Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải

Đời Thứ Mười Lăm Sau Lục Tổ Huệ Năng



Tông Tào Động Đời Thứ Mười Một

THIỀN SƯ TỰ TÔNG Ở TUYẾT ĐẬU – MINH CHÂU 

Sư họ Trần, quê ở Huy Châu. Thuở nhỏ chuyên học kinh, khi thọ giới Cụ túc xong, nương theo thiền sư Diệu Trạm Huệ, đang lúc thưa hỏi bỗng nhiên khế hợp. Thiền sư Huệ lấy phất tử phó chúc cho Sư. 

Sau Sư đến thiền sư Hoằng Trí nhờ ấn khả ở đây đạo của Sư càng được tôn trọng. Sau này Sư trụ trì các nơi như: Phổ Chiếu, Thiện Quyền, Thúy Nham, Tuyết Đậu. 

Sư thượng đường: 

– Mỗi người đều có lỗ mũi, chỉ có Thiện Quyền là không lỗ mũi. Tại sao không? Vì hai mươi năm trước bị người kéo rơi rồi. Mỗi người đều có hai tròng con mắt, chỉ có Thiện Quyền không tròng con mắt. Vì cớ sao? Vì bị người lấy hạt chuỗi thay rồi. Mỗi người đều có xương sọ, chỉ có Thiện Quyền không xương sọ. Vì sao không? Vì người mượn làm gáo đựng phân rồi. 

Sư bèn gọi đại chúng nói: 

– Lỗ mũi không, tròng con mắt không, xương sọ cũng không. Quý vị lại biết Thiện Quyền chăng? Nếu chẳng biết là quý vị chôn vùi Thiện Quyền. Nếu chẳng như thế, hãy nghe một bài tụng: 

Giản để nê ngưu kim thiếp điện, 

Sơn đầu thạch nữ trước chân hồng. 

Hệ lư quyết thượng sanh chi thảo,

Bất thị vân ái hương lô phong.

Dịch: 

Đáy khe trâu đất vàng phết mặt,

Đầu non gái đá mặc toàn hồng. 

Trên cọc cột lừa cỏ thơm ngát, 

Chẳng phải mây che đánh lò hương. 

Ngài thuộc tông Tào Động, nên những câu đối đáp đều nhắm vào chủ yếu của tông Tào Động. Thiện Quyền là tên chùa, tức chỉ cho ngài.

Lỗ mũi không, con mắt không, xương sọ cũng không. Đoạn này ngài muốn nói gì? Chúng ta thử nghe bài kệ:

Đáy khe trâu đất vàng phết mặt,

Đầu non gái đá mặc toàn hồng.

Trên cọc cột lừa cỏ thơm ngát,

Chẳng phải mây che đảnh lò hương.

Lỗ mũi chỉ cho thật thể, con mắt là hai bên đối đãi, đầu sọ là nghĩ suy. Cả ba cái đều không, như thế thì thành cái gì? Qua bài kệ này chúng ta biết ý ngài muốn nói về pháp thân. Nếu người thấy được thì ngay đó liền thấy.

Sư thượng đường: 

Thúy Nham chẳng phải chẳng nói, chỉ vì không có thời tiết. Sáng nay cơ hội khó gặp, một câu vì anh mổ xẻ. Cột cái vốn là khúc cây, trái cân chỉ là sắt nguội. Quý vị nếu đến các nơi, chớ nói sơn tăng nhiều lời. 

Đây là lúc ở Thúy Nham, chẳng phải ngài không muốn nói, chỉ vì không gặp thời tiết nhân duyên. Sáng nay gặp cơ hội tốt, nên một câu vì anh mổ xẻ, nói toạc ra cho mọi người nghe. Cột cái vốn là khúc cây, trái cân chỉ là sắt nguội. Ngài mổ xẻ như vậy là muốn chia sẻ cái gì?

Quý vị nếu đến các nơi, chớ nói sơn tăng nhiều lời. Các vị đi đến nơi này nơi kia, nhớ đừng nói tôi nhiều lời.

Tăng hỏi: 

– Hoa sen khi chưa ra khỏi nước thì thế nào? 

Sư đáp: – Mất lỗ mũi ông. 

Tăng hỏi: – Sau khi ra khỏi nước thì thế nào?

Sư đáp: – Xỏ phủng tròng mắt ông. 

Hỏi hoa sen khi chưa ra khỏi nước thì thế nào? Hoa sen là chỉ cho thể chân thật, chưa ra khỏi nước tức là chưa thấy, chưa nhận ra, nên ngài đáp: Mất lỗ mũi ông. 

Hỏi sau khi ra khỏi nước thì sao? Ngài đáp: Xỏ phủng tròng mắt ông. Bởi ra khỏi nước tức đã thấy được rồi.

Tăng hỏi: – Thế nào là chánh pháp nhãn? 

Sư đáp: – Đậu đen.

Chánh pháp nhãn tức là Chánh vị trong Ngũ vị quân thần của tông Tào Động. Chánh thuộc về âm, là thể. Thiên thuộc về dương, là dụng. Vì vậy khi được hỏi chánh pháp nhãn thì ngài đáp đậu đen, tức chỉ cho thể.

Tăng hỏi: – Thế nào là quân? 

Sư đáp: – Mài giũa kiếm ba thước, đợi chém người bất bình. 

Tăng hỏi: – Thế nào là thần? 

Sư đáp: Mây trắng thong dong mãi, dòng nước lăng xăng hoài. 

Tăng hỏi: – Thế nào là quân thần đạo hợp? 

Sư đáp: – Mây bay mưa rơi trăng sáng sao soi. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Chánh trung thiên? 

Sư đáp: – Trước khi gương chưa soi. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Thiên trung chánh? 

Sư đáp: – Sum vầy không thiếu dư. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Chánh trung lai? 

Sư đáp: – Khắp cõi bặt máy trần. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Kiêm trung chí? 

Sư đáp: – Cắn tên đùa lập công. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Kiêm trung đáo? 

Sư đáp: – Thập đạo chẳng tăm hơi. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Chuyển công tựu vị? 

Sư đáp: 

– Buông tay chẳng tựa toàn thể hiện, thuyền con ngư phủ ngụ hoa lau. 

Tăng hỏi: 

 Thế nào là Chuyển vị tựu công? 

Sư đáp: 

 Nửa đêm đầu non trăng gió lặng, vượn lão trên cành một tiếng kêu. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào là Công vị tề chương? 

Sư đáp: 

– Ra cửa chẳng đi đường trở lại, bụi bay đầy mắt dứt trần ai. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Công vị câu ẩn? 

Sư đáp: 

– Trâu đất uống cạn trăng đầm lặng, ngựa đá ra roi chẳng ngoái đầu. 

Đây là những câu đối đáp về Ngũ vị quân thần của tông Tào Động. Quân là Chánh, Thần là Thiên, Vị là Chánh, Công là Thiên. Những câu này không thể giải thích.

Sư tịch tại núi này, tháp toàn thân xây ở góc tây nam của chùa.

THIỀN SƯ HUỆ HUY TỰ ĐẮC Ở TỊNH TỪ – HÀNG CHÂU (1097-1183) 

Sư họ Trương, quê ở Cối Kê, thuở nhỏ Sư nương theo thầy Đạo Ngưng ở Trừng Chiếu thế phát và thọ giới Cụ túc. Năm hai mươi tuổi, Sư đến yết kiến Chơn Yết ở Trường Lô, có sở chứng chút ít. 

Sau đó, Sư đến yết kiến Hoằng Trí. Trí nêu: “Chính trong sáng có tối, chẳng dùng tối gặp nhau, chính trong tối có sáng, chẳng dùng sáng thấy nhau” để hỏi Sư. Sư chẳng khế hội. Đầu hôm, Sư định trở lại trước tượng thánh tăng thắp hương, mà Hoằng Trí cũng vừa đến. Sư trông thấy liền chóng rõ câu nói trước. 

Hôm khác Sư vào thất, Hoằng Trí nêu: “Khen thay ngày đi mặt như ngọc, lại trách lúc về râu tợ sương” để hỏi Sư. Sư đáp: – Kia vào ly, kia ra vi. 

Từ đây, Sư hỏi đáp không ngại. 

Hoằng Trí nhận là chân tử trong thất. 

Vào ly, ra vi. Đây là những chữ nói lên nghĩa của Niết-bàn.

Năm Đinh Tỵ niên hiệu Thiệu Hưng (1137), Sư khai pháp ở Phổ Đà, kế đến Vạn Thọ, Kiết Tường, Tuyết Đậu. Niên hiệu Thuần Hy thứ ba (1176), sắc vua bổ Sư trụ trì chùa Tịnh Từ. 

Sư thượng đường: 

Sóc phong lẫm lẫm tảo hàn lâm,

Diệp lạc quy căn lộ xích tâm. 

Vạn phái triều tông thuyền đáo ngạn,

Lục song hư ánh giới đầu châm. 

Bản thành hiện, mạc tha tầm, 

Tánh địa nhàn nhàn diệu cổ câm (kim). 

Hộ ngoại đống tiêu xuân sắc động,

Tứ sơn hỗn tác mộc long ngâm. 

Dịch: 

Gió bấc quét rừng rét căm căm,

Lá rụng về nguồn hiện mảnh tâm.

Muôn dòng về biển thuyền đến bến, 

Sáu cửa sáng ngời cải gặp kim.

Vốn hiện thành, chớ kiếm tầm, 

Bản tánh xưa nay sáng thậm thâm, 

Ngoài cửa tuyết tan sắc xuân động 

Bốn núi lẫn làm cây rồng ngâm. 

Gió bấc quét rừng rét căm căm, mùa đông ở xứ lạnh gió bấc thổi qua cây rừng, lá rụng trơ cành lạnh căm căm. Lá rụng về đâu? Lá rụng về nguồn hiện mảnh tâm. Lá cây của chúng ta có rụng không, hay vẫn tươi như mùa xuân không chịu rụng?

Muôn dòng về biển thuyền đến bến, sáu cửa sáng ngời cải gặp kim. Nước chảy về nguồn, còn thuyền thì đã vào đến bờ. Lúc đó sáu cửa đã trong sạch, không còn bị chướng ngại. Bởi đã dung thông với nhau, nên nói như cải gặp kim. Kim cải cảm thông thu hút nhau, không còn chia rẽ, gọi là lục căn hỗ dụng.

Những câu này không phải chỉ là thơ tả cảnh suông không có đạo lý gì, mà đây là mục thứ chín Lá rụng về cội trong Mười mục chăn trâu.

Vốn hiện thành chớ kiếm tìm, bản tánh xưa nay sáng thậm thâm. Ngay nơi đó là hiện thành, tìm kiếm đâu nữa?

Ngoài cửa tuyết tan sắc xuân động. Ngoài cửa tuyết đã tan hết, muôn màu sắc hiện ra trong mùa xuân. Tuyết tan ở mùa đông thì màu sắc hiện ở mùa xuân.

Bốn núi lẫn làm cây rồng ngâm. Bốn núi là tứ đại, có con rồng ở trong tức là tâm. Nhận ra chính mình thì sáu căn hỗ dụng, như thế là đã hiện thành, không còn gì nữa. Ngay nơi thân tứ đại này đã nhận ra cái chân thật.

Sư thượng đường: 

– Ông già Thích-ca cùng lý tận tánh miệng vàng nói ra giáo lý một đời, dường thể xoay châu chuyển ngọc, vẫn bị người gọi là giấy cũ lau ghẻ. Tổ sư Đạt-ma dùng pháp Nhất thừa chỉ thẳng riêng truyền, nhìn vách chín năm chẳng lập văn tự, bị người gọi là Bà-la-môn nhìn vách. Hãy nói, hành trạng thế nào mới khỏi bị người bên chỉ trích? 

Áo nạp trùm đầu muôn việc thôi, 

Khi này sơn tăng trọn chẳng hội. 

Lời từ kim khẩu của Phật nói ra là lời vàng, như xoay châu chuyển ngọc, vẫn bị chê là giấy cũ lau ghẻ. Cho đến tổ Đạt-ma chỉ thẳng truyền riêng, cũng bị xem là Bà-la-môn nhìn vách. Hãy nói hành trạng thế nào mới khỏi bị người bên chỉ trích? Việc làm của Phật tổ cao siêu đều bị chê bai, vậy làm sao để không bị chỉ trích?

Áo пар trùm đầu muôn việc thôi, khi này sơn tăng trọn chẳng hội. Hai câu này trích trong Tham Đồng Khế của ngài Thạch Đầu Hy Thiên. Nguyên văn là:

Nạp bí mông đầu vạn sự hưu, 

Thử thời sơn tăng đô bất hội. 

Áo nạp trùm đầu muôn việc thôi. Hình ảnh ông tăng muôn việc thôi dứt, lấy áo nạp trùm đầu ngủ khò. Chúng ta cũng kéo chăn trùm đầu mà muôn việc có được thôi dứt không? Nếu được thì tốt biết mấy.

Khi này sơn tăng trọn chẳng hội. Người đến chỗ chân thật là như thế, không còn gì để biết. Muôn việc đều buông hết, không cần khởi hiểu. chẳng phải luận bàn.

Sư thượng đường: 

Sào tri phong, huyệt trị vũ,

Điềm giả điềm hề khổ giả khổ

Bất tu kế giảo cánh tư lương 

Ngũ ngũ tùng lai nhị thập ngũ

Vạn ban thi thiết đảo bình thường 

Thử thị tùng lâm bão tham cú.

Chư nhân hoàn ủy tất ma? 

Dã lão bất tri Nghiêu Thuấn lực

Đông đông đả cổ tế giang thần. 

Dịch: 

Tổ chim biết gió, hang biết mưa,

Ngọt đó ngọt chừ đắng đó đắng.

Chẳng cần suy nghĩ lại xét lường, 

Năm năm từ lâu là hăm lăm. 

Muôn việc sắp đặt đến bình thường,

Đây là câu tùng lâm bão tham. 

Quý vị lại hiểu rõ chăng? 

Lão quê chẳng biết sức Nghiêu Thuấn, 

Đùng đùng đánh trống cúng thần sông. 

Tổ chim biết gió, hang biết mưa. Tổ chim ở trên cây nên gió thổi thì liền biết. Hang động ở dưới thấp nên khi mưa nước chảy xuống ngập tràn, nên nói hang biết mưa.

Ngọt đó ngọt chừ đẳng đó đẳng, cái gì ngọt thì tự ngọt, cái gì đắng tự đắng. Chẳng cần suy nghĩ lại xét lường, muôn việc vậy là vậy, không có gì phải suy nghĩ xét lường. Năm năm từ lâu là hăm lăm, năm lần năm là hai mươi lăm, hiển nhiên như thế.

Muôn việc sắp đặt đến bình thường, muôn việc đều trở lại chỗ bình thường của nó. Đây là câu tùng lâm bão tham, bão tham là tham vấn đã no rồi, không cần phải hỏi nữa. Thế nhưng, quý vị lại hiểu rõ chăng? Chỗ ấy các người có hiểu thông suốt chưa?

Lão quê chẳng biết sức Nghiêu Thuấn, đùng đùng đánh trống cúng thần sông. Đây là câu châm ngôn của Trung Hoa. Tương truyền vua Nghiêu vua Thuấn có tài trị thủy. Mỗi khi lụt lội, nước sông tràn dâng, vua cho người khai thông hoặc dẫn nước vô ruộng đồng chỗ khác. Người nhà quê không biết, thấy nước tràn lên cứ đánh trống cúng Hà bá, tức thần sông, mà không biết bắt chước làm thủy lợi. Ý nói mọi việc chúng ta đều có thể làm được nhưng không chịu làm, cứ sợ bên ngoài, trông vào cầu cúng ở bên ngoài.

Sư thượng đường: 

– Thần của hang, chốt của máy, trong ấy tham cứu, xoay về được diệu. Mây tuy động mà thường nhàn, trăng tuy tối mà càng chiếu. Chủ khách lẫn tham, chánh thiên kiêm đáo. 

Mười châu xuân hết hoa héo tàn, 

Rừng cây san hô nhật sáng rỡ. 

Mười châu là chỉ cho tiên cảnh, tức chỗ cư ngụ của thần tiên, khi qua mùa xuân thì hoa rụng hết, nhưng trong rừng cây san hô, mặt trời soi sáng rỡ ràng.

Tăng hỏi: – Thế nào là Chánh trung thiên? 

Sư đáp: – Đêm qua canh ba sao đầy trời.

Câu đáp này dễ hiểu. Đêm là tối, là đen; sao đầy trời là sáng, là trắng. Tức là âm dương hồi hỗ.

Tăng hỏi: – Thế nào là Thiên trung chánh?

Sư đáp: – Mây trắng trùm đầu núi, trọn chẳng lộ đảnh cao.

Mây trắng là sáng, chỉ cho thiên. Đầu núi là tối, chỉ cho chánh.

Tăng hỏi: – Thế nào là Chánh trung lai? 

Sư đáp: – Chớ gọi cá kình không lông cánh, ngày nay chính từ đường chim sang. 

Con cá không có lông cánh, nhưng nó vẫn nhảy vọt lên như đi đường chim bay.

Tăng hỏi: – Thế nào là Kiêm trung chí?

Sư đáp: – Ứng không dấu, dụng không vết.

Đến đây ứng dụng thiện xảo, không còn dấu vết.

Tăng hỏi: – Thế nào là kiêm trung đáo? 

Sư đáp: – Chiếc áo người đá rách, khắp nơi không người may. 

Sư thượng đường: 

– Da thịt rơi rụng bặt chỗ nơi, sáng tỏ thân tâm một vật không,

Khéo vào đạo lớn chỗ sâu lặng, người ngọc yên ngồi xe bạch ngưu.

Điền địa diệu minh người đạt rất ít, thức tình chẳng đến chỉ chứng mới biết.

Con mây trắng linh linh tự chiếu, cha núi xanh cao ngất thường còn.

Cơ phân sáng sau đảnh, trí hợp mắt trước kiếp.

Vì thế nói, 

Đường Tân Phong chừ cao vẫn bước, 

Động Tân Phong chừ tươi sáng trong.

Người đi, đi chừ chẳng động gót, 

Người dạo, dạo chừ chớ vội vàng. 

Nhà dừng chân có, ít người đến, 

Rừng suối chẳng sâu, cây tầm thường. 

Chư thiền đức! Hướng thượng một phen đến, tôn quý khó rõ.

Trên điện lưu ly chẳng xưng tôn,

Trước rèm phỉ thúy lại hợp bạn.

Chính khi ấy, kim chỉ xâu suốt, chân tông chẳng rơi, nên làm sao thi thiết? 

Tóc bạc đầy đầu lìa hang núi, 

Nửa đêm xuyên mây vào xóm làng. 

Da thịt rơi rụng bặt chỗ nơi, sáng tỏ thân tâm một vật không. Khi da thịt bị rơi rụng hết, không còn gì thì chừng đó mới thấy thân tâm không có vật.

Khéo vào đạo lớn chỗ sâu lặng, người ngọc yên ngồi xe bạch ngưu. Xe bạch ngưu là xe trâu trắng, chỉ cho Phật thừa. Vào được đạo lớn sâu lặng rồi thì chính là người ngọc ngồi trên xe bạch ngưu, tức là thể nhập pháp thân.

Điền địa diệu minh là chỗ tâm thể chân thật, người đến được chỗ này rất ít. Thức tình không thể nghĩ tới, chỉ có người chứng mới biết.

Con mây trắng linh linh tự chiếu, mây trắng là con, sáng rỡ tự chiếu. Cha núi xanh cao ngất thường còn, núi xanh là cha, cao ngất còn hoài. Ý này nói gì?

Suy nghĩ lanh lẹ chợt có chợt không như mây trắng, sáng rỡ nhưng tạm bợ, gọi là con. Cái luôn luôn thường còn, như núi xanh cao ngất vững vàng, là cha. Như vậy cha là thể, con là dụng. Chúng ta phải biết cái nào tạm bợ, cái nào thường còn không mất, chứ đừng quên cha mà chỉ nhớ con.

Cơ phân sáng sau đảnh, người mà căn cơ thấu triệt, phân phó được rồi, tức ở sau đảnh đã sáng. Trí hợp mắt trước kiếp, trí hợp với thể, con mắt thấy được trước kiếp, nghĩa là trước khi có sự vật đã thấy. Vì thế nói,

Đường Tân Phong chừ cao vẫn bước,

Động Tân Phong chừ tươi sáng trong. 

Tân Phong là chỗ Động Sơn. Đường của Động Sơn dù cao vót, mà vẫn cất bước. Động của Động Sơn tuy lặng lẽ nhưng vẫn tươi sáng.

Người đi, đi chừ chẳng động gót,

Người dạo, dạo chừ chớ vội vàng.

Ngài tán tụng tông Tào Động, đi mà không động gót chân, dạo chơi thảnh thơi không gấp gáp.

Nhà dừng chân có, ít người đến, 

Rừng suối chẳng sâu, cây tầm thường.

Trên đường Tân Phong có nhà mát để nghỉ ngơi, nhưng ít người đến đó. Đến được đó rồi chỉ là tầm thường, tức rốt cuộc là trở về chỗ tâm bình thường của mình mà thôi.

Hướng thượng một phen đến, tôn quý khó rõ. Đã đến nơi rồi còn phải một phen hướng thượng, con đường đó là con đường tôn quý. Trên điện lưu ly chẳng xưng tôn, ở điện lưu ly mà không nhận làm vua. Trước rèm phỉ thúy lại hợp bạn, lại ra rèm ngoài để hợp với nhau. Chính khi ấy, kim chỉ xâu suốt, chân tông chẳng rơi, làm sao thi thiết? Khi đó kim chỉ thẳng một đường xuyên suốt, chân tông chẳng rơi, đến đây làm sao thi thiết? Hai câu kết thúc, ngài nói rất rõ.

Tóc bạc đầy đầu lìa hang núi,

Nửa đêm xuyên mây vào xóm làng. 

Lão già ở am bây giờ đầu đã bạc, đóng cửa am, xách cá chép đi xuống chợ. Đẹp làm sao! Đó là lúc thõng tay vào chợ. Con đường hướng thượng đến đây là tuyệt đỉnh. Vào được chỗ chân thật rồi, mà ông già đầu bạc cũng không chịu ngồi yên, ban đêm đóng cửa thất, từ trên núi xuyên qua mây đi vào xóm làng, để hóa độ chúng sanh.

Sư thượng đường, cử thoại: 

– Phó đại sĩ có bài tụng pháp thân: 

Tay không cầm cán cuốc, 

Bộ hành cưỡi lưng trâu,

Trên cầu người qua thẳng, 

Cầu trôi nước chẳng trôi. 

Đại sư Vân Môn nói: Các người đông lại tây lại nam lại bắc lại, mỗi mỗi cưỡi một con trâu lại. Tuy nhiên như thế, ngàn con muôn con, chỉ cần biết một con này. 

Sư nói: 

– Vân Môn bình thường khô khan dùi châm chẳng phủng, đến đây cũng dài dòng lôi thôi. Quý vị! Hiện nay cần thấy một con này chăng? Khí trời hơi lạnh mỗi người tự về liêu phòng. 

Thượng đường, ngài nêu lên bài kệ pháp thân của Phó đại sĩ:

Tay không cầm cán cuốc,

Bộ hành cưỡi lưng trâu,

Trên cầu người qua thẳng,

Cầu trôi nước chẳng trôi.

Tại sao gọi là kệ pháp thân?

Cầm cuốc sao nói tay không? Bộ hành là người đi bộ, mà cưỡi lưng trâu thì sao gọi là đi bộ? Người đi qua trên cầu, nước trôi hay cầu trôi? Tất cả hoàn toàn phi lý, nhưng chính ngay cái phi lý đó, mới thấy được chỗ chân thật.

Ngài dẫn lời đại sư Vân Môn nói: Các người đông lại tây lại, nam lại bắc lại, mỗi mỗi cưỡi một con trâu lại. Tuy nhiên như thế, ngàn con muôn con, chỉ cần biết một con này. Cử thoại xong rồi ngài bình, đại sư Vân Môn nói như thế là còn dài dòng, còn với ngài thì Khí trời hơi lạnh, mỗi người tự về liêu phòng.

Trời lạnh, mỗi người tự về phòng mình đi. Đáng lẽ giải thích cho biết, nhưng ngài lại nói vậy thôi. Ngài có nói gạt không? Đây chính là thuật đặc biệt của thiền sư.

Sư thượng đường nhắc việc phong phan, nói: 

– Chỗ phong phan động để mắt nhìn tới, tức là Thượng tọa. Chỗ phong phan động mất đi con mắt, tức là phong phan. Kia nếu chưa như thế;

Chẳng phải phong phan chẳng phải tâm, 

Thiền tăng luống tự gắng dùi châm, 

Phòng núi mưa qua khói mù sạch, 

Nằm trong rừng tre gió mát râm. 

Chỗ phong phan động mà thấu suốt được, đó là Thượng tọa. Chỗ phong phan động không thấu suốt được, tức là phong phan. Nếu chưa được như vậy thì lắng nghe bài kệ:

Chẳng phải phong phan chẳng phải tâm. Không phải gió động không phải phướn động, cũng không phải tâm động.

Thiền tăng luống tự gắng dùi châm. Thiền tăng cố gắng tìm cho ra manh mối. Tìm ra rồi thì sao?

Phòng núi mưa qua khói mù sạch. Phòng ở trên núi, qua một trận mưa khói mù tan hết. Nằm trong rừng tre gió mát râm. Khói mù tan hết rồi, nằm trong rừng tre mà nghe gió thổi mát.

Khi nào chúng ta được một trận mưa to, dẹp hết khói mù thì chừng đó mới nghe được gió mát trong rừng tre.

Mùa thu niên hiệu Thuần Hy thứ bảy (1180), Sư trở lại Tuyết Đậu. Thuần Hy thứ mười (1183) giữa mùa đông, ngày hai mươi chín lúc nửa đêm, Sư tắm rửa xong liền tịch. Sư thọ 87 tuổi, vua ban hiệu là Tự Đắc thiền sư. 

Tông Lâm Tế Đời Thứ Mười Một

1.Phái Hoàng Long

THIỀN SƯ SIÊU TÔNG HUỆ PHƯƠNG ở HÒA SƠN – KIẾT CHÂU (1073 -1129) 

Sư họ Cung, quê ở Lâm Giang. 

Sư dạy chúng: 

– Trước dụng sau chiếu cốt nghiệm tác gia, trước chiếu sau dụng chẳng còn hình bóng, chiếu dụng đồng thời vách đứng ngàn nhẫn, chiếu dụng chẳng đồng thời căn trần nên soi. Cổ nhân dùng bốn chuyển ngữ này để nghiệm thiền tăng trong thiên hạ. Nếu không phải người đủ con mắt chân chánh liễu ngộ thấu đáo khó bề nương tựa. Ngày nay vì quý vị nêu ra rõ ràng rồi vậy, lại hiểu rõ hay chăng? Nếu hiểu rõ rồi, đáng gọi chẳng động mảy tơ chóng lên giác địa. Nếu chưa thế ấy, cần phải chín chắn. 

Sư lại đưa cây phất tử nói: 

– Xem, xem! Chỉ cái này tại Lâm Tế ắt chiếu dụng đồng hành, tại Vân Môn ắt sự lý đều đủ, tại Tào Động thì thiên chánh hiệp thông, tại Quy Ngưỡng thì ám cơ viên hợp, tại Pháp Nhãn thì nào dừng duy tâm. Song ngũ gia tông phái lập bày môn đình ắt chẳng không, dù cho biện được bè nhóm rõ ràng vẫn là việc bên quang ảnh. Nếu cần chống cự với sanh tử thì trời đất xa cách. Hãy nói, một câu siêu việt sanh tử làm sao mà nói? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Đã là lầm hạ chú cước. 

Trước dụng sau chiếu, trước chiếu sau dụng, chiếu dụng đồng thời, chiếu dụng chẳng đồng thời. Đây là bốn chuyển ngữ của tông Lâm Tế.

Sư lại đưa cây phất tử… Chính khi đưa phật tử, ngài nói về tông chỉ của năm phái. Cùng một phất tử mà năm tông phái có những yếu quyết riêng biệt.

Ngài bình, dù cho phân tích rành rẽ từng tông từng phái không sai chạy thì đó cũng là việc quang ảnh, là bóng sáng thôi chứ chưa phải sự thật. Nếu cần chống cự với sanh tử thì đất trời xa cách. Nếu dùng cái phân biệt rành rẽ đó mà chống cự sanh tử thì không thể chống được.

Tuy nhiên nói bàn như thế là đã lầm giải thích rồi. Vậy câu vượt sanh tử là gì? Là bụm miệng, im lặng.

AM CHỦ DIỆU PHỔ TÁNH KHÔNG Ở HOA ĐÌNH – phủ GIA HƯNG (1067 – 1142) 

Sư người Hán Châu, nương thiền sư Tử Tâm đã lâu, được ấn chứng. Sư đi đến sông Tú, theo nếp Hoa Đình Thuyền Tử, cất am tranh đồng Thanh Long, thổi sáo sắt để tự vui. Sư có làm nhiều phú vịnh, người được đều quý như của báu.

Thiền sư này có tính cách nghệ sĩ, nên phù hợp với Hoa Đình Thuyền Tử. Ngài bắt chước Hoa Đình Thuyền Tử không trụ trì, chỉ cất am tranh ở, thổi sáo tự vui. Do đó, người đời gọi ngài là Am chủ Diệu Phổ Tánh Không ở Hoa Đình.

Sư có bài Sơn Cư: 

Tâm pháp song vong du cách vọng,

Sắc trần bất nhị thượng dư trần. 

Bách điểu bất lai xuân hựu quá,

Bất tri thùy thị trụ am nhân? 

Dịch: 

Tâm pháp cùng quên còn cách vọng,

Sắc trần bất nhị vẫn thừa trần.

Trăm chim chẳng đến xuân lại mất, 

Chẳng biết ai là người trụ am? 

Tâm và pháp cả hai đều quên vẫn còn cách vọng, là giai đoạn nào? Đây là mục thứ tám trong mười mục chăn trâu, trâu và người chăn không còn. Tâm pháp cả hai đều mất, nhưng chưa phải đến nơi, vì thế nói còn cách vọng. Sắc trần bất nhị vẫn thừa trần, đã đến chỗ không hai rồi mà chưa xong.

Trăm chim chẳng đến xuân lại mất, trăm chim không đến, xuân qua rồi. Chẳng biết ai là người trụ am? Chỗ cứu cánh là phải biết được am chủ. Nếu đến chỗ mất hết cứ tưởng đã xong việc là sai, còn phải nhảy qua một bước nữa.

Sư làm bài cảnh chúng rằng: 

Học đạo du như thủ cấm thành, 

Trú phòng lục tặc dạ tinh tinh. 

Trung quân chủ tướng năng hành lệnh

Bất động can qua trị thái bình. 

Dịch: 

Học đạo ví như giữ cấm thành 

Ngày ngừa lục tặc, tối tinh tinh 

Trong quân chủ tướng hay hành lệnh

Chẳng động gươm đao giữ thái bình. 

Học đạo du như thủ cấm thành, người học đạo giống như giữ cấm thành. Trú phòng lục tặc dạ tinh tinh. Tinh tinh là tỉnh tỉnh, tinh lanh sáng suốt. Ban ngày phải đề phòng, ngăn giữ sáu cửa không cho giặc vô, ban đêm thì phải tỉnh tỉnh

Trong quân chủ tướng hay hành lệnh. Trong quân có chủ tướng luôn luôn hành lệnh, vừa thấy kẻ giặc nào liền chém không tha. Chẳng động gươm đao giữ thái bình. Biết hành lệnh như vậy, được tỉnh luôn như vậy thì không dùng gươm đao mà giữ được thái bình.

Người tu phải nhớ bài kệ này. Câu đầu là ví dụ. Câu thứ hai quan trọng, dạy chúng ta ban ngày phải làm gì, tối phải làm gì. Câu thứ ba là chủ tướng luôn luôn có mặt, thấy giặc hoặc kẻ nào làm sai là trị liền. Như thế mới không can qua, khỏi binh biến, được thái bình, là câu thứ tư. Bốn câu này đủ tu rồi, gọn quá chừng. Phải không?

Bài kệ này, ngài khuyến khích chúng ta tu hành. Bây giờ có ai đang ngừa giặc, giữ cấm thành không? Giữ mà hời hợt, đứa giặc nào xấu xa thì đuổi, đứa giặc nào tử tế dễ coi thì cho vô. Ban đêm thì tỉnh ít, chủ tướng có khi không hành lệnh, không ngừa gì hết, hoặc ngừa phân nửa hay phần ba mà thôi. Vì vậy trong nhà chúng ta luôn luôn rối loạn.

Niên hiệu Kiến Viêm năm đầu (1127) giặc Từ Minh làm phản đi qua Ô Trấn, mặc tình giết hại, dân chúng sợ chạy. Sư một mình cầm gậy đi đến, giặc trông thấy lấy làm lạ, nghi là ngụy phục, bèn hỏi duyên cớ. Sư đáp: 

– Tôi là thiền giả muốn đến chùa Mật Ấn. 

Giặc nổi giận muốn chém Sư. Sư nói: 

– Đại trượng phu cần đầu liền chặt lấy, sao phải nổi giận? Tôi hẳn phải chết, xin cho một bữa ăn để tống chung. 

Giặc dâng cá thịt, Sư dùng như ngọ trai thường, trước xuất sanh xong, bèn nói: 

– Ai sẽ vì tôi làm bài văn để cúng? 

Giặc tức cười mà không đáp. Sư đòi bút viết: 

“Than ôi! Duy linh, 

Nhọc ta do sanh, ắt lỗi tạo hóa; 

Sai ta do sống, ắt quấy âm dương. 

Thiếu ta do nghèo, ắt ngũ hành chẳng chánh;

Khốn ta do mạng, ắt ngày giờ chẳng tốt.

Chao ôi! Lớn thay! May có đạo xuất trần, 

Ngộ được tánh của ta, cùng diệu tâm kia.

Hẳn diệu tâm này ai hay làm thân? 

Trên đồng chân hóa của chư Phật, 

Dưới hợp vô minh của phàm phu.

Mảy bụi chẳng động, vốn tự viên thành. 

Diệu vậy thay! Diệu vậy thay! 

Mặt trời mặt trăng chưa đủ là sáng, 

Càn khôn chưa đủ là lớn. 

Cao vót sáng rỡ, không chướng không ngại.

Hơn sáu mươi năm hòa quang lẫn tục, 

Bốn mươi hai hạ tiêu dao tự tại. 

Gặp người thì vui, thấy Phật chẳng lạy. 

Cười vậy ư! Cười vậy ư 

Đáng tiếc chàng thiếu niên, 

Phong lưu rất tươi đẹp. 

Thản nhiên đi về phó gió xuân, 

Thể dường hư không trọn chẳng hoại.

Thượng hưởng” 

Sư liền cầm đũa gắp ăn. Bọn giặc cười to. Sư ăn xong lại nói: 

Kiếp số đã gặp ly loạn, 

Tôi là kẻ sống vui nhộn, 

Hiện nay chính lúc giờ lành, 

Xin mời một đao hai đoạn. 

Sư bèn hô to: – Chém! Chém! 

Giặc kinh hãi cúi đầu tạ tội, khiến quân rút lui. Nhà cửa vùng Ô Trấn khỏi bị thiêu đốt, thật nhờ ơn đức của Sư. Kẻ đạo người tục nghe việc này càng cung kính Sư. 

Đại trượng phu cần đầu liền chặt, sao phải nổi giận? Câu nói này cho thấy khí phách của ngài. Giặc đến, thiên hạ bồng con dắt cháu chạy rần rần, còn ngài cầm gậy đi thẳng vô đám giặc, bao nhiêu đó cũng biết được ngài anh hùng thế nào rồi. Giặc hỏi, ngài vẫn nói chuyện an nhiên không chút gì sợ sệt. Giặc nổi giận, ngài vẫn bình thản nói, đại trượng phu cần đầu thì cứ chặt lấy, khiến bọn giặc nể phục, phải ngán ngài.

Ngài thản nhiên nói đùa với giặc: Tôi hẳn phải chết, xin cho một bữa ăn để tống chung. Tôi đã vô vòng vây của các ông rồi, chắc hẳn phải chết. Bây giờ hãy cho tôi ăn một bữa cơm no, để làm lễ tiễn đưa. Bọn giặc nghe cũng tức cười, đem cá thịt dâng lên, tưởng làm như vậy thì ngài không ăn, nhưng không ngờ ngài ngồi vô thọ trai như thường.

Xuất sanh xong, ngài hỏi: Ai sẽ vì tôi làm bài văn để cúng? Tôi sắp chết rồi, bây giờ làm văn điếu đi chứ! Giặc tức cười làm thinh không đáp. Ngài bèn đòi giấy bút, tự viết bài văn điếu cho mình, không chút gì nao núng.

Than ôi! Duy linh, nhọc ta do sanh, ta nhọc nhằn bởi tại sanh; ắt lỗi tạo hóa, lỗi này là do tạo hóa mà ra. Sai ta do sống, ta bị sai quấy việc này việc nọ là do sự sống này; ắt quấy âm dương, bởi có âm dương nên mới có sự sống.

Thiếu ta do nghèo, ta nghèo tại ai? Ắt ngũ hành chẳng chánh, tại ngũ hành mà làm cho ta thiếu. Khốn ta do mạng, ắt ngày giờ chẳng tốt. Ta khốn đốn là do mạng, bởi sanh vào ngày giờ chẳng tốt.

Lớn thay! May có đạo xuất trần… Ngài khen ngợi đạo lý vi diệu, rồi dẫn lời Phật nói trong kinh Lăng-nghiêm: Trên đồng chân hóa của chư Phật, dưới hợp minh của phàm phu. Câu này trích trong đoạn nói về sức tự tại của Bồ-tát Quan Âm, nguyên văn là “trên đồng từ lực chư Phật, dưới hợp bi ngưỡng chúng sanh”.

Hơn sáu mươi năm hòa quang lẫn tục, bốn mươi hai hạ tiêu dao tự tại. Ngài nói, đến đây là đã sống ở đời hơn sáu mươi năm, hòa ánh sáng vào trong chỗ bụi bặm. Nơi đạo ngài được bốn mươi hai tuổi hạ, tiêu dao tự tại. Giờ thì thượng hưởng, xin mời cầm đũa. Ngài cầm đũa gắp ăn, mình tự mời mình ăn, bọn giặc cười to.

Hiện nay chính lúc giờ lành, xin mời một đao hai đoạn. bèn to: Chém! Chém! Đến giờ tốt rồi các ông chặt đầu ta đi. Giặc nghe ngài nói kinh hãi cúi đầu tạ tội, bảo rút quân. Nhà cửa khỏi bị đốt phá. Kẻ đạo người tục càng cung kính Sư.

Ngài đùa với giặc khiến giặc rút lui, khỏi cần đánh khỏi cần khuyên. Chí khí này có được mấy người? Người như vậy mới thật là thấy đạo.

Chúng ta bây giờ miệng nói đạo cũng hay, nhưng chưa thấm đạo trong tim, trong phổi, trong xương trong tủy. Các ngài đã thấm tận xương tủy rồi, nên xem cái chết như trò chơi không có gì quan trọng, cười với cái chết, đùa với cái chết. Tinh thần của người xưa thật đáng kính nể.

Có vị tăng xem bài ca có câu “Thấy Phật chẳng lạy”, nghịch hỏi Sư: 

– Đã thấy Phật vì sao chẳng lạy? 

Sư tát tai, hỏi: – Hội chăng? 

Tăng đáp: – Chẳng hội. 

Sư lại tát tai, nói: – Nhà không hai chủ. 

Hay quá chừng! Tát tai thì lẽ ra phải thấy rồi, tại sao? Vì biết được ông chủ thì không cần lạy. Ông tăng không hiểu, ngài tát cho cái nữa, nói: Nhà không hai chủ.

Niên hiệu Thiệu Hưng năm Canh Thân (1140) mùa đông Sư làm một cái bồn to có khoét lỗ rồi đóng nút lại, biên thư gửi cho thiền sư Trì ở Tuyết Đậu, nói: “Tôi sắp thủy táng rồi.” 

Vào mùa đông năm Canh Thân niên hiệu Thiệu Hưng, ngài làm một cái bồn to, gọi theo miền Long Hải ở chúng ta là đan cái thúng đi biển, xong khoét lỗ đóng nút lại.

Đến năm Nhâm Tuất (1142), thiền sư Trì đến thăm, thấy Sư vẫn còn, bèn làm bài kệ ngạo rằng:

Đốt tai lão Tánh Không! 

Cương yếu ủy ngư miết 

Khứ bất sách tánh khử 

Chỉ quản hướng nhân thuyết. 

Dịch: 

Chao ôi lão Tánh Không!

Thích làm mồi cho cá, 

Đi chẳng đòi tánh đi, 

Chỉ giỏi nhằm người nói. 

Sư xem qua, cười nói: 

– Đợi huynh đến chứng minh. 

Đan cái thúng xong, biên thư gửi cho thiền sư Trì ở Tuyết Đậu nói: Tôi sắp thủy táng rồi. Báo tin từ năm Canh Thân niên hiệu Thiệu Hưng (1140), nhưng đến năm Nhâm Tuất (1142) thiền sư Trì đến thăm, tức là qua hai năm rồi mà vẫn chưa tịch. Thấy ngài vẫn còn sống, thiền sư Trì bèn làm bài kệ cười ngạo:

Chao ôi lão Tánh Không! 

Thích làm mồi cho cá, 

Đi chẳng đòi tánh đi,

Chỉ giỏi nhằm người nói.

Đi không dám đi, chỉ gạt người thôi, nói sắp thủy táng mà đến đây thấy vẫn còn.

Ngài xem qua, cười nói: Đợi huynh đến chứng minh. Tôi tính thủy táng, nhưng đợi huynh đến để chứng minh.

Sư liền sai báo tin họp tứ chúng. Chúng họp xong, Sư vì chúng nói pháp yếu. Bèn nói kệ rằng: 

Tọa thoát lập vong, bất nhược thủy táng,

Nhất tinh sài thiêu, nhị tỉnh khai khoáng. 

Tát thủ tiện hành, bất phương khoái sướng,

Thùy thị tri âm? Thuyền Tử hòa thượng. 

Cao phong nan kế bách thiên niên, 

Nhất khúc ngư ca thiểu nhân xướng. 

Dịch: 

Ngồi thoát đứng chết, chẳng bằng thủy táng,

Một bớt tốn củi, hai khỏi đào huyệt.

Buông tay liền đi, hẳn là vui sướng,

Ai là tri âm? Thuyền Tử hòa thượng.

Cao phong khó nối trăm ngàn năm, 

Một bản ông chài ít người xướng. 

Ngài làm bài kệ, câu đầu nói: Ngồi thoát đứng chết, là chỉ cho những bậc tiền nhân, người thì ngồi chết, người thì đứng tịch. Chẳng bằng thủy táng, tuy là tự tại, ngồi hay đứng tịch cũng được, nhưng không bằng thủy táng, tức là chết dưới nước. Tại sao?

Một bớt tốn củi, hai khỏi đào huyệt. Buông tay liền đi, hẳn là vui sướng. Thủy táng khỏi tốn củi cũng khỏi tốn công đào mộ. Ai là tri âm trong việc này? Thuyền Tử hòa thượng. Hoa Đình Thuyền Tử khi tịch cũng lật úp thuyền mà đi.

Cao phong khó nối trăm ngàn năm,

Một bản ông chài ít người xướng.

Cao phong đó, trăm ngàn năm sau khó có được người nối tiếp.

Sư bèn vào ngồi trong bồn xuôi nước mà đi. Chúng cùng đưa đến cửa biển, nhìn theo ngút mắt. Sư mở nút, tát nước mà bơi bồn vào. Chúng vây quanh xem không thấy vô nước. Sư lại theo dòng nước mà đi, xướng lên rằng: 

Thuyền Tử đương niên phản cố hương, 

Một tung tích xứ điệu nan lương.

Chân phong biến ký tri âm giả,

Thiết địch hoành xuy tác tán trường. 

Dịch: 

Thuyền Tử năm này lại cố hương,

Chỗ không dấu vết diệu khó lường.

Chân phong khắp gửi tri âm đấy, 

Sáo sắt thổi ngang vĩnh biệt trường. 

Cầm sáo thổi từ biệt mọi người mà đi. Thiền sư ra đi có buồn không? Có rơi lệ không? Muốn chết thì chết, muốn sống thì sống, không quan trọng gì hết.

Tiếng sáo xa xa rồi đứt khoảng trong chốn mênh mông. Thấy Sư ném chiếc sáo rồi chìm, chúng thương xót ngậm ngùi. Ba hôm sau, người ta thấy thân Sư ngồi kiết già trên bãi cát. Tăng tục đua nhau đến đón về chùa, lưu lại năm ngày sau mới trà-tỳ. Khi trà-tỳ có hai con chim nhạn bay qua bay lại trong hư không, đến thiêu xong mới đi.

Nói là khỏi tốn củi mà rốt cuộc cũng phải tốn củi trà-tỳ. Đọc qua sử của các thiền sư, chúng ta thấy nể phục tư cách của các ngài, lúc nào cũng sẵn sàng không sợ sệt. Còn chúng ta, đôi khi thân gầy ốm bệnh hoạn, đau lên đau xuống nhưng nghe nói chết cũng sợ sệt, rưng rưng nước mắt.

Ý chí của người đạt đạo thật cao tột. Các ngài không quản ngại sanh tử, ra đi được tự tại không lo sợ. Làm việc gì để lại lợi ích cho chúng sanh thì các ngài làm, không e dè. Chính gương đó khiến cho chúng ta nhớ mà bớt đi con khỉ nhát nhúa của mình.

Sự gan dạ của người xưa là như vậy, chứ không phải gan lỳ giống mấy vị tướng đánh giặc, ra trận liều chết. Người tu thấy đạo, biết thân này chỉ là ảo ảnh, nên thấy nó không ra gì, còn mất không quan trọng, không thành vấn đề.

THIỀN SƯ THỦ TRÁC TRƯỜNG LINH Ở THIÊN NINH – ĐÔNG KINH (1065 – 1123) 

Sư họ Trang, quê ở Tuyền Châu. 

Sư thượng đường: 

– Ba ngàn kiếm khách riêng nhận Trang Chu, vì sao lại nhảy chẳng khỏi? Cửa thầy thuốc nhiều bệnh nhân, vì sao chẳng tiêu một cái chích? Người đã thấu quan mời biện xem. 

Những câu nói trong tông Lâm Tế không giống như các pháp hội khác có thể gẫm hiểu được. Tông Lâm Tế nói nhưng không cho ta suy nghĩ, không cho dính mắc câu nói. Đôi khi các ngài ló dạng cho hành giả thấy một chút rồi cũng ẩn dấu.

Sư thượng đường: 

– Ví như con mắt chẳng tự thấy con mắt, tánh tự bình đẳng. Người không bình đẳng liền thế ấy đi, chùy sắt không chuôi hãy tạm an trí. Dù vào rừng chẳng động cỏ, vào nước chẳng động sóng, cũng là phương tiện một thời. Giả sử tre trong giậu nhổ măng ngoài giậu, khe đông hoa nở khe tây hồng, còn đợi khám phá qua đã. 

Ví như con mắt chẳng tự thấy con mắt, tánh tự bình đẳng. Ví như con mắt không thể nhìn thấy con mắt, mà chỉ nhìn thấy những sự vật bên ngoài. Con mắt hay thấy, cảnh vật là cái bị thấy. Nếu dùng cái hay thấy để thấy tánh thì tánh cũng là vật bên ngoài, chẳng phải chính mình.

Tánh vốn không hình tướng nên không thể thấy, chẳng qua chỉ là nhận ra nơi mình có tánh trị giác chân thật bất sanh bất diệt, hằng giác hằng biết, nên tạm gọi là thấy tánh. Ví dụ người bị chích thuốc tê vào tai, mũi nên không có cảm giác. Khi thuốc hết tác dụng thì có cảm giác trở lại. Do thuốc nên không có cảm giác, hết tê rồi liền có cảm giác, chứ không phải cảm giác đến từ bên ngoài. Cũng vậy, vì ta mê nên quên mất mình có tánh giác, hết mê rồi thì tánh giác hiện sờ sờ. Giản dị vậy thôi.

Hành giả tu thiền khởi niệm muốn thấy tánh thì rất sai lầm. Muốn thấy tánh, tức là tánh trở thành vật bị thấy. Tánh bị thấy thì chẳng phải là tánh giác sẵn có nơi mình. Đó là lỗi thứ nhất chúng ta hay nhầm lẫn.

Lỗi thứ hai là muốn thấy được tánh thì tánh phải có hình tướng, mà những thứ có hình tướng đều sanh diệt vô thường. Nếu tu để thấy cái sanh diệt là điều vô lý. Cho nên ngài Thủ Trác nói: Ví như con mắt chẳng tự thấy con mắt, tánh tự bình đẳng, nghĩa là tánh giác tự bình đẳng nên không thể thấy, như con mắt không thể thấy con mắt. Ngài nói thêm một loạt cho chúng ta khéo nhận ra, chứ không thể giải thích.

Tăng hỏi: 

– Đơn Hà thiêu Phật gỗ, Viện chủ vì sao lại rụng lông mày? 

Sư đáp: – Con mèo biết trèo cây. 

Tăng thưa: 

– Sớm biết như thế trọn chẳng như thế. 

Sư bảo: – Tiếc lấy lông mày. 

Tăng hỏi: Đơn Hà thiêu Phật gỗ, Viện chủ vì sao lại rụng lông mày? Nguyên văn là: “Đơn Hà thiêu mộc Phật, Viện chủ lạc my mao.” Phát xuất từ câu chuyện thiền sư Đơn Hà đến chùa Huệ Lâm gặp lúc trời đại hàn, bèn thỉnh tượng Phật gỗ đốt để hơ, viện chủ Hướng trông thấy quở: Sao đốt tượng Phật của tôi? Sư lấy gậy bới tro nói: Tôi thiêu để lấy xá-lợi. Viện chủ bảo: Phật gỗ làm gì có xá-lợi? Sư nói: Đã không có xá-lợi thì thỉnh thêm hai vị nữa thiêu. Viện chủ nghe câu nói này, tất cả chấp đều tan vỡ, nên có ra câu nói này.

Ngài đáp: Con mèo biết trèo cây. Trả lời quá hay! Con mèo sanh ra đã tự biết trèo cây, chứ không phải do mèo mẹ dạy. Cũng vậy, nhân cái biết nơi mình mà Viện chủ rụng lông mày, tức là rơi hết chấp trước, chứ chẳng phải từ nơi thiền sư Đơn Hà.

Tăng hỏi: – Thế nào là việc của kẻ áo nạp? 

Sư đáp: – Trời hạn dân sầu. 

Tăng hỏi: – Khi Phật chưa xuất thế thì thế nào? 

Sư đáp: – Tuyệt hào tuyệt ly. 

Tăng hỏi: – Sau khi xuất thế thì sao? 

Sư đáp: – Lấp hồ bít khe. 

Tăng hỏi: – Xuất thế cùng chưa xuất thế cách nhau bao nhiêu? 

Sư đáp: 

– Người bình chẳng nói, nước bình chẳng chảy. 

Kẻ áo nạp là người xuất gia tu hành.

Tâm còn lăng xăng như khỉ vượn, nghĩ cái này nhớ cái kia nên nói líu lo. Nếu tâm an nhiên thì đâu còn gì để nói. Cũng vậy, nước không chảy qua đất bằng, chỉ chảy qua những chỗ cao thấp mà thôi.

Sư thượng đường: 

– San cao đến thấp, đuổi giặc phá nhà, cắt sắt chặt đinh, con chồn mến hang, thảy chẳng thế ấy lại là sao? Vì thế nói, vực cao muôn nhẫn buông thõng tay, phải là người ấy. Chỉ như ôm bát vào nước Hương Tích, một câu làm sao nói? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Tối kỵ gió thổi trong biệt điệu. 

Biệt điệu là một điệu riêng.

Sư thượng đường:

– Đức Thích-ca đóng cửa thất, phạm lỗi tày trời. Ngậm miệng nơi Tỳ-da, tự cứu chưa xong. Thế nào? Thế nào? Cửa miệng quá nhỏ!

Niên hiệu Tuyên Hòa thứ năm (1123) ngày hai mươi bảy tháng chạp, Sư yên lặng thị tịch. 

THIỀN SƯ BỔN TÀI PHẬT TÂM Ở THƯỢNG PHONG – ĐÀM CHÂU 

Sư họ Diêu, quê ở Phúc Châu, thuở bé được xuất gia, thọ giới Cụ túc xong đi du phương. Sư đến Đại Trung nương thiền sư Long ở Hải Ấn. Thấy lão túc là đạo giả Đạt xem kinh đến câu “Một sợi lông sư tử, trăm ức sợi lông đồng thời hiện”, Sư chỉ hỏi: 

 Một sợi lông sư tử vì sao được trăm ức sợi lông đồng thời hiện? 

Đạt đáp: 

– Ngươi mới vào tùng lâm đâu thể lý hội được việc này. 

Sư nhân đây sanh nghi 

Sư phát tâm lãnh chức Tịnh đầu. 

Tịnh đầu là trưởng ban quét dọn. Thời xưa ở Trung Hoa, một pháp hội hưng thịnh có đến hơn ngàn người, cho nên mỗi ngành đều có trưởng ban để sắp xếp công việc trong tùng lâm.

Một hôm, Sư đến phiên quét dọn, vừa lúc Hải Ấn dạ tham, Sư đến nơi thì gặp kết tòa, nghe Hải Ấn ném cây gậy bảo: 

 Liễu thì sợi lông nuốt bể cả, mới biết cả đại địa trong một hạt bụi. 

Sư bỗng nhiên có tỉnh.

Tuy có tỉnh, nhưng tỉnh ấy chưa phải là xong.

Sau Sư ra xứ Mân, đến Dự Chương núi Hoàng Long, ở chỗ Tử Tâm mà cơ duyên không khế hợp. Sư đến tham vấn Linh Nguyên, mỗi khi vào thất ra ắt lau nước mắt nói: 

– Việc này ta thấy được rất rõ ràng, chỉ là lâm cơ nói chẳng ra. Nếu thế thì làm sao? 

Linh Nguyên biết Sư rất cần mẫn, bảo: 

– Phải đại triệt mới được tự tại. 

Thấy mà nói không được, nghĩa là hiểu nhưng không thốt ra lời.

Chưa bao lâu, chợt nhìn vị tăng ở bàn bên cạnh đọc Tào Động Quảng Lục, đến đoạn: “Dược Sơn hái củi về, có vị tăng hỏi: Chỗ nào lại? Dược Sơn đáp: Đốn củi lại. Tăng chỉ con dao dưới lưng nói: Khua reng reng là cái gì? Dược Sơn rút dao làm thế chặt.” Sư chợt vui mừng tát vị tăng đang đọc một tát, vén rèm chạy tuôn ra cửa nói kệ: 

Thiền Sư Bổn Tài Phật Tâm ở Thượng Phong

Triệt! Triệt! 

Đại hải càn khô, hư không tịnh liệt,

Tứ phương bát diện tuyệt già lan,

Vạn tượng sum la tề lậu tiết.

Dịch: 

Triệt! Triệt! 

Biển cả khô khan, hư không đều nát,

Bốn phương tám mặt bặt ngăn che,

Vạn tượng sum la đều tiết lộ.

Khi đã triệt ngộ thì biển cả khô khan, hư không tan nát, bốn phương tám mặt rỗng suốt không có chỗ ngăn che, vạn tượng sum la thảy đều tiết lộ. Thấy cái gì cũng hiện bày chân thể, mới là đại triệt.

Về sau, Sư được chia tòa giảng dạy ở Chơn Thừa, nhận trụ ở Thượng Phong và dời trụ nhiều chùa nổi tiếng. 

Khi Sư trụ ở Càn Nguyên, ngày khai đường dạy chúng: 

 Trăm ngàn môn tam-muội, vô lượng tạng phước đức, buông đi cũng như mở kho vũ khí, ánh sáng giao xen, nắm lại cũng giống tuyết phủ hoa lau, khắp thân khó biện. Khiến cho người thấy đó khêu dậy liền đi, người nghe đó một đao thẳng vào, mỗi mỗi đủ chánh nhãn ở đánh môn, người người tay mang theo linh phù, quét tri kiến Phật tổ, làm họa ương ở tùng lâm. Tôi nhớ ngày khai đường của Bảo Thọ, Tam Thánh đẩy một vị tăng ra, Bảo Thọ liền đánh, Tam Thánh nói: “Thế ấy vì người, ắt sẽ làm mù mắt người cả một thành Trấn Châu.” Vả như Càn Nguyên ngày nay khai đường, hoặc có vị tăng ra đây sơn tăng cũng đánh. Thoại này chẳng những rất thịnh hành, mà còn mở mắt người cả thành Phúc Châu. Vì sao vậy? 

Kiếm vì bất bình lìa vỏ báu, 

Thuốc nhân cứu bệnh ra bình vàng. 

Trăm ngàn môn chánh định, vô lượng kho phước đức. Buông ra giống như mở kho vũ khí, thấy ánh sáng các binh khí xen lẫn. Nắm lại như tuyết phủ hoa lau rất khó phân biệt, vì hoa lau trắng và tuyết cũng trắng.

Chỗ này mỗi người phải đến và thấy, không nên giữ tri kiến. Vì tri kiến là họa ương chướng ngại đạo vậy. Ngài dẫn lại chuyện ngày khai đường của thiền sư Bảo Thọ. Tam Thánh đẩy vị tăng ra, Bảo Thọ liền đánh. Tam Thánh nói: Thế ấy vì người, ắt sẽ làm mù mắt người cả một thành Trấn Châu. Nếu bây giờ đẩy vị tăng nào ra ngài cũng đánh, cốt yếu là mở mắt người cả thành Phúc Châu. 

Sao lạ vậy? Một bên mù mắt, một bên mở mắt, hai cái có khác không? Bên nào cũng chỉ một cái đánh mà thôi, mù hay mở không hai. Bởi vì, nếu đánh mà không ngộ thì mù, nhân đánh mà ngộ là mở. Như vậy cái đánh đó chỉ là phương tiện, gặp cơ liền ứng dụng mà thôi.

Cho nên ngài kết thúc: Kiếm vì bất bình lìa vỏ báu, thuốc nhân cứu bệnh ra bình vàng. Vì thấy sự bất bình nên rút kiếm ra khỏi vỏ báu. Thuốc được trút ra từ bình vàng bởi nhân có người bệnh. Tất cả phương tiện đều đưa người đến chỗ an lành.

Sư thượng đường: 

– Đức Đạt-ma trước khi chưa sang Đông độ, người người đều ấp hạt châu My Thủy, kẻ kẻ đều ôm hòn ngọc Kinh Sơn, đáng gọi là vách đứng ngàn nhẫn. Đến khi Nhị Tổ lễ ba lạy, về sau mỗi mỗi Nam hỏi thiện hữu Bắc lễ Văn-thù, rất chẳng trượng phu. Hoặc có một người nửa người chẳng cầu chư thánh chẳng trọng kỷ linh, một ngựa một thương nhằm trong hư không đấu kiếm, thật là thích thú bình sinh. Như hiện nay có chăng? 

Tự là chẳng về, về liền được, 

Mây cảnh Ngũ Hồ có ai tranh. 

Tổ Đạt-ma chưa sang Đông độ, ngọc báu đó mỗi người đều có sẵn nhưng không biết, nên Tổ đến chỉ cho chúng ta nhận ra cái sẵn có. Cũng vậy, chư Phật thị hiện nơi đời cốt chỉ cho chúng sanh nhận lại Phật tri kiến của mình, chứ các ngài không cho chúng ta sự an lạc giải thoát, khi ta nhận được của báu nhà mình là an lạc giải thoát rồi.

Bây giờ tôi đưa tay lên, quý vị thấy không? Ai cũng thấy hết, tức là có ngọc báu, vậy đâu có ai nghèo. Chúng ta không nghèo, sao phải làm khất sĩ, đi ăn xin? Thật ra Khất sĩ là một trong những ý nghĩa cao quý của Tỳ-kheo. Hàng đệ tử xuất gia của Phật, chọn pháp khất thực vì tự lợi và lợi tha. Tự lợi là dùng khất thực làm phương tiện, để nuôi dưỡng sắc thân mà tu tập. Lợi tha là dùng khất thực làm phương tiện, để giáo hóa và tạo phước điền cho chúng sanh. Do vậy, khất thực là truyền thống ba đời chư Phật. Thế thì chúng ta đâu có nghèo.

Thiền sử Trung Hoa ghi rằng:

Tổ Bồ-đề-đạt-ma ở Đông độ gần chín năm. Thấy cơ duyên đã đến, Tổ bảo đồ chúng:

– Giờ ta trở về sắp đến, các ngươi mỗi người nên nói chỗ sở đắc của mình.

Đạo Phó ra thưa:

– Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự, đây là dụng của đạo.

Tổ bảo: – Ngươi được phần da của ta.

Ni sư Tổng Trì ra thưa:

– Nay chỗ hiểu của con, như tổ A-nan thấy nước Phật A-súc, chỉ thấy một lần, không còn thấy lại.

Tổ bảo: – Ngươi được phần thịt của ta.

Đạo Dục ra thưa:

– Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy

của con không một pháp có thể được.

Tổ bảo: – Ngươi được phần xương của ta.

Đến Huệ Khả bước ra đảnh lễ ba lạy, rồi lui lại đứng yên lặng.

Tổ bảo: – Ngươi được phần tủy của ta.

Về sau, tổ Đạt-ma truyền pháp cho ngài Huệ Khả. Từ đó trở đi, người học đạo mỗi mỗi hướng về phương Nam tìm thiện tri thức thưa hỏi, hoặc đến phương Bắc lễ đức Văn-thù. Như vậy rất chẳng trượng phu. Tại sao? Bởi vì của báu sẵn có mà không chịu nhận, cứ đi tìm đầu này, lễ đầu kia.

Tự là chẳng về, về liền được, mây cảnh Ngũ Hồ có ai tranh. Tự mình chẳng chịu về, nếu về liền được, vì của báu đã có sẵn. Mây trời, cảnh đẹp đâu có ai tranh giành. Câu này rất hay!

Sư thượng đường: 

– Các pháp có hình tướng đều là động hay thực vật, trăm sông chảy xiết đua về biển. Có đàn không trống trời mây nhạt, giống như ông già bệnh ở Tỳ-da. Duy-ma bệnh ắt Thượng Phong bệnh, Thượng Phong bệnh ắt cây gậy bệnh, cây gậy bệnh ắt sum la vạn tượng bệnh, sum la vạn tượng bệnh ắt phàm cùng thánh bệnh. Quý vị lại biết chỗ trước khi bệnh khởi chăng? Nếu là biết được, tình cùng vô tình đồng một thể, nơi nơi đều đồng chân pháp giới. Nếu chưa như thế, dưa ngọt tột rễ ngọt, dưa đắng gốc cũng đắng. 

Ở đây ngài dùng phương tiện thật khéo. Duy-ma bệnh thì ta bệnh, ta bệnh thì cây gậy bệnh, cây gậy bệnh thì sum la vạn tượng bệnh, sum la vạn tượng bệnh thì phàm thánh thảy đều bệnh. Tại sao ngài Duy-ma-cật bệnh? Bởi chúng sanh bệnh nên ngài bệnh.

Bệnh của chúng sanh là vô minh tăm tối. Do vô minh nên không thấy được bản tánh mà thành bệnh. Bệnh tại mê, người mê thì vật cũng mê. Cho nên cây gậy bệnh, sum la vạn tượng bệnh, đối với phàm thánh cũng đều mê. Tuy nhiên, chỗ trước khi bệnh có bệnh không? Thấu suốt được chỗ này thì tình và vô tình đồng một thể, nơi nơi đều đồng chân pháp giới.

2. Phái Dương Kỳ

THIỀN SƯ KHẮC CẦN PHẬT QUẢ Ở CHIÊU GIÁC – phủ THÀNH ĐÔ (1063 – 1135) 

Sư họ Lạc, quê Bành Châu, gia thế theo Nho. Thuở nhỏ, Sư mỗi ngày nhớ được ngàn lời. Bỗng Sư đến chùa Diệu Tịch, thấy sách Phật xem qua ba lượt, buồn bã như được vật cũ. Sư nói: Ta ngờ quá khứ làm Sa-môn. 

Sư liền bỏ nhà nương thầy Tự Tỉnh thế phát, theo Văn Chiếu Thông học kinh, lại theo Mẫn Hạnh học kinh Lăng-nghiêm. Bỗng mang bệnh nặng, Sư than: Con đường Niết-bàn của chư Phật chẳng ở trong văn cú, tôi muốn do tiếng cầu cái thấy sắc, nơi kia không tử vậy. 

Đọc qua sách Phật, ngài cảm thấy bùi ngùi, nghĩ rằng mình có duyên đời trước đã từng làm Sa-môn. Bùi ngùi là nhớ lại, như người xa quê đã lâu, nay trở về thì có cảm giác thân thiết. Vậy mới thấy một đời tu chưa xong, nhưng đã gieo chủng Phật rồi thì đời sau tiếp nối

nhanh hơn.

Văn cú là chữ nghĩa, văn tự. Con đường Niết-bàn của chư Phật chẳng ở trong chữ nghĩa văn tự. Tôi muốn do tiếng cầu cái thấy sắc, tức là từ văn cú mà thấy được chỗ thật, chỗ thật đó mới không chết, còn bao nhiêu văn tự cũng chỉ là tử ngữ thôi.

Ví dụ chúng ta nghe nói Nguyễn Văn A, nhưng không thấy mặt Nguyễn Văn A thì có biết Nguyễn Văn A không? Đọc nhiều lần nhớ tên Nguyễn Văn A, nhưng dù đọc hàng trăm lần mà không thấy mặt, cũng không biết Nguyễn Văn A. Muốn biết mặt phải trực tiếp thấy.

Sư rời đây tìm đến pháp hội thiền sư Chân Giác Duy Thắng. Duy Thắng chích máu nơi cánh tay chỉ dạy Sư: 

– Đây là một giọt nước nguồn Tào. 

Sư kinh hãi giây lâu nói: 

– Đạo vẫn như thế ư? 

Sư liền đi bộ đến đất Thục, trước yết kiến thiền sư Hạo ở Ngọc Tuyền, kế nương thiền sư Tín ở Kim Loan, thiền sư Triết ở Đại Quy, thiền sư Tổ Tâm ở Hoàng Long, thiền sư Độ ở Đông Lâm… đều nhận Sư là bậc pháp khí. Thiền sư Tổ Tâm khen Sư rằng: 

– Ngày sau một tông Lâm Tế thuộc ngươi vậy. 

Ngài đến đất Thục, yết kiến các bậc tác gia trong nhà thiền học hỏi, các nơi đều nhận định ngài là hàng pháp khí.

Rốt sau, Sư yết kiến thiền sư Diễn ở Ngũ Tổ. Sư trình hết cơ dụng của mình mà Diễn đều không chấp nhận. Sư nghĩ thiền sư Diễn gắng xoay chuyển người, nói lời bừa bãi, tức giận bỏ đi. Thiền sư Diễn nói: 

– Đợi khi ông mắc bệnh nặng mới nghĩ đến ta. 

Ngài trình hết cơ dụng của mình nhưng thiền sư Diễn đều chê. Nghĩ Diễn xoay chuyển mình nên nói những lời bừa bãi, ngài tức giận bỏ đi. Bấy giờ, thiền sư Diễn nói: Đợi khi ông mắc bệnh nặng mới nghĩ đến ta. Chúng ta học đạo, thuộc lòng những câu thâm ý cao siêu, nhưng khi bệnh tới thì thế nào?

Kinh Kim Cang nói: Vô ngã vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả. Vậy mà bệnh tới liền lăn qua trở lại khóc than khổ sở. Lúc đó ngã, nhân có không? Chúng sanh, thọ giả có không? Bởi chưa thấm nhuần lời thầy dạy, chưa ứng dụng được pháp Phật vào đời sống tu hành, nên khi mắc bệnh nặng, không tự chủ được, chừng đó mới thấy mình chưa tới nơi, mới chịu trở về tìm thầy.

Sư đi đến Kim Sơn mắc bệnh thương hàn rất nặng, dùng chỗ thấy bình thường thí nghiệm đều không đắc lực. Từ đây mới nhớ lại lời ngài Pháp Diễn. Sư tự thệ rằng: “Bệnh tôi tạm bớt liền trở lại Ngũ Tổ.” Khi bệnh thuyên giảm, Sư liền trở lại Ngũ Tổ. Thiền sư Pháp Diễn trông thấy cười, dạy đến nhà tham thiền. 

Nếu chúng ta đau bụng, nhìn bằng cái không đau, xem thử có đau không. Người chỉ sống với cái đau tức là tu không đắc lực.

Sư vào liêu thị giả mới được nửa tháng, gặp Bộ sứ hưu trí trở về đất Thục, đến Pháp Diễn hỏi đạo. Pháp Diễn hỏi: 

– Đề hình thuở thiếu niên từng đọc Tiểu Diễm Thi chăng? Có hai câu gần nhau: 

– Thường kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc, Chỉ cốt anh chàng nhận được thanh. 

Đề hình ứng: – Dạ! Dạ! 

Pháp Diễn bảo: – Hãy chín chắn. 

Tiểu Diễm Thi là một quyển thơ của người thế gian. Chuyện kể về một tiểu thư có tình ý với chàng trai gần nhà. Vào chiều tối, chàng trai này lân la tới nhà tiểu thư, ý muốn dò tìm phòng cô chỗ nào. Tiểu thư trên gác nhìn xuống thấy, muốn cho chàng trai biết phòng mình đang ở, cô bèn gọi đứa hầu gái là Tiểu Ngọc. Chàng trai nghe tiếng, liền biết ngay cô đang có mặt tại đó. Như vậy, tiểu thư gọi Tiểu Ngọc thật ra không có việc gì, chỉ cốt muốn chàng trai bên dưới nhận được tiếng của mình. Nên nói: Thường kêu Tiểu Ngọc nguyên không việc, chỉ cốt anh chàng nhận được thanh. Thiền sư Pháp Diễn dẫn câu chuyện này để chỉ nhà thiền cũng vậy, nói đây mà ý ở kia, hành giả phải khéo nhận ý tứ vượt ngoài lời nói. Nếu chấp vào lời nói thì không thể hiểu được yếu chỉ nhà thiền.

Đề hình hiểu nên ứng thanh: Dạ! Dạ! Pháp Diễn bảo: Chỗ này cần phải chín chắn.

Sư vừa đến đứng hầu thưa: 

– Nghe Hòa thượng nhắc Tiểu Diễm Thị, Đề hình hiểu chăng? 

Pháp Diễn bảo: 

– Kia nhận được thanh. 

Sư thưa: 

– Chỉ cốt anh chàng nhận được thanh, kia đã nhận được thanh vì sao lại chẳng phải? 

Pháp Diễn nói: 

 Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang, cây bá trước sân phải không? 

Sư chợt có tỉnh. Sư bước ra thấy con gà bay đậu trên lan can vỗ cánh gáy, lại tự bảo: Đây há chẳng phải là thanh. 

Thiền sư Pháp Diễn dẫn lại công án “Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Triệu Châu đáp: Cây bá trước sân.” Vậy thì nghĩa của lời nói này ở cây bá trước sân hay ở chỗ nào? Nghĩa ở chỗ khác, nên vừa nhắc lại hình ảnh này, ngài liền ngộ.

Sư bèn sắm hương đèn vào thất trình kệ: 

Kim áp hương tiêu cẩm tú vị, 

Sênh ca tùng lý tủy phù quy. 

Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự,

Chỉ hứa giai nhân độc tự tri. 

Dịch: 

Lò hương bên trướng khói vừa tan,

Say khước dìu về khúc xiêng quàng.

Một đoạn phong lưu thời trai trẻ,

Chỉ có giai nhân mới hiểu chàng. 

Pháp Diễn bảo: 

– Phật tổ đại sự chẳng phải căn nhỏ cơ hèn hay đến được, tôi giúp ông vậy. 

Pháp Diễn liền bảo khắp cho hàng kỳ cựu trong núi rằng: 

– Thị giả của tôi tham được thiền. 

Do đây, Sư đi đến đâu cũng được đưa lên làm Thủ tọa. 

Ngài trình bày, đã thấu hiểu đến nơi đến chốn lời Phật tổ dạy rồi. Pháp Diễn công bố chứng nhận cho ngài. 

Khoảng niên hiệu Sùng Ninh (1102-1106), Sư về quê thăm cha mẹ, bốn chúng nghênh đón lễ bái. Nguyên soái ở Thành Đô là Hàn lâm Quách Tri Chương thỉnh Sư khai pháp ở chùa Lục Tổ, kế đến chùa Chiêu Giác. 

Khoảng niên hiệu Chánh Hòa (1111-1118), Sư xin nghỉ việc, lại ra núi đi dạo phương Nam. 

Bấy giờ cư sĩ Trương Vô Tận đang ngụ ở Kinh Nam, ở ẩn học đạo, ít tiếp xúc với người. Sư dừng thuyền đến ra mắt ông. Luận về chỉ yếu kinh Hoa Nghiêm, Sư nói: 

 Cảnh giới hiện lượng kinh Hoa Nghiêm lý sự toàn chân, ban đầu không nhờ pháp. Sở dĩ tức một là muôn, rõ muôn là một. Một lại một, muôn lại muôn, thênh thang không cùng; tâm, Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt, co duỗi tự tại viên dung không ngại. Đây tuy lý tột, trọn là không gió mà sóng nổi ầm ầm. 

Cư sĩ Trương Vô Tận là tể tướng nhưng lại siêng năng học đạo, ít tiếp xúc với người.

Khi luận bàn về yếu chỉ kinh Hoa Nghiêm, ngài nói: Sở dĩ tức một là muôn, rõ muôn là một. Như có một khối vàng, người ta đem làm thành vòng xuyến, hoa tai… Cả hai đều làm từ vàng, không khác biệt, nhưng nếu làm thành vòng xuyến thì gọi là vòng xuyến, thành hoa tại nói là hoa tai. Xét trên giả tướng thì có nhiều, song xét trên thực thể chỉ có một. Nên nói, một tức là muôn, muôn tức một.

Tâm, Phật, chúng sanh cả ba không sai biệt. Nghĩa là tâm chúng sanh không khác với Phật, tâm Phật cũng không khác với tâm chúng sanh. Tại sao? Vì xét trên thể thì thể của tâm là tánh giác, tánh giác tức là Phật, như vậy tâm với Phật không khác. Ngay nơi chúng sanh đã có tâm, có tâm tức có Phật. Cho nên tâm, Phật và chúng sanh đều không khác.

Khi ấy Vô Tận bất chợt nhích lại gần. Sự hỏi: 

 Đến đây cùng ý Tổ sư Tây sang là đồng là khác? 

Vô Tận đáp: – Đồng. 

Sư bảo: – Chẳng được, không dính dáng. 

Vô Tận đổi sắc. Sư bảo: 

– Chẳng thấy Vân Môn nói: “Núi sông đất liền không một mảy tơ lỗi lầm vẫn là chuyển cú. Cho dù chẳng thấy nhất sắc mới là bán đề. Lại phải biết có hướng thượng mới là thời tiết toàn đề.” Đức Sơn, Lâm Tế há chẳng phải toàn đề ư? 

Vô Tận bèn gật đầu. 

Thấy núi sông đất liền không một mảy tơ lỗi lầm, gọi là chuyển cú. Cho dù chẳng thấy nhất sắc, mới là bán đề thôi. Còn phải biết có chỗ hướng thượng, mới là toàn đề. Như vậy, chỉ có ngài Đức Sơn và ngài Lâm Tế mới là toàn đề.

Hôm sau lại nói về sự pháp giới lý pháp giới, đến lý sự vô ngại pháp giới, Sư lại hỏi:

– Đây đáng gọi là thiền chưa? 

Vô Tận đáp: – Chính đang nói thiền.

Sư cười bảo: 

– Chẳng phải, chính là còn trong lượng pháp giới, bởi lượng pháp giới chưa diệt. Nếu đến sự sự vô ngại pháp giới thì lượng pháp giới diệt, mới là nói thiền. Thế nào là Phật? Que cứt khô. Thế nào là Phật? Ba cân gai. Thế nên Chơn Tịnh có bài kệ nói:

Sự sự vô ngại như ý tự tại,

Thủ bả trư đầu khẩu tụng tịnh giới.

Sấn xuất dâm phường vị hoàn tửu trái,

Thập tự nhai đầu giải khai bố đại.

Dịch:

Sự sự vô ngại như ý tự tại 

Tay cầm đầu heo, miệng tụng tịnh giới

Tiền rượu chưa trả, đuổi khỏi lầu xanh,

 ngã tư đường cởi mở túi vải.

Vô Tận nói: – Luận rất hay! Đâu dễ được nghe.

Khi ấy Vô Tận lễ Sư làm thầy, mời ở Bích Nham.

Nếu còn nói pháp giới tức còn có giới hạn. Tới chỗ Sự sự vô ngại pháp giới, mới diệt được giới hạn của pháp giới. Mỗi sự mỗi sự đều vô ngại, mới là chỗ cứu cánh. Khi lượng pháp giới diệt thì gọi là thiền.

Ngài dẫn tiếp những công án trong nhà thiền. Khi có người hỏi, thế nào là Phật? Lâm Tế trả lời, que cứt khô. Hỏi, thế nào là Phật? Động Sơn đáp, ba cân gai. Chính những câu đáp đó, mới đúng là Sự sự vô ngại pháp giới. Tại sao Phật là bậc tôn quý, nhưng khi hỏi Phật lại lấy những thứ ấy để trả lời? Đây để nói lên chỗ không còn đối đãi, không còn sai biệt. Đến đó mới là Sự sự vô ngại pháp giới.

Sự sự vô ngại, như ý tự tại. Sự sự vô ngại thì tự tại như ý. Tay cầm đầu heo, miệng tụng tịnh giới. Tay cầm đầu heo mà miệng tụng giới thanh tịnh. Nghĩa là nhìn hình thức bên ngoài thấy như phạm giới, nhưng trong tâm vẫn thanh tịnh vô nhiễm.

Tiền rượu chưa trả, đuổi khỏi lầu xanh, ngã tư đường cởi mở túi vải. Ở quán rượu cũng như ở ngã tư đường. Người không còn niệm tịnh uế, cao thấp, tiện quý… mới ra khỏi lượng của pháp giới, mới sự sự vô ngại.

Sư lại đến Đạo Lâm, Khu mật Đặng Tử Thường tâu về triều xin ban tử y và hiệu. Chiếu vua mời Sư trụ Tương Sơn ở Kim Lăng, học giả tụ họp không còn chỗ để dung. Lại sắc mời trụ chùa Vạn Thọ ở Thiên Ninh. Niên hiệu Kiến Viêm năm đầu (1127) vua lại mời Sư trụ Kim Sơn. Nhà vua đến Duy Dương, mời Sư vào hỏi đạo. Vua ban hiệu là Viên Ngộ thiền sư và mời trụ Vân Cư. Về sau lại mời Sư trụ Chiêu Giác. 

Có vị tăng hỏi: 

– Vân Môn nói “núi Tu-di”, ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: 

– Đẩy chẳng đến trước, kéo chẳng lùi sau.

Tăng thưa: – Chưa biết lại có lỗi hay không?

Sư đáp: – Ngồi ở đầu lưỡi. 

Có vị tăng hỏi: 

– Pháp chẳng riêng khởi, nương cảnh mới sanh. 

Rồi đưa tọa cụ lên hỏi: 

 Cái này là cảnh, cái nào là pháp? 

Sư đáp: – Lại bị Xà-lê cướp mất thương. 

Sư thượng đường: 

– Khắp thân là mắt, thấy chẳng đến. Khắp thân là tai, nghe chẳng thấu. Khắp thân là miệng, nói chẳng được. Khắp thân là tâm, xem xét chẳng ra. Dù cho cả đại địa rõ được, không sai sót một mảy tơ vẫn còn ở giữa đường. Cứ lệnh toàn đề, hãy nói diễn bày thế nào? 

Trong không, nhật nguyệt treo ngang dọc, 

Một buổi trời trong vạn cổ xuân. 

Ngài tóm ý toàn đề lại thành hai câu thơ: Trong không, nhật nguyệt treo ngang dọc, mặt trời mặt trăng mặc tình qua lại giữa hư không. Một buổi trời trong vạn cổ xuân, một khi trời trong thì mây tan, xuân hiện. Mùa xuân vạn cổ là mùa xuân muôn xưa, không tính kể thời gian.

Sư thượng đường: 

– Chót núi sóng vỗ đáy giếng bụi bay, mắt nghe dường vang sấm nổ, tai thấy tợ bày gấm vẽ, ba trăm sáu chục lóng xương mỗi lóng hiện vô biên diệu thân, tám muôn bốn nghìn sợi lông, mỗi mỗi sợi lông bày biển Bảo Vương sát, chẳng phải thần thông diệu dụng, cũng chẳng phải pháp nhĩ như nhiên. Dù hay ngàn mắt chóng mở, hẳn là mười phương tự nhiên quét sạch. Vả lại một câu siêu thoát khai ngộ làm sao nói? Thử ngọc cần trải qua lửa mà biết, châu chẳng rời bùn. 

Muốn biết ngọc thật hay giả, cần phải thử qua lửa mới biết. Hạt châu quý thì chẳng rời bùn.

Sư thượng đường: 

– Ngày mười lăm về trước, ngàn trâu lôi chẳng lại. Ngày mười lăm về sau, chim cắt mạnh đuổi chẳng kịp. Chính ngày mười lăm, trời bình đất bình đồng sáng đồng tối, đại thiên sa giới chẳng ngoài ngay đây, có thể ngậm nhổ mười phương. Tiến một bước, siêu việt bất khả thuyết biển Hương Thủy. Lùi một bước, quét sạch ngàn lớp muôn dặm mây trắng. Chẳng tiến chẳng lùi, chớ nói là Xà-lê, mà lão tăng cũng không có chỗ mở miệng.

Sư đưa cây phất tử nói:

– Chính hiện nay thì thế nào? 

Có khi để ở trên ngàn đảnh,

Cắt đứt mây thu chẳng phóng cao.

Kinh Kim Cang nói: “Quá khứ tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc.” Tâm quá khứ, hiện tại, vị lai đều là tâm vọng. Quá khứ đã qua, vị lai chưa đến, hiện tại suy nghĩ sanh diệt nên cũng không thể được.

Ở đây, ý tứ khác một chút. Trước ngày mười lăm là quá khứ, sau ngày mười lăm là vị lai. Chỉ có ngay ngày mười lăm, trời bình đất bình, đồng sáng đồng tối. Sống được với hiện tại thì đại thiên sa giới chẳng ngoài ngay đây… 

Sư thượng đường: 

– Mười phương đồng tụ hội, thân xưa nay không muội. Mỗi mỗi học vô vị, trên đảnh dùng kìm búa. Đây là trường thi Phật, sâu rộng khó hay lường. Tâm không thi đậu về, kiếm bén chẳng bằng chùy. Bàng cư sĩ lưỡi chống Phạm thiên, miệng trùm bốn biển, có khi đem cọng cỏ làm thân vàng trượng sáu, có khi đem thân vàng trượng sáu làm cọng cỏ, rất là kỳ đặc! Tuy nhiên như thế, cốt chẳng từng động đến cổng hướng thượng. Thế nào là cổng hướng thượng? Đúc ấn làm đàn cao. 

Nguyên bài kệ của cư sĩ Bàng Uẩn là:

Mười phương đồng tụ hội, 

Mỗi mỗi học vô vi, 

Đây là trường thi Phật, 

Tâm không thi đậu về. 

Nghĩa là, mười phương cùng nhóm họp, mỗi người đều học lý vô vi, đây là trường thi làm Phật, người nào được tâm không thì thi đậu, trở về quê hương vinh quy bái tổ. Ngài dẫn một câu thì bình một câu, nếu chúng ta không biết bài kệ này sẽ không biết câu nào là dẫn, câu nào là bình.

Mười phương đồng tụ hội, thân xưa nay không muội. Chỉ cái sáng rỡ của thân xưa nay.

Mỗi mỗi học vô vi, trên đảnh dùng kìm búa. Khi học vô vi, dùng kìm búa để đập tan những thứ hữu vi.

Đây là trường thi Phật, sâu rộng khó hay lường. Trường thi Phật sâu rộng lắm, khó lường nổi.

Tâm không thi đậu về, kiếm bén chẳng bằng chùy. Tâm không là Bát-nhã, bởi không ngã không nhân nên gọi là kiếm bén. Thế nhưng ngài phê bình kiếm bén chẳng bằng chùy, chùy vẫn mạnh hơn.

Bàng cư sĩ lưỡi chống Phạm thiên, miệng trùm bốn biển… Lời nói tuy khen nhưng chỉ rõ cư sĩ Bàng Uẩn chưa đến cổng hướng thượng.

Sư thượng đường: 

– Câu có câu không, siêu tông vượt cách, như bìm nương cây, núi bạc vách sắt. Đến khi cây ngã bìm khô, bao nhiêu người mất đi lỗ mũi. Dù cho lượm được lại, đã là ngàn dặm muôn dặm. Chỉ như khi chưa có tin tức ấy là thế nào? Lại thấu được chăng? Gió ấm tiếng chim hót, nhật lên bóng hoa chồng. 

Sư dạy chúng: 

– Một lời cắt đứt tiếng ngàn thánh, một kiếm ngay đó thây phơi muôn dặm. Vì thế nói, có khi câu đến ý chẳng đến, có khi ý đến câu chẳng đến, câu hay cắt ý, ý hay cắt câu, câu ý đan xen lỗ mũi thiền tăng. Nếu hay thế ấy chuyển đi, trời trong cũng phải ăn gậy. Hãy nói y cứ cái gì? 

Đáng thương vô hạn người đùa sóng, 

Rốt cuộc nước ròng lại chết chìm. 

Nếu chia câu chia ý thì là bên này hoặc bên kia. Dù cho ý đến câu đến, hay ý đến câu không đến… cũng là bên này bên kia. Chừng nào câu ý đều đuổi hết, lỗ mũi thiền tăng mới hiện tiền. Nghĩa là sao? Mỗi người tự nắm lấy lỗ mũi mình thử xem.

Người ta cứ đùa với sóng, nhưng rốt cuộc lại chết chìm trong nước cạn. Cũng vậy, người tu quan niệm rằng tất cả các pháp đều hư dối không thật, đâu có gì phải sợ, rồi cứ ngang nhiên nhào lộn trong đó, rốt cuộc nó dìm mình lúc nào không hay. Cho nên, tuy biết các pháp không thật, nhưng cũng phải tránh. Biết rượu không thật thì đừng uống. Biết tất cả dục lạc thế gian không thật cũng đừng đùa với nó, bằng không sẽ mắc kẹt trong đó.

Đáng thương hạn người đùa sóng, rốt cuộc nước ròng lại chết chìm. Câu này có hai ý để răn người. Một là tuy biết các pháp không thật, nhưng đừng đùa giỡn với nó, kẻo có ngày bị nhấn chìm. Hai là đi tắm biển, nghe sóng vỗ vui tai, nhưng đừng đùa với sóng hoài, coi chừng bị sóng cuốn đi. Chư huynh đệ phải thuộc lòng câu nói này để ứng dụng trong đời sống và công phu tu hành.

Sư dạy chúng: 

– Bờ cao muôn nhẫn buông thõng tay, cần phải người ấy; cây nỏ ngàn cân khi ấn máy, há vì chuột thỏ. Vân Môn, Mục Châu ngay mặt lầm qua; Đức Sơn, Lâm Tế lừa gạt hàng xóm. Ngoài ra, lập cảnh lập cơ, làm hang làm ổ, thế là diệt chủng tộc nhà Phật. Một câu độc thoát phải nói làm sao? 

Muôn duyên thay đổi nào còn việc, 

Tháng năm phòng núi lạnh như băng. 

Bờ cao muôn nhẫn buông thõng tay, cần phải người ấy. Bờ cao dựng đứng, phải là người gan dạ mới dám buông thõng tay. Cây nỏ ngàn cân khi ấn máy, há vì chuột thỏ. Cây nỏ ngàn cân dùng để nhắm bắn quân địch mạnh, chứ không phải nhắm bắn chuột thỏ.

Vân Môn, Mục Châu ngay mặt lầm qua; Đức Sơn, Lâm Tế lừa gạt hàng xóm. Ngoài ra, lập cảnh lập làm hang làm ổ, thế là diệt chủng tộc nhà Phật. Một câu độc thoát phải nói làm sao? Vân Môn, Mục Châu, Đức Sơn, Lâm Tế chỉ là lừa gạt kẻ quê dốt, lập cảnh lập cơ cũng là chuyện hang ổ. Muốn thoát khỏi chỗ đó phải làm sao?

Muôn duyên thay đổi nào còn việc, tháng năm phòng núi lạnh như băng. Tháng năm là mùa hè, sao lại lạnh như băng? Ý nói dù ở trước mọi việc, vẫn không bị làm ồn, không bị náo động.

Niên hiệu Thiệu Hưng thứ năm (1135) tháng tám, Sư có chút bệnh, ngồi kiết già viết kệ để lại 

cho chúng, ném bút thị tịch. Khi trà-tỳ, lưỡi và răng không cháy hết. Tháp ở bên chùa Chiêu Giác. Vua ban thụy là Chân Giác thiền sư. 

THIỀN SƯ HUỆ CẦN PHẬT GIÁM Ở THÁI BÌNH – THƯ CHÂU (1059 – 1117) 

Sư họ Uông, xuất gia thuở nhỏ, học thông kinh điển, mỗi khi đọc đến câu “Chỉ một việc này là thật, còn hai thì chẳng chân”, liền có tỉnh. Sư đi tham vấn các bậc tôn túc, qua lại chỗ thiền sư Pháp Diễn mấy phen. Sư bực Pháp Diễn không ấn chứng, nên kết bạn với Viên Ngộ cùng đi. Đến khi Viên Ngộ trở lại chỗ Pháp Diễn được triệt ngộ, bỗng Sư tìm đến, ý còn muốn đi nơi khác, Viên Ngộ khuyên nên ở lại. Viên Ngộ nói: 

 Tôi cùng huynh mới cách nhau hơn tháng, so lại khi gặp nhau lúc trước thế nào? 

Sư đáp: – Chỗ tôi nghi là ở đây. 

Sư liền dừng lại đây. 

Viên Ngộ hỏi, ngài đáp: Chỗ tôi nghi là đây. Ý muốn nói gì? Bởi trước đây còn ở chỗ Pháp Diễn thì hai ngài Viên Ngộ và Huệ Cần tức Phật Giám, sự tham học như nhau. Nhưng sau đó Viên Ngộ trở lại chỗ thiền sư Pháp Diễn được triệt ngộ, lúc ngài tìm đến là hai người mới cách nhau chỉ hơn một tháng, tư cách và lời nói của Viên Ngộ đã khác. Ngài nghi không biết Viên Ngộ có cái gì kỳ đặc mà thay đổi như vậy, nên dừng lại đây.

Một hôm Sư nghe Pháp Diễn nhắc “Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là gia phong của Hòa thượng? Triệu Châu nói: Lão tăng lãng tai, hỏi to lên. Tăng lại hỏi to lên. Triệu Châu nói: Ông hỏi gia phong của ta, ngược lại ta biết gia phong của ông rồi.” Sư liền dứt nghi, thưa: 

– Xin Hòa thượng chỉ bày chỗ tột! 

Pháp Diễn đáp: 

– Sum la và vạn tượng là sở ấn của nhất pháp. 

Sư liền lễ bái. Pháp Diễn cử Sư làm thư ký. 

Câu chuyện này rất lý thú. Vị tăng hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa thượng? Ngài không trả lời mà bảo: Lão tăng lãng tai, hỏi to lên. Ta lãng tai không nghe rõ, lại gần đây nói lớn lên. Tăng thật thà, tưởng lại gần nói ngài nghe cho rõ nên đến gần hỏi to, thế nào là gia phong của Hòa thượng? Triệu Châu rất khéo, gạt mà ông tăng không biết. Nếu lãng tai thì đâu nghe nói mà bảo hỏi to lên, vậy mà ông tăng còn thật thà lại gần để hỏi, tức là không hiểu chỗ Triệu Châu muốn chỉ, nên ngài nói: Ông hỏi gia phong của ta, ngược lại ta biết gia phong của ông rồi. Đây là những thuật rất khéo của thiền sư, nếu chúng ta nhạy bén liền có thể thấy, còn không thì càng cách xa.

Sư cùng Viên Ngộ đang luận bàn nhân duyên Đông Tự hỏi Ngưỡng Sơn hạt minh châu trấn hải, đến chỗ “không lý có thể bày”, Viên Ngộ gạn lại Sư: 

 Đã nói nhận được, đến khi đòi hạt châu lại nói không lời có thể đáp không lý có thể bày là sao? 

Sư không thể đáp được. 

Hôm sau, Sư nói với Viên Ngộ: 

– Đông Tự chỉ đòi một hạt châu, Ngưỡng Sơn ngay đó trút cả giỏ. 

Viên Ngộ thừa nhận đó, lại khuyên Sư: 

– Lão huynh lại nên thân cận Lão hòa thượng. 

Ngài cùng Viên Ngộ đang nêu lại nhân duyên, một hôm Ngưỡng Sơn đến tham vấn, Đông Tự hỏi:

– Ông là người xứ nào?

Ngưỡng Sơn thưa: – Người Quảng Nam.

– Ta nghe ở Quảng Nam có hạt minh châu trấn hải phải không?

– Phải.

– Châu ấy thế nào?

– Ba mươi thì ẩn, rằm thì hiện.

– Lại có thể đem đến chăng?

– Đem đến được.

Sao chẳng trình tương tự cho lão tăng?

Ngưỡng Sơn khoanh tay đến gần phía trước, thưa:

– Vừa đến Quy Sơn cũng đòi hạt minh châu này, liền được không lời có thể đáp, không lý có thể bày.

Đông Tự nói: – Thật là sư tử con, rống rất giỏi.

Đang bàn luận đến chỗ Đông Tự bảo trình hạt châu, Ngưỡng Sơn liền khoanh tay đến gần thưa: “Vừa đến Quy Sơn cũng đòi hạt minh châu này, liền được không lời có thể đáp, không lý có thể bày.” Thiền sư Viên Ngộ liền gạn lại hỏi ngài: Đã nói nhận được, đến khi đòi hạt châu lại nói, không lời có thể đáp không lý có thể bày, là sao? Ngang đó ngài bí không thể đáp được.

Hôm sau, ngài nói với Viên Ngộ: Đông Tự chỉ đòi một hạt châu, Ngưỡng Sơn ngay đó trút cả giỏ. Bị đòi có một viên minh châu mà Ngưỡng Sơn thưa, đến đó không có lời để nói, không có lý để bày, tức là trút hết cả giỏ minh châu rồi.

Một hôm, Sư đến phương trượng chưa kịp nói gì, bị Pháp Diễn mắng chửi thậm tệ, Sư bối rối thối lui. Về liêu, Sư đóng cửa nằm ngủ, hận Pháp Diễn vô cùng. 

Người xưa học đạo đối với thầy nhiều khi cũng tức bể bụng, chứ đâu phải cái gì cũng êm xuôi, bởi vì người sau làm sao hiểu người trước hết được.

Viên Ngộ đã thầm biết liền đến gõ cửa. 

Sự hỏi: – Ai? 

Viên Ngộ đáp: – Tôi. 

Sư liền mở cửa. Viên Ngộ hỏi: 

– Huynh đến Lão hòa thượng thế nào? 

Sư đáp: 

– Tôi vốn không đi, bị huynh lừa làm tôi bị lão ấy mắng chửi. 

Viên Ngộ cười hả hả, nói: 

– Huynh nhớ được lời trước chăng? 

Sư hỏi: – Là lời gì? 

Viên Ngộ nói: 

– Huynh lại nói, Đông Tự chỉ đòi một hạt châu mà Ngưỡng Sơn trút cả giỏ. 

Sư ngay đây liền tan vỡ. Viên Ngộ bèn dẫn Sư đến phương trượng. Pháp Diễn vừa thấy Sư đến liền nói: 

– Huynh Cần đáng mừng đại sự xong rồi. 

Năm sau, Pháp Diễn cử Sư làm Đệ nhất tọa. 

Tan vỡ cái gì? Như vậy, chửi mắng chính là một lối mà các thiền sư dùng để giúp người học khai ngộ, như trường hợp của thiền sư Từ Minh. Vậy là đã chỉ rõ rồi, nên ngang đây ngài liền tan vỡ hết nghi chấp từ trước.

Gặp khi Linh Nguyên về trụ Hoàng Long thiếu người ở Thái Bình, Linh Nguyên tiến cử Sư với thái thú Thư Châu là Tôn Đảnh Thần. Đảnh Thần thỉnh Sư trụ trì Thái Bình. Khi Sư từ biệt, Pháp Diễn trao pháp y. Sư nhận và đưa lên nói với chúng: 

– Phật Thích-ca thuở xưa dùng ca-sa kim lan trượng sáu đắp thân Phật Di-lặc ngàn thước, thân Phật chẳng dài ca-sa chẳng ngắn. Hiểu chăng? Tức dạng này không dạng khác. 

Từ đây pháp đạo truyền rộng. 

Niên hiệu Chánh Hòa năm đầu (1111), chiếu vua mời Sư trụ trì chùa Trí Hải ở Đông Đô. Sau năm năm Sư xin trở về, lại có chiếu chỉ mời Sư trụ Tương Sơn. 

Tăng hỏi: – Thế nào là ý Tổ sư Tây sang? 

Sư đáp: – Ăn giấm biết chua, ăn muối biết mặn. 

Tăng hỏi: – Khi tên hết cung gãy thì thế nào? 

Sư đáp: – Một trường bối rối. 

Hỏi ý Tổ thì đáp ăn giấm biết chua, ăn muối biết mặn. Hỏi khi tên hết cung gãy thì đáp một trường bối rối. Người ra trận mà tên hết cung gãy, lúc đó phải làm sao? Ngài trả lời nghe thật thà quá, như vậy có giấu giếm gì không?

Tăng hỏi: 

– Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì? 

Sư đáp: – Bổ nát cột cái. 

Tăng hỏi: – Về quê không đường thì sao? 

Sư đáp: – Lộ trình của vua có hạn. 

Tăng hỏi: – Trước ba ba sau ba ba là sao? 

Sư đáp: – Sáu lần sáu là ba mươi sáu. 

Tăng hỏi: 

 Được nghe Hòa thượng thân thấy Ngũ Tổ Diễn phải chăng? 

Sư đáp: – Trâu sắt nhai nát cỏ vàng ròng. 

Tăng thưa: – Thế ấy là thân kiến Ngũ Tổ Diễn? 

Sư bảo: – Ta cùng ông có oán thù gì? 

Tăng hỏi: 

– Chỉ như Đạt-ma thấy Võ Đế ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: – Lời Hồ dễ biện, tiếng Hán khó rành. 

Tăng hỏi: – Vì sao lặng lẽ thầm qua sông? 

Sư đáp: – Nhân gió giúp tiện. 

Nhân gió thổi nên qua sông được.

Tăng hỏi: – Thế nào là khách trong chủ? 

Sư đáp: – Tiến trước lùi sau buồn chết người. 

Tăng hỏi: – Thế nào là chủ trong khách? 

Sư đáp: – Lời chân thật thành vọng ngữ. 

Tăng hỏi: – Thế nào là khách trong khách? 

Sư đáp: – Phu Tử dạo đi ách tại Trần. 

Phu Tử tức Khổng Tử. Khổng Tử khi đi các nước để thuyết phục người thực hành đạo Nho, tới nước Trần ông gặp ách nạn bị bắt giam, nên nói ách tại Trần.

Tăng hỏi: – Thế nào là chủ trong chủ? 

Sư đáp: – Trọn ngày đồng đi chẳng phải bạn bè. 

Tăng hỏi: 

– Chủ khách đã nhờ Thầy chỉ dạy, việc hướng thượng trong tông thừa thế nào? 

Sư đáp: – Búa lớn chặt rồi tay bóp xoa.

Cầm búa lớn chặt nên mỏi tay, phải xoa bóp.

Tăng hỏi: 

 Tức tâm tức Phật thì chẳng hỏi, phi tâm phi Phật việc thế nào? 

Sư đáp: 

– Hôm qua có Tăng hỏi, lão tăng chẳng đáp. 

Tăng hỏi: 

 Chưa biết cùng tức tâm tức Phật cách nhau bao nhiêu? 

Sư đáp: 

– Gần thì ngàn muôn dặm, xa thì chẳng cách 

mảy tơ. 

Tăng hỏi: 

– Bỗng bị học nhân cắt đứt hai bên, về nhà ngồi yên lại là sao? 

Sư hỏi: – Nhà ông ở chỗ nào? 

Tăng thưa: 

– Một thân tự do trong đại thiên sa giới. 

Sư bảo: – Chưa đến nhà, nói lại. 

Tăng thưa: 

– Học nhân đến đây liền được đông tây chẳng biện, nam bắc chẳng phân. 

Sư bảo: – Chưa là xuất cách. 

Sư thượng đường: 

– Chí đạo không khó, chỉ hiềm giản trạch. Hoa đào hồng hoa lý bạch, ai bảo chung chung chỉ một sắc, chim yến kêu hoàng oanh hót, ai bảo đồng đồng chỉ một tiếng. Chẳng thấu được then chốt cửa Tổ sư, nhận suông núi sông làm tròng mắt. 

Chỉ đạo không khó, chỉ hiềm giản trạch, hai câu này được trích dẫn từ Tín Tâm Minh của tổ Tăng Xán. Ngài thượng đường cốt chỉ cho mọi người thấy, nếu tu hành mà không nhận được then chốt, tức chưa thấu ý Tổ sư thì chỉ là nhận suông núi sông bên ngoài làm tròng mắt của mình mà thôi.

Sư thượng đường: 

– Ngày ngày mặt trời lặn hướng tây, ngày ngày mặt trời mọc hướng đông. Nếu muốn học Bồ-đề – Sư ném cây gậy nói: – Chỉ xem khuôn mẫu này. 

Tuần giáp năm thiền sư Pháp Diễn, Sư thượng đường: 

 Năm trước cũng ngày này, lò hồng mảnh tuyết bay, ngày này cũng năm trước, đêm đọc bia Tào Nga. Một câu ở rốt sau, mắt Phật cũng khó thấy, sen trắng trên đảnh núi, trời đỏ nhiễu Tu-di, chim mổ cây san hô, cá kình nuốt trâu nước, Thái Bình gia nghiệp ấy, ngàn xưa noi Dương Kỳ. 

Sư thượng đường cầm ngang cây gậy nói: 

– Trước chiếu sau dụng. 

Dựng đứng cây gậy nói: – Trước dụng sau chiếu. Xoay ngược cây gậy nói: – Chiếu dụng đồng thời. 

Giộng một cái nói: 

– Chiếu dụng chẳng đồng thời. Cả thảy các ông bị cây gậy một miệng nuốt hết rồi, chính là các ông không biết. Nếu ngay đây nói được một câu chuyển thân, khỏi bị một phen phiền muộn. Nếu chưa như thế, lão tăng ngày nay thất lợi. 

Sư thượng đường: 

– Quạ vàng gấp, thỏ ngọc chóng, ngày giờ trôi gấp mười tháng bảy. Du tử đi mãi chẳng về nhà, dù về chỉ đứng ở trước cửa. Đứng trước cửa, nắm tay lôi gã chẳng chịu vào. Muôn dặm xem xem tấc cỏ không, hoa rơi đầy đất không người lượm. Không người lượm, một lần mưa qua một lần ướt. 

Ngài nói dọc nói ngang, nói chỉ là nói, đều là những lời không cho người suy nghĩ để hiểu.

Sư thượng đường: 

– Thế Tôn có mật ngữ, Ca-diếp chẳng che giấu. Ngươi bình thường nói vàng nói đen bình phẩm cổ kim, há chẳng phải mật ngữ. Ngươi bình thường bẻ quanh cúi ngước lấy muỗng cầm đũa chắp tay vái chào, là che giấu chẳng che giấu. Bỗng nhiên ngộ được cũng không thể biết. Cần hiểu chăng? Thế Tôn có mật ngữ, từ Đông chí đến Hàn thực là một trăm lẻ năm ngày. Ca-diếp chẳng che giấu, nước rỉ chẳng thông đã bày tang vật. Thiền tăng lanh lợi nếu hiểu được, một lớp sương trên một lớp tuyết. 

Thế Tôn có mật ngữ, Ca-diếp chẳng che giấu. Mật ngữ của Thế Tôn là gì, có ai biết không? Ngươi bình thường nói vàng nói đen bình phẩm cổ kim, há chẳng phải mật ngữ. Bình thường chúng ta nói vàng, nói đen… đó là mật ngữ của Thế Tôn. Tại sao? Bởi do cái gì mà mình biết nói, nói mà không biết mình biết nói, chẳng phải mật là gì? Biết nói này kia, bình phẩm xưa nay, đó là mật.

Ngươi bình thường bẻ quanh củi ngước lấy muỗng cầm đũa chắp tay vái chào, là che giấu chẳng che giấu. Biết co ngước… làm tất cả việc, có che giấu không? Chẳng từng che giấu, nhưng do không biết nên thành che giấu. Hiện bày rõ ràng, nếu không biết thì đó là mật ngữ.

Sư thượng đường: 

– Việc ngày mười lăm về trước, trên gấm thêu hoa. Việc ngày mười lăm về sau, như biển nổi hòn bọt. Chính ngày mười lăm, giống hệt chiếc gương một thước soi hình tượng ngàn dặm. Tuy là chân không bặt dấu, ngại gì hải ấn phát quang, mặc tình cột cái nở hoa, nói gì mặt Phật trăm xấu. Cớ sao? Rốt cuộc trăng đêm sương, mặc tình rơi khe trước. 

Ngài nói khéo léo vô cùng, ngay ngày mười lăm giống hệt chiếc gương một thước soi hình tượng ngàn dặm. Ngay hiện tại như gương chiếu soi hình bóng rõ ràng.

Tuy là chân không bặt dấu, ngại gì hải ấn phát quang. Chính chỗ không còn quá khứ vị lai, chỉ ngay hiện tại sáng rỡ đó, gọi là chân không bặt dấu vết. Bởi gương vốn hằng chiếu soi mà không hình bóng, nên nói chân không; tuy không tất cả nhưng sáng soi tất cả, nên nói hải ấn phát quang.

Hiểu được thấu thì mặc tình cột cái nở hoa, nói gì mặt Phật trăm xấu. Ngài nói nghe ngược ngạo phải không? Cột cái lại nở hoa, còn mặt Phật lẽ ra phải đẹp mà nói trăm xấu. Tại sao kỳ lạ vậy? Rốt cuộc trăng đêm sương mặc tình rơi khe trước.

Sư thượng đường nêu: 

– Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là nghĩa chẳng đổi? Triệu Châu lấy tay làm thế nước chảy, vị tăng có tỉnh. Lại vị tăng hỏi Pháp Nhãn: “Chẳng thủ nơi tướng, như như bất động”, thế nào chẳng thủ nơi tướng, thấy được như như bất động? Pháp Nhãn nói: Ngày mọc phương đông, tối lặn phương tây. Tăng ấy có tỉnh. Nếu nơi đây thấy được, mới biết nói “xoay non ngã núi xưa nay thường lặng, sông rạch đua tràn vốn tự chẳng chảy”. Nếu chưa như thế, chẳng khỏi lại vì buông lời. Trời xoay trái, đất xoay mặt; xưa qua nay lại trải bao phen. Gà vàng bay, thỏ ngọc chạy; vừa mới ra cửa biển, lại rơi sau núi xanh. Giang Hà sóng ào ào, Hoài Tế lượng ầm ầm, đổ vào bể cả ngày đêm chảy. 

Sư liền lớn tiếng nói: 

Chư thiền đức! Lại thấy như như bất động chăng? 

Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là nghĩa chẳng đổi? Triệu Châu lấy tay làm thế nước chảy. Nước chảy là đổi hay chẳng đổi? Lại vị tăng hỏi Pháp Nhãn: “Chẳng thủ nơi tướng, như như bất động”, thế nào chẳng thủ nơi tướng, thấy được như như bất động? Pháp Nhãn nói: Ngày mọc phương đông, tối lặn phương tây. Mặt trời mọc ở phương đông mà lặn ở phương tây, vậy là động hay bất động? Ngài nêu chuyện xưa rồi nói: Nếu người thấy thấu được chỗ này, mới biết xoay non ngã núi xưa nay thường lặng, sông rạch đua tràn vốn tự chẳng chảy.

Giang Hà là tên hai con sông Trường Giang và Hoàng Hà. Hoài Tế là tên hai con sông, sông Hoài và sông Tế. Ngài nói xong, gọi to: Chư thiền đức! Lại thấy như như bất động chăng? Giang Hà sóng ào ào, Hoài Tế lượng ầm ầm ngày đêm không nghỉ, ngay hiện tượng động đó có thấy được nghĩa bất động không?

Chúng ta lâu nay cứ quen nhìn mọi vật theo tướng biến động, bây giờ xét kỹ lại xem tướng biến động đó có biến động thật không? Nước chảy là động hay không động? Do duyên cao thấp khiến nước tuôn chảy, hoặc có gió thổi làm cho tướng nước bị chao động, chứ thể của nước vốn không chảy không động. Như vậy đứng về thể thì không động, còn về tướng thì có động. Thế nên nếu người khéo nhận, ngay trong động mà biết được cái không động.

Muôn vật ở thế gian này, tướng trạng luôn biến động đổi dời, nhưng tánh của nó thì không động không dời. Chúng ta tu cũng vậy, ngay tâm xao xuyến lăng xăng mà thấy có cái thanh tịnh không động, đó là thấy được cái thật. Nếu cứ bị cái xao xuyến làm cho mình phải bị lôi cuốn mãi mãi thì đó là đi trong luân hồi.

Trong thất Sư dùng gỗ làm sáu con xúc xắc, mỗi mặt đều khắc chữ “ma” (cái gì). Tăng vừa vào, Sư liền ném nói: Hội chăng? Tăng suy nghĩ hay chẳng suy nghĩ, Sư cũng đánh đuổi ra. 

Niên hiệu Chánh Hòa thứ bảy (1117) ngày mùng tám tháng chín, Sư thượng đường: 

– Tâm ấn Tổ sư giống máy trâu sắt, đi liền ấn đứng, đứng liền ấn phá, dù cho chẳng đi chẳng đứng cũng chưa phải là chỗ giẫm đạp của thiền tăng. Thế nào là chỗ giẫm đạp của thiền tăng? Đợi tháng mười, trước sau ta sẽ vì các ông chú phá. 

Đến ngày mùng tám tháng mười, Sư tắm gội đắp y ngồi ngay thẳng, tay cầm bút viết một số thư từ biệt bạn cũ, dừng bút Sư tịch. 

Ngài báo tin trước rồi sau mới đi. Chúng ta thấy được chỗ sống chân thật của ngài, đến đi tự do. Tự do đó là làm chủ được mình chứ không phải chỉ hiểu rồi nói trên ngôn ngữ. Như chúng ta bây giờ nói rất hay, tưởng chừng vượt cả chư thánh, nhưng rốt cuộc thì không tới đâu. Cho nên người tu học đạo cốt phải đến nơi, đừng chỉ phụ thuộc vào ngôn ngữ. Nên nhớ, ngôn ngữ là cặn bã, không đến lý thật được.

Tổ sư thường nói, nương nơi thanh mà thấy được sắc, nhân lời nói mà biết được tướng. Chúng ta đừng nên kẹt cứng vào hình thức bên ngoài, nghe nói Niết-bàn thì phải biết đúng nghĩa và sống được Niết-bàn, đó mới là chân thật học đạo. Nếu cứ thuộc trên từ ngữ giải thích Niết-bàn là gì, đó chỉ là ngôn ngữ chưa phải thật Niết-bàn.

THIỀN SƯ THANH VIỄN PHẬT NHÃN ở LONG MÔN – THƯ CHÂU (1067 – 1120) 

Sư họ Lý, quê ở Lâm Cung (Ngang), dáng vẻ nghiêm chỉnh ít nói. Năm mười bốn tuổi Sự xuất gia, chuyên học luật. Nhân đọc kinh Pháp Hoa đến câu “Pháp ấy không phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay hiểu”, Sư đem hỏi giảng sư. Giảng sư không thể giải được, Sư than: Nghĩa học danh tướng không phải nguyên nhân liễu việc lớn sanh tử. Sư bèn sửa soạn hành lý đi hành cước phương Nam. 

Kinh Pháp Hoa nói: Pháp ấy không phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay hiểu. Pháp ấy là pháp gì? Trong kinh Pháp Hoa gọi là Phật thừa hay tri kiến Phật. Pháp đó không phải do suy nghĩ phân biệt mà hiểu. Ngài Thanh Viễn đem câu này hỏi giảng sư, giảng sư không giải được.

Ngài than: Nghĩa học danh tướng không phải nguyên nhân liễu việc lớn sanh tử. Sau đó đi hành cước sang phương Nam học thiền.

Sư đến Thư Châu ở chùa Thái Bình, vào pháp hội thiền sư Pháp Diễn. Nhân đi quyên tới ở Lô Châu, Sư trượt chân té nhào xuống đất, phiền não dấy động. Bỗng nghe hai người chửi lộn, người can nói: “Ông vẫn tự phiền não.” Sư nhân lời này có tỉnh. 

Tại sao đi quyên tới, bị trượt chân té mà sanh phiền não? Ví dụ chùa hết gạo, Hòa thượng cử một vị đi quyên tới một số gạo về cúng dường cho chúng tăng. Người nhận trách nhiệm quyên tới phải đi đông đi tây, còn huynh đệ ở nhà tu học. Như vậy đã là thiệt thòi rồi, lại còn bị té nữa, nên phiền não bực bội.

Khi ấy, bỗng nghe hai người cãi nhau, người can nói: Ông vẫn tự phiền não, ngài liền có tỉnh. Tỉnh cái gì? Tự mình phiền não, chứ đâu có ai làm mình phiền.

Trở về chùa, Sư có hỏi lời gì, Pháp Diễn đều bảo: – Ta chẳng bằng ông, ông tự hội được thì tốt. 

Hoặc nói: – Ta chẳng hội, ta chẳng bằng ông. 

Sư càng nghi, liền đến thưa hỏi thủ tọa Nguyên Lễ. Lễ bèn đưa tay nắm lỗ tại Sư đi quanh lò mấy vòng, vừa đi vừa nói: 

– Ông tự hội được thì tốt. 

 Có lòng mong khai phát, có phải đùa với nhau sao? 

Sư thưa: 

Lễ bảo: – Ông về sau ngộ rồi mới biết được việc khúc chiết ngày nay. 

Con tha thiết cầu chỉ dạy, đã không chỉ dạy mà còn nắm lỗ tai kéo đi, vậy là đùa chứ có đạo lý gì?

Pháp Diễn sắp từ Thái Bình dời đến Hải Hội. Sư cảm khái nói: 

 Ta mang bát mới về tham vấn lại, giờ đây theo đến một viện hoang, đâu thể giải quyết được việc của mình. 

Sư bèn làm kệ cáo từ, đến Tương Sơn nhập hạ. 

Tại sao thiền sư Pháp Diễn dời đi chỗ khác mà ngài lại cảm khái? Bởi vì mới đi quyên tởi về, chưa được học hành bao nhiêu, bây giờ dời đi chỗ khác, rồi phải làm nữa hay sao?

Như lúc chúng ta mới tới đây, huynh đệ phải phát rừng làm cỏ, cực khổ bao nhiêu năm mới có được cây cối mát mẻ. Bất thần tôi chuyển đến một chỗ rừng rú khác, gọi huynh đệ về phát rừng, huynh đệ có vui không, có nổi giận không? Đã chịu cực bao nhiêu năm mà không được hưởng, giờ còn bắt đi chỗ khác mở mang, không nổi giận sao được. Cho nên, ngài viết thư cáo từ, đến nơi khác ở.

Gặp được thiền sư Linh Nguyên ngày càng thêm thân mật, trong khi thong thả bàn luận nhau Sư nói: 

– Xưa gặp một tôn túc ở Đô Hạ, ngôn cú dường như có duyên. 

Linh Nguyên bảo: 

– Diễn công là Tông sư bậc nhất trong thiên hạ, cớ sao lại bỏ mà đi xa? Nói là có duyên đó, bởi tri giải bậc thầy này phù hợp sơ tâm của huynh. 

Sư nghe theo lời khuyến khích liền đi thẳng đến Hải Hội. Sau Pháp Diễn đặt Sư làm Điển tọa. Gặp lúc đêm lạnh, Sư ngồi một mình vạch trong lò thấy một đóm lửa bằng hạt đậu, bừng tỉnh tự mừng nói: 

– Vạch sâu sâu đóm nhỏ xíu, việc bình sinh chỉ như đây. 

Sư đứng dậy đến bàn, xem bộ Truyền Đăng Lục, đến nhân duyên ngài Phá Táo Đọa, bỗng nhiên đại ngộ. Sư làm kệ: 

Đạo đao lâm điểu đề, 

Phi y chung dạ tọa. 

Bát hỏa ngộ bình sinh, 

Cùng thần quy Phá Đọa. 

Sự kiểu nhân tự mê, 

Khúc đạm thùy năng hòa.

Niệm chi vĩnh bất vong,

Môn khai thiểu nhân quá. 

Dịch: 

Ríu rít chim rừng hót, 

Mặc áo trọn đêm ngồi. 

Vạch lửa ngộ bình sinh,

Thần tột về Phá Đọa. 

Việc rõ người tự mê, 

Điệu cao ai hòa được. 

Nhớ đó mãi chẳng quên, 

Cửa mở ít người đến. 

Đêm lạnh, ngài vạch trong lò thấy một đốm lửa nhỏ, liền ngộ được việc bình sinh nhưng chưa tột. Đến khi xem bộ Truyền Đăng Lục, đọc nhân duyên thiền sư Phá Táo Đọa mới tột được lý đạo.

Thiền sư Phá Táo Đọa tu ở vùng núi Xuân Sơn, Trung Hoa với một số đồ chúng. Một hôm ngài dẫn chúng đi dạo núi, đến gần thung lũng thấy một miếu thờ, dân chúng làm thịt bò trâu heo gà dâng cúng liên miên. Hỏi ra được biết, vị thần Táo ở miếu này rất linh, cầu gì được nấy.

Nghe rồi ngài cầm gậy vô miếu, thấy trên bàn thờ có để ba viên gạch, ngài lấy gậy gõ vào đó nói:

– Đây là do gạch đất hợp thành, linh từ đâu lại, thiêng ở chỗ nào?

Nói xong ngài đập một gậy, ba viên gạch bể nát rơi xuống đất. Lát sau trên đường đi, gặp một vị áo xanh mũ xanh quỳ trước mặt. Ngài hỏi:

– Ông là ai?

– Con là thần Táo trong miếu, đến tạ ơn Hòa thượng.

Ngài nói: – Ta đã làm gì mà ngươi tạ ơn?

– Nhờ ơn Hòa thượng nói lý vô sanh mà con tỉnh ngộ, thác sanh lên cõi trời, bỏ thân đọa đày bao đời ở tại miếu này.

Nói xong thần Táo đảnh lễ rồi biến mất, thị giả thấy vậy thưa:

– Bạch Hòa thượng! Con hầu Ngài đã lâu mà không được nghe lý vô sanh, thần Táo này có phước gì, mà mới nghe Hòa thượng nói một câu liền ngộ?

Ngài lặp lại câu nói trên hỏi thị giả: – Hội chăng?

Thị giả thưa: – Chẳng hội.

Ngài nói: – Bể rồi, bể rồi! Rơi rồi, Rơi rồi!

Thị giả liền ngộ.

Thần Táo gá vào đất gạch cho là thân mình, được dân chúng tin tưởng linh thiêng cúng kính, đến khi nghe Thiền sư nói đây là do gạch đất hợp thành, linh từ đâu lại thiêng ở chỗ nào; mới giật mình tỉnh ngộ buông được tâm chấp, sanh về cõi trời. Thần Táo gá vào đất gạch, còn chúng ta thì gá vào đất nước gió lửa, rồi chấp cho là thân mình. Thử hỏi, khi duyên hết tứ đại rã rời, chừng đó mình ở đâu? Nếu tỉnh được như thần Táo thì đâu còn bị kẹt ở thân tứ đại nữa. Việc rõ ràng như vậy mà vì tự mê nên không biết.

Điệu cao ai hòa được, điệu nhạc cao quá nên khó hòa, cũng vậy cái chân thật của mình quá siêu tuyệt nên khó thấy. Nhớ đó mãi chẳng quên, khi ngộ rồi thì nhớ hoài chẳng quên. Cửa mở ít người đến, cánh cửa giải thoát giác ngộ đã mở sẵn mà ít người chịu bước vô.

Viên Ngộ có việc đến liêu Sư, nhắc lại lời Thanh Lâm ban đất để nghiệm Sư, nói rằng: 

 Xưa nay không người ra được, huynh hiểu thế nào? 

Sư đáp: 

– Cũng có trường hợp rất khó. 

Viên Ngộ nói: 

 Chỉ như kia nói “Thiết Luân thiên tử lệnh trong cõi”, ý là gì? 

Sư đáp: 

– Tôi nói, trong cung Đế-thích thư miễn tội. Viên Ngộ trở về nói với người: 

– Đáng mừng huynh Viễn có câu sống người. 

Từ đây Sư ở ẩn am Đại Trung tại Tứ Diện. Thái thú Vương Hoán Chi thỉnh Sư khai pháp tại chùa Vạn Thọ, kế đó lại bổ Sư trụ trì chùa Long Môn, tiếng tăm Sư từ đó vang dội. 

Sư thượng đường: 

– Trên đường Đài Sơn khách qua rất ít, trước nhà Phá Táo cảm ơn vô cùng. Tuyết chôn cây bá trước sân, băng bủa đầy tràn khe suối. Tuy ở phương Nam làm trưởng nhà trù, mà chẳng vào nhà trong vò tiêu ớt. Xem, xem! Ngày ba mươi tháng chạp, dù là đầu xuân vẫn lạnh. Cả thảy các ông, mỗi người phải nỗ lực hướng trước, tối kỵ tự sanh lui sụt. 

Trước nhà Phá Táo cảm ơn vô cùng. Chỉ cho chỗ ngài đã ngộ.

Trưởng nhà trù không biết tiêu ớt để đâu thì có tròn bổn phận không?

Ba mươi tháng chạp là ngày cuối năm, cũng ngầm chỉ ngày cuối đời người. Bước qua một năm mới là bước qua cuộc đời mới tốt đẹp. Khi rời bỏ thân này, nếu biết tu sẽ tiến lên chỗ an lành tốt đẹp hơn. Thế nên mỗi người phải tự nỗ lực tiến tu chớ để lui sụt.

Sư thượng đường giọng cây gậy nói: 

– Tròn sáng rõ biết chẳng do tâm niệm, liều chết với yếu đạo thì rơi hầm lọt hố, cứu cánh thế nào? 

Sư liền tựa cây gậy xuống tòa. 

Tròn sáng rõ biết chẳng do tâm niệm, cái đó vốn rõ biết tròn sáng, chẳng do tâm dấy niệm mới biết. Liều chết với yếu đạo thì rơi hầm lọt hố, chúng ta lâu nay bệnh chấp rất nặng, cho dù liều chết với yếu đạo cũng vẫn là chấp, nên nói rơi hầm lọt hố. Tại sao? Vì chấp là nắm chặt, nắm chặt tức chết.

Muôn sự muôn vật trên thế gian đều là một dòng biến chuyển linh động; nếu chúng ta muốn giữ chặt lại cho nó ngừng hoạt động, không trôi chảy nữa, vậy là chết rồi. Dù chấp vì đạo mà chết, cũng không kiến tánh. Thiền sư thường bảo sống với hiện tại, nghĩa là ngay hiện tại thấy biết rõ ràng. Vậy thì cứu cánh thế nào? Hỏi xong, ngài liền tựa cây gậy mà xuống tòa.

Sư thượng đường: 

– Bào huyễn đồng không ngại, tại sao chẳng liễu ngộ? Con ngươi trong mắt bị người làm hỏng, bảo ông đạt pháp ở trong ấy. Chẳng phải nay cũng chẳng phải xưa, sáu con xúc xắc đỏ đầy tô. Đại chúng! Thời nhân vì sao ngồi dưới đất xem cái bát ở Dương Châu để gá vào mẫu mới? Trên lưng trâu cưỡi trâu, cười chết người. 

Thân này chỉ là huyễn hóa, cái chân thật đồng ở trong thân huyễn hóa mà không biết không nhận. Pháp đó chẳng phải nay chẳng phải xưa, không thuộc quá khứ, hiện tại hay vị lai. Sáu con xúc xắc đỏ đầy tô. Sáu con xúc xắc dụ cho sáu căn, rỡ ràng đẹp đẽ, không thiếu chỗ nào.

Pháp ấy ở ngay đây mà không chịu nhận, lại hướng về đâu tìm, chẳng khác nào người ngồi trên lưng trâu lại đòi cưỡi trâu. Thật đáng tức cười!

Sư thượng đường: 

– Triệu Châu chẳng thấy Nam Tuyền, sơn tăng chẳng biết Ngũ Tổ (Pháp Diễn). Dưa ngọt tận gốc ngọt, dưa đắng tột rễ đắng. 

Sư thượng đường: 

 Chiếc lá rơi, thiên hạ xuân, không đường suy nghĩ, cười chết người. Dưới là trời trên là đất, lời này chẳng hợp ý thời lưu. Nam làm bắc, đông làm tây, động mà dừng, mừng mà buồn. Đầu rắn đuôi rết hãy thử đi, trong miệng cọp dữ chim sẻ sống, là lời gì? Về nhà đi. 

Miệng cọp lớn, chim sẻ nhỏ xíu, tuy miệng cọp dữ mà chim sẻ vẫn sống. Cũng vậy, trong thân bại hoại vẫn có cái không bại hoại. Ngài thượng đường cốt nhắc nhở học nhân sự tu hành, nên cuối cùng nói: Về nhà đi. Về nhà tức là về cố hương của mình.

Sư thượng đường: 

– Nói ngàn nói muôn không bằng thấy tận mặt, dù chẳng nói cũng tự phân minh. Dụ đao báu vương tử, dụ đám mù rờ voi. Trong thiền học, việc cách sông đưa tay ngoắt, việc đình Vọng Châu thấy nhau, việc xa bặt chỗ không người, việc vách núi non sâu, đây đều chính mặt thấy đó, chẳng ở nói vậy.

Nói ngàn nói muôn không bằng thấy tận mặt, dù chẳng nói cũng tự phân minh. Như chúng ta chỉ nghe nói có một người rất tốt và cao thượng, mà chưa gặp, tới lúc một phen gặp được, mới biết đúng như thật. Tưởng tượng không bằng chính mắt thấy, sự tu cũng vậy. Người đến chỗ đó rồi, không nói cũng vẫn rõ ràng; còn chưa đến thì dù nói gì cũng không nhận ra. Chúng ta học bao nhiêu kinh điển, nghe nói Như Lai, Niết-bàn, chân như, Phật tánh… mà tự mình không nhận ra được thì cũng chỉ là tưởng tượng thôi.

Dụ đao báu vương tử, dụ đám mù rờ voi. Những ví dụ này từ trong kinh nói. Một vương tử có đao báu, bảo mọi người diễn tả xem nó ra sao. Những người chưa được thấy đao báu, kẻ diễn tả thế này người diễn tả thế kia đều không đúng, chỉ có người thấy rồi nói mới đúng.

Dụ đám mù rờ voi là có nhà vua nọ sai dẫn ra một con voi rồi bảo những người mù bẩm sinh rờ và diễn tả xem nó thế nào? Đám người mù rờ từng bộ phận con voi, người rờ nhằm chân thì nói voi giống cây cột, kẻ rờ tai thì nói voi giống cái quạt… Tất cả người mù nói đều sai, chỉ có người mắt sáng mới diễn tả đúng hết con voi.

Ngài dẫn những việc trong nhà thiền, để chỉ việc ấy phải là tự mình thấy chứ không thể nghe người khác nói mà được. Như có vị tăng đến tham vấn Thiền sư ở bên kia sông. Vị tăng còn ở bờ bên này chưa qua sông, nhìn xa thấy Thiền sư, vị tăng liền chắp tay xá, Thiền sư đưa tay ngoắt, Tăng liền ngộ. Như vậy, vị tăng này từ thấy chứ không phải do nghe mà ngộ.

Sư thượng đường: 

– Tô Vũ chăn dê nhục mà chẳng chịu khuất, Lý Lăng trông Hán vui mà quên về, là ở ngoại quốc hay ở bản quốc? Trong nhóm đệ tử Phật, có người hai chân nhảy khỏi hầm, có người nghe đàn đứng múa, có người thân vùi đống phân, có người quở mắng thần sông, là tập khí hay diệu dụng? Đến như giương nạng, đập đất, dựng phất tử, gõ giường thiền, Mục Châu một bề đóng cửa, Lỗ Tổ trọn năm ngó vách, là vì người hay chẳng vì người? Biết chắc tất cả phàm phu kho báu bị chôn vùi, còn chẳng phải trượng phu? Các người sao không thể gay chèo trương buồm bỏ sông qua bờ nghỉ, lại thả neo cắm cọc ngày nào đến nhà? Đã làm người Tào Khê cũng là kẻ trong nhà, lại thấy việc trong nhà chăng? 

Tô Vũ chăn dê nhục mà chẳng chịu khuất. Tô Vũ làm quan dưới triều Hán Vũ Đế ở Trung Hoa. Bấy giờ nhà Hán thường bị giặc Hung Nô phương Bắc quấy nhiễu, dòm ngó. Tuy là nước lớn nhưng vì muốn cầu hòa, nên Hán Vũ Đế sai Tô Vũ đi sứ sang Hung Nô. Do làm phật ý vua Hung Nô, Tô Vũ bị bỏ vào hang đá cho chết đói. Qua ba ngày, Tô Vũ nhờ hớp sương đêm mà sống sót. Thấy lạ, vua Hung Nô kinh sợ, cho Tô Vũ là thần nên không dám hại nữa, mà đày lên đất Bắc chăn dê, giao hẹn chừng nào dê đực đẻ dê con thì mới được trở về Hán. Sau mười chín năm, nhờ sự can thiệp của Hán Vũ Đế, Tô Vũ mới được trở về đất Hán.

Lý Lăng trông Hán vui mà quên về. Lý Lăng là một võ tướng đời nhà Hán, vâng lệnh vua đem binh dẹp giặc. Quân của Lý Lăng chỉ có năm ngàn mà phải giao chiến với tám vạn quân địch, Lý Lăng bị bao vây mà không được quân tiếp viện nên chống cự không nổi. Bất đắc dĩ ông phải đầu hàng để bảo toàn sinh mạng cho mình và quân lính, chờ thời cơ rửa nhục. Tuy nhiên khi tin đưa tới triều đình, có kẻ gièm pha với Vũ Đế là ông phản quốc. Vua giận, tru di ba họ nhà Lý Lăng. Đến khi Hán Chiêu Đế lên ngôi, những bạn cũ mời về nước nhưng ông sợ chịu nhục, nên ở lại Hung Nô.

Như vậy các vị này thân tuy ở Hung Nô, nhưng tâm vẫn ở bản quốc, nên nói là ở ngoại quốc hay ở bản quốc?

Có người nghe đàn đứng múa. Càn-thát-bà vương đến hội đức Phật cúng dường âm nhạc, lúc khảy đàn lên thì cả sơn hà đại địa đều nghe được tiếng đàn. Khi ấy ngài Đại Ca-diếp là một vị đại đệ tử, đang ngồi nghe tiếng đàn liền đứng dậy nhảy múa. Càn-thát-bà vương liền hỏi tôn giả Ca-diếp, bậc A-la-hán đã đoạn trừ hết phiền não, sao còn chút tập khí chưa đoạn? Đức Phật ở bên cạnh đáp thay, do Đại Ca-diếp nhiều đời chơi đàn, nên tập khí nhỏ nhiệm vẫn còn, vì thế nghe tiếng nhạc hay liền đứng dậy nhảy múa.

Có người thân vùi đống phân. Thời đức Phật có một Tỳ-kheo, mỗi khi ngủ thường vùi thân trong đống phân. Vì ngày trước vị này tu khổ hạnh, ngủ vùi mình trong đống phân đã quen, bây giờ tuy đã chứng A-la-hán nhưng tập khí vẫn còn.

Có người quở mắng thần sông. Một hôm, Tất-lăng- già-bà-ta đi ngang qua sông Hằng, nước sông chảy xiết qua không được, bèn kêu thần sông Hằng: Này tiểu tỳ, hãy dừng dòng chảy để ta đi qua. Sau đó vị thần sông đến thưa với Phật: Đệ tử Ngài mắng tôi. Đức Phật bảo xin lỗi, Tất-lăng-già-bà-ta đến trước thần sông, chắp tay nói: Tiểu tỳ, thôi chớ giận. Nghe xin lỗi mà như mắng, các Tỳ-kheo đều cười. Phật bảo, Tất-lăng-già-bà-ta năm trăm đời từng làm Bà-la-môn, đã huân sâu tập khí kiêu mạn nên mới nói lời như thế, chứ sự thật ngài không có tâm kiêu mạn

Đến đây là những thủ thuật của các thiền sư hay dùng: Giương nạng. Thiền sư Thường Ngộ ở ngọn Bí Ma, Ngũ Đài Sơn, nên còn gọi là Hòa thượng Bí Ma. Tương truyền Bồ-tát Văn-thù hiện thân hàng phục rồng dữ tại đây, nên ngọn núi này được đặt tên là Bí Ma. Thiền sư Thường Ngộ thường cầm một chiếc nạng gỗ, mỗi khi thấy Tăng đến lễ bái, liền chỉa chiếc nạng vào cổ Tăng, bảo: “Ma quỷ nào dạy ông xuất gia? Ma quỷ nào dạy ông hành cước? Nói không được sẽ chết dưới chiếc nạng này, nói được cũng chết dưới chiếc nạng này. Nói mau! Nói mau!” Người đến học đạo đều sợ, thuật đặc biệt này được gọi là Bí Ma kình xoa.

Đập đất. Hòa thượng Đả Địa sau khi lãnh hội ý chỉ của Mã Tổ, thường ẩn tàng chỗ thấy của mình. Phàm có người học đến tham vấn, ngài không nói lời nào chỉ lấy cây gậy đập xuống đất, nên thời nhân gọi ngài là Đả Địa hòa thượng. Một hôm, Tăng lén giấu cây gậy rồi mới thưa hỏi, ngài vói lấy cây gậy không có, liền há miệng. Sau, có người hỏi đệ tử ngài: Thường ngày có người hỏi đạo Hòa thượng liền lấy gậy đập xuống đất, ý chỉ thế nào? Vị đệ tử không nói gì, lấy miếng củi trong bếp bỏ vào nồi.

Dựng phất tử, gõ giường thiền là thuật tiếp người đến tham học, được sử dụng nhiều nhất trong tông môn Bá Trượng.

Mục Châu một bề đóng cửa. Mục Châu tức Trần Tôn Túc hiệu Đạo Minh ở Mục Châu. Ngài là vị Thủ tọa bảo tổ Lâm Tế đi hỏi ngài Hoàng Bá ba lần, thế nào là đại ý Phật pháp. Thiền sư Vân Môn đến tham vấn Mục Châu, vừa thấy Vân Môn, Mục Châu liền đóng cửa. Vân Môn gõ cửa, Mục Châu hỏi: Ai? Vân Môn thưa: Con. Mục Châu hỏi: Làm gì? Vân Môn thưa: Việc mình chưa sáng xin Thầy chỉ dạy. Mục Châu mở cửa ra trông thấy Vân Môn liền đóng cửa lại, liên tiếp ba ngày như thế. Đến ngày thứ ba Mục Châu vừa mở cửa, Vân Môn liền chen chân vào. Mục Châu nắm đứng bảo: Nói, nói! Vân Môn suy nghĩ, Mục Châu xô ra nói: Đồ vô dụng! Rồi đóng sầm cửa lại, kẹt nát bàn chân Vân Môn, cái đau thấu xương ấy khiến Vân Môn đại ngộ.

Lỗ Tổ trọn năm ngó vách. Thiền sư Bảo Vân ở núi Lỗ Tổ, Trì Châu, đời Đường. Ngài có tác phong tiếp dẫn người học rất đặc thù. Có người đến hỏi đạo, ngài xoay mặt vào vách không nói. Qua hành động này, để cho người hỏi có chỗ tỉnh ngộ.

Là vì người hay chẳng vì người? Ngài Phật Nhãn nêu ra một loạt công án của các thiền sư rồi hỏi, như vậy là các vị ấy vì người hay chẳng vì người?

Biết chắc tất cả phàm phu kho báu bị chôn vùi, còn chẳng phải trượng phu? Đến đây ngài quở, hạng phàm phu cũng sẵn có kho báu nhưng lại không chịu lấy ra dùng, để bị chôn vùi thành nghèo thiếu hoài. Thật là không trượng phu!

Các người sao không thể gay chèo trương buồm bỏ sông qua bờ nghỉ, lại thả neo cắm cọc ngày nào đến nhà. Gặp gió thì trương buồm lên qua đến bờ kia rồi nghỉ, nếu cứ thả neo giữa sông chừng nào mới về đến nhà? Các huynh đệ ở đây đã chịu nhổ neo trương buồm chưa, hay vẫn còn cắm sào thả neo, chơi vơi giữa biển khơi?

Ví dụ gia đình có con đi biển, khi nghe tin biển động sắp bão, người cha đứng trên bờ thấy con đang thả thuyền ngoài khơi, gọi hoài mà con không chịu vô. Người con này chỉ cần vào bờ yên ổn, rồi mặc tình ca hát, còn biển động sóng đang dâng mà cứ cắm sào thả neo rong chơi, thật là nguy hiểm biết bao.

Chúng sanh cũng vậy, biển sanh tử sóng gió chập chùng, trồi lên hụp xuống mà không ngán sợ, lại cứ mải đùa giỡn ngao du chỗ này chỗ kia, không chịu nỗ lực để thoát ra, tại sao không ráng tu hành cho tới nơi tới chốn, còn chần chừ làm gì? Cuộc sống này vô thường không có gì bảo đảm, cứ hẹn hoài thì chừng nào mới về đến cố hương của mình?

Đã làm người Tào Khê cũng là kẻ trong nhà, lại thấy việc trong nhà chăng? Người Tào Khê là con cháu Lục Tổ, tức là kẻ trong nhà nhưng đã biết việc trong nhà chưa, hay vẫn còn lang thang vui chơi không chịu thức tỉnh. Đây là những lời nhắc nhở tha thiết của ngài.

Tăng hỏi: – Kiếp hỏa cháy rực đại thiên đều hoại, chưa biết cái này hoại chẳng hoại? 

Sư đáp: – Trong thùng sơn đen sắc vàng ròng.

Trong thùng sơn đen có vàng ròng, cũng như trong lò lửa có hoa sen nở vậy.

Tăng hỏi: – Đạo xa vậy thay! Chạm việc là chân, thế nào là đạo? 

Sư đáp: – Trên đảnh tám thước năm. 

Tăng hỏi: – Lý này thế nào? 

Sư đáp: – Vuông tròn bảy tám tấc. 

Tăng hỏi: 

– Trước kiếp hỏa Oai Âm riêng là một bầu trời, trước ngự lầu săn bắn chẳng phải cắt tranh ruộng. 

Rồi đưa tọa cụ lên, hỏi: – Cái này gọi là gì? 

Sư đáp: – Chính là cắt tranh ruộng. 

Tăng liền hét. Sư đáp: – Vẫn còn có chủ. 

Sư hỏi Tăng: – Đèn côi riêng chiếu thì thế nào? 

Tăng không đáp được. Sư đáp thay: 

– Cột cái chứng minh. 

Sư nghe tiếng bảng thức chúng, nói: 

– Cứ điều lệ kết án. 

Những lời đối đáp trên không cho chúng ta có chỗ để suy nghĩ.

Sư đề ngữ trên vách nhà Diên thọ tại Long Môn: 

– “Phật cho người có bệnh phải điều trị, có chỗ nghỉ ngơi. Trong thiền lâm có nhiều tên gọi: Hoặc gọi là Niết-bàn, thấy pháp thân thường trụ rõ pháp chẳng sanh. Hoặc gọi Tỉnh hành, biết duyên trói buộc này đều từ hành khổ. Hoặc gọi Diên thọ, muốn được tuệ mạng mà gìn giữ sắc thân. Đây kỳ thực vì khiến người rõ chỗ sanh tử vậy. Người kiến giải nhiều mà tỉnh lực ít, khi có chút bệnh liền cho vào nhà này, nếu chẳng chống trái thì có bổ ích. Người mắc bệnh lâu bèn nghĩ nhớ quê hương là không tốt, phải đoái nghĩ diệt trừ gốc khổ. Thánh trước nói: Bệnh là thuốc hay của chúng sanh, nếu khéo uống đều được lành bệnh vậy.” 

Trong nhà thiền, nhà để chúng ở dưỡng bệnh được gọi là nhà Niết-bàn, nhà Tỉnh hành, hoặc nhà Diên thọ. Nguyên chữ Hán là Niết-bàn đường, Tỉnh hành đường, Diên thọ đường. Tại sao có nhiều tên gọi như vậy?

Gọi là Niết-bàn, vì thấy pháp thân thường trụ không còn sanh tử nữa.

Gọi là Tỉnh hành, vì biết các duyên trói buộc đều từ hành khổ. Trong mười hai nhân duyên, hành là duyên đẩy thức đi thọ sanh. Hành cũng là nghiệp, bởi có nghiệp nên mới thọ khổ. Ở nhà Tỉnh hành để thức tỉnh, biết rõ hành là khổ.

Gọi là Diên thọ, vì muốn được tuệ mạng mà gìn giữ sắc thân này.

Người vọng nhiều tỉnh ít, khi chút bệnh liền vào nhà này, chớ có chống trái thì được bổ ích. Nơi đây để dành cho người bệnh tĩnh tâm. Với người bệnh nhẹ cho vào đây ở, không khởi nghĩ chống trái với bệnh tật, tu tập nhẹ nhàng sẽ được lợi ích.

Đến người mắc bệnh lâu bèn nghĩ nhớ quê hương là không tốt, phải từ bỏ để diệt trừ gốc bệnh. Người bị bệnh lâu, nghĩ nhớ quê hương muốn về nhà là điều không tốt, phải từ bỏ ý nghĩ này để diệt trừ gốc khổ.

Thánh trước nói: Bệnh là thuốc hay của chúng sanh, nếu khéo uống đều được lành bệnh vậy. Tại sao nói bệnh là thuốc? Trong Mười điều tâm niệm có câu: “Nghĩ đến thân chẳng cầu không bệnh, thân không bệnh thì tham dục dễ sanh.” Khi bệnh, phải nhớ thân là vô thường, là gốc khổ. Có thân thì có bệnh, không còn thọ thân là hết bệnh. Như vậy bệnh là cơ hội tốt để thức tỉnh. Nếu thân không bệnh thì sẽ quên không nhớ việc tu hành.

Đến niên hiệu Tuyên Hòa năm đầu (1119), Sư do bệnh từ nhiệm trở về nhà Đông ở Tưởng Sơn. Năm sau, trước đông chí một ngày, thọ thực xong Sư ngồi kiết già bảo đồ chúng rằng: 

– Những bậc lão túc các nơi sắp tịch để kệ từ biệt thế gian. Thế gian có thể từ sao? Sắp đi an ổn. 

Sư chắp tay vui vẻ thị tịch. Môn đồ đem hài cốt về Long Môn, xây tháp bên cạnh đài Linh Quang thờ Sư. 

Sắp thị tịch, ngài ngồi kiết già bảo đồ chúng: Bậc lão túc ở các nơi sắp tịch để kệ từ biệt thế gian. Thế gian có thể từ sao? Đây có hai ý: Một là thân chết thì tứ đại trả về tứ đại, có gì đâu để từ giã. Hai là với người đã nhận ra và hằng sống với bản tâm rồi, rõ biết thế gian chỉ là hư dối, đâu có gì thật mà phải giã từ.

THIỀN SƯ ĐẠO NINH Ở KHAI PHƯỚC – ĐÀM CHÂU (1053 – 1113) 

Sư họ Uông, quê ở Thiệp Khê. Thuở tráng niên làm đạo nhân ở chùa Sùng Quả, lo việc nhà tắm. Một hôm định rửa chân, chợt đọc kinh Kim Cang đến câu: “Nơi chương cú này hay sanh lòng tin cho đây là thật”, liền quên mất sở tri, bỗng đẩy chân vô nồi nước sôi, phát minh việc nơi mình. 

Đạo nhân tức người cư sĩ công quả trong chùa. Lo việc nhà tắm là nấu nước nóng cho chúng tăng tắm.

Lúc nào ngài cũng đọc lẩm nhẩm kinh Kim Cang, đi đứng nằm ngồi đều đọc. Một hôm ngài đang nấu nước định rửa chân, chợt đọc tới câu: Nơi chương củ này hay sanh lòng tin cho đây là thật, liền quên mất sở tri, đẩy chân vô nồi nước sôi mà ngộ đạo. Người xưa bắt đầu đến chùa là đem hết tâm lực học đạo, không chút lơ là.

Sau Sư thế phát tại Tưởng Sơn và nương với thiền sư Lão Lương ở Tuyết Đậu. Ở đây được hai năm, Sư bèn dạo các tùng lâm tham vấn chư danh túc. Sau cùng Sư đến chùa Bạch Liên, nghe thiền sư Pháp Diễn trong buổi tiểu tham cử thoại Quốc sư Trung “cổ Phật tịnh bình” và Triệu Châu “con chó không Phật tánh”, liền thấu triệt nguồn pháp. 

Khoảng niên hiệu Đại Quán (1107-1110), Đàm soái Tịch Chấn thỉnh Sư trụ chùa Khai Phước, tăng lữ tụ họp tham vấn. 

Ngày tắm Phật, Sư thượng đường: 

– Chưa rời Đâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã xong. Chư thiền đức! 

Ngày ngày vầng nhật bờ đông lên, Sớm sớm canh năm gà gáy rền. Tuy không phải động hoa đào ấy, 

Xuân đến đào hoa rợp khê triền. 

Lại nói, trong vườn Tỳ-ni giáng sanh nơi hông mặt, khắp đi bảy bước nhìn xem bốn phương, trên trời dưới trời chỉ ta hơn hết. Giống hệt thích xem trăng trên trời, quên mất châu trong tay. Lại biết chỗ rơi chăng? Nếu biết chỗ rơi, mới là con hiếu cháu hiền. Nếu chưa được như thế, chẳng khỏi lặp lại chú cước. 

Sư im lặng giây lâu nói: 

Trời sanh tài năng hay kỳ quái,

Chưa lên xe người đùa một phen. 

Chưa rời Đâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã xong. Ngài chỉ thẳng chỗ chân thật, dù Phật ra đời hay không ra đời, mỗi người cũng có sẵn Phật nơi mình.

Trong tay đã có sẵn hạt châu sáng, nhưng vì mê mặt trăng trên trời nên quên mất hạt châu trong tay. Cũng vậy, nếu chúng ta chỉ thấy hình ảnh đức Phật một tay chỉ trời một tay chỉ đất, là đã quên đi hạt châu của mình rồi.

Ngài đã chỉ rồi, còn chưa nhận ra thì ngài gợi mở lần nữa. Chú cước tức là giải thích ra.

Sư dạy chúng: 

Thu nhật diệu trường không, 

Thu giang tẩm hư biếc. 

Thương ta môn ngoại nhân, 

Xứ xứ tầm Di-lặc. 

Mạch lộ hốt đài đầu, 

Tương phùng bất tương thức. 

Dịch: 

Trời thu sáng đầy không, 

Sông thu tẩm màu biếc. 

Thương thay người cửa ngoài, 

Nơi nơi tìm Di-lặc. 

Trên đường chợt ngẩng đầu, 

Gặp nhau mà chẳng biết. 

Chư thiền đức! Đã là gặp nhau vì sao lại chẳng biết? Chặt hết trúc trước sương, đến khe chẳng hóa rồng. 

Bài kệ tả cảnh trời thu, nước sông trong biếc, đáng thương người còn đứng ngoài cửa, cứ tìm Phật ở bên ngoài, trên đường đi đã gặp Phật, nhưng lại chẳng biết. Phó đại sĩ cũng có bài kệ tương tự:

Đêm đêm ôm Phật ngủ, 

Ngày ngày cùng Phật dậy.

Ngồi đứng hằng theo nhau,

Nói nín cùng chung ở.

Mảy may chẳng tạm rời,

Như hình cùng với bóng.

Muốn biết nơi Phật đi,

Chỉ chỗ nói năng ấy.

Chúng ta với Phật chẳng lúc nào rời nhau mà không biết, đó là cái dở của mình.

Chặt hết trúc trước sương, đến khe chẳng hóa rồng. Người ta thường trồng trúc để cắt thành hình con rồng con phượng. Nhưng nếu đem trúc trồng ở bờ khe, liệu trúc có hóa thành rồng được không? Đó chỉ là tướng hư dối không thật nên không thể hóa thành rồng.

Sư thượng đường: 

Biến giới bất tằng tàng 

Thông thân vô ảnh tượng 

Tương phùng mạc nhạ thái ngu si

Khoáng kiếp chí kim vô kỹ lưỡng

Vô kỹ lưỡng thiểu nhân tri

Đại để hoàn tha cơ cốt hảo

Hà tu lâm kính họa nga my. 

Dịch: 

Khắp cõi chẳng từng che,

Toàn thân không hình ảnh. 

Gặp nhau chớ lạ rất ngu si, 

Nhiều kiếp đến nay không bản lĩnh. 

Không bản lĩnh ít người hay, 

Đại để trả kia xương thịt tốt, 

Đâu cần đến kiếng vẽ chân mày. 

Khắp cõi chẳng từng che, toàn thân không hình ảnh. Cái chân thật đó khắp cõi chưa từng che, toàn thân hiện rõ ràng chứ không phải bóng dáng.

Gặp nhau chớ lạ rất ngu si, nhiều kiếp đến nay không bản lĩnh. Đã sẵn đủ như vậy, tại sao gặp nhau còn than rất ngu si?

Không bản lĩnh ít người hay, đại để trả kia xương thịt tốt. Xương thịt này do duyên đất nước gió lửa tạo thành, khi duyên hết thì trả về đất nước gió lửa. Thân hư dối chẳng nên quan trọng, chỉ làm sao nhận ra được cái chân thật trong đó. Nên nói đâu cần đến kiếng vẽ chân mày. Chân mày vẽ có thật không? Chân mày đã có sẵn, còn xem kiếng để vẽ chân mày làm gì! Người thế gian cho thân này là thật nên bám víu vào nó, cứ chạy theo hư dối mà không chịu hướng về cái chân thật, nên mê càng thêm mê.

Sư thượng đường: 

– Chánh lệnh Ma-kiệt chưa khỏi gập ghềnh, lòng từ Thiếu Thất sớm chạm phong cốt. Lưng mang đẩy tay cầm thương, cô phụ bình sinh; luyện hạnh khôi tâm thay nhau dằn vặt. Đâu giống mưa xuân tạnh núi xuân xanh, mây trắng ba mảnh bốn mảnh, hoàng oanh một tiếng hai tiếng. Đại Bi ngàn mắt xem chẳng đủ, Vương Duy tuy khéo vẽ khó thành. Dù cho được như thế, vẫn tự dính đồ trình. Chẳng dính đồ trình, một câu làm sao nói? Người từ Biện Châu lại, chẳng được tin Đông Kinh 

Chánh lệnh Ma-kiệt chưa khỏi gập ghềnh. Chỗ tột cùng đó, dù cho thị hiện nằm bệnh ở Ma-kiệt cũng là phương tiện, chưa phải đường thẳng tắp. Lòng từ Thiếu Thất sớm chạm phong cốt. Lòng từ bi như tổ Đạt-ma ngồi ở Thiếu Thất, cũng là sớm chạm phong cốt.

Lưng mang đây, tay cầm thương, cô phụ bình sinh; luyện hạnh khôi tâm thay nhau dằn vặt. Luyện hạnh là tập luyện hạnh này hạnh nọ, khôi tâm là để tâm như tro lạnh. Dù cho làm những việc như vậy, cũng chỉ là càng mất đi chỗ sáng suốt bén nhạy của mình mà thôi.

Đâu giống mưa xuân tạnh núi xuân xanh, mây trắng ba mảnh bốn mảnh, hoàng oanh một tiếng hai tiếng. Mưa xuân tạnh thì núi xuân hiện rõ ràng tươi xanh. Mây trắng, hoàng oanh hiện tiền chẳng vắng thiếu.

Đại Bi ngàn mắt xem chẳng đủ, Vương Duy tuy khéo vẽ khó thành. Chỗ chân thật đó, dù Đại Bi ngàn mắt xem cũng không hết, Vương Duy tuy khéo vẽ cũng chẳng được.

Dù cho được như thế, vẫn tự dính đồ trình. Chẳng dính đồ trình, một câu làm sao nói? Liền như thế ngộ, vẫn còn dính kẹt chút ít. Chỗ không dính kẹt, thử nói lấy một câu xem. Nói thế nào để không dính kẹt? Người từ Biện Châu lại, chẳng được tin Đông Kinh. Người từ chỗ này đến, không biết được tin tức ở chỗ kia.

Tăng hỏi: 

– Hoa sen khi chưa ra khỏi nước thì thế nào? 

Sư đáp: – Trời người chắp tay.

Chỗ đó mỗi người đều cung kính.

Tăng hỏi: – Sau khi ra khỏi nước thế nào? 

Sư đáp: – Chẳng ngại qua lại xem.

Ra khỏi nước rồi thì ai cũng thấy.

Tăng hỏi: – Thế nào là câu đến mà ý chẳng đến? Sư đáp: – Cỏ lành vốn không gốc, thuận tay nhổ đem dùng.

Cỏ không gốc là chỉ cho câu đến mà ý chẳng đến, tức là có câu mà không có ý.

Tăng hỏi: – Thế nào là ý đến câu chẳng đến? 

Sư đáp: – Nhận lấy ý đầu lưỡi câu, chớ chấp trái cân bàn. 

Ngay đầu lưỡi câu mà nhận lấy ý tư, đừng chấp vào trái cân bàn.

Tăng hỏi: – Thế nào là ý câu đều đến? 

Sư đáp:

– Đại Bi chẳng xòe tay, khắp thân là tròng mắt.

Ý câu đều đến thì toàn diện, chỗ nào cũng rõ ràng. Cho nên Bồ-tát Đại Bi chẳng cần xòe tay, mà khắp thân đều là tròng mắt, thấy khắp hết.

Tăng hỏi: – Thế nào là ý câu đều chẳng đến?

Sư đáp: – Anh đến Tiêu Tương tôi đến Tần.

Như chúng ta nói, anh ra Bắc tôi về Nam, tức là hai bên không dính dáng gì nhau.

Niên hiệu Chánh Hòa thứ ba (1113) ngày mùng bốn tháng mười một, Sư cạo tóc tắm gội xong, hôm sau thọ trai rồi tiểu tham, Sư khuyến khích chúng hành đạo lời rất thiết tha. Đến giờ Dậu ngày mùng bảy, Sư ngồi kiết già thị tịch. 

THIỀN SƯ NAM ĐƯỜNG NGUYÊN TĨNH Ở ĐẠI TÙY – BÀNH CHÂU (1065 – 1135) 

Sư là con nhà đại nho Triệu Ước Trọng. Lúc mười tuổi Sư bị bệnh nặng, mẹ khấn vái cảm điềm mộng lạ bèn cho xuất gia, theo thầy là Sa-môn Tông Duệ ở viện Bảo Sinh tại Đại Từ, Thành Đô. Niên hiệu Nguyên Hựu thứ ba (1088) Sư thi kinh được độ làm Tăng, Sư ở lại các hội giảng kinh mấy năm mới đi dạo phương Nam. 

Ban đầu Sư tham vấn thiền sư Ân ở Vĩnh An, nhân câu ba gậy của Lâm Tế, Sư được phát minh. Kế Sư đến các bậc danh túc mà không có chỗ nào hợp ý. Sư nghe thiền sư Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ cơ phong cao vót, bèn muốn đến đó. Sư liền đến núi Ngũ Tổ tham vấn, Pháp Diễn nói: 

– Ta nơi đây chẳng sánh với chư phương. Phàm ở trong thất chẳng cần ông tiến trước lùi sau, dựng ngón tay, đưa nắm tay, nhiễu giường thiền, làm người nữ bái, đưa tọa cụ lên… ngàn thứ khéo léo. Chỉ cần ông ngay một câu nói thích hợp, liền là chỗ thấy của ông. 

Sư mờ mịt thối lui. Trải qua ba năm, một hôm Sư nhập thất xong, Pháp Diễn bảo: 

– Chỗ hạ ngữ của ông đã được mười phần, thử nói cho ta xem? 

Sư liền trình bày rành mạch. Pháp Diễn bảo: 

– Nói cũng nói được mười phần, lại vì ta đoạn xem? 

Sư theo chỗ hỏi mà phán xét. Pháp Diễn bảo: 

– Hay thì hay, chỉ là chưa được bàn luận cùng lão tăng. Sau ngọ trai nên đến chỗ tháp Tổ sư, mỗi mỗi xét qua cho ông mới được. 

Khi đến nơi Pháp Diễn liền lấy những câu: Tức tâm tức Phật, phi tâm phi Phật, Mục Châu kẻ gánh bảng, Nam Tuyền chặt con mèo, Triệu Châu con chó không Phật tánh, có Phật tánh… để hỏi Sư, Sư đáp không có chỗ ngăn ngại. Đến câu con chó của Tử Hồ, Pháp Diễn nghiêm sắc mặt bảo: 

– Chẳng phải 

Sư thưa: – Chẳng phải lại thế nào? 

Pháp Diễn nói: – Đây chẳng phải thì những cái trước đều chẳng phải. 

Sư thưa: – Mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy. Pháp Diễn nói: 

– Xem kia nói “Tử Hồ có một con chó, trên là đầu người, giữa là lưng người, dưới là chân người, người vào cửa xem kỹ”. Vừa thấy Tăng vào cửa liền nói “Xem chó”. Nhằm chỗ Tử Hồ nói “xem chó” hạ một chuyển ngữ khiến Tử Hồ phải đó lưỡi, lão tăng phải câm họng, là chỗ ông xong việc. 

Hôm sau vào thất, Sư thầm thưa lời kia. Pháp Diễn cười nói: 

 Chẳng nói ông là người thiên liễu bá đương (việc lớn đã xong), lời này chỉ giống Tiên sư hạ ngữ. 

Sư thưa: – Con là người gì mà được giống Hòa thượng Đoan? 

Pháp Diễn nói: 

– Chẳng phải. Lão tăng tuy thừa kế Tiên sư, vẫn nói lời Tiên sư vụng. Vì vậy chỉ dùng thủ đoạn Viễn Lục Công tiếp người. Được như lão tăng cùng Viễn Lục Công bèn cùng Bá Trượng, Hoàng Bá, Nam Tuyền, Triệu Châu nắm tay cùng đi, vừa thấy lời vụng liền không chịu. 

Sự cho là không đúng bèn chống gậy qua sông, vừa gặp lúc nước sông dâng tràn đành phải lưu lại. Hai năm sau, Pháp Diễn mới hứa khả. 

Thường thương lượng cổ kim, Pháp Diễn nắm tay Sư nói: 

– Được ông nói, phải là ta nhắc, được ta nhắc, phải là ông nói. Từ nay về sau bí yếu Phật tổ, chìa khóa các nơi không thoát khỏi tay ông. 

Pháp Diễn liền lập nhà Nam để cho Sư ở. Khi ấy danh tiếng Sư đồn khắp. Nguyên soái Tịch Đán ở Thành Đô thỉnh Sư khai pháp tại Gia Hựu, chưa bao lâu lại mời đến Chiêu Giác, rồi dời lại Năng Nhân và Đại Tùy. 

Thiền sư Nguyên Tĩnh lúc mới đến Đại Tùy, phương trượng của Hòa thượng đường đầu trước kia bỏ trống đã lâu, bên trong có một con rắn rất to ở. Ngài muốn đến đó, tăng chúng thảy đều kinh hãi can ngăn, nhưng ngài vẫn quyết tới. Tối vào thấy một con rắn to nằm trên giường, ngài bèn đẩy nó sang một bên rồi nói: “Súc sanh tránh qua một bên, nhường chỗ cho lão tăng ngủ.” Ngài nằm ngủ đến sáng thức dậy không thấy con rắn, nó đã bò đi mất.

Ngài xem sự sống chết của thân này chẳng là gì, nên thản nhiên nằm cạnh con rắn ngủ một giấc tới sáng. Chúng ta bây giờ không được như người xưa, thấy rắn là vừa la vừa chạy, gặp một con bò cạp nhỏ xíu ở trên giường cũng không dám ngủ. Bậc đạt đạo và người chưa đạt đạo khác nhau chỗ đó.

Sư thượng đường: 

Quân vương rõ rõ tướng soái tỉnh tỉnh, một phen đắc thắng sáu nước thanh bình.

Nếu luôn tỉnh sáng thì một phen đắc thắng, sáu nước thanh bình. Sáu nước là chỉ cho sáu căn: nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý.

Lời dạy này của ngài giống như bài kệ của am chủ Diệu Phổ Tánh Không:

Học đạo ví như giữ cấm thành, 

Ngày ngừa lục tặc, tối tinh tinh.

Trong quân chúa tướng hay hành lệnh,

Chẳng động gươm đao trị thái bình.

Sư thượng đường cử thoại Lâm Tế tham vấn Hoàng Bá, Hòa thượng Bạch Vân Đoan tụng rằng: 

Nhất quyền quyền đảo Hoàng Hạc lâu, 

Nhất địch địch phiên Anh Vũ châu, 

Hữu ý khí thời thiêm ý khí, 

Bất phong lưu xứ đã phong lưu. 

Dịch: 

Một thoi đấm ngã Hoàng Hạc lầu,

Một đạp đạp nhào Anh Vũ châu, 

Có khí phách càng thêm khí phách,

Chỗ chẳng phong lưu cũng phong lưu. 

Sư nói: 

– Đại Tùy (Sư) tức chẳng vậy, 

Hành niên thất thập lão lung chung,

Nhãn mục tinh minh nhĩ bất lung,

Hốt địa hữu nhân khi phụ ngã,

Nhất quyền đả đảo quá Quan Đông.

Dịch: 

Tuổi đời bảy mươi già lọm khọm,

Tai thì chẳng điếc, mắt sáng trong,

Bất chợt có người bắt nạt lão, 

Một thoi đấm ngã đến Quan Đông. 

Tuổi già rồi nhưng mắt vẫn sáng, tai không ù, ai bắt nạt liền thoi một thoi ngã té nhào. Lối diễn đạt của ngài đơn sơ nhưng rất hay, rất mạnh mẽ.

Sư thượng đường vấn đáp xong, bèn nói: 

– Có Tổ đến giờ người đời lầm hiểu, chỉ đem ngôn cú dùng làm thiền đạo. Đâu chẳng biết, đạo vốn không thể, nhân thể được tên; đạo vốn không tên, nhân tên mà lập hiệu. Chỉ như vừa rồi Thượng tọa thế ấy bước ra, liền thế ấy về chúng, hãy nói đủ mắt hay chẳng đủ mắt? Nếu nói đủ mắt, vừa thế ấy bước ra, mắt ở chỗ nào? Nếu nói chẳng đủ mắt, đâu nên liền thế ấy đi. Chư nhân giả! Nơi đây thấy được thấu suốt rõ ràng thì biết Nhị Tổ lễ bái rồi đứng y chỗ cũ thật được tủy kia. Chỉ chút xíu này là mạng căn ba đời chư Phật, là mạng mạch sáu đời Tổ sư, là chỗ an thân lập mạng chư Lão hòa thượng trong thiên hạ. Tuy nhiên như thế, phải đích thân đến mới được. 

Ngài nói, vừa rồi có Thượng tọa đứng ra thưa hỏi như thế, thưa hỏi xong liền trở về chỗ ngồi. Vậy người đó đủ mắt hay không đủ mắt? Nếu đủ mắt thì đâu cần thưa hỏi, còn không đủ mắt thì tại sao như thế bước ra, rồi như thế trở về chỗ cũ. Chỗ này mọi người cần nghiệm cho thông.

Nếu ngay đây biết thấu suốt rõ ràng thì thấy được tột cùng chỗ Nhị Tổ đứng yên, mà Sơ tổ Đạt-ma khen ông được tủy của ta. Mạng căn ba đời chư Phật, mạng mạch sáu đời Tổ sư cũng là chỗ đó.

Sư thượng đường: 

Tự kỷ điền viên nhậm vận canh,

Tổ tông cơ nghiệp lực tu tranh,

Ngộ đắc thiên thánh đầu biên tọa,

Dụng hướng tam đồ để hạ hành. 

Dịch: 

Vườn ruộng nhà mình mặc sức cày, 

Sự nghiệp tông tổ gắng làm hay,

Ngộ được chỗ ngồi ngàn thánh trước, 

Vì cứu tam đồ bước xuống ngay. 

Ruộng mình cứ mặc tình cày cấy, chẳng nên dòm ngó ruộng vườn nhà người. Gầy dựng móng nền tông tổ, ngộ được chỗ ngồi của ngàn thánh rồi thì đi thẳng vào trong tam đồ, chứ đừng ngồi mãi trên non cao.

Tăng hỏi: – Tâm ấn Tổ sư thỉnh Thầy chỉ thẳng? Sư đáp: – Ông nghe nóng chăng? 

Tăng thưa: – Nghe. 

Sư bảo: – Còn chẳng nghe lạnh. 

Tăng thưa: – Hòa thượng lại nghe nóng chăng? 

Sư đáp: – Chẳng nghe. 

Tăng hỏi: – Vì sao chẳng nghe? 

Sư cầm quạt quạt nói: – Vì ta có cái này. 

Ta nhờ cái quạt nên mới không nóng. Ngài trả lời thật khéo.

Tăng hỏi: 

– Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh? Sư đáp: – Bắt sống Ma vương xỏ lỗ mũi. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân? 

Sư đáp: – Cái cây ở giữa thuộc bọn ta. Tăng hỏi: 

– Thế nào là nhân cảnh cả hai đều đoạt? Sư đáp: – Câu cả ba non cùng sáu trạnh. Tăng hỏi: 

– Thế nào là nhân cảnh đều chẳng đoạt? 

Sư đáp: – Ban ngày cưỡi trâu qua chợ búa. 

Một loạt đối đáp không cho chúng ta suy nghĩ.

Tăng hỏi: 

– Hoa sen khi chưa ra khỏi nước thì thế nào? 

Sư đáp: – Tốt. 

Tăng hỏi: – Sau khi ra khỏi nước thì sao? 

Sư đáp: – Tốt. 

Tăng hỏi: – Thế nào là hoa sen? 

Sư đáp: – Tốt. 

Vị tăng lễ bái. Sư bảo: 

– Cho kia ba cái tốt, muôn việc một lúc thôi. 

Câu kết rất hay. Nếu biết được ba cái tốt đó thì muôn việc đều xong.

Tăng hỏi: – Thế nào là thiền trong núi? 

Sư đáp: 

Tre ốm ngoài sân mọc măng trước, 

Tùng khô khe suối đâm cành dài. 

Tăng hỏi: – Thế nào là thiền trong chợ? 

Sư đáp: 

Sáu phố đùng đùng chuông trống nổi, Chính chỗ bày vàng trong thế giới. 

Tăng hỏi: – Thế nào là thiền trong thôn? 

Sư đáp: 

Trộm cắp hết rồi tằm lúa chín, 

Vui ca múa hát nhạc thanh bình. 

Có vị lão túc nói: “Ngay ngã tư đường cất một nhà xí bằng tranh, chỉ là không cho người ỉa.” Có vị tăng đem lời này hỏi Sư. Sư bảo: 

– Chính ông ỉa trước rồi, lại bảo người nào ỉa. 

Lão túc nghe được, thắp hương hướng về Đại Tùy lễ bái cảm tạ. 

Niên hiệu Thiệu Hưng năm Ất Mão (1135), vào mùa thu tháng bảy mưa to và tuyết rơi nhiều, trong núi có tướng lạ. Sư bảo: – Hạn kỳ của ta đến vậy. 

Ngày mười bảy Sư từ biệt các quận thú, tuần tự đến ba ngày, rồi thị hiện có chút bệnh ở Thiên Bành. Đến ngày hăm bốn, Sư bảo vị tăng thị giả: 

 Khi trời sáng không trăng thì thế nào? 

Thị giả không đáp được. Sư bảo: 

– Nói ngược ta vì ông châm lửa mới được. 

Không trăng là ban đêm. Đêm không trăng muốn trời sáng thì phải đốt lửa, do đốt lửa nên sáng.

Nói ngược ta vì ông châm lửa mới được. Nghĩa là ngày mai ông vì ta châm lửa thiêu. Giản dị vậy thôi.

Hôm sau trở về Giải viện ở Bằng Khẩu, Sư để lời dặn dò xong, thoát nhiên thị tịch. Đệ tử thỉnh toàn thân về, mây mù bao phủ bốn bề, chim vượn kêu khóc. Khi trà-tỳ mùi hương bay khắp nơi, lưỡi vẫn còn nguyên vẹn.

THIỀN SƯ TÔNG THÁI Ở VÔ VỊ – HÁN CHÂU 

Sư quê ở Phù Thành, từ khi ra khỏi quê hương dạo khắp tùng lâm. Sư đến núi Ngũ Tổ yết kiến thiền sư Pháp Diễn. Ngày cúng hương, Pháp Diễn cử thoại “rửa bát đi” của Triệu Châu để đại chúng tham. Đến khi vào thất cũng nhắc lời này, hỏi Sư: 

– Ông nói xem, Triệu Châu nói với y thế nào mà vị tăng này liền ngộ? 

Sư thưa: – Rửa bát đi, phải không? 

Pháp Diễn bảo: – Ông chỉ biết việc trên đường, chẳng biết thú vị trên đường. 

Sư thưa: – Đã biết việc trên đường, trên đường có thú vị gì? 

Pháp Diễn nói: – Ông chẳng biết sao? 

Lại hỏi: – Ông từng dạo Chiết Giang chưa? 

Sư thưa: – Chưa. 

Pháp Diễn nói: – Ông vẫn chưa ngộ. 

Từ đây đến năm năm Sư không thể đáp. Một hôm Pháp Diễn thăng đường nhìn chúng, nói: 

– Ông già tám mươi ném tú cầu. 

Liền xuống tòa. Sư vui vẻ ra chúng thưa: 

– Hòa thượng thử ném một cái xem? 

Pháp Diễn lấy tay làm thế đánh trống, dùng âm xứ Thục xướng bài ca Miên Châu: 

Đậu Tử sơn đả ngõa cổ, 

Dương Bình sơn tán bạch vũ, 

Bạch vũ hạ thủ Long nữ, 

Chức đắc quyên nhị trượng ngũ, 

Nhất bán thuộc La Giang,

Nhất bán thuộc Huyền Vũ. 

Dịch: 

Núi Đậu Tử đánh trống gốm, 

Núi Dương Bình mưa xối xả, 

Mưa xối xả tận Long nữ, 

Dệt lụa được hai trượng rưỡi, 

Một nửa thuộc La Giang, 

Một nửa thuộc Huyền Vũ. 

Sư nghe đại ngộ, liền bụm miệng Pháp Diễn nói: – Chỉ nên xướng đến đây. 

Pháp Diễn cười to rồi về. 

Sau, Sư trở về đất Thục. Tứ chúng thỉnh khai pháp ở Vô Vi, rồi dời đến Chánh Pháp. 

Sư thượng đường: 

– Một đại sự nhân duyên này, từ khi Thế Tôn đưa cành hoa Ca-diếp cười chúm chím, Thế Tôn bảo: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, phân phó cho Ma-ha Ca-diếp.” Về sau đèn đèn nối nhau, Tổ Tổ truyền nhau, thẳng đến ngày nay liên miên chẳng dứt, liền được khắp chỗ sanh hoa, cho nên gọi là Niết-bàn diệu tâm, cũng gọi Bản tâm, cũng gọi Bản tánh, Bản lai diện mục, Đệ nhất nghĩa đế, Thước-ca-la nhãn, Ma-ha đại bát-nhã. Tại nam gọi nam, tại nữ gọi nữ. Cả thảy các ông chỉ tự ngộ lấy, những lời này thảy là ngôn ngữ suông. 

Sư cầm phất tử lên nói: 

– Hội rồi gọi là Thiền, chưa ngộ quả nhiên khó khó khó, trước mắt như cách núi Tu-di. Ngộ rồi dễ dễ dễ, thuận miệng nói ra đều là phải. 

Ngài thượng đường nói, một đại sự nhân duyên này từ khi tổ Ca-diếp ngộ đạo trên hội Linh Sơn, cho đến về sau chư Tổ truyền trao không dứt. Cái đó gọi là Niết-bàn điệu tâm, Bản tâm, Bản tánh, Bản lai diện mục v.v… Tuy nhiều tên gọi như thế, nhưng tất cả danh từ ấy cũng chỉ là ngôn ngữ suông.

Người ngộ rồi thì nói đâu trúng đó, không sai lệch. Còn chưa ngộ nghe qua rất khó, như bị núi Tu-di chắn trước mắt, muốn nhìn qua bên kia cũng không được.

Tăng hỏi: – Thế nào là Phật? 

Sư đáp: – Ai dạy ngươi hỏi thế ấy? 

Tăng suy nghĩ. Sư bảo: – Xong. 

Những lời này không cần phải giải thích, chỉ tạm dẫn chuyện chư Tổ ngày xưa để rõ. Khi ngài Huệ Hải đến tham vấn Mã Tổ, Mã Tổ hỏi: – Từ đâu đến?

Huệ Hải thưa: – Ở chùa Đại Vân, Việt Châu đến.

– Đến đây tính cầu việc gì?

– Đến cầu Phật pháp.

– Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?

Huệ Hải lễ bái, thưa:

– Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?

– Chính nay ngươi hỏi ta là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.

Ngay đó Huệ Hải tự nhận bản tâm không do hiểu biết, vui mừng lễ tạ, ở lại tham học với Mã Tổ sáu năm.

Chúng ta hiểu được chỗ này thì sẽ hiểu được câu đáp Xong của ngài.

THIỀN SƯ BIỂU TỰ Ở NGŨ TỔ – KỲ CHÂU 

Sư quê ở Hoài An, buổi đầu nương theo thiền sư Pháp Diễn ở Ngũ Tổ, rất lâu mà không có tỉnh. Lúc đó Viên Ngộ làm Thủ tọa. Sư đến thưa thỉnh, Viên Ngộ bảo: 

– Huynh có chỗ nghi thử nói tôi xem. 

Sư liền nêu công án “Đức Sơn tiểu tham không đáp thoại, người hỏi thoại ăn ba mươi gậy”. Viên Ngộ bảo: 

– Lễ bái đi, ta làm thầy ông được, cử thoại còn chẳng hội. 

Sư làm lễ xong. Viên Ngộ bảo cử lại thoại trước. Sư thưa: 

– Đức Sơn tiểu tham không đáp thoại. 

Viên Ngộ bụm miệng Sư, nói: 

– Chỉ thế ấy khán. 

Sư to tiếng nói: 

– Bậy, bậy! Đâu có công án, chỉ dạy người khán một câu đạo lý! 

Có một vị bảo Sư: 

– Huynh không nên nói như thế, Thủ tọa phải có phương tiện. 

Nhân đây, Sư tịnh tọa thể cứu một tuần, bỗng giải được chỗ nghi. Sư đến Viên Ngộ lễ tạ. Viên Ngộ nói: 

– Huynh mới biết tôi chẳng dối huynh. 

Sư lại đến phương trượng, Pháp Diễn đón Sư vui vẻ. Từ đây càng ngày Sư càng thâm nhập huyền áo. Pháp Diễn sắp quy tịch, để thư cho Huyện thú giới thiệu Sư trụ trì. Tăng chúng bốn phương vẫn kéo tới đông đảo. 

Sư yết bảng trước cửa liêu Thị giả: “Đông Sơn có ba câu, nếu người nói được mời trụ lại.” Chư tăng đều không nói được. Một hôm có vị tăng mang tọa cụ đi thẳng đến phương trượng, thưa Sư rằng: 

 Con nói chẳng được chỉ cần trụ lại. 

Sư rất vui gọi Duy-na, bảo: 

– Sắp vị này ở dưới cửa sổ. 

Các vị thiền sư thật khéo gạt người, bảo rằng Đông Sơn có ba câu, nếu người nói được mời trụ lại. Chư tăng đều không nói được, đến khi vị tăng này nói: Con nói chẳng được chỉ cần trụ lại thì liền chấp nhận.

Sư thượng đường: 

 Khi Thế Tôn đưa cành hoa, Ca-diếp cười chúm chím. Người chỉ biết đưa hoa cười chúm chím, vẫn không biết Thế Tôn. 

Có vị tăng hỏi: 

– Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang? 

Sư đáp: 

– Trong rừng gai góc múa Chá Chi (tên điệu múa). 

Tăng hỏi: 

– Thế nào là Phật? 

Sư đáp: 

– Hài tử mới sanh ném vào bồn vàng. 

Thiền sư nói dường như không có ý nghĩa, nhưng thật ra trong đó đầy đủ hết. Các ngài nói khéo để chúng ta không kẹt vướng, không suy nghĩ, vậy mới nhận ra. Cho nên học thiền phải bén nhạy lanh lợi, thấy thì ngay đó liền thấy, suy nghĩ là sai.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.