn dò khiến hộ trì. Đêm ấy Phật Giám nghiêm trang nói với chúng: 

– Khi này Thượng tọa Tuần ngủ yên ổn rồi vậy. 

Phật Giám thấy biết ngài đã đạt đạo, nhưng vẫn còn dọ dẫm thêm, nên dẫn hai câu trong bốn câu thơ của Linh Vân sau khi thấy hoa đào ngộ, gạn hỏi ngài. Thế nào là chỗ không nghi của Linh Vân? Ngài thưa: Chớ nói Linh Vân chẳng nghi, chính nay tìm chỗ nghi trọn không thể được. Nói gì ngày xưa Linh Vân không nghi, chính như con hiện nay, tìm chỗ nghi cũng trọn không thể được.

Đúng thì đúng đó, dám bảo lão huynh còn chưa triệt. Câu nói của ngài Huyền Sa khiến người ta tưởng lầm Linh Vân chưa ngộ, ngài Phật Giám nêu ra, rồi hỏi lại: Trong đây chỗ nào kia chưa triệt? Ngài thưa: Biết Hòa thượng tâm lão tha thiết. Biết rõ chỗ ngộ của con rồi mà còn dọ dẫm gạn lại, đó chính là tâm từ bi tha thiết của Hòa thượng. Nghe thưa như thế, Phật Giám chấp nhận không gạn hỏi ngài nữa. Ngài đảnh lễ Phật Giám, rồi đứng lên trình kệ:

Suốt ngày ngó trời chẳng ngước đầu, hoa đào rực rỡ mới ngẩng cao. Trọn ngày nhìn trời mà không ngẩng đầu, đến khi hoa đào rực rỡ mới thấy.

Dù anh lấy lưới che trời lại, thấu được lao quan liền nghỉ ngơi. Dù có lưới che được cả trời đất, cũng phải vượt qua lao quan mới xong việc. Lao quan tức là cửa chót, từ này trong nhà thiền hay dùng. Nếu chưa qua khỏi cửa này thì việc tu cũng chưa xong.

Viên Ngộ nghe được nghi chưa đúng, bèn nói: 

– Ta phải khám qua mới được. 

Bèn sai người mời Sư đến, cùng Sư đi dạo núi, bỗng đến một cái đầm, Viên Ngộ xô Sư té xuống nước. Viên Ngộ đứng trên hỏi: 

– Ngưu Đầu khi chưa thấy Tứ Tổ thì thế nào? Sư đáp: – Đầm sâu cá tụ. 

Viên Ngộ hỏi: – Sau khi thấy thế nào? 

Sư đáp: – Cây cao vời gió. 

Viên Ngộ hỏi: 

– Khi thấy cùng chưa thấy thì thế nào? 

Sư đáp: – Duỗi chân ở trong rút chân. Viên Ngộ rất khen ngợi. 

Viên Ngộ là Phật Quả, cùng với Phật Giám và Phật Nhãn là ba huynh đệ, được người đương thời gọi là ba ông Phật. Như vậy đối với Viên Ngộ thì ngài thuộc hàng cháu.

Phật Giám nói với chúng: Khi này Thượng tọa Tuần ngủ yên ổn rồi vậy. Tức là Thượng tọa Tuần hôm nay đã ngộ đạo rồi. Viên Ngộ nghe được nghi ngờ, bởi vì chỗ ngộ của Viên Ngộ vượt hơn người thường, nên muốn khám qua xem ngài đã thật ngộ hay chưa, bèn mời tới rủ đi dạo núi.

Hai người cùng đi ngang qua đầm nước, Viên Ngộ xô ngài té nhào. Hành động này là dồn đến chỗ ngặt. Trong khi té nhào xuống đầm, đang lui cui đứng dậy, tâm trí đâu mà nghĩ suy đạo lý. Ngay lúc đó, Viên Ngộ hỏi liền: Ngưu Đầu khi chưa thấy Tứ Tổ thì thế nào? Ngài đáp: Đầm sâu cá tụ. Đầm nước sâu thì cá tụ lại nhiều. Viên Ngộ hỏi tiếp: Sau khi thấy thế nào? Ngài đáp: Cây cao vời gió. Cây nào cao hơn những cây khác thì cây đó hứng gió nhiều hơn.

Viên Ngộ lại hỏi: Khi thấy cùng chưa thấy thì thế nào? Ngài đáp: Duỗi chân trong rút chân. Ngưu Đầu khi chưa thấy Tứ Tổ và sau khi thấy, chẳng qua chỉ như duỗi chân trong cái rút chân mà thôi. Bởi có co chân nên mới duỗi chân, song co chân hay duỗi chân cũng không lìa ngoài cái chân hiện tại.

Như vậy, ngộ là ngộ cái sẵn có chứ đâu gì khác. Lúc chưa gặp Tứ Tổ cũng đâu mất, sau khi gặp Tứ Tổ vẫn chẳng thêm. Chẳng qua chỉ là trước sẵn có mà không thấy, nay gặp Tổ gợi lại mới thấy. Giống như co chân rồi duỗi ra, hai trạng thái tuy có khác nhau nhưng cũng cùng một cái chân mà thôi. Lối nói nghe rất thường, mà trong đó diễn đạt được chỗ thấy đạo lý chân thật của các ngài.

Qua ba câu đáp trên cho thấy ngài rất bình thản, dù trong tình huống bất ngờ đạo lý vẫn hiện tiền, không cần suy nghĩ.

Phật Giám dời đến Tương Sơn, sai Sư phân tòa thuyết pháp. Kế, Sư trụ Hòa Sơn Lê Lăng. Sư thối Hòa Sơn lui về cố hương ở ẩn. Tăng tục đón Sư ở chùa Thiên Thánh. Sau Sư trụ Hà Sơn và Thiên Ninh. 

Sư thượng đường: 

– Cây dùi xoay, chiếc búa ở núi, Phật tổ ra đời chưa dễ cho, dù khiến đề hồ đầy thế gian, ông không bát báu làm sao lấy. A ha ha! Thần Sơn đập lưới, Đạo Ngô múa, dưa ngọt tột gốc ngọt, dưa đắng rễ cũng đắng. 

Cây dùi xoay là chỉ cho “cây dùi đời Tần”, lời của ngài Mục Châu khi Vân Môn đến tham vấn. Chiếc búa ở núi là nói về câu chuyện của ngài Thạch Đầu Hy Thiên.

Đoạn này ngài muốn nói gì? Ngài dẫn những câu chuyện xưa để chỉ cho thấy, việc ấy nếu không phải là người nhạy bén, hàng căn cơ bậc thượng thì Phật tổ có ra đời cũng không làm gì được. Như người muốn thọ dụng đề hồ thì cần phải có bát báu mới đựng được.

Sư thượng đường nhắc thoại bà già đốt am. Sư nói: 

– Phò tông lập giáo phải là người kia. Ông xem, bà già nọ tuy là nữ nhân vẫn có tác lược trượng phu, hai mươi năm hao dầu tốn tương vẫn là khá biết. Một hôm nhằm trên đầu sào trăm trượng, đẩy cái rơi mất, đến nỗi dùng hết sức bình sinh cổ tay. Nếu chẳng phải kẻ tục biết, cơ tưởng là khéo trọn thành vụng. Song tuy như thế, các người cần hội chăng? Sau tuyết mới biết sức tùng bá, việc khó mới thấy tâm trượng phu. 

Thượng đường ngài nhắc lại thoại Bà già đốt am. Có một bà già phát tâm cất am thỉnh Tăng nhập thất, bà cúng dường tứ sự đầy đủ, chúng tăng khỏi phải lo lắng gì hết, chỉ tu mà thôi. Hai mươi năm trôi qua, một hôm bà bảo đứa cháu gái đem cơm cho thầy mỗi ngày, bữa nay vào đưa cơm xong tới ôm thầy rồi hỏi: Ngay bây giờ Thầy thấy thế nào? Đứa cháu gái làm y lời bà bảo, vị thầy trả lời: Cây khô tựa núi lạnh, ba đông không hơi ấm. Thầy nói tâm mình đang như vậy đó, tức là tới chỗ lặng lẽ thôi dứt rồi. Quá hay! Vậy mà khi đứa cháu về thuật lại, bà nghe xong liền nói: Uổng công hai chục năm chỉ nuôi một ông thầy vô dụng. Xong bà tới đốt am, đuổi thầy đi.

Thầy tu hành rất chính chắn, gặp người nữ ôm mà không một niệm dấy động, tâm lạnh như tro tàn, không thấy có một chút hơi ấm. Nếu là chúng ta chắc phục lắm. Lẽ ra bà phải mừng và kính trọng Thầy, nhưng tại sao lại đốt am đuổi đi, bà tàn nhẫn quá phải không? Bởi người tu đến chỗ lặng lẽ thanh tịnh rồi chìm lặng nơi đó không phát khởi diệu dụng thì chỉ là nước chết. Chính chỗ này trong nhà thiền nói, nước chết không chứa được rồng, vì không làm được lợi ích gì cho ai cả.

Bà già tuy là cư sĩ mà sức tu vượt trội, không phải hạng tầm thường. Nghe đứa cháu gái về thuật lại, bà liền biết vị thầy này tu tới đâu. Thế nên ngài khen, bà già nọ tuy là nữ nhân vẫn có tác lược trượng phu, hai mươi năm hao dầu tốn tương vẫn là khá biết. Hai mươi năm hao dầu tốn tương nuôi cho Thầy tu, đến khi nghe Thầy nói mới biết Thầy tu hành chưa tới đâu.

Bởi thế nên, một hôm nhằm trên đầu sào trăm trượng đẩy cái rơi mất, đến nỗi dùng hết sức bình sinh cổ tay. Nếu chẳng phải kẻ tục biết, tưởng là khéo trọn thành vụng. Bà già biết Thầy tu tới chỗ lặng yên, sợ Thầy chìm lặng rồi hài lòng ngang đó không tiến lên nữa, nên bà đốt am để cảnh tỉnh Thầy. Bởi vì khi tu tới không còn ngã không còn nhân, tức là mục thứ tám trong Mười mục chăn trâu, nhà thiền gọi là đầu sào trăm trượng, đây là chỗ khô lạnh, cần phải nhảy qua mới được.

Song tuy như thế, các người cần hội chăng? Sau tuyết mới biết sức tùng bá, việc khó mới thấy tâm trượng phu. Đây là câu châm ngôn của Trung Hoa. Nghĩa là, sau mùa đông tuyết phủ cây cối rụng lá hết, chỉ có cây tùng cây bá còn xanh, qua đó mới biết sức mạnh của tùng bá. Bình thường ai cũng nói hay nói tốt, tới lúc gặp việc khó khăn mới thấy được ai là trượng phu, ai không phải trượng phu. Thế nên muốn biết người tài ba giỏi giang, có bản lĩnh cứng cỏi hay không, phải ngay lúc gặp việc khó khăn mà nhận biết.

Sư thượng đường: 

Như Lai thiền Tổ sư đạo 

Thiết kỵ tương tâm ngoại biên thảo, 

Tùng môn sở đắc tức phi trân, 

Đặc địa mai tàng y lý bảo. 

Thiền gia lưu tu cập tảo 

Bát động Tổ sư quan lệ, 

Đẩu tẩu đa niên bố áo. 

Thị phi hủy dự phó chi không, 

Thụ khoát hoành trường hồn kháp hảo. 

Quân bất kiến Hàn Sơn lão 

Chung nhật hy hy, trường niên bả tảo, 

Nhân vấn kỳ trung sự nhược hà? 

Nhập hoang điền bất giản, tín thủ niêm lai thảo. 

Tham! 

Dịch: 

Như Lai thiền, Tổ sư đạo 

Tối kỵ đem tâm bên ngoài thảo, 

Từ cửa mà được tức phi trận, 

Hoàn toàn giấu kín báu trong áo.

Hàng thiền gia phải đến sớm 

Mở toang cây chốt cửa Tổ sư,

Giặt giũ lâu năm chiếc áo vải.

Phải quấy khen chê gửi cho Không,

Đứng rộng ngang dài lẫn nhau tốt.

Anh chẳng thấy, Hàn Sơn lão 

Trọn ngày vui cười, năm dài quét,

Người hỏi trong kia việc thế nào? 

Vào ruộng hoang chẳng lựa, nắm lấy đưa ra cỏ. 

Tham! 

Như Lai thiền, Tổ sư đạo,

Tối kỵ đem tâm bên ngoài thảo.

Như Lai thiền hay Tổ sư thiền, cũng phải ngay nơi tâm mình mà nhận lấy, chứ đừng thảo luận ở bên ngoài, nói cái này hay cái kia dở… Bàn nói thiền đạo vẫn là những thứ bên ngoài, không đi tới đâu.

Từ cửa mà được tức phi trân,

Hoàn toàn giấu kín báu trong áo.

Thứ gì từ ngoài cửa mà được, tức cái đó không phải trân bảo nhà mình. Thế nên, nếu cứ tìm ngoài cửa thì ngọc quý của mình đã bị chôn kín trong áo rồi.

Hàng thiền gia phải đến sớm 

Mở toang cây chốt cửa Tổ sư. 

Người tu thiền cần phải mở toang ra chốt cửa của Tổ sư, để tự mình có thể sớm vào cửa. Mở được cửa vào bên trong rồi còn làm gì nữa?

Giặt giũ lâu năm chiếc áo vải.

Chiếc áo vải nhơ bẩn đã để quên nhiều năm, nên cần phải giặt giũ ngay cho hết hôi hám.

Phải quấy khen chê gửi cho Không, 

Đứng rộng ngang dài lẫn nhau tốt.

Phải quấy khen chê gửi cho Không, một câu này đủ tu cả đời. Phải quấy, khen chê v.v… đều gửi cho Không giải quyết. Mặc người thị phi, chúng ta chỉ lo tu, chẳng cần bận tâm vào những thứ đó. Phải quấy khen chê giũ sạch, trả nó về không, đừng để phiền não dấy khởi.

Như chúng ta hiện giờ đang tu, nhưng đôi khi cũng có phiền não với nhau là tại cái gì? Tại phải quấy khen chê không chịu trả về Không, không chịu gửi cho Không, mà cứ gửi vào kho Như Lai. Phải đem vô, quấy cũng đem vô, khen chê đều đem vô chứa. Đến khi ngồi rảnh thì mở kho ra nhớ lại, rồi vui buồn thương ghét, khiến cho phiền não khuấy động thân tâm.

Bởi gửi vô nhiều quá, bao nhiêu năm cứ đem vô gửi, nên giặt giũ hoài mà không sạch. Nếu chúng ta biết khéo ứng dụng như lời dạy này, việc tu khỏe biết chừng nào. Khen chê phải quấy đều buông, vui vẻ tỉnh sáng, nằm xuống ngủ liền chẳng có việc gì buồn lo. Sở dĩ buồn lo là vì có chấp chứa, chấp chứa nên mới có bận tâm. Gửi cho Không hết, trong lòng đâu có gì vướng bận mà vui hay buồn.

Mỗi người tu chúng ta có muốn giặt giũ chiếc áo của mình cho mau sạch không? Nếu muốn áo sạch thì phải nhớ, tất cả lời khen tiếng chê, câu phải câu quấy… đều gửi cho Không, đừng chứa đừng giữ. Áp dụng được như vậy là tu rồi, không cần nói dụng công phu chi nhiều. Chỉ một chữ Không, hết sức nhẹ nhàng. Nhiều khi tức cười cho mình, phải quấy khen chê… cái gì cũng đem vô chứa. Chứa đầy bên trong cho nó tràn lên, rồi giận ghét nổi dậy phải gắng đè xuống, ráng nhẫn, cho đó là tu.

Chúng ta thường than tu sao khó quá, mà bảo gửi hết cho Không thì không chịu gửi. Việc gì đến khéo buông xả, trả cho về Không hết, ngồi tu yên ổn, không có gì để phiền não, không có gì phải ráng đè, tu được như vậy thì lúc nào cũng vui. Ngài diễn tả chỗ này qua hình ảnh rất đẹp: Đứng rộng ngang dài lẫn nhau tốt. Người biết gửi cho Không thì rộng bao nhiêu dài bao nhiêu cũng đều tốt, không có gì gọi là bận rộn.

Anh chẳng thấy, Hàn Sơn lão 

Trọn ngày vui cười năm dài quét,

Người hỏi trong kia việc thế nào?

Vào ruộng hoang chẳng lựa, nắm lấy đưa ra cỏ.

Ngài Hàn Sơn công quả ở chùa Quốc Thanh, ông già này không làm gì hết, suốt năm quét chùa quét sân mà lúc nào cũng vui cười. Sao ngài cười hoài được? Bởi vì phải quấy khen chê gửi cho Không hết rồi, có gì bận lòng nữa đâu mà buồn. Có ai đến hỏi việc ấy thế nào, liền như người vào ruộng hoang nhổ cỏ đưa ra, không suy nghĩ không lựa chọn.

Đoạn này dường như ngài nói về Hàn Sơn, nhưng qua đó là ngầm chỉ việc tu để nhắc nhở mọi người. Có nhiều người khi tu luôn chăm bẳm, gắng dụng công phu nhưng chẳng tới đâu, vì phải quấy hơn thua cứ đem để trong tâm. Hiểu rõ rồi mới thấy việc tu đơn giản nhẹ nhàng.

Tăng hỏi: – Thế nào là khách trong khách? 

Sư đáp: – Đường khách như trời dài, hầu môn tợ biển sâu. 

Tăng hỏi: – Thế nào là khách trong chủ? 

Sư đáp: 

– Dài bởi chỗ tiễn khách, nhớ được khi nhà riêng. 

Tăng hỏi: – Thế nào là chủ trong khách? 

Sư đáp: – Gặp nhau chẳng thiết hỏi tiền trình. 

Tăng hỏi: – Thế nào là chủ trong chủ? 

Sư đáp: 

– Một sớm quyền Tổ lệnh, ai là người xuất đầu. 

Tăng hỏi: 

– Khách chủ đã nhờ Thầy chỉ dạy, hướng thượng tông thừa việc thế nào? 

Sư đáp: – Đem hỏi hướng thượng lại. 

Tăng hỏi: – Thế nào là việc hướng thượng? 

– Biển cả nếu biết đủ, trăm sông phải ngược dòng. 

Tăng lễ bái. Sư nói: 

– Thượng tọa Tuần ba mươi năm học được đấy. 

Dài nhân chỗ tiễn khách, nhớ được khi nhà riêng. Là sao? Dài nhân chỗ tiễn khách, như khi chúng ta tiễn những người khách thân quen đi đâu, lúc đó vì lưu luyến nhau nên thời gian tiễn biệt kéo dài. Từ ngắn mà kéo thành dài, nên nói dài nhân chỗ tiễn khách. Nhớ được khi nhà riêng, tức là những chuyện vui buồn, bình thường do công việc bề bộn lăng xăng nên không nhớ, đến khi chỉ riêng một mình hoặc được vào thất yên tu, lúc đó ngồi nhớ đủ thứ linh tinh.

Tóm lại, đoạn này ngài giải thích về bốn câu chủ khách trong tông Lâm Tế, ở đây chúng ta không phải giải thích thêm.

Sư thường bảo chúng: 

– Huynh đệ! Như có chỗ tỉnh ngộ, chẳng nệ thời tiết nhân duyên mời đến bày tin tức ấy. 

Ngài bảo, nếu người nào muốn tỉnh ngộ thì không cần đợi thời tiết nhân duyên, tức là không phải đợi đúng lúc mới được, mà bất cứ khi nào cứ đến trình tin tức ấy với ngài.

Đêm tuyết có vị tăng đến gõ cửa phương trượng, Sư dậy cầm đuốc nghiêm chỉnh nạt rằng: 

– Tuyết dày nửa đêm cầu giải quyết tình nghi, tại sao mà chẳng đủ oai nghi? 

Tăng ngoái xem chiếc áo. Sư đuổi ra khỏi viện. 

Như vậy là ngài lừa phải không? Đã bảo không cần thời tiết nhân duyên, bất cứ lúc nào nếu ông ngộ thì cứ đến. Vị tăng này nửa đêm tới gõ cửa trình, ngài cầm đuốc ra xem, thấy vị tăng liền nghiêm mặt nạt, nửa đêm trời đổ tuyết lạnh, tại sao đến xin giải quyết nghi tình mà chẳng đủ oai nghi.

Vị tăng nghe quở không đủ oai nghi, tưởng mình mặc áo xốc xếch nên quay lại nhìn, ai dè bị ngài đánh đuổi ra. Rõ ràng vị tăng này bị lừa một cách đáng thương. Lẽ ra nếu là thật ngộ, tức đã thấy được rồi, cứ như thế mà trình mặc ai nói gì thì nói, nhưng vừa nghe ngài quở là hoảng hốt liền, vì vậy mới bị đánh đuổi ra.

Sư thường nói: 

– Tiên sư chỉ năm mươi chín, tôi năm mươi sáu vậy, ngày sau không nhiều. 

Niên hiệu Thiệu Hưng năm Giáp Dần (1134) ngày giải chế, Sư thối tịch ở Thiên Ninh. Sư bảo Song Hòe cư sĩ Trịnh Tích rằng: 

– Ngày tám tháng mười là kỵ Phật Giám, ắt tôi thời chí. 

Sư xin về Chương Nam. Ngày mùng bốn tháng mười, Trịnh Công sai em là tăng Đạo Như đến thăm. Sư bảo: 

– Ông đến rất đúng lúc, trước một ngày cũng chẳng tốt, sau một ngày sai qua rồi. Tôi tuy cùng Phật Giám đồng điều sanh, trọn chẳng cùng đồng điều tử. Sáng mai nên vì ta tìm một chiếc thuyền nhỏ đến. 

Đạo Như hỏi: – Cần dài hay cần cao? 

Sư bảo: – Cao chừng năm thước. 

Qua ba ngày, lúc gà gáy sáng, Sư ngồi ngay thẳng như thường. Thị giả xin để kệ. Sư bảo: 

– Chẳng từng làm được. 

Nói xong, Sư tịch. 

Đệ tử hỏa thiêu, chiếc lưỡi vẫn còn. 

Mỗi khi dạy chúng ngài thường nói: Tiên sư chỉ năm mươi chín, tôi năm mươi sáu vậy, ngày lại không nhiều. Thầy của ngài năm mươi chín tuổi tịch, còn ngài thì năm mươi sáu tuổi sẽ tịch. Đây là những lời ngài dự báo cho chúng biết, mình sẽ tịch vào năm này.

THIỀN SƯ SĨ KHUÊ TRÚC AM Ở LONG TƯỜNG – ÔN CHÂU (1083 – 1146) 

Sư con nhà họ Sử ở Thành Đô. Buổi đầu Sư nương thầy Tông Nhã ở Đại Từ, tâm say Lăng-nghiêm trải qua năm năm. Sư dạo đi phương Nam yết kiến các hàng tôn túc rồi mới đến Long Môn. Sư đem chỗ bình thường sở đắc bạch Phật Nhãn. Phật Nhãn bảo: 

– Ông hiểu tâm đã tột, chỉ thiếu gắng sức mở mắt thôi. 

Bèn bảo Sư giữ chức Duy-na. 

Một hôm Sư đứng hầu hỏi rằng: 

– Khi tuyệt đối đãi thì thế nào? 

Phật Nhãn đáp: 

– Giống hệt ông trong tăng đường bạch chùy. 

Sư mờ mịt. Đến chiều Phật Nhãn vào liêu Duy-na, Sư đem thoại khi sáng hỏi. Phật Nhãn bảo: 

– Ngôn ngữ suông. 

Ngay lời này Sư đại ngộ. 

Thiền sư Sĩ Khuê lúc mới đến Phật Nhãn, ngài đem chỗ sở đắc bình thường ra trình, Phật Nhãn bảo: Ông hiểu tâm đã tột, chỉ thiếu gắng sức mở mắt thôi. Đối với tâm thì ông đã hiểu rồi, chỉ là còn thiếu gắng sức mở mắt. Sau đó ngài được bổ làm chức sự, cho vào liêu của Duy-na.

Một hôm đang đứng hầu Phật Nhãn, ngài hỏi: Khi tuyệt đối đãi thì thế nào? Phật Nhãn đáp mà ngài không hiểu. Chiều, Phật Nhãn vào liêu Duy-na, ngài hỏi lại thoại khi sáng. Phật Nhãn bảo: Ngôn ngữ suông. Ngay lời này ngài đại ngộ, tức là đã mở mắt rồi.

Cuối niên hiệu Chánh Hòa (1118) Sư trụ trì ở Thiên Ninh, từng dời đến nhiều ngôi danh lam. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng (1131-1162), Sư vâng chiếu đến khai sơn chùa Năng Nhân Nhạn Đãng. Khi ấy Chơn Yết ở Giang Tâm nghe Sư đến, e duyên pháp chưa chín, đặc biệt qua sông đón Sư về phương trượng lạy chín lạy để dẫn dụ người xứ Ôn. Do đó, dân chúng hợp nhau quy kính. 

Qua đoạn này chúng ta thấy người xưa thật là kỳ đặc. Chơn Yết là một vị thiền sư đã ra giáo hóa, thấy ngài mới đến e ngại chưa đủ uy danh, nên dẫn đồ đệ ra chào mừng, đón về phương trượng và đích thân đảnh lễ. Nếu chúng ta bây giờ gặp việc giống vậy, mình có làm được như ngài Chơn Yết không? Giả sử chú nào ra trụ trì trước, sau có sư đệ cũng được cử đến làm trụ trì ở gần đó, lúc ấy mình thế nào? Có dẫn đồ chúng ra chào hỏi và đích thân đảnh lễ, hay là ngồi trên tợ cao cho sư đệ lễ bái mình? Người xưa vì muốn gây uy tín cho huynh đệ nên mới làm như thế, nhờ vậy mà dân chúng tại đó hết lòng kính nể ngài.

Chưa xem giấy cử, đồ chúng kia sợ hành quy pháp, giữa đêm phóng lửa đốt, ngôi chùa trở thành một đống ngói gạch vụn. Sư cột chùm cây làm thất, đăng tòa dạy chúng: 

Ái nhàn bất đả Cổ Sơn cổ, 

Đầu lão lai khan Nhạn Đãng san, 

Kiệt các nguy lâu hồn bất kiến,

Khê biên mao ốc lưỡng tam gian. 

Thích nhàn chẳng đánh trống Cổ Sơn, 

Dịch: 

Dưỡng già lại xem núi Nhạn Đãng,

Gác đẹp lầu to toàn chẳng thấy, 

Nhà tranh bên suối hai ba căn. 

Lại có người cùng chung ra tay chăng? 

Sư hét một hét xuống tòa. 

Tín thí đến nghe pháp góp sức xây dựng, chưa bao lâu thành ngôi chùa khang trang. Kế đó, Sư bị bổ đến Giang Tâm. 

Chúng lúc ấy cũng đâu vừa, phải không? Thời nào cũng vậy, có những người tu rất hay mà cũng lắm kẻ rất dở. Ngày xưa làm trụ trì là do các vị quan mời thỉnh, nên có giấy tờ cử đến chỗ đó. Ngài tới chưa trình giấy lại nghiêm nghị quá, chúng lo sợ ngài làm trụ trì chắc là mình nguy, nên tối đến liền phóng lửa đốt chùa. Chùa bị đốt cháy hết nhưng ngài vẫn không chán, không có chùa thì lấy những chùm cây cao buộc lại làm thất để ở.

Ngài đăng tòa nói kệ dạy chúng:

Thích nhàn chẳng đánh trống Cổ Sơn, 

Dưỡng già lại xem núi Nhạn Đăng,

Gác đẹp lầu to toàn chẳng thấy,

Nhà tranh bên suối hai ba căn.

Ngày về đây gác đẹp lầu to bị đốt sạch hết rồi, nhìn ra chỉ thấy bên cạnh suối hai ba căn nhà tranh mà thôi.

Lại người cùng chung ra tay chăng? Ngài hỏi, có người nào góp sức để cùng ngài gầy dựng lại hay không? Những người đến nghe pháp hùn nhau xây dựng lại ngôi chùa đã bị đốt cháy, trở thành khang trang đẹp đẽ. Thế nhưng nhân duyên ở chùa mới không lâu, ngài được bổ nhiệm tới Giang Tâm.

Sư thượng đường: 

– Muôn năm một niệm, một niệm muôn năm. Mặc áo lăn trong bùn, rửa chân lên giường ngủ. Việc đã trải qua chỉ như hiện nay. Biển cả sóng to vỗ, tiểu nhân tấc vuông sâu. 

Sư cầm cây gậy lên nói: 

– Cả thảy các ngươi chưa được lối vào, cần phải được lối vào. Đã được lối vào, cần phải có con đường xuất thân mới được. Đại chúng! Thế nào là một con đường xuất thân? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Tùng hiện đáy khe tuyết khó đè, Bên trời gió thổi trăng nào động. Sư giọng cây gậy một cái, xuống tòa. 

Tấc vuông là chỉ cho tâm. Ngài nói chuyện đời chuyện đạo lẫn vào nhau. Biển cả sóng to vỗ, tiểu nhân tấc vuông sâu. Biển lớn thì có sóng to nổi lên, còn tiểu nhân thì tấc vuông sâu. Tâm của tiểu nhân sâu lắm!

Tùng hiện đáy khe tuyết khó đè. Tùng hiện dưới đáy khe, tức là bóng của cây tùng, nên tuyết đè không được. Bên trời gió thổi trăng nào động. Gió thổi ào ào, nhưng trăng không hề bị gió thổi làm cho lay động.

Sư thượng đường: 

– Muôn cơ chẳng đến, mắt thấy sắc tai nghe tiếng; một câu hiện bày, đầu đội trời chân đạp đất. Các ông chỉ biết ngày nay là mùng một tháng năm, thực chẳng biết, quạ vàng nửa đêm đi gấp gấp, thỏ ngọc ngày mai biển đông lên. 

Sư lấy phất tử gõ giường thiền, xuống tòa. 

Khi muôn cơ không đến vì sao mắt thấy sắc, tai nghe tiếng? Một câu hiện bày thì đầu đội trời chân đạp đất.

Các ông chỉ biết, ngày nay là mùng một tháng năm, mà chẳng biết quạ vàng nửa đêm đi gấp gấp, thỏ ngọc ngày mai biển đông lên. Chúng ta không hiểu, nghe thiền sư nói năng dường như mâu thuẫn. Nhưng kỳ thực các ngài nói phần nhiều là hoạt ngữ, tất cả lời nói đều cốt không để cho mình suy nghiệm, chỉ lâu lâu mới hé mở chút ít mà thôi.

Sư thượng đường: 

– Rõ ràng không ngộ, có pháp tức mê. Các người nhằm trong ấy lập chẳng được, các người nhằm trong ấy trụ chẳng được. Nếu lập thì nguy, nếu trụ thì mù. Cần phải ý chẳng dừng huyền, câu chẳng dừng ý, dụng chẳng dừng cơ. Ba điều này đã rõ, tất cả chỗ không nên bó buộc tự nhiên hiện tiền, chẳng phải chiếu cố tự nhiên minh bạch. Tuy nhiên như thế, lại phải biết có việc hướng thượng. Mưa lâu chẳng tạnh. Hầy! 

Rõ ràng không ngộ, có pháp tức mê. Nghĩa là, nếu cho rằng đã rõ ràng rồi thì không ngộ, còn thấy có một pháp thật tức vẫn còn mê. Ở trong ấy lập không được, mà trụ cũng không được. Vì sao? Nếu lập thì nguy, trụ thì mù. Cần phải ý chẳng dừng huyền, ý không kẹt ở chỗ hiểu, bàn về những cái hay. Câu chẳng dừng ý, câu nói chẳng dừng nơi người ta có thể suy tầm được. Dụng chẳng dừng cơ, dụng thì không chọn lựa ở một căn cơ nào.

Sư thượng đường: 

– Một chiếc lá rụng thiên hạ thu, muốn xem tột ngàn dặm, phải lên một tầng lầu. Một hạt bụi dấy đại địa thâu, Gia Châu tạc tượng lớn, Thiểm Phủ đúc trâu sắt. Kẻ sáng mắt nên làm sao? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Hạn lâu mái thềm vắng, cầu trôi nước chẳng trôi. Sư giộng cây gậy xuống tòa. 

Một chiếc lá rụng thiên hạ thu, muốn xem tột ngàn dặm, phải lên một tầng lầu. Ba câu này là ba câu thơ, nghĩa là nhìn một chiếc lá rụng thì biết khắp nơi đang mùa thu. Muốn mắt thấy xa ngàn dặm, phải lên tầng lầu cao mới thấy được.

Một hạt bụi dấy đại địa thâu, nếu muốn hiểu câu này thì Gia Châu tạc tượng lớn, Thiểm Phủ đúc trâu sắt. Kẻ sáng mắt nên làm sao?

Sư thượng đường: 

– “Kiến kiến chi thời kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến kiến bất năng cập.” 

Hoa rơi có ý theo dòng nước, 

Dòng nước vô tình luyến hoa rơi. 

“Các cái có thể trả tự nhiên chẳng phải ông, cái chẳng bị ông trả chẳng phải ông là ai?” 

Thường hận xuân về không chỗ kiếm,

Đâu ngờ chuyển nhập trong đây rồi. 

Sư hét một tiếng nói: 

– Sau ba mươi năm chớ nói Năng Nhân (chùa Sư trụ, chỉ Sư) làm hỏng con cái nhà người.

Thượng đường ngài dẫn câu kiến kiến chi thời kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến kiến bất năng cập trong kinh Lăng-nghiêm, rồi bình bằng hai câu thơ:

Hoa rơi có ý theo dòng nước, dòng nước vô tình luyến hoa rơi. Hoa nở trên cây ở bên cạnh dòng nước, hoa rụng xuống nước dường như có ý, nhưng hoa nào có ý. Dòng nước chảy đẩy hoa tới lui, dòng nước cũng không cố ý để chặn hoa lại. Hai bên làm duyên cho nhau, mà không bên nào có ý cả. Cũng vậy, kiến kiến chi thời kiến phi thị kiến, cái kiến đó chẳng phải chỉ là cái kiến của ý duyên không thôi.

Ngài dẫn tiếp lời Phật nói với A-nan: Các cái có thể trả, tự nhiên chẳng phải ông. Cái chẳng bị ông trả, chẳng phải ông, là ai? Những thứ có chỗ để trả về được, nó đâu phải là ông. Cái không trả về đâu, thường hiện tiền ngay ông, cái đó không phải ông thì là ai? Ngài nói lên chỗ thấy của mình qua hai câu thơ:

Thường hận xuân về không chỗ kiếm, đâu ngờ chuyển nhập trong đây rồi. Vài hôm nữa là tới xuân, vậy mình tìm xuân ở đâu? Trong pháo nổ hay chỗ hoa nở? Chúng ta tìm kiếm mùa xuân ở nơi này nơi kia, mà đâu hay rằng mùa xuân đã ngay đây rồi. Cũng vậy, tám thứ có chỗ để trả về, tức không phải mình; còn cái hiện tiền ngay nơi mình, không thể trả cũng không cần tìm kiếm, cái đó không phải mình thì là ai.

Những lời bình của ngài rất hay, giúp cho chúng ta hiểu được tường tận hơn.

Tăng hỏi: – Thế nào là ý Tổ sư Tây sang? 

Sư đáp: – Nhà đông đốt đèn nhà tây ngồi tối. 

Tăng hỏi: – Chưa biết ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: – Ngựa quen gác yên, lừa quen kéo cối. 

Tăng lễ bái. Sư bảo: 

– Thiền tăng lanh lợi, chỉ tiêu một cái. 

Sư bèn nói: 

Ngựa quen gác yên, lừa quen kéo cối,

Thiền tăng lanh lợi chỉ tiêu một cái.

Dù khiến nhà đông đốt đèn sáng,

Chưa hẳn nhà tây ngồi trong tối.

Tây sang ý chỉ hỏi thế nào? 

Ông thầy lắm mồm tự chuốc hại. 

Cứ tìm hỏi ý chỉ Tổ sư Tây sang là thế nào, càng nói chỉ càng tự chuốc họa mà thôi.

Tăng hỏi: – Thế nào là đệ nhất nghĩa? 

Sư đáp: – Ông hỏi ấy là đệ nhị nghĩa.

Vừa hỏi là thành đệ nhị mất rồi.

Tăng hỏi: 

– Con chó lại có Phật tánh hay không? Triệu Châu nói không, ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: 

– Một phen bị rắn cắn, sợ thấy dây giếng đứt. 

Như người đi đường bị rắn cắn, mai chiều có việc đi ban đêm, thấy dây giếng đứt nằm ngang trên đường, người ấy hoảng sợ la lên vì tưởng là con rắn.

Tăng hỏi: – Chim én bàn sâu thật tướng khéo nói pháp yếu, lý này thế nào? 

Sư đáp: – Chẳng bằng nhạn ngậm lau. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Phật? 

Sư đáp: – Con rùa cửa động Hoa Dương. Tăng hỏi: 

– Tổ Đạt-ma xây mặt vào vách ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: 

– Kim mộc thủy hỏa thổ, sao La-hầu Kế-đô. 

Tăng hỏi: – Câu có câu không như bìm nương cây là thế nào? 

Sư đáp: – Có tật giật mình. 

Tăng hỏi: – Quốc sư ba phen gọi thị giả lại là sao? 

Sư đáp: – Đánh trống khỉ đùa giỡn, trống vỡ khỉ chạy tan. 

Đến ngày mười tám tháng bảy năm Bính Dần (1146), Sư gọi trưởng lão Tông Phạm đến dặn dò việc sau. Hôm sau, Sư tắm gội đánh chuông họp chúng, đến tòa ngồi yên thị tịch. 

THIỀN SƯ PHÁP TRUNG MỤC AM ở HOÀNG LONG – phủ LONG HƯNG (1084 – 1149) 

Sư con nhà họ Đào, quê Tứ Minh. Năm mười chín tuổi Sư thi kinh được độ làm tăng. Buổi đầu Sư tập Thiên Thai giáo, ngộ được yếu chỉ Nhất tâm tam quán, song chưa có thể mất dấu. Sư khắp tham các bậc danh túc, đến Long Môn nhân xem bánh xe nước quay, liền ngộ được tâm yếu. Sự thuật kệ: 

Chuyển đại pháp luân,

Mục tiền bao lý. 

Cánh vấn như hà? 

Thủy thôi thạch ma. 

Chuyển đại pháp luân, 

Gồm hết trước mắt. 

Lại hỏi thế nào, 

Nước đẩy cối đá. 

Sư trình Phật Nhãn. Phật Nhãn hỏi: 

– Trong kia việc thế nào? 

Sư thưa: – Dưới khe nước thường chảy. 

Phật Nhãn nói: 

– Ta có một câu rốt sau, đợi phân phó cho ông. 

Sư liền bịt tai mà đi. 

Sau Sư đến Lô Sơn, ở trong cây khô tại Đồng An tuyệt thực ngồi lặng lẽ. 

Nghe ngài Pháp Nhãn nói Ta có một câu rốt sau đợi phân phó cho ông, ngài liền bịt tai đi ra. Sao mà vô phép quá vậy? Hành động này của ngài nhằm nói lên chỗ ngộ đã đầy đủ rồi. Theo cái nhìn của chúng ta thấy ngài dường như vô lễ, nhưng đây là chỗ vượt ngoài lý lẽ thường tình. Bởi vì nếu chỗ ngộ chưa đủ mới cần nghe thêm, còn hết nghi rồi thì đâu cần nữa, nên ngài bịt tai lại.

Khoảng niên hiệu Tuyên Hòa (1119-1125) vùng Tương Đàm đại hạn, dân chúng cầu đảo mà không mưa. Sư liền nhảy vào Long uyên hô to: “Nghiệp súc nên mưa một thước.” Liền đó trời mưa. Sư ở Nam Nhạc mỗi khi đi cưỡi cọp mà dạo, những hàng Nho Thích nhìn theo làn bụi mà lễ bái. Sau Sư trụ ở Hoàng Long. 

Long uyên tức là cái hồ sâu. Ngài không phải hạng tầm thường, thường cưỡi cọp đi dạo. Bởi do ngài cảm hóa được loài rồng làm mưa, nên ở đâu cũng có rồng theo một bên.

Sư thượng đường: 

Trương công khiết tửu Lý công túy,

Tử tế tư lương bất tư nghị. 

Lý công túy tỉnh vấn Trương công, 

Kháp sử Trương công vô hảo khí. 

Vô hảo khí, 

Bất như quy gia thả đả thụy. 

Dịch: 

Trương công uống rượu, Lý công say,

Chín chắn tư lương chẳng nghĩ tày. 

Hỏi Trương công, khi Lý công tỉnh,

Khiến cho Trương công vẻ u hoài. 

Vẻ u hoài, 

Chẳng bằng về nhà nằm ngủ ngay. 

Sư thượng đường: 

Kim triệu chinh ngoạt bán 

Hữu sự vị quân đoạn. 

Thiết kỵ lưỡng nhãn tình 

Bị tha đăng hỏa hoán. 

Dịch: 

Hôm nay nửa tháng giêng

Có việc vì anh quyết.

Tối kỵ hai tròng mắt 

Bị người thay đèn thắp. 

Sư thượng đường: 

– Ta có một câu ấy, chẳng nhờ miệng chư thánh, chẳng động lưỡi chính mình, chẳng phải tiếng hơi thở ra vào, chẳng phải tình thức phân biệt. Giả sử Tịnh Danh ngậm miệng nơi Tỳ-da, Thích-ca đóng cửa thất ở Ma-kiệt, giống hệt bịt tai trộm linh, chưa khỏi tiết lậu thiên cơ. Dù cho Đức Sơn vào cửa liền đánh, Lâm Tế vào cửa liền hét, nếu nhằm dưới cửa Mục Am, kiểm điểm đem lại chỉ là một cây cọc. Ngàn thứ ngôn muôn cách nói, chỉ cốt dạy anh nhà mình hết. Mặc tình đại địa hư không bảy lồi tám lõm. 

Đối với ngài, các thủ thuật mà chư Tổ dùng chỉ là phương tiện chứ không phải chỗ cứu cánh. Vậy dùng phương tiện để làm gì? Ngàn thứ ngôn muôn cách nói, chỉ cốt dạy anh nhà mình hết. Phật tổ nói đủ cách, chỉ nhằm giúp cho người tham học sạch hết điên đảo. Ở đây ngài nói “làm cho nhà mình hết”, chính là chỗ trong nhà thiền hay nói “tan nhà nát cửa” không khác.

Mặc tình đại địa hư không bảy lồi tám lõm. Bên ngoài mặc tình lồi lõm thế nào, miễn mình sạch hết là được rồi. Chúng ta bây giờ cứ hay quan trọng việc bên ngoài, như các chú ở đây, mỗi khi ngồi lại bàn luận là bàn nói cái gì? Chuyện của mình hay chuyện thiên hạ, chuyện nào mình cũng vớt vô, nên đất chỗ này lồi chỗ kia lõm. Cần phải nhà mình hết mới được. Đừng để biết việc của khắp thiên hạ, nhưng việc của mình thì không biết gì hết. Đó là chỗ sai lầm.

Tăng hỏi: – Thế nào là Phật? 

Sư đáp: – Chớ nhằm bên ngoài kiếm. 

Tăng hỏi: – Thế nào là tâm? 

Sư đáp: – Chớ nhằm bên ngoài tìm. 

Tăng hỏi: – Thế nào là đạo? 

Sư đáp: – Chớ nhằm bên ngoài thảo. 

Tăng hỏi: – Thế nào là thiền? 

Sư đáp: – Chớ nhằm bên ngoài mà truyền. 

Tăng hỏi: – Cứu cánh thế nào? 

Sư đáp: – Chỗ lặng tát-bà-ha. 

Tăng thưa: 

– Đại chúng nhóm họp thỉnh Thầy cử xướng. 

Sư dựng đứng cây phất tử. Tăng thưa: 

– Xin Thầy lại bày phương tiện. 

Sư gõ giường thiền một cái. 

Sau Sư thị tịch, đồ chúng xây tháp tại động Hương Nguyên. 

THIỀN SƯ ĐẠO HẠNH TUYẾT ĐƯỜNG Ở Ô CỰ – CÙ CHÂU (1089 – 1151) 

Sư họ Diệp quê ở Xử Châu, nương thiền sư Anh ở Phổ Chiếu, Thất Châu được độ. Sư đến tham vấn Phật Nhãn. Một hôm Sư nghe Phật Nhãn nhắc câu chuyện “Huyền Sa chạm đến ngón chân” liền đại ngộ. 

Sau khi trụ trì, Sư thượng đường: 

– Hội tức liền hội, ngọc vốn không tỳ. Nếu nói chẳng hội, chày cối sanh hoa. Thử hỏi, chín năm xây mặt vào vách, sao bằng đại hội niêm hoa. Nam Minh (Sư) thương xót thế ấy, cũng là thuận gió ném cát. Tham!

Nam Minh là chỗ ngài đang ở, cũng nhằm chỉ cho ngài. Những câu nói này cốt để cho tham, chứ không phải để cho hiểu.

Sư thượng đường: 

– Mây che đảnh núi, trăm chim im tiếng; trăng ẩn đầm lạnh, châu rồng tự chói. Chính khi thế ấy liền được kèo đá bỗng nhiên đại ngộ, động đá chóng vậy thôi tâm, hư không mở miệng làm chứng, khe bắc thầy đá gật đầu, mọi người thảy ở trong ấy ngủ khò, cười ngất trâu sắt Thiểm Phủ. 

Chỗ này hư không làm chứng, kèo đá đại ngộ, động đá dừng tâm, người đá gật đầu; còn riêng mọi người thì sao? Ở trong đó mà ngủ khò. Thật đáng tức cười!

Sư thượng đường: 

– Phật nói ba thừa mười hai phần giáo đến tiệm thiên viên, trước mặt người si chẳng được nói mộng. Tổ sư Tây sang chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, trước mặt người si chẳng được nói mộng. Lâm Tế tam huyền Vân Môn tam cú Động Sơn ngũ vị, trước mặt người si chẳng được nói mộng. Nam Minh nói thế ấy lại khỏi bị người kiểm trách hay không? Sở dĩ cổ nhân nói: 

Thạch nhân cơ tự nhữ 

Dã giải xướng Ba ca.

Nhữ nhược tự thạch nhân,

Tuyết khúc đã ưng hòa. 

Dịch: 

Người máy đá giống ông 

Cũng biết hát Ba ca. 

Ông nếu giống người đá, 

Tuyết khúc cũng nên hòa. 

Lại có hòa Tuyết khúc hay chăng? Nếu có, kêu lại rửa chân cho lão tăng. 

Ngài nói: Phật dạy ba thừa mười hai phần giáo, Tổ sư Tây sang, các vị thiền sư trong Ngũ gia tông phái v.v… đều là nói mộng. Đến cuối, ngài lại dẫn lời người xưa: Người máy đá giống ông, cũng biết hát Ba ca. Ba ca là dân ca của người Ba ở Tứ Xuyên. Người máy bằng đá giống y như chúng ta, không những là người máy mà còn là người máy bằng đá, cũng biết xướng bài ca. Ông nếu giống người đá, Tuyết khúc cũng nên hòa. Nếu chúng ta giống như người đá, hoạt động mà tâm không động, thì có thể hòa được những bài ca hay. Nghĩa là chừng nào tâm chúng ta như cây đá, làm tất cả mà tâm không động, thì chừng đó mới thích hợp, mới an ổn.

Sư thượng đường: 

– Khắp thân là miệng nói được phân nửa, khắp thân là mắt dùng được một cây. Chỗ dùng chẳng đến, nói có dư; chỗ nói không đến, dùng không hết. Vì thế nói, đang dùng không nói, đang nói không dùng, dùng nói đồng thời, dùng nói chẳng đồng thời. Các người nếu có nghĩ nghị, núi Tây dưới gót chân ông. 

Sư đến Quốc Thanh, chúng thỉnh thượng đường: 

– Câu cũng cắt ý cũng cắt, chỗ bặt hào bặt ly như non như núi. Câu cũng đến ý cũng đến, chỗ như non như núi bặt hào bặt ly. Nếu chợt đẩy ra một lối, ý câu đều đến đều chẳng đến, đều cắt đều chẳng cắt. Dù được ngoài ba câu bặt lao lung, ngoài sáu câu không tiêu đích, chính khi thế ấy một câu làm sao nói? 

Nghiêng che đồng đường chẳng đồng dấu,

Cùng nhau nắm tay lên đài cao. 

Những lời nói này nhằm để người học không thể phân tích, cho nên nếu chúng ta nghe mà cố tìm hiểu thì chỉ thêm rối mà thôi.

Sư thượng đường nhắc Triệu Châu dạy chúng, nói: “Lão tăng trừ đi hai thời cơm cháo là chỗ tạp dụng tâm.” Sư bảo: 

– Hôm nay sáng tháng sáu, cư sĩ đánh trống, trưởng lão đăng đường. Cả thảy các ngươi, thảy đến trong đây tạp dụng tâm. 

Ngài nêu lại lời của thiền sư Triệu Châu: Lão tăng trừ hai thời cơm cháo là chỗ tạp dụng tâm, rồi nói hiện nay đánh trống đăng đường, họp chúng tham vấn, thảy là tạp dụng tâm. Vậy chúng ta bây giờ thăng tòa, họp chúng… có phải là tạp dụng tâm không? Cũng là tạp dụng tâm.

Sư thượng đường nhắc: “Tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là câu kinh người? Vân Môn đáp: Vang.” 

Sư bảo: 

 Câu Vân Môn đáp vị tăng này chẳng được liền thôi, lại hô hào cơm cháo để hợp bình sinh. 

Sư thượng đường: 

Hoàng Mai vũ mạch thu hàng

Nhẫm ma hội thái vô đoan. 

Thời tiết nhân duyên Phật tánh nghĩa,

Đại đô tu thị độc lâu càn. 

Dịch: 

Hoàng Mai mưa, mùa gặt lạnh, 

Thế ấy hội rất không lý do. 

Thời tiết nhân duyên nghĩa Phật tánh, 

Cả thảy đều là đầu lâu khô. 

Sư dạy chúng, nhắc: “Hòa thượng Cơ hỏi Tăng: Thiền lấy gì làm nghĩa? Chúng hạ ngữ đều không hợp lý. Tăng thỉnh ích Hòa thượng Cơ, Hòa thượng Cơ đáp thay: Lấy chê bai làm nghĩa.” Sư bảo: 

– Chư Phật ba đời là chê bai, hai mươi tám vị Tổ ở Tây Thiên là chê bai, sáu vị Tổ ở Trung Hoa là chê bai, Hòa thượng khắp thiên hạ là chê bai, các người là chê bai, sơn tăng là chê bai, trong đây lại có người chẳng chê bai hay không? 

Bàn huyền nói diệu hà sa số 

Đâu giống Song Phong chê được gần. 

Ngài nói chư Phật ba đời là chê bai, chư tổ An Độ, Trung Hoa v.v… tất cả đều là chê bai. Nghe hợp lý không? Chê bai là không ưa thích. Điều gì không ưa thì mình chê bai, buông bỏ không thích nắm giữ. Như vậy nói chê bai tức là buông xả hết không còn đeo mang.

Như trường hợp của ngài Từ Minh, khi mới học đạo bị thầy quở trách, ngài cho rằng cứ chửi mắng như thế là đạo lý hay sao? Liền bị thầy hỏi ngược lại, ông cho đó là chửi mắng à? Từ Minh lập tức có tỉnh. Đây là do chê bai mà tỉnh ngộ. Theo lẽ thường, hễ nghe chê bai là cảm thấy buồn, nghe khen ngợi thì yêu thích. Vì yêu thích nên tiếc giữ, bởi không ưa chê bai nên phải buông xả. Rốt ráo buông xả là gần đạo lý nhất.

Sư có chút bệnh, đệ tử giáo thọ Uông Công Kiều đến thăm. Sư đem việc sau dặn dò xong, để kệ rằng: 

Biết thì biết bản tâm mình, 

Thấy thì thấy bản tánh mình,

Biết được bản tâm bản tánh, 

Chính là tông môn đại bệnh. 

Trong bùn lầy có gai, chớ nói chẳng nghi! 

Hôm sau, Sư tắm gội mặc y phục ngồi kiết già thị tịch. 

Bài kệ này nghe rất mâu thuẫn, tại sao biết được bản tâm bản tánh, chính là tông môn đại bệnh? Như trong kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Thức tâm đạt bản, danh vi Sa-môn.” Biết bản tâm đạt bản tánh, mới được gọi là Sa-môn, sao ở đây ngài lại nói đó là bệnh lớn? Bởi bản tâm bản tánh là của mình mà bị mình biết, thì không phải bệnh là gì? Nếu biết được, tức cái đó là của ai chứ không phải của mình, nên nói là đại bệnh.

THIỀN SƯ MINH BIỆN CHÁNH ĐƯỜNG Ở ĐẠO TRÀNG – AN KIẾT CHÂU (1085 – 1157) 

Sư họ Du quê ở bản quận, thuở nhỏ thờ thiền sư Uẩn ở Báo Bổn đến khi được thọ giới Cụ túc. Sau Sư dạo đi tham vấn các bậc tôn túc, đến Tây Kinh ở Thiếu Lâm nghe vị tăng nhắc Phật Nhãn dùng cổ thi thuyết minh chuyện vua nước Kế Tân chém tôn giả Sư Tử rằng: 

Dương Tử giang đầu dương liễu xuân,

Dương hoa sầu sát độ giang nhân.

Nhất thanh Khương địch ly đình vãn,

Quân hướng Tiêu Tương ngã hướng Tần. 

Dịch: 

Đầu sông Dương Tử, dương liễu xuân,

Hoa dương buồn chết người qua sông. 

Một tiếng sáo tây lìa trạm tối, 

Anh đến Tiêu Tương tôi đến Tần. 

Sư thầm có chỗ khế hội. Sư liền tìm đến Long Môn xin vào thất. Phật Nhãn nói: 

 Nhân duyên sách vở của Tổ sư từ trước thì cho ông hiểu. – Chợt đưa nắm tay hỏi: – Cái này tại sao gọi là nắm tay? 

Sư toan đáp, Phật Nhãn bụm miệng Sư nói:

– Chẳng được khởi đạo lý. 

Khi ấy Sư chóng bỏ tri kiến. 

Đầu sông Dương Tử, dương liễu xuân,

Hoa dương buồn chết người qua sông.

Bài thơ của ngài Phật Nhãn rất hay, diễn tả khi tổ Sư Tử bị vua Kế Tân chém đầu.

Một tiếng sáo tây lìa trạm tối. Một tiếng sáo tây, tức là một nhát kiếm nhà vua vừa chém xuống.

Anh đến Tiêu Tương tôi đến Tần. Câu này diễn tả thật chính xác, mỗi người đến một nơi, vua bị đọa còn Tổ thì hết duyên nhập Niết-bàn.

Sau khi trụ trì, Sư thượng đường: 

Mãnh hổ khẩu biên thập đắc, 

Độc xà đầu thượng an bài.

Cánh bất định thung dao lỗ

Hồi đầu biệt hữu sinh nhai. 

Bà tử bị ngã khám phá liễu,

Đại Bi viện lý hữu thôn trai. 

Dịch: 

Bên miệng cọp dữ lượm được,

Trên đầu rắn độc an bài.

Lại chẳng đóng cọc dời thuyền,

Xoay đầu riêng có sanh nhai.

Bà già bị ta khám phá xong, 

Viện Đại Bi có làng thiết Trai

Sư thượng đường: 

– Tịnh ngũ nhãn, phún vàng chiều ửng hồng; đắc ngũ lực, thổi rơi hoa đào biếc. Duy chứng mới biết khó thể lường. 

Sư giộng cây gậy nói: 

– Một mảnh người nào được, truyền mười vạn nhà. 

Những câu này ngài trích dẫn trong Chứng Đạo Ca, rồi bình.

Tịnh ngũ nhãn, ngài bình: Phún vàng chiều ửng hồng.

Đắc ngũ lực, ngài bình: Thổi rơi hoa đào biếc.

Duy chứng mới biết khó thể lường là dẫn nguyên văn từ câu Duy chứng nãi tri nan khả trắc. Chứng mới biết, chỗ đó không thể khởi suy nghĩ mà hiểu được.

Sư thượng đường: 

– Hoa nở trên gò, tơ liễu bên bờ. Hoàng oanh hòa điệu đàn Thúc Dạ, cỏ thơm vào câu từ Tạ công. Nào hẳn nghe tiếng ngộ đạo, thấy sắc minh tâm. Chẳng những trên nước tìm bọt, đã là trong mắt dính bụi. 

Sư vạch ngực nói: 

– “Các ông hãy xem thân sắc vàng tía của ta đây, ngày nay ắt còn ngày mai thì không.” Giống như không gió nổi sóng, toàn chẳng biết hổ thẹn. Hãy nói, việc ngày nay là thế nào? 

Khéo kẻ mê gặp Đạt-ma, 

Chẳng rõ ai biết thừa đương. 

Các ông hãy xem thân sắc vàng tía của ta đây, ngày nay ắt còn ngày mai thì không. Câu này ngài dẫn trong kinh Niết-bàn. Khi sắp nhập Niết-bàn đức Phật ngồi giữa chúng, vạch ngực ra nói: Các ông hãy xem thân sắc vàng tía của ta đây, ngày nay ắt còn, ngày mai thì không. Câu nói này có ý nghĩa gì?

Hình ảnh vạch ngực của đức Phật là lối chỉ bày rất khéo, sau này trong nhà thiền, các thiền sư cũng thường sử dụng, hoặc vạch ngực, hoặc đưa tay lên… Nhưng ở đây ngài bình: Giống như không gió nổi sóng, toàn chẳng biết hổ thẹn. Nghĩa là sao? Những hành động đó, cũng giống như không gió mà nổi sóng vậy. Ngài tiếp: Hãy nói, việc ngày nay là thế nào? Đúng là kẻ mê được gặp Đạt-ma, chẳng rõ ai biết thừa đương.

Tăng hỏi: – Thế nào là Phật? 

Sư bèn khảy móng tay ba cái. Tăng hỏi: 

– Nói nín kẹt ly vi, thế nào thông chẳng phạm? 

Sư đáp: – Thân ngang ngoài tam giới, riêng thoát trước muôn cơ. 

Tăng hỏi: – Chỉ như Phong Huyệt nói “thường nhớ Giang Nam trong tháng ba, chá cô hót chốn trăm hoa ngát”, lại là sao? 

Sư đáp: – Nói cái gã ngây ngô ấy làm gì? 

Tăng hỏi: 

Tre gầy gió nam lay nhè nhẹ, 

Trăm hoa đầy đất nhật từ từ (mặt trời lên). 

Sư hỏi: – Ông nhằm chỗ nào thấy Phong Huyệt?

Tăng thưa: – Trong tai trong mắt rất thích thú.

Sư bảo: – Nghĩ lường không giao thiệp. 

Ly là thể, Vi là dụng. Ngài hỏi: Ông nhằm chỗ nào thấy Phong Huyệt? Vị tăng đáp, ở trong tai trong mắt mà thấy, rất là thích thú. Đáp như vậy hay chưa? Ngài bảo: Nghĩ lường không giao thiệp, ông còn dùng suy nghĩ như vậy, tức là không dính dáng rồi.

Tăng hỏi: – Thế nào là Phật? 

Sư đáp: – Không củi, lửa cháy bùng.

Tăng hỏi: – Thế nào là Pháp? 

Sư đáp: – Nghèo làm ra dáng giàu. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Tăng? 

Sư đáp: – Bà già bán quạt, tay che nắng.

Tăng hỏi: 

– Thế nào là lật cức bồng của Hòa thượng?

Sư bảo: – Chẳng đáp thoại này. 

Tăng hỏi: – Vì sao chẳng đáp? 

Sư cười to nói: – Nuốt chẳng vô, mửa chẳng ra. 

Lật cức bồng là chỉ cho công án. Chỗ lật cức bồng mà ông hỏi đó, nuốt chẳng vô mửa chẳng ra.

Ngày kỵ Phật Nhãn, Sư niêm hương: 

– Hòa thượng Long Môn Xiển-đề lạo đảo, chẳng tin Phật pháp diệt trừ thiền đạo, đạp vỡ Tỳ-lô cổng tiến lên, con mèo rửa mặt tự nói tốt. Một nén hương trầm đốt trên lò, kéo tay vạch ngực luống sầu thảm. 

Sư quơ tay nói: – Thôi sầu thảm! 

Sư lấy tọa cụ vắt lên vai làm người nữ lạy, nói: 

– Chớ lạ con dâu ở nhà dưới xúc phạm bề trên. 

Sư làm bài tán Đạt-ma rằng: 

Thăng Nguyên các tiền ma-la, 

Lạc Dương phong bạn quai trương.

Bì tủy truyền thành thoại bá, 

Chích lý vô xứ mai tàng. 

Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt,

Tranh đắc mai hoa phốc tỵ hương. 

Dịch: 

Trước gác Thăng Nguyên hổ thẹn, 

Trên ngọn Lạc Dương lạ lùng.

Da tủy truyền thành công án,

Chiếc giày không chỗ vùi chôn. 

Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, 

Hoa mai đâu dễ ngát mùi hương. 

Trước gác Thăng Nguyên hổ thẹn, Thăng Nguyên tức điện Thăng Nguyên, là nơi Lương Võ Đế gặp tổ Đạt-ma. Trên ngọn Lạc Dương lạ lùng, Thiếu Thất Tung Sơn thuộc thành Lạc Dương ở phương bắc.

Da tủy truyền thành công án, chỉ cho việc các vị đệ tử Đạo Phó, Đạo Dục, Huệ Khả v.v… trình chỗ thấy của mình với tổ Đạt-ma. Tổ ấn chứng Huệ Khả được tủy, Đạo Phó được da… Chiếc giày không chỗ vùi chôn, đây là lúc Tổ quảy chiếc giày về Tây.

Chẳng phải một phen xương lạnh buốt, hoa mai đâu dễ ngát mùi hương. Ngài nhắc đi nhắc lại cũng cốt nhắc nhở chuyện tu. Nếu không nỗ lực để cho chết hết những tâm lăng xăng thì làm sao tiến được đến chỗ giác ngộ an vui.

Sắp lâm chung, Sư đăng tòa cầm cây gậy giộng bên trái một cái nói: 

 Ba mươi hai tướng không có tướng này. 

Sư giộng bên phải một cái nói: 

– Tám mươi vẻ đẹp không có vẻ đẹp này. Cây bút Tăng Dao vẽ chẳng thành, Chí Công bày ra bản thảo. 

Sư lại giọng một cái nhìn đại chúng nói: 

– Chớ sầu não, ngay đó thừa đương thôi kiếm tìm. 

Sư xuống tòa về phương trượng, ngồi kiết già ngay thẳng thị tịch. 

Sắp lâm chung, ngài lên tòa cầm cây gậy giộng bên trái một cái nói: Ba mươi hai tướng không có tướng này. Tướng này là tướng gì? Ngài lại giọng bên phải một cái nói: Tám mươi vẻ đẹp không có vẻ đẹp này. Vẻ đẹp này là vẻ đẹp nào? Cây bút Tăng Dao vẽ chẳng thành, Chí Công bày ra bản thảo. Tướng đẹp đó dù Tăng Dao vẽ cũng chẳng thành, cho đến Chí Công vạch bày ra bao nhiêu tướng hảo, rốt cuộc tả vẫn chẳng được. Ngài lại giộng cây gậy một cái, nhìn đại chúng nói: Chớ sầu não, ngay đó thừa đương thôi kiếm tìm. Ngay đó mà nhận lấy đi, đừng tìm kiếm nơi đâu nữa.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.