Nội dung:
Sư trụ Hương Sơn Nhữ Châu, dạy chúng:
– Người biết có Phật tổ hướng thượng mới có phần thuyết thoại. Chư thiền đức! Hãy nói cái gì là việc Phật tổ hướng thượng? Có kẻ con trai nhà người sáu căn chưa đủ, bảy thức chẳng toàn, là đại xiển-đề không chủng tánh Phật, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, thiên đường thâu chẳng được, địa ngục giữ không cửa. Đại chúng lại biết người này chăng?
Sư im lặng giây lâu nói:
– Đối diện chẳng tiên-đà, ngủ mê mặc nói mớ.
Thiền sư Pháp Thành, đệ tử của Đạo Giai Phù Dung. Ngài dạy chúng: Người biết có Phật tổ hướng thượng mới có phần thuyết thoại. Chúng ta biết được lối hướng thượng của Phật tổ, mới có thể nói dạy người khác, nếu chưa biết thì khó nói dạy cho ai.
Chư thiền đức! Hãy nói, cái gì là việc Phật tổ hướng thượng? Phật tổ hướng thượng là gì? Ngài giải thích, có kẻ con trai nhà người sáu căn chưa đủ, bảy thức chẳng toàn, là đại xiển-đề không chủng tánh Phật, gặp Phật giết Phật gặp Tổ giết Tổ, thiên đường thâu chẳng được, địa ngục giữ không cửa. Nói Phật tổ hướng thượng là hình ảnh người nam sáu căn chưa đủ, bảy thức chẳng toàn; là đại xiển-đề không chủng tánh Phật, gặp Phật giết Phật gặp Tổ giết Tổ, thiên đường thâu không được, địa ngục giữ không cửa. Đây là hạng xiển-đề nào?
Xiển-đề có ba hạng: Hạng thứ nhất là những người ngu si, làm những điều ác không hối hận, không tin có Tam bảo Phật pháp tăng, đó là hạng thấp. Hạng thứ hai là giết cha giết mẹ, tạo tội ngũ nghịch. Hạng thứ ba là đại xiển-đề, như ở đây nói người này không chủng tánh Phật, gặp Phật giết Phật gặp Tổ giết Tổ, thiên đường thâu chẳng được, địa ngục giữ không cửa. Đặc biệt hạng đại xiển-đề này, sáu căn chưa đủ, tức là sáu căn không chạy theo cảnh, bảy thức chẳng toàn, tức là bảy thức không dính không kẹt với sáu trần, hay là không chấp thức thứ tám làm tự ngã. Đây là đại xiển-đề không chủng tánh Phật. Tại sao? Bởi vì nhận được cái đó rồi thì không còn chủng tánh nào khác để đến nữa. Nên nói, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, cũng không sanh lên cõi trời, không bị rơi vào địa ngục.
Đại chúng lại biết người này chăng? Người đó là người nào mỗi người tự biết, tôi nói không được. Ngài im lặng giây lâu nói: Đối diện chẳng tiên-đà, ngủ mê mặc nói mớ. Tức là đối diện mà không linh động, không thông cảm được thì mình chỉ là kẻ ngủ mê mặc tình nói mớ mà thôi. Tiên-đà là tiếng Phạn, nói đủ là tiên-đà-bà, chỉ là chung cho mọi danh từ, mọi hành động, chứ không có nghĩa nhất định. Như khi nhà vua ăn cơm mà thiếu nước chấm, liền nói với người hầu “tiên-đà-bà”, người hầu liền bưng nước chấm ra. Nhà vua sửa soạn đi dạo chơi, nói với người hầu “tiên-đà-bà!” người hầu liền dẫn ngựa tới. Khi nói như vậy thì người ta liền biết mình đang cần những nhu cầu cần thiết.
Sư lại nói:
– Chỉ cái này mang nặng chết người, nhận làm chính mình từ không kiếp, rõ ràng trên đầu thêm đầu; lại nói rơi tại hiện nay, nào khác trên tuyết thêm sương. Dù được thuần thanh tuyệt điểm, vẫn là chân thường lưu chú; hoặc giả chuyển vị hồi cơ, giống hệt giữa trưa trốn bóng. Vì thế nói, hai do một có, một cũng chớ giữ, một tâm chẳng sanh, muôn pháp không lỗi.
Sư hét một tiếng, nói:
– Đây quả là tiếng của cái bát nóng. Đâu chẳng nghe nói: “Văn-thù khởi Phật kiến pháp kiến, đày đến giữa hai núi Thiết-vi. Thiền tăng khởi Phật kiến pháp kiến, sắp ở dưới ba cây đòn tay.”
Sư đưa cây phất tử lên nói:
Phất tử đêm rồi khởi Phật kiến pháp kiến, hãy nói sáng nay phê phán thế nào?
Sư gõ giường thiền nói:
– Phân phó Đức Sơn Lâm Tế.
Chỉ cái này mang nặng chết người, nhận làm chính mình từ không kiếp. Cái này là chỗ Phật tổ hướng thượng, nhưng nếu nhận làm chính mình từ không kiếp tới giờ thì rõ ràng trên đầu thêm đầu. Tại sao? Vì đã là mình mà còn nhận cái gì, nếu nhận nữa tức nó là cái bị nhận, nên nói trên đầu thêm đầu.
Lại nói rơi tại hiện nay, nào khác trên tuyết thêm sương. Nếu cho rằng cái đó sẵn hiện tại ngay đây thì chẳng khác trên tuyết lại thêm sương, vì không có cái thứ hai ngoài mình.
Dù được thuần thanh tuyệt điểm, vẫn là chân thường lưu chú. Thuần thanh tuyệt điểm là hoàn toàn trong trẻo, không còn một điểm nào, là hình ảnh thứ tám trong mười mục chăn trâu của nhà thiền, trâu và chăn đều hết chỉ còn một vòng tròn trắng. Người không biết tưởng tới đó là xong nên bị mắc kẹt, vì vậy nói vẫn là chân thường lưu chú, nếu theo kinh Lăng-nghiêm là còn ở trong thức ấm, chưa qua khỏi được.
Hoặc giả chuyển vị hồi cơ, giống hệt giữa trưa trốn bóng. Chuyển vị hồi cơ, tức là chuyển ngôi vị, xoay căn cơ. Dù cho muốn chuyển vị xoay cơ, cũng là người trốn bóng.
Vì thế nói, hai do một có, một cũng chớ giữ. Câu nói này giống như trong kinh Lăng-nghiêm, Phật dùng hình ảnh cái khăn có sáu gút để chỉ, sáu gút mất thì một gút cũng không còn. Một tâm chẳng sanh, muôn pháp không lỗi. Nếu không dấy niệm thì muôn pháp không có lỗi lầm. Giả sử có nhiều vàng bạc châu báu để ở trước mặt, nếu chúng ta vừa thấy liền dấy niệm tham thì có lỗi, còn thấy tất cả mà không khởi niệm thì có lỗi lầm gì! Như vậy, muôn pháp đối với chúng ta không lỗi lầm, lỗi lầm từ chỗ dấy niệm mà ra.
Ngài hét một tiếng, nói: Đây quả là tiếng của cái bát nóng. Cái bát nóng để khô, khi chế nước vào nghe có tiếng xèo xèo, tiếng đó là do nước nóng phát ra, không có ý nghĩa gì cả. Tiếng hét của thiền sư cũng như vậy.
Văn-thù khởi Phật kiến pháp kiến, đày đến giữa hai núi Thiết-vi. Ngài Văn-thù vừa khởi niệm thấy có Phật có pháp là đã bị đày vào giữa hai núi Thiết-vi. Thiền tăng khởi Phật kiến pháp kiến, sắp ở dưới ba cây đòn tay. Khi hạ huyệt, người ta dùng cây xỏ ngang quan tài hạ xuống để chôn. Ý câu này nói, kẻ học thiền vừa khởi kiến giải là đã bị chôn vùi rồi.
Ngài đưa cây phất tử lên nói: Phất tử đêm rồi khởi Phật kiến pháp kiến, hãy nói sáng nay phê phán thế nào? Nếu nói cây phất tử khởi kiến giải, mới có chỗ phê phán; còn không khởi kiến giải thì làm sao phê phán.
Ngài gõ giường thiền nói: Phân phó Đức Sơn Lâm Tế. Cây phất tử có khởi Phật kiến pháp kiến không? Thôi, giao gửi lại cho ngài Đức Sơn, Lâm Tế đi!
Sư lại nói:
– Máy linh riêng chiếu, trí sáng rạng ngời, chớp mắt nhướn mày đã bày dấu vết, cầm chùy dựng phất đâu khỏi cấp bậc. Người ngộ đó, tâm siêu số lượng nói nín đều như, trái buông mặt nắm trọn không nương gá. Người mê đó, vật vật khởi hiểu bỏ lấy có tâm, dù cho trọn được bên kia, chưa khỏi bên này làm ngại. Vì thế nói, trong nhà thiền bảo là gỡ nêm mở trói tháo chốt nhổ đinh, đã là chạm bén đứt tay. Lại nói thể cùng với dụng, chánh cùng với thiên, giống hệt dạy chú học trò trong thôn vắng chưa đọc được một quyển Thái Công gia giáo, liền nói văn chương vượt hơn Lý Bạch, Đỗ Phủ. Chư thiền đức! Nhà y tự có đồng phong, chẳng cần mở sách vở khác.
Đây là lối nói của tông Tào Động, chúng ta có thể hiểu được chút ít. Máy linh riêng chiếu, Tổ Bá Trượng gọi là linh quang độc chiếu. Máy linh ấy, trí sáng rạng ngời, chớp mắt nhướn mày đã bày dấu vết. Khi chớp mắt, lúc nhướn mày đã hiện dấu vết của nó rồi. Cầm chùy dựng phất đâu khỏi cấp bậc, cầm chùy hay dựng phất tử cũng chỉ là tạm dùng phương tiện, nên nói đâu khỏi cấp bậc. Máy linh riêng chiếu thì luôn hiện tiền, không có cấp bậc.
Người ngộ đó, tâm siêu số lượng nói nín đều như, trái buông mặt nắm trọn không nương gá. Người nhận ra được linh quang độc chiếu rồi, tất cả hành động đều tự tại, hoặc buông hoặc nắm đều không nương gá, không còn mắc kẹt trong số lượng, nói nín gì đều Như.
Người mê đó, vật vật khởi hiểu, bỏ lấy có tâm, dù cho trọn được bên kia, chưa khỏi bên này làm ngại. Người mê, tức bỏ quên máy linh của mình, rồi khởi hiểu biết thế này thế kia. Giả sử được bên kia cũng còn bị trệ ngại bên này, chứ chưa thoát khỏi hai bên.
Vì thế nói, trong nhà thiền bảo là gỡ nêm mở trói, tháo chốt nhổ đinh. Tất cả phương tiện của chư tổ trong nhà thiền, đều là vì gỡ nêm, tháo chốt, mở trói cho người mà thôi. Như tổ Bồ-đề-đạt-ma bảo: “Đem tâm ra ta an cho”, đó là lời gỡ nêm tháo chốt. Ngài Huệ Khả chấp cái lăng xăng là tâm, nghe Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, liền xoay lại tìm mà không thấy, chợt giật mình mới biết tâm bất an ấy là không thật. Đó là mở trói hay gỡ nêm. Cũng thế, khi ngài Đạo Tín đến cầu tổ Tăng Xán phương pháp giải thoát, Tổ hỏi: “Ai trói buộc ngươi?” Nhìn lại không thấy ai trói buộc, tức là đã mở trói rồi. Như vậy, tất cả những phương tiện mà chư tổ dùng đó, chỉ cốt nhằm để gỡ nêm tháo chốt cho chúng ta, các ngài không thêm gì cả.
Đã là chạm bén đứt tay. Lại nói thể cùng với dụng, chánh cùng với thiên. Nói ra nào là thể là dụng, là chánh là thiên… là vẫn còn kẹt trong vòng đối đãi. Bởi còn mắc kẹt nên mới dùng đối đãi để dẹp. Giống hệt dạy chú học trò trong thôn vắng chưa đọc được một quyển Thái Công gia giáo, liền nói văn chương vượt hơn Lý Bạch, Đỗ Phủ. Học trò dốt chưa học qua sách vỡ lòng, mà nói văn chương của mình hơn cả Lý Bạch, Đỗ Phủ.
Chư thiền đức! Nhà y tự có đồng phong, mỗi nhà đều sẵn có đồng phong. Như trong nhà thiền thường nói “gia phong của Hòa thượng”, tức là chỉ cho phong thái sống của các ngài. Tất cả chúng ta, mỗi người đều có gia phong như các ngài, gọi là đồng phong. Đồng phong đã sẵn đó sao không trở về, còn tìm kiếm trong sách vở làm chi cho mệt? Vì vậy ngài nói, chẳng cần mở sách vở khác.
Sư hỏi vị tăng: – Người xứ nào?
Tăng thưa: – Tây Xuyên.
Sư hỏi: – Ly hương lúc nào?
Tăng thưa: – Tháng hai năm ngoái.
Sư bảo:
– Chưa lìa bản quốc nói một câu xem?
Tăng thưa:
– Khắp thân đều là miệng, khó vì đối đáp.
Sư bảo:
– Vẫn là câu ly gia thất nghiệp.
Tăng không nói được. Sư đánh một phất tử bảo: – Uổng đi giày cỏ.
Chưa lìa bản quốc nói một câu xem? Nói một câu khi chưa ra khỏi nước của mình. Khi chưa rời Tây Xuyên là ngay đó rồi, vị tăng biết ý liền đáp: Khắp thân đều là miệng, khó vì đối đáp. Chỗ nào cũng là miệng, bảo con đối đáp làm sao? Tăng trả lời được như vậy là hay rồi, cũng có hơi hám nhà thiền, nhưng ngài bảo: Vẫn là câu ly gia thất nghiệp. Ngang đây Tăng không nói được nữa, ngài đánh một phất tử quở: Uổng đi giày cỏ. Xưa các thiền khách đi tham vấn thường mang giày cỏ, vị tăng này đi đây đi kia, đi rách bao nhiêu đôi giày có rồi mà chưa được đạo, nên bị ngài chê uống đi giày cỏ.
Sư cùng Duy Chiếu đồng kế thừa Phù Dung, mà không biết nhau, nhân có thượng nhân Bằng thuật lại bài tán tượng Phù Dung của Duy Chiếu cho Sư nghe:
Vũ tẩy đạm hồng đào ngạc nộn,
Phong dao tiên bích liễu ty khinh,
Bạch vân ảnh lý quái thạch lộ,
Lục thủy quang trung khô mộc thanh.
Di! Nhĩ thị hà nhân?
Dịch:
Mưa tắm nhẹ đài non hoa đào,
Gió thoảng đùa tơ liễu xanh bay,
Dưới bóng mây trắng đá lạ hiện,
Trong ánh nước xanh cây khô tươi.
Chao! Ông là người nào?
Sư nói:
– Ngày nay mới biết ông ấy gần thầy tôi.
Bằng liền thưa hỏi ý nghĩa. Sư bảo:
– Há chẳng thấy Pháp Nhãn niêm lời Giáp Sơn rằng: “Ta ba mươi năm chỉ làm cảnh để hiểu.”
Bằng liền có tỉnh. Sau Sư vâng chiếu mời trụ chùa Tịnh Nhơn ở Đông Kinh.
Bài tán tượng tức là bài kệ tán thán khen ngợi đề dưới ảnh tượng của thầy. Trong đây có thấy câu nào khen ngài Phù Dung đâu, chỉ toàn tả cảnh. Phải không?
Mưa tắm nhẹ đài non hoa đào, gió thoảng đùa tơ liễu xanh bay. Trời mưa như tưới tắm cho hoa đào thắm, cho cây tươi xanh mát. Gió thổi hàng liễu biếc bay qua bay lại như tơ.
Dưới bóng mây trắng đá lạ hiện. Thầy giống như ngọc hiện dưới bóng mây trắng vậy. Trong ánh nước xanh cây khô tươi, nguyên văn chữ Hán là Lục thủy quang trung khô mộc thanh. Lục thủy là nước trong xanh, quang trung là trong ánh sáng. Bởi chữ lục dịch là nước trong, chữ trung là trong nữa thì trùng từ, nên tôi đổi thành “trong ánh nước xanh cây khô tươi”. Cây khô đứng tựa bờ suối, nhưng nhìn qua dòng nước trong thì thấy như cây tươi. Cây khô là tượng trưng cho hình ảnh chết, tuy chết rồi mà bóng vẫn còn xanh tốt.
Chao! Ông là người nào? Người nào mà tài đến thế.
Đó là lời tán thán Thầy rất tế nhị của thiền sư Duy Chiếu, mới đọc qua chúng ta thấy toàn là tả cảnh vật, nhưng thật ra khen ngài Phù Dung đáo để. Khen ngài sạch hết tất cả nhơ nhớp, ngài nhẹ nhàng thanh thoát, ngài có những kỳ đặc hiện trong đời. Mặc dù Thầy đã tịch, nhưng đường lối và sự dạy dỗ của Thầy còn đây, con cháu vẫn tiếp nối như Thầy đang sống.
Nghe thượng nhân Bằng thuật lại bài tán, ngài nói: Ngày nay mới biết ông ấy gần thầy tôi. Ngài nghe đọc rồi thì biết liền, nhưng thượng nhân Bằng không hiểu, nên thưa hỏi vì sao mà biết người này gần thầy mình. Ngài bảo: Há chẳng thấy Pháp Nhãn niêm lời Giáp Sơn rằng: Ta ba mươi năm chỉ làm cảnh để hiểu. Chỉ lấy cảnh để hiểu người, mượn cảnh để biết mà thôi. Bằng liền có tỉnh.
Về sau, ngài vâng chiếu mời trụ chùa Tịnh Nhơn ở Đông Kinh.
Sư họ Mâu, quê ở Trung Giang, Đồng Xuyên, thuở nhỏ đã có chí thoát trần, năm mười ba tuổi xuất gia, đến Hộ Thánh thọ giới Cụ túc. Năm sau sang Thành Đô theo học Bách Pháp ở chùa Pháp Hoa. Sư lại thông Duy thức, đọc đến câu: “Đây gọi là pháp vô lậu giới bất tư nghì thiện thường, an lạc giải thoát thân đại Mâu-ni”, dường như có tỉnh. Vị thầy kia không thể giải thích cho thỏa mãn, Sư than rằng: “Ta bỏ nhà vì việc lớn, ở đây chỉ đọc lại những lời trên giấy, ví như mặt trời mặt trăng vẽ, há có ánh sáng sao?” Sư liền từ giã sang miền Nam.
Đây gọi là pháp vô lậu giới, bất tư nghì thiện thường, an lạc giải thoát thân đại Mâu-ni. Câu này trong Duy Thức Tam Thập Tụng. Thiền sư Tề Liễn khi học Duy thức, nghe tới đây có tính cầu thầy giải thích cho rõ. Nhưng thầy dạy không thỏa mãn, ngài than: Ta bỏ nhà vì việc lớn. Ở đây chỉ đọc lại những lời trên giấy, ví như mặt trời mặt trăng vẽ há có ánh sáng sao? Lời này chúng ta phải nhớ, mình đi tu là vì việc lớn sanh tử. Sanh tử là việc mà người đời không thoát nổi, chúng ta muốn thoát ra, đó là việc làm phi thường. Đã vì việc lớn mà cứ ngồi đọc chữ nghĩa hoài thì làm sao? Chữ nghĩa trên giấy mực như mặt trời mặt trăng vẽ, không có ánh sáng, vì thế ngài từ giã ra đi.
Trước tiên Sư đến tham vấn đạo giả Đoạn Tý ở Thanh Khê. Đoạn Tý thầm nhận Sư. Sư lại tham vấn thiền sư Diễn ở Ngũ Tổ, thiền sư Triết ở Chân Như, thiền sư Túc ở Bá Trượng, thiền sư Tâm ở Hối Đường, ngày đêm tham vấn mà chưa có tỉnh.
Khi Sư ở Hối Đường, có người từ Đại Dương đến thuật lại lời dạy chúng của Phù Dung, lòng Sư vui thích, bèn đến đó tham vấn. Mới gặp Phù Dung dường như đã biết lâu rồi. Một hôm buổi sáng nghe tiếng bảng, Sư hoát nhiên đại ngộ, chạy đến trình với Phù Dung. Phù Dung ấn khả. Phù Dung sai Sư giữ Tạng kinh và phân tòa thuyết pháp, cây dùi trong đãy trồi đầu, trong tùng lâm kính quý, danh tiếng vang xa. Chưa bao lâu, Sư trở về thăm cha mẹ.
Khi Phù Dung đến trụ chùa Tịnh Nhơn, Sư lại đến đó làm Thủ chúng ở dưới tòa. Chùa Tịnh Nhơn ở chốn kinh đô, mà Phù Dung giáo hóa hàng tăng chúng, người đến hỏi đạo có cả vạn, Sư lo phần ngoại hộ vẫn đầy đủ. Phù Dung nói về Sư, bảo với người rằng:
Thủ tọa Liễn đi như trâu nhìn như cọp, cơ phong bén nhạy, ngày khác sẽ hoằng hóa đạo của ta.
Ngài Phù Dung khen ngài, bảo với mọi người rằng: Thủ tọa Liễn đi như trâu nhìn như cọp, cơ phong bén nhạy, ngày khác sẽ hoằng hóa đạo của ta. Mã Tổ cũng được khen “đi như voi, nhìn như cọp”. Con trâu hay con voi đi lầm lỳ thẳng tới, không ngó ngang ngó dọc; con cọp, cổ nó không quay qua quay lại được, chỉ nhìn thẳng, muốn nhìn ngang thì phải xoay cả mình lại. Ý nói dáng ngài rất nghiêm trang, tề chỉnh.
Khi ấy dân chúng kiến thiết chùa Sùng Ninh, chọn người truyền pháp, Kinh lược sứ Vĩnh Hưng là Vương Tự, Đô chuyển vận sứ là Tiết Thiệu Bành dùng nghi lễ thỉnh Sư. Sư nhận lời, về ở đây năm năm danh tiếng đồn khắp, xa gần kính mộ. Sau đó, dời đến chùa Phổ Ninh ở Tương Dương. Đến đầu niên hiệu Chánh Hòa (1111), Sư trở về cố hương cất am Diệu Phong để dưỡng già, lại bị Thiên Bành thỉnh trụ chùa Năng Nhân, kế sang chùa Đại Tùy, rồi Vô Vi ở Quảng Hán, Siêu Ngộ ở Thành Đô, rốt sau đến chùa Đại Trí.
Lúc Sư trụ chùa Đại Tùy, có tín đồ dối tố Sư tại châu, Sư vui vẻ đến Hữu ty nhận tội. Khi tra khảo Sư, trời đất tối tăm, có bầy chim bay kêu la, lại có con gieo mình xuống đất. Châu tướng kinh lạ, bèn thả Sư ra.
Siêu Ngộ là dãy nhà bên cạnh của chùa Đại Từ, sắp bày như cái quán hàng, Sư thường đóng cửa
ngồi yên. Những người trọng giới luật thấy đều quý kính. Đạo đức của Sư càng cao, kẻ tăng người tục muốn được biết mặt Sư, mà chỉ trông thấy lưng cổ. Khi đó tuổi Sư đã cao, cảm thấy chán muốn bỏ đi, chúng cố mời lại mà không được. Họ bảo nhau, chùa Đại Trí ở phía tây xa xôi, rừng cây sầm uất đáng cho Sư ẩn lúc tuổi già, bèn đưa ý kiến lên quan phủ. Khi ấy Tịch Công làm Chế trí sử đến lễ thỉnh Sư. Sư hoan hỷ hứa khả.
Lúc ở chùa Đại Tùy, có tín đồ dối tố ngài tại châu, ngài vui vẻ đến Hữu ty nhận tội. Ở đây nói đơn giản, chỗ khác kể rằng ngài tới đó trụ trì, có một số tín đồ ghét nói ngài lấy của chùa xài riêng, rồi tố lên quan. Vào thời phong kiến ở Trung Hoa, tất cả chùa chiền đều thuộc về triều đình. Người muốn làm tăng phải qua một kỳ thi, thi đậu mới được chọn làm tăng. Nhà vua cho các quan ở địa phương, thấy chùa nào khuyết trụ trì thì chính vị quan đó đi thỉnh, chư tăng không thể tự ý đến. Như ở đây, Thiên Bành thỉnh ngài trụ chùa Năng Nhân, kế đó sang Đại Tùy. Tại chùa Đại Tùy, các tín đồ dối tố rằng ngài gian lận của chùa để xài riêng. Hữu ty là quan bên xét án, kêu ngài lên hỏi gì ngài cũng nói có và vui vẻ nhận tội. Vì ngài nhận tội nên quan cho người tra khảo. Khi ấy trời đất tối tăm, có bầy chim bay kêu la, lại có con nhào xuống đất, quan tướng thấy thế hoảng sợ thả ngài ra.
Trường hợp ngài tương tự như thầy của mình là Đạo Giai Phù Dung. Thiền sư Đạo Giai được nhà vua phong hiệu và tặng tử y, nhưng ngài không nhận. Nhà vua bắt tội khi quân, ra lệnh quan tại quận đó đánh đòn. Quan quận thấy ngài ốm yếu nên thương, tìm cách chống đỡ, ông nói: “Phàm người bị tội nếu có bệnh thì khỏi bị tra khảo. Hòa thượng có bệnh chăng?” Nếu chúng ta đang mạnh khỏe mà nghe hỏi vậy, chắc cũng nói bệnh để khỏi bị đánh, còn ngài Đạo Giai thì nói: “Bình thường cũng có bệnh, nhưng hiện nay tôi không bệnh.” Bởi nói không bệnh, nên họ lôi ra đánh. Ngài là đệ tử cũng giống thầy mình, bị người ta nói oan vẫn cứ chịu, chẳng cần minh oan. Quan không biết phải trái, thấy ngài nhận chịu hết nên tưởng ngài có tội thật, bèn lôi ra đánh. Đến khi thấy những hiện tượng la, mới biết ngài bị oan liền thả ra.
Chúng ta thấy gương tu hành của người xưa, các ngài nhìn thân này không quan trọng, nên việc tra khảo đối với các ngài không nghĩa lý gì hết. Dù thân có gặp những việc đau khổ, bị tra khảo đánh đập cũng không sợ hãi, không vì bảo vệ thân mà nói dối để tránh né.
Sư ở Đại Trí tám năm, thiền khách các nơi tìm đến, ngôi chùa này trở thành Bảo Xã. Song từ đó Sư ứng tiếp đơn sơ. Chợt Sư khởi bệnh. Có người thăm hỏi, liền nói ta không khổ. Bỗng Sư bảo Chủ sự:
– Vì ta làm một cái kiệu tre, ta sẽ có chỗ cần.
Hôm sau, Sư ngồi kiết già cầm bút viết kệ xong, lặng lẽ mà tịch.
Sư tịch ngày mùng bốn tháng mười một niên hiệu Thiệu Hưng thứ mười lăm (1145) thọ 73 tuổi.
Lúc sắp mất ngài bệnh, có người đến thăm hỏi ngài liền nói ta không khổ. Ngài biết sắp chết nhưng không sợ cũng không khổ, mà bảo Chủ sự: Vì ta làm một cái kiệu tre, ta sẽ có chỗ cần. Kiệu tre tức là cái nhà giàn nhỏ. Ngài đối với sanh tử đã được tự tại, không còn thấy khó khăn, không sợ sệt, biết trước ngày mình đi nên bảo chuẩn bị sẵn.
Sư họ Giả, quê ở Kiếm Châu, khoảng hai mươi tuổi đi xuất gia. Nơi hội thiền sư Phù Dung, Sư được triệt ngộ. Sau Sư trụ núi Đơn Hà tại Đặng Châu.
Sư thượng đường:
– “Trong càn khôn giữa vũ trụ, ở trong có một hòn ngọc ẩn tại hình sơn.” Triệu pháp sư nói thế ấy, chỉ khéo chỉ dấu nói vết, vẫn không thể chỉ bày cho người. Ngày nay Đơn Hà mở hoác vũ trụ đập nát hình sơn, vì mọi người chỉ ra, người đủ mắt biện lấy.
Sư cầm cây gậy giộng một cái nói:
– Lại thấy chăng? Cò trắng trên tuyết sắc vẫn khác, trăng sáng hoa lau chẳng giống nhau.
Trong càn khôn giữa vũ trụ, ở trong có một hòn ngọc ẩn tại hình sơn. Câu này trích trong Triệu Luận của pháp sư Tăng Triệu. Hình sơn tức là núi hình, chỉ cái thân này. Hòn ngọc đó muốn chỉ cho cái gì? Ngài bảo: Triệu pháp sư nói thế ấy, chỉ khéo chỉ dấu nói vết, vẫn không thể chỉ bày cho người. Nói vậy cũng là chỉ dấu vết mà thôi, không chỉ thẳng ra cho người thấy được. Ngày nay Đơn Hà, tức là chỉ cho ngài, mở hoác vũ trụ đập nát hình sơn, vì mọi người chỉ ra, người đủ mắt biện lấy. Ngài yêu cầu mọi người, nếu đủ mắt thì hãy nhìn, ngài sẽ đập nát hình sơn, mở hoác vũ trụ để cho thấy cái thật đó.
Ngài cầm cây gậy giộng xuống một cái nói: Lại thấy chăng? Ngài rất tài tình, mượn câu nói người trước để chỉ ra cái thật hiện tại. Ở trong sách vở nói thế này thế kia, cũng là chỉ dấu vết chứ chưa chỉ ra được cái thật. Giờ đây tôi chỉ thẳng cái thật cho mọi người thấy, ngài giộng tích trượng một cái nói, nếu ai đủ mắt thì biện lấy.
Cò trắng trên tuyết sắc vẫn khác, trăng sáng hoa lau chẳng giống nhau. Cò trắng đậu trên tuyết trắng, tuy cùng trắng nhưng sắc trắng đó vẫn không giống nhau. Trăng sáng, hoa lau trắng, hai cái đó cũng không giống nhau. Hai câu này muốn nói gì? Nếu người học kinh Lăng-nghiêm rồi, nghe qua thì hiểu liền. Chỗ này ngài Văn-thù nói: Khi thấy tất cả người ở trong pháp hội, đó là thấy; chợt khởi đây là Văn-thù, đây là Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên… thì đó là thức. Như vậy thấy và thức cách nhau bao xa? Dường như gần bên, mà người đời khó nhận ra. Hình ảnh cò trắng đậu trên tuyết, hoa lau trong đêm trăng, hai sắc đó gần kề, nếu không nhạy không khéo thì không thấy được. Ngài mượn câu nói của Triệu pháp sư để chỉ cái thật cho chúng ta thấy.
Sư thượng đường, nêu lên:
– Đức Sơn dạy chúng, nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người.” Đức Sơn nói thoại như thế, đáng gọi là chỉ biết vào cỏ tìm người, bất chợt toàn thân bùn nước. Chín chắn xem ra chỉ đủ một con mắt. Nếu là Đơn Hà thì không thế. Tông ta có ngữ cú, đao vàng cắt chẳng mở; sâu xa chỉ huyền diệu, ngọc nữ đêm mang thai.
Ngài nhắc lại lời của Đức Sơn nói: Tông ta không ngữ củ, không một pháp cho người. Nói như vậy lỗi ở đâu mà ngài bảo: Đức Sơn nói thoại như thế, đáng gọi là chỉ biết vào cỏ tìm người, bất chợt toàn thân bùn nước. Chín chắn xem ra chỉ đủ một con mắt? Ngài cho rằng nói như vậy là vào cỏ tìm người, toàn thân dính bùn dính nước, xem ra chỉ có một con mắt. Vậy còn ngài thì thế nào? Nếu là Đơn Hà thì không thế. Tông ta có ngữ cú, đao vàng cắt chẳng mở; sâu xa chỉ huyền diệu, ngọc nữ đêm mang thai. Ngài nói có khác với Đức Sơn không? Nếu người khéo thấy thì liền thấy, cái kia không ngữ cú mà ngài Đức Sơn lập có ngữ cú. Theo tinh thần nhà thiền, nếu còn thấy có không là chưa đủ hai mắt. Nói tông ta không ngữ cú, nói không cũng là đã mù hết một mắt rồi.
Tôi dẫn câu chuyện ngài Đại Mai để làm sáng tỏ thêm. Có người hỏi Đại Mai: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Đại Mai đáp: “Tổ sư không có ý.” Vị ấy đem lời này đến hỏi một thiền sư khác, như vậy là có ý hay không có ý? Vị kia nói: “Có ý.” Thiền sư Diêm Quan nghe được nói: “Một cái quan tài hai tử thi.” Còn thấy một bên, bên này cũng chết, bên kia cũng chết, nên nói hai cái tử thi. Bởi nói có nói không cũng là bệnh, do đó ngài nói: Tông ta có ngữ cú. Lập “có ngữ cứ” là để phá cái chấp “không ngữ cứ” ở trên. Đạo vàng cắt chẳng mở; sâu xa chỉ huyền diệu, ngọc nữ đêm mang thai. Những câu này không dính bên nào.
Sư thượng đường:
Dừng dừng đúng ngọ còn thiếu nửa,
Lặng lặng canh ba vẫn chửa tròn,
Sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm,
Lại qua thường ở trước trăng trong.
Dừng dừng đúng ngọ còn thiếu nửa. Mặt trời đúng ngọ, còn thiếu phân nửa, tức là mới được nửa ngày. Lặng lặng canh ba vẫn chửa tròn. Canh ba là chưa hết đêm. Hiểu câu trên thì hiểu câu dưới. Hai câu trên, một câu đúng ngọ một câu canh ba, để nói tinh thần hồi hỗ của tông Tào Động. Sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm. Nơi sáu cửa không bị thức chen vô để dính với cảnh thì sáu cửa không có hơi ấm. Nếu sáu cửa không hơi ấm thì sao? Lại qua thường ở trước trăng trong, tới lui tự tại, lúc nào cũng sáng sạch, không có gì nhơ nhiễm.
Sư thượng đường:
– Trăng sáng chiếu soi đầm trong bày bóng, nước không có ý thấm trăng, trăng không có tâm soi nước, trăng nước cả hai đều quên mới đáng gọi là đoạn. Vì thế nói, việc lên trời cần phải thổi bay mất, việc thập thành cần phải dẹp mất, ném vàng vang tiếng chẳng cần xoay nhìn. Nếu hay như thế, mới hiểu nhằm trong dị loại mà đi. Quý vị! Đến chỗ này lại thấu hiểu chăng?
Sư im lặng giây lâu nói:
– Thường đi chẳng cất nhân gian bước, mang lông đội sừng lẫn đất bùn.
Trăng chiếu soi hiện bóng dưới đầm, nước có muốn làm ướt trăng không, trăng có tâm muốn soi bóng ở dưới nước không? Nước không có ý thấm trăng, trăng không có tâm soi nước, trăng và nước đều không ý, đều không tâm. Trăng nước cả hai đều quên mới đáng gọi là đoạn. Không còn có ý dính với cảnh, cảnh và ý đều quên, đó gọi là thật đoạn. Chúng ta đợi khi có niệm dấy lên mới đoạn, chưa phải thật đoạn. Khi đối cảnh mà tâm không sanh, không khởi niệm kia là cảnh đây là người, kia là cảnh đây là tâm, như thế là chân thật.
Vì thế nói, việc lên trời cần phải thổi bay mất, việc thập thành cần phải dẹp mất, ném vàng vang tiếng chẳng cần xoay nhìn. Muốn tu để lên thiên đường, đừng tham muốn tức là thổi bay việc ấy đi. Việc thập thành cần phải dẹp mất, muốn tu làm sao cho được toàn vẹn thì cũng dẹp bỏ đi, đừng mong lên trời, đừng mong toàn vẹn. Cốt lõi ở chỗ này: Ném vàng vang tiếng chẳng cần xoay nhìn, cầm thoi vàng quăng đi có tiếng động mà không cần nhìn nó rớt chỗ nào.
Nếu hay như thế, mới hiểu nhằm trong dị loại mà đi. Quý vị! Đến chỗ này lại thấu hiểu chăng? Nếu được như vậy mới hiểu nhằm trong dị loại mà đi. Vàng là quý, ném đi không chút tiếc. Thường vật gì đáng quý tiếc mà bỏ đi, ắt mong ước ngó lại. Đây thì ném đi mà không thèm ngó lại, tư cách đó mới có thể đi trong dị loại, là ở trong lục đạo luân hồi mà không như không nhiễm. Nếu chưa được như vậy thì đi đâu lún bùn tới đó, mắc lầy leo lên không nổi, lội lên không được.
Ý ngài chỉ cho chúng ta biết, người tu không cầu sanh cõi trời, không cầu cho mình được toàn vẹn; chỉ là đối với những cái thế gian cho là quý, không nên nghĩ tưởng, không cần đoái nhìn. Vì còn mơ ước sanh lên thiên đường là còn tham hưởng dục lạc thế gian, mong mình tu chứng đắc hay hơn thiên hạ cũng là tham. Đây không cần những việc như thế, chỉ cần của quý báu ném đi không một chút tiếc nuối. Người như vậy khả dĩ đi trong lục đạo độ chúng sanh mà không dính mắc.
Ngài im lặng giây lâu nói: Thường đi chẳng cất nhân gian bước, mang lông đội sừng lẫn đất bùn. Đi mà không cất bước, như nói thường ăn mà không nhai nát một hạt cơm. Ý nói người sống trong cảnh thế gian nhưng không dính mắc bụi trần.
Tăng hỏi:
– Ngưu Đầu khi chưa thấy Tứ tổ thì thế nào?
Sư đáp:
– Cúc vàng vừa nở ong đua hút.
Tăng hỏi:
– Sau khi thấy thế nào?
Sư đáp:
– Mầm khô hoa rụng rõ không nương.
Ngài Pháp Dung trước khi gặp Tứ tổ, ngồi tu trên ngọn núi Ngưu Đầu, thường có chim tha hoa trái đến cúng dường, trong thất thì cọp đứng hầu, ai cũng kính nể cho rằng ngài là người đắc đạo.
Tăng hỏi khi chưa gặp Tứ tổ thì sao? Ngài đáp: Cúc vàng vừa nở, ong đua hút. Khi hoa cúc nở thì ong đến hút mật, có hoa có ong là còn trong đối đãi. Vì ngài còn có tâm thiện, còn quán từ bi, nên chúng sanh cảm mà đến; cũng như hoa cúc nở thì ong tới hút nhụy, hai bên còn có cái cảm thông nhau. Sau khi ngài gặp Tứ tổ ngộ được tâm tông, từ đó về sau chim hết hái hoa hái trái cúng. Chỗ này khiến nhiều người hoang mang, như vậy ngài hết phước rồi sao? Tăng hỏi: Sau khi thấy thế nào? Tức là thấy Tứ tổ rồi thì thế nào? Ngài đáp: Mầm khô hoa rụng rõ không nương. Mầm đã khô hoa đã rụng, không còn chỗ nương tựa, lúc đó chim hết cúng dường. Ngài trả lời quá hay. Đến đó rồi thì không còn năng sở không còn đối đãi, giống như mầm đã khô, hoa đã rụng, không còn gì nương tựa.
Năm Kỷ Hợi niên hiệu Tuyên Hòa (1119) vào mùa xuân Sư tịch, tháp của Sư ở phía nam Hồng Sơn.
Sư họ Lý, quê ở Giản Châu, thuở nhỏ đã có tinh thần chán tục. Một hôm đọc sách đến “Tánh tương cận dã, tập tương viễn dã”, Sư nói:
– Phàm thánh vốn một thể, do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi.
Sư liền đến Thành Đô làm đồ đệ sư Thanh Thới ở Lộc Uyển. Đến năm mười chín tuổi, Sư cạo tóc thọ giới Cụ túc. Sư Thanh Thới dạy đến chùa Đại Từ học Khởi Tín Luận. Sư liền về phòng nằm, Thanh Thới hỏi lý do. Sư thưa:
– Đã nói chánh tín Đại thừa, há ở lời nói mà có thể rõ.
Sư bèn cất bước tham thiền.
Thiền sư Duy Chiếu ở Bảo Phong, đệ tử ngài Đạo Giai Phù Dung thuộc tông Tào Động. Từ lúc nhỏ ngài đã có tinh thần chán thế tục, tức là muốn tu. Khi đọc sách Nho có câu tánh tương cận dã, tập tương viễn đã thì ngài liền hiểu. Ngài nói: Phàm thánh uốn một thể, do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi. Phàm thánh vốn một thể, tánh mình không thiện không ác, do gần thiện thì thành thiện, tập ác thì thành ác mà thôi. Do đó ngài đi xuất gia. Thầy dạy học Đại Thừa Khởi Tín Luận, ngài không chấp nhận, nói: Đã nói chánh tín Đại thừa, há ở lời nói mà có thể rõ. Tại sao vậy? Bởi vì đã nói là chánh tín Đại thừa, tức là tin chắc tâm mình, mà không chịu thấy lại căn cứ trên lời nói thì làm sao biết được. Ngài bèn cất bước tham thiền, từ đó đi tham học thiền ở các nơi.
Sư đến yết kiến Phù Dung tại Đại Hồng. Mỗi đêm Sư thường ngồi thiền ngoài hành lang trên gác, gặp gió tuyết lay động tấm rèm, lại nghe tiếng la ăn trộm, liền có sở đắc. Sau đó, Sư từ giã Phù Dung đi. Đến khoảng niên hiệu Đại Quán (1107-1111), Phù Dung mắc nan. Sư từ Tam Ngô muốn dời đến Nghi Thủy, đứa dẫn đường đi lạc, Sư cầm gậy gõ đó, bỗng nhiên đại ngộ. Sư tán thán:
– Đất này đâu không phải Ngao Sơn ư?
Sư đến Nghi Thủy, Phù Dung trông thấy vui vẻ nói:
– Nối thạnh tông ta hẳn là bọn ngươi vậy.
Nhân đây, Sư ở lại trên bờ hồ nhiều năm.
Trong khi ngồi thiền, gió tuyết thổi tạt vào mặt, bỗng nghe người la ăn trộm, ngài ngộ đạo. Sau đó, ngài từ Phù Dung đi.
Đến khoảng niên hiệu Đại Quán (1107-1111) Phù Dung mắc nạn. Phù Dung mắc nạn là vì vua ban tử y và pháp hiệu nhưng không chịu nhận, nhà vua cố ép cũng nhất định từ chối. Vì thế phải đưa ra quan, quan sở tại thấy ngài Phù Dung già ốm, muốn cho khỏi bị tra khảo nên nói: Nếu là người bệnh thì không bị tra khảo, Hòa thượng có bệnh không? Phù Dung đáp: Trước kia cũng có bệnh nhưng hiện giờ thì không bệnh. Vì vậy bị tra khảo, đày mặc áo phục dịch. Sau được phóng thích, ngài cất am ở nơi hồ Phù Dung.
Ngài muốn đến chỗ Thầy, người dẫn đường đi lạc, ngài gõ nó một cái, chợt đại ngộ. Ngài nói: Đất này đâu không phải Ngao Sơn ư? Ngao Sơn là chỗ Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Nham Đầu Toàn Khoát nói đạo lý, cuối cùng ngài Tuyết Phong ngộ, nói: Hôm nay mới thành đạo tại Ngao Sơn. Ngài đến Nghi Thủy, Phù Dung trông thấy vui vẻ nói: Nối thạnh tông ta hẳn là bọn ngươi vậy. Nhân đây, ngài ở lại với Thầy nhiều năm.
Sau Sư nhận trụ chùa Chiêu Đề, rồi dời đến Cam Lồ Tam Tổ. Đến niên hiệu Tuyên Hòa năm Nhâm Dần (1122) có chiếu bổ Sư trụ Viên Thông. Sau rời Viên Thông trụ ở Lặc Đàm.
Sư thượng đường:
Phật xưa nói “Khi mới thành Chánh giác, ta thấy chúng sanh trên đại địa thảy đều thành chánh giác”. Sau, ngài lại nói “Sâu thẳm xa xôi không người đến được”. Kẻ không kiến thức, nên đầu rồng đuôi rắn.
Sư liền xuống tòa.
Kinh Hoa Nghiêm có nói, sau khi thành đạo đức Phật bảo: Khi mới thành chánh giác, ta thấy chúng sanh trên đại địa thảy đều thành chánh giác. Phật nói tất cả chúng sanh đã thành Phật, tại sao chúng ta còn ngồi đây? Đứng về tánh Phật thì tất cả đều có sẵn, vì thế ngài nói tất cả chúng sanh đều thành Phật. Ví dụ gia đình có năm mười người con, cha mẹ trăm tuổi chia gia tài lại cho mỗi đứa con. Người anh cả khôn lớn đã lập gia đình, những đứa nhỏ thì còn đi học, hoặc chưa đủ khôn ngoan. Cha mẹ bảo người anh cả quản lý hết gia tài, giữ lại để sau này em út lớn khôn, hay có gia đình thì chia cho nó. Như vậy, khi người anh cả nhận phần gia tài của cha mẹ chia cho, tất cả các em tuy còn nhỏ nhưng đã có phần, chỉ là chưa được nhận mà thôi.
Lúc mới thành đạo, Phật thấy tất cả chúng sanh đều thành Phật, nhưng sau ngài lại nói Sâu thẳm xa xôi không người hay đến. Nghĩa là chỗ giác ngộ đó sâu thẳm xa xôi không người đến được. Thế là chỉ có mình ngài đến, chúng ta đến không được. Có mâu thuẫn không? Ngài Duy Chiếu nói: Kẻ không kiến thức, nên đầu rồng đuôi rắn. Câu sau và câu trước như có mâu thuẫn, trước thì nói ai cũng thành Phật, sau thì nói chỗ sâu thẳm xa xôi không người hay đến. Như vậy chỉ có ngài thành, chúng ta không thành. Phải không?
Đây phải hiểu ý Phật. Khi thấy chúng sanh mê muội, tự ty mặc cảm cho rằng Phật là Bồ-tát tái sanh, ngài tu thành Phật được còn mình là chúng sanh ngu muội không mong gì thành Phật. Phật tuyên bố rõ rằng tất cả các ngươi cũng đã thành Phật, để chúng sanh khỏi tự ty, nỗ lực tu, tin rằng mình đã có Phật tánh, ráng tu sẽ thành. Đối với những người tự tôn, nghe nói ta đã có Phật tánh tức ta đã là Phật, không cần tu làm chi nữa dư sự! Thế là họ cứ ăn chơi, không cố gắng tu hành, vì vậy Phật nói sâu thẳm xa xôi không người hay đến. Chỗ ta đạt đến sâu thẳm xa xôi, không có người đến được, không phải là chuyện thường. Người muốn đến đó phải cố gắng nỗ lực. Đó là lời cảnh tỉnh những người tự tôn, khi nghe nói mình có Phật tánh, rồi lười biếng muốn sống tự tại mà không sợ trầm luân.
Sư thượng đường:
– Chư Phật quá khứ đã nhập Niết-bàn rồi, cả thảy các ngươi không nên tiếc nhớ; chư Phật vị lai chưa ra đời, cả thảy các ngươi không nên vọng tưởng; chính hiện ngày nay ngươi là người gì? Tham
Chư Phật quá khứ đã qua không nên tiếc nhớ, Phật vị lai chưa đến vọng tưởng làm gì. Chính hiện ngày nay ngươi là người gì? Đừng tìm quá khứ vị lai làm chi, ngay bây giờ thấy được chính mình, đó là Phật.
Sư thượng đường:
– Bá Di hẹp hòi, Liễu Hạ Huệ không kính, quân tử chẳng noi theo. Khi hai bên chẳng lập, trung đạo chẳng an bày thì thế nào?
Sư cầm cây gậy nói:
Uyên ương thêu rõ mặc ông ngắm, chẳng nắm kim vàng trao cho người.
Đoạn trên dẫn tích xưa. Khi nhà Châu kéo quân đánh nhà Thương, Bá Di Thúc Tề khuyên không được còn bị cho là phản nghịch, nên buồn bỏ lên núi Thú Dương ở ẩn. Sau nghe nhà Châu thắng, nắm hết quyền bính, chiếm tất cả đất đai trong nước, hai vị nhịn đói không ăn cơm của nhà Châu rồi chết. Nhiều người kính trọng khí tiết của hai vị, nhưng Liễu Hạ Huệ không kính. Liễu Hạ Huệ cho đó là không thức thời. Vua trước là hôn quân thì phải có người chân chính thay thế, tự bắt mình phải thờ hôn quân như vậy là không linh động, không sáng suốt.
Khi hai bên chẳng lập, trung đạo chẳng an bày thì thế nào? Một bên có lòng trung thành với vua trước, một bên cho rằng phải linh động ai chánh thì mình theo. Thường chúng ta hoặc theo bên này hoặc bên kia, nếu không bên này bên kia thì ở giữa. Nhưng khi hai bên không lập, ở giữa cũng không an bày, lúc đó thế nào? Ngài dẫn hai câu thơ xưa: Uyên ương thêu rõ mặc ông ngắm, chẳng nắm kim vàng trao cho ngươi. Tấm vải thêu chim uyên ương, hai con khắn khít với nhau, mặc tình ngắm xem. Chẳng nắm kim vàng trao cho người. Vải thêu có hình ảnh đẹp là do từ cây kim thêu. Nếu không trao kim thì thêu được không? Như vậy để thấy, nếu không có thêu dệt thì không có hai bên, không có hai bên thì không bị lôi cuốn đi trong luân hồi sanh tử nữa.
Sư thượng đường:
– Dưới cửa thái dương diệu xướng càng cao, trước nhà minh nguyệt tri âm lại ít. Chẳng khỏi thuyền ngang sông lạch, chèo nhịp sóng xanh; xướng khúc đời Nghiêu, hòa nhạc thanh bình. Trình bày như thế, khắp mời thừa đương. Vừa có nghĩ nghị, mây trắng bay muôn dặm.
Những câu nói thế này rốt cuộc nhắm vào đâu? Dưới cửa thái dương diệu xướng càng cao, tức là những bản nhạc hay, cao vút lên. Trước nhà minh nguyệt, tri âm lại ít. Chẳng khỏi thuyền ngang sông lạch, chèo nhịp sóng xanh; xướng khúc đời Nghiêu hòa nhạc thanh bình, trình bày như thế khắp mời thừa đương. Bao nhiêu việc tôi trình bày ở trên, mời các ông thừa đương, nhưng đừng suy nghĩ. Vì sao? Vừa có nghĩ nghị, mây trắng bay muôn dặm. Nghe mà không cho nghĩ, nghĩ thì lầm sai muôn dặm. Như vậy để thấy, mọi hình ảnh trước mắt chúng ta, nếu vừa dấy niệm thì đã sai rồi.
Sư thượng đường:
– Xưa tự chẳng sanh nay cũng chẳng diệt, là chết chẳng được mẫu mực. Nơi đây xuất sanh chốn này diệt hết, là hàm sanh chịu quy củ. Bậc đại trượng phu cần phải ở trong dòng sanh tử, nằm trong rừng gai góc, cúi ngước co duỗi tùy cơ lập bày. Hay như thế đó là dùng vô lượng phương tiện trang nghiêm tam-muội, cửa đại giải thoát liền mở rộng thênh. Nếu chưa như thế, vô lượng phiền não, tất cả trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa.
Xưa tự chẳng sanh nay cũng chẳng diệt, chết chẳng được mẫu mực. Xưa chẳng sanh nay không diệt, là chỉ cho chỗ không khuôn mẫu. Nơi đây xuất sanh chốn này diệt hết, là hàm sanh chịu quy củ. Vì chúng hàm sanh bị luật vô thường sanh rồi diệt, nên nói có quy củ. Như vậy, một bên không sanh, một bên sanh.
Đại trượng phu là người ở trong dòng sanh tử mà thấu nhập được, nên khác hơn những chúng sanh kia, tuy ở trong sanh tử mà không chịu quy luật vô thường. Tuy ở trong dòng sanh tử, nằm trong rừng gai góc, trong cảnh khổ mà cúi ngước co duỗi tùy cơ lập bày. Ở chỗ khó khăn khổ sở, trong dòng sanh tử mà luôn tự do.
Hay như thế đó, là dùng vô lượng phương tiện trang nghiêm tam-muội. Người được như vậy là người đang dùng vô lượng phương tiện để trang nghiêm chánh định của mình. Do đó, cửa đại giải thoát liền mở rộng thênh. Ngài chỉ rất rõ, người tu đừng sợ sanh tử. Muốn tu đến chỗ không sanh diệt, phải ngay trong sanh tử mà không mê muội, không bị vô thường lôi cuốn, tự do tự tại tùy phương tiện cứu độ mọi người. Như thế mới là trang nghiêm tam-muội, là cửa đại giải thoát.
Nếu không được như vậy, vô lượng phiền não, tất cả trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa. Nếu ở trong sanh tử mà không tự tại, không được trang nghiêm tam-muội, không được cửa đại giải thoát, thì sẽ bị tất cả phiền não trần lao che lấp con đường trở về Niết-bàn của mình.
Sư thượng đường:
– Người xưa nói “Rời bỏ thân thể, dẹp thông minh, lìa hình bỏ trí, đồng với đại đạo”. Bấy giờ hãy nói là người nào san thi thư, định lễ nhạc. Lại thấu hiểu chăng? Lễ rằng lễ rằng, lụa ngọc là thế ư? Nhạc rằng nhạc rằng, chuông trống là thế ư?
Người xưa nói, muốn đạt đạo lớn thì phải rời bỏ thân thể, tức là quên thân; dẹp thông minh là dẹp mọi kiến thức. Ngoài lìa cảnh quên thân, trong rời bỏ kiến thức, như vậy mới hợp với đại đạo. Bấy giờ hãy nói là người nào san thi thư, định lễ nhạc? Ngài nhắc người xưa nói, rồi hỏi ngay lúc ấy là người nào san thi thư, định lễ nhạc? Đâu không biết Khổng Tử là người san thi thư, định lễ nhạc. Sự thông minh trí tuệ của Khổng Tử làm lợi ích cho hậu lai, nhưng tại sao ở đây ngài lại hỏi? Lại thấu hiểu chăng? Lễ rằng lễ rằng, lụa ngọc là thế ư? Nhạc rằng nhạc rằng, chuông trống là thế ư? Có ai thấu hiểu chỗ đó không?
Tăng hỏi:
– Nghe Thầy nói, chỗ mây mù mịt ngọn Độc Tú hiện bày, trong trăng mờ mờ nước Lặc Đàm lấp lánh. Đâu chẳng phải cảnh Bảo Phong ư?
Sư đáp:
– Nếu là cảnh Bảo Phong, nhờ ngươi chín chắn xem.
Tăng hỏi:
– Thế nào là người trong cảnh?
Sư đáp:
– Xem lấy khi lệnh hành.
Tăng hỏi:
– Chỉ như nương lời cần hiểu tông chớ tự lập quy củ, thế nào là tông của Hòa thượng?
Sư đáp:
– Nên biết ngoài mây trên ngàn chót, riêng có tùng linh sương lạnh mang.
Tuyết rơi, Tăng hỏi:
– Tổ sư Tây sang thì không hỏi, thời tiết nhân duyên việc thế nào?
Sư đáp:
– Một mảnh hai mảnh ba bốn mảnh, rơi trong con mắt vẫn không tiến.
Chỗ mây mù mịt ngọn Độc Tú hiện bày, trong trăng mờ mờ nước Lặc Đàm lấp lánh. Độc Tú là ngọn núi đẹp cao vót, Lặc Đàm là cái đầm lớn. Có vị tăng nghe ngài thường nói như thế nên nêu ra hỏi, phải đó là cảnh Bảo Phong không? Ngài đáp: Nếu là cảnh Bảo Phong, nhờ ngươi chín chắn xem. Nếu cho đó là tả cảnh Bảo Phong thì ngươi hãy chín chắn xem.
Tăng hỏi: Thế nào là người trong cảnh? Ngài đáp: Xem lấy khi lệnh hành. Lệnh hành là đang thực hành điều lệnh, ví dụ khi đánh hét, hoặc lúc hỏi đáp. Ông muốn biết người trong cảnh, hãy xem khi thấy ta hành lệnh.
Tăng hỏi: Thế nào là tông phong của Hòa thượng? Ngài đáp: Nên biết ngoài mây trên ngàn chót, riêng có tùng linh sương lạnh mang. Ngoài ngàn chót núi cao khỏi mây, trên đó có một cây tùng linh đang đẫm sương lạnh, đó là tông của ta.
Tuyết rơi, Tăng hỏi: Tổ sư Tây sang thì không hỏi, thời tiết nhân duyên việc thế nào? Tăng hỏi về thời tiết nhân duyên, ngài đáp: Một mảnh hai mảnh ba bốn mảnh, rơi trong con mắt vẫn không tiến. Một mảnh, hai mảnh, ba bốn mảnh, là chỉ cho tuyết rơi trong câu nói ở trên. Thấy tuyết rơi tức biết đang mùa đông.
Những câu hỏi đáp này mới nghe quá lạ lùng, nhưng hiểu rồi thấy rất lý thú. Thời tiết nhân duyên ngay hiện tại, lại tìm hỏi mai mốt, năm này năm kia. Một mảnh tuyết rơi mát, hai mảnh tuyết rơi mát, ba bốn mảnh tuyết rơi mát mà không thấy, không chịu nhận ra, cứ hỏi chuyện năm trước làm gì? Hiện tại đây thôi.
Đến niên hiệu Kiến Viêm năm thứ hai (1128) ngày mùng bảy tháng giêng, Sư tịch.
Sư họ Ổ, quê ở Thủy Hưng, Nam Hùng, lúc trẻ là thư sinh nổi tiếng. Năm mười chín tuổi Sư bị mù mắt, cha mẹ hứa cho xuất gia, con mắt Sư sáng lại. Sư đến nương với Sa-môn Huệ Toàn ở chùa Long Sơn. Năm sau thi Kinh nghiệp, Sư chỉ dâng thi liền được xuất gia. Sư tiếp trụ viện của Thầy chẳng thọ giới luật.
Thiền sư Tổ Tâm hiệu Hối Đường, ở tại chùa Hoàng Long. Ngài là đệ tử của thiền sư Huệ Nam tông Lâm Tế.
Ngày xưa tu không đơn giản, chúng ta hiện nay có phước hơn nhiều. Đời Tống muốn làm tăng thì phải đi thi, thi đậu mới được làm tăng. Chùa thì phải quan triều đình mới được mời trụ trì, chứ không phải ai muốn trụ trì cũng được.
Một hôm, Sư bỏ chùa vào tùng lâm yết kiến thiền sư Văn Duyệt ở Vân Phong, dừng lại đây ba năm. Sư khổ vì cơ phong cứng cỏi, bèn cáo từ thiền sư Duyệt ra đi. Duyệt bảo:
– Hãy đến nương với Huệ Nam ở Hoàng Bá.
Sư đến Hoàng Bá ở bốn năm, tuy tri hữu mà cơ chẳng phát. Sư từ giã trở lại Vân Phong, đến nơi thiền sư Duyệt đã tịch. Nhân đó, Sư đến tựa ở Thạch Sương mà không tham vấn. Sư thử xem Truyền Đăng đến đoạn “Tăng hỏi thiền sư Đa Phước: Thế nào là một vườn tre của Đa Phước? Đa Phước đáp: Một cây hai cây nghiêng. Tăng thưa: Chẳng hiểu. Đa Phước nói: Ba cây bốn cây cong.” Khi ấy, Sư liền giác ngộ hiểu rõ được hai thầy.
Sự khổ vì cơ phong cứng cỏi, bèn cáo từ thiền sư Duyệt ra đi. Ở chỗ Thiền sư Văn Duyệt cơ phong khó vào, nên ngài từ giã ra đi. Duyệt bảo: Hãy đến nương với Huệ Nam ở Hoàng Bá.
Ngài đến Hoàng Bá ở bốn năm, tuy tri hữu mà cơ chẳng phát. Tri hữu là biết mình có cái đó nhưng cơ duyên chưa phát, chưa có một tiếng “À!” Có hai thứ tiếng, một tiếng thì nghi, một tiếng thì ngộ. Tiếng “ủa là nghi. Ủa vậy sao? Tiếng à tức là ngộ. À! Thế à! Đây là những chữ đặc biệt trong nhà thiền dùng.
Trở lại Vân Phong thì thầy đã tịch, ngài đến nương Thạch Sương. Ngài xem Truyền Đăng Lục, đến đoạn Tăng hỏi thiền sư Đa Phước: Thế nào là một vườn tre của Đa Phước? Ở chùa Đa Phước có trồng tre nhiều, nên vị tăng này mới nêu ra hỏi. Tăng hỏi vườn tre là hỏi vườn tre thật hay muốn nói gì? Đa Phước đáp: Một cây hai cây nghiêng. Vị tăng nói: Không hiểu. Đa Phước nói: Ba cây bốn cây cong. Đọc đến đây ngài ngộ, trở về trình bày với thầy mình. Ngài ngộ chỗ nào? Phần này để bí mật ở đó, không nói hết.
Sư liền đi thẳng đến Hoàng Bá. Vừa mới trải tọa cụ, Huệ Nam cười nói:
– Ngươi vào thất của ta.
Sư cũng thích thú vui mừng thưa:
– Việc lớn xưa nay như thế, Hòa thượng cần gì dạy người khán thoại, hạ ngữ, trăm cách sưu tầm?
Huệ Nam đáp:
– Nếu chẳng dạy ông tầm cứu như thế, đến chỗ không dụng tâm tự thấy tự nhận, là ta đã chôn vùi ngươi vậy.
Sư thong thả chìm lặng ở trong chúng, thường đến thưa hỏi về cú ngữ của Vân Môn. Huệ Nam bảo:
– Biết là việc bên liền thôi, ông dùng nhiều công phu làm gì?
Sư thưa:
– Chẳng đúng. Nếu còn có chút nghi, chẳng đến vô học đâu thể tung hoành ngang dọc xoay trời chuyển đất được!
Huệ Nam hứa nhận.
Việc lớn xưa nay như thế, Hòa thượng cần gì dạy người khán thoại, hạ ngữ, trăm cách sưu tầm? Việc lớn xưa nay đơn giản như vậy. Hỏi tre thì đáp một cây hai cây nghiêng, Tăng chưa hiểu thì ngài trả lời ba cây bốn cây cong. Đơn giản như vậy. Hòa thượng bảo người khán thoại đầu làm chi cho nhức đầu khổ sở. Hoặc là hạ ngữ đáp câu này câu kia rồi ăn đòn hoài khổ vậy!
Huệ Nam đáp: Nếu chẳng dạy ông tầm cứu như thế, đến chỗ không dụng tâm tự thấy tự nhận, là ta đã chôn vùi ngươi vậy. Nếu ta không dùng phương tiện thì ông cứ thong thả biết chừng nào ngộ. Nhờ có những phương tiện đó mới nghiên tầm, tra cứu, tâm lần lần lặng xuống, mới có phút giây ngộ.
Ngài thong thả chìm lặng ở trong chúng, thường đến thưa hỏi về cú ngữ của Vân Môn. Lúc đó ngài sống thầm lặng, ngộ rồi mà không ai biết, cứ thầm lặng ở trong chúng bình thường. Ngài thưa hỏi các câu của Vân Môn chưa hiểu.
Huệ Nam bảo: Biết là việc bên liền thôi, ông dùng nhiều công phu làm gì? Biết là việc bên liền thôi, biết là việc bên đó như vậy, thôi hỏi thêm chi cho phiền. Ngài thưa: Chẳng đúng. Nếu còn có chút nghi, chẳng đến vô học, đâu thể tung hoành ngang dọc xoay trời chuyển đất được! Nếu còn có chút nghi ngờ chưa rõ thì làm sao tự tại ngang dọc, xoay trời chuyển đất được. Huệ Nam hứa nhận.
Sau đó, Sư đến yết kiến thiền sư Khả Chân ở Thúy Nham. Khả Chân tiếp Sư lời nói rất lạ. Sư dừng ở đây hai năm, Khả Chân quy tịch. Sư trở lại Hoàng Bá, Huệ Nam dạy phân tòa tiếp độ tăng chúng.
Đến Huệ Nam dời trụ Hoàng Long, Sư sang yết kiến thiền sư Hiểu Nguyệt ở Lặc Đàm. Hiểu Nguyệt dùng kinh luận tinh nghĩa được nhập thần, những vị đồng hàng ở các nơi nghe thế đều cười, bảo là chủ yếu không tự hết đi, lại thả một cây cầu vào hang sâu. Sư nói:
– Kia dùng cái đắc của hữu đắc, giữ trước ngừa sau. Ta dùng cái học của vô học, trăm sông về biển.
Phân tòa tức là chia tòa giáo hóa đồ chúng.
Ngài Hiểu Nguyệt khác hơn các thiền sư khác. Các vị khác chỉ nói thoại rồi thôi, còn ngài thì lấy kinh luận, những chỗ nghĩa thâm sâu, giảng dạy thấu đáo. Các vị kia cười, bảo là cái chủ yếu không tự hết đi, nghĩa là phải buông hết đi, còn thả một cây cầu vào hang sâu làm gì. Xem việc học kinh điển như cây cầu vào hang.
Ngài nói: Kia dùng cái đắc của hữu đắc, giữ trước ngừa sau. Ta dùng cái học của vô học, trăm sông về biển. Ngài nói ngài Hiểu Nguyệt dùng cái đắc của hữu đắc, là giữ trước ngừa sau. Còn ngài thì dùng cái học của vô học, vì trăm sông về biển, trăm ngàn kinh điển đều trở về chỗ chân thật, giống như trăm sông đều chảy về biển. Ngài là thiền sư ngộ đạo rồi mà còn không chê việc học. Ngài thấy rằng Phật tổ dạy không gì khác, chủ yếu là chỉ về chỗ chân thật của chính mình. Người học rộng thì có phương tiện nhiều, sự giáo hóa dễ. Nếu cố chấp chỗ sở đắc bao nhiêu đó, rốt cuộc không có phương tiện.
Sư do có chút bệnh dừng trụ ở Chương Giang. Chuyển vận phán quan là Hạ Ỷ Công Lập có nhã ý học thiền, gặp Dương Kiệt Thứ Công than rằng:
– Tôi đến Giang Tây hận không gặp được thiền sư Huệ Nam.
Thứ Công nói:
– Có Thượng tọa Tổ Tâm ở Chương Giang, Công hãy đến thưa hỏi chẳng thiết gặp Huệ Nam.
Công Lập liền đến ra mắt Sư, cùng đàm luận tâm đầu ý hợp. Bàn Triệu Luận đến câu “Hội muôn vật làm chính mình và tình cùng vô tình chung một thể”, khi ấy có con chó nằm dưới bàn hương, Sư lấy cây thước đè giấy gõ con chó, lại gõ cái bàn, nói:
– Con chó hữu tình nên đi, cái bàn vô tình ở lại, tình cùng vô tình đâu thành một thể được?
Công Lập không thể đáp được. Sư tiếp:
– Vừa có suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu từng “Hội muôn vật làm chính mình” ư?
Hai vị bàn về câu của Triệu Luận. Triệu Luận nói: Hội muôn vật làm chính mình và tình cùng vô tình chung một thể. Đã chung một thể sao gõ con chó nó đứng dậy đi, còn gõ cái bàn nó vẫn y nguyên không đi? Cái có biết, cái không biết rõ ràng, không một thể. Công Lập không đáp được. Ngài gỡ rối giùm: Vừa có suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu từng hội muôn vật làm chính mình? Không phải cái bàn, con chó là một thể, muốn thấu đạt một thể thì không suy nghĩ. Khi không nghĩ thì muôn vật đồng một thể, vừa khởi nghĩ thì thành pháp dư, không phải một thể.
Thiền sư Huệ Nam quy tịch, Sư tiếp trụ trì Hoàng Long ngót mười hai năm. Song tánh Sư thật thà không thích theo việc, năm phen xin nghỉ mới được rảnh việc nhàn cư. Tạ Cảnh Ôn, sứ trấn thủ Đàm Châu thấy Quy Sơn thiếu người, đến thỉnh ba phen Sư vẫn từ chối. Sau Tạ Cảnh Ôn thỉnh Sư đến Trường Sa gặp một lần. Sư liền đến. Cảnh Ôn cầu xin nghe pháp yếu. Sư vì ông nói đại cương:
– Ba thừa mười hai phần giáo, giống như nói ăn, chỉ thức ăn cho người. Đã nhờ đó nói thức ăn, cốt nơi mình nếm lấy. Chính mình nếm được, liền rõ biết mùi vị kia là mặn lạt cay đắng. Tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật cũng lại như thế. Chân tánh đã nhân văn tự mà bày, cốt tại chính mình thấy được. Nếu hay thấy được liền rõ biết trước mắt là chân là vọng, là sanh là tử. Đã rõ biết chân vọng sanh tử, xem lại tất cả ngữ ngôn văn tự đều là lời nói hiển bày trọn không có nghĩa thật. Như nay không hiểu bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại thấy nghe hiểu biết. Vì chẳng biết như thật chỗ đến mé chân, nhận cái thấy nghe hiểu biết này làm cái sở kiến của chính mình. Đâu chẳng biết, cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có phân biệt. Nếu không cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng với lông rùa sừng thỏ, trọn không có chỗ nương.
Đoạn này đạo lý quá hay! Kinh điển chỉ là phương tiện chỉ bày danh tự, nếm được hay không là do công phu tu của mình. Cho nên nói giống như nói ăn, chỉ thức ăn cho người. Nếu muốn biết thức ăn là mặn lạt, cay đắng ngọt bùi thì phải nếm. Nếu chỉ nói thức ăn cả ngày, nào bánh bao, hủ tiếu, bánh xèo… nói từ sáng tới chiều mà không ăn thì bụng vẫn đói.
Kinh điển dạy chúng ta phương pháp hay là danh tự để tìm ra cái thật, chúng ta không chịu tìm cái thật, cứ đọc danh tự hoài thì chẳng khác nói chân tâm, Phật tánh, Như Lai tàng… đủ hết mà không nhận ra, dù nói tới đâu cũng không thành. Cốt phải nếm được vị của nó mới là thật, muốn nếm được phải tu đến nơi đến chốn.
Tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật cũng lại như thế. Ngài chỉ thẳng chỗ đó cho chúng ta nhận ra sống được, không còn dùng văn tự quanh co nữa. Chân tánh đã nhân văn tự mà bày, cốt tại chính mình thấy được. Kinh nói chân tâm, Phật tánh đó là văn tự, cốt yếu chúng ta nhận ra nơi mình có chân tâm, Phật tánh. Nhận ra được mới đúng ý của Phật tổ nói.
Nếu hay thấy được liền rõ biết trước mắt là chân là vọng, là sanh là tử. Nếu thấy được chân tâm, Phật tánh, lúc đó biết cái nào là chân, cái nào là vọng, cái nào là sanh, cái nào là tử. Đã rõ biết chân vọng sanh tử, xem lại tất cả ngữ ngôn văn tự đều là lời nói hiển bày trọn không có nghĩa thật. Nhận ra được chân tâm Phật tánh rồi, biết rõ chân vọng rồi, lúc đó mới biết ngôn ngữ chỉ là phương tiện hiển bày, không có gì thật.
Như nay không hiểu bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại thấy nghe hiểu biết. Vì chẳng biết như thật chỗ đến mé chân, nhận cái thấy nghe hiểu biết này làm cái sở kiến của chính mình. Bởi vì không biết rõ chỗ như thật, chỗ chân giải thoát nên cứ chấp vào cái thấy nghe hiểu biết của mình, cho đó là kiến giải thật.
Đâu chẳng biết, cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có phân biệt. Nếu không cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng với lông rùa sừng thỏ, trọn không có chỗ nương. Kinh Lăng-nghiêm Phật nói cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có, đó là Phật quở ngài A-nan. Nếu không có cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng như lông rùa sừng thỏ trọn không chỗ nương.
Sư đáp câu hỏi của hàn thị lang Tông Cổ rằng:
Nhân nghe “Khi xưa khai ngộ rỗng thênh không nghi, mà tập khí từ vô thủy đến nay không thể chóng dứt”. Song ngoài tâm không dư một pháp, chẳng biết phiền não tập khí là vật gì mà muốn dứt. Nếu khởi tâm này trở thành nhận giặc làm con. Từ trước đến giờ chỉ có ngôn thuyết, cho đến theo bệnh cho thuốc. Dù có phiền não tập khí, chỉ dùng tri kiến Như Lai trị nó, đều là lời quyền biến phương tiện dẫn dạy. Nếu là quyết định có tập khí để trị, lại là ngoài tâm có pháp mà có thể hết ấy. Ví như con linh quy lấy đuôi khỏa dấu, dấu lại hiện rõ. Nên nói, đem tâm dụng tâm lại thấy bệnh sâu. Nếu hay sáng tâm, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, tâm pháp đã không, lại muốn dạy hết cái gì.
Hàn thị lang là chức danh, Tông Cổ là tên. Dẫn người xưa nói, khi khai ngộ rồi thì thấy nó rỗng không thênh thang không còn nghi nữa, nhưng tập khí từ vô thủy đến nay không thể chóng dứt. Tại sao tập khí tới giờ chưa chịu hết? Ngài lặp lại câu hỏi của ông và giải thích: Song ngoài tâm không dư một pháp, chẳng biết phiền não tập khí là vật gì mà muốn dứt. Nếu ngoài tâm không có một pháp thì tập khí phiền não cũng ở trong tâm, đã ở trong tâm rồi thì ngộ tâm là được còn muốn dứt làm chi? Nếu khởi tâm này trở thành nhận giặc làm con, còn nghĩ dứt tức thấy nó thật, là nhận giặc làm con.
Từ trước đến giờ chỉ có ngôn thuyết, cho đến theo bệnh cho thuốc. Dù có phiền não tập khí, chỉ dùng tri kiến Như Lai trị nó, đều là lời quyền biến phương tiện dẫn dạy. Nếu nói rằng có tập khí, dùng tri kiến Như Lai để trị, cũng là phương tiện quyền biến. Nếu là quyết định có tập khí để trị, lại là ngoài tâm có pháp, mà có thể hết ấy. Ví như con linh quy lấy đuôi khỏa dấu, dấu lại hiện rõ. Nên nói, đem tâm dụng tâm lại thấy bệnh sâu. Nếu cho rằng có tập khí thật để trị, tức là ngoài tâm có pháp. Tâm thể thênh thang trùm khắp, bao nhiêu tập khí vọng tưởng đều là hư dối không thật, cần gì phải trị, chỉ biết là đủ rồi. Muốn trị thì thành bệnh.
Nếu hay sáng tâm, ngoài tâm không pháp, ngoài pháp không tâm, tâm pháp đã không, lại muốn dạy hết cái gì. Nếu sáng được tâm thì thấy ngoài tâm không có pháp nào khác, ngoài pháp không tâm. Bởi vì muôn pháp không ngoài, không rời tâm. Tâm pháp hai thể là không, đã là không thì muốn trừ cái gì, muốn cái gì hết?
Sư dạo kinh đô, phò mã đô úy là Vương Công Săn thành tâm lễ đón và cất am ở ngoài Quốc môn. Sư ở đây thời gian, lại sang phương Nam dạo Lô Sơn. Bành Khí Tư trấn thủ Cửu Giang gặp Sư, Khí Tư thong dong hỏi:
– Khi người lâm chung có chỉ quyết chăng?
Sư đáp: – Có.
Khí Tư thưa: – Xin được nghe lời này.
Sư bảo: – Đợi Khí Tư chết liền nói.
Khí Tư đứng dậy kính trọng nói:
– Việc này phải là Hòa thượng mới được.
Chỉ quyết tức là yếu chỉ quyết định. Bành Khí Tư hỏi, khi chết có yếu chỉ quyết định gì không? Ngài nói có. Khí Tư yêu cầu nói cho nghe. Ngài nói: Đợi Khí Tư chết liền nói, chừng nào ông chết tôi sẽ nói. Vị quan này khen ngợi: Việc này phải là Hòa thượng mới được. Hòa thượng mới nói câu đó, chứ người thường không thể nói được như thế. Nếu có người hỏi chỉ quyết khi chết thì chúng ta sẽ nói, khi chết phải giữ tâm thanh tịnh, nhớ niệm Phật… Ngài nói, đợi khi ông chết tôi sẽ nói. Chỉ quyết của nhà thiền là cái hiện tiền, nói trước nói sau đều sai, ngay hiện tiền thấy được thì đúng, còn khi khác thì trật.
Sư từng làm bài kệ:
Bất trụ Đường triều tự
Nhàn vi Tống địa tăng
Sanh nhai tam su nap
Cố cựu nhất chi đằng.
Khất thực tùy duyên khứ
Phùng sơn nhậm ý đăng
Tương phùng mạc tương tiểu
Bất thị Lãnh Nam Năng.
Dịch:
Chùa triều Đường chẳng trụ
Làm tăng đất Tống nhàn
Sanh nhai ba vật chánh
Cố cựu một cây hèo.
Tùy duyên đi khất thực
Gặp núi mặc tình leo
Thấy nhau chớ cười mỉm
Chẳng phải Năng Lãnh Nam.
Đọc bài thơ này khả dĩ thấy được phẩm cách của Sư.
Đời của ngài có chùa chiền, sự nghiệp gì không? Chùa triều Đường chẳng trụ, làm tăng đất Tống nhàn. Ngài sanh vào thời nhà Tống, nên không còn ở chùa triều Đường nữa, mà sang làm tăng đất Tống. Sanh nhai ba vật chánh, cố cựu một cây hèo. Ba vật chánh là y bát tọa cụ, thêm một vật thân thiết nữa là cây gậy. Tùy duyên đi khất thực, gặp núi mặc tình leo, đời ngài chỉ có bốn vật đó mang theo mình, tùy duyên đói thì đi khất thực, gặp núi thì leo qua. Thấy nhau chớ cười mỉm, chẳng phải Năng Lãnh Nam, ngài nói tôi không phải là Lục tổ. Đọc bài thơ này chúng ta có thể thấy được phẩm cách của ngài.
Sư tuổi đã già lại dời am vào chốn rừng sâu, bặt người lui tới hơn hai mươi năm. Mỗi khi đến ngày kỵ của thiền sư Huệ Nam, Sư làm bài kệ:
Tích nhân khứ thời thị kim nhật
Kim nhật y nhiên nhân bất lại
Kim ký bất lại tích bất vãng
Bạch vân lưu thủy không bồi hồi.
Thùy vân xứng xích bình, trực trung hoàn hữu khúc
Thùy vân vật lý tề, chủng ma hoàn đắc túc
Khả lân trì trục thiên hạ nhân
Lục lục nguyên lai tam thập lục.
Dịch:
Người xưa ra đi ngày này thật
Ngày nay như cũ người chẳng về
Nay đã chẳng về, xưa chẳng đến
Mây trắng nước trôi luống bồi hồi.
Ai bảo cân thước bằng, trong ngay lại có cong
Ai bảo vật lý đồng, gieo gai lại được lúa
Đáng thương lận đận thảy mọi người
Sáu sáu xưa nay là băm sáu.
Người xưa ra đi ngày này thật, ngày nay như cũ người chẳng về. Hai câu đầu nhắc lại ngài Huệ Nam ngày xưa ra đi ngày này, ngày kỵ là ngày Thầy mình đi, ngày nay như cũ nhưng Thầy đi rồi không trở lại nữa. Khi đi mà không về thì thấy gì? Nay đã chẳng về, xưa chẳng đến, mây trắng nước trôi luống bồi hồi. Chỗ không về không đến không đi đó là gì? Chỉ thấy mây trắng, nước trôi quanh quẩn. Đó là hiện tại.
Ai bảo cân thước bằng, trong ngay lại có cong. Nơi thế gian muốn biết nặng bao nhiêu thì dùng cân, muốn biết mực thước tới đâu thì phải đo. Cân và thước là để đặt ra giá trị công bằng. Nhưng tại sao đây nói, trong ngay lại có cong? Vì chúng ta luôn đòi hỏi mọi người phải công bằng, trong nhà thì đòi cha mẹ phải công bằng, trong chúng thì đòi thầy phải công bằng. Nhưng có công bằng được không?
Trong nhà những đứa hiếu thảo dễ dạy thì thương nhiều, hay đứa ngỗ nghịch thương nhiều? Cha mẹ đối với con cái lẽ ra công bằng, nó là máu thịt của mình, nhưng cũng khó mà công bằng. Trong chùa, thầy tổ công bằng với học trò đệ tử được không? Đệ tử dạy đâu nghe đó, phân công việc gì đều chu toàn, làm xong mọi công tác không có sơ thất hư hao; lại có đệ tử dạy thì cự cãi, làm đâu thất bại đó, Thầy sẽ thương sao cho công bằng đây?
Nếu chúng ta đòi công bằng trong mọi trường hợp thì sẽ luôn luôn bất mãn, thấy ở đâu cũng không có công bằng, từ trên trời tới dưới đất. Người sanh trên cõi trời tùy phước, có người tới bữa ăn được bát vàng cơm ngon, có người thì bát bạc cơm dở hơn. Do nhân duyên xử sự của mỗi người nên báo ứng không công bằng. Đây nói câu chí lý cân thước bằng, trong ngay lại có cong. Đó là bài học sống để cho chúng ta biết, không nên đòi hỏi bên ngoài mà không thấy được mình.
Ai bảo vật lý đồng, gieo gai lại được lúa. Vật lý lẽ là đồng, nhưng tại sao gieo gai lại được lúa, gieo cái này mà được cái kia? Cũng như nói làm lành thì gặp lành, làm dữ thì gặp dữ, mà hiện tại có người làm dữ lại không gặp dữ, còn người làm lành sao cũng gặp tai nạn liên miên? Mới biết rằng, còn có cộng thêm cái gì trong đó nữa, chứ không phải chỉ bấy nhiêu thôi.
Ngài nói, đáng thương lận đận thảy mọi người. Mọi người lận đận vì cứ cố chấp, đòi chỗ này đồng chỗ kia công bằng, mà chính mình không thấu suốt lẽ thật. Sáu sáu xưa nay là băm sáu, sự thật của cuộc đời là như vậy, đừng đòi hỏi gì khác rồi khổ đau. Ý nghĩa thật rõ ràng.
Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ ba (1100) giữa đêm ngày mười sáu tháng mười một, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi, 55 tuổi hạ. Vua ban hiệu là Bảo Giác.
Sư họ Trịnh, quê ở Văn Hương, Thiểm Phủ. Họ Trịnh ở thế tục phần lớn làm công khanh. Sư sanh ra có những điều quái lạ, mồ côi mẹ sớm, thờ kế mẫu rất chí hiếu mà không được thương. Kế mẫu hà khắc thường hành hạ Sư, cha thương xót bảo đi du học bốn phương. Sư đến Bắc Tháp ở Phục Châu, nghe kỳ túc Quảng Công thuyết pháp cảm động đến rơi lệ. Sư ở lại đây thờ Quảng Công làm thầy, Quảng Công cho Sư hiệu là Khắc Văn. Đến năm hai mươi lăm tuổi thi sở học, được xuất gia thọ giới Cụ túc.
Sư học kinh luận đều được thấu đáo. Sư đi học các lớp giáo lý ở Kinh Lạc, nhân kinh hành tại hành lang điện Long Môn, thấy đắp tượng một vị Tỳ-kheo con mắt như ở trong định. Bỗng nhiên Sư tự mất, bảo người bạn rằng:
Chỗ ta chất chứa như Ngô Đạo Tử vẽ người vật, tuy thật là khéo mà chẳng phải sống.
Khi ấy Sư bỏ đi, nói:
– Ta sẽ sang phương Nam học đạo.
Đây là thiền sư Khắc Văn hiệu Chơn Tịnh ở Lặc Đàm, cũng là đệ tử của ngài Huệ Nam Hoàng Long. Ngài rất hiếu thảo, gặp kế mẫu hà khắc nên cha nóng ruột bảo đi du học.
Sư đến Bắc Tháp ở Phục Châu nghe kỳ túc Quảng Công thuyết pháp cảm động đến rơi lệ. Sư ở lại đây thờ Quảng Công làm thầy. Quảng Công cho Sư hiệu là Khắc Văn. Đến năm hai mươi lăm tuổi thi sở học, được xuất gia thọ giới Cụ túc. Ngài hiểu kinh, thấu suốt giáo lý, đó là điều hay tốt rồi, nhưng khi thấy tượng Tỳ-kheo ngồi thiền cặp mắt như ở trong định, liền ngộ dù cho hình tướng tô đắp vẽ vời rất đẹp rất giống người thật, nhưng cũng chỉ là vẽ đắp, không phải người sống thật. Như vậy, bao nhiêu sự học của ngài, hiểu được kinh điển giáo lý cũng chỉ là hình vẽ. Ngang đó ngài tự trách, nói rằng chỗ chất chứa của mình giống như Ngô Đạo Tử, người thợ vẽ tài tình của đời trước. Dù vẽ thật khéo giống như người sống, nhưng không phải là người sống. Từ đó, ngài sang phương Nam học đạo.
Qua đoạn này chúng ta thấy, chấp vào hiểu biết của mình là bệnh, cái hiểu chưa đến được cái thật, cần phải thấu được cái thật. Đa số người hay hỏi nhau, hỏi trên danh từ, thế nào là chân tâm… Dùng danh từ giải thích chân là chân thật, tâm là tâm hiểu biết, tâm hiểu biết chân thật đó là chân tâm… Đem ngôn ngữ biện luận cả trăm năm, người hỏi và người nói không ai hiểu gì, cũng không ai thấy được chân tâm. Chân tâm là cái linh động của mỗi người đang sống, nhận được cái đó là thấy, không nhận được thì dù giải thích bao nhiêu nghĩa cũng không thấy được.
Niên hiệu Trị Bình năm thứ hai (1065), Sư an cư tại Đại Quy. Ban đêm nghe vị tăng tụng lời Vân Môn, “Tăng hỏi: Phật pháp như trăng trong nước phải chăng? Vân Môn đáp: Sóng xanh không đường thoát”, Sư hoát nhiên có tỉnh.
Câu đáp không phải là lời thật, nhằm vào ý nghĩa câu hỏi. Phật pháp như trăng trong nước phải chăng? Lẽ ra nói phải hay không phải, nhưng ngài Vân Môn chỉ nói: Sóng xanh không đường thoát. Nhân đó ngài Chơn Tịnh ngộ.
Khi ấy thiền sư Huệ Nam đang ở núi Hoàng Bá, Sư tìm đến đó, gặp Chơn Giác Duy Thắng làm Thủ tọa. Một hôm Huệ Nam nhắc lời cổ đức “Niệm tán trên lầu chuông, trồng rau dưới chân giường”, bảo chúng hạ ngữ. Duy Thắng nói: “Cọp mạnh ngồi ngay lộ.” Huệ Nam vui vẻ bèn thối viện để Duy Thắng trụ. Thiền sư Huệ Nam về am Tích Thúy an trụ. Sư đến am ba phen mà lời nói chẳng hợp, tự nói: “Lão này chỉ là Tăng tu hành, không hiểu lời nói của ta.”
Sư ra đi, đến Thúy Nham yết kiến thiền sư Thuận. Thuận tri kiến rất cao mà thích nói sắn bìm, nên các nơi gọi là Thuận bà già.
Ba phen trình bày mà ngài Huệ Nam không nhận, Ngài tự cho mình hiểu kinh luật nhiều rồi, trình bày mà Huệ Nam không hiểu, chắc là biết tu chứ không hiểu lời nói của mình, thôi từ giã đi chỗ khác.
Sư ra đi, đến Thủy Nham yết kiến thiền sư Thuận. Thuận tri kiến rất cao mà thích nói sắn bìm, nên các nơi gọi là Thuận bà già, tức là thiền sư Thuận từ bi như bà già, giải thích chỉ dạy hết cho người. Tôi bây giờ chắc họ cũng nói “Từ bà già”. Giải thích kinh điển bị cho là sắn bìm; phải nói thẳng, nói không cho nghĩ nghị mới gọi là cao.
Thuận hỏi Sư: – Vừa rời chỗ nào?
Sư thưa: – Hoàng Bá.
Thuận hỏi: – Am chủ được an vui chăng?
Sư thưa: – An vui.
Thuận hỏi: – Ông người xứ nào?
Sư thưa: – Quan Tây.
Thuận bảo:
– Sao lời nói chẳng giống người Quan Tây?
Sư thưa: – Đi du học hồi nhỏ.
Thuận hỏi: – Làm Tăng tại đâu?
Sư thưa:
– Xuất gia với Hòa thượng Quảng tại Bắc Tháp. Hòa thượng Quảng cùng Hòa thượng Tú đồng tham Song Tuyền Úc.
Thuận cười nói:
– Thiền sư Khoảnh cùng Nột Tổ Ấn tham vấn hai vị đại lão này, mà không hiểu ngữ thoại kia. Đến tôi hiện nay tham được chút ít thiền, cần thấy hai vị mà đã thiên hóa.
Thuận lại hỏi:
– Tân trụ trì Hoàng Long thế nào?
Sư thưa:
– Khỏe mạnh.
Thuận nói:
– Y chỉ hạ được một chuyển ngữ hay liền trụ Hoàng Long, về thiền còn chưa mộng thấy.
Sư nhân đây đại ngộ tông chỉ Lâm Tế, liền thấy chỗ dùng của Huệ Nam, Sư bèn làm mấy bài tụng gửi về. Huệ Nam đọc qua rất tán thưởng. Sư trở về tham lễ.
Huệ Nam hỏi: – Từ chỗ nào lại?
Sư thưa: – Thúy Nham.
Huệ Nam bảo: – Đúng lúc lão tăng không ở nhà.
Sư hỏi: – Chưa biết đi đâu?
Huệ Nam nói:
– Phổ thỉnh ở Thiên Thai, vân du tại Nam Nhạc.
Sư thưa:
– Nếu vậy học nhân cũng được đi tự tại.
Huệ Nam hỏi:
– Giày mang dưới chân được ở đâu?
Sư thưa: – Lô Sơn, bảy trăm tiền mua được.
Huệ Nam bảo: – Đâu từng tự tại?
Sư chỉ thưa: – Đâu từng chẳng tự tại.
Huệ Nam kinh ngạc. Ở đây thời gian lâu, Sư từ giã đến dưới hội Thúy Nham Thuận.
Thầy trò đối đáp như nói đùa chơi. Sau khi ngộ được tông chỉ Lâm Tế, ngài trở về tham lễ, Huệ Nam đích thân nói: Vừa gặp lão tăng không ở nhà. Trả lời như vậy có phải nói gạt không? Ngài hỏi: Chưa biết đi đâu? Không ở nhà vậy chứ đi đâu? Huệ Nam nói: Phổ thỉnh ở Thiên Thai, vân du tại Nam Nhạc. Phổ thỉnh tức là được mời thọ trai ở Thiên Thai, miền bắc Trung Quốc; mà dạo chơi ở Nam Nhạc, thuộc về miền nam. Ý nói khả năng tự do tự tại. Người xưa đối đáp như trên trời trên mây, không có cái gì hiện thực cho mình hiểu. Đối diện mà nói không có ở nhà, hỏi ở đâu thì nói được phổ thỉnh ở Thiên Thai, vân du tại Nam Nhạc.
Ngài thưa: Nếu vậy học nhân cũng được đi tự tại, Ngài được mời đằng kia mà đi ở đây, thật là tự do tự tại, con cũng tự tại như Ngài. Huệ Nam hỏi: Giày mang dưới chân được ở đâu? Nếu nói tự tại thì giày ông đang mang dưới chân là được ở đâu? Ngài thưa: Lô Sơn bảy trăm tiền mua được. Tốn tiền tức là hết tự tại rồi, nên Huệ Nam bảo: Đâu từng tự tại? Ông mua mắc như vậy là không tự tại. Ngài đáp: Đâu từng chẳng tự tại, dù mua bao nhiêu tôi cũng vẫn tự tại. Nghe xác nhận câu đó, ngài Huệ Nam kinh ngạc, biết rõ đây là người đã thấy thật.
Thiền sư Huệ Nam trụ Hoàng Long, Sư cùng đến đó. Huệ Nam bảo:
– Vừa rồi sai thị giả cuốn rèm, hỏi y: Khi cuốn rèm lên thì thế nào? Y đáp, xem thấy thiên hạ. Hỏi, khi buông rèm xuống thì thế nào? Y đáp, nước rỉ chẳng thông. Hỏi, khi chẳng cuốn chẳng buông thì thế nào? Y đáp không được. Ngươi thử đáp thay xem!
Sư thưa:
– Hòa thượng thế thị giả xuống nhà Niết-bàn mới được.
Huệ Nam gằn giọng nói:
– Người Quan Tây quả không đầu não.
Bèn nhìn tăng bên cạnh. Sư chỉ vị tăng ấy nói:
– Chỉ vị tăng này cũng chưa mộng thấy.
Huệ Nam cười to.
Ngài đối đáp với thầy dường như thất lễ. Khi ngài Huệ Nam bảo thị giả kéo rèm lên, hỏi: Cuốn rèm lên thì thế nào? Thị giả đáp: Xem thấy thiên hạ. Hỏi: Khi buông rèm xuống thì thấy thế nào? Đáp: Nước rỉ chẳng thông.
Hỏi: Khi chẳng cuốn chẳng buông thì thế nào? Thị giả đáp không được, Huệ Nam bảo ngài đáp thử. Ngài thưa: Hòa thượng thế thị giả xuống nhà Niết-bàn mới được. Nhà Niết-bàn là nhà dưỡng bệnh. Tại sao bảo Hòa thượng thế thị giả xuống nhà dưỡng bệnh mới được? Vì còn bảo kéo lên hạ xuống, lại hỏi không kéo không buông thì sao… ba bốn lần, như vậy là bị bệnh.
Huệ Nam gằn giọng nói: Người Quan Tây quả không đầu não, tức là không biết phải quấy, rồi nhìn tăng bên cạnh. Ngài chỉ vị tăng ấy, nói: Chỉ vị tăng này cũng chưa mộng thấy. Huệ Nam cười. Đó là đối đáp thấu suốt. Cái chân thật ấy ai không có, nếu bảo tìm bảo nói ra, chỉ là chuyện nói suông.
Sau khi thiền sư Huệ Nam quy tịch, Sư dạo Hoành Nhạc, trở lại thủ chúng ở Ngưỡng Sơn. Đến niên hiệu Hy Ninh thứ năm (1072), Sư đến Cao An, thái thú Tiền Công Dặc Tiên Hầu ra mắt Sư. Sư lại đến ra mắt Tiền Công, trong bình phong có con chó chạy ùa ra sủa, Sư đứng tránh một bên. Tiền Công giễu nói:
– Thiền giả vẫn hay giáo hóa rắn cọp mà lại sợ chó sao?
Sư đáp:
– Cọp trong núi dễ dẹp, rồng giữ nhà khó trừ. Tiền Công khen rằng:
– Thật danh chẳng dối.
Tiền Công mời Sư trụ Động Sơn, sau trụ Thọ Thánh.
Câu đáp hay ở chỗ nào? Cọp trong núi không tham không chấp, còn rồng hay chó giữ nhà bám chặt nên khó trừ, cái chấp chặt rất khó bỏ. Câu nói quá hay! Đây là những giai thoại đặc biệt của nhà thiền.
Tại Động Sơn, Sư thượng đường dạy chúng:
– Dưới cửa Động Sơn có khi hòa bùn hợp nước, có khi vách đứng ngàn nhẫn. Cả thảy các ông, nghĩ nhằm chỗ hòa bùn hợp nước thấy Động Sơn, Động Sơn chẳng ở chỗ hòa bùn hợp nước. Nghĩ nhằm chỗ vách đứng ngàn nhẫn thấy Động Sơn, Động Sơn chẳng ở chỗ vách đứng ngàn nhẫn. Nghĩ nhằm tất cả chỗ thấy Động Sơn, Động Sơn chẳng ở tất cả chỗ. Ông chẳng cần thấy dây mũi của Động Sơn, ở trong tay Động Sơn toan ngủ mê, nắm dây mũi kéo một cái, chỉ thấy con mắt định động lại chẳng biết nhau. Lại chẳng cần biết Động Sơn, hãy biết chính mình là được.
Câu này chủ yếu là gì? Động Sơn có khi hòa bùn hợp nước, có khi vách đứng ngàn nhẫn, vậy thấy Động Sơn ở đâu? Không phải ở chỗ hòa bùn hợp nước, cũng không ở chỗ vách đứng ngàn nhẫn, tất cả chỗ đều không có. Ngài nói nghe như tầm thường nhưng rất hay: Ông chẳng cần thấy dây mũi của Động Sơn, ở trong tay Động Sơn. Dây mũi con trâu nằm trong tay của Động Sơn. Toan ngủ mê, lúc sắp ngủ mê, nắm dây mũi kéo một cái, chỉ thấy con mắt định động lại chẳng biết nhau. Ý nói Động Sơn có những phương tiện đánh thức, khi mê tự giật dây thì tỉnh lại, không có gì quan trọng. Tóm lại, tất cả các ông không cần biết tôi mà các ông phải biết các ông. Đó là việc tối quan trọng.
Sư trụ trì được mười hai năm, chán sự ồn náo xin nghỉ việc đi dạo Tam Ngô. Khi Sư đến Kim Lăng, Vương Kinh Công mới về hưu ở tại Định Lâm, nghe Sư đến ra nghênh đón, ông rất vui mừng đàm đạo trọn ngày. Công hỏi:
– Các kinh ở đầu đều có nêu thời xứ, riêng kinh Viên Giác không thấy là sao?
Sư đáp:
– Giáo lý đốn ngộ diễn bày, là chỉ thẳng cho chúng sanh chỗ nhật dụng hiện tiền chẳng thuộc xưa nay. Hiện giờ lão tăng cùng Tướng công đều nhập Đại quang minh tạng, Du hý tam-muội lẫn làm chủ khách không can dự thời xứ.
Kinh Công rất vui, cùng em lập một ngôi chùa, thỉnh Sư làm Tổ khai sơn thứ nhất.
Vương Kinh Công nghi hỏi ngài, thường mở đầu các kinh có câu “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại…”, nhưng tại sao kinh Viên Giác lại không có, như thế phải do Phật nói không? Ngài đáp, sở dĩ kinh Viên Giác không chỉ thời xứ là vì giáo lý đốn ngộ, chỉ thẳng cho chúng sanh chỗ nhật dụng hiện tiền mà thôi. Chỗ nhật dụng hiện tiền này hiện giờ tôi và ông đang nói chuyện, đâu không ở trong Đại quang minh tạng, ở trong Du hý tam-muội, làm chủ làm khách với nhau. Vương Kinh Công nghe rất vui mừng.
Sư đăng tòa nói:
– Đại chúng! Một hội ngày nay cần biết chăng? Là tịnh duyên thời tiết thành Phật của đại chúng. Hội hôm nay là do Thừa tướng Kinh quốc công cùng Phán phủ tả thừa cúng nhà hiến vườn rừng làm chùa, thỉnh sơn tăng xiển dương Tổ ý. Quý vị lại hiểu chăng? Chỉ thẳng cho đại chúng tức tâm kiến tánh thành Phật. Đại chúng tin được chăng? Nếu tự tin được liền biết tánh mình xưa nay thành Phật. Dù có chưa tin, cũng sẽ thành Phật. Chỉ vì mê đã lâu, chợt mới nghe nói thật khó mà tin được.
Tất cả thiện tri thức trong thiên hạ xưa nay, tất cả thiền đạo, tất cả ngữ ngôn, đều là từ trong Phật tánh của thiện tri thức lưu xuất dựng lập. Song lưu xuất đó là ngọn, Phật tánh là gốc. Gần đây Phật pháp đáng thương, phần nhiều bỏ gốc theo ngọn, bối chánh hợp tà, chỉ nhận ngôn cú của cổ nhân làm thiền làm đạo, có gì giao thiệp! Dù cho tổ Đạt-ma Tây sang cũng không thiền có thể nói. Chỉ cốt đại chúng tự chứng tự ngộ, tự thành Phật, tự dựng lập tất cả thiền đạo. Huống là thần thông biến hóa, chúng sanh vốn tự đầy đủ chẳng nhờ tìm bên ngoài. Hiện nay phần nhiều người tìm cầu bên ngoài, bởi căn bản tự không có chỗ ngộ, một bề làm khách đếm trân bảo cho người, trọn là hư vọng chẳng khỏi trôi lăn trong sanh tử.
Dù tin hay chưa tin cũng thành Phật. Dù tin hay không tin, Phật cũng không rời mình. Luôn có Phật hiện tại, cho nên đều thành Phật. Nếu tự tin được, liền biết tánh mình xưa nay thành Phật. Bao nhiêu kinh điển đều từ Phật tánh lưu xuất. Giáo lý kinh điển là ngọn, Phật tánh là gốc. Lẽ ra người tu phải tìm tận cái gốc đó, nhưng khổ nỗi cứ chạy theo ngọn, ôm chấp những câu kinh hay lời luận giỏi, mà không chịu thấy Phật tánh của chính mình. Như vậy là bỏ gốc theo ngọn, bối chánh hợp tà. Tổ Đạt-ma từ Tây sang cũng không cho chúng ta cái gì. Ngài không cho mình thành Phật, chẳng qua là chỉ cái sẵn có, mỗi người tự nhận tự ngộ, tự thành Phật.
Huống là thần thông biến hóa, chúng sanh vốn tự đầy đủ chẳng nhờ tìm bên ngoài. Mọi thần thông biến hóa cũng tự sẵn nơi mình, nếu ngộ được gốc thì thần thông biến hóa là cái ngọn sẽ có liền. Chúng sanh có bệnh ham thần thông mà không chịu ngộ Phật tánh, đa số người cứ tìm bên ngoài, nghe nói Phật hiện ở đâu thì chạy tới đó. Nghe ai biết quá khứ vị lai, biết biến hóa hoặc có cái gì lạ thì cho là tuyệt vời, rủ nhau chạy tới tìm cầu. Như vậy là bỏ gốc theo ngọn, giống người làm việc ngân hàng, đếm tiền từ sáng tới chiều mà trong túi trống không. Chúng ta cũng vậy, cứ chạy đầu này cầu, đầu kia kiếm, mà không chịu ngộ, không chịu tu, cũng như người đếm tiền cho ngân hàng vậy thôi.
Đại chúng! Ngày nay hai tướng công kiến lập đại đạo tràng này, làm đại Phật sự, đưa chúng sanh ra khỏi khổ trôi lăn sanh tử, bày hiện diệu tâm tịch diệt rộng lớn xưa nay, khai phát thần thông đại quang minh tạng xưa nay. Chỉ vì mê nên ở trong hàng phàm phu, ngộ thì chính nay là hiền thánh.
Tất cả chúng ta đều sẵn có thể chân thật, thể giác ngộ, vì mê nên làm phàm phu, nếu ngộ thì là hiền thánh rồi.
Đại chúng! Nói nhiều ắt cách đạo càng xa, làm trò cười cho hàng đạo nhân mắt sáng, trong chúng có người mắt sáng chăng? Thời nay Phật pháp lẫn lộn, cốt phân tà chánh khiến mọi người chẳng rơi vào tà kiến, làm con mắt chánh cho trời người. Có chăng? Có chăng?
Sư im lặng giây lâu nói:
– Tôi trọn chẳng dám khinh các người, các người đều sẽ làm Phật.
Sư xuống tòa.
Phân biệt tà chánh, tà tức là chỉ chạy theo bên ngoài, chánh là biết trở về mình.
Tôi trọn chẳng dám khinh các người, các người đều sẽ làm Phật, một câu gọn gàng, câu này xuất xứ từ đâu?
Kinh Công rất vui. Ông kể đạo hạnh của Sư tâu về triều, vua ra chiếu ban hiệu cho Sư là Chơn Tịnh thiền sư. Không bao lâu, Sư chán sự ồn náo trở về Cao An cất am dưới núi Cửu Phong để tên là Đầu Lão. Học giả bốn phương kéo đến. Được sáu năm, Sư lại ra trụ trì Quy Tông. Hai năm sau, Trương Thiên Giác gặp Sư ở Lô Sơn, cố thỉnh Sư trụ trì Lặc Đàm. Không bao lâu, Sư lui về ở Vân Am.
Đầu Lão, đầu là gieo, lão là già, gieo cái thân già này gửi ở đây, gọi là Đầu Lão.
Niên hiệu Sùng Ninh năm đầu (1102) ngày mùng một tháng mười, Sư mắc bệnh. Đến ngày rằm, bệnh Sư nhẹ. Hôm nay Sư đem mọi dụng cụ cần thiết của Sư phân phối cho đệ tử hết. Giữa đêm mười sáu, Sư tắm gội rồi ngồi kiết già, chúng thỉnh thuyết pháp, Sư cười nói:
Kim niên thất thập bát
Tứ đại tương ly biệt
Phong hỏa kỷ ly tán
Lâm hành hưu cánh thuyết.
Dịch:
Năm nay bảy mươi tám
Bốn đại sắp rời rã
Gió lửa đã ly tán
Sắp đi còn gì nói.
Nói xong, Sư viên tịch, thọ 78 tuổi.
Đến ngày ra đi từ giã gọn gàng. Khỏe quá! Tu được như vậy không còn lo gì. Cho nên việc tu quan trọng là phải trở về mình, sống được cái chân thật của mình mới tự do tự tại. Nếu chạy ra ngoài lấy sự hiểu biết thông thuộc làm sự nghiệp thì không thể nào tự tại.
Sư họ Trần, quê ở Thiệu Võ, lúc bé thông minh mẫn tiệp đọc sách chóng thuộc. Cha mẹ mến thương cho học làm thư sinh, chuẩn bị thi tiến sĩ, Sư xin xuất gia tự thệ bỏ ăn, buộc lòng cha mẹ phải cho.
Chúng ta nghĩ, như thuở xưa cha mẹ có con học sắp thi tiến sĩ, có mừng vui không? Thời phong kiến, con sắp đi thi tiến sĩ là danh dự lớn cho gia đình, vậy mà ngài không chịu thi đòi đi tu, có ai vui lòng không? Cha mẹ không cho, ngài quyết định nhịn ăn, cha mẹ buộc lòng phải cho. Ý chí xuất gia của ngài thật mãnh liệt, danh vọng gần kề mà không mến không ưa, dám liều chết đòi đi tu, không phải ở trong hoàn cảnh dễ. Con người của ngài thật siêu xuất.
Được làm đại tăng, Sư đi hỏi đạo, đến Tào Sơn y chỉ với kỳ lão Nhã Công. Thời gian khá lâu, Sư từ giã lên Vân Cư. Xem thấy ở đây núi khe tuyệt đẹp, Sư định chọn làm chỗ ở trọn đời. Đọc Hoa Nghiêm Thập Minh Luận đến câu: “Là chân trí tuệ không thể tánh, vì không hay tự biết không tánh là tánh của không tánh. Vì không hay tự biết không tánh, gọi là vô minh.” Hoa Nghiêm Đệ Lục Địa nói: “Vì không rõ đệ nhất nghĩa, gọi là vô minh. Nên biết chân trí tuệ vốn không tánh nên không hay tự liễu. Nếu gặp liễu duyên mà liễu thì vô minh diệt, đây là yếu môn thành Phật.” Sư nguyện đem pháp môn này làm hưng thịnh Phật giáo. Song hiện nay các nơi ai có thể nói lời này? Rồi tự nói: “Có ông già Tích Thúy (Huệ Nam).” Ngay ngày này Sư đến Hoàng Bá yết kiến thiền sư Huệ Nam.
Ngài đọc Hoa Nghiêm Thập Minh Luận đến câu Là chân trí tuệ không thể tánh, nghĩa là trí tuệ chân thật không có tánh cố định, không có hình thức. Vì không hay tự biết không tánh là tánh của không tánh. Không tánh là lý thật của tất cả pháp. Các pháp không có tự tánh, không tánh là lý thật của nó, nên nói không hay tự biết không tánh nên là tánh của không tánh. Vì không hay tự biết không tánh, gọi là vô minh, vì không biết các pháp không có tự tánh, cứ chấp cái này thật, cái kia có tự thể, cái nọ là cố định… Chấp chặt như thế là vô minh.
Hoa Nghiêm Đệ Lục Địa nói: Vì không rõ đệ nhất nghĩa, gọi là vô minh, bởi không thấu triệt được đệ nhất nghĩa đế, tức chỗ cứu cánh của các pháp, gọi đó là vô minh. Nên biết chân trí tuệ vốn không tánh nên không hay tự liễu. Vì chân trí tuệ không có tự tánh, nên không tự liễu ngộ được. Muốn liễu ngộ thì phải sao? Nếu gặp liễu duyên mà liễu thì vô minh diệt. Như ban đêm, trong nhà có nhiều đồ vật nhưng vì tối nên không thấy, khi đốt đèn lên liền thấy bàn tủ ghế… Ánh sáng đèn là liễu duyên, để nhìn thấy được sự vật. Cũng vậy, chúng ta có một cái đã sẵn tự bao giờ mà vì không thấy không biết nên không nhận ra, đợi có duyên làm sáng tỏ lúc đó mới thấy. Duyên làm sáng ra đó gọi là liễu duyên, còn nhân duyên hay tăng thượng duyên… là những điều kiện giúp đỡ làm cho thành tựu.
Liễu duyên là duyên giúp chúng ta sáng ra cái sẵn có chứ không phải làm cho chúng ta được cái đó. Phật tánh hay là chân trí tuệ của chúng ta tuy có sẵn, nhưng vì vô minh che khuất nên không thấy, khi có thầy lành bạn tốt sáng suốt phá chấp cho mình, gợi lại cho mình thức tỉnh, chấp tan vỡ tức là vô minh tan vỡ, liền nhận ra được cái sẵn có đó. Vì vậy nói nếu gặp liễu duyên mà liễu thì vô minh diệt, đây là yếu môn thành Phật vậy.
Thiền sư Huệ Nam lúc đó ở am Tích Thủy nên gọi là ông già Tích Thủy.
Đêm ấy nói chuyện đến sáng, Huệ Nam chỉ quý mến mà chưa cho nhập thất. Sư luôn luôn trình ngữ, Huệ Nam chỉ lặng thinh. Một hôm nhân lấy hòm kinh, sảy tay đánh rơi tiếng vang nhẹ, Sư liền đốn ngộ. Sư chạy thẳng đến phương trượng trình bày sở ngộ. Huệ Nam nói:
– Ngươi là anh hùng đủ chánh nhãn trong nhà ta, phải khéo gìn giữ.
Khi ấy trong hội nơi đây hàng long tượng lẫn lộn, mà Sư nghị luận vượt hẳn, làm nghiêng cả bốn tòa, tiếng tăm vang dội.
Đêm ấy nói chuyện đến sáng, hai vị đồng đạo thích hợp gặp nhau nên nói chuyện quên ngủ. Huệ Nam chỉ quý mến mà chưa cho nhập thất. Sư luôn luôn trình ngữ, Huệ Nam chỉ lặng thinh. Ngài trình ngữ mà không được chấp nhận.
Về sau, ngài trình sở ngộ, Huệ Nam nói: Ngươi là anh hùng đủ chánh nhãn trong nhà ta, phải khéo gìn giữ. Ấn chứng cho ngài đủ chánh nhãn phải khéo gìn giữ. Câu nói này của ngài Huệ Nam, chỗ khác phê bình là “ái tử bất giác xú”, nghĩa là thương con không biết hôi. Mẹ thương con quá, nên những phân dơ của con cũng không thấy hôi. Tại sao lại phê bình? Bởi trong đạo đối với người ngộ rồi thì vị thầy dùng thuật gì đó làm cho học trò biết mà thôi, chứ không nói trắng ra. Ở đây ngài Huệ Nam khen như thế, là vì thương nên nói thẳng không giấu giếm.
Khi ấy trong hội nơi đây hàng long tượng lẫn lộn, hàng long tượng là chỉ cho những bậc tăng pháp khí, có khả năng đảm đang việc lớn sau này. Trong chúng rồng lẫn với rắn, voi lẫn với sói, tức là phàm thánh lẫn lộn, nhưng ngài nghị luận vượt hẳn, làm nghiêng cả bốn tòa, tiếng tăm vang dội.
Sư đến Song Lãnh, thiền sư Thuận hỏi:
– Lão sư trong am thích hỏi học giả: “Dẹp hết cổ họng môi lưỡi nói lấy một câu.” Thủ tọa từng nói được chăng?
Sư cười rồi nói kệ:
A gia thưởng thổ tam xích huế
Tân phụ tẩy diện mạc trước tỹ
Đạo Ngô đáp thoại đắc yêu côn
Huyền Sa khai thư thị bạch chỉ.
Dịch:
Cha chồng nếm giấm ba tấc lưỡi
Cô dâu rửa mặt rờ trúng mũi
Đạo Ngô đáp thoại được dây lưng
Huyền Sa mở thư là giấy trắng.
Khi ấy Thuận khen là kẻ sĩ danh không uổng.
Những câu thơ của ngài, có câu nào nghĩa lý đàng hoàng không? Đây gọi là những câu nói không động môi lưỡi. Nói cho người suy nghĩ được đó là động môi lưỡi. Người xưa khi bảo, dẹp hết cổ họng môi lưỡi nói lấy một câu, chúng ta sẽ ấm ở chịu thua. Đây ngài nói mà không kẹt, như vậy mới thấy cái hay, thông cảm nhau được.
Niên hiệu Hy Ninh năm đầu (1068), Sư lãnh chúng tại chùa Viên Thông ở Lô Sơn. Học giả quy tụ như chỗ thiền sư Huệ Nam. Mùa xuân năm sau Huệ Nam viên tịch, tháng mười Sư nhận lời thỉnh của bốn chúng khai pháp ở Thạch Môn.
Tăng hỏi:
– Gặp trường thì đùa là sao?
Sư đáp:
– Lò hồng chợt xuất con rùa sắt.
Tăng hỏi:
– Hiên nhà treo trống Sư thân đánh, đầu sào trăm thước việc thế nào?
Sư đáp:
– Sơn tăng chẳng tin kế sống này.
Tăng suy nghĩ. Sư bảo:
– Kẻ chẳng thông minh.
Gặp trường thì đùa là câu của ngài Đặng An Phong. Khi ngài sắp đến chỗ Thạch Đầu, Mã Tổ bảo: Đường Thạch Đầu trơn. Ngài nói: Có cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa. Tăng đem câu này ra hỏi. Câu đó dễ hiểu không? Nếu dễ hiểu thì không đúng với nghĩa ngài muốn nói. Những đoạn trên chúng ta không thể tìm hiểu, đoạn sau đây mới có ý tứ để hiểu.
Tăng lễ bái đứng dậy, buông góc ca-sa xuống, hỏi:
– Khi cởi y lột giáp thì thế nào?
Sư đáp:
– Mừng được hết chiến tranh, cung tên treo trên vách.
Tăng lại vắt góc ca-sa lên hỏi:
– Khi chỉnh lại y giáp thì thế nào?
Sư đáp:
– Chẳng đến bờ Ô Giang, biết anh chưa chịu thôi. Tăng liền hét. Sư bảo:
– Kinh ta!
Tăng vỗ một vỗ. Sư nói:
– Cũng là trong chết được sống.
Tăng lễ bái. Sư nói:
– Tưởng là tài thâu Yên phá Triệu, hóa ra chỉ là kẻ bán muối lậu.
Tăng lễ bái đứng dậy, buông góc ca-sa xuống, hỏi: Khi cởi y lột giáp thì thế nào? Cởi y lột giáp tức là khi tất cả sạch trơn, thì sao? Ngài nói: Mừng được hết chiến tranh, cung tên treo trên vách. Đã hết chiến tranh rồi, đó là lúc nhàn hạ thảnh thơi.
Tăng lại vắt góc ca-sa lên hỏi: Khi chỉnh lại y giáp thì thế nào? Chỉnh lại y giáp tức là đã buông hết rồi, bây giờ muốn vượt lên nữa, tức là muốn tiến đến chỗ cuối cùng mới thôi, ý nói một con đường hướng thượng đó thế nào? Ngài đáp: Chẳng đến bờ Ô Giang, biết anh chưa chịu thôi. Bờ Ô Giang là nơi Hạng Vũ bỏ thân. Ngày xưa nước Sở đánh với nước Hán, Hạng Vũ thất thế bị Hàn Tín bao vây, một người một ngựa chạy về quê hương Cối Kê. Tới bến Ô Giang, do Hàn Tín đã âm mưu với ông lái đò, nên khi thấy Sở vương đến ông liền chèo ghe tới mời qua sông. Hạng Vũ tự mặc cảm không xuống đò, cắt đầu trao cho ông lái đò dâng Hán vương để nhận thưởng. Đó là “nếu chưa tới bến Ô Giang thì chưa thôi”, chạy tới đó rồi mới chấm dứt đời của Sở vương.
Tăng liền hét, ngài bảo: Kinh ta, làm cho ta giật mình. Tăng vỗ một cái, ngài nói: Cũng là trong chết được sống. Tăng lễ bái, ngài nói: Tưởng là tài thâu Yên phá Triệu, hóa ra chỉ là kẻ bán muối lậu. Làm ra vẻ anh hùng lắm, rốt cuộc rồi cũng đầu hàng, chỉ là kẻ tầm thường thôi.
Sư bảo:
– Thiền đức! Nếu hay một niệm hồi quang phản chiếu, nhằm dưới gót chân mình lột giày xem xét coi, đáng gọi là cửa động mở toang, lầu các lớp lớp, mười phương khắp hiện, hải hội đồng bày. Bèn là phàm thánh hiền ngu, núi sông quả đất, dùng Hải ấn tam-muội một ấn mà ấn định, lại không có mảy may rơi sót. Sơn tăng nói như thế, nếu ở trong chúng có bản sắc nạp tăng nghe đó, liền bịt tai mà đi, kia cười vỡ miệng. Đại chúng hãy nói, dưới cửa bản sắc nạp tăng làm sao nói một câu?
Sư im lặng giây lâu nói:
– Tuyết bên trời chôn ngàn thước đá, băng cửa động gãy mấy cây tùng.
Ngài đem hết tình, hết bao nhiêu tâm trí nói cho chúng ta hiểu: Nếu hay một niệm hồi quang phản chiếu, nhằm dưới gót chân mình lột giày xem xét coi. Nhà thiền muốn chỉ chỗ chân thật, thường bảo nhìn lại gót chân, soi lại cái thật của chính mình.
Đáng gọi là cửa động mở toang, lầu các lớp lớp, mười phương khắp hiện, hải hội đồng bày. Người biết như vậy, sẽ thấy cửa động trong khe núi mở hoác, nào là lầu các lớp lớp, tất cả chúng hội mười phương đều hiện bày không giấu giếm. Được như vậy thì sao? Bèn là phàm thánh hiền ngu, núi sông quả đất, dùng Hải ấn tam-muội một ẩn mà ấn định, lại không có mảy may rơi sót. Như thế là đang sống trong Hải ấn tam-muội, ở đâu cũng không thiếu sót.
Sơn tăng nói như thế, nếu ở trong chúng có bản sắc nạp tăng nghe đó, liền bịt tai mà đi, kia cười vỡ miệng. Bản sắc nạp tăng, trong nhà thiền chỉ cho những vị đã mở được con mắt sáng. Những vị này khi nghe nói như vậy thì bịt tai mà đi, cười vỡ miệng. Vì đó là tử ngữ, mà nói trắng ra rồi. Ngài hỏi: Đại chúng hãy nói, dưới cửa bản sắc nạp tăng làm sao nói một câu? Dưới con mắt người đã ngộ, nói sao đây?
Ngài im lặng giây lâu rồi nói: Tuyết bên trời chôn ngàn thước đá, băng cửa động gãy mấy cây tùng. Chỗ đó không còn dùng ngôn ngữ để diễn bày.
Sư thượng đường giây lâu, nhìn xem đại chúng, nói:
Thạch Môn hy hiểm thiết quan lao
Cử mục trùng trùng vạn nhẫn cao
Vô giác thiết ngưu xung đắc phá
Tỳ-lô hải nội tác ba đào.
Dịch:
Thạch Môn nguy hiểm cổng sắt chắc
Đưa mắt trùng trùng muôn nhẫn cao
Trâu sắt không sừng xông được vỡ
Trong biển Tỳ-lô dấy ba đào.
Hãy nói chẳng dính ba đào làm sao nói một câu?
Sư im lặng giây lâu nói:
– Một câu chẳng rảnh Vô Trước hỏi, đến nay vẫn làm tăng lang thang.
Sư xuống tòa.
Thạch Môn nguy hiểm cổng sắt chắc, Thạch Môn là chỗ ngài ở, ý nói tông phong của ngài cao vót, giống như cửa sắt chắc chắn, khó ai có thể vượt qua được.
Đưa mắt trùng trùng muôn nhẫn cao, người nhìn thấy như nó cao vót lớp lớp, nhưng bây giờ có thể phá được không, cái gì phá được?
Trâu sắt không sừng xông được vỡ, trâu sắt có chạy được không mà xông được vỡ? Trâu sắt là tượng trưng cho chỗ vô tri, không sừng là không còn thấy hai bên, tức không phân biệt. Trâu sắt xông tới thì phá vỡ được cổng đó, nếu có phân biệt, có hai bên thì xông phá không vỡ. Xông vỡ được rồi thì thấy gì?
Trong biển Tỳ-lô đấy ba đào. Biển Tỳ-lô là chỉ cho pháp thân. Ngay trong biển pháp thân nổi sóng, nếu người nào xông vào được thì thể nhập pháp thân. Hãy nói, chẳng dính ba đào làm sao nói một câu? Bây giờ không dính ba đào làm sao nói đây?
Sư trụ chưa được tròn năm, tháng sáu Tri sự tranh nhau, không thể ngăn được, Sư liền bảo chúng:
– Lãnh chúng chẳng nghiêm, chánh tọa không đức, tôi có thẹn với Hoàng Long.
Sư gọi Duy-na đánh chuông họp chúng, từ biệt đi hành cước dặn:
– Sau khi tôi tịch hỏa thiêu rồi, lấy xương để trong tháp Phổ Thông, để thấy chết sống không rời thanh chúng.
Nói xong, Sư tịch, thọ 59 tuổi.
Đoạn này chúng ta thấy đau lòng nhất. Có lẽ Tri sự và Thủ tọa hai bên cãi nhau mà ngài khuyên không được, ngài tự trách, sở dĩ trong chúng cãi nhau tôi khuyên không được, vì tôi lãnh chúng không nghiêm, là chánh tọa mà không có đức. Tôi có thẹn với Hoàng Long, tức là thẹn với thầy tôi. Bây giờ xử không được thì tôi đi. Đi mà ngài dặn, lời dặn này rất cảm động. Tôi tịch rồi thì thiêu, lấy cốt để trong tháp Phổ Thông. Trong chùa có những loại tháp, tháp riêng cho Hòa thượng, tháp chung cho đại chúng gọi là tháp Phổ Thông, còn gọi là tháp Phổ Đồng. Ngài tịch và dặn đừng để trong tháp riêng, để trong tháp chung của chúng. Ý nói sống ở với chúng, chết cũng ở với chúng, không bao giờ rời chúng.
Chúng ta thấy đạo đức như ngài, mà những người phụ tá có khi còn sân, ngài khuyên không chịu nghe, phải không? Như chúng ta bây giờ làm trụ trì, chúng cãi nhau chắc không có gì lạ. Đức của chúng ta không bằng ngài, sức ngộ đạo cũng không bằng, nhưng nếu nhìn lại thì mấy ông Tri sự này có khôn ngoan không? Cãi nhau hơn thua gì, để được gì? Cãi cho hả giận để Thầy tịch, có phải là ngu xuẩn không?
Đức Phật có lần cũng phải vô trong rừng ở, vì tăng chúng cãi nhau khuyên không được. Thời Phật cũng có những người đệ tử ngang ngạnh bướng bỉnh, thời các Tổ cũng có những người học trò ngang ngạnh bướng bỉnh, thì đời chúng ta làm sao tránh khỏi. Ai một đời khỏi được những trường hợp đặc biệt này là phước lớn. Phật còn không lựa hết được, các Tổ còn không lựa được, ngài ngộ đạo rồi cũng không lựa được Tri sự tốt. Huống chi tôi lựa người này người kia chắc gì đã trúng. Nhưng chúng ta có thua ngài một chút, nhiều khi giận quá muốn tịch mà không được, buồn quá muốn đi mà không xong. Còn ngài thì thôi mấy người không nghe tôi, tôi đi. Ngài nói và làm được.
Sư họ Cát, quê ở Hành Dương, thuở nhỏ học Nho, đến hai mươi tuổi theo Úc sơn chủ ở Trà Lăng xuất gia. Sư đến tham vấn Dương Kỳ.
Một hôm Dương Kỳ hỏi: – Bổn sư ngươi là ai? Sư thưa: – Hòa thượng Úc ở Trà Lăng.
Dương Kỳ bảo:
– Ta nghe ông ấy qua cầu bị té có tỉnh, làm một bài kệ kỳ đặc, ngươi có nhớ chăng?
Sư tụng rằng:
Ngã hữu minh châu nhất khỏa,
Cửu bị trần lao quan tỏa,
Kim triệu trần tận quang sanh,
Chiếu phá sơn hà vạn đóa.
Dịch:
Ta có một viên minh châu,
Đã lâu vùi tại trần lao,
Hôm nay trần sạch sáng chiếu,
Soi tột núi sông muôn thứ.
Dương Kỳ cười liền đi. Sư ngạc nhiên suốt đêm không ngủ.
Ngài Bạch Vân Thủ Đoan thuộc tông Lâm Tế. Một hôm Úc sơn chủ có việc vào thôn, cưỡi ngựa đi qua cầu ván. Cầu ván cũ lâu ngày, ngựa đi tới đạp phải một tấm ván mục lọt chân, ngài bị quăng nhào xuống cầu liền tỉnh ngộ, rồi làm bài kệ này: Tôi có một viên minh châu, đã lâu bị cát bụi che lấp. Sáng nay bụi sạch hết, ánh sáng phát ra soi khắp cả sơn hà muôn thứ.
Bài kệ nói lên sở ngộ của ngài đã thấu đáo, nhận ra nơi mình có cái chân thật sáng như viên minh châu, mà lâu nay mình không biết, bị bụi trần lao phiền não phủ che. Hôm nay bất chợt bụi hết, thấy được nó soi sáng khắp nơi.
Các hàng thiền lữ đều khen bài kệ rất hay, vậy mà ngài Dương Kỳ nghe rồi cười bỏ đi. Ngài ngạc nhiên suốt đêm không ngủ. Tại sao? Vì tự ái bản ngã. Đây không phải bản ngã của ngài, mà là bản ngã của thầy. Thầy mình có bài kệ rất hay, đầy đủ ý nghĩa ai cũng khen, tại sao mình đọc xong rồi ngài cười bỏ đi, có phải chê bài kệ dở không? Bài kệ dở chỗ nào? Điều đó làm cho ngài thao thức suốt đêm, mong cho trời mau sáng để ra thưa.
Hôm sau, Sư đến thưa hỏi, gặp ngày cuối năm, Dương Kỳ hỏi:
– Ngươi thấy mấy người hát Sơn Đông hôm qua chăng?
Sư thưa: – Thấy.
Dương Kỳ bảo: – Ngươi còn thua y một bậc. Sư lấy làm lạ thưa: – Ý chỉ thế nào? Dương Kỳ bảo:
– Y thích người cười, ngươi sợ người cười.
Sư liền đại ngộ. Sư hầu Dương Kỳ thời gian khá lâu, mới từ giã đi nơi khác.
Hôm sau ngài đến hỏi, không biết hôm qua con đọc bài kệ đó, Hòa thượng cười là có ý gì? Lúc ấy nhằm ngày cuối năm, Dương Kỳ hỏi: Ngươi thấy mấy người hát Sơn Đông hôm qua chăng? Hôm qua ở trước chùa có mấy người hát Sơn Đông khua chiêng đánh trống biểu diễn, thiên hạ xúm lại coi. Gánh hát Sơn Đông được ai cười hoan nghênh thì rất thích lại hát tiếp, còn ông thấy tôi cười sợ suốt đêm không ngủ thì ông thua họ rồi. Câu chuyện này rất lý thú, ngay đó ngài liền đại ngộ, vậy ngài ngộ cái gì?
Chúng ta vui thì cười buồn thì khóc, là sợ cười hay thích cười, sợ khóc hay thích khóc? Cười khóc đối nhau. Như vậy, cười đã vô nghĩa thì khóc có nghĩa không? Tất cả vui buồn cười khóc đối đãi đều vô nghĩa, chính thấy được chỗ đó mới thoát ngoài đối đãi, gọi là đại ngộ.
Đến Lô Phụ, thiền sư Nột ở Viên Thông cử Sư trụ trì chùa Thừa Thiên, tiếng tăm vang dội. Kế, Sư lại trụ Viên Thông, Pháp Hoa, Long Môn, Hưng Hóa, Hải Hội, nơi nào chúng cũng tụ họp rất đông.
Tăng hỏi: – Thế nào là Phật?
Sư đáp: – Chảo dầu không chỗ lạnh.
Tăng hỏi: – Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư đáp: – Đáy nước nhấn trái bầu.
Có trái bầu nào nổi dưới đáy nước không? Đó chỉ là những lối nói, như ngài Lâm Tế hỏi bị tổ Hoàng Bá đánh thì ở đây thay cái đánh đó bằng câu nói.
Tăng hỏi: – Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?
Sư đáp: – Quạ bay thỏ chạy.
Tăng hỏi:
– Chẳng cầu chư thánh chẳng trọng kỷ linh, chưa phải là việc trên phần của nạp tăng, thế nào là việc trên phần của nạp tăng?
Sư đáp: – Nước chết chẳng chứa rồng.
Tăng hỏi: – Khi như thế thì sao?
Sư đáp: – Lừa chết ngươi.
Những câu này toàn là hoạt ngữ, nên chúng ta không phải giải thích.
Sư thượng đường:
– Chim có hai cánh bay chẳng xa gần, đường bày một góc đi không trước sau. Hàng tăng gia các ông, bình thường cầm muỗng buông đũa trọn nói tri hữu, đến khi leo lên núi tại sao lại thở gấp? Chẳng thấy nói, người không lo xa ắt có buồn gần!
Chim có hai cánh bay chẳng xa gần, đường bày một góc đi không trước sau. Hai câu này cho thấy chỗ ngộ của ngài lúc trước rõ ràng, xa gần trước sau là đối đãi, phải vượt qua hai cái này.
Hàng tăng gia các ông bình thường cầm muỗng buông đũa trọn nói tri hữu. Chúng ta trong lúc bình thường ăn cơm mặc áo, nói tôi thấy đạo biết đạo, nhưng khi gặp việc bức bách thì bất lực, sân cũng hoàn sân, si hoàn si; gặp việc đáng thương thì thương, đáng ghét cũng ghét. Trọn nói tri hữu, tức là biết có cái đó, tôi có ông chủ, sống với ông chủ. Thế nhưng, đến khi leo lên núi tại sao lại thở gấp, khi gặp chuyện bất ngờ xảy đến, lại không làm chủ được.
Chẳng thấy nói, người không lo xa ắt có buồn gần. Ngài trách, lúc bình thường tưởng như đắc đạo, cho rằng mình biết được ông chủ, rồi hài lòng tự mãn không nỗ lực tu; tới chừng gặp chuyện bức bách nguy hiểm, mới thấy còn y nguyên, cũng kẹt như thế tục, không hơn bao nhiêu.
Sư dạy chúng:
– Phật đất chẳng độ nước, Phật gỗ chẳng độ lửa, Phật vàng chẳng độ lò đúc, Phật thật ngồi ở trong. Đại chúng! Ông già Triệu Châu một lúc đem mười hai phần xương tám muôn bốn ngàn lỗ chân lông dồn vào trong lòng các ông rồi. Ngày nay Viên Thông (Sư) trông thấy bất bình vì người xưa nói ra.
Sư lấy tay vỗ giường thiền nói:
– Nên biết núi biển về minh chủ, chưa tin càn khôn lấp người lành.
Ngài dẫn lời thiền sư Triệu Châu nói, rồi bảo: Đại chúng! Ông già Triệu Châu một lúc đem mười hai phần xương tám muôn bốn ngàn lỗ chân lông dồn vào trong lòng các ông rồi. Ngài Triệu Châu nói như thế là rất tha thiết, đã đem hết cả xương thịt tâm can mà giao phó cho mình rồi. Ngày nay Viên Thông, tức ngài tự xưng, trông thấy bất bình vì người xưa nói ra.
Ngài lấy tay vỗ giường thiền nói: Nên biết núi biển về minh chủ, chưa tin càn khôn lấp người lành. Câu đó nói gì? Dường như ngài bất bình chống lại, nhưng không ngờ là phụ họa theo. Nên biết núi biển về minh chủ, núi sông tất cả thuộc về vua; cũng vậy Phật đất, Phật gỗ, Phật vàng… đều thuộc về bên ngoài, còn Phật thật ngồi ở trong. Nếu chưa tin Phật bên trong thì bị càn khôn che lấp, không thấy gì được nữa. Người xưa rất khéo léo, đã tha thiết chỉ cho mình.
Sư dạy chúng:
– Thân Phật đầy dẫy nơi pháp giới, khắp hiện trước tất cả quần sanh, tùy duyên cảm ứng đâu chẳng khắp, mà thường ở nơi tòa bồ-đề. Đại chúng! Thế nào nói đạo lý tùy duyên cảm ứng? Chỉ là khoảng khảy móng tay, cả đại địa hàm sanh căn cơ một lúc nên được khắp đủ, mà chưa động đến một đầu mảy lông, bèn nói là tùy duyên cảm ứng mà thường ở tòa này. Ví như sơn tăng ngày nay nhận thỉnh đến Pháp Hoa, ngày mai cùng đại chúng từ biệt nhau, vào trong huyện khai đường rồi mới trở về viện. Hãy nói, lại lìa tòa này hay không? Nếu nói lìa là việc thường thế gian. Nếu nói chẳng lìa, làm sao thấy được việc chẳng lìa ấy?
Theo lời ngài nói thì chỉ trong nháy mắt, trong khoảng khảy móng tay tất cả đều khắp đủ, đó gọi là tùy duyên cảm ứng. Ngài ví dụ, hôm nay tôi ở đây, mai đi trong kia, rồi mốt trở về, vậy có lìa tòa này hay không? Thấy ở đó gọi là còn ở, thấy đi khỏi gọi là lìa, là việc thường thế gian. Nếu nói chẳng lìa, làm sao thấy được cái chẳng lìa?
Đâu chẳng phải “vô biên cõi nước kia đây chẳng cách đầu mảy lông, mười đời xưa nay trước sau chẳng lìa đương niệm”. Lại đâu chẳng phải “tất cả vô tâm một lúc tự khắp”? Nếu thế ấy chính là cầm gậy đập mặt trăng. Đến đây cần phải ngộ mới được, ngộ rồi cần phải gặp người mới được. Các ông nói đã ngộ rồi thì thôi, lại đâu cần gặp người. Nếu ngộ rồi gặp người, chính khi duỗi tay phương tiện rõ ràng tự có một con đường xuất thân, chẳng làm mù mắt học giả. Nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô, chẳng những làm mù mắt học giả, chính mình cử động liền bị chạm bén đứt tay.
Vô biên cõi nước kia đây chẳng cách đầu mảy lông, cõi này cõi kia chẳng cách đầu mảy lông, đứng về mặt không gian thì không có riêng lẻ. Mười đời xưa nay trước sau chẳng lìa đương niệm, về thời gian không cách lìa hiện tại. Người đạt đạo thấy cái chân thật đó, không kẹt ở không gian và thời gian, nên không nói lìa hay không lìa.
Lại đâu chẳng phải “tất cả vô tâm một lúc tự khắp”. Nếu nói rằng tất cả vô tâm một lúc tự khắp thì ngài không chịu. Nếu thế ấy chính là cầm gậy đập mặt trăng, cầm gậy đập mặt trăng tức là chưa tới nơi. Đến đây cần phải ngộ mới được, ngộ rồi cần phải gặp người mới được. Tới chỗ đó phải ngộ mới được, nhưng tự mình ngộ đôi khi chưa đủ khả năng vượt khỏi lầm lẫn, nên cần phải gặp người mới được.
Nếu chỉ ngộ được đầu cây cải khô, ngộ được một chút hoặc một hai lý nhỏ nào đó, gọi là ngộ đầu cây cải khô. Nếu mình tự mãn cho mình ngộ như vậy là đầy đủ, rồi đi làm thầy thiên hạ, thì sao? Chẳng những làm mù con mắt học giả, làm cho người ta mù tối thêm, mà chính mình cử động liền bị chạm bén đứt tay, tức là còn dính bên này kẹt bên kia, chưa thoát được.
Các ông xem! Thầy tôi là Dương Kỳ hỏi Sư ông Từ Minh: Khi chim vắng kêu chão chẹt, mây từ vào núi loạn thì thế nào? Sư ông đáp: Ta đi trong cỏ rậm, ngươi lại vào thôn sâu. Thầy tôi thưa: Quan chẳng cho lọt mũi kim, lại xin một câu hỏi. Sư ông liền hét. Thầy tôi thưa: Khéo hét. Sư ông lại hét. Thầy tôi cũng hét. Sư ông hét luôn hai tiếng. Thầy tôi liền lễ bái.
Quan chẳng cho lọt mũi kim, nguyên chữ Hán là quan bất dung châm, những trạm gác ở biên giới người ta xét kỹ không cho mũi kim lọt qua, ý nói đến chỗ không còn hở trống một chút gì.
Đại chúng nên biết, ngộ rồi lại gặp người là nhằm trên đầu ngã tư đường cùng người gặp nhau, chính là ở trên ngàn ngọn núi nắm tay; nhằm trên ngàn ngọn núi gặp nhau, chính ở đầu ngã tư đường nắm tay. Vì thế sơn tăng từng có tụng:
Tha nhân trụ xứ ngã bất trụ
Tha nhân hành xứ ngã bất hành,
Bất thị vi nhân nan cộng tụ
Đại đô truy tố yếu phân minh.
Dịch:
Chỗ ở người kia ta chẳng ở
Chỗ đi người kia ta chẳng đi,
Chẳng phải vì người khó chung họp
Trọn là tăng tục cốt phân minh.
Đây là sơn tăng sắp đi mở toang túi vải, một lúc ném ở trước mặt mọi người rồi vậy. Người có mắt chớ lấy làm lạ. Trân trọng!
Gặp người ở đầu ngã tư đường là ở chỗ ồn, cũng chính là ở trên ngàn ngọn núi (chỗ vắng) nắm tay. Ở trên ngàn ngọn núi gặp nhau, cũng là ở đầu ngã tư đường (chỗ đông người) nắm tay. Gặp được bậc thầy triệt ngộ hướng dẫn mới có thể tự tại, tới lui không còn ngăn trở nữa.
Chỗ ở người kia ta chẳng ở, chỗ đi người kia ta chẳng đi. Nghĩa là chỗ người ở ngài không ở, việc người kia hành ngài chẳng hành. Tại sao? Chẳng phải vì người khó chung họp, trọn là tăng tục cốt phân minh. Người và mình không khác, nhưng ngài không đi đường của người, không ở chỗ người, nói cách khác là mê ngộ khác nhau.
Khi sắp tịch, ngài mở tung túi vải quăng ném khắp, trước mắt đầy đủ hết mặc tình mà xem, không còn giấu giếm.
Sư thượng đường:
– Cổ nhân để lại một lời nửa câu, khi chưa thấu sờ đến giống hệt vách sắt, bỗng nhiên một hôm sau khi nhìn được thấu, mới biết chính mình là vách sắt. Hiện nay làm sao thấu?
Sư lại nói: – Vách sắt! Vách sắt!
Một lời nửa câu của các ngài để lại, nếu chúng ta chưa ngộ được thì giống hệt vách sắt, tức là đưa tay tới không có chỗ nào vin nắm được.
Sư thượng đường:
– Nếu quả thực được một phen xuất hạn, liền nhằm trên một cọng cỏ hiện lầu quỳnh điện ngọc. Nếu chưa quả thực được một phen xuất hạn, dù có lầu quỳnh điện ngọc lại bị một cọng cỏ che lấp. Thế nào được xuất hạn? Tự có một đôi tay khéo ấy, đâu từng xem nhẹ vũ tam đài.
Nếu quả thực được một phen xuất hạn, tu hành được một phen xuất hạn, tức một phen ra mồ hôi, đó là ngộ. Có nhiều vị khi ngộ một câu, xuất mồ hôi dầm dề. Nếu được vậy, liền nhằm trên một cọng cỏ hiện lầu quỳnh điện ngọc, nơi cảnh tầm thường lại thấy tất cả phi thường. Nếu chưa quả thực được một phen xuất hạn, dù có lầu quỳnh điện ngọc lại bị một cọng cỏ che lấp, chưa ngộ thì chỗ phi thường cũng bị cái tầm thường che lấp. Thế nào được xuất hạn? Một phen ra mồ hôi là sao? Tự có một đôi tay khéo ấy, đâu từng xem nhẹ vũ tam đài, tay khéo múa trên tam đài.
Đến niên hiệu Hy Ninh thứ năm (1072), Sư viên tịch, thọ 48 tuổi.
Học qua cuộc đời của người xưa, chúng ta lại càng vững vàng hơn trong cuộc sống. Có vị sống bảy tám mươi, có vị bốn năm mươi, không phải ai cũng thọ lâu dài. Các ngài xưa ngộ đạo còn không sống thọ thay, huống nữa chúng ta tu chưa ngộ gì hết chắc gì đã sống thọ. Đó là kinh nghiệm để cho chúng ta biết, ngày nào còn khỏe, còn được yên ổn thì ráng nỗ lực tiến tu, không chần chừ, không hẹn mười năm, hai mươi năm nữa sẽ tu rút.
Kế nữa, người xưa tài đức hơn chúng ta trăm ngàn lần, có khi cũng gặp những hoàn cảnh trục trặc. Có những bậc rất xuất sắc, có người bỉ thử đầy bụng, không phải tất cả đều toàn hảo. Ngày nay cũng vậy, có kẻ phiền não đầy bụng, có người tốt. Hiểu vậy rồi chúng ta không buồn, giả sử gặp những trái chướng trở ngại, nghĩ đến người xưa còn không khỏi huống là mình, như thế an lòng tiến tu, không chán nản.
Sư họ Trúc, quê ở Tứ Minh, thuở bé dung nhan tuấn tú, còn trẻ đã làm đại tăng, thông Thiên Thai giáo. Sư đến tham vấn thiền sư Minh Giác ở Tuyết Đậu. Minh Giác thầm biết Sư sẽ gánh vác đại pháp, nói cợt Sư là “Tọa chủ độn căn”. Sư nổi giận xuống núi, trông về Tuyết Đậu lễ thề: “Tôi đời này đi hành cước tham thiền đạo lý chẳng bằng Tuyết Đậu thề chẳng trở về quê.” Sư liền đến Lặc Đàm, mấy năm mà nghi tình chưa tan.
Nổi giận như ngài để lập chí tiến lên, đó là điều xứng đáng. Ngài thề nếu đời này đi hành cước tham thiền, đạo lý chẳng bằng Tuyết Đậu thì chẳng trở về quê, nhất định như vậy. Về sau ngài nổi tiếng trong tùng lâm. Người xưa nhân một câu nói khích mà được thành tựu.
Nghe tin Dương Kỳ dời đến Vân Cái khéo khai hóa học giả, Sư liền đi thẳng đến đây. Qua một câu đối đáp, Sư liền chóng rõ sáng tâm ấn. Dương Kỳ tịch, Sư theo thiền sư Thủ Đoan là bạn đồng học, nghiên cứu cùng tột chỗ huyền áo.
Tuy rằng ngộ rồi nhưng chưa sâu, nên theo sư huynh cùng làm bạn để được thấu đáo sâu.
Sau này, Sư trụ ở Bảo Ninh cho đến tịch.
Có vị tăng hỏi: – Thế nào là Phật?
Sư đáp: – Gần lửa trước phỏng.
Nếu đưa tay vô lửa, gần kề lửa thì thấy tay mình phỏng trước rồi.
Tăng hỏi: – Thế nào là đạo?
Sư đáp: – Trong bùn có gai.
Tăng hỏi: – Thế nào là người trong đạo?
Sư đáp: – Rất kỵ đạp đến.
Tăng hỏi:
– Cổ nhân nói “Gió lạnh thổi lá rụng, vẫn vui cố nhân về”, chưa biết ai là cố nhân?
Sư đáp:
– Hòa thượng Dương Kỳ viên tịch đã lâu.
Tăng hỏi:
– Chính hiện nay lại có người nào là tri âm?
Sư đáp:
– Ông mù trong thôn thầm gật đầu.
Theo nghĩa thường, cố nhân là người thân của mình trước kia, hoặc là bạn tri âm tri kỷ. Nếu mình đi xa hoặc họ đi xa thì khi gặp lại nhau có mừng không? Đây dẫn lời người xưa nói: Gió lạnh thổi lá rụng, vẫn vui cố nhân về. Cố nhân trở về thì rất vui, nhưng vị tăng này đặt câu hỏi: Ai là cố nhân? Như vậy, không còn nghĩa tri âm tri kỷ mà muốn nói ai? Tôi nói: Cố nhân là ông kẹ. Hiểu thì hiểu, không hiểu thì thôi. Ngài đáp: Hòa thượng Dương Kỳ viên tịch đã lâu. Tăng hỏi: Chính hiện nay lại có người nào là tri âm? Ngài đáp: Ông mù trong thôn thầm gật đầu. Tri âm là ông mù đó, phải không?
Sư thượng đường:
– Sơn tăng hơn hai mươi năm quảy đãy mang bát nhằm trong hoàn hải tham thiện tri thức hơn mười vị, nhà mình trọn không có chỗ thấy. Có vị tôn túc giống như đá cứng, tham vấn cũng không có chỗ hay để lợi ích cho nhau. Từ đây một đời chỉ làm người không hiểu chi cả, thật tự đáng thương. Bỗng bị gió nghiệp thổi đến phủ Giang Ninh, vô cớ bị người xô đến đầu ngã tư đường, trụ cái viện rách, làm chủ nhân cơm cháo tiếp đãi kẻ nam người bắc, việc bất đắc dĩ, tùy thời có muối có giấm đủ cháo đủ cơm, mặc tình qua ngày. Nếu là Phật pháp, chẳng từng mộng thấy.
Người không hiểu nghĩa là dốt, như ngây như ngô không hiểu biết. Giai đoạn ngài đi tham vấn, mù mịt như người dốt không biết gì. Về sau ngài trụ trì tiếp người chỉ ăn cơm ăn cháo, có muối có giấm vậy thôi, không có Phật pháp. Nhà học Kinh, tức là giáo tông mở miệng nói Phật pháp, chân như, Phật tánh, Niết-bàn… Còn nhà thiền chỉ cho chúng ta sống với cái bình thường, bình thường tâm thị đạo, cái đó không có Phật pháp. Vì thế nói Nếu là Phật pháp, chẳng từng mộng thấy.
Sư thượng đường:
– Gió thu mát, vận tùng hay, khách chưa về nhớ cố hương. Hãy nói ai là khách chưa về? Chỗ nào là cố hương?
Sư im lặng giây lâu nói:
– Nằm dài trên giường có cháo có cơm.
Chúng ta nhớ cố hương, người nhớ Đất Đỏ, kẻ nhớ Nha Trang, người nhớ Bình Chánh… nhớ nơi này nơi kia cho đó là cố hương, còn ở đây cố hương không phải vậy.
Sư thượng đường:
Phượng minh điều vũ phá khối
Hiểu lai chẩm thượng oanh thanh toái,
Hà mô khâu dẫn nhất thời minh
Diệu Đức Không Sanh đô bất hội.
Tam cá thành quần tứ cá tác đội, yểu yểu điệu điệu phiêu phiêu diêu diêu, hướng nam bắc đông tây chiết đắc lê hoa lý hoa nhất bội lưỡng bội.
Dịch:
Cành phượng kêu đất mưa vỡ
Sáng về trên gối tiếng oanh hót,
Ễnh ương, ếch nhái một lúc kêu
Diệu Đức, Không Sanh trọn chẳng hội.
Ba cái thành nhóm, bốn cái thành đội, yểu yểu điệu điệu phiêu phiêu diêu diêu, nhằm nam bắc đông tây bẻ được hoa lê hoa lý một vòng hai vòng.
Ngài nói nửa như thơ, nửa không thơ. Cành phượng kêu đất mưa vỡ, sáng về trên gối tiếng oanh hót. Nghĩa là chim phượng hót trên cành, mưa xói vỡ đất; sáng về còn nằm ở trên gối, nghe tiếng chim hoàng oanh hót. ễnh ương, ếch nhái một lúc kêu; Diệu Đức, Không Sanh trọn chẳng hội. Diệu Đức chỉ cho Văn-thù, Không Sanh là Tu-bồ-đề. Tiếng ễnh ương, ếch nhái đồng kêu om sòm, cảnh như vậy mà các ngài trọn chẳng hội.
Ba cái thành nhóm, bốn cái thành đội, yếu yếu điệu điệu phiêu phiêu diêu diêu. Ba bốn cái thành một nhóm, rất đẹp. Nhằm nam bắc đông tây bẻ được hoa lê hoa lý một vòng hai vòng. Diễn tả cảnh đẹp, trong cảnh đó hiện lên những vị Diệu Đức, Không Sanh. Lối diễn tả khéo léo của ngài, trong mọi cảnh đẹp đẽ êm dịu tươi mát này, sẵn sàng đầy dẫy ở trước mắt không thiếu.
Sư họ Đổng, buổi đầu quê ở thôn Trọng Thư, Thái Khang, ông cha Sư đều làm quan đất Dĩnh bèn thành người Dĩnh Châu. Mẹ Sư không con, đến trước tượng Phật cầu khẩn, khấn rằng được con sẽ cho phụng sự Phật. Sau đó bà sanh được Sư dung mạo trang nhã. Sư vừa tròn một tuổi thì mẹ mất. Đến lớn Sư học rộng, có phẩm hạnh của người tu tại gia, nên không có ý làm quan, lại tịch cốc học đạo. Sư nhà nghèo ở ẩn nơi thợ làm bút, ý chí cang cường, cả ngày ngồi lặng lẽ.
Niên hiệu Gia Hựu thứ tám (1063) Sư đến kinh đô ghi danh ở viện Hiển Thánh Địa Tạng, thi đậu làm đại tăng. Thầy của Sư là Viên Thành và luật sư Huệ Trấp nói với người:
– Thiện Bổn sau này sẽ nổi danh cả nước.
Nhân đó bảo Sư học Tỳ-ni và nghe Pháp Hoa. Ban đêm Sư mộng thấy một đồng tử giống như tượng vẽ Thiện Tài chắp tay nói: Đi về Nam. Thức dậy, Sư nói:
– Chư thánh gia bị cho ta, muốn ta đi phương Nam thưa hỏi thiện tri thức.
Kinh Hoa Nghiêm nói rằng đồng tử Thiện Tài được Bồ-tát Văn-thù khuyên đi về phương Nam để học đạo, do đó trong mộng ngài thấy có đồng tử chắp tay nói đi về Nam, tức khuyên ngài đi phương Nam học đạo.
Bấy giờ thiền sư Viên Chiếu đang nổi tiếng ở Ngô Trung. Sư đến Cô Tô yết kiến thiền sư Viên Chiếu tại Thụy Quang. Ở đây, Sư thâm ngộ được tông chỉ, hầu hạ năm năm đạt tột chỗ huyền yếu. Trí chỉnh đốn giềng mối và nghiên cứu sai biệt của Sư dọc ngang tự tại vượt khỏi quy củ tầm thường.
Đến niên hiệu Nguyên Phong thứ bảy (1084) mùa xuân, Sư rời Cửu Giang dạo Hoài Sơn lễ tháp Tổ. Mến cảnh núi rừng thanh lịch của Phù Sơn, Sư có ý ở đây trọn đời, bèn trụ tại núi Đại Tịch. Khá lâu, Sư lại bị thỉnh khai hóa ở chùa Song Lâm tại Vụ Châu. Vùng Chiết Đông đạo tục rất sùng mộ, gọi Sư là Phó đại sĩ tái sanh. Sau Sư dời trụ chùa Tịnh Từ ở Tiền Đường nối tiếp Viên Chiếu. Ở đây chúng đến trên ngàn, thí chủ cung cấp vẫn đầy đủ.
Tại sao nói ngài là Phó đại sĩ tái sanh? Vì Phó đại sĩ là người sanh ở đời Tùy, ngài lập ngôi chùa ở Song Lâm tại Vụ Châu, người đời đều nói ngài chứng quả Bồ-tát, nói cách khác là Di-lặc tái sanh. Những câu chuyện huyền hoặc trong thời đó, bây giờ còn ghi lại. Ngài Phó đại sĩ có những câu kệ đặc biệt như: “Đêm đêm ôm Phật ngử”, “Tay không cầm cán cuốc, đi bộ cưỡi lưng trâu, người đi qua trên cầu, cầu trôi nước chẳng trôi”… Thiền sư Thiện Bổn đến ở chùa Song Lâm giáo hóa, nên người đời gọi là Phó đại sĩ tái sanh.
Vua Thần Tông nghe danh Sư, xuống chiếu mời trụ chùa Pháp Vân tại kinh đô, ban hiệu là Đại Thông thiền sư.
Sư dạy chúng:
– Thượng sĩ dùng thần nghe pháp, trung sĩ dùng tâm nghe pháp, hạ sĩ dùng tai nghe pháp. Hãy nói, lại có một người đến dùng cái gì nghe?
Sư cầm cây gậy gõ giường thiền một cái nói:
Cao đã trước đê đã trước
Lạc lạc viên âm biến tiêu khoách
Thập phương nội ngoại cánh vô tha
Bất dụng vô thằng nhi tự phược.
Dịch:
Cao cũng đúng, thấp cũng đúng,
Lanh lảnh viên âm thênh thang khắp,
Mười phương trong ngoài lại không khác,
Chớ dùng không dây mà tự trói.
Sư lại nói:
– Án Sơn thuyết pháp Chủ Sơn nghe, Chủ Sơn thuyết pháp Án Sơn nghe. Án Sơn Chủ Sơn một lúc thuyết, hãy nói đem cái gì nghe? Quý vị! Nếu khéo nghe, ba đời chư Phật nói ra diệu pháp thảy đều hiện tiền. Lại có chăng? Chùy sắt không cán vẫn việc rỗi, cười ngất Tỳ-da cây dùi xưa.
Sư lại nói:
– Chỗ thấy của nạp tăng nghịch thuận khó trùm, thản nhiên riêng đến ứng vật lại trả về, hoặc ẩn cư nơi trần thế, hoặc lấp dấu nơi bụi bặm.
Bả định tắc băng sanh thủy điện,
Phóng hành tắc cẩm thượng hoa khai.
Lư lão bất tri hà xứ khứ,
Bạch vân ảnh lý tiếu hai hai?
Dịch:
Nắm đứng thì băng sanh mặt nước,
Buông đi thì trên gấm nở hoa.
Lão Lư chẳng biết đi đâu tá,
Bóng trong mây trắng cười hà hà!
Sư hét một hét xuống tòa.
Thượng sĩ dùng thần nghe pháp, gọi là lắng thần nghe. Trung sĩ dùng tâm nghe pháp, nghĩa là chú tâm nghe. Hạ sĩ dùng tai nghe pháp, có tiếng thì nghe, không quan trọng chú ý. Chúng ta thuộc hạng nào nghe pháp? Câu sau ngài hỏi: Hãy nói, lại có một người đến, dùng cái gì nghe? Một người đến, người đó là người nào, dùng cái gì nghe?
Ngài cầm cây gậy gõ giường thiền một cái nói: Cao cũng đúng, thấp cũng đúng. Ngài gõ giường thiền một cái, nói cao hay thấp đều được nghe. Lanh lảnh viên âm thênh thang khắp, mười phương trong ngoài lại không khác, ngài đã chỉ người tự đến không biết lấy gì nghe. Ngài dạy Chớ dùng không dây mà tự trói, tức là đừng ràng buộc mình.
Ngài lại nói: Án Sơn thuyết pháp Chủ Sơn nghe, Chủ Sơn thuyết pháp Án Sơn nghe. Án Sơn Chủ Sơn một lúc thuyết, hãy nói đem cái gì nghe? Án Sơn là núi thấp đứng trước núi chính, Chủ Sơn là núi chính. Núi Án thuyết pháp thì núi Chủ nghe, núi Chủ thuyết pháp thì núi Án nghe, hai núi thuyết pháp một lượt, cái gì nghe?
Quý vị! Nếu khéo nghe, ba đời chư Phật nói ra diệu pháp thảy đều hiện tiền. Nếu ai nghe được thì tất cả pháp của ba đời chư Phật đều hiện tiền. Lại có chăng? Chùy sắt không cán vẫn việc rỗi, cười ngất Tỳ-da cây dùi xưa. Thường nói những gì bí hiểm nhất là chùy sắt không cán, đây ngài nói chùy sắt không cán vẫn là việc nhàn rỗi. Nhà thiền nói cây dùi xưa là chỉ cho người thấu suốt xưa nay. Cười ngất Tỳ-da cây dùi xưa, tức là cười ngất chuyện ngài Duy-ma-cật lặng thinh.
Ngài lại nói: Chỗ thấy của nạp tăng nghịch thuận khó trùm, thản nhiên riêng đến ứng vật lại trả về, hoặc ẩn cư nơi trần thế, hoặc lấp dấu nơi bụi bặm. Chỗ thấy của ngài khi cao vót hơn đời, khi thấp thì ẩn dấu tích nơi chỗ bụi bặm, tức là ở lẫn trong chỗ phiền não trần lao mà không bị ô nhiễm.
Nắm đứng thì băng sanh mặt nước,
Buông đi thì trên gấm nở hoa.
Lão Lư chẳng biết đi đâu tá,
Bóng trong mây trắng cười hà hà!
Lão Lư là Lục tổ Huệ Năng.
Ngài hét một tiếng xuống tòa.
Sư thượng đường, im lặng giây lâu nói:
– Hiểu chăng? Diệu chỉ của Phật tổ chỉ ở trước mắt. Huệ nhật trước núi, mây vần dưới chân. Hồ trong sóng lớn, xa tiếp trời thẳm. Chiều hát thuyền chài, đêm dạo trăng lau. Ngày chơi trên thuyền, nghe tiếng ty trúc. Lại nói nghe tiếng ngộ đạo, thấy sắc minh tâm, giống như ném đi trái đào ngọt, leo núi bẻ lê chua.
Sư xuống tòa.
Diệu chỉ của Phật tổ ngay trước mắt, đây là những hình ảnh ngài chỉ cho chúng ta thấy. Huệ nhật trước núi, mặt trời trí tuệ hiện ở trước núi. Mây vần dưới chân, hồ trong sóng lớn, diệu chỉ của Phật là hiện tiền chứ không có gì. Xa tiếp trời thẳm, chiều hát thuyền chài, đêm dạo trăng lau, toàn là cảnh đẹp. Nghe tiếng ty tiếng trúc tức là tiếng đàn địch trên sông.
Ngài bình: Nghe tiếng ngộ đạo, thấy sắc minh tâm, nhà thiền nói Văn thanh ngộ đạo, kiến sắc minh tâm, hai trường hợp đó giống như ném trái đào ngọt, leo núi bẻ lê chua. Tại sao? Bởi vì nghe tiếng được ngộ đạo, thấy sắc được minh tâm, đợi có tiếng mới ngộ đạo, đợi có sắc mới sáng tâm, như vậy là quên hiện tiền.
Sư từ giã xin trụ am ở Hồ Tây. Lúc trụ am, Sư đóng cửa không cùng người đời gặp nhau ngót mười năm. Hàng sĩ đại phu quý cao phong của Sư muốn yết kiến mà không được.
Niên hiệu Đại Quán thứ ba (1109) tháng mười hai, Sư co ba ngón tay nói với thị giả: “Chỉ có ba ngày.” Đúng ba ngày sau Sư tịch.
Ngài từ chối không trụ trì Pháp Vân, lui về am ở yên không tiếp khách. Khi sắp tịch báo trước thị giả ba hôm. Đúng ngày liền tịch, rất khỏe!
Sư họ Lương, quê ở Triệu Thành, Tấn Châu. Thuở nhỏ Sư chẳng lễ miếu thần, chẳng chịu đi học, thường nói: Sẽ làm thầy trời người, đâu ưa việc này.
Sư bèn đi dạo khắp nơi, đến pháp tịch thiền sư Viên Chiếu ở Thụy Quang Tô Châu, thưa hỏi tông chỉ. Nhân nhắc lại “Bồ-tát Vô Trước hỏi Thiên Thân: Di-lặc nói pháp gì? Thiên Thân đáp: Nói pháp này”, Sư chợt có tỉnh. Từ đây sớm chiều thưa hỏi.
Một hôm đi vào nhà vệ sinh, đá nhào bình nước đổ bể, Sư tỉnh ngộ, làm kệ:
Giá nhất giao, giá nhất giao,
Vạn lượng hoàng kim đã hợp tiêu.
Đầu thượng lạp, yêu hạ bao,
Thanh phong minh nguyệt trượng đầu khiêu.
Dịch:
Một lần này, một lần này,
Muôn lượng vàng ròng cũng tiêu ngay.
Trên đầu nón, ngang lưng bao,
Gió lành trăng sáng đầu gậy treo.
Từ đây tiếng Sư vang dậy.
Thiền sư Tu Ngung thuở nhỏ đã tỏ khí phách người tu, không lễ miếu thần, không học sách vở. Khi thưa hỏi yếu chỉ có tỉnh, một hôm vào nhà vệ sinh đá đổ bình nước chợt ngộ, đó là lúc đến chỗ an lành. Tiếng tăm ngài vang dội từ ấy.
Ban đầu Sư trụ Tư Thọ ở Thọ Châu, kế trụ Thiếu Lâm ở Tây Kinh, rồi dời sang Chiêu Đề, sau trụ Đầu Tử ở Thư Châu, danh đức càng rộng, trong tùng lâm đồng gọi là Ngung Hoa Nghiêm.
Sư đăng tòa, có vị tăng vừa bước ra, Sư nói: – Lầm.
Tăng thưa: – Lầm chỗ nào?
Sư bảo: – Chẳng tin ta nói.
Tăng hỏi: – Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp, vì sao Triệu Châu lại có ba bậc tiếp người?
Sư đáp: – Vào nước thấy người dài.
Tăng thưa: – Tại sao học nhân chưa hội?
Sư bảo: – Gọi chẳng xoay đầu làm gì được? Tăng hỏi:
– Thế nào là Tổ Tổ truyền nhau tâm này?
Sư đáp: – Ba ngôi sao quanh cung nguyệt.
Tăng hỏi: – Khi như thế thì sao?
Sư đáp:
– Bá Nhạc tạm buông roi, ngựa gầy khoe tám giỏi.
Tăng hỏi: – Thế nào là đệ nhất nghĩa?
Sư đáp: – Trăm thứ tạp nhạp.
Ngài Triệu Châu tiếp người có ba bậc: Bậc thứ nhất, vua chúa đến thì ngài ngồi trên giường thiền tiếp. Bậc thứ hai, các hàng công khanh đến thì ra trước cửa chùa tiếp. Bậc thứ ba, người bình thường đến thì ra ngoài cổng tiếp. Tăng mượn câu chuyện đó để hỏi: Đã là bình đẳng tại sao lại có ba bậc tiếp người? Ngài đáp: Vào nước thấy người dài.
Sư lại nói:
– Chót núi Lăng-già ai có thể gá bước, trước non Thiếu Thất nước chảy chẳng thông, ngay khi ấy ông già đầu vàng mở được miệng, tăng Hồ mắt biếc mở được mắt. Tuy nhiên như thế, việc không một bề, tiên thánh may có nghĩa môn thứ hai, đủ cùng các người nói đông nói tây. Vì thế nói: Xuân sanh hạ trưởng thu rụng đông khô, bốn mùa thay đổi luân chuyển đường dài. Người ngu tâm sanh kia đây, người đạt một vị không khác.
Sư im lặng giây lâu nói:
– Trâu sắt Thiểm Phủ nuốt đại tượng, Gia Châu Phật nhằm ẩn tơ sen.
Sư lại nói:
– Gió xuân reo cây xưa, mù sớm phủ sóng lạnh, mỗi mỗi đều bày hiện, bày hiện cũng sai lầm. Xem, xem! Ngay đây là gì? Làm gì kẻ mắt sáng không hang ổ, nhả chẳng được, nhai chẳng bể.
Sư hét một tiếng xuống tòa.
Chót núi Lăng-già ai có thể gá bước, chỉ cho Phật nói kinh trên núi Lăng-già. Trước non Thiếu Thất nước chảy chẳng thông, chỉ tổ Đạt-ma. Chính khi ấy ông già đầu vàng mở được miệng, Phật mở miệng nói. Tăng Hồ mắt biếc mở được mắt, tổ Đạt-ma nhìn thấu. Lối nói của ngài không cho suy gẫm, không còn gì phải nói phải giảng.
Sư đăng tòa nói:
– Vòi vọi Thiếu Thất hằng chấn quần phong, có khi trong mây bày ra, có khi mù đậy không dấu, có khi chợt hiện trước mắt, có miệng nói chẳng được, bị người gọi là tăng Hồ nhìn vách. Các nhân giả! Làm sao khỏi được lỗi này? Thôi thôi chẳng bằng giữ thời khóa.
Giây lâu Sư lại nói:
– Giọt sương sân cỏ, tiếng gió cây xưa, trăng sáng rọi ngàn núi sắc lạnh, sông trong trôi muôn khoảnh sóng mòi. Nơi đây tiến được cùng quý vị cắt đứt các dòng. Nếu chưa như thế chẳng khỏi theo mòi đuổi sóng. Ví như nước trong sông, chảy xiết đua nhau qua, mỗi mỗi chẳng biết nhau, các pháp cũng như thế.
Sư cầm cây gậy nói:
– Cây gậy là các pháp, là biết nhau chẳng biết nhau? Nếu biết nhau sớm đã bị Biết trói, nếu chẳng biết nhau nương đâu chỉ chú?
Sư giộng cây gậy một cái nói:
– Một chữ Biết là cửa các thứ diệu.
Lại nói: – Lầm!
Sư xuống tòa.
Vòi vọi Thiếu Thất hằng chấn quần phong, quần phong là nhiều ngọn núi, Thiếu Thất tượng trưng cho cái không tên, cao vòi vọi không ai thấy. Có khi trong mây bày ra, có khi mù đậy không dấu, có lúc trong mây bày hiện Thiếu Thất, có lúc sương mù nhiều che mất không thấy. Có khi chợt hiện trước mắt, có miệng nói chẳng được, cái đó có khi hiện rõ ràng ở trước, vốn sẵn vậy mà nói không được, bị người gọi là tăng Hồ nhìn vách, tăng Hồ tức là tổ Đạt-ma, vì nói không được nên chín năm chỉ ngồi nhìn mà thôi. Các nhân giả! Làm sao khỏi được lỗi này? Thôi thôi chẳng bằng giữ thời khóa. Chỗ này làm sao nói mà không có lỗi, thôi thì giữ thời khóa cho kỹ.
Ngài nói: Ví như nước trong sông, chảy xiết đua nhau qua, mỗi mỗi chẳng biết nhau, các pháp cũng như thế. Dòng sông nước chảy xiết một mạch tuôn chảy từ nguồn đến biển, nhìn thấy như liền một mạch, thật ra là từng giọt tiếp nối nhau, tiếp nối mà không vượt qua nhau, tiếp nối mà không biết nhau. Các pháp trên thế gian này cũng vậy, cứ sanh diệt, sanh diệt mà không biết nhau. Như cây xoài cây mít… rễ của nó hút phân từ đất lên nuôi cây, rồi cây có hoa có quả. Rễ cây không nghĩ chất phân để nuôi trái, nó cứ làm vậy thôi. Bổn phận đứa nào làm việc của đứa nấy, rễ thì cứ hút phân hút nước lên thân, thân thì cứ lớn rồi ra lá ra bông, đậu trái. Rễ không có ý lựa chọn hút chất này cho trái ngọt, hút chất kia thì sợ trái chua, nó tự làm mà không biết.
Ngài cầm cây gậy nói: Cây gậy là các pháp, là biết nhau chẳng biết nhau? Nếu biết nhau sớm đã bị Biết trói, nếu chẳng biết nhau nương đâu chỉ chú? Nếu không biết nhau thì làm sao chỉ chú? Chỉ là chỉ dạy, chú là chú thích. Yếu điểm của ngài là gì? Ngài giọng cây gậy một cái nói: Một chữ Biết là cửa các thứ diệu. Câu này nguyên văn chữ Hán là Tri chi nhất tự, chúng điệu chi môn. Như vậy là biết hay không biết? Lại nói: Lầm! Rồi xuống tòa.
Phú Trịnh Công mỗi khi đàm luận với Sư, Sư đều cho là chẳng phải mà Phú Công nói lý không thôi. Một hôm Sư bảo Phú Công:
– Đợi được sơn tăng gật đầu là phải.
Từ đây Phú Công nói ra, Sư đều lắc đầu chưa từng có đáp. Chợt một hôm giữa đêm, Phú Công có tỉnh thẳng đến gõ cửa. Sư đã đóng cửa ngủ, nghe tiếng liền gọi:
– Tướng công đáng mừng việc lớn đã xong, đêm khuya lại chẳng mở cửa, sáng sớm gặp nhau.
Đến sáng gặp nhau, Sư thấy ở xa, chưa nói một câu đã gật đầu. Phú Công rất vui.
Phú Công này đa sự, đàm luận mỏi mệt nên ngài nói không phải, mà ông cứ nói hoài. Ngài đặt ra quy định, bảo Phú Công: Đợi được sơn tăng gật đầu là phải. Thị còn không phải, huống chi cái gì cũng Phi. Từ đây Phú Công nói ra, ngài đều lắc đầu chưa từng có đáp, nói gì cũng lắc đầu khỏi mệt lưỡi. Khi Phú Công ngộ, gặp nhau ngài chỉ gật đầu. Đây là chỗ đã thông cảm, không cần nói nhiều.
Sư người Giang Châu, xuất gia với Hòa thượng trụ trì chùa Cam Lồ. Sư đến pháp hội thiền sư Viên Chiếu, thầy trò cơ cảm duyên hợp từ xưa. Trước tiên Sư trụ chùa Vạn Thọ, phép tắc rất nghiêm chỉnh, lấy mình làm mẫu mực, chúng đều kính phục.
Thiền Sư Thiện Ninh Pháp Ấn ở Kim Sơn cũng thuộc tông Vân Môn. Ngài có những điểm đặc biệt mà chúng ta phải học theo. Quy luật trong chùa nghiêm chỉnh, đặt quy luật gì thì ngài là người thực hành trước hết, lấy mình làm mẫu mực nên chúng đều kính quý.
Sư thượng đường, có vị tăng ra hỏi:
– Thiên Hoàng nói như thế, Long Đàm cũng nói như thế, chưa biết Hòa thượng nói thế nào?
Sư nói:
– Tay cầm roi bạch ngọc, trọn đập nát ly châu.
Tăng thưa: – Thối lui có phần.
Sư bảo: – Biết lỗi ắt sửa.
Tăng hỏi: – Thế nào là ý Tổ sư Tây sang?
Sư bảo: – Cán cân không có số.
Tăng hỏi: – Ý này thế nào?
Sư đáp: – Đấu vuông có đáy.
Tăng hỏi: – Thế nào là Phật?
Sư đáp: – Mày như trăng khuyết, mắt tợ sao băng.
Tăng hỏi: – Thế nào là Pháp?
Sư đáp: – Nghĩa bày la liệt, sao tỏa đồng rộng.
Tăng hỏi: – Thế nào là Tăng?
Sư đáp: – Dáng xưa oai vệ, ý khí trượng phu.
Trong tông Vân Môn, Thiên Hoàng và Long Đàm là hai vị tôn túc trước xa, sau mới truyền đến Tuyết Phong, dưới Tuyết Phong tới Vân Môn, nên Tăng đem ra hỏi: Thiên Hoàng nói như thế, Long Đàm nói như thế, chưa biết Hòa thượng nói thế nào? Hệ thống các Tổ trong tông Vân Môn nói như vậy, không biết Thầy nói sao. Ngài nói: Tay cầm roi bạch ngọc, trọn đập nát ly châu. Roi bạch ngọc đập nát ly châu, roi ngọc có nát không? Cả hai đều tan.
Tăng thưa: Thối lui có phần, châu và roi hai cái đều nát thì lui lại. Ngài bảo: Biết lỗi ắt sửa, biết lỗi thì sửa là được rồi. Tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư Tây sang? Ngài bảo: Cán cân không có số, trên cán cân không khắc số để đo lường. Nói vậy đúng không? Tăng hỏi: Ý này thế nào? Ngài đáp: Đấu vuông có đáy. Đấu có đáy không? Đó là những câu đáp không cho suy nghĩ, dự ý vào.
Tăng hỏi:
– Gậy tre tùy thân gặp trường thì đùa, ngày nay mở trường thi Phật, thỉnh Thầy phương tiện.
Sư bảo: – Văn chẳng thêm điểm.
Tăng thưa: – Đáng gọi xưa nay ít nghe.
Sư bảo: – Là đề mục gì?
Tăng suy nghĩ. Sư liền đánh.
Gậy tre tùy thân gặp trường thì đùa, câu này phát xuất từ Đặng Ẩn Phong. Khi ngài Đặng Ẩn Phong từ giã Mã Tổ đi đến chỗ Thạch Đầu, Mã Tổ bảo: Đường Thạch Đầu trơn. Đặng Ẩn Phong nói: Gậy tre tùy thân, gặp trường thì đùa. Tăng thưa, ngày nay mở trường thi Phật, thỉnh Thầy phương tiện. Sư bảo: Văn chẳng thêm điểm. Tăng thưa: Đảng gọi xưa nay ít nghe. Sư bảo: Là đề mục gì? Đó là đề mục gì mà ngươi nói rằng ít nghe? Đây đều là những câu đáp không cho lưu ý suy nghĩ, mà Tăng cố suy nghĩ để hiểu nên ngài liền đánh.
Bèn nhìn tả hữu nói:
– Cổ nhân nói “Tại mắt nói thấy, tại tai nói nghe, tại mũi ngửi mùi, tại lưỡi luận bàn, tại thân chạm biết, tại ý phan duyên”. Tuy nhiên như thế, chỉ thấy đầu dùi bén, chẳng thấy đầu đục vuông. Nếu là Vạn Thọ thì chẳng thế, có mắt nhìn chẳng thấy, có tai lắng chẳng nghe, có mũi chẳng biết mùi, có lưỡi không đàm luận, có thân chẳng chạm biết, có ý chẳng phan duyên, một niệm tương ưng sáu căn giải thoát. Dám hỏi chư thiền đức! Hãy nói cùng trước là đồng hay khác? Nếu có nạp tăng đủ mắt ra đây thông tin tức, nếu không lại vì mọi người lớp lớp chú phá: buông ra thì xe ngựa lại qua, nắm lại thì dưới trên chẳng có. Nếu là hàng tác gia thạo chiến, mặc tình phải quấy lột sạch.
Cổ nhân nói “Tại mắt nói thấy, tại tai nói nghe, tại mũi ngửi mùi, tại lưỡi luận bàn, tại thân chạm biết, tại ý phan duyên”. Tuy nhiên như thế, chỉ thấy đầu dùi bén, chẳng thấy đầu đục vuông. Đây mới cho suy nghĩ. Tại mắt nói thấy, tại tai nói nghe… là dẫn lời tổ Lâm Tế nói. Cái đó ở tại mắt thì thấy, ở tại tai thì nghe, ở tại mũi thì ngửi, tại lưỡi thì luận bàn, tại thân thì chạm biết, tại ý thì phan duyên. Ngài cho rằng nói như vậy là chỉ thấy đầu dùi bén mà chẳng thấy đục vuông, chỉ thấy được một bên, chưa phải hai bên.
Nếu là Vạn Thọ thì chẳng thế, có mắt nhìn chẳng thấy, có tai lắng chẳng nghe, có mũi chẳng biết mùi, có lưỡi không đàm luận, có thân chẳng chạm biết, có ý chẳng phan duyên, một niệm tương ưng sáu căn giải thoát. Dám hỏi chư thiền đức! Hãy nói cùng trước là đồng hay khác? Kia nói cái thật ở khắp nơi, tại mắt thấy, tại tai nghe, còn đây thì ngài nói ngược lại. Có mắt nhìn chẳng thấy, có tai lắng chẳng nghe, có mũi chẳng biết mùi… Cái chân thật con mắt thấy được không, tai nghe được không? Hai lối nói, bên kia nói thấy nói nghe, bên đây nói không thấy không nghe. Nói không thấy không nghe là đối với cái chân thật đó, mắt không thể thấy tại không thể nghe, ý không thể phan duyên.
Một niệm tương ưng, sáu căn giải thoát. Một niệm khế hợp thì sáu căn giải thoát. Như trong kinh Lăng-nghiêm nói, một căn mở thì sáu căn giải thoát, rõ ràng như vậy. Tuy hai bên nói khác, nhưng chủ đích ý không khác. Bên kia thì nói cái thật sẵn ở sáu căn nên sáu căn đều có, bên này ngược lại nói sáu căn không thể thấy. Vì tâm còn phan duyên nên không thể thấy, nếu dứt phan duyên được khế hợp thì nó hiện tiền.
Nếu có nạp tăng đủ mắt ra đây thông tin tức, nếu không lại vì mọi người lớp lớp chủ phá. Ngài bèn giải thích chú phá. Buông ra thì xe ngựa lại qua, nắm lại thì dưới trên chẳng có. Buông ra đó là ai, nắm lại đó là ai? Tổ nói ở mắt nói thấy, ở tai nói nghe đó, là thuộc về buông ra thì xe ngựa lại qua, còn ngài nói ở mắt chẳng thấy, ở tai chẳng nghe đó là nắm lại thì dưới trên chẳng có.
Nếu là hàng tác gia thạo chiến, mặc tình phải quấy lột sạch.
Sư nói:
– Nắm máy huyền ở trong tay, treo gương xưa ở trước đài, có yêu nghiệt gì dám chống cự. Đáng gọi sáng ngời pháp giới tự tha mà cảnh trí toàn thâu, rỡ rỡ chân nguyên kia đây mà thánh phàm đều vắng. Do đây mà suy, tăng đường Phật điện đối sắc hiện thân, kho trù cổng chùa cùng bày việc ấy. Chỉ mời bẻ gãy cây gậy, nhằm trước mắt tham lấy.
Người thấy được chân thật như nắm được máy huyền ở trong tay, treo gương xưa ở trước đài. Người như vậy không có yêu nghiệt gì dám đến, hiện tại sáng ngời cả pháp giới, tuy thấy có tự có tha mà cảnh trí toàn thâu, rỡ rỡ nguồn chân kia đây thánh phàm đều vắng.
Do đây mà suy, tăng đường Phật điện đối sắc hiện thân, kho trù cổng chùa cùng bày việc ấy. Ngài Vân Môn thường hay nói Tăng đường Phật điện hai cái đang đấu nhau, hoặc nói kho trù cổng chùa… Khi nắm vững được máy huyền rồi thì ngôn ngữ đối đáp đâu đâu cũng là hiện tiền. Chỉ mời bẻ gãy cây gậy, nhằm trước mắt tham lấy, cứ ngay trước mắt mà tham cứu, đừng tìm kiếm đâu xa.
Sư nói:
– Nếu là bàn thiền nói đạo, liền thấy có sanh diệt, lại nhắc việc xưa nay, giống hệt chẳng xem thời tiết. Đêm qua gió táp mưa sa, sáng nay chóng trừ nóng bức. Đến đây khéo hay tham tỏ, Đạt-ma mê là chẳng khác.
Nếu là bàn thiền nói đạo, liền thấy có sanh diệt, lại nhắc việc xưa nay, giống hệt chẳng xem thời tiết. Dù cho nói bàn thiền đạo vẫn là tướng sanh diệt, còn nhắc việc xưa nay tức là nghĩ quá khứ vị lai thì giống hệt chẳng xem thời tiết, tức là không biết hiện tại.
Đêm qua gió táp mưa sa, sáng nay chóng trừ nóng bức. Đêm qua gió mưa, sáng này mát mẻ hết nóng bức, đó là xưa nay hay hiện tại? Đến đây khéo hay tham tỏ, Đạt-ma mê là chẳng khác. Nếu đến đó mà tham được tỏ rõ thì thấy ngay hiện tại, còn không thấy được thì cũng như tổ Đạt-ma mê. Tổ Đạt-ma mê tức không khác với người thường, nếu mê thì không gọi là Tổ. Nghĩa là nếu thấy rõ, ngộ được, chúng ta với Tổ không khác, nếu không thấy rõ thì như lúc Tổ còn mê.
Sư nói:
– Cả đại địa chưa từng có một người chân chánh nêu bày tông giáo. Nếu có một người nêu bày tông giáo, người cả đại địa đều phải cắt đứt lưỡi. Đâu phải bảo quý vị bặt dứt thấy nghe, khế hợp đạo này hay sao? Nếu kiến giải như thế, ví như dùng lửa đom đóm đốt núi Tu-di, trải qua trần sa kiếp trọn không thể được. Đâu chẳng biết, thánh xưa chỉ dạy cốt yếu người sau thấy đúng. Người đạt thấy đúng thật, gọi là xưa nay ít nghe, trước sau không có. Buông đi, lời lời thấy thật, câu câu sáng tông. Nắm lại, mắt mắt tùy phương, sáng ngời riêng đứng. Nhằm chỗ nào thấy cổ nhân?
Sư im lặng giây lâu nói:
– Phải biết biển núi về minh chủ, chưa tin càn khôn riêng có trời.
Cả đại địa chưa từng có một người chân chánh nêu bày tông giáo. Nếu có một người nêu bày tông giáo, người cả đại địa đều phải cắt đứt lưỡi. Chữ tông giáo chỉ cho thiền, nếu người thấu suốt nêu bày thiền đến nơi đến chốn thì mọi người đều bị cắt đứt lưỡi, tức là hết luận bàn.
Đâu phải bảo quý vị bặt dứt thấy nghe, khế hợp đạo này hay sao? Nói như vậy không phải bảo hết thấy hết nghe là hợp với đạo, mà thế nào? Nếu kiến giải như thế, ví như dùng lửa đom đóm đốt núi Tu-di, trải qua trần sa kiếp trọn không thể được. Nếu bặt dứt thấy nghe cho là đạo, chẳng khác nào đem lửa đom đóm đốt núi Tu-di. Ngay nơi thấy nghe mà đạo vẫn hiện tiền, đó mới là thật, còn đợi bặt dứt thấy nghe mới có đạo thì không phải.
Đâu chẳng biết thánh xưa chỉ dạy, cốt yếu người sau thấy đúng. Người đạt thấy đúng thật, gọi là xưa nay ít nghe, trước sau không có. Nếu người đạt được, thấy đúng thì điều đó ít được nghe ít được thấy. Buông đi, lời lời thấy thật, câu câu sáng tông. Nắm lại, mắt mắt tùy phương, sáng ngời riêng đứng. Nhằm chỗ nào thấy cổ nhân? Người thấu đạt rồi, buông ra cái gì cũng thật, câu nào cũng đúng; còn nắm lại thì con mắt lúc nào cũng sáng rỡ, chỗ nào cũng là chỗ chân thật.
Ngài im lặng giây lâu nói: Phải biết biển núi về minh chủ, chưa tin càn khôn riêng có trời. Đây là châm ngôn của Trung Hoa. Một lối nói bổ túc thêm.
Sư họ Trần, quê ở Trường Khê, Phúc Châu. Lúc bảy tuổi theo thượng nhân Triệt ở viện Tây Lâm xuất gia. Đến lớn Sư đi tham vấn thiện tri thức, tới pháp hội thiền sư Viên Chiếu dừng lại đây. Sư đứng hầu nghe nhắc lại nhân duyên “kiếp hỏa đổng nhiên”, hoát nhiên có tỉnh. Sư ở đây hầu hạ khá lâu.
Thiền Sư Duy Nhạc Phật Nhật ở Tịnh Nhơn thuộc tông Vân Môn, nhân nghe nhắc câu kiếp hỏa đổng nhiên, kiếp hỏa thiêu đốt cháy rực, ngang đó tỉnh ngộ bèn ở lại hầu hạ khá lâu.
Sau Sư đến trụ chùa Thừa Thiên ở Thường Châu, kế đến chùa Hoa Nghiêm ở Đông Kinh, sau cùng chùa Tịnh Nhơn ở Đông Kinh. Ngày khai đường, vua Triết Tông sai Trung sứ niêm hương. Sự lên tòa vấn đáp xong, bèn nói:
– Pháp môn này chẳng ở nơm bẫy, đâu can hệ vấn đáp. Dù cho tột mười phương cõi nước nghiền làm vi trần, mỗi mỗi vị trần đều làm nạp tăng, mỗi vị như ngài Xá-lợi-phất, Mãn Từ Tử, cả đời bàn huyền nói diệu, tinh thông triết thuyết, đến đây một điểm dùng cũng chẳng được. Vì cớ sao? Chúng sanh cùng Phật viên dung, tự hay bình đẳng. Mỗi người lỗ mũi thấu trời, mỗi mỗi vách đứng ngàn nhẫn. Bởi chẳng biết chân thật nên theo vọng chuyển, bị pháp đuổi duyên dời, tự mê linh quang luống đi vào đường khác.
Pháp môn này chẳng ở nơm bẫy, đâu can hệ vấn đáp. Mắc nơm hoặc mắc bẫy là bị gạt gẫm. Pháp môn thiền là nói thật không lừa gạt, nên không can hệ vấn đáp.
Dù cho tột mười phương cõi nước nghiền làm vi trần, mỗi mỗi vị trần đều làm nạp tăng, mỗi vị như ngài Xá-lợi-phất, Mãn Từ Tử, cả đời bàn huyền nói diệu, tinh thông triết thuyết, đến đây một điểm dùng cũng chẳng được. Có bao nhiêu cõi nước trong mười phương, đều gom lại rồi nghiền nát ra thành bụi nhỏ, một hạt bụi là một thầy tu, mỗi thầy tu đều có trình độ thông minh như Xá-lợi-phất, biện luận như Mãn Từ Tử. Dù thông minh lý luận hiểu triết thuyết thế gian, nhưng đến chỗ chân thật này, một điểm dùng cũng không được. Như vậy chúng ta ngồi đó mà suy luận có ra không? Cái chân thật không thể dùng trí mà biết được, không phải dùng lý mà luận ra. Tự mình phải ngộ phải thấy. Vì thế nói, tất cả trí tuệ hay, luận bàn giỏi cũng không đến được chỗ chân thật này.
Vì cớ sao? Chúng sanh cùng Phật viên dung, tự hay bình đẳng. Tại sao luận bàn không tới? Vì chúng sanh cùng Phật viên dung, tự hay bình đẳng. Như kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt”, đã là viên dung thì làm sao mà luận bàn? Mỗi người lỗ mũi thấu trời, mỗi mỗi vách đứng ngàn nhẫn. Mỗi người đều có lỗ mũi thấu trời, cao siêu tợ vách đứng ngàn nhẫn. Chúng ta đều sẵn có cái chân thật như đức Phật, không thiếu sót gì. Đã tự có thì làm sao lý luận cho ra?
Bởi chẳng biết chân thật nên theo vọng chuyển. Đây là nguyên nhân, chúng ta vì quên cái chân thật mà chạy theo vọng chuyển biến lôi cuốn. Nên bị pháp đuổi duyên dời, tự mê linh quang luống đi vào đường khác. Theo pháp đuổi duyên dời mà quên linh quang, luống đi vào đường khác. Chúng ta có linh quang riêng soi sáng mà quên, nên vào trong lục đạo luân hồi mỗi đường khác nhau. Tất cả mọi người, ai cũng sẵn có cái chân thật như Phật, chỉ vì không biết không nhận ra nên theo vọng chuyển biến đổi dời, quên mất linh quang của mình phải trôi lăn trong lục đạo.
Vì thế, vua pháp Phá hữu vận lòng từ vô duyên, cưỡi thuyền Ba thừa vớt năm tánh lăn lộn trong sóng vỗ. Bóng trăng ở đầm trong, tiếng chuông trong đêm vắng. Cho nên khiến “trâu đất Hoài ăn lúa, giá gạo Lê Lăng mắc”. Lại chẳng khỏi nhọc Sơ tổ Đạt-ma đến nước này, dùng tấm gương giáo ngoại, chẳng cần mài gạch làm gương; trong áo có châu ly, chẳng đếm châu báu cho người; chưa treo buồm xưa, hiện thành công án.
Vì thế, vua pháp Phá hữu vận lòng từ vô duyên, cưỡi thuyền Ba thừa vớt năm tánh lăn lộn trong sóng vỗ. Phật phá những kiến chấp nên gọi là vua Phá hữu. Ông vua pháp phá hữu vì thương xót chúng sanh, nên vận dụng lòng từ vô duyên, cưỡi thuyền Ba thừa tức là dùng tam thừa mười hai phần giáo làm thuyền, để cứu vớt năm tánh lăn lộn trong sóng vỗ. Năm tánh trong kinh Viên Giác nói là: Dị sanh tánh, Thanh văn tánh, Duyên giác tánh, Bất định tánh, Bồ-tát tánh.
Bóng trăng ở đầm trong, tiếng chuông trong đêm vắng. Phật tạo pháp tam thừa làm thuyền bè để độ chúng sanh đang lăn lộn trong biển sanh tử, đó là phương tiện tạm lập không phải chân thật. Giống như bóng trăng ở đầm trong, như tiếng chuông trong đêm vắng, nghe vang vang nhưng chỉ là âm thanh, không có thật thể.
Cho nên khiến “trâu đất Hoài ăn lúa, giá gạo Lô Lăng mắc”. Lại chẳng khỏi nhọc Sơ tổ Đạt-ma đến nước này, dùng tấm gương giáo ngoại, chẳng cần mài gạch làm gương; trong áo có châu ly, chẳng đếm châu báu cho người; chưa treo buồm xưa, hiện thành công án. Tổ Đạt-ma đến nước này tuyên bố giáo ngoại biệt truyền, rồi đến những câu chuyện như thiền sư Nam Nhạc mài gạch làm gương v.v… đều là những công án do người trước đã nói, đã lập ra.
Nói tóm lại, Phật thấy chúng sanh có tánh giác đồng với Phật mà quên, chạy theo vọng tưởng, chìm đắm luân hồi trong lục đạo. Thế nên Phật thương xót, bèn nói ra pháp ba thừa để cứu độ năm tánh. Những phương tiện của Phật, giống bóng trăng ở đầm trong, tiếng chuông trong đêm vắng mà thôi. Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma nói giáo ngoại biệt truyền, không dùng ngôn từ trong kinh giáo, không nói tam thừa hoặc tứ tánh; cho đến chư Tổ có những công án như trâu đất Hoài, giá gạo Lê Lăng… cũng vậy, đều là phương tiện tiếp người.
Do đó, ngộ lấy diện mục không ngộ, mê là chẳng mê quê nhà. Ba đời chẳng riêng, mười phương đồng bày. Đất ruộng nhà mình cây khô sanh cành, lò hương miếu cổ tro lạnh lại phát lửa. Đâu chẳng phải tất cả ngữ ngôn văn tự, tư sanh sản nghiệp cùng thật tướng chẳng trái nhau. Nếu vậy, “dưới cây không bóng nên đồng thuyền”, ngư ông đánh trống múa hát, “giữa có vàng ròng đầy một nước”, lão quê âu ca đồng vui thăng bình, đồng lên cõi thọ. Tự là trời dài đất sâu biển lặng sông trong. Thử hỏi, cùng vui thăng bình một câu làm sao nói?
Sư im lặng giây lâu nói:
– La Phù đánh trống, Thiều Châu múa. Đứng lâu, trân trọng!
Vua rất hài lòng ban hiệu là Phật Nhật thiền sư.
Do đó, ngộ lấy diện mục không ngộ, mê là chẳng mê quê nhà. Chúng ta ngộ là ngộ cái gì? Ngộ mặt thật lâu nay mà mình chưa ngộ, không có gì khác. Ngộ bản lai diện mục đã sẵn có từ bao giờ. Mê là chẳng mê quê nhà, bởi quê nhà đã có sẵn, chỉ tại mình quên.
Ba đời chẳng riêng mười phương đồng bày, ba đời không khác, mười phương hiện bày. Đất ruộng nhà mình cây khô sanh cành, lò hương miếu cổ tro lạnh lại phát lửa. Chúng ta đang sống trong đất ruộng nhà mình mà không biết. Nếu ngộ được thấy được thì chẳng khác nào cây khô mà đâm cành, lò hương miếu cổ tro tàn khói lạnh lại phát ra lửa. Trong chỗ lãng quên mà tỉnh thì hiện tiền sáng rỡ, còn không tỉnh cứ nằm mãi trong chỗ lãng quên. Cũng như lò hương miếu cổ lạnh tanh không ai ngó ngàng tới, nếu có người ngó ngàng tới thì liền có hương khói vậy.
Đâu chẳng phải tất cả ngữ ngôn văn tự, tư sanh sản nghiệp cùng thật tướng chẳng trái nhau. Đây là dẫn lời trong kinh Pháp Hoa. Đâu chẳng phải, tức là bất cứ nơi nào. Tất cả ngữ ngôn văn tự, tư sanh sản nghiệp cùng thật tướng chẳng trái nhau, tức đều là thật tướng. Nếu một phen ngộ được rồi thì tất cả mọi cái hiện tiền, cái nào cũng là Phật, cái nào cũng là giác.
Nếu vậy, dưới cây không bóng nên đồng thuyền, ngư ông đánh trống múa hát, giữa có vàng ròng đầy một nước, lão quê âu ca đồng vui thăng bình, đồng lên cõi thọ. Nếu được như vậy rồi thì dưới cây không bóng nên đồng thuyền. Dẫn từ câu chuyện của Quốc sư Huệ Trung lúc sắp tịch, vua Đường hỏi phải làm gì để kỷ niệm? Ngài bảo xây tháp Vô Phùng, nhà vua nói xin Hòa thượng cho bản đồ. Ngài bảo ta có đệ tử tên là Ứng Chơn, sau khi ta tịch thì đến đó hỏi. Khi Quốc sư tịch rồi vua đến hỏi Ứng Chơn, ngài nói bài kệ trong đó có câu: Dưới cây không bóng nên đồng thuyền, giữa có vàng ròng đầy một nước… Đó là bài kệ nói về tháp Vô Phùng. Dưới cây không bóng nên đồng thuyền, ngài bình ngư ông đánh trống múa hát. Giữa có vàng ròng đầy một nước, ngài bình lão quê âu ca đồng vui thăng bình, đồng lên cõi thọ.
Tự là trời dài đất sâu, biển lặng sông trong. Hai câu này diễn tả chỗ thanh bình, mọi việc đều an lành tốt đẹp. Nếu ngay đây nhận được thì tất cả tư sanh sản nghiệp đều không trái thật tướng.
Thử hỏi, cùng vui thăng bình một câu làm sao nói? Khi được cảnh thanh bình đó thì một câu làm sao nói? Ngài im lặng giây lâu nói: La Phù đánh trống, Thiều Châu múa. La Phù và Thiều Châu là hai nơi, mà nơi này đánh trống thì nơi kia múa. Như chúng ta nói Biên Hòa đánh trống, Long Thành múa vậy.
Thiền là giáo ngoại biệt truyền, nên khi các ngài nói không mượn ngôn ngữ trong giáo, chúng ta học giáo quen rồi đọc không hiểu. Lý lúc nào cũng rõ ràng, tương tự chứ không khác.