Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải

Đời Thứ Mười Bốn Sau Lục Tổ Huệ Năng



Tông Tào Động Đời Thứ Mười

THIỀN SƯ CHÁNH GIÁC HOẰNG TRÍ Ở THIÊN ĐỒNG – MINH CHÂU (1091 – 1157) 

Sư họ Lý, quê ở Thấp Châu. Mẹ Sư mộng thấy một vị tăng ở Ngũ Đài cởi chiếc vòng mang vào cánh tay mặt bà. Sau đó, bà thọ thai Sư. Trong lúc mang thai, bà gìn giữ trai giới cẩn mật. Sư sanh ra, cánh tay mặt nổi quầng giống chiếc vòng. Năm lên bảy tuổi, mỗi ngày đọc được ngàn lời. Ông nội và cha Sư tham thiền với thiền sư Phật-đà Tôn đã lâu, Phật đà chỉ Sư nói với cha Sư rằng: 

– Đứa bé này đạo vận rất tốt, chẳng phải là người ở trong trần ai. Nếu xuất gia ắt làm pháp khí. 

Năm mười một tuổi, Sư được độ ở Tịnh Minh Bổn Tông. Năm mười bốn tuổi, Sư thọ giới Cụ túc. Năm mười tám tuổi, Sư đi du phương. Khi sắp ra đi, Sư thưa với ông nội rằng: 

– Nếu con không phát minh việc lớn, thề không trở về. 

Thiền sư Chánh Giác Hoằng Trí là một vị nổi danh của tông Tào Động thời Tống, còn để lại rất nhiều kệ tụng. Ngài là con người kỳ đặc, nên mới mười bốn tuổi đã được cho thọ giới Cụ túc, cũng như ngài Huyền Trang thọ giới Tỳ-kheo lúc mười sáu tuổi, tức là sớm hơn quy định phải đúng hai mươi tuổi mới được thọ giới Tỳ-kheo.

Năm mười tám tuổi đi du phương, khi sắp ra đi ngài thưa với ông nội rằng: Nếu con không phát minh việc lớn, thề không trở về. Cũng như đức Phật, ngài rất dứt khoát. Một lần ra đi, nếu không đạt đạo là không trở về. Sự gan dạ đó là động lực làm cho các ngài sớm đạt đạo, còn chúng ta ít gan dạ nên tu lâu rồi mà chưa được gì.

Sư đến Hương Sơn ở chùa Tịnh Nhơn của thiền sư Thành. Thiền sư Thành một phen trông thấy Sư liền hứa nhận. Một hôm Sư nghe vị tăng tụng kinh Pháp Hoa đến câu “Con mắt do cha mẹ sanh, hẳn thấy ba ngàn thế giới”, bỗng nhiên có tỉnh. Sự liền đến trượng thất trình bày chỗ ngộ. Thiền sư Thành chỉ hương trên đài hỏi: 

– Trong đây là vật gì? 

Sư thưa: 

– Là tâm hạnh gì? 

Thiền sư Thành hỏi: 

– Chỗ ngộ của ngươi lại thế nào? 

Sư lấy tay vẽ một tướng tròn để trình, lại ném ra phía sau. Thiền sư Thành nói: 

 Kẻ đùa hòn đất có giới hạn gì? 

Sư thưa: – Lầm! 

Thiền sư Thành bảo: 

– Phải thấy người khác mới được. 

Sư thưa: – Vâng, vâng! 

Ngài đến Hương Sơn nơi chùa Tịnh Nhơn của thiền sư Thành. Thiền sư Thành một phen trông thấy ngài liền hứa nhận. Một hôm ngài nghe vị tăng tụng kinh Pháp Hoa đến câu Con mắt do cha mẹ sanh hẳn thấy ba ngàn thế giới, bỗng nhiên có tỉnh. Ngài tỉnh khi nghe kinh. Ngài liền đến trượng thất trình bày chỗ ngộ. Thiền sư Thành chỉ hương trên đài hỏi: Trong đây là vật gì? Ông trông thấy cái này là vật gì? Ngài thưa: Là tâm hạnh gì? Trong khi đối đáp các ngài dùng thuật đối đãi, như hỏi là vật gì thì ngược lại dùng tâm trả lời.

Thiền sư Thành hỏi: Chỗ ngộ của ngươi lại thế nào? Ngài lấy tay vẽ một tướng tròn để trình, lại ném ra phía sau. Chỗ ngộ là vòng tròn rồi quăng đi, không giữ lại. Thiền sư Thành nói: Kẻ đùa hòn đất có giới hạn gì? Như vậy thì cũng chưa có giới hạn. Ngài thưa: Lầm! Nếu thầy cho tôi như vậy là lầm. Thiền sư Thành bảo: Phải thấy người khác mới được. Ngài vâng lời, đi tìm thiện tri thức để học thêm.

Sư đến thiền sư Đơn Hà Tử Thuần. Đơn Hà hỏi: 

– Thế nào là chính mình trước không kiếp? 

Sư thưa: 

– Con ếch nuốt trăng nằm đáy giếng, canh ba chẳng cần rèm dạ minh. 

Đơn Hà bảo: – Chưa phải, nói lại. 

Sư suy nghĩ, Đơn Hà đánh một phất tử, nói:

– Lại nói chẳng cần? 

Sư ngay lời nói đó đại ngộ, liền đảnh lễ. Đơn Hà bảo:

– Sao chẳng nói lấy một câu? 

Sư thưa: – Ngày nay con mất tiền bị tội. 

Đơn Hà bảo: 

– Chưa rảnh để đánh ngươi, hãy đi. 

Ngài đến thiền sư Tử Thuần ở Đơn Hà, Đơn Hà hỏi: Thế nào là chính mình trước không kiếp? Không kiếp là chưa có cõi đất, huống nữa có người. Hỏi chính mình trước khi có trái đất, còn khó hơn bảo “nói một câu trước khi cha mẹ chưa sanh”. Trước khi cha mẹ chưa sanh còn gần, trước không kiếp là xa hơn nữa. Ngài thưa: Con ếch nuốt trăng nằm đáy giếng, canh ba chẳng cần rèm dạ minh. Con ếch nuốt trăng nằm dưới đáy giếng, canh ba không cần rèm dạ minh nữa. Đơn Hà bảo: Chưa phải, nói lại. Ngài suy nghĩ. Đơn Hà đánh một phất tử, nói: Lại nói chẳng cần? Ngài ngay lời nói đó đại ngộ, liền đảnh lễ. Tại sao vậy? Bởi vì còn suy nghĩ là còn mượn bóng dáng trần cảnh, đến chỗ chẳng mượn không còn cái đó, nên khi đánh một phất tử nói thì ngài đại ngộ liền đảnh lễ. Đơn Hà bảo: Sao chẳng nói lấy một câu? Ngài thưa: Ngày nay con mất tiền bị tội. Không còn gì để nói được, hết trơn hết trọi rồi. Đơn Hà bảo: Chưa rảnh để đánh ngươi, hãy đi.

Đơn Hà nhận trụ chùa Đại Hồng, cử Sư giữ chức Thư ký. Sau Đơn Hà sai Sư thủ chúng, số người đắc pháp khá đông. Được bốn năm, Sư dời đến Viên Thông. Khi ấy thiền sư Chân Yết mời đến trụ Trường Lô, sai tăng đi rước Sư. Sư đến chúng ra nghênh đón, trông thấy y phục của Sư rách rưới chúng đều xem thường. Chân Yết sai thị giả đổi giày mới cho Sư. Sư bảo: 

 Tôi vì giày mà đến sao! 

Cả chúng nghe nói hết lòng kính phục, cầu thỉnh thuyết pháp. Sư ở lại đây làm Đệ nhất tọa sáu năm. 

Ngài đã từng thủ chúng mà khi được thỉnh đi thì mặc áo rách, mang giày mòn. Chúng ra nghênh đón, thấy ông thầy lôi thôi nên xem thường. Ngài Chân Yết là trụ trì sợ mất mặt bạn mình, nên bảo đem giày mới thay đổi giày cũ, ngài nói: Tôi vì giày mà đến sao? Trụ trì có ý tốt, nhưng ngài có khí khái riêng, không quan trọng hình thức bên ngoài. Chúng nghe thấy vậy rất kính phục ngài.

Sư ra trụ trì chùa Phổ Chiếu ở Tứ Châu, kế bổ trụ trì chùa Thái Bình, chùa Viên Thông, chùa Năng Nhân, sau cùng đến Thiên Đồng ở Trường Lê. Nơi đây chật hẹp, Sư sửa sang khoáng đạt, tăng chúng đua nhau đến tham vấn rất đông. 

Sư thượng đường: 

– Gác vàng rèm buông ai truyền tin nha, màn đỏ phủ tối ném chân châu. Chính khi ấy thấy nghe có chỗ chẳng đến, nói năng có chỗ chẳng kịp, làm sao thông được tin tức? Mộng về đêm tối mờ mờ sáng, cười chỉ gia phong rực rỡ xuân. 

Đây là lối nói của tông Tào Động. Gác vàng rèm buông ai truyền tin, trên gác vàng mà buông rèm thì ai truyền tin nhà cho được. Màn đỏ phủ tối mà ném hạt chân châu thì không sao thấy. Đó là lối nói hồi hỗ, tức là bên sáng có tối, bên tối có sáng, nơi chỗ trống có chỗ bít, tức là sổ rèm mà lại truyền tin.

Chính khi ấy thấy nghe có chỗ chẳng đến, nói năng có chỗ chẳng kịp, nghe chẳng đến, nói chẳng kịp, làm sao thông được tin tức? Mộng về đêm tối mờ mờ sáng, cười chỉ gia phong rực rỡ xuân. Bên kia thì mờ mờ, bên đây thì rực rỡ, cũng là lối nói hồi hỗ của tông Tào Động.

Sư thượng đường: 

 Tâm không thể duyên, miệng không thể luận. Dù cho lui bước gánh vác, tối kỵ đương đầu chạm húy. Gió mát trăng trong bến đò xưa, thuyền đêm chèo chuyển lưu ly dấy. 

Ngài thường nói một đoạn, rồi cuối cùng kết thúc bằng hai câu thơ. Gió mát trăng trong bến đò xưa, thuyền đêm chèo chuyển lưu ly dấy. Diễn tả cảnh đẹp vô cùng, gió mát trăng trong ở bến đò xưa, chiếc thuyền chèo ban đêm chuyển, chuyển tức là chèo hất nước lên. Trong đêm trăng sáng mà hất nước lên thì nhìn thấy sáng ngời như ngọc lưu ly. Bởi vì chỗ chân thật không thể dùng tâm để nghĩ, dùng miệng để bàn, nên ngài nói đông nói tây để chúng ta khéo nhận.

Sư thượng đường: 

– Không kiếp có chân tông, trước tiếng hỏi chính mình. Nghèo cùng kế sống mới, thanh bạch gia phong xưa. Rõ ràng ngoài ba thừa, lặng lẽ trong một ấn. Lại đi trong dị loại, muôn dòng tự về đông.

Không kiếp có chân tông, trước không kiếp chân tông vẫn hiển hiện không thiếu. Trước tiếng hỏi chính mình, đây là cách nói của tu thoại đầu. Thoại đầu là đầu của lời nói. Trước tiếng là không có tiếng, nên bảo hỏi chính mình, nghĩa là tìm chính mình trước lời nói.

Nghèo cùng kế sống mới, thanh bạch gia phong xưa. Rõ ràng ngoài ba thừa, lặng lẽ trong một ấn. Trong tam thừa, tối quan trọng là Nhất thật tướng ấn, nên nói lặng lẽ trong một ấn. Đến đây là mục thứ chín trong mười mục chăn trâu. Được Nhất thật tướng ấn rồi thì sao? Lại đi trong dị loại, muôn dòng tự về đông. Đi trong dị loại là mục thứ mười. Tới chỗ này rồi thì muôn dòng tự về đông, tất cả đều trở về thể, không đâu ngoài thể.

Sư thượng đường: 

– Hôm nay là ngày đức Thích-ca đản sanh, Trường Lô chẳng biết nói thiền, cùng quý vị vẽ hình tướng. Chỉ như khi còn ở trong thai bà Ma-da thì sao? 

Sư lấy phất tử vẽ tướng này, nói: 

 Chỉ như khi lấy nước thanh tịnh tắm sắc thân lại thế nào? 

Sư lại vẽ tướng này, nói: 

– Khi đi bảy bước, mắt nhìn bốn phương, tay chỉ trời tay chỉ đất, thành đạo thuyết pháp thần thông biến hóa, trí tuệ biện tài bốn mươi chín năm hơn ba trăm hội, nói xanh luận vàng chỉ đông vẽ tây, khi nhập Niết-bàn lại là sao? 

Sư vẽ tướng này, lại nói: 

– Nếu là kẻ Thiền tăng đủ mắt ắt là nhận nhau, kia nếu chưa được thế, mỗi mỗi trải qua mới được. 

Hôm nay là ngày đức Thích-ca đản sanh, Trường Lô chẳng biết nói thiền, cùng quý vị vẽ hình tướng. Tôi nói thiền không được, giờ vẽ hình cho quý vị coi. Chỉ như khi còn ở trong thai bà Ma-da thì sao? Ngài lấy phất tử vẽ một tướng tròn có tâm điểm O. Lúc ở trong thai là ở trong vòng tròn chấm một điểm. Chỉ như khi lấy nước thanh tịnh tắm sắc thân lại thế nào? Ngài vẽ một tướng tròn, trong là chữ “thủy”, nghĩa là tắm. Khi đi bảy bước, mắt nhìn bốn phương, tay chỉ trời tay chỉ đất, thành đạo thuyết pháp thần thông biến hóa, trí tuệ biện tài bốn mươi chín năm hơn ba trăm hội, nói xanh luận vàng chỉ đông vẽ tây, khi nhập Niết-bàn lại là sao? Ngài vẽ vòng tròn, bao chữ thập ở giữa .

Các thiền sư trước nói, có khi trên đầu đường ngã tư nắm tay nhau, có khi trên ngàn chót núi nắm tay nhau; hay nói trên ngàn chót núi nắm tay nhau đi trên ngã tư đường; hoặc đến ngã tư đường trên ngàn chót núi nắm tay nhau… đảo đi lộn lại. Nghĩa là đến chỗ viên mãn rồi thì tự tại, không có gì chướng ngại.

Sư thượng đường, Tăng ra hỏi:

– Thế nào là người hướng đi? 

Sư đáp: 

– Mây trắng gieo xuống khe sâu, núi xanh tựa sững trời cao. 

Người hướng đi là đang dụng công tiến lên, nên lúc đó mây trắng gieo xuống khe sâu tan mất hết, núi xanh hiện rõ trong trời xanh thẳm. Mây trắng tượng trưng cho vọng tưởng, vô minh phiền não; khi mây tan thì núi xanh hiện. Nhưng tới đó xong chưa?

Tăng thưa: 

 Thế nào là người trở lại? 

Sư đáp: 

– Tóc bạc đầy đầu lìa hang núi, đêm tối xuyên mây vào xóm làng. 

Câu trả lời rất hay. Tăng hỏi, người đi tột rồi trở lại thì thế nào? Ngài đáp, tóc bạc đầy đầu lìa hang núi. Đó là hình ảnh ông già đóng cửa thất, xách cá chép mang bầu rượu đi xuống. Trở lại là như vậy, đóng cửa thất rồi đi vô xóm làng, tức là thõng tay vào chợ.

Tăng thưa: 

 Thế nào là người không đi không lại? 

Sư đáp: 

 Gái đá kêu về mộng tam giới, người gỗ ngồi bặt sáu cửa an. 

Khi không đi không lại thì sao? Gái đá kêu về mộng tam giới. Tam giới là cõi mộng, gái đá thì vô tình. Lúc nào tâm như gái đá thì kêu về cõi mộng tam giới, hay là mộng trong tam giới chỉ có cô gái đá mới kêu về được. Người gỗ ngồi bặt sáu cửa an. Sáu cửa là mắt tại mũi lưỡi thân ý. Mắt thấy sắc mà không dính không động, tai nghe tiếng mà không động không dính… Như người gỗ ngồi gác ở sáu cửa, đến đây mới thật là không đến không đi.

Sư lại nói: 

– Trong câu sáng tông thì dễ, trong tông biện thấu ắt khó. 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Lại hiểu chăng? Gà sương chưa gáy Gia Lâm sáng, thầm lặng hành nhân qua Tuyết Sơn. 

Trong câu sáng tông thì dễ, trong tông biện thấu ắt khó. Nơi một câu nói để hiểu được tông thì dễ, còn tông là chỗ chân thật, mà biện thấu được ắt là khó. Ngài im lặng giây lại hỏi, hiểu chăng? Rồi tiếp: Gà sương chưa gáy Gia Lâm sáng, thầm lặng hành nhân qua Tuyết Sơn. Canh năm là lúc sương xuống nhiều, gà sương chưa gáy mà Gia Lâm đã sáng, tức là quê hương mình đã sáng rồi, lúc đó hành nhân đang thầm lặng đi qua núi Tuyết. Những câu này nghe lạ tai nhưng rất hay.

Tăng hỏi: 

– Khi một mảy tơ chẳng mắc thì thế nào? 

Sư đáp: 

Hợp nhau thuyền khách thảy gay chèo. 

Một mảy tơ không mắc thì thế nào? Ngài đáp: Hợp nhau thuyền khách thảy gay chèo. Gay chèo tức là mắc cây chèo gay vô thuyền cho chắc, ai ở miền Tây thì biết gay chèo ra sao. Nói gay chèo tức là dính mắc, người ta hỏi không dính mắc thì ngài lấy dính mắc để đáp.

Tăng hỏi: – Trong ấy việc thế nào? 

Sư đáp: – Đao bén búa bén chẻ chẳng vào. 

Tăng hỏi: – Khi miệng đãy mở thì thế nào? 

Sư đáp: – Mặc tình chặn khe lấp suối. 

Tăng hỏi: – Khi lý thanh hư cứu cánh không thân thì thế nào? 

Sư đáp: 

– Văn thể chưa bày, tin tức khó truyền đến. 

Tăng hỏi mở thì lấy bít lấp để đáp. Tăng hỏi về lý

thanh hư, tức là chỗ rỗng không, ngài nói văn thể chưa bày hiện. Chỉ cho chỗ đó tất cả những hình tướng, tin tức khó truyền đến.

Tăng thưa: 

 Một bước thầm dời huyền lộ chuyển, khắp thân buông thõng kiếp hồ không. 

Sư đáp: 

– Khi đản sanh đến làm cha, toàn thể không sót chiếu. 

Vị tăng này hỏi cũng văn chương quá. Một bước thầm dời huyền lộ chuyển, người mà mỗi bước đều chuyển được huyền lộ, thì khắp thân buông thõng kiếp hồ không. Kiếp hồ là hồ chứa nước nhỏ xuống từng giọt, mỗi một giọt là một kiếp, cho đến hết tất cả nước gọi là kiếp hồ không. Buông thõng tay trước kiếp hồ không và mỗi bước huyền lộ đều chuyển, chỉ cho người đạt đến chỗ diệu dụng hoàn toàn. Ngài đáp: Khi đản sanh đến làm cha, toàn thể không sót chiếu. Đản sanh là thuở bé, làm cha là người lớn. Từ bé cho đến trưởng thành, toàn thể chiếu soi không chỗ nào sót thiếu.

Tăng thưa: 

– Lý đã như thế, sự lại thế nào? 

Sư đáp: 

– Rành rẽ kéo về việc phân hóa, máy ứng mười phương lại ngại gì. 

Tăng thưa: 

 Thế ấy thì bụi bụi đều hiện thân bản lai rồi vậy?

Sư đáp: 

– Thấu tất cả sắc, siêu tất cả tâm. 

Tăng hỏi, lý như vậy còn sự thì sao? Ngài đáp: Rành rẽ kéo về việc phân hóa, máy ứng mười phương lại ngại gì? Mọi việc phân hóa rành rẽ, như cỗ máy tạo hóa ứng hiện ở mười phương không có gì ngăn ngại. Tăng thưa, như vậy mỗi một hình tướng, mỗi một hạt bụi đều là hiện thân bản lai, tức thân xưa nay của mình. Ngài đáp: Thấu tất cả sắc, siêu tất cả tâm. Chỗ này vượt qua cả sắc và tâm, không còn sắc tâm đối đãi nữa.

Tăng thưa: 

– Như lý như sự lại là thế nào? 

Sư đáp: 

– Rắn chết trên đường thôi chớ đập, chiếc giỏ không đáy bỏ mang về. 

Tăng thưa: 

– Vào chợ khéo cười vang, về nhà mặc áo ngắn. 

Sư đáp: 

– Người gỗ trên núi ca, gái đá bên khe múa. 

Tăng thưa: Như lý như sự lại thế nào? Ngài đáp: Rắn chết trên đường thôi chớ đập, chiếc giỏ không đáy bỏ mang về. Rắn chết có cần đập không, chiếc giỏ không đáy bỏ vô thì làm sao mang về được? Đó là như lý như sự.

Tăng thưa: Vào chợ khéo cười vang, về nhà mặc áo ngắn; vậy là thầy có nhiều phương tiện. Ngài đáp: Người gỗ trên núi ca, gái đá bên khe múa. Những việc ca múa đó, giống như người gỗ, gái đá chứ có gì đâu.

Sư thượng đường: 

– Chư thiền đức! Người nuốt hết Phật ba đời, vì sao lại mở miệng chẳng được? Người soi thấu bốn thiên hạ, vì sao nhắm mắt chẳng được? Bao nhiêu bệnh hoạn, cùng lúc nêu cho ông xong vậy. Hãy làm sao được thập thành thấu suốt đi. Lại hiểu chăng? Chẻ bể Hoa Sơn sắc nối nhau, khai thấu Hoàng Hà tiếng đến biển. 

Người nuốt hết Phật ba đời, vì sao lại mở miệng chẳng được? Người gom nhớ hết lời của chư Phật dạy trong ba đời, lại mở miệng không được. Như trong kinh Lăng-nghiêm, ngài A-nan nhớ hết các môn bí mật Đà-la-ni của mười phương ba đời chư Phật, mà chỗ chân thật này ngài không nói được.

Người soi thấu bốn thiên hạ, vì sao nhắm mắt chẳng được? Tuy thấy bốn thiên hạ mà cũng không thấy được chỗ này, như ngài A-na-luật có thiên nhãn thấy hết tam thiên thế giới rõ ràng như xem vật trong lòng bàn tay, nhưng chỗ chân thật này cũng không thấy được. Bao nhiêu bệnh hoạn cùng lúc nêu cho ông xong vậy. Những bệnh như vậy, tôi đã nói xong rồi. Hãy làm sao được thập thành thấu suốt đi, phải đến chỗ toàn vẹn thấu suốt mới được. Lại hiểu chăng?

Chẻ bể Hoa Sơn sắc nối nhau, khai thấu Hoàng Hà tiếng đến biển. Hoa Sơn ở đầu nguồn của Hoàng Hà, nếu chẻ bể ngọn Hoa Sơn thì mỗi sắc nối nhau. Muốn khai thấu sông Hoàng Hà, để tiếng nó suốt tận biển không trở ngại thì phải phá hết các chướng ngại, không còn gì dính kẹt.

Sư trụ trì được cúng không mừng, cho ra không chán, gặp những năm khó khăn lương thực cạn mà vẫn nuôi hơn vạn chúng. Sư thường quá ngọ không ăn. 

Điều này rất khó học theo. Chúng ta được cúng thì mừng, ai đòi thì bực. Tại sao? Được cúng thì thấy chúng no nên mừng, đưa ra sợ hết, sợ cạn rồi chúng đói nên chán. Gặp những năm khó khăn, lương thực cạn rồi mà vẫn nuôi hơn vạn người.

Đến niên hiệu Thiệu Hưng (1157) tháng chín năm Đinh Sửu, Sư đi thăm quan liêu và đàn-việt trong quận, kế đến thăm Việt soái Triệu Công để lời từ biệt, ngày bảy tháng mười về núi. Hôm sau Sư tắm gội, thay áo ngồi ngay thẳng nói chuyện với chúng. Sư nhìn vị tăng hầu đòi bút viết thư, để lại cho thiền sư Đại Huệ ở Dục Vương việc thỉnh người kế thừa. Thư kệ rằng: 

Mộng huyễn không hoa

Lục thập thất niên, 

Bạch điểu yên một 

Thu thủy liên thiên. 

Dịch:

Mộng huyễn không hoa

Sáu mươi bảy năm, 

Chim trắng khói lặn 

Nước thu tiếp trời. 

Sư ném bút liền tịch. Sư thọ 67 tuổi, vua sắc thụy là Hoằng Trí, tháp hiệu Diệu Quang. 

Cuộc đời giống như mộng huyễn, như hoa đốm trong hư không. Sống trong sáu mươi bảy năm như vậy. Bây giờ chim trắng khói lặn, có chỗ nói trâu trắng khói lặn, tức là khói tan hết. Khi đó thì sao? Nước thu tiếp trời, nước trong liền với trời xanh, đó là chỗ ra đi thảnh thơi của ngài.

Ngài viết kệ xong, ném bút thị tịch. Thiền sư tu hành thật là tự tại, chúng ta bây giờ không được như vậy. 

THIỀN SƯ THANH LIỄU CHÂN YẾT Ở TRƯỜNG LÔ – CHƠN CHÂU (1088 – 1151) 

Sư họ Ung, quê ở Tả Miên. Lúc còn ẵm bồng, cha mẹ đem vào chùa thấy tượng Phật, Sư vui mừng chớp mắt nhướn mày. Đến mười tám tuổi Sư thi kinh Pháp Hoa được độ làm Tăng. Sư đến Thành Đô chùa Đại Từ học tập kinh luận, lãnh hội được đại ý. Sư ra đất Thục đến Miến Hán, vào thất thiền sư Đơn Hà Tử Thuần. Đơn Hà hỏi: 

 Thế nào là chính mình trước không kiếp? 

Sư suy nghĩ để đáp. Đơn Hà bảo: 

– Ngươi còn ồn hãy đi. 

Một hôm, Sư lên ngọn Bát Vu bỗng nhiên khế ngộ, thẳng về đứng hầu. Đơn Hà tát bảo: 

– Tưởng rằng ông biết rõ. 

Sư vui vẻ lễ bái. 

Hôm sau Đơn Hà thượng đường nói: 

Nhật chiếu cô phong thủy 

Nguyệt lâm khê thủy hàng

Tổ sư huyền diệu quyết 

Mạc hướng thốn tâm an. 

Dịch: 

Nhật soi cô phong biếc

Nguyệt đến nước khe trong,

Tổ sư huyền diệu quyết 

Chớ hướng tấc lòng an. 

Liền xuống tòa. Sư tiến đến trước thưa: 

– Ngày nay đăng tòa lại chẳng lừa được con. 

Đơn Hà hỏi: 

– Ngươi thử nhắc lại ngày nay ta đăng tòa xem? 

Sư im lặng giây lâu. Đơn Hà bảo: 

– Tưởng rằng ông chóng thấy. 

Sư liền đi ra. 

Chỗ ngộ của ngài nhờ sự khéo léo của thiền sư Đơn Hà. Khi hỏi: Thế nào là chính mình trước không kiếp? Ngay đó ngài không biết đáp sao, đang còn suy nghĩ thì Đơn Hà bảo: Ngươi còn ồn hãy đi. Suy nghĩ là còn ồn, là còn động, thôi đi đi! Ngài ôm ấp mối nghi đó, đến một hôm lên ngọn núi Bát Vu bỗng nhiên khế ngộ, chạy về đứng hầu. Đơn Hà tát một cái nói: Tưởng rằng ông biết rõ. Tại sao ngộ rồi mà còn bị đánh? Cái tát đó là để nhớ đời, nếu nói suông thì dễ quên, tát một tát té lửa thì nhớ hoài. Đây là thuật của người xưa, như Mã Tổ hét một tiếng Bá Trượng bị điếc tai ba ngày nên nhớ lâu.

Ngài vui vẻ lễ bái. Hôm sau Đơn Hà thượng đường nói: Nhật chiếu cô phong thủy, mặt trời soi sáng ngọn cô phong xanh biếc. Nguyệt lâm khê thủy hàn, bóng trăng đến, khe nước trong. Tổ sư huyền diệu quyết, bí quyết huyền diệu của Tổ sư là gì? Chớ hướng tấc lòng an. Đừng nói rằng khi tâm mình an là diệu quyết của Tổ sư, cũng như đừng bảo vô tâm tức là đạo, nếu chấp chỗ vô tâm đó thì cũng chưa phải là bí quyết của Tổ sư.

Sau Sư đi dạo Ngũ Đài Sơn, kinh sư, Phù Biện, thẳng đến Trường Lô yết kiến Tổ Chiếu, qua một lời nói khế hợp. Tổ Chiếu cho làm thị giả, qua một năm liền chia phần giáo hóa. Không bao lâu Tổ Chiếu cáo bệnh dưỡng già, giao phần giáo hóa lại Sư. Học giả quy tụ như trước. 

Đến cuối niên hiệu Kiến Viêm (1127-1130), Sư đến Tứ Minh, trụ Phổ Đà, Thiên Phong ở Thai Châu, Tuyết Phong ở Mân. Vua ra chiếu mời Sư trụ trì chùa Dục Vương, kế chùa Long Tường ở Ôn Châu, chùa Kính Sơn ở Hàng Châu. Hoàng thái hậu Từ Ninh mời khai sơn chùa Sùng Tiên ở Cao Ninh. 

Sư thượng đường: 

– Tôi ở chỗ Tiên sư, ngay một tát khéo léo đều dứt, tìm chỗ mở miệng chẳng thể được. Hiện nay lại có người vui sướng khôn cùng như thế chăng? Nếu không, hàm sắt mang yên mỗi người tự đeo. 

Ngài thuật lại chỗ ngộ của mình, lúc ở Đơn Hà bị một cái tát, tất cả sở đắc đều dứt hết, tâm không còn lăng xăng, không chỗ mở miệng. Chúng ta có được như vậy hay không? Nếu không được thì hàm sắt mang yên, mỗi người tự đeo. Nghĩa là làm trâu làm ngựa, mang yên mang hàm sắt để kéo cày cho người, tự mang tự đeo. Bởi vì người tu mà không ngộ đạo thì phải đem thân trả nợ đàn-na thí chủ.

Sư thượng đường: 

– Trên đảnh núi cao vót, qua cây cầu độc mộc, đi thẳng như thế vẫn là chỗ chân cao chân thấp của thời nhân. Nếu thấy được triệt, chẳng ra khỏi cửa mà thân khắp mười phương, chưa vào cửa mà thường ở trong thất. Nếu kia chưa như thế, nhân trời mát bửa một gốc củi. 

Trên đảnh núi cao vót, qua cây cầu độc mộc, đi thẳng như thế vẫn là chỗ chân cao chân thấp của thời nhân. Cầu độc mộc ở quê gọi là cầu khỉ, chỉ có một cây gác ngang, đi không khéo thì rớt. Người tu tợ như leo tột trên đảnh núi cao trơ trọi, hoặc giống đi qua cây cầu độc mộc; đi thẳng lên núi, qua được cây cầu độc mộc, cũng vẫn là người chân cao chân thấp, chưa triệt để. Nếu thấy được triệt, chẳng ra khỏi cửa mà thân khắp mười phương, chưa vào cửa mà thường ở trong thất. Ngồi đây mà thấy trùm cả mười phương, chưa vào cửa đã thấu hiểu việc trong thất. Nếu kia chưa như thế, nhân trời mát bửa một gốc củi. Nếu ông chưa được như vậy thì sáng sáng vác cuốc ra đồng đi.

Sư thượng đường: 

– Bên khóe miệng lên meo trắng mới được vào cửa, khắp thân thối nát đi mới biết có việc trong cửa. Lại phải biết có người chẳng ra cửa. 

Bèn nói: – Gọi cái gì là cửa? 

Bên khóe miệng lên meo trắng mới được vào cửa, khắp thân thối nát đi mới biết việc trong cửa. Nhà thiền thường nói, người tu phải để cho khóe miệng lên meo. Lẽ ra khóe miệng lên meo trắng, nhưng chúng ta khóe miệng lên bọt trắng, bởi ngồi lại bàn luận hoài không thôi. Người nào khóe miệng lên meo mới được vào cửa. Khắp thân thối nát đi mới biết có việc trong cửa. Thân thối nát tức là quên thân, không còn nhớ tới thân nữa thì mới biết có việc trong cửa. Như hai câu này, chúng ta tu chừng nào được? Câu thứ nhất đã khó rồi, câu thứ hai lại càng khó hơn. Lại phải biết có người chẳng ra cửa. Ngài hỏi lại: Gọi cái gì là cửa? Nói cửa cũng là phương tiện.

Có vị tăng hỏi: 

 Chư Phật ba đời nhằm trong đống lửa chuyển bánh xe đại pháp, có đúng hay chăng? 

Sư cười to bảo: – Tôi lại nghi. 

Tăng thưa: – Hòa thượng vì sao lại nghi? 

Sư đáp: – Hoa đồng thơm đầy lối, chim rừng chẳng biết xuân. 

Vị tăng hỏi, thường nghe nói Phật chuyển pháp luân trong đống lửa, hoặc Phật ngồi trên một vị trần chuyển pháp luân, việc đó có thật không? Ngài cười to bảo, tôi lại nghi. Tăng hỏi, Hòa thượng vì sao lại nghi? Ngài đáp: Hoa đồng thơm đầy lối, chim rừng chẳng biết xuân. Câu nói này rất hay! Hoa đồng nở thơm khắp hết cả vùng, chim rừng đâu biết có mùa xuân. Phật ngồi trong đống lửa chuyển bánh xe pháp, chỉ có người nào đến đó mới biết, mới thông cảm được, còn người không đến thì không thể biết.

Tăng thưa: 

– Chẳng rơi phong thái, lại cho chuyển thân hay không? 

Sư đáp: – Chỗ người đá đi chẳng đồng công. 

Tăng thưa: – Hướng thượng việc thế nào? Sư đáp: 

– Diệu ở trước hòn bọt, há cho ngàn thánh thấy. Tăng lễ bái. 

Tăng thưa: Chẳng rơi phong thái, lại cho chuyển thân hay không? Ngài đáp: Chỗ người đá đi chẳng đồng công, chẳng đồng công tức là không cùng chung với nhau. Tăng thưa: Hướng thượng việc thế nào? Ngài đáp: Diệu ở trước hòn bọt, hả cho ngàn thánh thấy, cái diệu ở ngay hòn bọt trước mắt, ngàn thánh còn chẳng thấy.

Một hôm Sư vào nhà trù xem làm bún, chợt thùng lủng đáy. Chúng đều la hoảng: – Uổng lắm! 

Sư bảo: 

– Thùng lủng đáy tự nên vui mừng, vì sao lại phiền não? 

Chúng thưa: – Hòa thượng thì được. 

Sư nói: – Thật là đáng tiếc một thùng bán! 

Một hôm ngài vào nhà trù xem làm bún. Bún để trong thùng thông, bất chợt thùng lủng đáy bún tuột xuống hết. Chúng đều la hoảng Uổng quá! Ngài bảo: Thùng lủng đáy tự nên vui mừng, vì sao lại phiền não? Nhà thiền thường nói thùng thông lủng đáy, tức là việc đó lâu nay tích lũy đến giờ tự nhiên tuột hết. Như vậy, tuột rồi thì mừng chứ, tại sao lại buồn, lại giận la? Chúng thưa: Hòa thượng thì được, còn chúng con làm cực quá mà tuột hết đâu thể không la. Ngài nói: Thật là đáng tiếc một thùng bún! Thôi thì, ông nói vậy ta cũng nghe vậy.

Sư thượng đường: 

– Rêu phong lối cũ chẳng rơi hư ngưng, mù phủ rừng xanh nhận bày phong yếu. Kim móc kín đáo, ai bảo ông chài về tổ. Chỉ thế thừa đương, chính là bình thường sống thích. Lại có người đủ con mắt thấu cổng chăng? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Dù cho sớm nghe liền trở về, đâu bằng từ lâu chẳng ra cửa.

Ngài diễn tả thể chân thật của mình đầy đủ, nếu không thấy thì không biết.

Sư thượng đường: 

– Chợt mưa chợt tạnh, chợt lạnh chợt nóng, cái của sơn tăng thì sơn tăng tự biết, cái của quý vị thì quý vị tự nói. Hãy nói, miệng của Tuyết Phong (Sư) trừ ngoài ăn cơm cần làm gì? 

Cái chân thật của ngài thì ngài biết, cái chân thật của mình thì mình tự hiểu. Miệng của ngài ngoài chuyện ăn cơm cháo ra, không còn cách nào khác, vì chỗ chân thật này không thể dùng miệng nói ra được.

Sư hỏi vị tăng: 

– Trên điện lưu ly ngọc nữ phóng thoi, để rõ bên việc gì? 

Tăng thưa: – Hồi hỗ chẳng đương cơ. 

Sư bảo: – Lại có đứt nối hay không? 

Tăng thưa: – Xưa nay chưa từng gián đoạn. 

Sư bảo: 

– Chính khi chẳng từng gián đoạn là sao? 

Tăng trân trọng rồi đi ra. 

Ở trước, chỗ Động Sơn có nói “ngọc nữ phóng thoi”, nên đây ngài lặp lại để hỏi Tăng: Trên điện lưu ly ngọc nữ phóng thoi, để bên việc gì? Khi dệt vải con thoi chạy qua chạy lại, vậy phóng thoi là ý nghĩa gì? Tăng thưa: Hồi hỗ chẳng đương cơ. Hồi hỗ là chủ yếu của tông Tào Động, chẳng đương cơ tức là chẳng hợp cơ. Ngài bảo: Lại đứt nối hay không? Thoi đưa qua lại có đứt nối hay không? Tăng thưa: Xưa nay chưa từng gián đoạn. Ngài bảo: Chính khi chẳng từng gián đoạn là sao? Tăng trân trọng rồi đi, ông tăng này cũng thuộc loại cao thủ.

Sư thượng đường: 

– Thân không huyễn hóa, tức pháp thân. 

Sư múa bảo:

– Thấy chăng? Thấy chăng? Thế ấy thấy được, qua cầu thôn rượu quý. 

Sư múa bảo:

– Thấy chăng? Thấy chăng? Thế ấy chẳng thấy, cách bờ hoa rừng thơm. 

Đẹp làm sao! Các vị thiền sư có những cái kỳ đặc. Ngài dẫn câu trong Chứng Đạo Ca của thiền sư Huyền Giác: Huyễn hóa không thân tức pháp thân, ngay thân huyễn hóa này tức là pháp thân. Ngài cầm gậy múa một cái, nói: Thấy chăng? Thấy chăng? Thân huyễn hóa tức là pháp thân, vậy khi ngài múa một cái có ai thấy pháp thân không? Thế ấy thấy được, qua cầu thôn rượu quý. Nếu ngay đó thấy được thì qua cầu ngồi quán uống rượu quý, nếm được mùi thơm của rượu quý. Ngài múa một cái nữa, hỏi: Thấy chăng? Thấy chăng? Thấy múa chúng ta tưởng là thấy cái múa, nhưng không phải. Đó là thấy pháp thân ngay thân huyễn hóa này, chứ không phải thấy cái múa. Thế ấy chẳng thấy được, cách bờ hoa rừng thơm. Hoa trong rừng thơm nhưng vì cách một bờ sông nên bên đây không ngửi được. Ngay thân huyễn hóa có pháp thân, nếu trong những hành động của ngài mà chúng ta thấy được pháp thân, tức là ngửi được mùi thơm thật của hoa rừng, còn không thấy được thì cách bờ rồi.

Sư thượng đường: 

– Lại có người không bị huyền diệu ô nhiễm chăng? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Một điểm này nghiêng nước bốn biển rửa cũng chẳng rơi. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào là chính mình trước không kiếp? Sư đáp: – Ngựa trắng vào hoa lau. 

Lại có người không bị huyền diệu ô nhiễm chăng? Thường chúng ta bị ô nhiễm là do phiền não, ngược lại ngài nói do huyền diệu mà ô nhiễm. Tại sao? Chấp có hai thứ. Một là chấp mê lầm của phàm phu, hư dối cho là thật. Cái chấp đó tuy khó mà dễ trừ, ngộ là hết. Hai là chấp cảnh tịnh, chấp huyền diệu, cái đó rất là khó trừ. Ngài nói một điểm chấp huyền diệu này nghiêng cả nước bốn biển rửa cũng không sạch. Một điểm này nghiêng nước bốn biển rửa cũng chẳng rơi.

Tăng hỏi: Thế nào là chính mình trước không kiếp? Ngài đáp: Ngựa trắng vào hoa lau, cái huyền diệu, cái chính mình trước không kiếp đó không cách xa chúng ta, chỉ vì không nhận ra được, giống như ngựa trắng vào trong đám hoa lau, một động một tĩnh, một tri một vô tri nhưng chúng ta không nhận ra.

Sư thượng đường: 

– Tột nhiệm táng gốc, thể diệu mất tông. Một câu đứt dòng, sâu huyền cùng tột. Bởi vì chỗ sâu kín kim vàng chẳng bày sáng nhọn, chỉ ngọc xuyên qua thầm bày sắc lạ. Tuy nhiên như thế, vẫn là xen lẫn hai sáng. Hãy nói, chỗ khéo vụng chẳng đến làm sao hiểu nhau? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Mây thưa soi thấu xanh mờ nhạt, cây núi thấp cao khóa biếc sâu. 

Tột nhiệm táng gốc, thể diệu mất tông, nếu đến chỗ quá nhiệm mầu thì mất gốc, quá diệu thì mất tông. Vì thế phải khéo thấy, đừng kẹt trong nhiệm mầu mà mất thể chân thật.

Mây thưa soi thấu xanh mờ nhạt, cây núi thấp cao khóa biếc sâu. Chính chỗ cây cao thấp đó có khóa sâu ở trong.

Sư thượng đường: 

– Chuyển công đến vị là người hướng đi, ngọc ẩn Kinh Sơn quý. Chuyển vị đến công là người trở lại, lò hồng mảnh tuyết xuân. Công vị đều chuyển khắp thân chẳng kẹt, buông tay quên áo, gái đá đêm lên máy, thất kín không người quét. Chính khi ấy, bặt hơi hám một câu làm sao hiểu nhau? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Về cội gió rơi lá, soi tột trăng đầm không. 

Sư tịch tại chùa Sùng Tiên ở Cao Ninh. Vua sắc thụy là Ngộ Không. 

Chuyển công đến vị là người hướng đi, ngọc ẩn Kinh Sơn quý. Chuyển vị đến công là người trở lại, lò hồng mảnh tuyết xuân. Tông Tào Động chuyển công đến vị là người hướng đi là nhằm thẳng để tiến lên, lúc đó giống như hòn ngọc quý ẩn ở Kinh Sơn. Chuyển vị đến công là người trở lại, từ ngôi vị đó chuyển trở lại là người trở lại, giống như lò hồng có mảnh tuyết xuân. Mảnh tuyết xuân rơi trên lò hồng, là từ trong chân thật quay về trầm luân để độ chúng sanh.

Công vị đều chuyển, khắp thân chẳng kẹt, buông tay quên áo, gái đá đêm lên máy, thất kín không người quét. Nếu công và vị đều chuyển thì khắp thân không kẹt, giống như buông tay quên áo, không có cái gì dính. Gái đá đêm lên máy, gái đá lên máy dệt để nói chỗ làm trong cái không động, trong thất kín không người quét. Chính khi ấy bặt hơi hám một câu làm sao hiểu? Ngài im lặng giây lâu nói: Về cội gió rơi lá, soi tột trăng đầm không. Tức là lá rụng về cội, câu thơ nói ngược, về cội gió rơi lá, soi tột trăng đầm không. Trăng trong đầm không ánh sáng soi tột.

Đọc các thiền sư, chúng ta thấy rất thấm. Các ngài nói khó mà hay. Nếu chúng ta học các ngài, học tới đâu thông tới đó thì chắc là khá lắm, còn học các ngài, học mà để nhớ nói dóc chơi thì không hay. Học thiền là học để sống, không phải học để nói, nhớ ráng học mà ráng sống.

THIỀN SƯ ĐỨC CHỈ CHÂN TẾ Ở VIÊN THÔNG – GIANG CHÂU 

Sư là con út của Kim Tử) Từ Hoằng Trung, gia thế sang trọng ở Lịch Dương. Đôi mắt Sư trông xanh biếc, sáng lóng lánh. Năm mười tuổi, Sư chưa biết học chỉ thích ngủ, cha Sư gọi là bé u mê. Đến khôn lớn, Sư nhớ giỏi học tài. Khoảng hai mươi tuổi, Sư mộng thấy vị tăng lạ trao cho bốn câu kệ và bức tượng của Nham chủ Nam An, bên cạnh có ghi bài kệ Thông Minh. Từ đây Sư trì niệm chẳng quên. 

Thiền sư Đức Chỉ thuộc tông Tào Động. Qua giấc mộng, chúng ta biết thuở trước ngài là Nham chủ Nam An.

Kim Tử: Dấu vàng đai tía. Thời xưa hàng tướng quốc, thừa tướng, thái úy, đại tư không, thái phó, thái sư, thái bảo, tiền hậu tả hữu tướng quân và sáu cung hậu phi được nắm con dấu vàng và ban dải lụa tía, cũng là phục sức biểu thị phẩm cấp. Đời Ngụy Tấn về sau, Quang lộc đại phu cũng được dấu vàng đại tía, do đó cũng gọi là Kim Tử quang lộc đại phu.

Kim Tử về sau cũng chỉ túi kim ngư và áo tía, là quan phục và đeo đời Đường Tống, do vậy cũng chỉ hàng đại quan quý. Bởi có chủng tử đó, nên lớn lên ngài thông minh và ngộ đạo sớm.

Sau năm năm, Sư theo Kim Tử đến Tây Lạc, một đêm chợt đại ngộ, làm luôn mấy bài kệ. Một bài rằng: 

Bất nhân ngôn cú bất nhân nhân,

Bất nhân vật sắc bất nhân thanh,

Dạ bán suy đăng phương tựu chẩm,

Hốt nhiên giá lý dĩ thiên minh. 

Dịch: 

Chẳng bởi ngôn cú chẳng bởi người,

Chẳng bởi vật sắc chẳng bởi tiếng,

Đêm tối thổi đèn bèn nằm xuống, 

Bỗng nhiên ngay đây đã sáng rồi. 

Mỗi bài ca đều như thế, mọi người không hiểu. Sư cố xin xuất gia, cha chẳng cho, muốn nối tiếp làm quan. Sư thưa: 

 Con sắp thoát khỏi lưới đời, chẳng mắc kẹt tam giới, há lại vùi đầu trong danh lợi sao? 

Sư xin trao lại (chức quan) cho anh là Giác, rồi thế phát xuất gia thọ giới Cụ túc. Sư tu chưa mấy năm mà đã nổi tiếng ở kinh sư. Niên hiệu Tuyên Hòa thứ ba (1121) vào mùa xuân, vua Huy Tông ban hiệu là Chân Tế. Sư nương với thiền sư Duy Chiếu ở Viên Thông. 

Bài ca của ngài người tầm thường không thể hiểu. Chẳng bởi ngôn cú chẳng bởi người. Không do những danh ngôn cú nghĩa trong kinh sách, cũng không do người, không phải ai dạy. Chẳng bởi vật sắc, chẳng bởi tiếng. Không phải do vật sắc gì, cũng không phải do tiếng. Đêm tối thổi đèn bèn nằm xuống, bỗng nhiên ngay đây đã sáng rồi. Vừa tắt đèn nằm xuống gối ngủ, bỗng nhiên ngay đó liền ngộ đạo. Rất khỏe!

Vậy là ngài ngộ đạo trước khi gặp các vị thầy, liền đó ngài cố xin xuất gia mà cha chẳng cho, muốn cho ngài tiếp nối làm quan. Ngài thưa: Con sắp thoát khỏi lưới đời, chẳng mắc kẹt tam giới, há lại vùi đầu trong danh lợi sao? Câu nói này rõ ràng là của người thoát tục. Danh lợi là thứ ở thế gian mong ước, giành giật nhau, nhưng ngài thì không thích vùi đầu trong danh lợi, xin nhường lại cho anh.

Sư thượng đường: 

– Sơn tăng hai mươi năm về trước hai mắt đều mù không thấy chi cả, chỉ là nghe người nói đạo, “trên bầu trời trong có mặt nhật to soi thấu tam thiên đại thiên thế giới, không chỗ nào mà chẳng khắp”, tìm kiếm muôn cách trọn không thể thấy. Hai mươi năm sau mắt từ từ mở sáng, lại gặp màu trời mờ tối mây dày nổi dậy, xem xét bốn phương trên dưới suy cùng, khi thấy mây bay liền theo chỗ đi mà suy tính, khi thấy mây dừng liền ở chỗ dừng làm hang ổ. Chính trong khoảng ấy, chợt gặp được người biết nhiều hỏi rằng: “Có phải cần thấy mặt trời chăng, sao chẳng nhìn trên đảnh núi cao đi?” Sơn tăng lại hỏi kia: “Chỗ nào là đảnh núi cao?” Kia đáp: “Chỗ hồng trần chẳng đến.” Chư nhân giả! Tin tức này rất chính xác. Lại hiểu chăng? Phật-đà trên giường thiền. 

Sơn tăng hai mươi năm về trước hai mắt đều mù không thấy chi cả. Ngài nói hai mươi năm về trước hai mắt đều mù, nghĩa là chưa thấy được đạo. Chỉ là nghe người nói đạo, như chúng ta nghe nói đạo nhưng có thấy đạo chưa? Chỉ nghe nói mà chưa phải mắt thấy, nên tạm gọi là mù.

Trên bầu trời trong mặt nhật to soi thấu tam thiên đại thiên thế giới, không chỗ nào mà chẳng khắp, tìm kiếm muôn cách trọn không thể thấy. Mặt trời to soi sáng không chỗ nào chẳng khắp, mà lúc đó không thấy. Dù tìm kiếm toan tính muôn thứ cũng không thấy, vì sao? Vì mắt mù.

Hai mươi năm sau mắt từ từ mở sáng, lại gặp màu trời mờ tối mây dày nổi dậy. Giai đoạn này có giống chúng ta không? Mắt mù không thấy mặt trời, mở mắt từ từ lại gặp bầu trời mờ tối, mây dày nổi dậy. Tuy mở mắt nhưng vì vô minh nhiều đời mờ mịt, thêm những đám mây vọng tưởng che lấp, khiến cho không thấy rõ mặt trời. Xem xét bốn phương trên dưới suy cùng, khi thấy mây bay liền theo chỗ đi mà suy tính, mây vọng tưởng đến đâu thì đi theo đó, suy xét tính lường. Khi thấy mây dừng liền chỗ dừng làm hang ổ, kẹt trong chỗ dừng lặng khô khan.

Chính trong khoảng ấy, chợt gặp được người biết nhiều hỏi rằng: phải cần thấy mặt trời chăng, sao chẳng nhìn trên đảnh núi cao đi? Lúc ấy chợt gặp người biết nhiều, chỉ cho bậc thiện tri thức, hỏi có phải ông cần thấy mặt trời chăng, muốn thấy trí tuệ chân thật đầy đủ trùm khắp phải không? Muốn thấy mặt trời, sao chẳng nhìn lên trên đảnh núi cao.

Sơn tăng lại hỏi kia rằng: Chỗ nào là đảnh núi cao? Ngài bảo tôi nhìn trên đảnh núi cao, vậy chỗ nào là đảnh núi cao? Kia đáp: Chỗ hồng trần chẳng đến. Đảnh núi cao đó, là chỗ bụi hồng không dấy tới. Muốn thấy mặt trời, phải nhìn ở chỗ hồng trần chẳng đến. Nếu bụi vọng tưởng còn đầy ắp thì thôi khỏi thấy mặt trời. Trong tâm chúng ta hồng trần có dấy không? Dấy đầy hết. Vì thế muốn thấy mặt trời mà không làm sao thấy được.

Chư nhân giả! Tin tức này rất chính xác. Lại hiểu chăng? Phật-đà trên giường thiền. Bậc thiện tri thức chỉ như thế rất chính xác. Chỗ mặt trời ngự là chỗ hồng trần chẳng đến, nhìn thấu chỗ đó là thấy Phật đang ngồi, không cần kiếm đâu xa.

Đoạn này mới nghe qua, dường như ngài nói mông lung, nhưng rốt cuộc nhắc nhở điều chính xác. Chúng ta tu ai cũng muốn giác ngộ được Phật tánh hay pháp thân của mình. Phật tánh, pháp thân tạm dụ như mặt trời. Chúng ta muốn thấy mặt trời, mở mắt ra nhìn nhưng ngặt nỗi bầu trời mù mù mịt mịt, thêm mây che khắp nên tìm hoài không thấy. Cố gắng ngồi lặng một chút để thấy, song vọng tưởng khởi lên che hoài. Phải nhìn lên chỗ đảnh núi cao, chỗ hồng trần không đến thì thấy liền, nghĩa là thoát khỏi vòng hồng trần mới thấy được. Đó là ngài nói ý nghĩa tu hành, ban đầu chưa thấy đạo, đến khi thấy được chút chút mà chưa được tột, nhờ thiện tri thức mới thấy tột.

Sư thượng đường: 

– Đêm qua ngài Cù-đàm đem tam thiên đại thiên thế giới đến, một hớp nuốt hết, như người uống nước nóng, dấu vết chẳng còn liền đó tiêu tan. Chính khi ấy chư vị đại Bồ-tát, Thanh văn, La-hán và tất cả chúng sanh thảy đều chẳng hay chẳng biết. Chỉ có ngài Văn-thù, Phổ Hiền bỗng nhiên thấy được. Tuy nhiên thấy được mênh mênh mông mông, dường như nhìn trên biển cả chợt nổi chợt chìm. Quý vị hãy nói, là tin tức gì? Nếu kiểm điểm được vỡ, nhận quý vị trên đánh môn đủ một con mắt. 

Đêm qua ngài Cù-đàm đem tam thiên đại thiên thế giới đến, một hớp nuốt hết; như người uống nước nóng, dấu vết chẳng còn liền đó tiêu tan. Kinh Lăng-nghiêm nói hư không nằm trong tánh giác như chiếc lá trong hư không, bọt trên biển cả, không có nghĩa lý gì. Huống nữa là tam thiên đại thiên thế giới trong hư không, có phải giống một hớp nước, hớp một cái nuốt hết không?

Chính khi ấy chư vị đại Bồ-tát, Thanh văn, La-hán và tất cả chúng sanh thảy đều chẳng hay chẳng biết. Chỉ có ngài Văn-thù, Phổ Hiền bỗng nhiên thấy được. Đây nói ngài Cù-đàm là dụ cho tánh giác rộng lớn thênh thang. Bồ-tát Văn-thù tượng trưng Căn bản trí, Bồ-tát Phổ Hiền tượng trưng Sai biệt trí. Chỗ này chỉ có Văn-thù và Phổ Hiền mới có thể thấy được chút phần.

Tuy nhiên thấy được mênh mênh mông mông, dường như nhìn trên biển cả chợt nổi chợt chìm. Thấy mà chưa thấu tột. Quý vị hãy nói là tin tức gì? Nếu kiểm điểm được vỡ, nhận quý vị trên đảnh môn đủ một con mắt. Kiểm điểm mà thấu được lẽ này, tức là trên đầu có con mắt. Đó là con mắt thứ mấy?

Sư thị tịch, trà-tỳ được xá-lợi rất nhiều, xây tháp thờ tại núi Tư Không. 

THIỀN SƯ ĐẠI TỬ ÔNG CẢNH THÂM Ở TRÍ THÔNG – HƯNG QUỐC QUÂN (1090 – 1152) 

Sư họ Vương, quê Thai Châu, từ nhỏ đã xuất chúng. Năm mười tám tuổi, Sư theo ngài Đức Chi ở viện Quảng Độ xuất gia. Trước tiên Sư đến yết kiến thiền sư Tượng ở Tịnh Từ. Một hôm nghe Tượng nói: “Nghĩ mà biết, suy mà hiểu đều là kế sống nhà quỷ.” Sư không thể tự nén, bèn đến Bảo Phong chỗ thiền sư Duy Chiếu xin vào thất. Bảo Phong bảo:

– Cần phải dứt niệm khởi diệt, nhằm trước không kiếp quét sạch huyền lộ, chẳng dính Chánh Thiên dẹp sạch hiện nay, toàn thân buông hết, buông hết lại buông mới có phần tự do.

nghe qua liền đốn ngộ huyền chỉ. Bảo Phong đánh trống bảo chúng: “Cảnh Thâm được đạo Xiển-đề đại tử, kẻ hậu học nên nương y.” Nhân đây, Sư được hiệu Đại Tử Ông.

Đầu tiên là ngài đến yết kiến thiền sư Tượng ở Tịnh Từ, một hôm nghe thiền sư Tượng nói: Nghĩ mà biết, suy mà hiểu đều là kế sống nhà quỷ, ngài liền có tỉnh. Chúng ta tu muốn làm thánh hiền mà đang sống với kế sống nhà quỷ, phải không? Sống bằng nghĩ mà biết, suy mà hiểu, chứ không phải bằng tâm thanh tịnh hiểu biết. Cứ khởi suy nghĩ như vậy, làm sao sống được với tâm thanh tịnh.

Ngài không nguôi được chỗ này, nên đến chỗ Bảo Phong xin vào thất. Thiền sư Bảo Phong dạy rất rõ: Cần phải dứt niệm khởi diệt, mọi niệm khởi diệt đều phải buông hết dứt hết. Nhằm trước không kiếp quét sạch huyền lộ, nếu cho rằng có một cái nhiệm mầu cao siêu trước không kiếp, cũng phải buông hết. Chẳng dính Chánh Thiên dẹp sạch hiện nay, tông Tào Động lấy Chánh Thiên làm tiêu chuẩn, đây bảo không quan tâm Chánh Thiên. Toàn thân buông hết, buông hết lại buông mới phần tự do. Buông rồi lại buông cả cái buông nữa, bởi nếu còn giữ lại niệm buông thì cái buông đó vẫn chưa hết.

Ví dụ như trong chúng có người gàn bướng, Thầy nghĩ phải khuyên họ bỏ hết gàn bướng. Khi khuyên dạy thì họ hứa bỏ, nhưng mới hứa thôi thì ý niệm muốn khuyên của Thầy dứt chưa? Chừng nào gàn bướng của họ sạch rồi, chừng đó ý niệm khuyên bỏ gàn bướng của Thầy mới hết. Chúng ta nghe nói buông hết lại buông, tưởng như có chuyện gì khác, thật ra cái buông đó mới là chặng thứ nhất. Nói buông nhưng tập khí vẫn còn, đến lúc niệm buông kia cũng phải dứt thì mới sạch hết.

Ngài nghe nói liền đốn ngộ huyền chỉ. Thiền sư Bảo Phong đánh trống bảo chúng: Cảnh Thâm được đạo Xiển-đề đại tử, kẻ hậu học nên nương y. Nhân đây, ngài được hiệu Đại Tử Ông. Trong ba hạng xiển-đề, đây là hạng xiển-đề thứ ba, tức Bồ-tát xiển-đề.

Đến niên hiệu Kiến Viêm (1127), Sư khai pháp ở Trí Thông. Sư thượng đường: 

 Đến chẳng vào cổng, đi chẳng ra cửa, đến đi không vết làm sao đề xướng? Dù được cổ lộ rêu phong, linh dương bặt dấu; ngô đồng trăng phủ, phượng đỏ chẳng đậu. Vì thế nói: “Chỗ ẩn thân không dấu vết, chỗ không dấu vết chớ ẩn thân.” Nếu hay như thế, đi đứng không nương trọn không hướng bối. Lại thông cảm chăng? Mà nay phân tán như mây hạc, anh tôi đều bằng khắp nơi huyền. 

Thượng đường ngài dạy: Đến chẳng vào cổng, đi chẳng ra cửa, đến đi không vết làm sao đề xướng? Đến thì chẳng vào cổng, đi thì chẳng ra cửa. Không vào cổng làm sao đến? Không ra cửa làm sao đi? Bởi vì cái đó không đến không đi. Kinh Kim Cang nói Như Lai là “vô sở tùng lai diệc vô sở khứ”, không từ đâu đến cũng không đi về đâu, đó là Như Lai. Đây ngài nói, đến chẳng vào cổng, đi chẳng ra cửa, đến đi không vết làm sao đề xướng? Chỗ đó đến đi không dấu vết, không có chỗ đề xướng.

Dù được cổ lộ rêu phong, linh dương bặt dấu. Cổ lộ là đường xưa; đường xưa rêu phong phủ kín, ý nói chỗ không dấu vết người lai vãng, con linh dương đi không để lại dấu vết. Ngô đồng trăng phủ, phượng đỏ chẳng đậu. Cây ngô đồng bị ánh sáng mặt trăng phủ trùm, chim phượng không đậu. Tu đến đây là chỗ không còn dấu vết, là bức tranh thứ tám của mười mục chăn trâu.

Vì thế nói: Chỗ ẩn thân không dấu vết, chỗ không dấu vết chớ ẩn thân. Câu này các thiền sư thường nhắc. Chúng ta nên ẩn thân ở chỗ không dấu vết, nhưng chỗ không dấu vết chớ ẩn thân. Chỗ không còn trâu không còn người chăn, tức là không năng không sở, chỗ đó cũng không ở mãi được, phải vượt qua khỏi mới xong.

Nếu hay như thế, đi đứng không nương trọn không hướng bối. Lại thông cảm chăng? Hướng là nhắm đến, bối là xoay lưng ngược lại. Như ở ngoài cửa đi thẳng vào chùa gọi là hướng, người trong chùa đi ra ngoài cổng thì gọi là bối. Mà nay phân tán như mây hạc, anh tôi đều bằng, khắp nơi huyền. Đúng ra phải không còn năng sở, không còn nhắm đến hay quay lưng, mà nay phân tán như mây với hạc, bay lang thang đầu trời này góc biển kia, anh tôi đều mất, khắp nơi huyền.

Thiền sư cứ nói vòng vo, không dùng danh từ đạo lý dễ hiểu. Bởi đã là giáo ngoại biệt truyền, nên các ngài khéo mượn hình ảnh thế gian mà nói đạo lý siêu thoát. Đây là sự kỳ đặc của các ngài.

Tăng hỏi: – Thế nào là Chánh trung thiên? 

Sư đáp: – Bà lão mặt đen mặc lụa trắng.

Tăng hỏi: – Thế nào là Thiên trung chánh?

Sư đáp: – Ông già đầu bạc mặc áo đen.

Tính cách hồi hỗ của tông Tào Động, trong Chánh có Thiên, trong Thiên có Chánh.

Tăng hỏi: – Thế nào là Chánh trung lai? 

Sư đáp: – Trong phân bèn nhảy nhào. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Kiêm trung chí? 

Sư đáp: – Đạo tuyết bao thân chẳng tự bị thương. 

Tăng hỏi: – Thế nào là Kiêm trung đáo? 

Sư đáp: – Mọi đen đi trong đêm. 

Tăng hỏi: – Hướng thượng lại có việc hay không? 

Sư đáp: – Bắt được rùa đen gọi là trạnh. 

Tăng thưa: – Xin Thầy lại bày phương tiện. 

Sư đáp: 

– Vào núi gặp cọp nằm, ra hang bị quỷ dẫn. 

Tăng thưa: – Sao được gây hấn nhau? 

Sư đáp: – Ba lượng chỉ, một cân gai. 

Tăng thưa: Con không hiểu, xin Thầy lập bày phương tiện. Ngài nói: Vào núi gặp cọp nằm, ra hang bị quỷ dẫn. Tăng thưa: Sao được gây hấn nhau? Thầy nói như thế là một kiểu chiến tranh, lấy cái đó mà đãi nhau sao? Ngài nói: Ba lượng chỉ, một cân gai, câu nói này không cho hiểu. Tinh thần nhà thiền không cho dùng ý nghĩa suy tầm, không cho nương câu nói mà suy luận. Nếu suy luận mà hiểu thì mắc kẹt chỗ nghĩ mà biết, suy mà hiểu đều là kế sống nhà quỷ. Ngài muốn chúng ta thoát khỏi, nên nói mà không cho mắc kẹt.

Niên hiệu Thiệu Hưng năm đầu (1131), về trụ tại núi Bảo Tàng. Đến năm Nhâm Thân (1152), Sư có chút ít bệnh, nói: 

Thế duyên hết vậy.

Đến ngày mười ba tháng ba, Sư vì chúng tiểu tham, nói kệ: 

Bất dụng thế đầu 

Hà tu táo dục

Nhất đôi hồng diệm

Thiên túc vạn túc.

Dịch:

Chẳng cần cạo tóc,

Nào phiền tắm gội,

Một đống lửa đỏ,

Ngàn đủ muôn đủ.

Tuy nhiên như thế, hướng thượng lại có việc hay không? 

Sư liền nhắm mắt tịch, thọ 63 tuổi, 45 tuổi hạ.

Tu được như ngài vậy mới nên tu, đừng để khi chết lo lắng đủ thứ. Khi người gần chết thì phải cạo tóc tắm gội, còn ngài thì bảo: Chẳng cần cạo tóc, nào phiền tắm gội. Thôi khỏi cạo tóc, cũng không phiền tắm gội làm gì. Dù cạo tóc hay không cạo tóc, để vô lửa cũng cháy tiêu tan hết, cho nên một đống lửa đỏ, ngàn đủ muôn đủ. Tất cả cái chân thật hiện trong lửa đỏ.

Nói xong, ngài nhắm mắt thị tịch. Sức tự tại của người xưa do công phu tu hành, các ngài làm chủ được mình, sống tự tại, chết cũng tự tại.

 

Tông Lâm Tế Đời Thứ Mười

1. Phái Hoàng Long

THIỀN SƯ NGỘ TÂN TỬ TÂM Ở HOÀNG LONG – phủ HƯNG LONG (1044-1115) 

Sư họ Vương, quê ở Khúc Giang, Thiều Châu, dáng người cao lớn mặt đen giống như vị tăng Ấn Độ. Sư xuất gia tại viện Phật-đà, khí tiết xuất chúng tư cách hơn người. 

Ban đầu Sư đến yết kiến Tú Thiết Diện ở Thê Hiền. Tú hỏi: 

– Thượng tọa người xứ nào? 

Sư thưa: – Quảng Nam, Thiều Châu. 

Tú hỏi: – Từng đến Vân Môn chăng? 

Sư thưa: – Từng đến. 

Tú hỏi: – Từng đến Linh Thọ chăng? Sư thưa: – Từng đến. 

Tú hỏi: – Thế nào là cành lá Linh Thọ? 

Sư thưa: – Dài tự dài, ngắn tự ngắn. 

Tú bảo: – Kẻ Mán ở Quảng Nam chớ nói loạn. 

Sư thưa: – Đến Bắc Lô chỉ như thế. 

Sư liền phải áo ra đi. Tú thừa nhận, mà Sư không lưu ý. 

Tú Thiết Diện là thiền sư Tú hiệu Thiết Diện. Thiết diện là mặt sắt. Thường thường có ai đến thưa hỏi, mặt ngài lạnh như tiền, nên gọi là Tú Thiết Diện. Thiền sư Tú hỏi: Thế nào là cành lá Linh Thọ? Có hai ý, một là hỏi cây, hai là hỏi về tông Vân Môn. Ngài thưa: Dài tự dài, ngắn tự ngắn. Câu trả lời thật hay! Cũng như câu hỏi “vườn trúc” ở trước, đáp “Một cây ngay, hai cây cong”. Đó là lối nói khéo léo.

Tú bảo: Kẻ Mán ở Quảng Nam chớ nói loạn. Đây là thuật mạt sát. Ngài thưa: Đến Bắc Lô chỉ như thế. Dù là người Bắc Câu-lô châu cũng nói như thế, đừng nói tôi là người Mán ở Quảng Nam. Ngài nói xong liền phải áo ra đi. Tú thừa nhận, mà ngài không lưu ý. Nếu người đã thấy thật rồi, bị mạt sát vẫn một bề không đổi thay; còn người chưa thấy thì nghe nói vậy liền sẽ hoảng hốt.

Sư đến Hoàng Long yết kiến thiền sư Bảo Giác, đàm luận không có chỗ ngộ. Bảo Giác bảo: 

– Nếu tài năng chỉ thế, nói ăn đâu thể no bụng người? 

Sư bế tắc không lời nói được, thong thả bạch: 

– Con đến đây cung gãy tên hết, cúi mong Hòa thượng từ bi chỉ chỗ an lạc. 

Bảo Giác bảo: 

– Một hạt bụi bay hay che trời, một hạt cải rơi hay phủ đất, chỗ an lạc tối kỵ Thượng tọa có bao nhiêu thứ tạp nhạp. Cần phải chết toàn tâm từ vô thủy kiếp đến nay mới được vậy. 

Nếu tài năng chỉ thế, nói ăn đâu thể no bụng người? Nếu tài năng của ông chỉ là lý luận vậy thôi thì nói ăn đâu thể no bụng. Dù lý luận giỏi cũng không đến được lý thật, chỉ như nói nhiều thức ăn ngon chứ bụng vẫn đói. Ngài bế tắc không lời nói được, thưa: Con đến đây cung gãy tên hết, cúi mong Hòa thượng từ bi chỉ chỗ an lạc. Bây giờ đầu hàng rồi!

Bảo Giác bảo: Một hạt bụi bay hay che trời, một hạt cải rơi hay phủ đất, chỗ an lạc tối kỵ Thượng tọa có bao nhiêu thứ tạp nhạp. Cần phải chết toàn tâm từ vô thủy kiếp đến nay mới được vậy. Một hạt bụi mà che trời, một hạt cải mà phủ đất. Ngài Bảo Giác muốn cho biết, đầy đủ muôn ngàn diệu dụng đó cũng không phải là chỗ an lạc. Chỗ an lạc tối kỵ, tức là tối kỵ muốn được chỗ an lạc. Thượng tọa có bao nhiêu thứ tạp nhạp, bao nhiêu thứ tâm lăng xăng lộn xộn, cần phải chết toàn tâm từ vô thủy kiếp đến nay mới được vậy. Quan trọng là phải chết được tâm tạp nhạp từ vô thủy kiếp tới giờ, đó là chỗ an lạc.

Sư ra đi. Một hôm Sư ngồi lặng lẽ dưới tấm bảng, chợt gặp Tri sự đánh cư sĩ, Sư nghe tiếng roi bỗng nhiên đại ngộ. Đứng dậy quên mang giày chạy đến phương trượng thấy Bảo Giác, Sư tự khen: 

– Người trong thiên hạ thảy là học được, con đã ngộ được rồi. 

Bảo Giác cười bảo: 

 Tuyển Phật được người đứng đầu bảng, ai dám đương. 

Từ đây Sư được hiệu là ông già Tử Tâm, bảng chỗ Sư ở để là Tử Tâm thất. Sư ở lại đây thời gian lâu. 

Tri sự ngày xưa rất oai! Tại sao Tri sự lại đánh cư sĩ? Thời đó ở Trung Hoa nhiều chùa to cả ngàn chúng tăng, nhà vua hoặc các quan cấp ruộng cho các chùa làm ruộng ăn, nên có một số cư sĩ làm phụ trong chùa để lãnh lương, vì thế nếu có cư sĩ nào ngỗ nghịch thì bị Tri sự lôi ra đánh. Ngài đang ngồi thiền nghe tiếng đánh “choóc” mà ngộ, cái ngộ đó từ đâu tới? Từ roi đánh hay từ cái gì? Nếu từ roi đánh thì quý vị kiếm cái roi mây cho tôi, mỗi bữa tôi đánh choóc choóc vài ba roi cho quý vị ngộ, phải không? Còn nếu tại cái gì khác thì tùy.

Ngài đứng dậy quên mang giày, chạy đến phương trượng thấy Bảo Giác, ngài tự khen: Người trong thiên hạ thảy là học được, con đã ngộ được rồi. Bảo Giác cười bảo: Tuyển Phật được người đứng đầu bảng, ai dám đương. Chỗ của các vị thiền sư gọi là Tuyển Phật Trường. Trong trường thi Phật đó, ngài Ngộ Tân là người đứng đầu bảng tại Hoàng Long.

Muốn đi đến chỗ an lạc thì phải tử tâm, phải một phen chết rồi sống lại mới được. Đó là sống thật, nếu không chết tâm đó thì khó có được cái sống thật, vì vậy cần phải tử tâm. Người học bây giờ đa số thông minh quá không tử tâm. Tâm cứ sống hoài, không chịu chết. Ngồi thì lăng xăng, hết chạy đông tới chạy tây. Lẽ ra thì phải khai tử tâm lăng xăng ấy đi mà nhiều người chưa chịu khai tử, vì vậy nên tu không thành công.

Kế đến, Sư đi dạo Tương Tây. Khi ấy thiền sư Triết lãnh Nhạc Lộc, Sư đến ra mắt. Triết hỏi: 

 Là phàm là thánh? 

Sư đáp: – Phi phàm phi thánh. 

Triết hỏi: – Là cái gì? 

Sư đáp: – Đưa mắt nhìn lên. 

Triết bảo: 

– Thế ấy là núi nam nổi mây núi bắc rơi mưa. 

Sư đáp: – Hãy nói là phàm là thánh? 

Triết bảo: 

– Tại sao trên đầu mênh mang, dưới chân mênh mang? 

Sư ngước nhìn trên thất thốt ra tiếng “Hư”. Triết bảo: – Hơi gấp chết người. 

Sư đáp: – Dường phải. 

Phủi áo liền đi. 

Ngài đi dạo Tương Tây, khi ấy thiền sư Triết lãnh Nhạc Lộc, ngài đến ra mắt. Triết hỏi: Là phàm là thánh? Ngài đáp: Phi phàm phi thánh. Chúng ta gặp hỏi như vậy sẽ nói sao? Chắc không dám nói thánh thì nói phàm, còn ngài thì nói phi phàm phi thánh, chẳng phải phàm cũng chẳng phải thánh.

Triết hỏi: Là cái gì? Nếu phi phàm phi thánh thì là cái gì? Ngài đáp: Đưa mắt nhìn lên. Đối đáp rất khéo, không phải phàm không phải thánh, vậy là gì? Đưa mắt nhìn lên.

Triết bảo: Thế ấy là núi nam nổi mây, núi bắc rơi mưa. Ngài đáp: Hãy nói là phàm là thánh? Thiền sư Triết gạn lại, còn nói nam nói bắc tức là phàm hay thánh? Triết bảo: Tại sao trên đầu mênh mang, dưới chân mênh mang? Ngài ngước nhìn trên thất thốt ra tiếng Hư”. Triết bảo: Hơi gấp chết người. Hư là hơi thở gấp làm chết người, như vậy chỉ là hơi chết thôi. Ngài đáp: Dường phải. Ngài liền phải áo ra đi.

Sư đến yết kiến thiền sư Ngộ ở Pháp Xương. Ngộ hỏi: – Vừa rời chỗ nào? 

Sư đáp: – Tôi từ Hoàng Long lại. 

Ngộ hỏi: – Lại thấy thiền sư Tổ Tâm chăng? 

Sư đáp: – Thấy. 

Ngộ hỏi: – Thấy ở chỗ nào? 

Sư đáp: – Thấy ở chỗ ăn cơm ăn cháo. 

Ngộ cầm đũa gắp lửa đẩy trong lò nói: 

– Cái này lại là sao? 

Sư lôi đũa gắp lửa ra, rồi đi. 

Ngài đến yết kiến thiền sư Ngộ ở Pháp Xương. Ngộ hỏi: Vừa rời chỗ nào? Ngài đáp: Tôi từ Hoàng Long lại. Ngộ hỏi: Lại thấy thiền sư Tổ Tâm chăng? Ngài đáp: Thấy. Ngộ hỏi: Thấy ở chỗ nào? Ngài đáp: Thấy chỗ ăn cơm ăn cháo. Câu đáp quá hay! Sao không nói thấy Thầy ở trong thất, mà thấy chỗ ăn cơm ăn cháo? Hỏi thấy Tổ Tâm không chỉ hỏi thấy thầy mình hay không, mà còn có ý là thấy được cái chân thật đó hay không, nhưng không nói trắng ra.

Ngài trả lời thấy ở chỗ ăn cơm ăn cháo, như thiền sư Triệu Châu thường hỏi Tăng ở đâu đến? Tăng thưa mới đến, ngài liền mời uống trà hoặc mời ăn cháo. Ăn cơm ăn cháo là chỉ chỗ bình thường của mỗi người, phải thấy ngay chỗ đó. Pháp Xương nghe đáp biết hay rồi, nhưng không dừng ngang đấy, mà cầm đũa gắp lửa đẩy trong lò, ở Trung Hoa mùa lạnh người ta có lò sưởi, hỏi: Cái này lại là sao? Thấy chỗ ăn cơm ăn cháo, bây giờ cái tôi làm việc bình thường này, có giống như vậy không? Ngài đáp thế nào? Sư lôi đũa gắp lửa ra, rồi đi. Cái đó như vậy, ăn cơm ăn cháo hay để lửa vô lò, hoặc lôi lửa ra cũng như nhau, đều là diễn tả ngay chỗ bình thường mà thấy.

Sư ban đầu trụ Vân Nham, kế dời trụ Thúy Nham. Tại Thúy Nham xưa có miếu Thần, dân trong làng cúng kiếng rượu thịt liên miên. Sư sai Tri sự phá miếu. Tri sự từ không dám chuốc họa. Sư bảo: 

 Nếu hay tác họa, ta tự làm đó. 

Đích thân Sư đến phá hủy cái miếu. Chợt thấy một con rắn to nằm khoanh đưa đầu như muốn mổ. Sư quở nó, nó bò đi. Sư về nghỉ an ổn. 

Không bao lâu Sư trở lại trụ Vân Nham. Dựng lập Kinh tàng, thái sử Hoàng Đình Kiên làm lời ký. Ông có đem lời ghi mộ của người thân khắc bên cạnh bia ký. Sư không bằng lòng nói: 

– Cái mộ mà xem thường không sợ họa sao? 

Sư nói chưa dứt, bỗng làn điện chớp sấm nổ vỡ tấm bia, song Tàng ký vẫn an nhiên không tổn hại.

Tri sự không gan dạ, bảo phá miếu không dám làm, sợ mang họa, vì miếu này rất linh. Ngài bảo: Nếu hay tác họa, ta tự làm đó, đích thân ngài đến phá hủy cái miếu. Chợt thấy một con rắn to nằm khoanh đưa đầu như muốn mổ, đó là thần miếu. Ngài quở, bảo nó không được ở đây, đi chỗ khác… rắn liền bò đi, ngài về nghỉ an ổn. Có chỗ khác ghi rằng, đêm đó ngài mộng thấy một vị thần đội mũ mang hia, đến thưa: Ngài không cho tôi ở đây, vậy xin cho tôi mượn năm mươi đứa phu khuân vác đồ để dời đi nơi khác, ngài hứa cho. Sáng hôm sau, năm mươi người ở đó bị bệnh dịch chết. Sau thượng đường, ngài nói: Nếu quỷ thần linh, khi Tử Tâm phá thì hại Tử Tâm. Nếu quỷ thần không linh, tại sao hứa cho mượn năm mươi người thì năm mươi người chết?

Về già, Sư trụ Hoàng Long học giả tụ họp rất đông. Sư mắc bệnh lui về ở Hối Đường. Dạ tham, Sư đưa cây phất tử lên nói: 

 Xem, xem! Phất tử bệnh hay Tử Tâm bệnh? Phất tử an hay Tử Tâm an? Phất tử xuyên thấu Tử Tâm, Tử Tâm xuyên thấu phất tử. Chính ngay khi này gọi phất tử lại là Tử Tâm, gọi Tử Tâm lại là phất tử, cứu cánh phải nói thế nào? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Chớ đem phải quấy đến ta biện, phù sanh xuyên tạc chẳng liên can. 

Dù nói lăng xăng lộn xộn mà còn thấy phải quấy, bên này bên kia, đều là không đến nơi.

Có vị tăng hỏi câu rốt sau. Sư nói kệ:

Mạt hậu nhất cú tử

Trực tu tâm lộ tuyệt.

Lục căn môn ký không

Vạn pháp vô sanh diệt.

Ư thử triệt kỳ nguyên

Bất tu cầu giải thoát.

Sinh bình ái mạ nhân 

Chỉ vị trường khoái hoạt.

Dịch: 

Một câu ở rốt sau 

Cần phải đường tâm dứt.

Cửa sáu căn đã không 

Muôn pháp không sanh diệt.

Nơi đây thấu được nguồn

Chẳng cần cầu giải thoát.

Bình sinh thích mắng người

Chỉ vì thường ưa sống. 

Câu rốt sau này xuất phát từ chỗ ngài Nham Đầu. Có một vị tăng từ Tuyết Phong đến, ngài Nham Đầu hỏi thăm Tuyết Phong và nói: “Rất tiếc ta không nói với y câu rốt sau. Nếu nói với y câu rốt sau thì trong thiên hạ không ai làm được gì lão Tuyết.” Nhân chuyện ấy, Tăng hỏi ngài Tử Tâm, câu rốt sau là gì? Ngài chỉ nói:

Một câu ở rốt sau, cần phải đường tâm dứt. Đường tâm dứt là câu rốt sau. Cửa sáu căn đã không, muôn pháp không sanh diệt. Chẳng những đường tâm dứt, mà cửa sáu căn đã không thì muôn pháp không còn khởi sanh diệt.

Nơi đây thấu được nguồn, chẳng cần cầu giải thoát. Ai thấu được nguồn gốc như vậy, chẳng cần cầu giải thoát làm gì nữa. Nếu người được tới chỗ cửa sáu căn không, muôn pháp không sanh diệt rồi, không cần cầu giải thoát mà tự đã giải thoát.

Bình sinh thích mắng người, chỉ vì thường ưa sống. Bởi ưa sống cho nên thích mắng người, vì muốn giúp cho người sống lại với cái chân thật của chính mình.

Niên hiệu Chánh Hòa thứ năm (1115) tháng chạp ngày mười ba, buổi chiều tiểu tham, Sư nói kệ xong. Đến ngày rằm, Sư an nhiên thị tịch, thọ 72 tuổi, 45 tuổi hạ. Tháp Sư ở sau Hối Đường. 

THIỀN SƯ DUY THANH LINH NGUYÊN Ở HOÀNG LONG – phủ HƯNG LONG (1040 – 1117) 

Sư họ Trần ở Vũ Ninh, Nam Châu được tâm ấn nơi Hối Đường Tổ Tâm. Mỗi khi vì người, Sư nói: 

– Học giả thời nay chưa thoát sanh tử, bệnh tại chỗ nào? Lỗi tại tâm trộm chưa chết. Song không phải tội tại họ, mà tội ở thầy. Như Hán Cao Đế giết Hàn Tín, Hàn Tín tuy chết mà tâm kia thực chết ư? Học giả thời xưa ngay một lời nói liền thoát sanh tử, công hiệu tại chỗ nào? Tại tâm trộm đã chết. Song không phải học giả tự hay như thế, thực là do thầy rèn luyện diệu mật. Như Lương Võ Đế ngự ở đại điện thấy Hầu Cảnh chẳng đổi sắc mặt, mà tâm Hầu Cảnh đã khô kiệt không còn. Các nơi nói ra đâu không có mỹ lệ, cốt như Triệu Xương vẽ hoa, hoa tuy giống như thật mà chẳng phải hoa thật. 

Học giả thời nay chưa thoát sanh tử, bệnh tại chỗ nào? Lỗi tại tâm trộm chưa chết. Ngài nói chúng ta học mà không thấy đạo, lỗi tại chỗ tâm trộm chưa chết. Tại sao gọi là tâm trộm? Vì nó lén đi không cho hay biết, khi đang ngồi yên lặng bỗng dưng âm thầm khởi vọng nên gọi nó là tâm trộm.

Song không phải tội tại họ, mà tội ở thầy. Tâm trộm chưa chết không phải lỗi tại người học mà lỗi tại ông thầy. Nếu thầy khéo thì người học tâm trộm mau chết, thầy không khéo thì tâm trộm của người học lâu chết. Đây dẫn chuyện như Hán Cao Đế giết Hàn Tín, Hàn Tín tuy chết mà tâm kia thực chết ư? Hàn Tín là một vị tướng tài, có công dẹp Sở dành ngôi vị cho Hán Cao Tổ. Sau này Hàn Tín được cử làm Sở vương trấn một cõi, nhưng Hán Cao Tổ sợ Hàn Tín phản, dùng mưu tổ chức một buổi lễ mời Hàn Tín về, rồi phục binh giết chết. Nhưng Hàn Tín chết mà tâm có chết không? Người anh hùng xưa tuy chết nhưng ý chí không chết. Đó là nói một ví dụ khác.

Học giả ngày xưa ngay một lời nói liền thoát sanh tử, công hiệu tại chỗ nào? Tại tâm trộm đã chết. Song không phải học giả tự hay như thế, thực là do thầy rèn luyện diệu mật, đó là cái khéo của ông thầy. Đây có ví dụ ngược lại, như Lương Võ Đế ngự đại điện thấy Hầu Cảnh chẳng đổi sắc mặt, mà tâm Hầu Cảnh đã khô kiệt không còn. Hầu Cảnh là quan của Lương Võ Đế nổi dậy làm phản, khi ông kéo quân vô điện, Lương Võ Đế ngồi nghiễm nhiên không đổi sắc mặt. Tuy ông cướp được ngôi, nhưng khi thấy Lương Võ Đế thì tâm đã chết cứng rồi. Đây nói tài của thầy, giúp cho người học dễ chết được tâm trộm.

Các nơi nói ra đâu không có mỹ lệ, lời nói đều rất hay, rất khéo, cốt như Triệu Xương vẽ hoa, hoa tuy giống như thật mà chẳng phải hoa thật. Ngôn ngữ dù khéo léo, nhưng không đến cái thật, như Triệu Xương vẽ hoa, thấy đẹp giống như hoa thật nhưng không phải hoa thật.

Sư thượng đường: 

– Tiếng trống vừa đánh đại chúng tụ hội, máy trời vô hạn một lúc tiết lộ. Chẳng cô phụ chánh nhãn liền nên quy đường, lại đợi lắm lời chôn vùi tông chỉ. Dù bảo: “Thích-ca chẳng xuất thế, bốn chín năm thuyết pháp. Đạt-ma chẳng Tây sang, Thiếu Lâm có diệu quyết.” Tu sơn chủ cũng giống như ở chỗ cao trông về quê nhà. Lại nói: “Nếu người biết Phật tổ, ngay đây liền siêu việt.” Dù cho thế ấy ngộ nhập thân thiết, lại có một con đường chuyển thân. Khám qua rồi vậy. 

Sư lấy phất tử gõ giường thiền, xuống tòa. 

Tiếng trống vừa đánh đại chúng tụ hội, máy trời vô hạn một lúc tiết lộ. Như chúng ta vừa đánh ba tiếng chuông, chúng họp lại là đã tiết lộ máy trời. Do nghe tiếng mà đến, đó là máy trời. Rất khéo như thế. Chẳng cô phụ chánh nhãn liền nên quy đường, nếu không phải là những người được con mắt chánh thì nên trở về, lại đợi lắm lời chôn vùi tông chỉ, đợi tôi nói nhiều chỉ là chôn vùi tông chỉ.

Dù bảo: 

Thích-ca chẳng xuất thế,

Bốn chín năm thuyết pháp.

Đạt-ma chẳng Tây sang, 

Thiếu Lâm có điệu quyết. 

Tu sơn chủ cũng giống như ở chỗ cao trông về quê nhà. Lại nói: “Nếu người biết Phật tổ, ngay đây liền siêu việt.” Dù cho thế ấy ngộ nhập thân thiết, lại có một con đường chuyển thân. Khám qua rồi vậy. 

Đây là bài thơ của Tu sơn chủ. Ngài phê bình Tu sơn chủ cũng giống như xa đứng trên cao trông về quê nhà, nói được như vậy cũng chỉ là ở xa nhìn về quê, chứ chưa đến được nhà. Những câu nói có tính cách siêu xuất nhưng sự thực chưa đến nơi.

Sư thượng đường: 

Gió thổi tùng, trăng rọi sông,

Canh khuya đêm vắng lại là ai?

Sương mù mây ráng che chẳng được,

Trong đây dù nói chẳng bằng về.

Lại về đâu? 

Lá sen tròn tròn, tròn giống gương, 

Góc ấu nhọn nhọn, nhọn như dùi. 

Hai câu đầu bài này nguyên văn trong Chứng Đạo Ca là “Giang nguyệt chiếu, tùng phong xuy, vĩnh dạ thanh tiêu hà sở vi?” Ngài đổi đối tượng hỏi là ba chữ “hà sở vi – làm gì đây?” Thành “cánh thị thùy – lại là ai?” Tôi dịch là Gió thổi tùng, trăng rọi sông, canh khuya đêm vắng lại là ai? 

Sương mù mây ráng che chẳng được, trong đây dù nói chẳng bằng về. Có chỗ nói rằng ngài Vĩnh Gia muốn diễn tả cảnh pháp thân, chỗ mà trăng rọi sông, gió thổi tùng, canh khuya đêm vắng. Ngài nói chỗ đó trong đây dù nói chẳng bằng về, nói tuy hay đẹp nhưng không bằng mình về tới chỗ, cái đó mới là thực.

Lại về đâu? Hỏi, về chỗ nào? Ngài nói Lá sen tròn tròn tròn giống gương, góc ấu nhọn nhọn nhọn như dùi, lá sen nào cũng tròn giống như cái gương, trái ấu thì góc nào cũng nhọn như cây dùi, về chỗ đó.

Sư thượng đường: 

– Chư Phật ba đời chẳng tri hữu, ân không nặng đáp. Mèo hoang trâu trắng lại tri hữu, công chẳng uổng bày. Rõ đại dụng hiểu toàn cơ, bặt dấu vết chẳng nghĩ nghì. Nên về đi, không người biết. 

Vọt thấu trời xanh tùng ngàn thước, 

Cắt đứt hồng trần nước một khe. 

Chư Phật ba đời không tri hữu, tức là không biết có. Thường nói người tri hữu là người biết có, ai nhận nơi mình có tánh Phật không nghi ngờ gọi đó là tri hữu. Đây nói chư Phật không tri hữu, mèo hoang, trâu trắng lại tri hữu, tại sao nghịch lý như thế? Tu sơn chủ nói, nếu thánh nhân hội tức đồng phàm phu, phàm phu nếu hội tức đồng chư thánh. Nếu chư Phật ba đời tri hữu tức đồng phàm phu, vì đã là Phật rồi đâu cần biết có Phật tánh, nếu biết là khởi niệm giống như phàm phu. Vì thế nói chư Phật ba đời chẳng tri hữu. Mèo hoang trâu trắng lại tri hữu, công chẳng uổng bày, những chúng sanh ngu dại khéo tu biết có Phật tánh, nhờ biết như vậy nên mới tu được.

Rõ đại dụng hiểu toàn cơ, bặt dấu vết chẳng nghĩ nghì. Nên về đi, không người biết, tu đến lúc bặt dứt dấu vết phàm thánh, về đến quê hương rồi mới tốt. Vọt thấu trời xanh tùng ngàn thước, cắt đứt hồng trần nước một khe, muôn thứ hồng trần dứt hẳn đi.

Sư thượng đường: 

– Chí đạo không khó, chỉ hiềm giản trạch; chỉ chớ yêu ghét, rõ ràng minh bạch. Tổ sư nói thoại thế ấy làm mù hết mắt người trong thiên hạ. Thiền tăng biết phải quấy rành Tăng tục, đến đây làm sao biện minh? 

Chưa thể đến chỗ nước cùng tận, 

Khó bảo ngồi xem lúc mây bay. 

Tổ sư nói trắng, nói rõ như vậy là làm cho thiên hạ mù mắt, không thấy được cái chân thật.

Ngày mười tám tháng chín năm Chánh Hòa thứ bảy (1117), thọ trai xong Sư về phòng sai gọi thủ tọa Thê đến, dặn dò các việc. Rồi Sư tắm rửa thay áo, đưa tay chỉ đánh đầu. Thị giả cạo tóc xong, Sư ngồi ngay ngắn an nhiên thị tịch. 

Một đời sống trọn vẹn, ra đi tự tại.

THIỀN SƯ TÙNG DUYỆT Ở ĐÂU SUẤT – phủ LONG HƯNG (1044 – 1091) 

Sư họ Hùng, quê ở Cám Châu. Buổi đầu Sư thủ chúng ở Đạo Ngô, nhân lãnh một số chúng đến yết kiến hòa thượng Trí ở Vân Cái. Trí đàm luận với Sư chưa bao nhiêu đã biết chỗ uẩn tích, bèn cười bảo: 

– Xem Thủ tọa khí chất phi phàm, tại sao thốt ra lời dường như kẻ say? 

Sư đỏ mặt xuất mồ hôi, thưa: 

– Cúi mong Hòa thượng chẳng tiếc từ bị. 

Trí lại dùng lời châm chích thêm. Sư mờ mịt liền xin nhập thất. 

Nhập thất tức xin được vào thất chỉ dạy. Buổi đầu ngài làm Thủ chúng ở Đạo Ngô, nhân lãnh một số chúng đến yết kiến hòa thượng Trí ở Vân Cái, qua đàm luận thiền sư Trí đã biết chỗ uẩn tích của ngài, bèn cười bảo: Xem Thủ tọa khí chất phi phàm, tại sao thốt ra lời dường như kẻ say? Làm Thủ tọa dẫn chúng đi tham vấn mà bị chê một câu, rất đau!

Trí hỏi: 

– Từng thấy Hòa thượng Ngộ ở Pháp Xương chăng? 

Sư thưa: 

– Từng xem ngữ lục của Ngài, tự hiểu rõ cũng không mong thấy. 

Đọc ngữ lục biết rồi nên không cần thấy nữa.

Trí hỏi: 

– Từng thấy Hòa thượng Văn ở Động Sơn chăng? 

Sư thưa: 

– Người Quan Tây không đầu não, mang một cái quần vải khai nước đái, có chỗ nào hay? 

Rất ngạo mạn, chê ngài Khắc Văn Chơn Tịnh.

Trí bảo: 

– Ông chỉ đến chỗ khai nước đái tham lấy. 

Sư theo lời dạy đến yết kiến Hòa thượng Khắc Văn thâm nhận được áo chỉ. Sư trở lại yết kiến Hòa thượng Trí. Trí hỏi: 

– Sau khi thấy người Quan Tây đại sự thế nào? 

Sư thưa: 

– Nếu chẳng được Hòa thượng chỉ dạy đã luống qua một đời. 

Sư bèn lễ tạ, trở lại yết kiến Chơn Tịnh. 

Sau Sư khai pháp ở chùa Lộc Uyển, có thiền sư Thanh Tố là người đã tham vấn lâu nơi Từ Minh, tạm ở một cái thất chưa cùng người giao tiếp. Sư nhân ăn trái vải, gặp Thanh Tố qua cửa. Sư gọi: 

 Này ông già! Đây là hương quả mời cùng ăn. 

Tố nói: 

– Sau khi Tiên sư tịch đã lâu không được ăn thứ này. 

Sự hỏi: – Tiên sư là ai? 

Tố nói: 

 Từ Minh, tôi hầu hạ người mười ba năm. 

Sư nghi sợ nói: 

– Mười ba năm kham nhẫn hầu hạ, chẳng phải được đạo kia sao? 

Từ đây nhân ăn quả, Sư thường thường thân cận. Tố hỏi: 

– Thầy đã gặp người nào? 

Sư thưa: – Động Sơn Văn. 

Tố hỏi: – Văn gặp người nào? 

Sư thưa: – Hoàng Long Nam. 

Tố bảo: 

– Nam đầu méo gặp Tiên sư chẳng lâu, pháp đạo chấn hưng như thế. 

Sư càng nghi sợ, bèn sắm hương đèn đến lễ Tố. 

Về sau ngài khai pháp tại chùa Lộc Uyển, có thiền sư Thanh Tố là người đã từng tham vấn nơi Từ Minh, tạm ở một cái thất chưa cùng người giao tiếp. Ngài đang ăn trái vải, gặp Thanh Tố đi ngang qua cửa, chưa biết đó là ai, liền ngoắc lại: Ông già vô đây, đây là hương quả mời cùng ăn. Tố nói: Sau khi Tiên sư tịch đã lâu không được ăn thứ này. Ngày xưa hầu Tiên sư có người cúng nên được ăn, bây giờ Tiên sư tịch rồi, lâu quá không được ăn trái này.

Ngài hỏi: Tiên sư là ai? Tố nói: Từ Minh, tôi hầu hạ người mười ba năm. Ngài nghi sợ nói: Mười ba năm kham nhẫn hầu hạ, chẳng phải được đạo kia sao? Từ đây nhân ăn quả, ngài thường thường thân cận. Tố hỏi: Thầy đã gặp người nào? Ngài thưa: Động Sơn Văn. Tố hỏi: Văn gặp người nào? Ngài thưa: Hoàng Long Nam. Tố bảo: Nam đầu méo gặp Tiên sư chẳng lâu, pháp đạo chấn hưng như thế. Ngài càng nghi sợ, bèn sắm hương đèn đến lễ Tố.

Hoàng Long Huệ Nam là đệ tử ngài Từ Minh, Thanh Tố cũng là đệ tử ngài Từ Minh. Hoàng Long Nam sanh ra Khắc Văn gọi là Động Sơn Văn, Động Sơn Văn sanh ra ngài Tùng Duyệt. Như vậy theo vai vế thì Tùng Duyệt kêu Thanh Tố là Sư ông chú, cho nên nghe nói vậy ngài nghi sợ.

Tố đứng tránh nói: 

– Tôi do phước mỏng, Tiên sư thọ ký chẳng cho vì người. 

Sư càng thêm cung kính. Tố bảo: 

– Vì thương lòng thành của ông, trái lời ký của Tiên sư. Ông bình sinh sở đắc thử nói ta xem? 

Sư thưa đủ sở kiến. Tổ bảo: 

– Khả dĩ vào Phật mà không thể vào ma. 

Sư thưa: 

– Vì sao vậy? 

Tổ bảo: 

– Há chẳng thấy cổ nhân nói, một câu rốt sau mới đến lao quan. 

Như thế mấy tháng, Tố mới ấn khả, bèn răn rằng: 

 Văn dạy ông đều là chánh tri chánh kiến, song ông lìa Văn quá sớm nên không thể tột chỗ diệu kia. Nay tôi vì ông điểm phá, khiến ông thọ dụng được đại tự tại, ngày khác chớ có nối pháp tôi. 

Sau Sư nối pháp Chơn Tịnh. 

Tổ đứng tránh nói: Tôi do phước mỏng, Tiên sư thọ ký chẳng cho vì người. Người xưa, nếu Thầy dạy sao thì vẫn giữ vậy không dám cãi. Ngài càng thêm cung kính, Tố bảo: Vì thương lòng thành của ông, trái với lời ký của Tiên . Ông bình sinh sở đắc thử nói ta xem? Ngài trình hết những chỗ thấy hiểu của mình. Tố bảo: Khả dĩ vào Phật mà không thể vào ma. Nhà thiền nói nhập Phật giới mà không thể nhập ma giới. Nhập Phật giới là mục thứ chín trong mười mục chăn trâu, nhập ma giới là mục thứ mười, thõng tay vào chợ. Đây nói ngài chưa tột được mục thứ mười, tức chưa xong vậy. Ngài thưa: Vì sao vậy? Tố bảo: Há chẳng thấy cổ nhân nói một câu rốt sau mới đến lao quan.

Tăng hỏi: 

– Cầm binh khiển tướng phải nhờ hổ phù của vua, lãnh chúng dạy đồ chúng thầm mang Tổ sư tâm ấn. Thế nào là Tổ sư tâm ấn? 

Sư đáp: 

– Đầy miệng nói chẳng được. 

Tổ sư tâm ấn đầy khắp miệng nhưng nói không được.

Tăng hỏi: 

– Chỉ cái này hay lại có cái khác? 

Sư đáp: 

– Chớ đem hạc Chi Độn, gọi là ngỗng Hữu Quân.

Ngài Chi Độn thời Đông Tấn, là một trong sáu nhà bảy tông của phái Bát-nhã học. Ngài tướng mạo lạ lùng, luận nghĩa sâu mầu, nuôi ngựa thả hạc, ưa dạo núi rừng, lại khéo thư pháp, văn chương trùm đời. Cùng thời có nhà thư pháp Vương Hy Chi giao du với ngài, thỉnh ngài trụ chùa Linh Gia ở Ngô Hưng. Vương Hy Chi từng làm tướng quân Hữu quân, ưa thích ngỗng, đời sau

Ngài trình hết những chỗ thấy hiểu của mình. Tố bảo: Khả dĩ vào Phật mà không thể vào ma. Nhà thiền nói nhập Phật giới mà không thể nhập ma giới. Nhập Phật giới là mục thứ chín trong mười mục chăn trâu, nhập ma giới là mục thứ mười, thõng tay vào chợ. Đây nói ngài chưa tột được mục thứ mười, tức chưa xong vậy. Ngài thưa: Vì sao vậy? Tố bảo: Há chẳng thấy cổ nhân nói một câu rốt sau mới đến lao quan.

Tăng hỏi: 

– Cầm binh khiển tướng phải nhờ hổ phù của vua, lãnh chúng dạy đồ chúng thầm mang Tổ sư tâm ấn. Thế nào là Tổ sư tâm ấn? 

Sư đáp: 

– Đầy miệng nói chẳng được. 

Tổ sư tâm ấn đầy khắp miệng nhưng nói không được.

Tăng hỏi: 

– Chỉ cái này hay lại có cái khác? 

Sư đáp: 

– Chớ đem hạc Chi Độn, gọi là ngỗng Hữu Quân. 

Ngài Chi Độn thời Đông Tấn, là một trong sáu nhà bảy tông của phái Bát-nhã học. Ngài tướng mạo lạ lùng, luận nghĩa sâu mầu, nuôi ngựa thả hạc, ưa dạo núi rừng, lại khéo thư pháp, văn chương trùm đời. Cùng thời có nhà thư pháp Vương Hy Chi giao du với ngài, thỉnh ngài trụ chùa Linh Gia ở Ngô Hưng. Vương Hy Chi từng làm tướng quân Hữu quân, ưa thích ngỗng, đời sau bèn đặt biệt danh cho ngỗng là Hữu Quân. Ở đây Tăng hỏi: Chỉ cái ấy hay còn cái khác? Sư đáp: Chớ đem hạc Chi Độn, gọi là ngỗng Hữu Quân.

Tăng hỏi: 

– Thế nào là cảnh Đâu Suất? 

Sư đáp: 

– Một sông nổi màu lam, ngàn núi gọt ngọc biếc. Tăng hỏi: 

– Thế nào là người trong cảnh? 

Sư đáp: 

– Bảy trũng tám gò không người thấy, trăm tay ngàn đầu chỉ tự biết. 

Đây là chỗ mỗi người tự thấy tự biết, không thể nói ra.

Sư thượng đường: 

Nhĩ mục nhất hà thanh, 

Đoan cư u cốc lý. 

Thu phong nhập cổ tùng, 

Thu nguyệt sanh hàn thủy. 

Nạp tăng ư thử cánh cầu chân,

Lưỡng cá hồ tôn thùy tứ vỹ. 

Dịch: 

Tai mắt một bề trong, 

Ở yên nơi hang vắng. 

Gió thu thổi cổ tùng, 

Trăng thu hiện sông lạnh. 

Thiền tăng khi ấy lại cầu chân, 

Hai con khỉ đột bốn đuôi thông. 

Sư hét một tiếng. 

Sư thượng đường: 

– Đâu Suất trọn không biện biệt, lại kêu rùa đen là trạnh. Không thể nói diệu bàn huyền, chỉ biết khua môi động lưỡi. Khiến cho thiền tăng trong thiên hạ xem thấy giọt máu trong mắt. Chẳng phải là người đổi sân làm hỷ, tiếu ngạo yên hà đó chăng? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Thổi lên một bản nhạc thăng bình, rốt cuộc bình sinh chưa hết sầu. 

Sư thượng đường: 

– Mới thấy tân xuân lại sang đầu hạ, bốn mùa dường tên sáng tối như thoi, bỗng chợt má hồng trở thành đầu bạc. Cần phải nỗ lực riêng dụng tinh thần, cày lấy vườn ruộng của mình, chớ phạm lúa mạ của người. Tuy nhiên như thế, kéo cày mang bừa phải là con trâu trắng ở núi Tuyết mới được. Hãy nói lỗ mũi ở chỗ nào? 

Sư im lặng giây lâu nói: – Vắt, vắt! 

Mới thấy tân xuân lại sang đầu hạ. Như chúng ta bây giờ thì nói, mới thấy đầu hạ nay đã cuối đông. Bốn mùa dường tên, sáng tối như thoi. Bốn mùa đổi thay nhanh như tên bắn, sáng tối lẹ như thoi đưa. Bỗng chợt má hồng trở thành đầu bạc. Mới lúc nào má hồng, bây giờ nhìn lại đầu đã bạc. Cần phải nỗ lực riêng dụng tinh thần. Thấy sự vô thường nhanh chóng đó, chúng ta phải nỗ lực cố gắng tu hành. Tu hành bằng cách nào?

Cày lấy vườn ruộng của mình, chớ phạm lúa mạ của người. Câu này quá hay! Chúng ta tu là săn sóc vườn ruộng của mình, vườn ruộng là tâm điền. Lo săn sóc tâm của mình, chớ phạm lúa mạ của người. Bây giờ phần nhiều ruộng mình thì bỏ hoang, cứ ăn lúa mạ của thiên hạ. Đó là cái khổ! Việc tu không gì hơn là quay lại săn sóc chính đất tâm của mình, đừng để cỏ hoang gai mọc, đừng xâm lấn vườn ruộng kẻ khác. Bệnh của chúng ta là bệnh ăn trộm, của mình không ngó ngàng cứ lén sang người ăn trộm. Ăn lúa mạ của người nên sanh chuyện lôi thôi, gây gổ đánh nhau rồi tạo nghiệp.

Phải là con trâu trắng núi Tuyết mới được. Con trâu trắng như trong kinh Pháp Hoa, ông trưởng giả bảo các con ra khỏi nhà lửa sẽ cho các thứ xe, nào là xe nai, xe dê, xe trâu; nhưng rốt cuộc chỉ cho xe trâu trắng. Trâu trắng chỉ cho Phật thừa, cũng chính là pháp thân. Phải nhận thẳng cái đó mới được. Hãy nói lỗ mũi ở chỗ nào? Nhắc lại mình có cái chân thật ngay đó.

Ngài im lặng giây lâu nói: Vắt, vắt! Đó là tiếng mục đồng ra lệnh con trâu.

Sư thượng đường: 

Thường cư vật ngoại độ thanh thời, 

Ngưu thượng hoành tương trúc địch xuy. 

Nhất khúc tự u sơn tự lục, 

Thử tình bất dữ bạch vân tri. 

Dịch: 

Thường cư vật ngoại qua thời rỗi,

Lưng trâu ngồi cầm ngang sáo thổi,

Một bản tự yên, núi tự biếc, 

Tình này chẳng để mây trắng hay. 

Rất thích, chư thiền đức! Nhớ lại Phạm Lãi dối vượt sóng to, nhân nghĩ Trần Đoàn ngủ rỗng trên ngọn Thái Hoa, đâu từng mộng thấy luống được danh cao, thật chưa thần dạo nhàn du dấu quê. Tuy nhiên như thế, thiền tăng mắt sáng chớ nói, Long An chẳng ai khác là chính mình. Tốt!

Thường cư vật ngoại qua thời rỗi, lưng trâu ngồi cầm ngang sáo thổi. Người ở ngoài sự vật rất thanh nhàn, ngồi trên lưng trâu cầm ống sáo thổi. Một bản tự yên núi tự biếc, tình này không để mây trắng hay. Thổi một bản nhạc yên ổn nơi tâm mình, núi cũng tự xanh biếc, tình lặng lẽ này không phải tình theo mây trắng bay. Như trước có nói, ngồi thấy mây trắng bay thì theo mây làm hang ổ.

Phạm Lãi lúc từ quan đi chơi thuyền dạo trên sông, làm một người thanh nhàn. Trần Đoàn là một ông tiên hái thuốc trên núi Thái Hoa, cũng có tiếng là người nhàn hạ thảnh thơi. Nhưng đó cũng là chưa được thần dạo nhàn du dấu quê, chưa về được chỗ quê xưa của mình. Tuy nhiên như thế, thiền tăng mắt sáng, chớ nói Long An chẳng ai khác là chính mình. Long An là chỉ cho chính mình.

Thượng đường: 

Vô pháp diệc vô tâm, 

Vô tâm phục hà xả? 

Yếu chân tận thuộc chân, 

Yếu giả toàn quy giả. 

Bình địa thượng hành thuyền, 

Hư không lý tẩu mã. 

Cửu niên diện bích nhân, 

Hữu khẩu hoàn như á. 

Dịch: 

Không pháp cũng không tâm, 

Không tâm lại gì xả? 

Cần chân trọn thuộc chân, 

Cần giả toàn về giả. 

Trên đất bằng chèo thuyền, 

Trong hư không cưỡi ngựa. 

Người chín năm nhìn vách,

Có miệng lại như câm. 

Tham! 

Đây là một bài thơ của người xưa, dường như là của Tu sơn chủ. Không pháp cũng không tâm, không tâm lại gì xả? không tâm còn xả cái gì! Cần chân trọn thuộc chân, cần giả toàn về giả. Muốn cầu chân thì thành chân, muốn giả trở thành giả. Trên đất bằng chèo thuyền, trong hư không cưỡi ngựa. Người chín năm nhìn vách, có miệng lại như câm. Hãy tham câu nói đó.

Thượng đường: 

– “Đêm đêm ôm Phật ngủ, ngày ngày cùng Phật đi, ngồi đứng cùng theo nhau, nói nín đồng chung ở, muốn biết chỗ Phật đi, chỉ lời nói này vậy.” Chư thiền đức! Lão già Phó đại sĩ chỉ biết ôm cột cầu mà đòi tắm rửa, nắm dây neo mà đẩy thuyền đi, muốn in mà lấy chữ trong khuôn ra. Đâu biết thiền tăng bản sắc lấp bít hang Phật tổ, đập nát cửa huyền diệu, nhảy ra khỏi hầm đoạn thường, chẳng nương cảnh thanh tịnh, trọn không một vật riêng vung song quyền (hai nắm đấm), hoành hành trên biển dựng nhà lập nước. Có một nhóm cũng muốn nhằm trên đầu sào trăm thước ngồi yên lặng lẽ, đến lúc đổi thân bỏ mạng không được. Đâu chẳng thấy đại sư Vân Môn nói: Biết là việc quanh co, ném qua một bên, cần phải lấy hết tinh thần khắc ghi gân cốt, nhằm trước khi hỗn độn chưa phân tiến được vẫn là kẻ độn; há kham ở trên đầu lưỡi người nếm được mùi vị, trọn không có ngày liễu ngộ. Chư thiền khách! Cần hội chăng? 

Vén đứng lông mày có khó gì, 

Rõ ràng chẳng thấy một mảy tơ. 

Gió thổi trời xanh mây tan hết, 

Trăng treo đỉnh núi ngọc một vầng. 

Sư hét một hét xuống tòa. 

Ngài dẫn bài kệ của Phó đại sĩ:

Đêm đêm ôm Phật ngủ, 

Ngày ngày cùng Phật đi,

Ngồi đứng cùng theo nhau, 

Nói nín đồng chung ở, 

Muốn biết chỗ Phật đi, 

Chỉ lời nói này vậy. 

Chúng ta có lúc nào vắng Phật không? Đêm thì ngủ chung với Phật, ngày đi chung với Phật, ngồi đứng nói nín đều có Phật. Muốn biết chỗ của Phật, chỉ ngay lời nói này. Phó đại sĩ đã chỉ, mỗi người đều có Phật. Phật không rời chúng ta bao giờ, chỉ tại mình quên Phật, nên tưởng như Phật phụ mình mà trái lại mình phụ Phật.

Ngài bình: Lão già Phó đại sĩ chỉ biết ôm cột cầu mà đòi tắm rửa, nắm dây neo mà đẩy thuyền đi, muốn in mà lấy chữ trong khuôn ra. Đó là làm những chuyện vô lý.

Đâu biết thiền tăng bản sắc lấp bít hang Phật tổ, đập nát cửa huyền diệu. Phó đại sĩ nói như vậy vẫn còn dính còn kẹt, vì còn nói Phật nói tổ là còn bị ngôn ngữ trói buộc. Nếu là thiền tăng tay khéo thì phải lấp bít hang Phật tổ, đập nát cửa huyền diệu, không còn dùng danh từ Phật tổ hay danh từ huyền diệu nữa.

Nhảy ra khỏi hầm đoạn thường, chẳng nương cảnh thanh tịnh, trọn không một vật. Không nói lý đoạn thường, trong đó trọn không nương gá một vật. Riêng vung song quyền, hoành hành trên biển dựng nhà lập nước. Hiện tại mạnh mẽ ngang dọc, dựng lập gia phong. riêng vung song quyền, hoành hành trên biển. Như thế là giáo ngoại biệt truyền.

Có một nhóm cũng muốn nhằm trên đầu sào trăm thước ngồi yên lặng lẽ, đến lúc đổi thân bỏ mạng không được. Nếu tu đến chỗ ngồi yên lặng lẽ, như mục chăn trâu thứ tám, hết trâu hết chăn chỉ còn một cái yên tịnh, nhưng khi sắp chết lại không tự tại.

Đại sư Vân Môn nói: Biết là việc quanh co, ném qua một bên, cần phải lấy hết tinh thần, khắc ghi gân cốt, nhằm trước khi hỗn độn chưa phân tiến được vẫn là kẻ độn; há kham ở trên đầu lưỡi người nếm được mùi vị, trọn không có ngày liễu ngộ. Cứ suy nghĩ trên lời nói của người thì không có ngày liễu ngộ.

Chư thiền khách! Cần hội chăng? Vén đứng lông mày có khó gì, rõ ràng chẳng thấy một mảy tơ. Những vị thiền sư xưa già lông mày phủ mắt, muốn thấy mọi thứ không vướng thì phải vén lông mày. Nhưng chỗ chân thật sẵn đó trước mắt, không xa cách mảy tơ.

Gió thổi trời xanh mây tan hết, trăng treo đỉnh núi ngọc một vầng. Gió thổi mây tan, những thứ tâm trộm bị nát hết, chỉ còn vầng trăng như ngọc trên ngọn núi biếc kia.

Một hôm, Vô Tận cư sĩ Tào sứ Trương Thương Ưởng đi thanh tra qua Phần Ninh, thỉnh trưởng lão năm viện đến Vân Nham thuyết pháp. Sư đăng tòa rốt sau, cầm ngang cây gậy nói: 

 Vừa rồi chư thiện tri thức nắm ngang buông dọc đứng thẳng ném xiên, đổi bước dời thân giấu đầu bày sừng, đã ở trước mặt học sĩ mỗi vị nhận bại khuyết, chưa khỏi ăn gậy đau trong tay Đâu Suất (Sư). Đến đây chẳng do bằng lòng cùng không bằng lòng. Cớ sao? Thấy việc bất bình đâu nhẫn được, thiền tăng chánh lệnh tự phải hành. 

Sư chao cây gậy xuống tòa. 

Ngài nói, tất cả những vị thiện tri thức vừa rồi đã nói ngang dọc, tới lui đủ thứ, như thế cũng là bày sừng bày đầu rồi, đến tôi thì không phải bằng lòng hay chẳng bằng lòng. Cớ sao? Thấy việc bất bình không nhẫn được, thiền tăng chánh lệnh tự phải hành. Ngài chao cây gậy xuống tòa, đó là hành chánh lệnh. Một lối rất khéo.

Trong thất Sư dùng ba câu nói để nghiệm học giả: 

1- Vạch cỏ xem gió chỉ mong thấy tánh, chính nay Thượng tọa tánh ở chỗ nào? 

Quý vị nghiệm xem tánh mình ở đâu?

2- Biết được tự tánh mới thoát sanh tử, khi chết rồi làm sao thoát? 

Nói là thoát sanh tử, nhưng khi chết làm sao thoát?

3- Thoát được sanh tử liền biết chỗ đi, bốn đại phân ly nhằm chỗ nào đi? 

Đi là khi còn tứ đại, tứ đại tan nát rồi thì đi đâu? Lấy cái gì đi?

Đó là ba câu hỏi để nghiệm xét người của ngài.

Niên hiệu Nguyên Hựu thứ sáu (1091) vào mùa đông, Sư tắm gội xong họp chúng nói kệ: 

Tứ thập hữu bát, 

Thánh phàm tận sát.

Bất thị anh hùng, 

Long An lộ hoạt. 

Dịch:

Bốn mươi tám năm, 

Thánh phàm giết sạch. 

Chẳng phải anh hùng, 

Long An đường trơn. 

Sư ngồi yên thị tịch, thọ 48 tuổi. Vua sắc phong Chơn Tịch thiền sư. 

Ngài sống chỉ có bốn mươi tám năm, thánh phàm đều giết sạch, tuy làm vậy mà chẳng phải anh hùng. Long An đường trơn, con đường của ngài khó đi.

Cách nói năng của ngài rất linh hoạt. Qua đây chúng ta thấy rõ tinh thần nhà thiền, các thiền sư không dùng ngôn ngữ giải thích cho hiểu, cũng không dùng danh từ Phật pháp để chúng ta nghe. Vì thế nói mà không dính một danh từ Phật pháp, nói mà không cho suy nghĩ, bởi nếu nói cho nghĩ hiểu được thì đó là đưa chúng ta vào con đường ma. Nói mà không cho hiểu, nhằm cắt đứt tâm trộm của chúng ta. Khi nghe lời của các ngài, nếu nhận được thì tốt, không nhận thì thôi, khỏi suy nghĩ, còn suy nghĩ là bệnh.

THIỀN SƯ CẢO PHẬT CHIẾU Ở PHÁP VÂN – ĐÔNG KINH 

Sư thuở thiếu niên đi du phương, yết kiến thiền sư Cơ ở Viên Thông. Sư vào thất, Cơ nhắc lại: 

– “Tăng hỏi Đầu Tử: Người đại tử khi sống lại thì thế nào? Tử đáp: Chẳng cho đi đêm đợi sáng sẽ đến.” Ý thế nào? 

Sư đáp: – Ơn lớn khó đền. 

Cơ rất vui bèn sai thủ chúng. Đến chiều vì chúng cầm phất tử, cơ chậm lại vụng, chúng đều cười, Sư đỏ mặt. 

Hôm khác nơi tăng đường, Sư pha trà nhân đụng gáo múc trà rơi xuống đất, thấy cái gáo nhào liền được Ứng cơ tam-muội. 

Ngài ban đầu do đối đáp khéo một câu mà được thiền sư Cơ cho làm thủ chúng. Nhưng khi làm thủ chúng, vì mới sử dụng phất tử nên chậm lụt bị chúng cười, ngài bị chúng cười mắc cỡ đỏ mặt. Sau đó ngài pha trà, do thấy cái gáo múc nước rơi, liền được Ứng cơ tam-muội, tức là chánh định Ứng cơ. Chánh định Ứng cơ là hỏi đâu đáp đó, không cần dè dặt lựa chọn, rất hợp căn cơ.

Sau Sư nương Chơn Tịnh. Nhân đọc bài kệ của Tổ: 

Tâm đồng hư không giới

Thị đẳng hư không pháp

Chứng đắc hư không thời

Vô thị vô phi pháp. 

Dịch: 

Tâm đồng cõi hư không 

Hiện đồng pháp hư không 

Khi chứng được hư không 

Không pháp, không phi pháp. 

Sự hoát nhiên đại ngộ. Mỗi khi nói chuyện với người, Sư bảo: 

 Tôi ở năm Thiệu Thánh thứ ba (1096), ngày hăm mốt tháng mười một ngộ được thiền tấc vuông. 

Đây là bài kệ của tổ Phật-đà-nan-đề, Tổ thứ tám trong hệ thống chư tổ Ân Hoa. Bài kệ nói ý nghĩa tâm thể rỗng rang như hư không, muôn pháp không pháp nào ra ngoài nó. Người chứng được tâm như hư không, lúc ấy chẳng thấy có pháp hay phi pháp, hơn thua đối đãi.

Nghe tới đó ngài hoát nhiên đại ngộ. Mỗi khi nói chuyện với người, ngài bảo: Tôi ở năm Thiệu Thánh thứ ba, ngày hăm mốt tháng mười một, ngộ được thiền tấc vuông. Đó là ngày ngài đại ngộ nên nhớ rõ. Chữ tấc vuông là một tấc vuông của Trung Hoa ngày xưa. Thiền tấc vuông là nói đến tâm chúng ta, tượng trưng như trái tim của mình. Nói rằng ngộ được thiền tấc vuông tức là ngộ được thiền tâm.

Sư trụ Quy Tông, sau chiếu dời về ở Tịnh Nhơn. Có vị tăng hỏi: – Đạt-ma Tây sang truyền cái gì? Sư đáp: – Châu, Tần, Hán, Ngụy. 

Tăng hỏi: 

– Xưa Tăng hỏi Vân Môn: “Thế nào là câu thấu pháp thân?” Vân Môn đáp: “Trong Bắc đẩu tàng thân.” Ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: – Lòng son mảnh mảnh. 

Tăng thưa: – Nếu là con thì chẳng thế. 

Sư hỏi: – Ông lại làm sao? 

Tăng thưa: 

– Đêm qua ngẩng đầu xem Bắc đẩu, từa tựa như điểm đường trên bánh. 

Sư bảo: 

– Chỉ nhớ nước cỏ, ngoài ra không biết gì. 

Đó là lời quở khéo. Nghĩa là chỉ nhớ bánh, giống như

trâu bò nhớ cỏ nhớ nước vậy thôi, chứ không biết gì khác.

Sư thượng đường: 

– Tây sang ý Tổ giáo ngoại biệt truyền, chẳng phải bậc đại căn khó bề chứng nhập, người chứng nhập chẳng bị văn tự ngữ ngôn xoay chuyển, thanh sắc phải quấy làm mê, cũng không khác Vân Môn Lâm Tế, không lạ Triệu Châu Đức Sơn. Vì thế xướng đạo cần phải rõ trong có lời là không lời, trong không lời là có lời. Nếu nhằm nơi đây tiến được, đáng gọi trọn ngày mặc áo mà chưa từng mang một sợi tơ, trọn ngày ăn cơm mà chưa từng nhai một hạt gạo. Như thế quở Phật mắng Tổ có lỗi lầm gì? Tuy nhiên như thế, muốn được chẳng chuốc nghiệp vô gián, chớ chê chánh pháp của Như Lai. 

Sư hét một tiếng xuống tòa. 

Tây sang ý Tổ giáo ngoại biệt truyền, chẳng phải bậc đại căn khó bề chứng nhập. Ý Tổ sư từ Tây sang truyền ngoài giáo lý, nếu không phải là bậc đại căn cơ, rất khó chứng nhập được.

Người chứng nhập chẳng bị văn tự ngữ ngôn xoay chuyển. Người chứng nhập được ý Tổ Tây sang, thấy được lý thật rồi thì không bị ngữ ngôn văn tự xoay chuyển. Nếu chưa thấy được chỗ này, dễ bị danh tự ngữ ngôn xoay chuyển. Như chúng ta đang vui, bất thần có ai đi ngang nói nặng mình một câu: Ngu như con bò, làm bộ nói dóc!… Danh tự “con bò” làm cho mình đỏ mặt liền. Vừa nghe một câu là chuyển hết cả vui tươi thành ra quạu quọ, rõ ràng là bị danh tự ngôn ngữ chuyển.

Thanh sắc phải quấy làm mê. Thanh là tiếng, sắc là hình sắc. Người chứng nhập được thì không bị âm thanh sắc tướng, cái phải cái quấy làm cho mê, kẹt trong đó. Chúng ta mở miệng liền dính vào phải quấy, khi người nói phải thì ưng chịu, nói quấy thì không chịu, làm điều quấy mà người khác nói quấy mình cũng không chịu. Tất cả mê lầm từ đó mà ra. Người không bị danh từ ngữ ngôn chuyển, không bị thanh sắc phải quấy làm mê thì không khác gì Vân Môn, Lâm Tế, cũng không có lạ Triệu Châu, Đức Sơn. Người được vậy, không thua các Tổ trước.

Vì thế xướng đạo cần phải rõ trong có lời là không lời, trong không lời là có lời. Trong có lời là không lời, trong không lời là có lời, làm sao hiểu được? Trong có lời mà không lời, tức là lời nói không ý nghĩa, không có ý vị của ngôn ngữ để cho mình đuổi theo. Trong không lời có lời, tức là trong chỗ không lời nhưng có chỉ cho thấy đạo lý ngay đó.

Trong có lời là không lời, như có người hỏi Động Sơn Thủ Sơ, thế nào là Phật? Động Sơn trả lời: Ba cân gai. Là có lời hay không lời? Có lời mà không động môi lưỡi. Nếu nghe nói “ba cân gai”, rồi cứ theo đó suy gẫm thì một ngàn năm cũng không biết nói gì. Nếu khéo thì ngay “ba cân gai” ngộ được. Nhà thiền có cái kỳ đặc như thế.

Trong không lời là có lời, như khi tổ Lâm Tế đến chỗ Hoàng Bá, hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? Liền bị Hoàng Bá đánh cho một gậy. Có lời nào không? Cái đánh đó là không lời. Nhưng nếu không lời, tại sao tới chỗ Đại Ngu gợi một câu, tổ Lâm Tế liền ngộ? Đại Ngu lại nói: Đó là do Hoàng Bá chứ không phải ta. Như vậy thì trong không lời mà đã có lời, lời gì thì mỗi người tự nghiệm, không nói ra đây được, nếu nói thành có lời mất rồi!

Nếu nhằm nơi đây tiến được, đáng gọi trọn ngày mặc áo mà chưa từng mang một sợi tơ, trọn ngày ăn cơm mà chưa từng nhai một hạt gạo. Mặc áo mà chưa từng mang một sợi tơ, ăn cơm mà chưa từng nhai một hạt gạo, nghe dễ hiểu không? Nếu người được như vậy thì thoát ngoài mọi sự dính mắc, thoát ngoài mọi hình tướng mà thiên hạ lầm cho là thật.

Như thế quở Phật mắng Tổ có lỗi lầm gì? Tới chừng đó quở Phật mắng Tổ cũng không lỗi lầm. Tuy nhiên, nói đến đây ngài ngại một số người lầm chấp rồi làm càn bướng, nên liền nói: Tuy nhiên như thế, muốn được chẳng chuốc nghiệp vô gián, chớ chê chánh pháp của Như Lai. Câu này dẫn trong Chứng Đạo Ca: Dục đắc bất chiêu vô gián nghiệp, mạc báng Như Lai chánh pháp luân.

Sư thượng đường cầm cây gậy nói: 

– Quy Tông biết chém rắn, Hòa Sơn giỏi đánh trống, vạn tượng cùng sum la đều từ trong đây. 

Sư ném cây gậy nói: 

– Về tăng đường uống trà. 

Ngài thượng đường nói mà không cho chúng ta thấy được ý vị để đuổi theo suy nghĩ, dẫn hành động của các bậc thiện tri thức trước, không phê bình gì thêm.

Sư thường nói với chúng: 

– Lão tăng vào niên hiệu Hy Ninh thứ tám (1075) tại phủ Phượng Tường có văn bản nói rõ, năm này Hoa Sơn sạt lở bốn mươi dặm, đè sập tám chục nhà trong thôn. Bọn các ông hậu sanh trái cà trái dưa bao giờ biết được. 

Có người hỏi: 

– Trên tòa Bảo Hoa Vương, vì sao một bề thế đế? 

Sư đáp: 

– Kẻ si, Phật tánh há có hai thứ sao? 

Ngài nói, niên hiệu Hy Ninh thứ tám, tại phủ Phượng Tường có bản văn nói về việc Hoa Sơn sạt lở làm sập nhà dân. Bọn các ông hậu sanh, trái cà trái dưa bao giờ biết được. Các ông là hậu sanh, chuyện hiện tại tầm thường còn không biết, huống nữa là chuyện đó.

Có người hỏi: Ngài ngồi trên tòa Bảo Hoa Vương như vậy, tại sao lại nói chuyện thế đế, là chuyện thường thế gian? Ngài đáp: Kẻ si, Phật tánh há có hai thứ sao? Phật tánh không nói là thế đế hay đệ nhất nghĩa đế.

THIỀN SƯ TRẠM ĐƯỜNG VĂN CHUẨN Ở LẶC ĐÀM – phủ LONG HƯNG (1061 – 1115) 

Sư họ Lương, quê ở Đường Cố, phủ Hưng Nguyên. Thuở còn trong nôi thấy tượng Phật, Sư liền cười. Thời đồng tử chẳng ưa nghe rượu thịt. Sa-môn Hư Phổ ở chùa Kim Tiên đến nhà khất thực, Sư ở trước cửa ứng đối như người lớn. Lúc bấy giờ mới tám tuổi, Sư xin từ giã cha mẹ theo Hư Phổ về chùa. 

Kinh lược Thiểm Tây là Phạm Công đến chùa Hư Phổ, Phổ tuổi già ứng đối lơ là. Sư đứng hầu bên cạnh giải thích rõ ràng tới lui có quy củ. Phạm Công muốn dẫn Sư về Thiểm Tây, Sư từ rằng: 

– Lên núi để cầu ngọc, vào biển để tìm châu, mỗi người có chí của mình. Người học đạo có bản hạnh, việc đẹp ở đời không phải là chỗ tâm nguyện. 

Phạm Công thầm khen lời này, liền cho xuất gia làm Tăng. 

Lúc ngài tuổi nhỏ, chừng mười một mười hai tuổi đã đối đáp rất hay. Phạm Công là quan Kinh lược, như Thanh tra bây giờ, thấy ngài lanh lẹ muốn đem về Thiểm Tây cho học để sau làm quan. Ngài từ chối một cách khôn ngoan: Lên núi để cầu ngọc, vào biển để tìm châu, mỗi người có chí của mình. Tôi ở chùa mục đích là tìm cái gì cao siêu, không phải vì thích được thảnh thơi hay vui vẻ. Việc làm của tôi giống như người lên núi tìm ngọc, vào biển tìm châu báu, chứ không phải tùy hứng.

Người học đạo bản hạnh, việc đẹp ở đời không phải là chỗ tâm nguyện. Bản hạnh là hạnh của mình. Bản hạnh phải thế nào cho xứng với người học đạo, còn việc đẹp ở đời tức là những danh lợi quyền tước thế gian, không phải là chỗ người học đạo ưa muốn. Phạm Công nghe rồi thầm khen, cho ngài xuất gia làm Tăng.

Sư đến nương thiền sư Thừa ở Lương Sơn. Thừa quở rằng: 

– Khu ô chưa thọ giới dám học Phật thừa. 

Sư vòng tay thưa: 

– Đàn tràng là giới chăng? Xà-lê phạm hạnh 

và ba phen yết-ma là giới chăng? 

Thừa kinh ngạc. Sư cười thưa: 

– Tuy nhiên đâu dám không vâng lời dạy. 

Sư bèn đến luật sư Đường An thọ giới Cụ túc. 

Ngài đến nương thiền sư Thừa ở Lương Sơn, Thừa quở rằng: Khu ô chưa thọ giới dám học Phật thừa. Học Phật thừa là học thiền. Khu ô là đuổi quạ. Sa-di từ mười hai tuổi trở xuống gọi là Sa-di khu ô, vì tuổi nhỏ chưa thọ giới Cụ túc, chỉ sai đuổi chim chóc ngoài ruộng.

Ngài vòng tay thưa: Đàn tràng là giới chăng? Xà-lê phạm hạnh và ba phen yết-ma là giới chăng? Giới ở chỗ nào? Đàn tràng như vậy là giới phải không? Ba phen yết-ma là nghi thức thọ giới, đó là giới phải không? Tuy tuổi nhỏ mà câu nói xuất cách, nên thiền sư Thừa kinh ngạc. Ngài cười thưa: Tuy nhiên đâu dám không vâng lời dạy. Ngài bèn đến luật sư Đường An xin thọ giới Cụ túc, với người đặc biệt cho thọ Cụ túc sớm.

Sư dạo khắp các nơi giảng dạy tại Thành Đô. Pháp sư Đàm Diễn thích chỗ anh tài của Sư vỗ về bảo: 

– Ông là thuyền pháp sau này. Phương Nam có các bậc khai sĩ như Chân Như ở Đại Quy, Chơn Tịnh ở Cửu Phong, nên đến đó cầu đạo. 

Sư lễ bái vâng dạy, cùng đồng học đến Đại Quy, trụ tại đây khá lâu mà không khế ngộ. Sư đến Cửu Phong yết kiến Chơn Tịnh. Chơn Tịnh hỏi: 

– Ở đâu đến? 

Sư thưa: – Phủ Hưng Nguyên đến. 

Chơn Tịnh hỏi: – Vừa rời chỗ nào? 

Sư thưa: – Đại Ngưỡng. 

Chơn Tịnh hỏi: – Hạ ở đâu? 

Sư thưa: – Quy Sơn. 

Chơn Tịnh xòe tay nói: 

– Tay ta sao giống tay Phật? 

Sư mờ mịt không biết. Chơn Tịnh quở: 

– Vừa rồi câu câu không sai lầm một mảy tơ, linh minh thiên chân, vừa nói đến tay Phật liền thành cách ngại, bệnh tại chỗ nào? 

Sư thưa: – Chẳng hiểu. 

Chơn Tịnh bảo: 

– Tất cả hiện thành lại bảo ai hiểu? 

Thật là một thuật kỳ đặc. Ban đầu thiền sư Chơn Tịnh hỏi, ở đâu đến? Nghe hỏi mỗi mỗi ngài trả lời rõ ràng, đến khi Chơn Tịnh đưa tay lên hỏi, tay ta sao giống tay Phật, lại không đáp được. Đang xuôi chiều chợt nghe câu hỏi đột ngột, ngài mờ mịt không biết nói gì.

Chơn Tịnh quở: Vừa rồi câu câu không sai lầm một mảy tơ, linh minh thiên chân, vừa nói đến tay Phật liền thành cách ngại, bệnh tại chỗ nào? Trước hỏi câu nào, trả lời đều đúng không sai, nhưng bây giờ đưa tay hỏi tay Phật, ngang đó bị chướng, vậy bệnh tại chỗ nào?

Ngài thưa: Chẳng hiểu. Chơn Tịnh bảo: Tất cả hiện thành lại bảo ai hiểu? Đâu là câu Chơn Tịnh chỉ thẳng. Tất cả hiện thành tức là tất cả hiện tại đầy đủ, lại bảo ai hiểu. Ngài ở đây hầu hạ hơn mười năm.

Sư ở đây hầu hạ hơn mười năm. Một hôm Sư cầm cây gậy vạch mặt hồ cho trống để giặt y, nhân đây đại ngộ, chạy đến Chơn Tịnh thuật sở ngộ. 

Chơn Tịnh quở: 

 Trong đây lại dám lôi thôi ! 

Từ đây, Sư càng ẩn giấu mà danh càng bày. 

Đãi chế Lý Cảnh Chân trấn thủ Dự Chương mến đức Sư thỉnh khai pháp ở Vân Nham. Chưa bao lâu, Phạm Công mời Sư đến Lặc Đàm. Sư lời lẽ như tên bay nước chảy, cơ phong như điện chớp, thiền tăng sợ mà kính. Dưới sự hướng dẫn của Sư có cả ngàn người. Sư tự hiệu là Trạm Đường. 

Một hôm ngài cầm cây gậy vạch mặt hồ cho trống để giặt y, nhân đó đại ngộ, bèn chạy đến Chơn Tịnh thuật sở ngộ. Chơn Tịnh quở: Trong đây lại dám lôi thôi ư! Chơn Tịnh nói câu này là khen hay chê? Thường trong nhà thiền, các thiền sư ấn chứng không cho biết, chỉ có một hai vị gọi là “ái tử bất giác xú”, thương con không biết hôi mới nói thẳng. Ở đây, ngài ấn chứng rất lạ, nói dường như chê: Trong đây lại dám lôi thôi. Việc của ông thấy, không có gì quan trọng. Câu nói đó chính là đã ấn chứng.

Lời lẽ của ngài như tên bay nước chảy, cơ phong tự điện chớp, nhanh nhẹn như vậy. Đoạn sau sẽ chứng minh cho thấy, điều này khiến cho thiền tăng vừa sợ vừa kính.

Có vị tăng mới đến yết kiến liền trải tọa cụ. Sư bảo: 

– Chưa hỏi việc người, Thượng tọa vừa rời chỗ nào? 

Tăng thưa: – Quy Tông ở Lê Sơn. 

Sư hỏi: – Tông quy về đâu? 

Tăng kêu: – Á! 

Sư bảo: – Trong hang ếch làm kế sống. 

Tăng thưa: – Hòa thượng sao không lãnh thoại?

Sư bảo: – Ông đâu chẳng phải từ Quy Tông lại.

Tăng thưa: – Phải. 

Sư bảo: – Gã đầy tớ. 

Có vị tăng mới tới yết kiến, chưa nói gì liền trải tọa cụ. Sau vài câu đối đáp, Tăng kêu lên: Á! Ngài bảo: Trong hang ếch làm kế sống. Tăng thưa: Hòa thượng sao không lãnh thoại? Hòa thượng sao không nhận lời của con. Ngài bảo: Ông đâu chẳng phải từ Quy Tông lại? Tăng thưa: Phải. Ngài bảo: Gã đầy tớ. Ông tăng này sai ở chỗ nào?

Cơ phong của ngài nhạy quá, như tên bay nước chảy thấy không kịp. Khi ngài bảo, ông từ Quy Tông đến chăng? Vị tăng đáp, phải. Chữ phải đó, là lỗi lớn nhất. Vị tăng ở Quy Tông lại thì nói phải là hợp lý, nhưng không ngờ bị gạt. Phải là đối với quấy, vừa nói là rơi vào hai bên, chưa thấy được lẽ thật. Ngài quở, gã đầy tớ, tức là kẻ không thông, bị sai khiến chạy lăng xăng. Cách đối đáp của các ngài rất nhạy bén, đưa tới đẩy lui gạt mình vô rọ.

Sư hỏi Tăng thứ hai: – Vừa ở chỗ nào đến? 

Tăng thưa: – Viên Châu. 

Sư hỏi: – Hạ ở đâu? 

Tăng thưa: – Ngưỡng Sơn. 

Sư hỏi: – Lại thấy Tiểu Thích-ca chăng? 

Tăng thưa: – Thấy. 

Sư hỏi: – Lỗ mũi dài hay ngắn? 

Tăng suy nghĩ. Sư bảo: 

– Ông thầy quê, lời nói đã rơi. 

Khéo vô cùng, nói dài nói ngắn gì cũng kẹt, còn suy nghĩ thì bị đánh đòn. Tăng suy nghĩ, ngài bảo: Ông thầy quê, lời nói đã rơi. Hỏi liên tiếp gài vô bẫy, không thấy được thì mắc kẹt ngay đó. Ngài nhanh lẹ mà thiền tăng chậm một chút thì bị kẹt.

Sư hỏi vị tăng: – Ông đến làm gì? 

Tăng thưa: – Con đến vấn an Hòa thượng. 

Sư bảo:

 – Mây bay đầu núi nhàn biết mấy, nước chảy dưới khe rất rộn ràng. 

Tăng thưa: – Hòa thượng chớ lừa người. 

Sư bảo: 

– Mã đại sư vì sao từ gót chân ông đi qua? 

Tăng không đáp được. Sư bảo: 

– Lại là Xà-lê lừa lão tăng. 

Ngài nói hai câu thơ, Tăng kia cũng là tay cừ khôi, nên nói: Hòa thượng chớ lừa người. Ngài hỏi: Mã đại sư vì sao từ gót chân ông đi qua? Tăng không đáp được. Ngài bảo: Lại là Xà-lê lừa lão tăng. Đó là thuật khéo của ngài.

Sư ở Phần Ninh gặp hòa thượng Tử Tâm, Tử Tâm hỏi: 

– Ông trở về trong núi này chăng? 

Sư thưa: – Cần đến lễ bái Sư huynh. 

Tử Tâm bảo: 

– Khi ông đến khéo xem phương tiện. 

Sư thưa: – Cớ sao? 

Tử Tâm bảo: – Con đường Hoàng Long ta trơn. 

Sư hỏi: – Đã té nhào bao nhiêu người? 

Tử Tâm bảo: 

– Ông chưa đến Hoàng Long gót chân trước đã rít. 

Sư thưa: 

– Hòa thượng đâu được đóng cửa tiếp nhau. 

Tử Tâm lại hỏi: 

– Lão Chuẩn nuôi nhiều Tăng như thế, chỉ là tụ đầu cãi lẽ rồi ăn cơm, ông cứu cánh đem cái gì vì người? 

Sư thưa: – Nhân gió thổi lửa. 

Tử Tâm bảo: – Nhiễu loạn làm gì? 

Sư thưa: – Từ đây có chút ít. 

Đây là đối đáp của hai huynh đệ, người không sáng mắt thì không thể thấy được cái hay.

Tử Tâm là đệ tử của Tổ Tâm Bảo Giác, Tổ Tâm là đệ tử của Huệ Nam. Văn Chuẩn là đệ tử Chơn Tịnh, mà Chơn Tịnh cũng là đệ tử Huệ Nam. Như vậy hai bên như huynh đệ chú bác. Thế nên khi ngài ở Phần Ninh gặp hòa thượng Tử Tâm, Tử Tâm hỏi: Ông trở về trong núi này chăng? Ngài thưa: Cần đến lễ bái Sư huynh. 

Tử Tâm bảo: Khi ông đến khéo xem phương tiện. Ông muốn đến chỗ tôi phải khéo xem phương tiện. Ngài thưa: Cớ sao? Tử Tâm bảo: Con đường Hoàng Long ta trơn. Đi không khéo coi chừng ngã, Tử Tâm đề cao mình lên.

Ngài hỏi: Đã té bao nhiêu người rồi? Tử Tâm bảo: Ông chưa đến Hoàng Long gót chân trước đã rút rồi. Chưa đến đã nghe rờn rợn rồi, đừng nói bước tới đó. Ngài thưa: Hòa thượng đâu được đóng cửa tiếp người. Như vậy thì Hòa thượng đóng cửa tiếp người, không cho ai tới sao?

Tử Tâm lại hỏi: Lão Chuẩn nuôi nhiều Tăng như thế, chỉ là tụ đầu cãi lẽ rồi ăn cơm. Ông cứu cánh đem cái gì vì người? Ông nuôi cả ngàn Tăng, toàn là bọn ăn rồi cãi nhau không làm gì được. Chê tức là hạ xuống.

Ngài thưa: Nhân gió thổi lửa. Chỗ vì người của tôi là nhân gió thổi lửa, nói cách khác là tùy cơ. Tử Tâm bảo: Nhiễu loạn làm gì? Ngài thưa: Từ đây có chút ít, từ chỗ đó có chút ít.

Sư hỏi lại: 

– Trong núi Hòa thượng nuôi bao nhiêu chúng? 

Tử Tâm nói: 

– Bốn trăm người toàn là thiền tăng tinh xảo. 

Sư thưa: – Trong hang sư tử không thú khác. 

Tử Tâm bảo: – Khi ông đến cũng phải chiếu cố. 

Sư thưa: – Cũng đợi khi đến. 

Tử Tâm hỏi: – Khi đến làm sao? 

Sư thưa: – Kêu lại rửa chân. 

Tử Tâm bảo: 

– Ông thầy đất Xuyên mở miệng to thế.

Sư thưa: – Thượng tọa Chuẩn từ lâu như thế. 

Tử Tâm nói: – Ba mươi năm đùa cưỡi ngựa. 

Ngài hỏi lại Tử Tâm: Trong núi Hòa thượng nuôi bao nhiêu chúng? Tử Tâm nói: Bốn trăm người, toàn là thiền tăng tinh xảo. Hạ người xuống, nâng mình lên. Ngài cũng rất điềm tĩnh, thưa: Trong hang sư tử không thủ khác. Ý khen trong hang toàn là sư tử, không có con thú nào khác chen vô. Tử Tâm bảo: Khi ông đến cũng phải chiếu cố. Ông có đến cũng phải coi chừng sư tử.

Ngài thưa: Cũng đợi khi đến. Tử Tâm hỏi: Khi đến làm sao? Ngài thưa: Kêu lại rửa chân. Hạ một câu khéo léo vô cùng, tưởng là đến để kính nể, không dè kêu ra rửa chân cho mình.

Tử Tâm bảo: Ông thầy đất Xuyên mở miệng to thế. Sư thưa: Thượng tọa Chuẩn từ lâu như thế. Tôi quen tự đề cao như vậy rồi. Thật là lanh lẹ. Tử Tâm nói: Ba mươi năm đùa cưỡi ngựa. Ba mươi năm đùa cưỡi ngựa, hôm nay bị ngựa quăng té. Cơ phong của ngài lanh lẹ quá, nói chuyện lúc đầu nghe rất hiền hòa, nhưng đến lúc hồi chưởng thì khiến người té nhào.

Thấy Tăng xem kinh,

Sư hỏi: – Xem kinh gì? 

Tăng thưa: – Kinh Kim Cang. 

Sư bảo: 

– Trong kinh nói “Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp” phải chăng? 

Tăng thưa: – Phải. 

Sư bảo: 

– Tại sao núi Vân Cư cao, núi Bảo Phong thấp? 

Tăng thưa: 

– Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp. 

Sư bảo: – Ông chỉ làm được kẻ tôi tớ Tọa chủ.

Tăng thưa: – Hòa thượng lại thế nào? 

Sư bảo: – Hãy buông lỗ mũi ông để thở. 

Sư hỏi vị tăng: – An vui chăng? 

Tăng thưa: – Vô sự. 

Sư bảo: – Ông còn có việc lớn. 

Tăng hỏi: – Chưa biết con còn có việc gì? 

Sư bảo: 

– Gần đây Kim cang ở Thượng Lam cùng Thổ địa ở Thiên Ninh đánh nhau. 

Tăng không nói được.

Sư bảo: – Té ra vô sự. 

Ngài đưa ra câu nói, gần đây Kim cang Thượng Lam, tức là thần Kim cang ở chùa Thượng Lam, cùng Thổ địa ở Thiên Ninh đánh nhau. Tăng không biết làm sao trả lời câu đó, ngài nói: Té ra sự. Ý chê trách, ông dám nói là xưa nay vô sự, không đáp được thì làm sao mà vô sự!

Một hôm Sư thượng đường:

 Bảo Phong một đêm ngủ không suy tính, ngày nay thượng đường moi bụng móc ngực thảy suy nghĩ chẳng ra, mà nay đến giờ việc bức ngặt phải ra cửa gấp. 

Bèn đưa phất tử nói: 

– Thượng tọa Chuẩn gần đây làm được cán cây phất tử, hãy tạm đem cúng dường đại chúng. 

Rồi ném xuống nói: 

– Gốc tre lá cọ dây gai cột, dạng tựa thiên nhiên riêng một nhà. 

Ngài thượng đường nói: Bảo Phong một đêm ngủ không suy tính, một đêm ngủ ngon không tính gì. Ngày nay thượng đường moi bụng móc ngực thủy suy nghĩ chẳng ra. Hôm nay lên dạy chúng, moi bụng móc ngực tìm không ra câu nào, bây giờ làm sao? Mà nay đến giờ việc bức ngặt phải ra cửa gấp.

Bèn đưa phất tử nói: Thượng tọa Chuẩn gần đây làm được cán cây phất tử, hãy tạm đem cúng dường đại chúng. Ngài khéo vô cùng! Rồi ném xuống nói: Gốc tre lá cọ dây gai cột, dạng tựa thiên nhiên riêng một nhà. Cán cây phất tử là như vậy. Ngài có nói đạo lý không? Ngài nói moi bụng móc ngực tìm không có gì để nói, vì chuyện gấp quá nên lên đây đưa cán cây phất tử cho các ông xem, cúng dường các ông.

Niên hiệu Chánh Hòa thứ năm (1115) mùa hạ tháng sáu, Sư bị bệnh. Thủ tọa đến hỏi thăm: 

– Ngày gần đây thân thể Hòa thượng thế nào? 

Sư bảo: – Lừa què leo vách. 

Thủ tọa thưa: – Hòa thượng cũng nên uống thuốc. 

Sư bảo: – Cây mục bắc cầu. 

Thủ tọa thưa: – Cũng biết Hòa thượng chẳng chịu kiêng miệng. 

Sư hỏi: – Ông làm sao? 

Thủ tọa suy nghĩ để nói. Sư bảo: 

– Ông cũng cần phải uống thuốc. 

Đến ngày hai mươi hai tháng bảy, Sư nói kệ rồi tịch, thọ 55 tuổi, 35 tuổi hạ. 

Thừa tướng Trương Vô Tận làm lời bia, Gián nghị Hồng Câu Phủ chép Ngữ lục. 

Thủ tọa đến hỏi thăm: Ngày gần đây thân thể Hòa thượng thế nào? Ngài bảo: Lừa què leo vách. Con lừa què mà leo vách thì té nhào.

Thủ tọa thưa: Hòa thượng cũng nên uống thuốc. Ngài bảo: Cây mục bắc cầu. Giống như cây mục bắc cầu, không lợi ích gì.

Thủ tọa thưa: Cũng biết Hòa thượng chẳng chịu kiêng miệng. Hòa thượng cũng ưa nói, không kiêng cữ. Thường nói kiêng miệng là cữ ăn, ở đây là cữ nói.

Ngài hỏi: Ông làm sao? Thủ tọa suy nghĩ để nói. Ngài bảo: Ông cũng cần phải uống thuốc. Ông chưa thấy, ông cũng phải uống thuốc.

Cách đối đáp của ngài quá tài tình, sanh tử rất tự tại.

2. Phái Dương Kỳ

THIỀN SƯ PHÁP DIỄN núi NGŨ TỔ – KỲ CHÂU (1024 – 1104) 

Sư họ Đặng, quê ở Miên Châu, đến ba mươi lăm tuổi mới thế phát xuất gia. Sư thọ giới Cụ túc xong, đến Thành Đô học tập luận Bách Pháp, Duy Thức. Sư nhân nghe Bồ-tát khi vào kiến đạo, trí cùng lý hợp, cảnh cùng thần hội, chẳng phân năng chứng sở chứng. Ngoại đạo ở Ấn Độ thường vấn nạn Tỳ-kheo rằng: “Đã chẳng phân năng chứng sở chứng, lại lấy cái gì làm chứng?” Tỳ-kheo không đáp được. Ngoại đạo chê bai khiến không đánh chuông trống, lại trùm ngược ca-sa. Pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ cứu được nghĩa này rằng: “Như người uống nước lạnh nóng tự biết.” Từ đây mới giải được nạn này. Sư nói: 

 Lạnh nóng ắt là biết vậy, thế nào là việc tự biết? 

Sư liền chất vấn thầy dạy: 

– Chẳng biết lý tự biết như thế nào? 

Giảng sư cũng không giải được, chỉ khuyên rằng: 

– Ngươi muốn rõ lẽ này nên đến phương Nam hỏi những vị truyền Phật tâm tông. 

Sư liền mang gói sang phương Nam. Gặp các bậc tôn túc, Sư đều hỏi câu này, chỗ nghi trọn chẳng phá được. 

Duy Thức Luận giải thích: Bồ-tát khi vào kiến đạo, trí cùng lý hợp, cảnh cùng thần hội, chẳng phân năng chứng sở chứng. Ngày xưa ở Ấn Độ, trong một cuộc tranh luận giữa ngoại đạo và các vị Tỳ-kheo, ngoại đạo dẫn đoạn này trong Duy Thức, để vấn nạn: Đã chẳng phân năng chứng sở chứng, lại lấy gì làm chứng? Khi chứng biết tức đã chia hay biết và bị biết, nếu không chia hay biết và bị biết thì lấy gì làm chứng biết?

Các Tỳ-kheo không trả lời được, phải trùm ngược ca-sa mà đi. Theo thông lệ tranh luận, bên nào thua phải trùm ngược ca-sa đi ra, người ta không đánh chuông trống. Việc này kéo dài đến khi pháp sư Huyền Trang sang Ấn Độ mới cứu được.

Ngài Huyền Trang sang học ở Ấn Độ, đến buổi tranh luận ngài được đề cử. Ngoại đạo cũng đem câu đó ra hỏi, ngài liền đáp: Như người uống nước, nóng lạnh tự biết. Đến chỗ không năng chứng sở chứng, cũng như người uống nước nóng hay lạnh tự mình biết, chứ không nói được. Ngoại đạo thua, từ đây mới giải được nạn này.

Khi đến thiền sư Viên Chiếu Tông Bổn thì những nhân duyên xưa nay đều hiểu hết. Chỉ không hiểu chỗ: “Tăng hỏi Hưng Hóa: Khi bốn phương tám mặt đến thì thế nào? Hưng Hóa đáp: Đánh ở giữa. Tăng làm lễ. Hưng Hóa nói: Hôm qua ta đi phó trai trong thôn, đi đường gặp một trận gió to mưa lớn, lại nhằm trong miếu cổ tránh được qua.” Sư đem điều này hỏi Viên Chiếu. Viên Chiếu đáp: 

– Đây là nhân duyên dưới tông Lâm Tế, phải hỏi con cháu trong nhà ấy mới được. 

Thiền sư Viên Chiếu dù ngộ đạo rồi, nhưng không phải việc trong tông môn của mình, nên cũng không giải thích được, bảo ngài đi hỏi tông Lâm Tế.

Sư liền đến yết kiến thiền sư Viễn ở Phù Sơn, thưa hỏi điều này. Viễn bảo: 

 Ta có một ví dụ nói tương tợ cho ông. Ông giống như kẻ bán củi trong thôn vắng, gánh một gánh đến ngã tư đường đứng hỏi người: Ở Trung thư đường ngày nay bàn bạc việc gì? 

Trung thư đường là nhà hội họp của quan viên nghị sự chuyện quốc gia. Ông muốn biết chuyện trọng đại nước nhà, mà đứng ở ngoài đường vắng trong thôn sâu hỏi thì làm sao biết

Sư thầm nghĩ rằng, nếu như thế vẫn chưa phải. Một hôm Viễn bảo: 

– Ta già rồi e qua mất thời giờ của ông, nên đến nương với Bạch Vân, lão này tuy hậu sanh ta chưa biết mặt, chỉ thấy bài tụng ba gậy của Lâm Tế có chỗ hơn người, ắt hay làm xong việc lớn cho ông. 

Sư rơi lệ lễ từ. Đến Bạch Vân, Sư nhắc vị tăng hỏi Nam Tuyền về châu ma-ni, để thưa hỏi. Bạch Vân liền nạt. Sư lãnh ngộ dâng bài kệ đầu cơ: 

Sơn tiền nhất phiến nhàn điền địa 

Xoa thủ đinh ninh vấn Tổ ông 

Kỷ độ mại lai hoàn tự mãi 

Vị lân tùng trúc dẫn thanh phong. 

Dịch: 

Trước non một mảnh nhàn điền địa

Tay chắp tận tình hỏi Tổ ông

Mấy thuở bán ra rồi mua lại 

Vì thương tùng trúc dẫn gió lành. 

Bạch Vân ấn khả, sai trông coi việc xay lúa. 

Ngài Nam Tuyền nói, mỗi người có hạt châu ma-ni mà không tự nhận. Ngài nêu ra hỏi, Bạch Vân không đáp mà chỉ nạt một tiếng. Ngài liền ngộ, đây xem như một lần ngộ đáng kể, nhưng chưa xong.

Ngài làm bài kệ trình:

Trước non một mảnh nhàn điền địa

Tay chắp tận tình hỏi Tổ ông

Mấy thuở bán ra rồi mua lại 

Vì thương tùng trúc dẫn gió lành.

Bạch Vân ấn khả, sai ngài trông coi việc xay lúa. Đoạn này chỗ khác có ghi:

Bạch Vân sai ngài coi việc xay lúa, thấy ngài thông minh tài giỏi được Bạch Vân khen, trong chúng có người đố kỵ, mách với Bạch Vân: Pháp Diễn trông coi việc làm, có bao nhiêu tiền mua rượu nhậu, ăn xài tiêu hết, rồi còn cho gái nữa. Bạch Vân kêu Pháp Diễn hỏi mọi sự, Pháp Diễn nhận tất cả không cải chính. Bạch Vân đánh một tát tai, đuổi đi. Pháp Diễn trở về liêu, tính sổ sách xong đem lên trình: Bạch Hòa thượng, ngoài tiền uống rượu ăn thịt và cho gái, tất cả còn lại bao nhiêu đây. Bạch Vân kiểm lại không sót một đồng xu, chừng đó Bạch Vân mới biết ngài bị oan.

Tại sao ngài không cải chính việc mình làm? Chuyện không mà người nói có, phải biện minh với thầy cho rõ ràng chứ! Ngài muốn để xem thầy có biết mình hay không, thấy thầy giận quá đánh cho một bạt tai, liền về liêu cộng sổ sách đưa lại tiền bạc đầy đủ. Lúc đó thầy mới biết ngài bị oan.

Trong mười điều tâm niệm có dạy: “Bị hàm oan, chẳng cần minh oan; minh oan thì oán hận càng tăng” Nếu mình minh oan, con không có làm, ai đó nói xấu cho con. Như vậy, những người nói xấu mình họ càng giận hơn. Nên thôi, chịu hết là xong. Người xưa dám chịu nhịn, còn chúng ta bây giờ thì dám cãi; nhiều khi chuyện có làm cũng cãi chối, chứ đừng nói là dám chịu.

Chưa bao lâu, Bạch Vân đến bảo Sư: 

– Có một số thiền khách từ Lô Sơn đến đều có chỗ ngộ nhập, bảo y nói cũng nói được rõ ràng, cử nhân duyên hỏi y cũng hiểu được, bảo y hạ ngữ cũng hạ được, chỉ là chưa đúng. 

Khi ấy Sư rất nghi, thầm nghĩ: “Đã ngộ rồi, nói cũng nói được, rõ cũng rõ được, tại sao chưa đúng?” Sư bèn tham cứu luôn nhiều ngày, bỗng nhiên tỉnh ngộ, của báu từ trước buông hết, chạy đến yết kiến Bạch Vân. Bạch Vân dùng tay múa chân đạp, Sư chỉ cười mà thôi. Sau Sư nói: 

 Tôi nhân đây khắp thân xuất mồ hôi, liền rõ được ngọn gió lành thổi. 

Đến đây không dùng lời, múa đạp là ấn chứng. Ngài chỉ cười một cái mà thôi, thầy trò thông cảm nhau không cần qua lời nói.

Về sau, ngài nói: Tôi nhân đây khắp thân xuất mồ hôi, liền đó rõ được ngọn gió lành thổi. Gió lành là sao? Tức là liền hiểu được. Như vậy mới thấy, không phải ngộ một lần mà được, đến đây mới xong việc.

Một hôm Bạch Vân dạy chúng: 

 Người xưa nói như gương đúc tượng, sau khi tượng thành gương ở chỗ nào? 

Chúng hạ ngữ đều chẳng khế hợp. Bạch Vân hỏi Sư, Sư lại gần thăm hỏi, nói: 

– Cũng chẳng dính dáng nhiều. 

Bạch Vân cười bảo: – Phải là Đạo giả mới được. 

Một hôm Bạch Vân dạy chúng: Người xưa nói, như gương đúc tượng, sau khi tượng thành, gương chỗ nào? Câu này xuất xứ từ chỗ Thần Hội hỏi ngài Thanh Nguyên: Như gương đúc tượng, khi tượng thành thì ánh sáng ở chỗ nào? Bởi ngày xưa gương bằng đồng phản chiếu ánh sáng. Khi đúc thành tượng thì sáng không bằng mặt gương, nên hỏi khi thành tượng rồi thì ánh sáng về chỗ nào? Câu hỏi đó có ý gì? Gương là dụ cho ý thức nhanh lẹ của mình, biết cái này cái kia, khi ý thức thuần rồi, thành khối rồi, không còn lăng xăng nữa, thì cái biết lanh lẹ đó đi đâu? Ngài Thanh Nguyên đáp: Tuy nhiên dối y một điểm cũng không được. Khi ý thức không hoạt động, lúc đó chẳng phải không biết, nhưng cái biết rất đơn giản, không lanh lợi lăng xăng, chỉ thuần là cái biết như thật không sai chạy, bên ngoài thế nào nó phản ảnh đúng như thế ấy. Bạch Vân đem câu này ra hỏi chúng, chúng hạ ngữ đều chẳng khế hợp.

Bạch Vân hỏi ngài, ngài lại gần nói: Cũng chẳng dính dáng nhiều. Câu này không khác câu nói của ngài Thanh Nguyên. Câu kia nói dối y một điểm không được, câu này nói cũng chẳng dính dáng nhiều. Khi đến đối đáp với Lục tổ Huệ Năng, thiền sư Huyền Giác nói: Vô sanh há có ý sao? Lục Tổ nói: Không ý thì ai phân biệt? Huyền Giác đáp: Phân biệt nhưng không phải ý. Nghĩa là phân biệt nhưng không so sánh, biết rõ ràng mà không dính ý thức.

Bạch Vân cười bảo: Phải là Đạo giả mới được. Ông mới đáp được câu đó, người thường đáp không được.

Ban đầu Sư ra trụ trì chùa Tứ Diện, kế dời về Bạch Vân. Về già đến trụ Đông Sơn núi Ngũ Tổ. 

Tăng hỏi: 

– Cầm gậy lãnh chúng, Tổ lệnh đang hành, giữ vững bờ cõi, ý Sư thế nào? 

Sư đáp: 

– Gió thu thổi sông Vị, lá rụng đầy Trường An. 

Đây là lối đối đáp trong thời thịnh hành của thoại đầu, không cho dùng ý thức suy tư.

Tăng thưa: – Tứ Diện không cửa núi non đẹp, ngày nay mới được chủ nhân về. 

Sư bảo: – Ông nói đầu đường ở chỗ nào? 

Tăng thưa: – Tại sao đối diện chẳng biết nhau? Sư bảo: – Đáng mừng đến rồi. 

Tăng hỏi: – Thế nào là một giọt nước Bạch Vân? 

Sư đáp: – Giã gạo xay lúa.

Giọt nước ở đây, chỉ lo giã gạo xay lúa thôi.

Tăng hỏi: – Người uống thì sao? 

Sư đáp: – Bảo ông không chỗ để mắt.

Người uống được giọt nước đó không chỗ để mắt.

Tăng hỏi: – Đầu lưỡi người trong thiên hạ bị Bạch Vân cắt đứt, đầu lưỡi Bạch Vân người nào cắt? 

Sư đáp: – Lão Vương thôn đông. 

Sư thượng đường: 

– Cổ nhân nói: “Nếu ta vì ông nói liền đứt mất lưỡi của ta, nếu chẳng nói với ông liền câm mất miệng của ta”, hãy nói lại có chỗ vì người hay chăng? Tứ Diện có khi nghĩ vì ông nuốt mất, chỉ bị răng cửa làm ngại, nghĩ vì ông mửa hết, lại bị cổ họng nhỏ, hãy nói lại có chỗ vì người hay không? 

Sư bèn nói: – Tứ Diện xưa nay Liễu Hạ Huệ.

Đó là lối nói khéo của người xưa, nếu vì ông nói thì đứt lưỡi, không vì ông nói thì câm miệng. Ngài thì nói, có lúc muốn vì ông nuốt, nhưng bị răng cửa cản nuốt không được, nghĩ vì ông mửa thì cổ họng nhỏ mửa không ra. Như vậy ngài có chỗ vì người hay không?

Sư thượng đường: 

Bạch Vân bất hội thuyết thiền 

Tam môn khai hướng lưỡng biên

Hữu nhân động trước quan hệ

Lưỡng phiến đông thiên tây thiên. 

Dịch: 

Bạch Vân chẳng biết nói thiền 

Ba cửa mở qua hai bên 

Có người động đến then cài 

Hai cánh quạt đông quạt tây. 

Sư thượng đường: 

– Một bề đi như thế lộ vắng người thưa, một bề đi như thế cô phụ thánh trước, bỏ hai lối này Tổ Phật không thể gần, giả sử cùng Bạch Vân đồng sanh đồng tử cũng chưa xứng bình sinh. Sao vậy? Phượng hoàng chẳng phải vật tầm thường, chẳng được ngô đồng thệ chẳng nương. 

Tiểu tham Sư nêu: 

– Đức Sơn nói: “Đêm nay chẳng đáp thoại, người hỏi thoại ăn ba mươi gậy.” Trong chúng thông đó rất nhiều, hiểu đó chẳng ít. Hãy nói nhằm chỗ nào thấy Đức Sơn? Có người nào chẳng tiếc tánh mạng thử ra nói xem? Nếu không, sơn tăng vì đại chúng cùng Lão nhân Đức Sơn thấy nhau vậy. Đợi Đức Sơn nói “đêm nay chẳng đáp thoại, người hỏi thoại ăn ba mươi gậy” chỉ nhằm ngài nói: “Có thoại cũng chẳng hỏi, gậy cũng chẳng ăn.” Các ông nói, lại ăn gậy Đức Sơn chăng? Đến đây phải là kẻ ấy mới được. Huống là ta hơn mười năm tham tầm khắp chốn, gặp mấy vị tôn túc tự cho là hiểu đúng. Khi đến trong hội Phù Sơn liền mở miệng chẳng được. Sau đến dưới cửa Bạch Vân, nhai vỡ được một cái bánh nhân sắt liền được trăm vị đầy đủ. Hãy nói một câu bánh nhân sắt làm sao nói? 

Sư lại nói: 

Hoa phát kê quan my tảo thu 

Thùy nhân năng nhiễm tử ty đầu? 

Hữu thời phong động tần tương ỷ,

Tự hướng giai tiền đấu bất hưu. 

Dịch: 

Hoa nở mào gà buổi sớm thu, 

Tơ tím ngát màu ai nhuộm ư? 

Gặp lúc gió đùa cùng chụm lại, 

Như hướng bên thềm đấu chẳng thôi. 

Ngài nêu câu Đức Sơn họp chúng nói: Nếu người ra hỏi ăn ba mươi gậy. Người ra thưa hỏi thì bị ăn ba mươi gậy, chúng làm gì được? Nếu có ai đáp được câu đó hãy ra trình, nếu không ngài sẽ đáp thế cho. Đợi Đức Sơn nói “đêm nay chẳng đáp thoại, người hỏi thoại ăn ba mươi gậy”, chỉ nhằm ngài nói: “Có thoại cũng chẳng hỏi, gậy cũng chẳng ăn.” Nếu có thoại cũng không hỏi, có gậy cũng chẳng ăn. Như vậy thì có hay không?

Đây là một lối nói bị đầu lưỡi các Hòa thượng lừa. Ngài nói, ngày trước tham tầm các vị tôn túc chỗ này chỗ kia, lúc đó tự cho mình hiểu đúng, khi đến gặp Phù Sơn thì tất cả hiểu biết đều mất hết. Sau này đến Bạch Vân, ở đó phá được chiếc cổng cuối cùng, dụ như là nhai vỡ chiếc bánh nhân sắt. Từ đó ngài mới đầy đủ.

Sư thượng đường: 

 Hôm qua sơn tăng vào thành thấy một đám múa rối liền lại gần xem. Hoặc thấy đẹp đẽ kỳ lạ, hoặc thấy xấu xa vô kể, chuyển động đi ngồi, xanh vàng đỏ trắng, mỗi mỗi thấy rõ. Khi xem kỹ, té ra sau tấm màn xanh ở trong có người. Lão tăng không thể chịu nổi, bèn đến hỏi ông tên gì, kia nói: Hòa thượng già xem thấy là xong, hỏi tên làm gì? Đại chúng! Lão tăng bị kia hỏi một câu khiến cho không lời có thể đáp, không lý có thể bày. Lại có người vì sơn tăng nói được chăng? Hôm qua trong ấy bị thua, ngày nay ở đây gỡ vốn. 

Ngài vào thành, thấy gánh hát múa rối. Trên sàn diễn có người đi lại lăng xăng, nhìn thật kỹ thì thấy bên trong có người giật giây. Ngài tới hỏi người ở sau tấm màn xanh, đang làm mọi hoạt động cho những hình nộm đó: Ông tên gì? Ông ta nói: Hòa thượng già xem xong rồi thôi, hỏi tên làm gì. Câu chuyện này có gì lý thú, ý ngài muốn nói gì?

Chúng ta cũng là bộ xương, ở bên ngoài bọc mớ da, bên trong có người làm chủ. Họ điều khiển chúng ta đi qua đi lại, đôi khi cười, đôi khi giận, đủ thứ chuyện lăng xăng lộn xộn. Hỏi người chủ động đó tên gì thì ông ấy nói, xem thấy được rồi hỏi tên làm chi? Nghĩa là biết có người đó được rồi, hỏi tên làm gì! Cái chân thật của mọi người có sẵn, bởi có nên phát ra mọi hành động múa may qua lại. Cái chân thật đó không có tên, hỏi tên chỉ làm rối thêm. Ngài mượn câu chuyện ở ngoài để nói lại cái này.

Đại chúng! Lão tăng bị kia hỏi một câu khiến cho không lời có thể đáp, không lý có thể bày, lại có người vì sơn tăng nói được chăng? Không ai nói được, ngài liền đáp thay:

Hôm qua trong ấy bị thua, ngày nay ở đây gỡ vốn. Gỡ vốn là thấy được chỗ chân thật đó, không còn gì đặt tên hay nói năng.

Sư dạy chúng: 

– Chân như phàm thánh đều là lời mộng, Phật và chúng sanh đều là lời thừa. Hoặc có người ra nói, lão Bàn Sơn ư? Chỉ nói với y: Chẳng nhân đường quê hoa nở sớm, đâu được hoàng oanh đậu liễu tơ. Nếu lại hỏi rằng, lão Ngũ Tổ ư? 

Tự đáp: – Vâng! Tỉnh tỉnh lấy. 

Sư dạy chúng, nêu: 

– Hòa thượng Đức Sơn nhân Tăng hỏi: Chư thánh từ trước lấy pháp gì dạy người? Đức Sơn đáp: Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người. Tuyết Phong do đây có tỉnh. Sau có vị tăng hỏi Tuyết Phong: Hòa thượng thấy Đức Sơn được cái gì liền thôi đi? Tuyết Phong nói: Ta khi ấy đi tay không về tay không. 

Ngày nay Bạch Vân nói với kẻ chưa thấu. Có người từ Đông Kinh lại, hỏi y: Chỗ nào lại? Y nói: Tô Châu lại. Hỏi y: Tô Châu việc thế nào? Y nói: Tất cả tầm thường. Tuy nhiên như thế, dối Bạch Vân chẳng được. Cớ sao? Chỉ vì ngữ âm mỗi nơi có khác. Cứu cánh thế nào? Củ ấu Tô Châu, ngó sen Thiệu Bá. 

Ngài dẫn câu chuyện của Đức Sơn. Tăng hỏi: Chư thánh từ trước lấy pháp gì dạy người? Đức Sơn đáp: Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người. Thiền tông không có một pháp để cho người. Nhân đây Tuyết Phong ngộ, sau này có người hỏi ngài: Hòa thượng thấy Đức Sơn được gì liền thôi đi? Được gì nơi Đức Sơn rồi về đây dạy chúng? Tuyết Phong nói: Ta khi ấy đi tay không về tay không. Ngài có phản bội thầy không? Đây mới thật trung thực với thầy, vì Đức Sơn nói tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người, nếu nói có thì tất nhiên ngược với thầy.

Đoạn sau ngài nói với kẻ chưa thấu chưa qua, vì còn nói có nói không, ngài không chịu, cuối cùng ngài chỉ nói: Củ ấu Tô Châu, ngó sen Thiệu Bá. Như vậy là sao? Như tôi nói, bưởi Đồng Nai, cam Tiền Giang. Tô Châu là tên của một tỉnh, còn Thiệu Bá là tên của một huyện.

Ba ông Phật hầu Sư trên một cái đình, nói thoại ban đêm, đến khi trở về đèn đã tắt. Sư ở trong tối bảo: 

– Mỗi người hạ một chuyển ngữ. 

Phật Giám thưa: – Phượng đẹp múa đêm vắng. 

Phật Nhãn thưa: – Rắn sắt ngang đường xưa. 

Phật Quả thưa: – Xem gót chân. 

Sư bảo: – Diệt tông ta là Khắc Cần vậy. 

Ba ông Phật là Phật Giám, Phật Nhãn, Phật Quả, đệ tử của ngài. Ban đêm bảo hạ chuyển ngữ, Phật Giám nói: Phượng đẹp múa đêm vắng. Phật Nhãn nói: Rắn sắt ngang đường xưa. Phật Quả nói đơn giản: Xem gót chân. Cái chân thật của đạo của thiền ở ngay nơi mình, như ở dưới gót chân không đâu xa xôi, nhìn thẳng đó mà thấy. Ngài Pháp Diễn bảo: Diệt tông ta là Khắc Cần. Một lời khen lạ lùng.

Niên hiệu Sùng Ninh thứ ba (1104) ngày hai mươi lăm tháng sáu, Sư thượng đường từ giã chúng: 

 Hòa thượng Triệu Châu có câu rốt sau, các ông làm sao hội, thử ra nói xem? Nếu hội được chẳng ngại sống thích thú tự tại, bằng chưa được thế, việc tốt này làm sao nói? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Nói tức nói rồi, chỉ là các ngươi chẳng biết. Cần hiểu chăng? Giàu hiềm ngàn miệng ít, nghèo hận một thân nhiều. Trân trọng! 

Sư trở về trượng thất tắm gội sạch sẽ, gần sáng nằm kiết tường mà tịch. Sư thọ hơn tám mươi tuổi. 

Câu rốt sau tức là giờ phút từ biệt. Nếu hội được chẳng ngại sống thích thú tự tại, bằng chưa được thế, việc tốt này làm sao nói?

Ngài im lặng giây lâu nói: Nói tức nói rồi, chỉ là các ngươi chẳng biết. Nói câu rốt sau tức ngài đã nói từ biệt rồi. Cần hiểu chăng? Giàu hiềm ngàn miệng ít, nghèo hận một thân nhiều. Đây là một câu cách ngôn của Trung Hoa, người giàu dầu cho có ngàn khẩu phần ăn cũng thấy còn ít, còn dư dả; còn nghèo có một thân mà nuôi không xong, đói lên đói xuống.

Ngài trở về trượng thất tắm gội sạch sẽ, gần sáng nằm kiết tường mà tịch.

THIỀN SƯ TRÍ BỔN núi VÂN CÁI – ĐÀM CHÂU 

Sư họ Quách, quê ở Thụy Châu. 

Ngày khai đường, có vị tăng hỏi: 

Chư Phật ra đời trời mưa bốn thứ hoa, Hòa 

thượng ra đời có điềm lành gì? 

Sư đáp: – Ngàn nghe chẳng bằng một thấy. 

Tăng hỏi: – Sau khi thấy thế nào? 

Sư đáp: – Mù 

Tăng hỏi: Khi Phật đản sanh thì trời mưa bốn thứ hoa, Hòa thượng ra đời có điềm lành gì? Ngài đáp: Ngàn nghe chẳng bằng một thấy, dù mình nghe một ngàn việc hay không bằng thấy được một sự thật. Hiện tại ông thấy tôi thì hơn ngàn cái nghe kia. Một lời đáp khéo.

Tăng hỏi: – Thế nào là pháp thân thanh tịnh? Sư đáp: – Nhà không tớ nhỏ chẳng thành quân tử. 

Đây là câu cách ngôn của Trung Hoa thời phong kiến. Ngày xưa một công tử đi đâu thì có nhiều người theo hầu, mấy tiểu đồng mang túi xách. Nếu không có đứa tớ nhỏ đi theo thì không phải là hàng vương tôn công tử. Cho nên nói nhà không tớ nhỏ chẳng thành quân tử.

Tăng hỏi: – Đem tâm tìm tâm, làm sao tìm được? 

Sư đáp: – Người Ba Tư học tiếng Hán. 

Tăng hỏi: – Thế nào là chỗ con xuất thân? 

Sư đáp: – Tuyết Phong vốn là người Lãnh Nam. 

Tăng hỏi: – Nói được hành chẳng được, hành được nói chẳng được. Chưa biết hành chẳng được làm sao nói? 

Sư đáp: – Miệng ở dưới chân. 

Tăng hỏi: – Nói chẳng được làm sao hành? Sư đáp: – Đạp nhằm đầu lưỡi. 

Vì ông đạp trên đầu lưỡi nên nói không được.

Tăng hỏi: – Biết Thầy đã chứa báu trong bị, ngày nay chốn này mượn tạm xem? 

Sư đáp: – Vừa rồi dường bị người mượn đi. 

Người mượn đi mất rồi, lấy đâu mà xem?

Sư thượng đường: 

– Người đi lỗ mũi thấu trời, kẻ đến chân đạp 

đất thật. Hãy nói, ý Tổ sư nhằm chỗ nào? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

Hằng giận xuân về không chỗ kiếm, 

Chẳng hay trôi thẳng đến trong đây. 

Mùa xuân đến lúc nào chúng ta không hay, chỉ nghe nói xuân về mà không biết xuân từ đâu về. Tuy không thể tìm thấy chỗ xuân về, nhưng đến ngày xuân thì nhìn đâu cũng biết là xuân.

Sư thượng đường lớn tiếng gọi: – Thị giả 

Thị giả: – Dạ! 

Sư hỏi: – Đại chúng tập hợp hay chưa? 

Thị giả thưa: – Đại chúng đã tập hợp. 

Sư bảo: – Một cái kia vì sao chẳng đến tham dự? 

Thị giả câm miệng. 

Sư bảo: – Đến tức chẳng điểm. 

Ngài hỏi chúng tập hợp chưa, thị giả kiểm chúng thấy đông đủ nên nói đã tập hợp. Hỏi, cái kia vì sao không tới tham dự? Thị giả không trả lời được. Ngài đáp: Đến tức chẳng điểm. Cái kia là cái không có hình tướng nên không thể đếm, không thể thấy. Nếu có đến cũng không điểm danh được, chỉ biết có mặt.

Sư thượng đường: 

– Đầy miệng nói chẳng ra, câu câu rất sáng tỏ, đầy mắt xem chẳng thấy, núi núi chồng chất xanh, tiếng trống vẫn chẳng hiểu, hà huống là tiếng chuông. 

Sư hét một tiếng. 

Sư thượng đường cầm ngang cây gậy nói:

– Răng như đao kiếm, mặt tợ sắt. Mắt phóng điện sáng, sáng chẳng dứt. Tay nắm một vạn cân tật lê, khi rảnh gõ rơi mặt trăng bên trời. 

Sư giộng cây gậy một cái. 

Tăng hỏi: – Thế nào là sư tử ăn thịt người? 

Sư đáp: – Trước núi Ngũ Lão. 

Tăng thưa: – Cái này há biết ăn thịt người? 

Sư đáp: – Ngày nay lượm được tánh mạng. 

Đây là những câu nói không cho suy nghĩ. Nếu chúng ta cố suy nghĩ để hiểu, chỉ là mất thời giờ mà thôi.

Sư thượng đường: 

– Đầu đội núi Tu-di, chân đạp bốn biển cả, hít thở sấm gió ồn, động dụng sanh năm sắc. Nếu hay biết được y, mặc tình năm tháng đổi. Hãy nói, người nào biết được y? 

Sư hét một tiếng nói: – Tớ vườn nhà. 

Diệu dụng bất tư nghì, hỏi ai biết được y. Nếu biết được thì mặc tình năm tháng thay đổi, không còn sợ.

THIỀN SƯ NHẬT ÍCH Ở THƯỢNG PHƯƠNG – AN KIẾT CHÂU 

Ngày khai đường Thủ tọa bạch chùy xong, Sư nói: 

– Trước bạch chùy, quán một lại chẳng thành. Sau bạch chùy, quán hai lại chẳng phải. Đến đây dù là mắt sắt tròng đồng, cũng phải vỡ tan trăm mảnh. Có thiền tăng nào chẳng sợ nguy vong, thử ra xem? 

Trước thấy một không thành, sau thấy hai chẳng phải, đến đây dù mắt sắt tròng đồng cũng phải vỡ trăm mảnh. Nghĩa là chỗ thật này không thể dùng mắt dùng hiểu để mà suy nghiệm.

Khi ấy có hai vị tăng đồng ra. Sư nói: 

– Một mũi tên rơi hai chim điêu. 

Tăng thưa: 

– Thoại con chưa hỏi đâu được rối loạn. 

Con chưa hỏi mà ngài nói con rơi cái gì?

Sự hỏi: – Đâu chẳng phải là tăng Tân La ư? 

Tăng suy nghĩ. Sư bảo: – Kẻ đâm vào cột cái. 

Liền đánh. 

Tăng hỏi: – Thế nào là việc bên chưa xuất thế? 

Sư đáp: – Đáy giếng con ếch nuốt mặt trăng. 

Tăng hỏi: – Thế nào là việc bên xuất thế? 

Sư đáp: – Con cò đạp gãy cành lau khô. 

Tăng hỏi: – Bỏ hai lối này, thế nào là chỗ Hòa thượng vì người? 

Sư đáp: – Kim cang dùi ấy thật hoàn hảo, bày ở đầu đường bán cho ai. 

Chỗ vì người của tôi giống như một cây dùi kim cang thật đẹp, để đầu đường bán mà không ai mua.

Tăng hỏi: – Thế nào là con trâu đực nhiều năm? 

Sư đáp: – Răng thưa mắt mờ. 

Tăng hỏi: – Chợ ồn gặp nhau việc thế nào? 

Sư đáp: – Đi đông mua tiện, đi tây mua quý. 

Tăng thưa: – Chợt như chẳng khởi tiện chẳng khởi quý, lại làm sao? 

Sư đáp: – Củ cải Trấn Châu. 

Tăng hỏi: 

– Tất cả hàm linh đều có Phật tánh, đã có Phật tánh vì sao lại chun vào thai lừa bụng ngựa? 

Sư đáp: – Biết mà cố phạm. 

Đây là câu nói của ngài Triệu Châu. Hỏi tại sao có Phật tánh sáng suốt lại còn chui vào thai lừa bụng ngựa làm gì? Ngài nói: Biết mà cổ phạm.

Tăng hỏi: – Chưa biết nhằm chỗ nào sám hối? 

Sư đánh nói: 

– Hãy làm thầy ngựa chết (tử mã y). 

Tăng hỏi: – Thấy mặt trình nhau thì thế nào? Sư bảo: – Mắt trái nửa cân, mắt phải tám lạng. 

Tăng đưa tọa cụ nói: – Cái này ư? 

Sư bảo: – Chẳng nhọc đưa ra. 

Sư nhìn hai bên nói: 

– Ông già mặt vàng đi khắp bảy bước, ngay lúc hạ chân nên cho một chùy. Hồ tăng mắt biếc ngồi thẳng chín năm, trên đánh môn đáng châm một cái. Đương thời nếu có thiền tăng vì chúng kiệt lực, hạ được độc thủ ấy, ắt khỏi phải niệm hoa vi tiếu, uổng rạng mặt mày, đứng trong tuyết đến gối, trở thành dấu vết. Từ đây đem lầm đến lầm, đem sọt đánh sọt, bèn có năm cánh hương thơm ngàn đèn nối sáng, nhằm trên ghế gỗ xướng hai nói ba, nơi đầu cây gậy tức lật chỉ nam vẽ bắc. Liền có một bọn tiến trước lui sau hỏi pháp hỏi tâm, có những kẻ nương cửa tựa vách tìm Phật tìm Tổ. Trước sân chỉ bá, liền gọi là ý Tổ Tây sang, ban ngày xem núi, lại lầm nhận tự kỷ học nhân. Đâu chẳng biết một đại sự này vốn tự linh minh, tột mé vị lai chưa từng gián đoạn, chẳng nhờ tu chứng há ở nghĩ suy. Dù Thu Tử vẫn có chỗ chẳng biết, chẳng phải chỗ hay biện của Mãn Từ. Chẳng thấy Mã Tổ một tiếng hét, Bá Trượng tai điếc ba ngày. Bảo Thọ lệnh hành, một thành Trấn Châu mù mắt. Đại cơ đại dụng như điện chớp không thể dừng, một xướng một đề dường vách núi đứt không thể đi. Chính ngay khi ấy chư Phật ba đời chỉ có thể đứng bên mà xem, sáu đời Tổ sư chứng minh có phần. Đại chúng hãy nói, ngày nay lại có chứng minh hay chăng? 

Sư im lặng giây lâu nói: – Châm! 

Đây chỉ là cách nói khác của nhà thiền. Ông già mặt vàng là chỉ cho đức Phật. Đức Phật khi mới sanh ra đi bảy bước. Hồ tăng mắt biếc là chỉ tổ Đạt-ma. Phật thì đánh một chùy dưới gót chân, Tổ thì gõ một thẻ trên đầu. Những câu nói này nghe dường như trái tai, nhưng rất kỳ đặc.

Đương thời nếu có thiền tăng vì chúng kiệt lực, hạ được độc thủ ấy. Nếu có thiền tăng nào thấu được chỗ đi bảy bước của Phật, chỗ ngồi xoay mặt vào vách của Tổ thì sao?

Ắt khỏi phải niêm hoa vi tiếu, uổng rạng mặt mày. Người đó không cần đợi Phật đưa cành hoa sen lên, rồi nở nụ cười như ngài Ca-diếp. Đứng trong tuyết đến gối, trở thành dấu vết. Ngài Huệ Khả đứng trong tuyết ngập đến đầu gối, trở thành dấu vết, người sau xem như mẫu mực để bắt chước.

Từ đây đem lầm đến lầm, đem sọt đến sọt, bèn có năm cánh hương thơm, ngàn đèn nổi sáng. Năm cánh hương thơm là một hoa sanh năm cánh, ngàn đèn nối sáng là truyền đăng tục diệm.

Nhằm trên ghế gỗ xướng hai nói ba, nơi đầu gậy tức lật chỉ nam vẽ bắc, là nói những phương tiện của người sau. Sở dĩ lập phương tiện như thế, vì người học chưa thấu suốt được cái gốc ban đầu.

Một đại sự này vốn tự linh minh, tột mê vị lai chưa từng gián đoạn, chẳng nhờ tu chứng hả ở nghĩ suy. Dầu cho trí tuệ như ngài Xá-lợi-phất cũng vẫn không biết, dù cho biện luận giỏi như ngài Mãn Từ Tử cũng không thể biện luận được chỗ này.

Sư thượng đường: 

– Thập Đắc bửa củi, Hàn Sơn thổi lửa, chỉ có Phong Can trong núi ngồi yên. Hãy nói Phong Can có chỗ gì hay? 

Sư im lặng giây lâu nói: 

– Nhà không tớ nhỏ, chẳng thành quân tử. 

Hàn Sơn, Thập Đắc ở chùa Quốc Thanh, Phong Can thì có cái am gần đó. Đây là ba vị Bồ-tát hóa thân hiện trong thời ấy.

Thiền là giáo ngoại biệt truyền nên chư Tổ không dùng danh từ Phật, Tổ, Thanh văn, Duyên giác… chỉ diễn tả một cách khéo léo, người nghe khéo nhận thì biết. Ngôn ngữ của các ngài không theo lối thuận khen ngợi tán thán mà theo lối nghịch. Đôi khi nói những câu dường như lỗ mãng, bất hiếu ngang ngược, song chính chỗ ngỗ nghịch đó lại là hiếu thảo, trung thành đáo để.

Tông Vân Môn Đời Thứ Tám

THIỀN SƯ BẢO ẤN SỞ MINH ở TỊNH TỪ – phủ LÂM AN 

Sư họ Trương, quê ở Bách Việt. 

Sư thượng đường: 

– Tâm ấn Tổ sư chẳng dài chẳng ngắn, chẳng vuông chẳng tròn, chẳng trong chẳng ngoài cũng chẳng khoảng giữa. Xin hỏi đại chúng, quyết định là hình mạo gì? 

Sư cầm gậy nói: 

– Lại thấy chăng? Cổ triện chẳng thành văn, phi bạch khó đồng thể, từ trước tự phân minh, đâu cần lại thêm nữa. 

Sư gõ giường thiền xuống tòa. 

Đoạn này ngài có nói đạo lý gì không? Tâm ấn Tổ sư không phải dài ngắn vuông tròn, trong ngoài giữa. Vậy là hình mạo gì? Cổ triện chẳng thành văn, phi bạch khó đồng thể. Cổ triện là kiểu chữ dùng trước thời Tần, phi bạch chỉ nét bút mềm mại như lụa bay. Ngài có chỉ Tổ sư tâm ấn không? Có chỉ mà không ai thấy. Tâm ấn không có hình tướng, ngài diễn tả bằng cách cầm gậy, rồi gõ giường thiền. Chỗ đó ngài chỉ cho chúng ta hai lần mà không để ý. Trong nhà thiền nếu chậm một chút là qua mất, phải nhanh như chớp mới thấy được chỗ chỉ của các ngài. Từ trước tự phân minh, đâu cần lại thêm nữa. 

Sư thượng đường:

– Ra cửa thấy sông núi, vào cửa thấy điện Phật, linh quang chỗ chạm thông, các người sao chẳng tiến? Nếu chẳng tiến, Tịnh Từ ngày nay chẳng được tiện. 

Ra cửa thấy sông núi, vào cửa thấy điện Phật. Như chúng ta nói, ra cửa thấy đường đi, vào cửa thấy chùa vậy. Linh quang chỗ chạm thông, linh quang của chúng ta chạm đâu thông đó. Như vậy là đã chỉ tâm ấn của Tổ sư rồi, mà tại sao các người lại không chịu lãnh hội? Rõ ràng như vậy, có giấu giếm chỗ nào đâu.

Nếu chẳng tiến, Tịnh Từ ngày nay chẳng được tiện. Ngài chỉ rất tường tận, nhưng vì chậm lụt nên chúng ta không thấy, ngài đành chịu thua.

Sư thượng đường: 

– Tổ sư nói: “Ta xưa đến cõi này, truyền pháp cứu mê tình, một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành.” Khi ấy Tịnh Từ nếu thấy nói như thế, dùng cây gậy sơn đen đập một gậy chết tốt, chôn trên đất không âm dương, khiến Ngài không nói được. Vì sao? Không thể để Ngài gạt người cả nước Đại Đường chúng ta. Trong chúng có người vì Tổ sư nói chăng? Ra đây một lúc chôn hết. 

Ta xưa đến cõi này, truyền pháp cứu mê tình, một hoa nở năm cánh, kết quả tự nhiên thành. Đây là bài kệ của tổ Bồ-đề-đạt-ma. Một hoa là chỉ cho ngài, năm cánh là năm vị tổ đời sau. Ngài nói đúng lẽ thật, vậy ngài có lỗi chỗ nào mà đòi đập chết, để khỏi gạt người cả nước Đại Đường? Đập chết rồi chôn ở đâu? Trên đất không âm dương. Nếu còn ai nói theo Tổ thì cũng đập chết luôn. Chỗ này thế nào?

Đọc sách Thiền, chúng ta phải nhạy bén mới thấy cái hay của các ngài. Ngay câu truyền pháp cứu mê tình, là có lỗi rồi. Nếu đợi Tổ sư từ Ấn Độ sang truyền, tức là ở cõi này không có hay sao? Pháp này ai cũng có sẵn, đâu đợi Tổ sư truyền mới có, nói truyền tức là gạt thiên hạ rồi. Như Đức Sơn nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người.” Vậy đâu có cái gì để truyền?

Tổ nói bài kệ trên là theo chiều hướng truyền bá, còn đứng về mặt chân thật thì không có gì để truyền. Nếu có truyền, tức cái đó là của người trước trao cho người sau, được trao thì không phải là cái của mình.

Sư thượng đường: 

– Nếu luận việc này như vãi tung bảo bối, vất bừa vàng ngọc, người quên mình tự cam nghèo cùng, người có mắt thuận tay lấy được. Vì thế nói: Diêm-phù có báu lớn, người thấy được rất hiếm, nếu người đem dâng ta, thành Phật chỉ trong bữa ăn. 

Sư cầm cây gậy nói: 

– Như nay một lúc trình ra tương tự, khắp mời đại chúng để mắt nhìn lên. 

Sư ném cây gậy xuống tòa. 

Luận về việc này như là vung vãi bảo bối tứ tung hoặc vất bỏ vàng ngọc bừa bãi. Người bỏ của báu là quên mình tự cam nghèo cùng, đó là cùng tử quên mình là người giàu. Tất cả chúng ta nghèo hay giàu? Giàu mà đi ăn mày, thật là đáng buồn!

Người có mắt thuận tay lấy được, người mắt sáng tin nhận được, gọi là thuận tay lấy đem ra. Vì thế nói: Diêm-phù có báu lớn, người thấy được rất hiếm. Câu này dẫn lời kinh nói, cõi Diêm-phù có của báu lớn, song rất ít người thấy được, nên nói hiếm có. Nếu người đem dâng ta, thành Phật chỉ trong bữa ăn. Rất mau! Của báu đã sẵn có trong cõi Diêm-phù này, chỉ vì người không nhớ, không nhận. Nếu nhớ nhận được thì thành Phật nhanh chóng. Của báu lớn đó ra sao, ngài sẽ trình ra cho thấy.

Sư cầm cây gậy nói: Như nay một lúc trình ra tương tự, khắp mời đại chúng để mắt nhìn lên. Sư ném cây gậy xuống tòa. Như thế, thủy chung ngài đều hết tình hết dạ với chúng ta. Lúc nào cũng đưa ra cho thấy, không hề giấu giếm. Ngài Bảo Ân rất thực tế, chỉ thẳng cho thấy nơi mình có của báu quý giá rồi, mỗi người gắng nhận mà tu.

THIỀN SƯ DIỆU TRẠM TƯ HUỆ Ở TUYẾT PHONG – PHÚC CHÂU 

Sư họ Du, quê ở Tiền Đường.

Có vị tăng hỏi:

– Khi điện cổ không đèn thì thế nào? 

Sư đáp: – Vách đông thông vách tây. 

Tăng thưa: – Thế ấy ắt đụng nhằm cột cái. 

Sư bảo: – Chưa dám hứa nhận. 

Điện cổ không đèn, vách đông thông vách tây. Đây là chỉ cho cái chân thật ban đầu, rỗng rang không có gì ngăn ngại. Tăng thưa: Thế ấy ắt đụng nhằm cột cái. Cột cái chỉ cho cốt tủy. Khi trong lòng trống rỗng thì nhận ra bản lai diện mục. Ngài nói: Chưa dám hứa nhận, nói thì được nhưng chưa dám hứa nhận.

Sư thượng đường: 

– Thả lưới đại giáo bắt cá trời người, Hộ Thánh chẳng giống Lão Hồ dài dòng lôi thôi. Chỉ là thấy thỏ thả chim ưng, gặp nai buông tên. 

Sư bèn to tiếng gọi đại chúng nói: – Trúng.

Thả lưới đại giáo bắt cá trời người, Hộ Thánh chẳng giống Lão Hồ dài dòng lôi thôi. Hộ Thánh là tên chùa ngài đang ở, tức chỉ ngài; Lão Hồ là đức Phật. Câu nói nghe có vẻ bất kính, tại sao Phật lại dài dòng? Vì đức Phật rất từ bi nên kinh giáo phân tích tỷ mỷ, giải thích tận tình, chỉ dạy rành rẽ để chúng sanh nhận ra tánh chân thật, đó là dài dòng. Còn phần ngài thì sao?

Chỉ là thấy thỏ thả chim ưng, chim ưng chụp thỏ, nên thấy thỏ liền thả chim ưng ra cho nó bắt. Gặp nai buông tên, thấy nai chạy qua thì bắn liền. Nghĩa là tùy duyên ứng dụng nhạy bén, không có phương pháp cố định. Gặp căn cơ người như thế nào thì theo đó mà linh động.

Ngài bèn to tiếng gọi đại chúng, đại chúng ngó lại, ngài nói: Trúng. Gọi đại chúng, tức là ngài buông tên bắn trúng rồi. Thật là kỳ đặc.

Sư thượng đường: 

– Ngày xưa Dược Sơn sớm chiều chẳng tham vấn trải qua cả tháng. Một hôm đại chúng vừa nhóm họp, Dược Sơn bèn trở về phương trượng. Chư thiền đức! Thời ấy Phật pháp sớm tự đạm bạc, luận bàn cũng được chút ít. Như nay mỗi ngày đánh trống đăng tòa lải nhải, người hỏi miệng như guồng xe chỉ, người đáp lưỡi như điện chớp. Cứ như ngày nay, tuệ mạng Linh Sơn nguy như chỉ mành treo chuông, gia phong Thiếu Thất hiểm tợ trứng xếp chồng. Lại làm sao được kẻ thiền tăng ý chí khảng khái, đỡ đứng tông thừa thì hãy bước ra, hét tan đại chúng, chẳng những bên tai im tiếng, chính khiến chánh pháp trụ lâu, há chẳng phải to lớn sao! Nếu như trên gậy chẳng thành rồng, sơn tăng sẽ hành ngược lệnh này. 

Sư cầm gậy đồng thời đuổi tan hết. 

Ngài dẫn lại câu chuyện thiền sư Dược Sơn cả tháng không tham vấn, chúng cũng chẳng tới thưa hỏi. Một hôm đánh trống thượng đường, chúng tụ hội đồng đủ ngài liền bước xuống tòa, trở về phương trượng.

Thời ấy Phật pháp sớm tự đạm bạc, luận ra vẫn còn được chút ít. Ngài nói, thời của Dược Sơn Phật pháp còn đạm bạc nên luận bàn còn được chút ít.

Như nay mỗi ngày đánh trống đăng tòa lải nhải, người hỏi miệng như guồng xe chỉ, người đáp lưỡi như điện chớp. Hiện giờ thời của ngài thì người hỏi liên tiếp tợ như xe sợi, còn người đáp cũng lanh lẹ như điện chớp.

Càng hỏi đáp lanh lẹ chừng nào, thì tuệ mạng Linh Sơn, tức là tuệ mạng Phật pháp, nguy như chỉ mành treo chuông, rất mỏng manh, không bằng chỗ đạm bạc như trước kia. Gia phong Thiếu Thất hiểm tợ trứng xếp chồng. Gia phong của Tổ sư gặp nguy hiểm, như chất trứng chồng lên nhau vậy.

Sao được kẻ thiền tăng ý chí khảng khái, đỡ đứng tông thừa. Bây giờ có thiền tăng nào khảng khái tự tại, muốn chống đỡ tông thừa thì hãy bước ra, hét tan đại chúng, hét một tiếng khiến cho mọi người giải tán hết, im lặng không còn tranh cãi.

Chẳng những bên tai im tiếng, chính khiến chánh pháp trụ lâu, há chẳng phải to lớn sao! Chính khi không tranh cãi, tan hết vọng tưởng thì còn gì mà cãi. Như thế chánh pháp mới được lâu dài, mới là xong việc lớn.

Nếu như trên gậy chẳng thành rồng, sơn tăng sẽ hành ngược lệnh này. Sư cầm gậy đồng thời đuổi tan hết. Nếu nâng lên mà không thành bậc long tượng, thì tôi sẽ hành ngược lệnh này. Hành ngược lệnh bằng cách nào? Ngài cầm gậy đuổi tan hết. Đó là thuật đặc biệt.

Sư thượng đường: 

 Chân mày ngang khắp mười phương, lông my trên thấu trời xanh dưới suốt huỳnh tuyền, hãy nói lỗ mũi ở chỗ nào? 

Sư im lặng giây lâu nói: – Trát. 

Chân mày ngang trùm khắp mười phương, dọc thì trên thấu trời dưới tới âm phủ. Chân mày phủ che thì lỗ mũi ở đâu? Ý nói, tất cả phương tiện phủ che sự thật khiến ít người thấy.

Sư thượng đường: 

– Trên đảnh núi Diệu Cao biển mây mênh mông, trước núi Thiếu Thất tuyết sương mù mịt. Đứng riêng đến gối luống tự khổ nhọc, bảy ngày chẳng gặp một trường bối rối. Biệt Phong thấy nhau rơi tại giữa đường, một chiếc giày về Tây xa lại càng xa. 

Sư giọng cây gậy xuống tòa. 

Trên đảnh núi Diệu Cao biển mây mênh mông, Diệu Cao còn gọi là Diệu Phong. Ngài dẫn kinh Hoa Nghiêm, lúc Thiện Tài đồng tử đi tham vấn Tỳ-kheo Đức Vân trên ngọn núi Diệu Phong. Khi trèo lên núi chỉ thấy mây trắng mênh mông, không thấy Tỳ-kheo Đức Vân ở đâu.

Trước núi Thiếu Thất tuyết sương mù mịt, đứng riêng đến gối luống tự khổ nhọc. Tổ Huệ Khả tới Thiếu Thất học đạo, đứng tuyết lên đến đầu gối, rất khổ nhọc.

Bảy ngày chẳng gặp một trường bối rối. Thiện Tài lên núi Diệu Phong tìm Tỳ-kheo Đức Vân bảy ngày không gặp, rất bối rối. Một câu dẫn tích thiền sư, một câu dẫn kinh.

Biệt Phong thấy nhau rơi tại giữa đường. Thiện Tài lên ngọn núi Diệu Cao không gặp Tỳ-kheo Đức Vân, nhìn sang Biệt Phong, ngọn núi khác, mới thấy được Tỳ-kheo Đức Vân.

Một chiếc giày về Tây xa lại càng xa, tổ Đạt-ma quảy dép về Tây. Ngài nói một mạch rồi giọng cây gậy, xuống tòa. Có ai thấy chưa? Một cách chỉ dạy khéo.

Sư thượng đường: 

– Đại đạo chỉ ở trước mắt, nhưng mà trước mắt khó thấy. Muốn biết chân thể đại đạo, sáng nay ngày rằm tháng ba. Chẳng nhọc đứng lâu.

Chân thể đại đạo hiện tiền ở trước mắt, đừng tìm kiếm đâu xa.

Sư thượng đường: 

– Tất cả pháp chẳng sai, bánh hồ Vân Môn, trà Triệu Châu. Trong lầu Hoàng Hạc thổi sáo ngọc, tháng năm Giang Thành hoa mai rơi. Hổ thẹn thượng tọa Thái Nguyên Phù, canh năm nghe tiếng trống, trời sáng gảy tỳ bà. 

Sư hét một hét. 

Tất cả pháp chẳng sai, mỗi pháp mỗi pháp đều thể hiện tướng của đạo, không pháp nào sai khác, không pháp nào hư dối. Vì thế, ngài Vân Môn bảo ăn bánh hồ cũng là đạo, ngài Triệu Châu mời uống trà cũng là đạo. Ăn bánh uống trà đều là đạo thì có pháp nào sai khác.

Hổ thẹn thượng tọa Thái Nguyên Phù, canh năm nghe tiếng trống, trời sáng gảy tỳ-bà. Thiền sử Trung Hoa có ghi, thượng tọa Thái Nguyên Phù đêm khuya canh năm nghe tiếng trống ngộ đạo, sáng ra trình với thầy, gọi là sáng gảy Tỳ-bà. Tất cả việc ăn bánh, uống trà, nghe trống… đều là đạo. Đâu có pháp nào không phải là đạo, vậy mà trước mắt không chịu nhận, cứ đi tầm đạo ở đâu xa.

Sư thượng đường: 

– Về Nam thưa hỏi chư thiện hữu, đi nát giày cỏ; tuyệt học vô vi, ngồi tiêu ngày tháng. Phàm tình dễ thoát, thánh giải khó quên; nếu có mảy may đều thành rỉ chảy. Giả sử cho là đạo, như đất nâng núi; ứng vật hiện hình, như lừa nhìn giếng. Dù không so tính, vết xe đã thành; nếu luận tương ưng, càng không giao thiệp. Cố gắng, chư nhân giả! Chớ lầm dụng tâm, mỗi người tự về liêu phòng lại cầu việc gì? 

Về Nam thưa hỏi chư thiện hữu, đi nát giày cỏ. Thiện Tài đồng tử theo lời dạy của ngài Văn-thù, về phương nam thưa hỏi thiện tri thức. Tuyệt học vô vi, ngồi tiêu ngày tháng. Người đến chỗ vô học, an nhàn ngày tháng.

Một bên bận rộn tham học, một bên thảnh thơi đều là bệnh, nên nói phàm tình dễ thoát, thánh giải khó quên. Chấp của phàm tình còn dễ gỡ, chấp về thánh thật khó quên. Nếu có mảy may đều thành rỉ chảy, nếu còn một chút chấp nhỏ bằng sợi tơ sợi tóc cũng thành rỉ chảy.

Giả sử cho là đạo, như đất nâng núi; ứng vật hiện hình, như lừa nhìn giếng. Những câu các thiền sư đối đáp nhau như vậy, dù không so tính vết xe đã thành. Tuy không suy tính đặt thành mẫu mực, nhưng đã thành vết xe rồi, tức là vô tình biến thành mẫu mực. Nếu luận tương ưng càng không giao thiệp, cho rằng mẫu mực như thế là hợp với đạo thì lại càng không dính dáng.

Cố gắng, chư nhân giả! Chớ lầm dụng tâm, mỗi người tự về liêu phòng, lại cầu việc gì? Nhà mình đã sẵn còn tìm thêm gì nữa lại thành bệnh hoạn.

THIỀN SƯ CHÍ TUYỀN TỔ ĐĂNG Ở VÂN PHONG – ĐÀM CHÂU 

Sư họ Trần, quê ở Nam Việt. Sư thượng đường: 

Thôi đi hết đi, một niệm muôn năm đi, cây khô tro lạnh đi, lò hương miếu cổ đi, một mảnh lụa trắng đi. Đại chúng! Chỗ thấy của cổ nhân như mặt trời soi trong không, chẳng mắc hai bên há rơi ấm giới. Than ôi! Con cháu sau này phần nhiều khởi hiểu bên nhất sắc. Sơn tăng tức chẳng thế. Chẳng thôi đi chẳng hết đi, nghiệp thức mênh mông đi, bảy điên tám đảo đi; nơi ngã tư đường ồn ào náo động, trong thanh sắc nằm ngồi đi; trong thôn vắng bồi đường bít lộ, trong rừng gai góc dạo chơi đi; núi đao cây kiếm chĩa bụng đâm tim, vạc dầu lò lửa lủng da nát xương đi. Cử xướng như thế rất giống trẻ con ba tuổi đánh cầu thêu. 

Ngài dẫn câu nói của Thạch Sương dạy chúng. Thôi đi hết đi, một niệm muôn năm đi, cây khô tro lạnh đi, lò hương miếu cổ đi, một mảnh lụa trắng đi. Ngài than, cháu con sau này phần nhiều khởi hiểu bên nhất sắc.

Đây là dẫn câu chuyện sau khi ngài Thạch Sương viên tịch, toàn chúng họp lại cử người kế thừa. Khi cử Thủ tọa làm trụ trì, thị giả Điềm Phong nói: Tôi hỏi một câu, nếu trả lời đúng mời làm trụ trì, không đúng xin thỉnh người khác. Thủ tọa đồng ý. Giữa đại chúng, Thị giả nêu câu của ngài Thạch Sương: Thôi đi hết đi, một niệm muôn năm đi… ý nghĩa thế nào? Thủ tọa đáp: Đó là bên nhất sắc. Thị giả bảo: Thầy không hiểu ý Tiên sư. Thủ tọa nói: Vậy xin đốt một cây nhang, nếu trong khoảng cây nhang tàn mà tôi tịch, tức là tôi hiểu ý Tiên sư.

Khi cây nhang vừa cháy một lúc, Thủ tọa liền ngồi tịch. Thị giả đến vỗ lưng Thủ tọa bảo: Tuy ngồi tịch, cũng là chưa hiểu ý Tiên sư. Vì thế ở đây ngài nói: Than ôi! Con cháu sau này phần nhiều khởi hiểu bên nhất sắc.

Người xưa như thế, bây giờ thì sao? Ngài nói ngược lại. Sơn tăng tức chẳng thế. Chẳng thôi đi chẳng hết đi, nghiệp thức mênh mông đi, bảy điên tám đảo đi; nơi ngã tư đường ồn ào náo động, trong thanh sắc nằm ngồi đi; trong thôn vắng bồi đường bít lộ, trong rừng gai góc dạo chơi đi; núi đao cây kiếm chĩa bụng đâm tim, vạc dầu lò lửa lủng da nát xương đi. 

Cử xướng như thế rất giống trẻ con ba tuổi đánh cầu thêu. Từ câu chuyện trên mà ngài dẫn lời bình như vậy. Chúng ta có học qua mới biết rõ gốc ngọn là thế nào, nếu không biết thì dù có đọc hoài cũng vẫn không hiểu.

Sư thượng đường: 

Sấu trúc trường tùng trích thủy hương, 

Lưu phong sơ nguyệt độ viêm lương.

Bất tri thùy trụ Nguyên Tây tự, 

Mỗi nhật chung thanh tống tịch dương. 

Dịch: 

Trúc ốm tùng dài xanh ngát hương, 

Gió lùa trăng sớm độ viêm lương.

Nguyên Tây chùa ấy biết ai ở?

Hôm sớm chày kình đuổi tịch dương. 

Trúc ốm tùng dài xanh ngát hương,

Gió lùa trăng sớm độ viêm lương.

Đẹp quá! Người xưa thật khéo diễn tả, mới nghe qua dường như tả cảnh thôi, không có đạo lý gì, nhưng ý bên trong rất sâu.

Nguyên Tây chùa ấy biết ai ở 

Hôm sớm chày kình đuổi tịch dương.

Chùa Nguyên Tây đó không biết trong ai ở, mà mỗi ngày nghe tiếng chuông vang lên, dường như đuổi chiều tà. Tuy không biết không thấy ai ở trong chùa ấy, nhưng sáng nghe chuông, tối nghe chuông, tức biết có người.

Bài thơ này các thiền sư rất thích. Tại sao? Bởi ngay nơi mỗi người cũng vậy, không biết ai ở bên trong mà biết đi đứng, biết nói năng… Chúng ta gắng xem đó là người nào?

Sư thượng đường: 

– Chẳng phải gió động chẳng phải phướn động, thiền tăng mất đi lỗ mũi. Là gió động là phướn động, rõ ràng là thùng sơn đen. Hai đoạn chẳng đồng, mắt mờ tai điếc. Nước khe như chàm biếc, hoa núi tợ lửa hồng. 

Ngài nhắc lại câu chuyện hai vị tăng cãi nhau, một người nói gió động, một người nói phướn động. Lục Tổ bước ra nói: Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà là tâm của nhân giả động.

Ngài bình: Nếu nói chẳng phải gió động chẳng phải phướn động, thiền tăng mất đi lỗ mũi. Nói chẳng phải là mất lỗ mũi rồi. Còn cho rằng là gió động là phướn động, rõ ràng là thùng sơn đen. Nói là do gió động hay phướn động thì rõ ràng là thùng sơn đen. Hai đoạn chẳng đồng mắt mờ tai điếc. Người thấy khác nhau, tức là vẫn còn kẹt hai bên, nên nói mắt mờ tai điếc. Phải làm sao?

Nước khe như chàm biếc, hoa núi tợ lửa hồng. 

Có vị tăng hỏi: 

 Vào cửa Đức Sơn liền ăn gậy, ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: – Bó gậy trị dân. 

Tăng hỏi: 

– Vào cửa Lâm Tế liền bị hét, ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: – Chẳng nói mà giáo hóa. 

Tăng hỏi: 

– Chẳng biết Hòa thượng vì người thế nào? 

Sư đáp: – Một đao hai khúc. 

Vào cửa Đức Sơn liền ăn gậy, ý chỉ thế nào? Ngài nói: Bó gậy trị dân. Một bó gậy, đó là hình phạt để trị người dân sai quấy, những kẻ gian tà.

Tăng hỏi: Vào cửa Lâm Tế liền bị hét, ý chỉ thế nào? Ngài đáp: Chẳng nói mà giáo hóa. Một tiếng hét tuy không thành lời thành câu, nhưng đã là giáo hóa rồi.

Tăng hỏi: Chẳng biết Hòa thượng vì người thế nào? Ngài nói: Một đao hai khúc. Cầm đao chặt đứt làm hai.

Tăng thưa: – Cửa sắt Vô Phùng mời Thầy mở? 

Sư đáp: – Tiến ba bước. 

Tăng thưa: 

– Hướng thượng không cổng thỉnh Thầy đóng? 

Sư đáp: – Lui sau một tầm. 

Tăng thưa: 

– Chẳng mở chẳng đóng, lại làm sao? 

Sư nói: – Hồng! Hồng! 

Liền đánh. 

Tăng hỏi: Cửa sắt Phùng mời Thầy mở. Ngài nói: Tiến tới ba bước. Muốn mở thì tiến tới ba bước.

Tăng thưa: Hướng thượng không cổng thỉnh Thầy đóng. Không cổng làm sao đóng? Ngài đáp: Lui sau một tầm. Muốn đóng phải lùi lại, muốn mở phải tiến tới.

Tăng thưa: Chẳng mở chẳng đóng lại làm sao? Đến chỗ không còn hai bên thì thế nào? Ngài nói: Hồng! Hồng! Nói xong liền đánh. Đó là đã chỉ chỗ chẳng mở chẳng đóng.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.