Nội dung:
Sư họ Lý quê ở đất Mân. Thuở nhỏ Sư ít nói cười, nghe tiếng chuông khánh thì vui. Năm mười lăm tuổi, Sư theo thiền sư Văn Huệ ở U Nham xuất gia, mà vẫn thích xem các sách. Một hôm Sư tự trách: “Đã cạo tóc mặc áo nhuộm phải hẹn ngày triệt ngộ, há say mê sách vở thế tục sao!” Sư bèn xuống núi đến yết kiến thiền sư Viên Ngộ ở Vân Cư. Kế, Sư đến tham vấn thiền sư Tường ở Hoàng Bá, thiền sư Ngộ ở Cao Am, những lời đương cơ Sư đều khế hội. Do vùng đất Hoài đất Sở trộm cướp nổi lên, Sư trở về yết kiến Phật Tâm. Gặp lúc Đại Huệ ngụ tại Quảng Nhân, Sư liền theo hầu.
Ngài xuất gia năm mười lăm tuổi, lúc nhỏ cũng bị bệnh như chúng ta bây giờ, thích đọc sách đời. Chư tăng ở đây, mấy chú thích đọc sách gì? Chưởng, kiếm hiệp…hay kinh điển? Sách đời đâu có giải quyết được việc sanh tử, vậy mà đọc nó là mê, còn đạo lý thì không nhớ.
Một hôm ngài tự trách mình: Đã cạo tóc mặc áo nhuộm phải hẹn ngày triệt ngộ, há say mê sách vở thế tục sao! Mình đã xuất gia tu hành phải hẹn ngày triệt ngộ, chứ không thể lừng chừng, cứ say mê sách vở ngoài đời. Ngài rất hay, ngang đó dứt khoát. Người xưa tu hành cũng có những cái dở, nhưng một khi biết được rồi thì quyết buông bỏ để lo việc của mình. Ngài không bị rầy, chỉ tự tỉnh tự biết rồi liền bỏ; còn chúng ta bây giờ thậm chí bị rầy mà vẫn không chịu bỏ, thử hỏi phải nói sao đây? Rất dở!
Đại Huệ bảo:
– Ông ở chỗ Phật Tâm có sở đắc, thử kể một ít xem.
Sư nhắc:
– Phật Tâm thượng đường niềm công án Phổ Hóa, nói: Phật Tâm tức chẳng vậy, khi thảy chẳng thế ấy thì thế nào? Ngay xương sống liền đánh, mặc tình phân thân khắp thế giới.
Đại Huệ hỏi: – Ý ông thế nào?
Sư thưa: – Con không nhận câu chú cước ở sau.
Đại Huệ bảo: – Đây chính là lấy bệnh làm pháp.
Sư quả quyết không tin hợp ý. Đại Huệ bảo:
– Ông chỉ dò tìm xem.
Sư trọn cho là chẳng đúng. Trải qua một tuần, Sư nhân chép lời niêm của thiền sư Tín ở Hải Ấn “Sấm nổ rền trời, không có hạt mưa” liền hết vướng mắc, chạy đến trình với Đại Huệ. Đại Huệ cử thoại Đạo Giả yết kiến Lang Da và lời Huyền Sa “chưa triệt”, hỏi Sư. Sư đáp xong, Đại Huệ cười nói:
– Tuy tiến được một bước, chỉ là chẳng dính việc này. Như người chặt cây, ngay dưới gốc chặt một búa thì mạng căn đều dứt; ông nhằm trên cành mà chặt, làm sao đoạn được mạng căn? Ngày nay các nơi nói thiền ào ào, chỗ thấy như thế, nào có ích gì? Chánh truyền của Dương Kỳ chỉ ba bốn người mà thôi.
Sư nổi tức đi ra. Hôm sau Đại Huệ hỏi:
– Ông lại nghi chăng?
Sư thưa: – Không thể nghi.
Đại Huệ bảo: – Chỉ như cổ nhân khi thấy nhau, chưa mở miệng đã biết hư thực, hoặc nghe lời kia liền biết sâu cạn, lý này thế nào?
Sư hoảng hốt xuất mồ hôi, chẳng biết chỗ đến. Đại Huệ dạy nghiên cứu “hữu cú vô cú”.
Đại Huệ sang am Vân Môn, Sư theo hầu. Một hôm Sự hỏi: – Con đến chỗ này không thể thấu triệt, bệnh tại chỗ nào?
Đại Huệ bảo: – Bệnh của ông rất nặng, thế y bó tay. Sao vậy? Có người chết rồi sống chẳng được, nay ông sống rồi chưa từng chết. Cốt đến chỗ đất an lạc, phải là một phen chết đi mới được.
Sư nghi tình càng sâu. Sau Sư vào thất, Đại Huệ hỏi:
– Ăn cháo xong rửa bát rồi, dẹp hết thuốc kỵ, nói ra một câu?
Sư thưa: – Vỡ nát.
Đại Huệ chỉnh thân hét nói: – Ông lại nói thiền.
Sư liền đại ngộ. Đại Huệ đánh trống bảo chúng:
Quy mao niêm đắc tiếu hai hai,
Nhất kích vạn trùng quan tỏa khai.
Khánh khoái bình sinh tại kim nhật,
Thục vân thiên lý trám ngô lai.
Dịch:
Nắm được lông rùa cười hây hây,
Một giọng mở toang muôn lớp vây.
Hiện tại cả đời ôi thích thú,
Ai rằng ngàn dặm gạt đến đây.
Sư cũng làm kệ trình:
Nhất tạt đương cơ nộ lôi hống,
Kinh khởi Tu-di tàng Bắc đẩu.
Hồng ba hạo điểu lãng thao thiên,
Niêm đắc tỹ khổng thất khước khẩu.
Dịch:
Dồn ép đương cơ trận lôi đình,
Giật mình Tu-di ẩn Thất tinh (Bắc đẩu).
Ngập trời nước dậy mênh mông sóng,
Nắm được lỗ mũi mất miệng mình.
Sau Sư trụ, thượng đường:
– Câu có câu không như bìm tựa cây, giả khờ làm gì? Đến khi cây ngã bìm khô, câu về chỗ nào? Biết rõ mọi người các ông chợt bàn lỗ mũi chẳng nhằm. Vì sao như thế? Chỉ vì rõ ràng lắm, trở thành chỗ được chậm.
Sư thượng đường:
– Mộng huyễn không hoa nhọc gì nắm bắt, được mất phải quấy một lúc buông hết.
Sư ném phất tử nói:
– Ngày nay sơn tăng đã là buông hết rồi vậy, mọi người các ông lại là sao?
Lại bảo: – Thị giả lượm cây phất tử.
Ngài dạy rất khéo: Mộng huyễn không hoa nhọc gì nắm bắt. Tất cả cảnh ở thế gian này đều như mộng huyễn, hoa đốm trong hư không, nắm bắt làm gì cho nhọc, có cái gì thật đâu mà nắm bắt. Được mất phải quấy một lúc buông hết, những câu này các ngài nhắc chúng ta hoài, mà mình có buông hết được đâu!
Ngài ném cây phất tử nói: Ngày nay sơn tăng đã là buông hết rồi vậy, mọi người các ông lại là sao? Tay đang cầm phất tử ném bỏ luôn, tức là tôi buông hết rồi còn các ông thì sao? Đây là ngài tạm mượn những hình ảnh để nhắc nhở chúng ta. Trọng tâm của việc tu chính là chỗ biết buông, biết gửi cho hư không. Nếu người nào biết buông thì mọi việc đều dễ dàng. Ngang đây chịu buông chưa?
Tăng hỏi:
Văn-thù vì sao khiến người nữ xuất định không được?
Sư đáp: – Ngày nay sơn tăng nhọc.
Tăng hỏi:
– Võng Minh vì sao lại khiến xuất định được?
Sư đáp: – Khiến người nghi đến.
Tăng thưa:
– Thế ấy thì vạch ra Hoa Nhạc ngàn ngọn đẹp, tuôn xuống Hoàng Hà một mạch trong.
Sư đáp: – Mặc tình suy tính.
Những vị thiền sư từ Đại Huệ trở về sau, toàn là nói thoại đầu, thỉnh thoảng mới có vài câu cho chúng ta suy gẫm, thế nên chỉ nghe qua thôi, chứ không cần giải thích.
Sư họ Tiên Vu, quê ở Đồng Xuyên. Sư tham vấn Viên Ngộ đã lâu có chút tỉnh, Viên Ngộ trở về Thục dặn nương với Đại Huệ và biên thư cho Đại Huệ rằng: “Nhan Xuyên màu vẽ đã xong, chỉ thiếu điểm mắt tai, ngày sau nối tiếp chưa thể lường.” Đại Huệ ở Vân Môn và Dương Tự, Sư đều theo đó, sớm chiều thưa hỏi mới được đại ngộ.
Người xưa giới thiệu nhau một cách khéo léo. Như trường hợp này, ngài Viên Ngộ biên thư giới thiệu Nhan Xuyên (Đạo Nhan người Đồng Xuyên) với Đại Huệ, chỉ nói: Nhan Xuyên màu vẽ đã xong, chỉ thiếu điểm mắt tai. Vậy là sao? Nếu bây giờ chúng ta giới thiệu ai thì sẽ nói, tôi thấy huynh ấy về tu hành thì đạo đức đã đủ, chỉ là chưa được ngộ. Ở đây ngài Viên Ngộ không nói cách đó, mà dùng lời lẽ rất khéo. Nếu khéo tháo nêm mở chốt thì ngày sau nối tiếp chưa thể lường. Người này khai ngộ rồi, ngày sau sẽ nối tiếp lâu dài không thể lường được.
Sư thượng đường:
– Chiếc lá rơi khắp nơi thu, hạt bụi dấy đại địa thâu. Ô Sào thổi sợi vải, liền có người được ngộ. Thời nay học giả vì sao lại chẳng biết tự kỷ?
Sư im lặng giây lâu nói:
– Thôi chớ trách lầm người.
Chiếc lá rơi khắp nơi thu, một chiếc lá rụng gồm cả cảnh mùa thu trong đó, bởi khi thấy lá vàng rơi rụng thì biết rằng mùa thu đang có khắp mọi nơi. Hạt bụi dấy đại địa thâu, một hạt bụi bao trùm đại địa, toàn đại địa đều từ hạt bụi mà thành.
Ô Sào thổi lông vải, liền có người được ngộ. Đây là ngài dẫn câu chuyện thiền sư Ô Sào có một đệ tử, chú này thấy thầy không dạy thiền cho mình tu, bèn xin thầy đi các nơi để học thiền. Thiền sư Ô Sào bảo: Các nơi có Ngũ vị thiền, còn ta ở đây có Nhất vị thiền, sao ngươi không học? Nghe thầy nói, chú liền hỏi: Thế nào là Nhất vị thiền? Thiền sư Ô Sào đang mặc chiếc áo vải bố, ngài rút một sợi vải đưa lên miệng thổi một cái, chú đệ tử ngộ. Đó là Nhất vị thiền.
Sư thượng đường:
– Muốn biết tâm chư Phật, chỉ nhằm trong tâm hành chúng sanh mà biết. Muốn biết tánh thường trụ chẳng điêu tàn, chỉ nhằm chỗ thiên biến của vạn vật hội lấy. Lại biết được chăng?
Muốn được chẳng chiêu nghiệp vô gián,
Chớ báng Như Lai chánh pháp luân.
Câu này giống như trong Pháp Bảo Đàn, khi được hỏi về chân tánh Lục Tổ cũng nói tương tự vậy. Ngài nói: Muốn biết tâm chư Phật, chỉ nhằm trong tâm hành chúng sanh mà biết. Tâm hành tức là tâm lăng xăng, ngay tâm lăng xăng của chúng sanh mà biết được tâm chư Phật. Muốn biết tánh thường trụ chẳng điêu tàn, chỉ nhằm chỗ thiên biến của vạn vật hội lấy. Muốn biết tánh thường trụ thì ở trong chỗ điêu tàn thay đổi của vạn vật mà nhận.
Ngài nói nghe qua dường như trái lẽ thật, nhưng đó chính là chỗ chân thật không trái. Cũng như chúng ta nói, muốn múc được nước thì phải ngay nơi sóng mà múc. Nghe nói trên sóng mà múc nước lạ quá, nhưng lúc sông biển nổi sóng, muốn lấy nước thì phải làm sao? Phải ngay nơi những lượn sóng đó mà múc. Sóng là tướng động, nhưng rời sóng thì không thể có nước. Ngay nơi cái động mà thấy cái tĩnh, cũng vậy ngay tâm lăng xăng dao động mà nhận ra tâm bất động.
Ngài nói thêm: Muốn được chẳng chiêu nghiệp vô giản, chớ báng Như Lai chánh pháp luân. Đây là dẫn lời trong Chứng Đạo Ca của ngài Huyền Giác.
Sư thượng đường:
– “Chỗ mọi người biết, Lương Toại thảy biết; chỗ Lương Toại biết, mọi người chẳng biết.” Thế nào là chỗ biết của Lương Toại?
Sư nói: – Chim cồng cộc mà nói con sếu.
Ngài nêu lên lời của thiền sư Lương Toại sau khi ngộ nói, rồi hỏi: Thế nào là chỗ biết của Lương Toại? Và tự trả lời: Chim cồng cộc mà nói con sếu, tức ngay cái này mà nói cái kia.
Sư thượng đường:
– Giữa đông lạnh lắm, ba cõi không an. Người giàu vui thích, kẻ nghèo cơ hàn. Chẳng biết huyền chỉ, lầm nhận cân bàn. Sao vậy? Đầu trâu để trên đuôi, Bắc đẩu hướng nam xem.
Đây là ngôn ngữ của các thiền sư nói, không cho chúng ta luận bàn, nên những chỗ này không cần phải tìm hiểu.
Sư thượng đường:
– Cửa cổng Viên Thông chữ bát (八) đã mở, nếu là từ cửa vào được, chẳng nên cùng nói. Phải là vào được cửa không cửa, mới đáng ngồi trong nhà kín. Vì thế nói, chư Phật ba đời quá khứ cửa này đã thành tựu, chư Bồ-tát hiện tại nay mỗi vị vào viên minh, người tham học vị lai nên y pháp như thế. Chư thánh từ trước may có môn phong rộng lớn như thế, chẳng kham nối tiếp cam tự xem thường. Kẻ khoét tường vách chẳng phải trượng phu. Dám hỏi đại chúng, cửa không cửa làm sao mà vào?
Sư im lặng giây lâu nói: – Chẳng riêng Quan Thế Âm, tôi cũng từ trong đó chứng.
Chư Phật ba đời quá khứ cửa này đã thành tựu, chư Bồ-tát hiện tại nay mỗi vị vào viên minh, người tham học vị lai nên y pháp như thế. Câu này rút ra từ kinh Lăng-nghiêm, đoạn ngài Văn-thù chọn căn viên thông. Chữ cửa này là chỉ cho nhĩ căn.
Dám hỏi đại chúng, cửa không cửa làm sao mà vào? Tại sao cửa mà không cửa? Chúng ta thử nhớ lại xem, phản văn văn tự tánh là cửa nào? Nói cửa mà không có cửa thật, vì đây là cửa Nhĩ căn viên thông. Thế nên ngài im lặng giây lâu rồi nói: Chẳng riêng Quan Thế Âm, tôi cũng từ trong đó chứng. Đây là ngài lặp lại lời của Bồ-tát Văn-thù nói, chẳng riêng gì Quan Thế Âm vào từ nhĩ căn viên thông, tôi cũng từ nơi cửa đó mà chứng.
Sư thượng đường:
– Năm rồi sau hàn thực, năm nay trước hàn thực. Ngày ngày là ngày tốt, chẳng phải chánh trung thiên.
Sư thượng đường:
Khách xá cửu lưu liên,
Gia hương tịch chiếu biên.
Diêm huyền tam ngoạt vũ,
Thủy một lưỡng hồ liên.
Hoạch lậu thiêu đăng trảng
Sài sanh mãn táo yên.
Dĩ vong nam bắc niệm,
Nhập vọng tận bình xuyên.
Dịch:
Nhà khách mãi lưu luyến,
Quê chiều nắng rọi thềm.
Tháng ba mưa tợ rèm,
Nước ngập hai hồ sen.
Dùng vạc rỉ đốt đèn,
Củi tươi khói đầy hiên.
Đã quên nghĩ nam bắc,
Trông vào khắp bình nguyên.
Nhà khách mãi lưu luyến,
Quê chiều nắng rọi thềm.
Tháng ba mưa tợ rèm,
Nước ngập hai hồ sen.
Nhà khách mãi lưu luyến, theo cái thấy của người tu thiền, tam giới chỉ là nhà khách. Chúng ta đang là khách đi trong tam giới, vậy mà thích ở đó mãi không chịu ra. Quê chiều nắng rọi thềm, quê nhà lặng lẽ yên ả ở bên cạnh mà không chịu về. Qua đây ngài muốn đánh thức người tham học, chúng ta tu là cốt trở về gia hương của mình, đừng làm khách đi trong tam giới nữa.
Dùng vạc rỉ đốt đèn,
Củi tươi khói đầy hiện.
Đã quên nghĩ nam bắc,
Trông vào khắp bình nguyên.
Bốn câu này ý muốn nói lên điều gì? Nếu người đã quên nghĩ nam nghĩ bắc, không còn nhìn theo đối đãi nữa, thì trông vào thấy khắp bình nguyên, tức là vào được chỗ bình an rồi.
Tăng hỏi: – Công án Hương Nghiêm “leo cây” ý nghĩa thế nào?
Sư đáp: – Tả chẳng thành, vẽ chẳng được. Tăng hỏi:
– Lý Lăng tuy tài giỏi, tại sao rơi vào giặc Phiên? Sư đáp: – Đi lại chỗ nào?
Ngài Hương Nghiêm nói: Có một người leo lên cây cao há miệng cắn cành cây, lơ lửng tay chân không nắm níu vào đâu được. Ngay lúc ấy có người hỏi, thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Người này nên đáp hay không nên đáp? Nếu hả miệng đáp thì tan thân mất mạng, còn không đáp thì phụ lòng người hỏi. Vậy phải làm sao? Ngài đáp: Tả chẳng thành sẽ chẳng được.
Tăng hỏi: – Thế nào là Phật?
Sư đáp: – Ông là trước tiên.
Tăng lại gần nói: – Dạ, dạ!
Sư nói:
– Áo lót không trôn, quần đùi không miệng.
Tăng hỏi: – Thế nào là Phật?
Sư đáp: – Hòa thượng Chí Công.
Tăng thưa: – Học nhân hỏi Phật, tại sao đáp Hòa thượng Chí Công?
Sư nói: – Chí Công chẳng phải Hòa thượng nhàn.
Có Tăng hỏi: Thế nào là Phật? Ngài đáp: Ông là trước tiên. Nếu hỏi Phật thì ông mới là Phật trước nhất, chứ không phải ai khác. Vị tăng này cũng sáng suốt, nghe nói vậy liền bước lại gần dạ dạ, tức nhận mình là Phật. Ngài nói: Áo lót không trôn, quần đùi không miệng.
Vị tăng này bèn hỏi lại: Thế nào là Phật? Trước hỏi Phật, ngài đã chỉ thẳng ông tức là Phật, vị tăng không chịu nhận lại hỏi tiếp, thế nào là Phật? Ngài đáp: Hòa thượng Chí Công. Hòa thượng Chí Công là Phật.
Tăng thưa: Học nhân hỏi Phật, tại sao đáp Hòa thượng Chí Công? Tăng thắc mắc, mình hỏi Phật sao ngài trả lời qua người khác. Ngài nói: Chí Công chẳng phải Hòa thượng nhàn.
Tăng hỏi: – Thế nào là Pháp?
Sư đáp: – Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cữu. (Lụa vàng, thiếu nữ, cháu ngoại, cối đâm tiêu.)
Tăng hỏi: – Ấy là chương cú gì?
Sư đáp: – Lời hay tuyệt diệu.
Chúng ta thường hiểu pháp là giáo lý của Phật dạy, còn ở đây ngài đáp: Lụa vàng, thiếu nữ, cháu ngoại, cối đâm tiêu.. những thứ đời thường thế gian. Sao lạ vậy? Ý nói pháp sâu mầu thường khó hiểu tới được. Gốc tám chữ này xuất xứ từ sử gia trứ danh cuối đời Đông Hán là Thái Ung. Một hôm Tào Tháo đem quân đánh Lưu Bị, tiện đường ghé thăm nhà con gái ông là Thái Diễm. Tháo ngồi ở khách sảnh thấy trên vách có treo một tấm bìa ghi bài văn bia, bèn bước đến xem và hỏi nguồn gốc. Diễm thưa: Đây là bài văn bia Tào Nga, con gái người đồng bóng Tào Vu. Vì cha say rượu đứng nhảy múa trên thuyền, sảy chân té sông chết, cô gái mười bốn tuổi đi dọc bờ sông kêu khóc suốt bảy ngày đêm, rồi nhảy xuống nước tìm xác cha. Qua mấy ngày thấy cô gái đội xác cha nổi lên mặt sông, người làng vớt xác cả hai chôn cất. Quan huyện tâu lên việc ấy, triều đình khen Tào Nga là hiếu nữ, truyền cho lập bia. Quan sai Hàn Đan Thuần làm bài văn bia để ghi lại việc ấy, bấy giờ Hàn Đan Thuần mới mười ba tuổi, cầm bút viết ngay một hơi thành bài văn, chẳng phải sửa một chữ. Quan cho khắc vào bia dựng bên mộ Tào Nga. Thời bấy giờ ai đọc cũng lấy làm lạ, tiếng văn hay đồn dậy xa gần… Phụ thân thiếp nghe tiếng cũng tìm đến xem, gặp lúc trời tối không nhìn thấy chữ, phải sờ vào bia, lần từ nét mà đọc. Đọc xong, Người lấy bút viết tám chữ lớn vào sau lưng bia. Về sau, có người khắc cả tám chữ vào đấy.
Tháo thấy tám chữ ấy cũng ghi bên cạnh bài văn: “Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cữu”, hỏi Diễm: Nhà ngươi có hiểu ý nghĩa tám chữ này không? Diễm thưa: Tuy là di bút của cha, nhưng thú thật thiếp không hiểu ý nghĩa ra sao! Tháo quay lại hỏi các mưu sĩ, mọi người đều chịu không biết. Bấy giờ có quan chủ bạ Dương Tu lên tiếng: Tôi hiểu ra rồi.
Tu giải: Tám chữ đó là ẩn ngữ của Thái Ung. Hoàng quyến là lụa màu vàng, tức là màu sắc của tơ (ty sắc), chữ ty với chữ sắc hợp lại thành chữ Tuyệt. Ấu phụ nghĩa là con gái còn nhỏ, tức là “thiếu nữ”, chữ thiếu đứng bên chữ nữ hợp thành chữ Diệu. Ngoại tôn là cháu ngoại, tức là đứa con của con gái mình (nữ nhi tử), chữ nữ chắp với chữ tử thành chữ Hảo. Tê cữu là cái cối giã tiêu gừng tỏi ớt, cối là vật chịu cay (thụ tân), chữ thụ đặt bên chữ tân thành chữ Từ. Tóm lại, đó là ẩn chữ “Tuyệt diệu hảo từ”, tức Thái Ung đã hết lời khen tặng văn chương của Hàn Đan Thuần vậy.
Tăng hỏi: Ấy là chương củ gì? Ngài đáp: Lời hay tuyệt diệu. Đó là chỉ thẳng pháp rồi, lời này hay tuyệt diệu, không còn gì khác hay hơn nữa.
Tăng hỏi: – Thế nào là Tăng?
Sư đáp: – Trên thuyền câu, Tạ tam lang.
Tăng thưa: – Sao không nói thẳng?
Sư đáp: – Hòa thượng Huyền Sa.
Tăng thưa: Tam bảo đã nhờ Thầy chỉ dạy, hướng thượng tông thừa việc thế nào?
Sư đáp: – Vương Kiều giả tiên được tiên.
Tăng cười to ha hả! Sư bèn gõ răng.
Tăng hỏi: Thế nào là Tăng? Ngài đáp: Trên thuyền câu, Tạ tam lang. Tạ tam lang là anh chàng thứ ba họ Tạ. Hỏi Tăng mà ngài trả lời anh chàng họ Tạ ngồi trên thuyền câu. Vị tăng không chịu, thưa: Sao không nói thẳng? Nói quanh co không hiểu. Ngài đáp: Hòa thượng Huyền Sa. Hòa thượng Huyền Sa trước khi đi tu là thợ câu, đến gần ba mươi tuổi bỏ câu đi tu. Một ông thợ câu cũng làm tăng, chứ không chỉ riêng hạng người nào mới được làm tăng. Bất cứ ai, một khi phát tâm tu thì đều là tăng. Nói như vậy là ngài đã chỉ thẳng hay nói quanh co? Chỉ thẳng rồi!
Sư con nhà họ Lâm tại bản quận, còn nhỏ đã thi đỗ Tiến sĩ nên nổi tiếng. Năm hai mươi lăm tuổi Sư nhân đọc kinh Di Giáo, chợt nói: “Bao lâu nay đội mũ nhà Nho là lầm.” Sư toan bỏ nhà, mẹ Sư ngăn không cho, lấy cớ gần tới ngày làm lễ thành hôn. Sư bèn cự tuyệt nói:
– Đào tươi hạnh đỏ đồng thời giao gửi gió xuân, trúc biếc hoa vàng đây hằng làm bạn đạo.
Sư theo thiền sư Lạc ở Bảo Thọ làm Tỳ-kheo.
Chúng ta mới đọc qua phần đầu đã thấy nể phục. Chỉ cần đọc một bài kinh Di Giáo mà ngài đã phát tâm đi tu. Đậu tiến sĩ sắp ra làm quan, danh vọng đến nơi nhưng bỏ hết. Mẹ ngăn cản không cho đi, bắt phải cưới vợ. Ngài dùng lời nói vừa văn chương vừa rất rõ ràng để cự tuyệt: Đào tươi hạnh đỏ đồng thời giao gửi gió xuân, trúc biếc hoa vàng đây hằng làm bạn đạo. Những người đẹp đó xin gửi cho đời, nay chỉ muốn được làm bạn với trúc xanh hoa cúc mà thôi, tức là chuyện đời gác lại không còn đa mang nữa.
Qua hai hình ảnh trên, chúng ta thấy được tâm hồn của ngài thật thanh cao và rất cứng cỏi. Đối danh lợi tâm chẳng màng, với sắc dục cũng không nhiễm. Sức mạnh của người giác ngộ phát tâm đi tu là như vậy.
Sau Sư du phương nơi Hồ Tương khắp tham các bậc danh túc, pháp không có vị khác. Sư về quê cất am ở Dữu Phong tột trên đảnh, không xuống núi ba năm. Thiền sư Tài Phật Tâm mời Sư ra làm Thủ chúng ở chùa Đại Thừa. Khi ấy Đại Huệ cất am ở Dương Tự. Bạn Sư là Di Quang gửi thư cho Sư nói: “Thủ đoạn của Am chủ cùng chư phương có khác, mời đến thời gian ngắn xem sao?” Sư chẳng đáp. Di Quang lập kế mời Sư đến thọ trai. Sư đến phó trai, gặp Đại Huệ vì các đồ chúng vào thất, Sư cũng tùy hỷ theo. Đại Huệ nhắc:
– Tăng hỏi Mã Tổ “Thế nào là Phật?” Mã Tổ đáp “Tức tâm là Phật”, là thế nào?
Sư liền hạ ngữ. Đại Huệ mắng:
– Kiến giải ông như thế, dám dối làm thầy người! Rồi đánh trống phổ thuyết, đem những chỗ bình sinh trân trọng đắc lực của Sư chê bai là tà giải. Sư lệ tràn đôi má chẳng dám nhìn ai.
Sư lặng thinh nghĩ: Chỗ sở đắc của ta đã bị chê bai, yếu chỉ Tây sang chẳng truyền há dừng đây ư?
Sư bèn hạ tâm vào hàng đệ tử.
Một hôm Đại Huệ hỏi: – Trong chẳng phóng ra, ngoài chẳng phóng vào, chính khi ấy làm sao?
Sư toan mở miệng, bị Đại Huệ cầm trúc bề nhằm xương sống đập luôn ba cái. Sư khi đó đại ngộ, gằn giọng thưa: – Hòa thượng, đã nhiều rồi!
Đại Huệ đánh thêm một cây nữa, Sư đảnh lễ. Đại Huệ cười nói:
– Ngày nay mới biết tôi chẳng dối ông. Bèn ấn chứng bằng kệ:
Đảnh môn thụ á Ma-hê nhãn,
Trửu hậu tà huyền đoạt mạng phù.
Hại khước nhãn, tá khước phù,
Triệu Châu đông bích quải hồ lô.
Dịch:
Đảnh môn đứng kề Ma-hê nhãn,
Khuỷu tay đeo nghiêng đoạt mạng phù.
Mù mất mắt, cởi mất phù,
Triệu Châu vách đông máng hồ lộ.
Khi ấy danh Sư vang dội cả tùng lâm.
Trên đây là giai đoạn đầu khi mới xuất gia tham học được ngộ, phần sau là đến lúc ngài hoằng hóa.
Sư thượng đường:
– Ý trong câu câu trong ý, Tu-di cao vót nơi sông to; câu cắt ý ý cắt câu, liệt sĩ bắn ra mũi tên cuồng. Mặc tình răng như cây kiếm bén miệng tự chậu máu, luống trình lời nhọn rỗng bày ý khí. Vì thế Tịnh Danh ngậm miệng sớm dính nhiều lời, đức Phật đóng cửa ở Ma-kiệt đã bày gia xú. Ngoài ra lão già Ngõa Quan, đại sư Nham Đầu, nhằm trên đánh Dữu Phong xua gió vỗ sóng quen đùa thần biến, dưới gót chân nên cho ba chục gậy. Hãy nói lỗi tại chỗ nào?
Sư im lặng giây lâu nói:
Cơ quan chẳng phải Hàn Quang tạo,
Chớ đem hông ngực đối thảnh thơi.
Tịnh Danh ở trong thất ngậm miệng, tức là khi được hỏi về pháp môn bất nhị, Duy-ma-cật im lặng không nói lời nào. Đức Phật đóng cửa nơi thành Ma-kiệt, cho đến lão già Ngõa Quan, đại sư Nham Đầu v.v… tất cả những hình ảnh hay lối nói của Phật tổ, đều nhằm trên đảnh Dữu Phong xua gió vỗ sóng, quen đùa thần biến, dưới gót chân nên cho ba chục gậy. Như thế cũng đáng cho ăn gậy, nói xem lỗi tại chỗ nào? Đoạn này ngài nhắc lại những câu chuyện để chỉ cho thấy cơ dụng của Phật tổ cốt nhằm giúp cho chúng ta nhận ra lẽ thật, đừng kẹt nơi phương tiện đó mà không tiến được.
Sư thượng đường:
Lại Ông lại trung lại,
Tối lại lại thuyết thiền,
Diệc bất trọng tự kỷ,
Diệc bất trọng tiên hiền,
Hựu thuỳ quản nhĩ địa,
Hựu thuỳ quản nhĩ thiên.
Vật ngoại tiêu nhiên vô cá sự,
Nhật thướng tam can do cánh miên.
Dịch:
Lại Ông lười trong lười,
Rất lười lười nói thiền,
Cũng chẳng trọng tự kỷ,
Cũng không trọng tiên hiền,
Lại nào quản đất nọ,
Lại nào quản trời này.
Ngoại vật thảnh thơi không một việc,
Trời lên ba sào vẫn ngủ say.
Lại Ông là ông lười, ngài tự xưng ông lười, nên chỗ ở đề tên là Lại Am, tức cái am lười biếng.
Lại Ông lười trong lười, không phải lười thường mà rất lười. Muốn được lười như ngài thì, ngoại vật thảnh thơi không một việc, trời lên ba sào vẫn ngủ say. Chừng nào thấy được thân này là ngoại vật, không còn một việc ở trong lòng thì mặt trời lên ba sào vẫn ngủ ngon. Bởi chúng ta thấy thân ở trong vật, tâm còn đủ thứ việc, nên ba giờ khuya phải thức dậy. Vì còn việc nên phải làm, hết việc mới ngủ ngon được.
Sư thượng đường nêu:
– Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là lời cổ nhân? Triệu Châu đáp: Lắng nghe, lắng nghe!
Sư bảo: – Lắng nghe thì chẳng không, tối kỵ gọi chuông là hũ.
Đừng nhầm lẫn cái này thành cái khác.
Sư ở trong thất hỏi vị tăng:
– Muôn pháp về một, một về chỗ nào?
Tăng đáp: – Trong nước Tân La.
Sư nói: – Ta ở Thanh Châu dệt một vóc vải bố nặng bảy cân!
Tăng thưa: – Ngày nay thân thấy Triệu Châu.
Sư hỏi: – Thấy chỗ trước hay thấy chỗ sau? Tăng làm thế chẻ trán.
Sư hỏi: – Thượng tọa người xứ nào?
Tăng thưa: – Giang Tây.
Sư hỏi: – Tại sao lại đến đây nhận thua cuộc? Tăng suy nghĩ. Sư liền đánh.
Vị tăng lúc đầu mới đối đáp thấy dường như hay, nhưng đến khi ngài hỏi: Thượng tọa người xứ nào? Liền đáp: Giang Tây. Ngài hỏi: Tại sao lại đến đây nhận thua cuộc? Ở Giang Tây sao lại chạy đến đây chịu thua cuộc làm gì. Vị tăng nghe vậy bèn suy nghĩ không biết thua là thua chỗ nào, liền bị ngài cho ăn đòn. Bởi chưa thật sự nhận được, nên nói năng một lúc là bị các ngài gạt, suy nghĩ không biết ứng phó thế nào, tức là đã thua cuộc rồi!
Sư người bản châu. Sau khi đại ngộ nơi Đại Huệ, Sư trụ trì thượng đường:
– Bàn huyền nói diệu ném phân ném nước tiểu, dùng đánh dùng hét đem muối dừng khát, lập chủ lập khách xé nát tông thừa. Mặc dù thảy chẳng thế ấy, lại là ngồi trong hang quỷ, đến đây sơn tăng đã là đánh trống lui. Hãy nói, các ngươi bình thường tâm bực bội, miệng ấm ức nên làm sao? Chớ đem học hiểu suông chôn vùi tâm Tổ sư.
Ngài nói, dù cho bàn huyền nói điệu cho tới lập chủ lập khách, dùng đánh dùng hét… cũng là phương tiện tạm bợ, chứ không phải chân thật. Vậy cái chân thật đó là gì? Đừng đem học hiểu suông chôn vùi tâm
Tổ sư.
Sư thượng đường:
– Nếu chỉ riêng sáng tự kỷ chẳng ngộ trước mắt, người này có mắt không chân. Nếu chỉ riêng ngộ trước mắt chẳng sáng tự kỷ, người này có chân không mắt. Hẳn phải mắt chân giúp nhau, như xe hai bánh như chim hai cánh, đúng lúc khám qua rồi.
Đoạn này chúng ta đã có học qua trong kinh Lăng-nghiêm, khi tu phá được sắc ấm thì thấy ở trước sáng, tức là ở ngoài sáng mà ở trong tối, đến phá thọ ấm thì ở trong mới sáng. Như vậy, tùy theo từng giai đoạn mà ngoài sáng trong tối hoặc trong sáng ngoài tối. Tu cho đến chừng nào trong ngoài đều sáng rỡ, giống như đèn lưu ly là phá được thức ấm, chừng đó mới đến nơi đến chốn.
Sư thượng đường:
Cửu hạ viêm viêm đại nhiệt,
Mộc nhân hãn lưu bất chuyết.
Dạ lại nhất vũ tiện lương,
Mạc đạo sơn tăng bất thuyết.
Dịch:
Ngày hạ chói chang hừng hực nóng,
Người gỗ mồ hôi chảy chẳng thôi.
Đêm qua một trận mưa liền mát,
Chớ bảo sơn tăng chẳng thốt lời.
Sư cầm phất tử gõ giường thiền, xuống tòa. Ngài gõ phất tử là đã nói hay chưa?
Sư thượng đường:
– Đạo là đạo thường, tâm là tâm thường. Mọi người các ông nghe sơn tăng nói thế ấy, liền nói tôi hội rồi. Tháng đủ là ba mươi ngày, tháng thiếu hai mươi chín ngày. Trên đầu là trời dưới chân là đất, trong lỗ tai nghe tiếng, trong lỗ mũi thở hơi. Bất chợt nước bốn biển cả ở trên đầu các ông, rắn độc mổ con mắt ông, cá tôm chun vào lỗ mũi ông, lại làm sao?
Đạo là đạo thường, tâm là tâm thường. Mọi người các ông nghe sơn tăng nói thế ấy, liền nói tôi hội rồi. Nghe các ngài nói đạo là thường, tâm là thường, tưởng mình hiểu rồi. Tháng đủ là ba mươi ngày, tháng thiếu hai mươi chín ngày. Trên đầu là trời dưới chân là đất, trong lỗ tai nghe tiếng, trong lỗ mũi thở hơi… lầm nhận cho rằng tất cả cái bình thường đó là đạo hiện tiền. Hiện nay có một số người cũng vậy, nghe các thiền sư nói “bình thường tâm thị đạo”, rồi tưởng mình đang đi tới đi lui, đó là tâm bình thường, là đạo hiện tiền, rồi cho rằng mình đã hiểu. Thế nhưng, bất chợt nước bốn biển cả ở trên đầu các ông, rắn độc mổ con mắt ông, cá tôm chun vào lỗ mũi ông, lại làm sao? Khi có ai chửi mắng, hoặc gặp cảnh trái nghịch đến, tâm mình có còn bình thường không? Mất bình thường. Bấy giờ mới biết là chưa sống được với đạo. Cho nên, thấy đạo cần phải thật thấy chứ không phải chỉ nghe nói, hiểu sơ sơ là được.
Sư thượng đường:
– Người giỏi đấu chẳng đoái cái đầu, người giỏi chiến ắt được công kia. Công kia đã được, ngồi xem thái bình; thái bình đã đến, nằm ngủ chẳng lo. Chẳng cầm ba thước kiếm, thôi đùa một cây cung. Cưỡi ngựa về sườn Hoa Sơn, thả trâu ở đồng Đào Lâm. Gió phải thời mưa phải thời, ngư phủ ca lão tiều múa. Tuy nhiên như thế vua Nghiêu Thuấn vẫn còn giáo hóa, đâu bằng càn khôn thâu chẳng được, Nghiêu Thuấn chẳng biết tên, cả nhà chẳng quản việc hưng vong, chỉ thích hòa mây chiếm Động Đình.
Chẳng cầm ba thước kiếm, thôi đùa một cây cung. Câu này ngài dẫn trong Tọa Thiền Tam-muội. Kiếm là kiếm trí tuệ, cung là cung thiền định. Đến chỗ cứu cánh rồi, an ổn tự tại, khỏi dùng kiếm trí tuệ dẹp phiền não, cũng không cần mượn thiền định để định tâm.
Tóm lại đoạn này ngài nói, nếu người đạt tới chỗ chân thật rồi thì ngồi xem thái bình, tức là thấy mọi việc đến đi mà tâm luôn bình an.
Sư thượng đường:
– Ngậm lấy miệng luôn luôn nói, cắt mất lưỡi không thôi nghỉ, không thôi nghỉ rất kỳ tuyệt, rất kỳ tuyệt bụi trong mắt. Đã là kỳ tuyệt vì sao lại thành bụi trong mắt? Liễu liễu liễu thời không thể liễu, huyền huyền huyền xứ cũng nên chê.
Rất kỳ tuyệt bụi trong mắt. Tại sao? Vì khi tu hành đến chỗ thôi dứt lặng lẽ, rồi thấy đó là kỳ tuyệt cao siêu, tức là chưa phải kỳ tuyệt cao siêu. Nên nói: Liễu liễu liễu thời không thể liễu, liễu liễu mà khi liễu thì không thể liễu. Huyền huyền huyền xứ cũng nên chê, huyền huyền mà chỗ huyền đó cũng phải quở. Bởi còn thấy cao còn thấy thấp tức là chưa tới chỗ bình đẳng.
Vậy nên người tu phải gắng nhớ, đừng để mình kẹt mắc, khen cái này hay chê cái kia dở…
Sư thượng đường:
– Trên đánh đầu Phật tổ có rất nhiều đại lộ, chưa thấu cửa sanh tử làm sao dám tiến bước? Chẳng tiến bước, đại thiên không che chở, một câu bặt nói bàn, Na-tra cầm vòng sắt.
Ngày khai đường, niêm hương xong, Sư lên tòa. Hòa thượng Nam Đường bạch chùy rằng:
– Pháp hội chúng long tượng nên quán đệ nhất nghĩa.
Sư liền hét một tiếng, nói:
– Đây là nghĩa thứ mấy? Tiên đức cửu tham đã rõ manh mối, hậu học có nghi chẳng ngại thưa hỏi.
Hét một tiếng là nghĩa thứ mấy? Rơi vào nghĩa thứ hai rồi! Vậy phải làm sao? Tiền đức cửu tham đã rõ manh mối, hậu học có nghi chẳng ngại thưa hỏi. Việc này đối với các bậc tiên đức tham học lâu thì đã rõ, không phải nói dài dòng. Tuy nhiên như thế, hậu học có nghi đừng e ngại, hãy mau ra thưa hỏi.
Tăng hỏi:
– “A-nan hỏi Ca-diếp: Thế Tôn ngoài truyền y kim lan còn riêng truyền vật gì? Ca-diếp gọi: A-nan! A-nan ứng thanh: Dạ!” Chưa biết ý này thế nào?
Sư đáp: – Tối kỵ động đến.
Tăng thưa: – Chỉ như Ca-diếp nói “Cột phướn trước chùa ngã”, lại là sao?
Sư đáp: – Trâu đá ngang đường xưa.
Lối giải thích của ngài rất khéo, khi Ca-diếp gọi A-nan, A-nan dạ, chỗ đó tối kỵ động đến, đừng theo tiếng mà suy xét tìm tòi. Ngài Ca-diếp nói, cột phướn trước chùa ngã, câu này không quan trọng, nếu bám theo đây để hiểu thì như trâu đá nằm ngang đường xưa, trâu đá nằm ngang chặn đường xưa bít lấp rồi.
Tăng hỏi:
– Như Hòa thượng ở chỗ Phật Nhật lại có tin tức này hay không?
Sư đáp: – Không có tin tức này.
Tăng thưa:
– Nào giống Định Quang Kim Địa đưa tay ngoắt, Trí Giả Giang Lăng thầm gật đầu.
Sư đáp:
– Chớ đem bá ven sân, dìm so ngải vệ đường.
Tăng lễ bái. Sư bèn bảo:
– Định Quang Kim Địa đưa tay ngoắt, Trí Giả Giang Lăng thầm gật đầu, đã là mây trắng ngàn muôn dặm, đâu kham nơi ấy chẳng biết thôi. Dù cho nơi ấy biết thôi, một trường ngổn ngang chẳng ít. Lại có kiểm điểm được thấu hay chăng? Nếu không, ngày nay sơn tăng mất lợi.
Định Quang Kim Địa đưa tay ngoắt, Trí Giả Giang Lăng thầm gật đầu. Định Quang, Trí Giả là tên người. Kim Địa, Giang Lăng là tên đất, là nơi chốn. Định Quang Kim Địa là chỉ cho ngài Định Quang ở Kim Địa. Trí Giả Kim Lăng, tức ngài Trí Giả ở Kim Lăng. Vì đây là hai câu thơ nên cô đọng, khi dịch bị hạn chế.
Tăng hỏi:
– Phật Phật trao tay Tổ Tổ truyền nhau, chưa biết truyền cái gì?
Sư đáp: – Chóng lễ ba lạy.
Tăng hỏi Phật tổ truyền nhau là truyền cái gì? Ngài không đáp mà chỉ bảo chóng lễ ba lạy, mau lạy ba lạy đi.
Tăng hỏi:
– Chẳng bày tấc kiếm thỉnh Thầy thấy nhau?
Sư đáp: – Gặp mạnh thì yếu.
Tăng hỏi: – Đâu được mai binh tác chiến.
Sư đáp: – Chỉ vì Xà-lê tấc kiếm chẳng bày.
Tăng thưa: Chưa biết hướng thượng lại có việc hay không?
Sư đáp: – Có.
Tăng hỏi: – Thế nào là việc hướng thượng?
Sư đáp: – Chẳng chém bại tướng.
Tăng hỏi:
– Trước nhà cổ Phật người nào đến trước?
Sư đáp: – Ông già không mắt trong thôn.
Tăng hỏi: – Chưa biết làm sao thú hướng?
Sư đáp: – Cây gậy vác ngang.
Muốn tới chỗ thú hướng đó thì hãy vác ngang vai cây gậy mà thẳng tiến. Bởi đây thuộc hệ phái của ngài Đại Huệ, thế nên đa số các ngài dùng ngôn ngữ rất khó hiểu, lời nào nói ra cũng đều thành thoại đầu, không thể giải thích.
Sư con nhà họ Bành quê ở Lâm Giang. Đang tuổi đi học, Sư bèn theo thiền sư Kiết ở chùa Quang Hóa Đông Sơn tại bản quận xuất gia. Một hôm Sư vào thất, Kiết hỏi:
– Chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật là cái gì?
Sư mờ mịt thành nghi suốt đêm không ngủ, hôm sau đến phương trượng thưa hỏi:
– Hôm qua nhờ Hòa thượng buông lời hỏi, đã chẳng phải tâm lại chẳng phải Phật, lại chẳng phải vật, cứu cánh là cái gì? Mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy.
Kiết nghiêm sắc mặt hét một tiếng nói:
– Sa-di này lại cần ta cho chú cước.
Liền cầm gậy nhằm lưng đánh đuổi ra. Sư nơi đây có tỉnh.
Sau Sư yết kiến thiền sư Nguyệt Am Quả, thiền sư Ưng Am Hoa, thiền sư Bách Trượng Chấn, trọn chẳng tự nhận.
Đại Huệ vừa nhận Dục Vương, anh tài bốn biển đều nhóm họp, Sư cũng đến đây. Đại Huệ ở trong thất hỏi Sư:
– Kêu là thanh tre (trúc bề) thì chạm, không kêu thanh tre (trúc bề) là trái, chẳng được hạ ngữ chẳng được không lời.
Sư toan đáp. Đại Huệ liền đánh. Sư hoát nhiên đại ngộ, sở đắc từ trước như ngói bể băng tiêu.
Trước ở chỗ thiền sư Kiết ngài đã có tỉnh, nhưng tới pháp hội của thiền sư Đại Huệ chỗ ngộ của ngài mới cứu cánh.
Ban đầu Sư trụ chùa Quang Hiếu ở Thai Châu. Có vị tăng hỏi:
– Thênh thang trong trần làm sao biện chủ?
Sư đáp: – Khăn quấn trên đầu chót tháp nhọn.
Sư thượng đường:
Lâm Tế ba phen ăn gậy đau, ngay lời nói của Đại Ngu liền biết trở về. Hưng Hóa nơi đầu gậy Đại Giác rõ được ý chỉ Hoàng Bá. Nếu cho rằng đánh mà hội thì vào địa ngục nhanh như tên bắn. Nếu chẳng cho rằng đánh mà hội thì vào địa ngục nhanh như tên bắn. Trong chúng thương lượng thảy nói, lòng son mảnh mảnh ơn lớn khó đền. Thảy là tình thức suy tính, chưa ra khỏi ấm giới. Vả như Lâm Tế ngộ rồi, là nhờ sức Hoàng Bá hay là nhờ sức Đại Ngu? Nếu thấy được, nhận ông đánh môn có chánh nhãn, sau khuỷu tay có linh phù. Nếu chưa được vậy, Hồng Phước lại vì các ông thông tin tức.
Trượng phu khí vũ xông ngưu đẩu,
Một đạp Hồng Môn hai cửa toang.
Thượng đường, ngài nhắc lại nhân duyên Lâm Tế ba phen ăn gậy đau, ngay lời nói của Đại Ngu liền biết trở về. Lâm Tế bị Hoàng Bá đánh ba gậy, bèn từ giã đến chỗ Đại Ngu, ngay một câu nói của Đại Ngu liền ngộ. Lâm Tế ngộ là nhờ sức của Hoàng Bá hay nhờ sức của Đại Ngu? Còn trường hợp Hưng Hóa nơi đầu gậy Đại Giác rõ được ý chỉ Hoàng Bá thì thế nào? Như vậy các vị này ngộ là nhờ cái gì? Nghĩ rằng nhờ đánh mà ngộ thì vào địa ngục nhanh như tên bắn, nghĩ chẳng nhờ đánh mà ngộ cũng vào địa ngục nhanh như tên bắn. Phải nghĩ sao cho đúng, chỗ này chúng ta cần thấy cho thật kỹ.
Nếu không nhờ gậy đánh cho tâm lăng xăng tìm cầu đó chết đi, thì dù cho Lâm Tế có đến Đại Ngu, Hưng Hóa tới chỗ Đại Giác cũng khó mà ngộ được. Thế nên lúc Lâm Tế ngộ lạy ba lạy, Đại Ngu liền nói: Thầy của ngươi là Hoàng Bá, không can hệ gì đến việc của ta. Câu nói này thật là chí lý.
Sư thượng đường:
– Bảy tay tám chân ba đầu hai mắt, tai lắng chẳng nghe, mắt nhìn chẳng thấy, khổ vui thuận nghịch nhồi thành một khối. Hãy nói là cái gì?
Trên đường rắn chết thôi chớ giết,
Giỏ tre không đáy đựng mang về.
Người tu đối với tất cả cảnh phải nhồi thành một khối, chúng ta nhồi được chưa? Người thật tu khi gặp cảnh khổ vui, thuận nghịch… đều thấy như nhau, không vì vui mà thích, không vì khổ mà buồn, không vì thuận mà ưa, không vì nghịch mà bực. Tu như vậy mới đến được đạo.
Ngài dạy tu khéo léo vô cùng, nói đông nói tây rồi hé ra một chút để chỉ cho thấy. Trên đường rắn chết thôi chớ giết, giỏ tre không đáy đựng mang về. Rắn đã chết rồi còn giết làm chi nữa, giỏ tre không đáy thì đựng được gì mà mang đi!
Sư thượng đường:
– Nghe tiếng ngộ đạo rơi vào nghĩa thứ hai thứ ba, thấy sắc sáng tâm lầm bảy lầm tám, sanh cơ một lối vẫn ở giữa đường. Hãy nói, thoát vòng kim cang, nuốt lùm cỏ gai là người nào?
Áo tơi khoác đứng ngoài Thiên Phong,
Dẫn nước tưới rau trước Ngũ Lão.
Nghe tiếng ngộ đạo rơi vào nghĩa thứ hai thứ ba, thấy sắc sáng tâm lầm bảy lầm tám. Ở đây ý ngài muốn nói gì? Nếu cho rằng nghe tiếng ngộ đạo, thấy sắc sáng tâm, cái đó cũng chưa cứu cánh. Vì sao? Bởi sanh cơ một lối vẫn ở giữa đường. Sanh cơ là chỉ cho cơ linh động nhất, còn có một lối tức vẫn còn ở giữa đường, chưa phải đến nơi.
Hãy nói, thoát vòng kim cang, nuốt lùm cỏ gai là người nào? Thoát ra khỏi vòng kim cang, nuốt được lùm cỏ gai là ai? Áo tơi khoác đứng ngoài Thiên Phong, dẫn nước tưới rau trước Ngũ Lão. Người mặc chiếc áo tơi đứng ngoài núi Thiên Phong, dẫn nước tưới rau ở trước ngọn Ngũ Lão, mới thật sự là người tự tại.
Những ngày Sư trụ Linh Ẩn, hoàng đế Hiếu Tông thường vời vào cung hỏi đạo, lưu ở lại trong Nội Quán đường, cơ duyên đối đáp còn ghi đủ trong ngữ lục. Sau Sư tịch, tháp toàn thân tại Đông Am ở Mậu Phong.
Sư con nhà họ Giang quê ở Kỳ Châu. Sư sanh ra có vẻ kỳ đặc, năm mười bảy tuổi xuất gia tại chùa Đông Thiền. Ban đầu nương thiền sư Thanh Toại ở Thủy Nam nếm được chút ít pháp vị. Sư dạo khắp các nơi cùng chư lão túc kích dương đều được khế hợp. Sư đến Vân Cư đảnh lễ thiền sư Viên Ngộ. Viên Ngộ một phen thấy hết lòng thúc tiến. Viên Ngộ về Thục chỉ Sư yết kiến Chương Giáo (Thiệu Long). Chương Giáo dời về Hổ Khưu, Sư theo hầu, chưa được nửa năm liền chóng rõ đại sự.
Sư đến yết kiến Thử Am được phân tòa giáo hóa ở Liên Vân. Sư khai pháp ở Diệu Nghiêm. Sau Sư dời đến các ngôi già-lam nổi tiếng.
Ngày Sư trụ ở Quy Tông, Đại Huệ đang ở Mai Dương, có vị tăng đem lời dạy chúng của Sư đến Đại Huệ. Đại Huệ xem qua hết lời khen ngợi, sau lại dùng kệ gửi Sư:
Tọa đoạn kim luân đệ nhất phong,
Thiên yêu bách quái tận tiềm tung,
Niên lai hựu đắc chân tiêu tức,
Báo đạo Dương Kỳ chánh mạch thông.
Dịch:
Ngồi đoạn kim luân đệ nhất phong,
Ngàn yêu trăm quái thảy tiềm tung,
Năm về lại được chân tiêu tức (tin tức),
Thưa bảo Dương Kỳ chánh mạch thông.
Sư thượng đường:
– Chín năm xây mặt vào vách hoại hết cháu con ở Đông độ. Chiếc giày về Tây cùn lụt ông già mặt vàng.
Sư cầm gậy vẽ một vạch nói: – Trâu đá ngang đường xưa, một ngựa sanh ba cọp.
Sư thượng đường:
– Lão Đức Chương mù trọc, từ nay không mùi vị, nắm được miệng mất đi mũi, canh ba hai tiếng xướng nhịp ca, vô cớ giật mình Phạm Vương ngủ.
Sư hét một hét nói:
– Tôi đi trong cỏ hoang, ông lại vào thôn sâu.
Sư thượng đường:
– Lâm Tế khi ở chỗ Hoàng Bá, ý chỉ ba phen ăn gậy, mọi người các ông lại xem được thấu hay chưa? Dù cho một phen cắn liền đứt, cũng chưa là kẻ đại trượng phu. Chư Phật ba đời miệng treo trên vách, các Hòa thượng già trong thiên hạ lấy cái gì ăn cơm?
Chỗ ngài Lâm Tế ngộ nơi Hoàng Bá, nếu chúng ta cố khởi hiểu thì chẳng thể được. Cho nên nói dù cho một phen cắn liền đứt, cũng chưa là kẻ đại trượng phu. Tại sao? Vì chư Phật ba đời miệng treo trên vách, các Hòa thượng già trong thiên hạ lấy cái gì ăn cơm? Chỗ đó miệng Phật còn bàn chẳng được, huống là các Hòa thượng.
Sư thượng đường:
– Ngày mười lăm về trước sông dài thuyền cao, ngày mười lăm về sau đất nhiều Phật lớn. Chính ngay ngày mười lăm, cá lý ngư ở biển Đông đánh một gậy mưa như cầm chĩnh mà đổ, hẳn được tất cả chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới thảy đều hoan hỷ nói rằng: “Đánh một gậy này, quả là hợp thời hợp tiết.” Báo Ân (Sư) khắp thân nhảy nhót, bèn làm một bài thi thuật tương tự cho đại chúng nghe:
Tinh đình hứa thị hảo tinh đình,
Phi lai phi khứ bất tằng đình,
Bị ngã tróc lại trích khước lưỡng biên đực,
Kháp tợ nhất mai đại thiết định.
Dịch:
Chuồn chuồn thật là đẹp chuồn chuồn,
Bay đến bay đi chẳng từng ngừng,
Bị ta bắt được ngắt hai cánh,
Giống hệt cây đinh sắt to đùng.
Sư thượng đường:
– Nếu khởi một câu thương lượng, ăn cháo ai mà chẳng hiểu. Chẳng khởi một câu thương lượng, côn trùng trong hầm phẩn cười chết Xà-lê.
Sư cầm cây gậy lên nói: – Cây gậy tội phạm đầy trời, đày đến hai ngọn núi Thiết Vi. Hãy nói Tiến Phước (Sư) lại có lỗi hay không?
Sư giọng cây gậy nói: – Chậm hết một khắc.
Sư thượng đường:
– Sáng chẳng thấy tối tối chẳng thấy sáng, sáng tối hai quên không khác ông thầy tầm thường. Dã can kêu sư tử rống, sư tử rống dã can kêu. Con khỉ khắm trong thôn vắng giá tăng thập bội, hạt châu Minh Nguyệt dưới hàm Ly Long chẳng đáng một xu. Nếu làm lỗ mũi thiền tăng, chỗ nào được đây. Sau ba mươi năm múa tay vạch ngực chưa là khổ sở.
Giá con khỉ thì mắc mà giá hạt châu thì rẻ. Nghe có lạ không? Những đoạn này chúng ta chỉ đọc qua thôi, khỏi phải giải thích, vì đây là lối nói không cho suy nghĩ.
Sư thượng đường:
– Thợ khéo chưa ra, ngọc đá chẳng phân; không người khéo lọc, vàng cát lẫn lộn. Dù cho không thầy tự ngộ, nhằm dưới cửa Thiên Đồng (Sư) chính nên sáng đánh ba ngàn chiều đánh tám trăm.
Sư cầm cây gậy lên nói:
– Gọi là cây gậy, ngọc đá chẳng phân; chẳng gọi là cây gậy, vàng cát lẫn lộn. Khoảng kia một cái nửa cái khéo rành manh mối, mới đáng bước thẳng trên không. Nếu chưa như thế – Sư lia cây gậy nói – để mắt xem gấp.
Chỉ một cây gậy mà ngài nói: Gọi là cây gậy, ngọc đá chẳng phân; chẳng gọi là cây gậy, vàng cát lẫn lộn. Vậy gọi là cái gì?
Tăng hỏi:
– Bà già hỏi Nham Đầu: Khua chèo múa dầm thì chẳng hỏi, hãy nói đứa bé trong tay bà từ chỗ nào được? Nham Đầu gõ mạn thuyền ba cái, ý chỉ thế nào?
Sư đáp: – Đun gạch đập đến liền thành khối.
Tăng hỏi: – Khi này nếu hỏi Hòa thượng thì đáp kia thế nào?
Sư đáp: – Một gậy đập chết.
Tăng thưa: – Lão Hòa thượng này giống hệt xem đầu mua mũ.
Sư bảo: – Ông nhằm chỗ nào thấy Nham Đầu?
Tăng nói: – Chà!
Sư bảo: – Thiền tăng tầm thường.
Tăng hỏi:
– Bà sanh bảy con, sáu đứa chẳng gặp tri âm, chỉ một đứa này cũng chẳng tiêu được, bà ném xuống dòng sông, lại là sao?
Sư bảo: – Ít khoe khoang.
Tăng hỏi:
– Khi ấy Nham Đầu bất giác le lưỡi ý thế nào? Sư đáp: – Vui ắt đồng vui.
Tăng hỏi:
– “Có vị tăng hỏi Vân Môn: Thế nào là pháp thân thanh tịnh? Vân Môn đáp: Bờ giậu hoa thược dược.” Ý này thế nào?
Sư đáp: – Thần Thâm Sa trừng mắt.
Tăng hỏi:
– Chỉ đây là chôn vùi tự kỷ, chỉ đây chẳng phải cô phụ tiên thánh. Dẹp hai đường này, chỗ hòa bùn hợp nước thỉnh Hòa thượng nói?
Sư đáp: – Đũa ngọc chống miệng cọp.
Tăng hỏi:
– Một lời vàng đá bàn là nặng, muôn việc lông hồng nói nhẹ nhàng.
Sư bảo: – Chớ lừa lão tăng tốt.
Tăng hỏi: – Người đều sợ nóng bức, ta thích ngày hạ dài, gió nồm từ nam lại, mát mẻ các điện đài. Khi ấy thế nào?
Sư đáp: – Buông gươm cởi giáp.
Một lời vàng đá, bàn là nặng; muôn việc lông hồng, nói nhẹ nhàng. Câu này ngài dẫn trong sách xưa. Chúng ta nói vàng nói đá nghe như nặng, còn nói lông hồng thì thấy nhẹ. Sự thật, dù nói vàng đá hay lông hồng cũng chỉ là lời nói, nghe dường có nặng nhẹ chẳng qua chỉ là cảm giác mà thôi.
Ngày kỵ Hổ Khưu, Sư niêm hương:
– Cả đời rủi ro gặp phải Lão vô ý trí này, lão Hòa thượng đem hết tài năng nghĩ suy chẳng được. Từ đây cởi hết binh khí, tùy phần mặc áo ăn cơm. Hai mươi năm rồi ngồi trên giường gỗ, treo đầu dê bán thịt chó, biết kia có bằng cứ gì. Tuy nhiên, mỗi năm một lượt đốt hương nến, thiên cổ khiến người hận thêm sâu.
Ngài là đệ tử của thiền sư Hổ Khưu, đến ngày cúng giỗ thầy, ngài thắp hương tưởng niệm: Cả đời rủi ro gặp phải Lão vô ý trí này. Lão Hòa thượng, tức ngài Hổ Khưu, đem hết tài năng nghĩ suy chẳng được. Từ đây cởi hết binh khí, tùy phần mặc áo ăn cơm. Ngang đây sự tu hành đã xong, chỉ tùy thời mặc áo ăn cơm. Hai mươi năm rồi ngồi trên giường gỗ, treo đầu dê bán thịt chó. Thiền sư Hổ Khưu sau khi ngộ, suốt hai mươi năm lừa bịp thiên hạ phải không?
Nghe qua lời niêm hương, chúng ta thấy ngài không nói thầy có công giáo hóa thế này thế kia, mà lại nói thầy tôi hai mươi năm trên giường gỗ, chỉ treo đầu dê bán thịt chó. Tại sao? Bởi vì sự việc đó không thể nói đến được, chỉ là nói bên đông thì phải hiểu bên tây. Chỗ không thể nói đến mà gắng chỉ đông vẽ tây cho người hiểu, cũng chẳng khác nào treo đầu dê bán thịt chó. Nghe rất lạ lùng, nhưng đây chính là lời khen ngợi tán thán thầy mình.
Biết kia có bằng cứ gì, tức là biết thầy mình đã được giác ngộ tột rồi, nhưng vì thương người sau nên phải mượn lời để chỉ. Vì vậy ở hai câu cuối, ngài bày tỏ lòng thương kính. Tuy nhiên, mỗi năm một lượt đốt hương nến, thiên cổ khiến người hận thêm sâu. Mỗi năm tới ngày giỗ thầy, lòng con càng thêm buồn.
Sư ở trong thất khéo rèn luyện người, thời nhân gọi Đại Huệ với chỗ Sư ở là hai cửa cam lồ. Sư thường răn đồ chúng:
– Hàng tăng sĩ mang giày cỏ trụ viện, cớ sao như con rắn mến hang vậy.
Ngày xưa người học đạo phải đi tham vấn nơi này nơi kia, nếu chưa ngộ mà cứ ở hoài một chỗ an phận, chẳng đi tham vấn cầu ngộ, thì chẳng khác nào con rắn mến hang, chỉ lẩn quẩn không tới đâu.
Niên hiệu Long Hưng cải nguyên (1163) ngày mười ba tháng sáu, Sư an nhiên thị tịch. Tháp toàn thân của Sư tôn trí tại bản sơn.
Sư xuất gia thuở bé, lớn lên dạo qua các pháp tịch. Sau Sư đến yết kiến Viên Ngộ ở Tương Sơn. Khi ấy Phật Tánh làm Thủ tọa. Sư thưa hỏi Phật Tánh liền nhận được yếu chỉ.
Đến khi Phật Tánh trụ Đức Sơn, sai Sư đến Chung Phụ dâng thư kế thừa. Viên Ngộ hỏi:
– Ngàn dặm mang lại chẳng nhục tông phong, công án hiện thành thế nào thông tin?
Sư thưa: – Thấy mặt trình nhau lại không hồi hỗ.
Viên Ngộ hỏi:
– Đây là Đức Sơn, cái gì là Thượng tọa?
Sư thưa: – Há có người thứ hai.
Viên Ngộ nói: – Sau lưng rồi!
Sư trao thư. Viên Ngộ cười nói:
– Tác gia thiền khách thiên nhiên có sẵn.
Sư thưa: – Trao cho Tưởng Sơn.
Ban đầu ngài đến pháp hội của thiền sư Viên Ngộ, lúc ấy Phật Tánh đang làm Thủ tọa tại đây. Qua thưa hỏi với Phật Tánh, ngài nhận được yếu chỉ của Viên Ngộ, thế nên khi Phật Tánh trụ Đức Sơn, ngài được lãnh trách nhiệm mang thư đi trình. Ngày xưa nếu một vị đệ tử trụ trì ở đâu thì biên thư về báo tin xin kế thừa thầy, vị mang thư đi cũng phải là người kỳ đặc mới được.
Đến nơi trình thư lên, Viên Ngộ liền hỏi: Ngàn dặm mang lại chẳng nhục tông phong, công án hiện thành thế nào thông tin? Hiện thành công án, tức là thấy nhau là hiện thành công án, cái đó làm sao thông tin tức? Ngài thưa: Thấy mặt trình nhau lại không hồi hỗ. Thấy mặt trình nhau, không còn xoay qua xoay lại nữa, đó là công án hiện thành rồi.
Viên Ngộ nói: Đây là Đức Sơn, cái gì là Thượng tọa? Việc thấy mặt trình nhau thật ra là của Đức Sơn, còn cái nào là của ông? Ngài thưa: Há có người thứ hai. Chỗ thầy tôi là vậy, tôi cũng không khác. Viên Ngộ nói: Sau lưng rồi! Nghe nói sau lưng, ngài liền trao thư. Viên Ngộ cười nói: Tác gia thiền khách thiên nhiên có sẵn. Ngài thưa: Trao cho Tưởng Sơn, tức là trao cho ngài Viên Ngộ.
Kế đó, Sư đến Tăng đường dâng thư thăm hỏi Thủ tọa. Thủ tọa hỏi:
– Giấy trắng Huyền Sa đây từ đâu lại?
Sư thưa:
– Yếu chỉ này giữ lâu chẳng vội nói ra, ngày nay bái trình mong một phen xem.
Thủ tọa liền hét. Sư thưa:
– Tác gia Thủ tọa.
Thủ tọa lại hét. Sư lấy thư liền đánh. Thủ tọa suy nghĩ. Sư thưa:
– Chưa rõ ba tám chín, chẳng khỏi tự trầm ngâm.
Đây là câu chê. Thủ tọa suy nghĩ là thua rồi, vì còn suy nghĩ tức là chẳng hiểu.
Sư lấy thư lại đánh một cái nói:
– Khi tiếp Viên Ngộ cùng Phật Nhãn thấy.
Viên Ngộ bảo: – Đánh Thủ tọa ta chết rồi.
Phật Nhãn bảo:
– Ngựa quan đá nhau có bằng cứ gì?
Sư thưa:
– Nói gì ngựa quan đá nhau, chính là long tượng dày xéo.
Viên Ngộ chấp nhận, còn ngài Phật Nhãn thì hạ xuống và chê, chỉ là ngựa quan đá nhau có bằng cứ gì? Ngài thưa: Nói gì ngựa quan đá nhau, chính là long tượng dày xéo. Bị chê thì phải tự nâng mình lên, đây chính là long tượng chứ không phải hạng tầm thường.
Viên Ngộ gọi Sư đến nói:
– Thủ tọa năm trăm chúng của ta ông vì sao đánh y?
Sư thưa:
– Hòa thượng cũng phải ăn một thoi mới được.
Viên Ngộ nhìn Phật Nhãn le lưỡi.
Hòa thượng là thầy mà lựa vị Thủ tọa không xứng đáng như vậy, nên cũng phải ăn một thoi mới được. Thấy đứa cháu này dữ quá, thầy mà còn dám bảo phải ăn một thoi, nên Viên Ngộ nhìn Phật Nhãn le lưỡi.
Phật Nhãn nói: – Chưa phải.
Lại nhìn Sư, nói:
– “Tay không cầm cây cuốc, bộ hành cưỡi trâu đi, người từ trên cầu qua, cầu trôi nước chẳng trôi”, ý thế nào?
Sư cúi mình thưa: – Chỗ cúng đều là đến thật.
Phật Nhãn cười nói:
– Xưa nay là người trong thất.
Tay không cầm cây cuốc, bộ hành cưỡi trâu đi, người từ trên cầu qua, cầu trôi nước chẳng trôi. Đây là bài kệ nói về pháp thân của Phó đại sĩ.
Phật Nhãn dẫn lời bài kệ, rồi hỏi: Ý thế nào? Ngài thưa: Chỗ cúng đều là đến thật. Chỗ cúng thấy như huyền bí nhưng là việc thật. Bài kệ này cũng vậy, dường như nói ngược mà chính là chỉ cho cái chân thật. Phật Nhãn cười nói: Xưa nay là người trong thất, như vậy chấp nhận cho ông là người trong thất của ta.
Sư lại đến yết kiến hòa thượng Tự ở Ngũ Tổ để trao thư thân quyến trong đạo pháp.
Tự hỏi: – Trong thư nói cái gì?
Sư thưa: – Văn thể đã bày.
Tự hỏi: – Cứu cánh nói cái gì?
Sư thưa: – Đương Dương vung kiếm báu.
Tự hỏi: – Lại gần đây, trong này chẳng biết bao nhiêu chữ
Sư thưa: – Chớ giả thua.
Hỏi trong thư nói gì, lẽ ra theo lẽ thường thì phải trả lời, thư thăm hỏi sức khỏe Hòa thượng. Ngài không đáp như thế, mà nói văn thể đã bày, tức là hiện ra trước rồi. Hòa thượng Tự vẫn chưa thôi, tiếp tục gạn thử xem ngài là người thế nào, nên hỏi: Trong này bao nhiêu chữ? Ngài thưa: Chớ giả thua. Hòa thượng thua rồi, nên làm bộ hỏi vậy thôi.
Tự nhìn Thị giả nói: – Là tăng ở đâu?
Thị giả thưa:
– Thượng tọa từng ở dưới hội Hòa thượng.
Tự nói: – Lạ! Được đầu trơn thế ấy.
Sư thưa: – Bị Hòa thượng làm cùn lụt.
Tự bèn đem thư xông trên lò hương nói:
– Nam-mô tam-mãn-đa một-đà-nẫm.
Sư lại gần khảy móng tay rồi thôi. Tự liền mở thư xem.
Nghe đối đáp như thế Hòa thượng Tự lấy làm lạ, liền quay sang nhìn Thị giả hỏi: Là tăng ở đâu? Thị giả thưa: Thượng tọa từng ở dưới hội Hòa thượng. Tự nói: Lạ! Được đầu trơn thế ấy. Đầu trơn nên nắm không được, đụng đến liền chạy. Ngài thưa: Bị Hòa thượng làm cùn lụt. Tôi vốn dĩ trơn bén mà bị Hòa thượng làm cho cùn lụt rồi.
Hòa thượng Tự bèn đem thư xông trên lò hương nói: Nam-mô tam-mãn-đa một-đà-nẫm. Ngài trì chú phải không? Không phải ngài trì chú, mà đây chính là lối đối đáp khéo léo. Trong nhà thiền, các thiền sư đọc chú không phải vì tin thần chú, chẳng qua chỉ là thủ thuật tiếp người của các ngài mà thôi.
Ngày Sư trở về Đức Sơn, Phật Quả và Phật Nhãn đều có kệ tiễn Sư. Chưa bao lâu ở Linh Nham cô quạnh, chư tăng trình đơn thỉnh Sư trụ trì. Sư kế thừa Phật Tánh.
Sư thượng đường:
– Tham thiền chẳng cứu nguồn sâu, gặp việc trọn là lưu ngại. Vì thế, giữ nó lặng lẽ lóng lặng nhàn rỗng rơi tại biển độc; lấy yếu thắng mạnh mình phải người quấy, lập kiến lượng nhân ngã ở chỗ thiên khô. Lại đến hơn kém chẳng phân, chiếu chẳng đến dụng, dụng chẳng lìa hang ổ, đây là chỗ học chẳng huyền, trọn là lưu tục (tầm thường). Đến đây phải biết có, trong chết thấu thoát chỗ sống ẩn cơ, Phật không thể biết Tổ không thể lường. Do đó cổ nhân nói: “Có khi trước chiếu sau dụng, vả cần cùng ông thương lượng. Có khi trước dụng sau chiếu, ông phải là kẻ ấy mới được. Có khi chiếu dụng đồng thời, ông lại làm sao chống cự? Có khi chiếu dụng chẳng đồng thời, ông lại nhằm chỗ nào suy tính?” Lại biết chăng? Tên xuyên lá dương cùng câu làm kinh người, chẳng phải tạm thời học được.
Tham thiền chẳng cứu nguồn sâu, gặp việc trọn là lưu ngại. Người tham thiền mà không đến chỗ tột nguồn, khi gặp việc liền có chướng ngại. Vì thế, giữ nó lặng lẽ lóng lặng nhàn rỗng, rơi tại biển độc. Người nào chỉ giữ chỗ lóng lặng rồi cho đó là cứu cánh, tức là rơi trong biển độc.
Lấy yếu thắng mạnh mình phải người quấy, lập kiến lượng nhân ngã ở chỗ thiên khô. Lấy yếu thắng mạnh, tức là dùng phương tiện này phương tiện kia, đó là lập kiến lượng nhân ngã, đây thuộc về loại thiên khô.
Lại đến hơn kém chẳng phân, chiếu chẳng đến dụng, dụng chẳng lìa hang ổ, đây là chỗ học chẳng huyền, trọn là lưu tục. Thấy có chiếu có dụng, không ứng dụng một cách linh động là còn ở trong hang ổ, chỉ rơi vào hạng tầm thường mà thôi.
Đến đây phải biết có, trong chết thấu thoát chỗ sống ẩn cơ. Đây là chỗ cứu cánh. Chết rồi sống lại mà trong chỗ sống ẩn cơ, tức là không khoe không bày tài đức của mình. Chỗ này Phật không thể biết, Tổ không thể lường.
Đoạn này ngài dạy người tu đừng giữ tâm ở chỗ lặng lẽ không ngơ, đó là bệnh. Đừng dùng cái này để dẹp cái kia, vì cũng chưa tới được cứu cánh, mà phải biết mình có cái chân thật. Đến được chỗ chết đi sống lại rồi, còn phải ẩn cơ khéo không thấy mình là Phật là Tổ. Người khác không biết được mình, đó mới là cái thật. Như hình ảnh thiền sư trong Thập Mục Ngưu Đồ, tay cầm bầu rượu tay xách cá chép, đó là ẩn cơ.
Sư họ Lý quê ở Gia Châu. Từ nhỏ Sư thông cả sáu kinh mà chán việc thế tục. Sư theo thiền sư Thanh Tố ở Đức Sơn xuất gia thọ giới Cụ túc. Sau Sư nghe kinh Hoa Nghiêm, luận Khởi Tín đã thấu được lý đó. Sư bỏ đây đi theo thiền sư Mật Ấn ở Trung Phong. Một hôm Mật Ấn nhắc: “Tăng hỏi Nham Đầu: Khi khởi diệt chẳng dừng là sao? Nham Đầu quở nói: Là cái gì khởi diệt?” Sư khai ngộ liền gật đầu.
Gặp lúc Viên Ngộ trở về Chiêu Giác, Mật Ấn sai Sư đến thăm. Sư nhân theo chúng vào thất, Viên Ngộ hỏi:
– Từ trước chư thánh lấy cái gì tiếp người?
Sư dựng đứng nắm tay. Viên Ngộ bảo:
– Đây là lão tăng dùng.
Sư lấy nắm tay chao đó. Viên Ngộ cũng đưa nắm tay, giao nhau cười to rồi thôi.
Hai người đấu võ phải không? Hỏi từ trước chư thánh lấy cái gì tiếp người, liền đưa nắm tay, ngài Viên Ngộ nói cái đó là của lão tăng dùng, lẽ ra lão tăng phải đưa nắm tay chứ không phải ông đưa. Ngài liền chao nắm tay một cái, Viên Ngộ cũng đưa nắm tay lên, hai người nắm tay nhau cười. Người thường xem thấy tưởng như hai thầy trò đấu võ, nhưng không dè đó là chỗ hiểu đạo của nhau.
Sau Sư đến Kính Sơn yết kiến Đại Huệ. Đại Huệ hỏi: – Ở đâu lại?
Sư thưa: – Tây Xuyên.
Đại Huệ bảo:
– Chưa ra cổng Kiếm Môn cho ông ba mươi gậy rồi.
Sư thưa: – Chẳng đáng làm phiền Hòa thượng.
Đại Huệ vui vẻ quét thất mời ngồi.
Đại Huệ dời về Nam, Sư trở lại Tây. Sự tiếp tục trụ trì các ngôi chùa cổ, sau lại ra núi trụ Bảo Ninh, Kim Sơn, Tuyết Đậu, Kính Sơn.
Khai đường, Sư đăng tòa nói:
– Thế Tôn khi mới thành Chánh giác, ở trong vườn Lộc Uyển chuyển bánh xe pháp Tứ đế, Tỳ-kheo Kiều-trần-như ngộ đạo trước nhất. Sau này thiền sư Chơn Tịnh mới trụ Động Sơn niêm rằng: “Ngày nay trong động Tân Phong, chỉ chuyển cây trụ trượng.” Bèn cầm cây gậy xoay bên trái nói: “Lại có người ngộ đạo trước nhất chăng? Nếu không, trượng phu tự có chí xung thiên, chớ nhằm chỗ Như Lai đi mà đi.” Bèn hét một hét xuống tòa. Nếu là Thượng tọa Ấn thì chẳng thế, ngày nay nhằm trong núi Phượng Hoàng ban đầu không công phu chuyển bánh xe pháp Tứ đế, cũng không khí lực chuyển cây trụ trượng, chỉ dạy mọi người đi nên bước chậm, nói cần nhỏ lời. Có sao? Muốn được không chuốc nghiệp vô gián, chớ chê bai chánh pháp Như Lai.
Đầu tiên đức Phật chuyển bánh xe chánh pháp ở Lộc Uyển, ngài Kiều-trần-như khai ngộ trước nhất. Về sau thiền sư Chơn Tịnh, lúc mới trụ Động Sơn thăng tòa nói: Ngày nay trong động Tân Phong, chỉ chuyển cây trụ trượng. Bèn cầm cây gậy xoay bên trái nói: Lại có người ngộ đạo trước nhất chăng? Nếu không, trượng phu tự có chí xung thiên, chớ nhằm chỗ Như Lai đi mà đi. Nguyên văn chữ Hán là Trượng phu tự hữu xung thiên chí, mạc hướng Như Lai hành xứ hành. Câu này các thiền sư Việt Nam cũng thường sử dụng. Nói xong, hét một tiếng rồi xuống tòa.
Đó là dẫn chuyện xưa, còn ngài hiện nay thì sao? Ban đầu không công phu chuyển bánh xe pháp Tứ đế, cũng không khí lực chuyển cây trụ trượng. Chúng ta thấy lối dạy của ngài thật hiền lành, ngài không chuyển bánh xe pháp như đức Phật, cũng chẳng có khí lực để xoay chuyển cây gậy giống thiền sư Chơn Tịnh. Hai việc này ngài làm không nổi, chỉ là dạy mọi người đi nên bước chậm, nói cần nhỏ lời. Dễ làm quá, vậy mà chúng ta có làm được hay không?
Sư thượng đường:
– Chư Phật ba đời dùng một câu diễn trăm ngàn muôn ức câu, thâu trăm ngàn muôn ức câu chỉ ở một câu. Dưới cửa Tổ sư nửa câu cũng không, chỉ thế ấy nên ăn bao nhiêu gậy đau. Chư nhân giả! Vả lại chư Phật phải, chư Tổ phải? Nếu nói Phật phải thì Tổ chẳng phải, Tổ phải thì Phật chẳng phải, lấy bỏ chưa quên. Nếu nói Phật tổ đồng thời phải, Phật tổ đồng thời chẳng phải, lầm lẫn chẳng ít. Một câu cắt đứt sắn bìm làm sao nói? Con cọp gói trong mũ chỉ, đáng cười lại kinh người.
Sư lại nhắc:
– Tăng hỏi Nham Đầu: Trong trần thênh thang làm sao biện được chủ? Nham Đầu bảo: Trong cái chậu đồng đựng đầy dầu.
Sư nói:
– Cả thảy Nham Đầu đánh mất lỗ mũi. Chợt có người hỏi Bảo Ninh (Sư): Trong trần thênh thang làm sao biện được chủ? Chỉ đáp kia rằng: Trời lạnh chẳng nên cởi mũ.
Ngài đáp rất hiền lành. Ở trước nói đi nên bước chậm, nói nên nhỏ lời, còn bây giờ thì nói nếu có người hỏi: Trong trần thênh thang làm sao biện được chủ? Chỉ đáp kia rằng: Trời lạnh chẳng nên cởi mũ.
Sư thượng đường:
– Mùng một tháng sáu mặt trời đỏ cháy không trung, nơi ngã tư đường tuyết sâu một thước, quét dọn chẳng rảnh, xoay tránh chẳng kịp, đông cứng chàng Liêu Hồ thôn đông, nửa đêm mang giày đứng trên nước.
Sư thượng đường:
Tương tâm trừ vọng vọng nan trừ,
Tức vọng minh tâm đạo chuyển vu.
Dũng để được xuyên vô kỵ húy,
Đẳng nhàn nhất bộ nhất phù cừ.
Dịch:
Đem tâm trừ vọng vọng khó trừ,
Tức vọng sáng tâm đạo càng xa,
Đáy thùng nhảy thủng không kiêng kỵ,
Thảnh thơi mỗi bước mỗi sen hoa.
Ngài dùng bốn câu thơ này để nói lên sự tu hành. Đem tâm trừ vọng vọng khó trừ, còn lấy tâm để dẹp vọng thì vọng khó hết. Bởi khi dấy tâm nghĩ dẹp vọng, thì cái tâm dấy nghĩ đó cũng là vọng, vì vậy nên nói dẹp khó hết.
Tức vọng sáng tâm đạo càng xa, nếu ngay cái vọng đó cho nó là tâm thì đạo càng xa. Bởi vì nếu còn dùng cái này để nghĩ đến cái kia, nhân cái kia để thấy cái nọ, cũng chưa phải cứu cánh.
Đáy thùng nhảy thủng đáy không kiêng kỵ, tức chỉ cho một phen khai ngộ. Ngộ rồi thì sao? Thảnh thơi mỗi bước mỗi sen hoa. Ngộ được rồi thì mỗi bước là một hoa sen.
Sư đến Kính Sơn, vua Hiếu Tông mời về điện Tuyển Đức hỏi đạo. Tuổi già Sư chán trụ trì, tâu xin trở về am. Niên hiệu Thiệu Hy năm đầu (1190) tháng mười một, Sư đến thăm thiền sư Trí Sách ở Giao Thừa để cùng nhau từ biệt. Trí Sách hỏi ngày đi, Sư đáp:
– Nước chảy thành ngòi.
Khi sắp về đòi giấy viết: Đêm mùng bảy tháng chạp khi gà gáy.
Đúng ngày này Sư tịch.
Phần học Hành Trạng Thiền Sư Trung Hoa đến đây đã xong. Việc học này cần thiết và lợi ích cho chúng ta như thế nào? Có ba điều cần lưu ý:
Thứ nhất, mỗi thiền sư có mỗi công hạnh hay riêng, các ngài là tấm gương sáng để chúng ta noi theo. Như có vị ngủ chung với rắn, chúng ta dám bắt chước không? Học hạnh này giúp mình tập bỏ đi sự nhút nhát, không để mấy con thỏ đeo bám sau lưng nữa. Có vị thệ nguyện, nếu không ngộ đạo không trải chăn ra nằm, chỉ ngồi hoặc đứng mà thôi. Hạnh tinh tấn của các ngài mình cũng chưa theo kịp. Chúng ta thường có bệnh tự mãn, thấy mình tu thế này là được rồi, mà không biết rằng người xưa tu hành dụng công khổ nhọc như thế, chứ không phải tự dưng mà đạt được đạo.
Thứ hai, học để thấy chỗ ngộ cứu cánh không đơn giản. Không phải chỉ hiểu chút ít là đủ, mà các ngài phải trải qua lắm phen cay đắng, dám liều chết mới đến tột chỗ cứu cánh.
Thứ ba, học đến các thiền sư đời Tống, chúng ta thấy rõ Thiền vào thời này đã lấn át hẳn Nho giáo. Các vị trí thức, những quan viên nhà nho theo học với thiền sư rất nhiều. Điều này cho thấy giáo lý Thiền tông vượt hơn tất cả các phương tiện khác.
Qua những điều đã học, giúp chúng ta có cái nhìn chín chắn hơn. Nếu chúng ta thật sự tu hành đạt đạo, đủ sức khai thác tột cùng giáo lý Phật dạy, thì tất cả lý lẽ thế gian đều không qua được. Sở dĩ mình bị người ta bẻ một câu liền đó lưỡi, là tại vì chưa hiểu, hoặc hiểu thì có hiểu mà chưa thông, chưa đạt đến lẽ thật. Do vậy khi bị hỏi dễ thì trả lời được, hỏi khó liền bí. Những người tài giỏi đến hỏi, mình trả lời thông suốt họ mới kính nể, còn ngược lại chỉ làm trò cười cho người mà thôi.
Người học đạo chân chánh cần nắm vững đường lối, hiểu thấu suốt rồi phải tu cho đến nơi đến chốn, như vậy mới thật sự lợi ích cho đạo. Chúng ta thường than, không biết làm sao mở mang Phật pháp, làm sao cho dân chúng hiểu đạo… Cứ than như vậy hoài mà bản thân mình học hiểu không đúng, tu hành không thông thì có than cũng vô ích, dù có nhiệt tâm với đạo vẫn không làm gì được.
Việc học hiểu và tu đến nơi đến chốn đưa chúng ta vượt qua mọi chướng ngại trên con đường tu tập. Muốn đạo pháp hưng thịnh, cần học hiểu cho đúng và cố gắng tu hành. Hiểu đúng tu được thì đạo mới sáng, không hiểu tu lầm thật là hiểm nguy. Phải nhớ, hai điều kiện thiết yếu là hiểu đúng và tu được. Bởi nếu hiểu đúng mà tu không tới đâu thì cũng chẳng lợi ích.