Nội dung:
Sư họ Thôi quê ở Nghi Thủy, Nghi Châu, tánh tình cứng cỏi cương trực, từ lúc thiếu thời đã học đạo nhịn cơm, vào ẩn trong núi Y Dương. Sau, Sư dạo kinh đô nương nơi chùa Thuật Đài và ở đây học tập kinh điển, thọ giới Cụ túc.
Đi du phương, Sư đến yết kiến thiền sư Nghĩa Thanh ở chùa Hoa Nghiêm núi Đầu Tử. Sự hỏi:
– Ngôn giáo của Phật tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà, lìa việc này riêng có chỗ vì người hay chăng?
Đầu Tử đáp:
– Ngươi nói sắc lệnh của Thiên tử trong cõi này, lại nhờ vua Vũ vua Thang, Nghiêu Thuấn hay chăng?
Sư suy nghĩ để đáp lại. Đầu Tử lấy phất tử bịt miệng Sư, nói:
– Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi.
Ngay câu nói này, Sư tỉnh ngộ, đảnh lễ, liền ra đi. Đầu Tử gọi:
– Xà-lê hãy lại đây.
Sư chẳng ngó lại. Đầu Tử nói:
– Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng?
Sư liền bịt tai.
Đầu tiên, ngài hỏi: Ngôn giáo của Phật tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà, lìa việc này riêng có chỗ vì người hay chăng? Ngôn giáo của Phật tổ rất tầm thường, phải không? Ngôn giáo là lời nói chỉ dạy của Phật tổ đối với người tu ví như cơm nước không thể thiếu, ai đã tu thì phải luôn luôn nhớ, hành trì theo lời Phật tổ dạy. Nhưng ngoài việc bình thường trong cuộc sống tu hành ra còn có gì đặc biệt vì người hay chăng? Ý ngài muốn hỏi có cái gì riêng ngoài lời dạy của Phật tổ.
Ngài Đầu Tử đáp: Ngươi nói sắc lệnh của Thiên tử trong cõi này, lại nhờ vua Vũ vua Thang, Nghiêu Thuấn hay chăng? Sắc lệnh của Thiên tử trong cõi này hiện nay không phải do các vị vua Vũ, vua Thang, vua Nghiêu vua Thuấn mà được, dù các vua trước là người hiền. Chuyện hiện nay là của nhà vua hiện tại, mỗi thời mỗi khác, cái hiện giờ không phải là cái của thuở xưa. Cái hiện giờ chúng ta sẵn có không phải do lời dạy của Phật tổ thuở trước, mà ai cũng sẵn có đủ. Đó là lối nói khéo.
Khi nghe như vậy ngài suy nghĩ đáp lại, vừa suy nghĩ thì Đầu Tử lấy phất tử bịt miệng: nói mà không cho đáp. Bị bịt miệng vẫn chưa ngộ, Đầu Tử nói: Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi. Vừa khởi nghĩ là đã ăn ba mươi gậy, đừng nói là có lời. Ngay câu đó ngài lãnh hội được.
Khi ngộ rồi đảnh lễ ra đi, dường như ngài vô phép. Ngài Đầu Tử còn ngờ không biết chú này tới nơi tới chốn chưa nên kêu: Xà-lê hãy lại đây. Ngài chẳng thèm ngó lại, Đầu Tử nói: Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng? Ngài liền bịt lỗ tai. Đó là hình ảnh gì? Khi đã thấy rõ không còn một tý ngờ vực gì, ngay đó không cần chờ dạy thêm câu này câu nọ, cũng không cần phải nghe thêm lời gì nữa. Đó là nói lên tư cách của một người đã ngộ.
Đó là trong cách đối đáp thầy trò, tỏ vẻ mình đã đến nơi, không phải một bề đi luôn.
Sau, Sư coi việc nhà trù. Đầu Tử hỏi:
– Việc trong nhà trù không phải là dễ.
Sư thưa:
– Chả dám.
Đầu Tử hỏi:
– Ngươi thổi cơm ư? Nấu cháo ư?
Sư thưa:
– Nhân công đãi gạo nhóm lửa, trị nhật nấu cháo thổi cơm.
Đầu Tử hỏi:
– Còn ngươi làm gì?
Sư thưa:
– Nhờ ơn Hòa thượng từ bi cho y rảnh rang.
Ngài làm việc nhà trù mà thấy mình không làm gì. Nhân công đãi gạo nhóm lửa, trị nhật nấu cháo thổi cơm, ngài thì rảnh rang. Nếu nói rảnh rang không làm gì là hiểu lầm. Đây ý nói kẻ công kia người việc nọ, riêng con nhờ ơn Hòa thượng từ bi chỉ cho thấy chỗ đó nên không còn bận gì nữa. Như vậy dù đang làm việc đổ mồ hôi sôi nước mắt, nhưng lúc nào cũng thấy rảnh rang. Chúng ta không được như người xưa, luôn thấy bận rộn việc này việc nọ.
Một hôm Sư theo hầu Đầu Tử đi dạo vườn rau. Đầu Tử trao cây gậy cho Sư, Sư nhận lấy liền đi theo sau Đầu Tử. Đầu Tử bảo:
– Lý nên thế ấy.
Sư thưa:
– Xách giày cầm gậy cho Hòa thượng, cũng chẳng phải việc phần ngoài.
Đầu Tử bảo:
– Vẫn có người đồng hành.
Sư thưa:
– Đây là một người không nhận dạy.
Đầu Tử thôi hỏi.
Thầy trò rất có tình! Ngài theo Đầu Tử dạo vườn, Đầu Tử trao cây gậy cho, khi trao thì ngài nhận liền đi theo sau. ngài Đầu Tử nói: Lý nên thế ấy. Tức là ta đi trước ngươi đi sau, lý là như vậy. Ngài nói: Xách giày cầm gậy cho Hòa thượng, cũng chẳng phải việc phần ngoài. Dù cho xách giày cầm gậy cũng là chuyện đó, chuyện bổn phận không ở ngoài. Đầu Tử nói: Vẫn có người đồng hành. Như vậy ta cũng có người đồng hành. Ngài thưa: Đây là một người không nhận dạy. Người đồng đi với Hòa thượng là người không nhận dạy, người đó là người nào?
Đến chiều, Đầu Tử bảo:
– Sớm mai nói thoại chưa hết.
Sư thưa:
– Thỉnh Hòa thượng nói tiếp.
Đầu Tử nói:
– Mẹo sanh nhật, Tuất sanh nguyệt.
Sư liền đốt đèn đem đến, Đầu Tử nói:
– Ngươi đi lên đi xuống đều không luống công.
Sư thưa:
– Ở bên cạnh Hòa thượng lý phải như thế.
Đầu Tử nói:
– Kẻ tôi đòi trong nhà nào mà không có.
Sư thưa:
– Hòa thượng tuổi cao thiếu nó không được.
Đầu Tử nói:
– Ân cần như thế.
Sư thưa:
– Có phần đền ơn.
Đến chiều, ngài Đầu Tử nói: Khi sớm nói chưa dứt, bây giờ nói tiếp. Ngài thỉnh Hòa thượng nói tiếp. Ngài Đầu Tử nói: Mẹo sanh nhật, Tuất sanh nguyệt. Câu đó nói gì? Hôm nào tôi chợt nói câu đó không biết mấy chú làm sao! Giờ Mẹo là sáu bảy giờ sáng mặt trời lên, giờ Tuất là bảy tám giờ tối mặt trăng mọc. Sự thật thì sáng mặt trời mọc, tối không có trăng thì phải đốt đèn. Ngài chỉ cần hiểu ý đi đốt đèn đem đến.
Khi đem đến, Đầu Tử nói: Ngươi đi lên đi xuống đều không luống công. Ngài thưa: Ở bên cạnh Hòa thượng lý phải như thế. Tức ở bên cạnh Thầy thì phải như vậy.
Đầu Tử nói: Kẻ tôi đòi, như vậy ông là kẻ tôi tớ thôi, nhà nào mà không có. Ngài thưa: Hòa thượng tuổi cao thiếu nó không được. Tuy vậy, Hòa thượng già rồi thiếu nó không được. Câu nói có hai ý: Hòa thượng già cần người giúp đỡ, nhưng cũng có ý Hòa thượng già phải có người kế thừa.
Đầu Tử nói Ân cần như thế. Ngài thưa: Có phần đền ơn. Giúp Hòa thượng chẳng qua là để đền ơn.
Niên hiệu Nguyên Phong năm thứ năm (1082), Sư trở về Nghi Châu ở núi Mã An bắt đầu truyền bá đạo pháp. Ban đầu Sư ở Tiên Động, sau dời đến chùa Long Môn. Sư lại sang trụ núi Đại Dương thuộc Dĩnh Châu và Đại Hồng ở Tùy Châu, đều do sự cung thỉnh của mọi người. Tông Tào Động được thạnh hành miền Tây Bắc.
Niên hiệu Sùng Ninh năm thứ ba (1104) có chiếu mời Sư trụ tại thiền viện Thập Phương Tịnh Nhơn ở Đông Kinh. Đến niên hiệu Đại Quán năm đầu (1107), vua sai Trung sứ áp đặt Sư trụ trì ở Thiên Ninh không được từ chối.
Lý Hiếu Thọ làm sớ tâu lên vua Tống Huy Tông đại lược rằng: “Đạo Giai đức hạnh vượt cả tùng lâm, đáng được khen thưởng.” Vua liền ban tử y tăng-già-lê và hiệu Định Chiếu thiền sư.
Sư thắp hương tạ ơn xong, lại dâng biểu rằng:
“Cúi mong Thánh thượng từ ân chú tâm làm sáng rỡ điều lành, nêu cao đức tốt. Ban cho thần hiệu Định Chiếu thiền sư và một lá tử y. Thần cảm đội ơn sâu, rồi liền đó thắp hương lên tòa chúc nguyện thánh thọ.
Mong Bệ hạ nghĩ đến hạnh nghiệp thô sơ, đạo lực kém mỏng của thần, thường phát nguyện chẳng thọ danh lợi, cố giữ ý này đã được nhiều năm. Như thế, ngõ hầu truyền đạo đời sau khiến người chuyên ý vào Phật pháp. Nay tuy nhờ đặc ân của Bệ hạ, nếu toại tánh hèn thì tự trái với lời nguyện lành của thần, lấy gì để dạy người. Đâu dám ngửa khen Bệ hạ để có ý sai thần trụ trì. Những y vật Bệ hạ ban cho thần không dám thọ nhận.
Cúi mong Thánh thượng từ ân xét thấu nỗi lòng của thần, không dám dùng lời trau chuốt, đặc biệt ban cho theo lòng thành thật của thần, thần nguyện suốt đời hành đạo để đền đáp thiên ân.”
Khi được vua ban tử y và hiệu thì ngài dâng sớ từ chối. Lời sớ rất tha thiết: Thường phát nguyện chẳng thọ danh lợi, cố giữ ý này đã được nhiều năm. Không nhận danh lợi để làm gì? Để truyền đạo đời sau khiến người chuyên ý vào Phật pháp. Nay được nhà vua ban tử y và hiệu, đó là toại tánh hèn. Tánh hèn là tánh tham danh tham lợi, mà trái với nguyện lành của thần, lấy gì để dạy người? Nếu vừa lòng thích ý với danh lợi, thì mất nguyện lành không nhận danh lợi, vậy còn gì dạy người sau? Vì thế, nguyện không dám nhận y và danh hiệu.
Vua Tống Huy Tông xem xong, giao cho Lý Hiếu Thọ đích thân đi đến khuyên đừng trái ý tốt của triều đình.
Lý Hiếu Thọ đến khuyên dụ lắm lời, Sư vẫn quyết định từ chối. Lý Hiếu Thọ tâu hết lên nhà vua. Nhà vua nổi giận ra lệnh bắt giao cho quan Hữu ty (tra khảo).
Chúng ta thấy gương của ngài được danh được lợi mà từ chối. Từ chối cho đến bị bắt cũng vẫn không có thay đổi. Đó là đặc điểm thứ nhất của ngài. Đến đặc điểm thứ hai.
Quan Hữu ty biết Sư trung thành mà trái ý vua nên hỏi:
– Trưởng lão thân gầy ốm vậy có bệnh chăng?
Sư đáp:
– Bình nhật cũng có bệnh, hiện nay thì không bệnh.
Hữu ty lại nói:
– Nếu nói có bệnh thì đối với pháp luật khỏi hình phạt.
Sư bảo:
– Đâu dám dối trá nói bệnh để mong khỏi tội ư
– Hữu ty ngậm ngùi! Sư điềm nhiên thọ hình phạt.
Sau đó, Sư bị đày mặc áo kẻ phục dịch ra ở Truy Châu. Kẻ tăng người tục trông thấy Sư đều rơi nước mắt! Riêng Sư khí sắc vẫn nhàn hạ.
Với đặc điểm này, chúng ta thấy khó mà làm được như ngài. Đến chỗ tra tấn, mình đã rởn gáy rồi. Quan Hữu ty này lương thiện, muốn gợi ý để cho ngài nói mình bệnh khỏi bị tra tấn, nên hỏi: Trưởng lão thân gầy ốm vậy có bệnh chăng? Như chúng ta thì nói sao? Tôi nhiều bệnh lắm, nào nhức đầu, nào đau lưng… để khỏi bị tra tấn. Nhưng với ngài thì khác: Bình nhật cũng có bệnh, hiện nay thì không bệnh. Quan Hữu ty lặp lại lần nữa cho ngài biết rõ: Nếu nói có bệnh thì đối với pháp luật khỏi hình phạt. Nói có bệnh để thông qua không bị hình phạt. Nhưng ngài lại nói: Đâu dám dối trá nói bệnh để mong khỏi tội ư! Ngài không dám nói dối, dù nói như thế không hại ai mà có lợi cho mình. Đức hạnh của người xưa với người nay khác xa. Người xưa dù nói một lời không thật để được lợi cho mình mà không hại ai cũng không nói, huống nữa nói lời không thật để mất hết ý chí của mình mà có hại cho kẻ khác.
Người nói dối là dũng cảm hay hèn nhát? Như ở trong nhà hai ba đứa nhỏ cha mẹ đi khỏi, chị em ở nhà lỡ làm bể một cái tô cái chén quý. Đứa nhỏ làm bể, sợ bị đòn, nên khi ba má về hỏi thì nó không dám nhận, để mấy chị em bị đòn hết. Hỏi nó có làm bể không, nó nói không. Tại sao nó nói dối? Vì sợ bị đòn, sợ bị đòn tức là nhát.
Ngài không sợ, chấp nhận tất cả hình phạt, đánh cũng được, hành hình cũng được, có sao nói vậy. Chứng tỏ sự khẳng khái quyết định không sợ sệt. Đó là một tâm hồn rất cứng cỏi.
Chúng ta bây giờ thì nhát gan, nên tu hành lâu chậm. Còn ngài khi thọ hình phạt vẫn điềm nhiên, không kêu than. Sau hình phạt đó còn bị đày, ngài mặc áo kẻ phục dịch tức là kẻ tôi tớ. Ai trông thấy cũng rơi nước mắt, nhưng khí sắc của ngài vẫn nhàn hạ.
Đến Truy Châu, Sư thuê nhà ở. Những học giả nghe tiếng tìm đến gần gũi. Mùa đông năm sau, nhà vua ban sắc phóng thích.
Sư tự cất am nơi hồ Phù Dung, có mấy trăm tăng chúng vây quanh hàng ngày. Ở đây mỗi ngày chỉ ăn một chén cháo, những người chịu không nổi từ từ đi bớt. Số tăng còn thường trực không dưới một trăm.
Một ngày ăn chén cháo, có chỗ nói rộng thêm: Ở trong chúng thì một người ngày chỉ quyết định một chén cháo thôi. Nếu có thêm năm bảy người khách, người trị nhật không thêm gạo mà thêm nước, nấu loãng ra rồi chia nhau. Như vậy mà chung quanh ngài không dưới một trăm người.
Người xưa thật là vì đạo quên mình, không sợ đói không sợ khổ, không sợ bệnh hoạn, làm sao hiểu được đạo thôi. Ngài vì cất am ở bên hồ Phù Dung, nên sau này thường gọi ngài là thiền sư Phù Dung.
Sư dạy chúng:
– Phàm người xuất gia vì chán trần lao cầu thoát sanh tử, thôi tâm dứt niệm, cắt đứt vin theo, gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rớt trong con mắt. Vì từ vô thủy đến giờ, những cái ấy đâu phải chẳng từng trải qua, cần gì lại nhọc nhằn tham luyến? Hiện nay chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay dứt sạch lại còn việc gì? Nếu được trong tâm vô sự, thì Phật tổ vẫn là oan gia, tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt, mới là phù hợp bên kia.
Đoạn ngài dạy đây, xưa trong bản văn chữ Hán những người trong đạo đều thuộc. Ngài dạy mục đích xuất gia: Phàm người xuất gia vì chán trần lao cầu thoát sanh tử. Trần lao là bụi nhọc. Cõi này gọi là cõi trần, vì thấy toàn là bụi. Trong nhà có một hai lỗ hở, mặt trời xuyên qua thì thấy bụi lăng xăng lộn xộn.
Cõi trần mà luôn luôn bị lao nhọc, vì sao? Vì khi chưa ngộ đạo, chưa giải thoát sanh tử thì cứ mất thân này mang thân khác, mất thân khác mang thân khác nữa, nhọc nhằn lăn lộn trong cõi trần không có ngày cùng. Chúng ta vì chán trần lao tức là chán dòng sanh tử lăng xăng nhọc nhằn đó, cầu thoát ly sanh tử nên xuất gia tu đạo.
Mục đích của tất cả người tu là thoát ly sanh tử. Muốn thoát ly sanh tử phải sao? Thôi tâm dứt niệm, cắt đứt vin theo. Tâm không chạy theo cảnh, niệm phải lặng xuống, cắt đứt vin theo tức là cắt đứt niệm chạy theo sáu trần.
Gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá. Nghe tiếng hay tiếng dở, hoặc gặp sắc đẹp sắc xấu đều như hoa trồng trên đá, trải bao nhiêu năm cũng khô héo không bắt rễ. Chúng ta gặp thanh gặp sắc thì như thế nào? Nói theo mấy chú làm rẫy, gặp thanh gặp sắc giống như rau muống trồng trên đất phân, phải không? Đặt bữa trước bữa sau bắt rễ liền. Tâm phàm tục chúng ta còn nhiều, nên gặp thanh gặp sắc dính mắc bén rễ liền.
Thấy lợi thấy danh như bụi rớt trong con mắt. Bụi rớt trong con mắt làm xốn xang khó chịu. Chúng ta thì thấy lợi thấy danh như nhỏ thuốc mát vào trong con mắt, nhỏ vô sáng lên. Người xưa thì xốn mắt, chúng ta thì sáng mắt. Nguyên chữ Hán, tôi từng thuộc lòng câu này: Ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết.
Tại sao bảo chúng ta đừng thích lợi danh, thanh sắc? Vì từ vô thủy đến giờ những cái ấy đâu phải chẳng từng trải qua, cần gì lại nhọc nhằn tham luyến? Cuộc sanh tử chúng ta không phải một lần này mà đã trải vô số kiếp, có khi làm vua có khi làm quan, có khi làm tôi tớ… Những thứ thanh sắc, danh lợi đó đã từng qua rồi, có thiếu đâu. Đời này quên chứ những đời trước đã qua hết rồi, còn gì nữa mà luyến tiếc còn muốn gặp lại?
Hiện nay chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay dứt sạch lại còn việc gì? Nếu bây giờ dứt sạch rồi thì không còn tham luyến nữa. Nếu được trong tâm vô sự, thì Phật tổ vẫn là oan gia. Tại sao? Nếu tâm vô sự thì không động không chạy theo cảnh, lúc đó nếu còn khởi nghĩ về Phật về tổ, không phải oan gia là gì? Đã an mà còn muốn đi đến chỗ nguy là oan gia. Tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt, Phật tổ còn không nghĩ huống nữa là thế sự. Mới là phù hợp bên kia, tức là phù hợp với đạo.
Các ngươi đâu chẳng thấy, Ấn Sơn đến chết chẳng chịu tiếp người. Triệu Châu đến chết chẳng biên thư cho đàn-việt, thà lượm trái dẻ trái lật mà ăn. Đại Mai lấy lá sen làm áo. Chỉ Y đạo giả mặc y phục bằng giấy. Thượng tọa Huyền Thái chỉ mặc vải bố. Thạch Sương nơi nhà Cây khô (chúng tọa thiền yên lặng như cây khô) cùng người ngồi nằm, chỉ cần chết hẳn tâm của các ngươi. Đầu Tử sai người nấu cơm lẫn khoai rồi đồng ăn, cốt được tỉnh việc của các ngươi.
Các bậc thánh từ trước có những gương cao đẹp như thế, nếu không có chỗ đặc biệt làm sao chịu nổi.
Chư nhân giả! Nếu hay nơi đây thể cứu thì chẳng thiếu thốn điều gì, bằng chẳng chịu thừa đương về sau e phải phí nhiều khí lực.
Ngài dẫn gương người xưa để nhắc nhở chúng ta: Ẩn Sơn đến chết chẳng chịu tiếp người. Khi Động Sơn với Mật sư bá đi du phương, đến một con suối, thấy có lá rau trôi theo dòng suối. Hai ngài nghĩ rằng trên dòng suối này chắc có người ẩn tu. Hai vị vạch lau vạch sậy đi tìm, gặp một vị ở trong am tranh, học đạo xong xuôi thì ngài Động Sơn xin ở lại thời gian. Am chủ từ chối, hai vị bước ra khỏi thì ngài đốt am vô ẩn sâu trong núi luôn, từ đó về sau không gặp nữa. Gọi ngài Ấn Sơn chứ không biết tên gì.
Triệu Châu đến chết chẳng biên thư cho đàn-việt, thà lượm trái đẻ trái lật mà ăn. Ngài Triệu Châu nuôi chúng lúc nào thiếu gạo thì lượm trái dẻ trái lật ăn, không gửi thư đàn-việt xin ủng hộ.
Đại Mai lấy lá sen làm áo, ngài Đại Mai mặc áo lá sen. Chỉ Y đạo giả mặc y phục bằng giấy. Chúng ta mặc y phục có hơn ngài Đại Mai không? Có hơn Chỉ Y đạo giả không? Dù vải xấu cũng hơn mấy cái đó nhiều. Thượng tọa Huyền Thái chỉ mặc vải bố. Huyền Thái hay thường gọi là Thái Bố Nạp, tức là ngài này.
Thạch Sương nơi nhà Cây khô cùng người ngồi nằm, chỉ cần chết hẳn tâm của các ngươi. Tức là ở hội ngài Thạch Sương, chúng ngồi thiền như cây khô. Đầu Tử sai người nấu cơm lẫn khoai rồi đồng ăn, cốt được tỉnh việc của các ngươi. Ăn độn như vậy mà các vị cũng chấp nhận, không có gì chán. Qua những hình ảnh đó rồi nhìn lại chúng ta thì thấy sao? Mình cách biệt cỡ nào!
Những tấm gương cao đẹp đó, sở dĩ chịu nổi là vì có chỗ đặc biệt, lấy đạo làm trên. Nếu hay nơi đây thể cứu thì không thiếu thốn. Ngay đó mà thể cứu cho thấu đáo thì không thiếu thốn điều gì, bằng chẳng chịu thừa đương về sau e phải phí nhiều khi lực.
Sư dạy chúng:
– Ngày nay sơn tăng đối với các vị nói về gia môn đã là chẳng tiện. Đâu thể lại đăng đường nhập thất, niêm chùy dựng phất, nhướn mày chớp mắt, đông gậy tây hét in tuồng bệnh động kinh phát hiện. Đâu chẳng thấy tổ Đạt-ma Tây sang ngồi xây mặt vào vách chín năm dưới núi Thiếu Thất. Nhị Tổ đến đứng ngoài tuyết đến chặt cánh tay, có thể nói chịu tột sự gian khổ. Nhưng tổ Đạt-ma chưa từng nói một lời. Nhị Tổ chưa từng hỏi một câu. Thế là, nói tổ Đạt-ma chẳng vì người được chăng? Nhị Tổ chẳng cầu thầy được chăng?
Chỗ chân thật đó không thể dùng lời diễn đạt được, như hình ảnh tổ Đạt-ma ngồi xây mặt vào vách, hình ảnh Nhị Tổ đứng ngoài tuyết. Khi đó hai bên có hỏi đáp gì không mà thầy trò vẫn thông cảm nhau.
Sư có làm năm bài kệ, thuật môn phong của mình.
Bài thứ nhất:
Nói khéo không chạm lưỡi
Sát sát trần trần xứ xứ đàm
Bất tham thiền xứ Thiện Tài tham
Không Sanh dĩ giải thông tiêu tức
Hoa vũ nham tiền điểu bất hàm.
Dịch:
Cõi cõi nơi nơi chốn chốn bàn
Thiện Tài tham lấy chỗ không tham
Không Sanh đã hiểu rành tin tức
Trước núi mưa hoa chim lặng câm.
Chỗ chân thật đó ngôn ngữ nói không được, nếu ứng dụng chỗ này được, sống được thì diệu dụng không thể nghĩ bàn. Như Thiện Tài đi tham vấn các thiện tri thức là tham vấn cái gì? Tham vấn để tìm cho ra chỗ không nói năng. Như ngài Tu-bồ-đề ngồi nhập định trên núi không nói một lời, chim không ngậm hoa cúng dường mà hoa vẫn rơi như mưa.
Bài thứ hai:
Rắn chết sợ trong bụi chui ra
Nhật chích phong suy thảo lý mai
Xúc tha độc khí hựu hoàn quai
Ám địa nhược giao khai tử khẩu
Trường An y cựu tuyệt nhân lại.
Dịch:
Gió táp nắng phơi cỏ ẩn mình
Chạm người khí độc lại sai chinh
Thẳm sâu nếu khiến khai tử khẩu
Trường An như trước bặt người sang.
Nếu nói rằng con rắn chết sợ trong bụi chui ra, đã là chết còn sợ cái gì? Lại còn chui ra được, chui được đâu gọi là chết. Nghĩa là khi mở miệng nói thì lời nói không thể tới được cái chân thật, cũng như là loài rắn chết vậy. Có câu:
Thẳm sâu nếu khiến khai tử khẩu
Trường An như trước bặt người sang.
Nếu mở miệng nói không đến cái chân thật đó, giống như thành phố Trường An không có người đến.
Bài thứ ba:
Giỏi châm xương khô ngâm
Tử trung hoạt đắc thị phi thường
Mật dụng tha gia biệt hữu trường
Bán dạ độc lâu ngâm nhất khúc
Băng hà hồng điệm khước thanh lương.
Dịch:
Trong chết được sống việc phi thường
Thầm nhận là y có sở trường
Xương sọ giữa đêm ngâm một bản
Sông băng lửa dậy lại thanh lương.
Qua bài này chúng ta hiểu thêm ý của ngài Hương Nghiêm. Ngài nói trong đầu lâu có tròng mắt, trong cây khô có khúc ngâm. Khi người tu dứt hết tâm ý thức thì mới sống được chỗ này, đó là việc phi thường. Sống được rồi, mới qua khỏi sanh tử, nên nói trong chết được sống, chỗ khác nói tuyệt hậu tái tô.
Các ngài dùng những hình ảnh diễn tả sau khi chết, dòng ý thức bặt dứt rồi, lúc đó sáng lên, mới thật là chân thật. Vì thế có câu:
Xương sọ giữa đêm ngâm một bản
Sông băng lửa dậy lại thanh lương.
Sông băng nổi lửa là nói ngược, trong chết có sống không phải ngược là gì? Chính những bài này làm sáng tỏ ý của ngài Hương Nghiêm.
Bài thứ tư:
Cưa sắt hòa tam đài
Bất thị cung thương điều
Thùy nhân hòa nhất trường
Bá Nha hà sở thố
Thử khúc cựu lai trường.
Dịch:
Chẳng phải đàn sáo hòa
Ai người ca một bài
Bá Nha đâu thi thố
Bản này xưa nay hay.
Đây là đến chỗ hòa hợp được, chỗ này trong Ngũ vị quân thần của tông Tào Động tương đương với vị thứ tư Thiên trung chí, tức là lý sự hợp được nhau.
Bài thứ năm:
Xưa nay không cách hở
Nhất pháp nguyên vô vạn pháp không
Cá trung na hứa ngộ viên thông
Tương vị Thiếu Lâm tiêu tức đoạn
Đào hoa y cựu tiếu xuân phong.
Dịch:
Một pháp nguyên không muôn pháp không
Trong đây ai nhận ngộ viên thông
Tưởng rằng Thiếu Lâm tin tức bặt
Hoa đào vẫn lại cười gió đông.
Đây là đến chỗ hiện tiền không còn cách hở phút giây, mình là tất cả, tất cả là mình. Nói cách khác mình là cái chân thật, đã là chân thật thì còn gì ngộ, gì chưa ngộ? Chính cái chân thật đó là mình, nên không cần tin tức Thiếu Lâm mà hoa đào vẫn cười khi gió đông sang.
Đó là để diễn tả khi người đến nơi đến chốn rồi thì được như vậy.
Niên hiệu Chánh Hòa năm thứ tám (1118) ngày mười bốn tháng năm, Sư đòi viết mực viết một bài kệ:
Ngô niên thất thập lục
Thế duyên kim dĩ túc
Sanh bất ái thiên đường
Tử bất phụ địa ngục
Tát thủ hoành thân tam giới ngoại
Đằng đằng nhậm vận hà câu thúc.
Dịch:
Ta tuổi bảy mươi sáu
Duyên đời nay đã đủ
Sanh chẳng thích thiên đường
Chết chẳng sợ địa ngục
Buông tay đi ngang ngoài tam giới
Mặc tình bay bổng nào buộc ràng.
Sau đó liền tịch. Sư thọ 76 tuổi.
Qua bài kệ này chúng ta thấy tính hiên ngang của thiền sư khi sắp ra đi. Thường người ta thích sanh lên cõi trời, khi chết thì sợ rơi xuống địa ngục, Ngài thì cõi trời không thích, địa ngục không sợ. Bây giờ làm gì? Buông tay đi ngang ngoài tam giới. Buông thõng tay đi thẳng ra ngoài tam giới, không còn mắc kẹt trong vòng này nữa. Mặc tình vươn lên cao hay hạ xuống thấp, không có gì buộc ràng. Đó là tinh thần tự do tự tại, không còn sợ, không còn ưa. Không còn sợ không còn ưa nên thoát ra ngoài tam giới.
Người xưa hạnh tu của các ngài rất nghiêm nhặt, bởi thế lời nói của các ngài có giá trị, việc làm của các ngài đến nơi đến chốn, lời dạy của các ngài ai cũng kính quý không dám quên.
Sư họ Lưu, ông cha là dòng Nho, chưa được hai mươi tuổi, Sư đã được các nơi đề cử ra làm quan. Sau, Sư chán cảnh trần tục đệ đơn lên triều đình xin xuất gia. Vua Tống chấp nhận theo sở nguyện.
Sư dạo qua các thiền hội, đến núi Đầu Tử ra mắt thiền sư Nghĩa Thanh. Ở lại đây chưa bao lâu, Sư ngộ được tâm yếu. Nghĩa Thanh nói với Sư:
– Ngươi là người tái sanh, phải tự gìn giữ.
Từ giã Nghĩa Thanh, Sư đi yết kiến các bậc cao đức để được ấn khả.
Thừa tướng Hàn Chẩn thỉnh Sư khai pháp ở chùa Thiếu Lâm tại Tây Kinh.
Sư thượng đường:
– Những lời như đây hội được ai là tri âm? Dù cho nhằm trong một câu liền ngàn mắt chợt mở, chín chắn có mấy người mê gặp Đạt-ma. Các ông cần biết tổ sư Đạt-ma chăng?
Sư liền đưa tay làm thế nắm, nói:
– Lỗ mũi của Đạt-ma ở trong tay của Thiếu Lâm (chỉ Sư). Nếu buông ra thì từ kinh thuyết cõi này Tây thiên nói vàng nói đen dối Hồ lừa Hán. Nếu chẳng buông ra thì chẳng tiêu một cái nắm. Có người nào cần Tổ sư làm chủ mời ra cùng Thiếu Lâm thấy nhau, lại có chăng?
Sư im lặng giây lâu, nói:
– Quả nhiên.
Cách nói của ngài có lỗi không tôn kính các bậc trên trước không? Tại sao đưa nắm tay lại nói lỗ mũi tổ Đạt-ma trong tay tôi? Trong nhà thiền, lỗ mũi là chỉ cái chân thật chính mình, nắm được lỗ mũi của Tổ cũng là nắm được cái chân thật. Nắm lỗ mũi của Tổ chính là nắm lỗ mũi của mình hay của tất cả. Lỗ mũi là mạng mạch là sự sống, nên gọi là chỗ chân thật.
Khi nắm được cái đó, buông ra thì như trong kinh nói nào là cõi này, nào là Tây thiên, nào là nói vàng nói đen, dối Hồ lừa Hán,… vô số phương tiện. Kinh tức là phương tiện, hiểu chỗ chân thật thì ứng dụng nhiều phương tiện nên nói rộng ra thì ba tạng kinh, ngài nói là dối Hồ lừa Hán. Nếu chẳng buông ra thì chẳng tiêu một cái nắm. Nghĩa là nắm lại thì chỉ có nắm tay, nắm lỗ mũi. Như vậy tức là gom lại chỉ một việc đó.
Không bao lâu, nơi chùa Đại Hồng chỗ chuyên về Luật tông thay đổi thành Thiền viện thỉnh Sư trụ trì.
Sư thượng đường đưa cây gậy lên, nói:
– Xem! Xem! Quả đất tuyết lênh láng, xuân đến khắp nơi lạnh. Linh Phong cùng Thiếu Thất, chia phân chẳng tương can. Thôi luận Phật ý Tổ ý, chớ bàn đầu câu mối lời. Trâu sắt không dấu vết, trăng sáng hoa lau anh tự xem.
Sư giộng cây gậy, bước xuống tòa.
Ngài có dạy gì không? Ngài chỉ cho mọi người cửa Văn-thù thủy chung không hai, nên đưa cây gậy lên trước. Nói một mạch không dính gì hết, ngài giọng gậy rồi bước xuống. Đó là cái khéo của các ngài, chúng ta chạy theo những câu nói này thì hết hơi, không biết nói gì.
Sư cùng cư sĩ Trương Vô Tận làm bạn pháp. Cư sĩ thường biên thư hỏi nhiều vấn đề Phật pháp và cả vấn đề đại yếu tam giáo. Sư tùy chỗ giải thích rất rành rẽ.
Không biết Sư quy tịch lúc nào, bao nhiêu tuổi.
Sư họ Chương tên Huệ Nam ở Ngọc Sơn, Tín Châu. Thuở bé đã có vẻ thâm trầm hiện tướng đại nhân, chẳng ăn cá thịt, không ưa hát xướng. Năm mười một tuổi, Sư theo thầy Trí Loan ở viện Định Thủy xuất gia. Đến mười chín tuổi Sư thọ giới Cụ túc.
Đi du phương, Sư đến chùa Quy Tông ở Lê Sơn yết kiến thiền sư Tự Bảo. Mỗi khi họp chúng, chúng đều ngồi, chỉ riêng Sư đứng. Tự Bảo thường nhìn Sư. Từ đây về sau, Sư ngồi thì tréo kiết già, đi thì nhìn thẳng đến trước.
Sư đến Thế Hiền nương nơi thiền sư Thị. Thê Hiền dạy chúng rất có quy củ, Sư ở đây ba năm làm người mô phạm trong chúng.
Từ tạ Thê Hiền, Sư sang sông Hoài đến nương thiền sư Hoài Trừng ở Tam Giác. Hoài Trừng trông thấy Sư liền chấp nhận cho ở.
Sau, Hoài Trừng dời trụ ở Lặc Đàm. Sư cũng đồng theo. Hoài Trừng chia Sư một phần nhiệm vụ trong việc tiếp độ chúng tăng. Thiền sư Văn Duyệt thấy thế, mỗi khi đến Lặc Đàm trở về, than: “Huệ Nam là món đồ hữu ích cho đạo, rất tiếc chưa gặp được thầy đào luyện.”
Nhân dịp Sư và Văn Duyệt cùng đi Tây Sơn, ban đêm nghỉ lại, hai người đàm đạo. Văn Duyệt nói:
– Thiền sư Hoài Trừng tuy là con cháu Vân Môn, nhưng pháp đạo còn khác xa Vân Môn.
Sự hỏi:
– Khác ở chỗ nào?
Văn Duyệt đáp:
– Vân Môn như đơn sa đã chín phen luyện, để vào sắt liền biến thành vàng; Hoài Trừng như dược hống ngân nhìn thấy đẹp mắt, mà để vào lò liền chảy.
Sư nổi giận cầm chiếc gối ném Văn Duyệt. Sáng ra Văn Duyệt xin lỗi, lại nói:
– Chí khí Vân Môn như vua, cam chịu tử ngữ sao? Hoài Trừng có pháp dạy người là tử ngữ. Tử ngữ mà hay làm người sống được sao?
Nói xong Văn Duyệt liền bỏ đi. Sư kéo lại nói:
– Nếu vậy thì ai có thể hợp ý Thầy?
Văn Duyệt bảo:
– Thạch Sương Sở Viên thủ đoạn vượt cả mọi nơi, Thầy muốn yết kiến thì không nên chậm trễ.
Sư thầm nghĩ: “Đây là việc lớn của người hành khước vậy, Văn Duyệt là đồ đệ Thúy Nham, mà dạy ta đến yết kiến Thạch Sương thì có liên hệ gì đến ông đâu?”
Sư liền sửa soạn khăn gói sáng hôm sau lên đường. Đi đến nửa đường, Sư nghe Từ Minh mỗi việc đều lừa đảo ép ngặt thiền sinh, liền thối chí không đi, ở lại làng Bình nhiều ngày. Kế, Sư lên Hoành Nhạc đến chùa Phước Nghiêm yết kiến thiền sư Hiền, thiền sư Hiền cử Sư làm thư ký. Chợt thiền sư Hiền tịch, quận thú mời Từ Minh đến trụ trì. Được tin này, Sư rất hoan hỷ có cơ hội để nghiệm xét lời Văn Duyệt nói.
Từ Minh đến, Sư trông thấy thân tâm đều cung kính. Nghe Từ Minh luận nói phần nhiều chê các nơi mỗi điều đều thuộc tà giải. Chính chỗ Sư được mật chỉ nơi Lặc Đàm cũng bị bác bỏ. Sư nhớ lại lời nói của Văn Duyệt lúc bình nhật rất đúng. Sư liền thay đổi quan niệm nói:
– Đại trượng phu trong thâm tâm cứ nghi ngại hoài sao?
Sư liền vào thất Từ Minh, thưa:
– Huệ Nam do tối dốt trông đạo mà chưa thấy, giờ tham thiền khi hôm, nghe Thầy dạy như người đi lạc đường được xe chỉ nam. Cúi xin Hòa thượng đại từ bố thí pháp khiến cho con dứt hết nghi ngờ?
Từ Minh cười bảo:
– Thư ký đã lãnh đồ chúng và du phương nổi tiếng khắp tùng lâm, nếu còn có nghi ngờ chẳng cần khổ cầu như vậy, hãy ngồi mà thương lượng.
Từ Minh liền gọi thị giả đem cái ghế mời Sư ngồi. Sư vẫn từ chối và thành khẩn tha thiết cầu chỉ dạy. Từ Minh bảo:
– Thư ký học thiền Vân Môn ắt thông được yếu chỉ ấy. Như nói: “Tha Động Sơn ba gậy.” Động Sơn khi ấy nên đánh hay chẳng nên đánh?
Sư thưa:
– Nên đánh.
Từ Minh nghiêm nghị bảo:
– Nghe tiếng ba gậy liền cho là nên ăn gậy, vậy ông từ sáng đến chiều nghe chim kêu trống đánh tiếng chuông tiếng bảng… cũng nên ăn ba gậy. Ăn gậy đến lúc nào mới thôi.
Sư chỉ nhìn sững mà thôi. Từ Minh lại bảo:
– Tôi lúc đầu nghi không thể làm thầy ông. Giờ đây đã đủ tư cách làm thầy ông. Ông hãy lễ bái đi.
Sư lễ bái xong, đứng dậy. Từ Minh nhắc lời trước:
– Nếu ông hội được ý chỉ Vân Môn thì Triệu Châu thường nói “Bà già ở Đài Sơn bị ta khám phá”, thử chỉ ra chỗ khám phá xem?
Sư mặt nóng hực mồ hôi xuất hạn không biết đáp thế nào, bị Từ Minh đuổi ra.
Phái Hoàng Long là một chi nhánh trong tông Lâm Tế. Tông Lâm Tế đến đây chia hai phái, Hoàng Long và Dương Kỳ.
Chuyện Vân Môn tha Động Sơn ba gậy thế nào, hư thực ra sao? Ngài Động Sơn Thủ Sơ đến gặp Vân Môn, được hỏi ở đâu đến, ngài kể một mạch rất thật thà. Ngài Vân Môn nói “tha ngươi ba gậy”. Ba gậy đó là vì nên đánh mà tha hay không nên đánh mà tha? Khi nghe hỏi, ngài nói nên đánh, liền bị Từ Minh quở. Như vậy chúng ta mới hiểu lời của ngài Vân Môn, nói tha ba gậy là lời trống rỗng. Chúng ta cứ nghe nói tha ba gậy thì một là nói có lỗi nên tha không đánh, hai là hay cho nên khen mà không đánh. Không ngờ lời nói đó là lời suông thôi. Ngài Từ Minh quở: Nghe tiếng ba gậy liền cho là nên ăn gậy, vậy ông từ sáng đến chiều nghe chim kêu trống đánh rồi tiếng chuông tiếng bảng… cũng nên ăn ba gậy. Nghe nói cái gì cũng là nên đánh hết được không? Ngang đó ngài bí.
Thêm một câu chuyện, ngài Triệu Châu khám phá bà già. Có người tới hỏi bà già đường nào đi Ngũ Đài Sơn, bà chỉ cứ đi thẳng, cứ thế ấy mà đi. Ai hỏi bà cũng nói câu đó, thiên hạ không biết bà già thế nào. Tiếng đồn tới ngài Triệu Châu, ngài tới hỏi thì bà cũng chỉ thế ấy mà đi. Ngài Triệu Châu liền trở lại nói: Ta đã khám phá bà rồi.
Không có thêm câu giải đáp, tại sao nói khám phá rồi? Khi ngài Từ Minh đem câu này ra hỏi thì Huệ Nam đỏ mặt, toát mồ hôi không biết đáp làm sao. Vì ngài Huệ Nam còn mắc kẹt trong ngôn ngữ, nên ngài Từ Minh bèn dùng thủ thuật này.
Hôm sau, Sư lại vào thất, bị Từ Minh mắng chửi. Sư hổ thẹn, nhìn những người hai bên nói:
– Chính vì chưa hiểu cầu quyết nghị, mắng chửi đâu phải quy củ từ bi thí pháp!
Từ Minh cười nói:
– Đó là mắng chửi sao?
Ngay câu này, Sư đại ngộ. Làm bài tụng rằng:
Kiệt xuất tùng lâm thị Triệu Châu
Lão bà khám xứ một lai do
Như kim tử hải thanh như kính
Hành nhân mạc dĩ lộ vi thù.
Dịch:
Giỏi vượt tùng lâm là Triệu Châu
Lão bà nơi khám không mối manh
Hiện nay bốn biển như gương sáng
Bộ hành thôi chớ ghét con đường.
Từ Minh lấy tay chỉ ngay chữ Một nhìn Sư. Sư liền đổi chữ ấy thành chữ Hữu. Từ Minh gật đầu.
Ngài Từ Minh thấy bệnh ở đâu thì ngay đó mà gỡ. Nghe nói tha ba gậy liền chấp cho tha thật, hỏi khám phá bà già thì tưởng đâu thật có khám phá, cho những lời thiền sư là có ý vị để nghiền ngẫm. Khi Huệ Nam đến, ngài chửi mắng, dùng những tiếng thô tục chửi mắng, không phải một lần mà nhiều lần như vậy. Cho đến không kham chịu nổi, bên cạnh có những thị giả đứng hầu mà chửi mắng nhục nhã vậy làm sao chịu nổi. Huệ Nam mới thốt: Chính vì chưa hiểu cầu quyết nghi, mắng chửi đâu phải quy củ từ bi thi pháp! Ngài Từ Minh cười nói một câu nhẹ hửng: Đó là mắng chửi sao?
Ngang đó ngài mới giật mình, như vậy lời của các thiền sư nói là rỗng, dù chửi mắng cũng là đùa chơi không thật. Thấy được lẽ thật nên bây giờ mới ngộ được lý Triệu Châu khám phá bà già. Ngài bèn trình kệ, nói: Lão bà khám phá một lai do. Lão bà khám phá không mối manh. Ngài Từ Minh bảo sửa lại thành chữ hữu, tức là có mối manh. Nghĩa là nói như vậy xem như câu nói rỗng, nhưng gây cho người ta ấn tượng nghi ngờ để phăn tìm. Như vậy là có, tuy rỗng mà có mối mạnh.
Đó là chỗ đặc biệt của ngài Từ Minh, biết bệnh người học, sử dụng những thuật kỳ lạ. Không phải người nào tới ngài cũng mắng chửi, chỉ đối người kẹt trong ngôn ngữ thì dùng ngôn ngữ phá.
Sư dừng lại đây hơn một tháng, rồi từ tạ du phương. Năm ấy Sư được ba mươi lăm tuổi. Đến Kim Loan, Sư gặp Văn Duyệt. Thấy nhau, Sư cười nói:
– Tôi nếu chẳng nhờ Sư huynh và Cốc Tuyền thì đâu biết được Từ Minh.
Sau, Sư khai pháp ở Đồng An. Ngày đầu, Sư thượng đường:
– Biển trí không tánh, bởi cái giác vọng nên thành phàm. Cái giác vọng vốn rỗng, tức tâm phàm mà thấy Phật, liền vậy thôi đi. Nghĩa là Đồng An (Sư) không chia hợp, tùy chỗ muốn điên đảo của các ông. Nam đẩu bảy, Bắc đẩu tám…
Câu đầu ngài nói có lý thú để chúng ta nghiệm: Biển trí không tánh, bởi cái giác vọng nên thành phàm. Biển trí tuệ không có tự tánh, bởi không tự tánh nên không có chủ ý để kìm giữ, từ đó có cái giác vọng dấy lên biến thành phàm. Giác vọng này chúng ta gọi là vọng tưởng, là niệm khởi. Cái giác vọng vốn rỗng, vọng tưởng vốn rỗng không thật. Nếu biết vậy thì tức tâm phàm mà thấy Phật, ngay nơi phàm tức còn có vọng tưởng, biết vọng tưởng không thật, đó là từ phàm mà thấy được giác. Liền vậy thôi đi, ngang đó dừng đi. Đó là chỗ tu không gì lạ.
Lời dạy đơn giản này rất phù hợp với chúng ta, rõ ràng không khác. Ngài nói tôi không chia hợp gì hết, tùy chỗ điên đảo các ông mà nói. Thì bây giờ nói gì? Nam đẩu bảy, Bắc đẩu tám… tùy đó muốn hiểu sao hiểu.
Lúc Sư trụ trì tại Quy Tông, một đêm lửa cháy chùa, đại chúng kêu la dậy núi, mà Sư vẫn ngồi yên như bình thường. Tăng Hồng Chuẩn muốn dời Sư chạy, bị Sư quở. Chuẩn thưa: “Dù Hòa thượng chán thế gian, song đạo pháp Từ Minh trông cậy vào chỗ nào?” Sư mới chịu sửa áo đứng dậy. Lúc ấy lửa đã cháy ào đến cháy nám da và rụi râu tóc của Sư. Quan địa phương dẫn dân chúng đến cứu lửa. Thấy Sư vẫn vui vẻ như thường, chỉ không ăn mà thôi. Đến hai tháng sau, râu tóc mới ra lại, da thịt mới lành.
Khi lửa cháy chùa, ngài định ngồi luôn cho nó cháy, không cần đi. Tăng Hồng Chuẩn nói: Hòa thượng chán thế gian đó là quyền của Hòa thượng, nhưng đạo pháp của Từ Minh trông cậy vào ai? Nghe vậy ngài mới chịu đứng dậy đi. Coi thường sự chết sống mà an nhàn như vậy.
Sư dời về Hoàng Bá cất am bên khe suối để tên là Tích Thúy. Tăng chúng nước Mân nước Việt nghe đạo phong của Sư đua nhau tìm đến.
Sư dạy chúng:
– Thiền sư Vĩnh Gia nói:
Du giang hải, thiệp sơn xuyên
Tầm sư phỏng đạo vị tham thiền
Tự tùng nhận đắc Tào Khê lộ
Liễu tri sanh tử bất tương quan.
Dịch:
Dạo sông biển, giẫm núi khe
Tìm thầy học đạo gọi tham thiền
Từ ngày nhận được Tào Khê lộ
Biết rành sanh tử chẳng tương quan.
Chư Thượng tọa! Cái nào gọi là dạo núi sông? Cái nào gọi là tầm sư? Cái nào gọi là tham thiền? Cái nào gọi là hỏi đạo? Nhằm Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Lô Sơn, Nam Nhạc, Vân Môn, Lâm Tế mà cầu thầy hỏi đạo; Động Sơn, Pháp Nhãn mà tham thiền, ấy là nhằm bên ngoài tìm cầu, gọi là ngoại đạo. Nếu lấy tánh Tỳ-lô làm biển, trí Bát-nhã tịch diệt làm thiền, gọi là cầu bên trong. Nếu cầu bên ngoài thì ngươi chạy mãi; nếu dừng lại cầu bên trong năm uẩn là ngươi bị trói mãi. Thế nên, Thiền chẳng phải trong ngoài, chẳng phải có không, chẳng phải thật hư. Đâu chẳng nghe nói: Thấy trong thấy ngoài đều lầm, Phật đạo ma đạo đều ác. Chợt đi như vậy chừ trăng lặn núi tây, lại tìm danh sắc chừ nơi nào miêu tả?
Ngài muốn nhắc cho chúng ta biết rằng, người học thiền không phải tìm đầu này chốn kia nơi nọ gọi là học thiền. Thiền không phải ở bên ngoài, nếu chạy tìm bên ngoài, đó là ngoại đạo. Nếu lấy tánh Tỳ-lô làm biển, trí Bát-nhã tịch diệt làm thiền, gọi là cầu bên trong, cứ xoay vô trong tìm cầu như vậy là bị trói. Thiền không phải ở ngoài cũng không phải ở trong, không phải có không phải không, không phải hư không phải thật. Còn thấy hai bên là trái với thiền.
Chúng ta tu phải khéo léo. Có nhiều người không biết, ngồi thiền cứ muốn yên lặng, đè cho tâm yên, càng đè tim càng đập, rồi sanh bệnh. Thiền có nghĩa là đừng để sáu căn dính sáu trần, không phải xoay lại tìm kiếm ở trong tim trong ngực, xoay lại tìm bên trong là bệnh.
Sư ở trong thất thường hỏi Tăng:
– Người người trọn có quê quán, Thượng tọa quê quán tại chỗ nào?
Chính lúc vấn đáp qua lại, Sư lại duỗi tay, nói:
– Tay tôi sao giống tay Phật?
Hỏi chỗ sở đắc của Tông sư mà các vị đến tham thỉnh, Sư liền duỗi chân nói:
– Chân tôi sao giống chân lừa?
Hơn ba mươi năm lấy ba câu này hỏi, học giả khó khế ngộ huyền chỉ. Khắp các tùng lâm gọi là tam quan (ba cửa). Nếu có ai đáp thì Sư không nói phải chẳng phải, vẫn khép mắt ngồi thẳng, không ai lường được ý ấy.
Nam Châu cao sĩ Phan Hưng Từ từng hỏi lý do ấy. Sư bảo:
– Đã ra khỏi cửa thì phất tay đi thẳng, chẳng cần biết có kẻ gác cửa. Từ người gác cửa hỏi phải chẳng phải, ấy là người chưa qua khỏi cửa vậy.
Ngài có ba câu hỏi. Thứ nhất, Người người trọn có quê quán, Thượng tọa quê quán tại chỗ nào?
Thứ hai, đang vấn đáp ngài duỗi tay nói: Tay tôi sao giống tay Phật?
Thứ ba, Chân tôi sao giống chân lừa?
Ba câu hỏi đó, người trả lời, ngài cứ ngồi làm thinh, không nói trúng trật phải quấy. Hỏi tại sao ngài không nói cho người biết? Ngài đáp: Người đã ra khỏi cửa thì cứ phất tay mà đi, đâu cần biết kẻ gác cửa làm gì. Nếu còn hỏi người gác cửa “Đây có phải đường ra cổng hay không?”, như vậy là người đã ra cổng hay chưa ra cổng? Còn hỏi phải hay chẳng phải đó là chưa ra khỏi cổng.
Như hình ảnh ngài Đạo Giai ở chỗ ngài Đầu Tử, khi ngộ rồi mà thầy kêu: Xà-lê lại đây thì ngài đi thẳng. Hỏi: Ngươi hết nghi chưa? Bịt lỗ tai. Ý rằng cứ thẳng đó mà đi chứ còn hỏi tới hỏi lui chi nữa? Còn hỏi tức là chưa xong, chưa thấy tột.
Sư tự làm tụng rằng:
Sanh duyên hữu ngữ nhân giai thức
Thủy mẫu hà tằng ly đắc hà
Đản kiến nhật đầu đông bạn thượng
Thùy năng cánh khiết Triệu Châu trà.
Dịch:
Quê quán có nói người đều biết
Thủy mẫu đâu từng lìa được tâm
Chỉ thấy vầng ô bờ đông tiến
Ai hay lại uống trà Triệu Châu.
Đây là tụng ba câu hỏi. Bài thứ nhất tụng về Sanh duyên (quê quán).
Thủy mẫu đâu từng lìa được tôm. Nếu không biết câu chuyện này thì cũng khó mà hiểu. Sách xưa Trung Hoa nói rằng con thủy mẫu, đi đâu phải nhờ con tôm chở đi. Các sách gần đây nghiên cứu về các loài ở dưới biển, người ta gọi nó là hải quỳ.
Thân của hải quỳ, nếu vớt lên trên khô, thì như cục bột nhão, nếu thả xuống nước thì nó lại nở ra, có dáng như hoa cúc hay hoa quỳ rất đẹp. Thân mình có nhiều tua gọi là xúc tu, mỗi xúc tu có miệng như con đỉa, dùng miệng cắm xuống đá giữ thân mình và hút thức ăn. Nó là loài sống trôi nổi, muốn di chuyển phải bám vào lưng con tôm hoặc con cua. Con cua con tôm chở nó đi kiếm ăn, hai con đoàn kết đều có lợi. Nhờ con tôm hoặc con cua chở đi, thì nó kiếm ăn được. Trong những xúc tu của nó có chứa nước độc, khi các con vật khác chạm tới, nó phun nước đó ra thì bị ngứa ngáy cháy da, chịu không nổi. Vì vậy tôm chở nó đi kiếm ăn, có con gì mà khuấy phá thì nó xịt thứ nước đó ra, mấy con kia tan chạy hết. Con tôm nhờ nó bảo vệ, nó nhờ con tôm chở đi kiếm ăn, hai đứa nương nhau mà sống. Những con vật ở dưới đáy biển cũng biết đoàn kết, đứa có tài này đứa có nghề kia bảo vệ cho nhau mà sống, hai con không rời nhau.
Đây ngài dùng câu Thủy mẫu đâu từng lìa được tôm. Tức là hai cái nương gá nhau. Câu hỏi về sanh duyên là hỏi về duyên đời trước ở đâu, hiện giờ sanh lại đây? Ý nói chúng ta có mặt ở đây không phải là một lần, nhân trước quả sau có liên hệ, giống như con tôm với con thủy mẫu, hay là con hải quỳ.
Chỉ thấy vầng ô bờ đông tiến, chúng ta chỉ thấy mặt trời sớm mai mọc từ biển đông. Ai hay lại uống trà Triệu Châu, ít ai biết được, uống được trà Triệu Châu. Người ta chỉ thấy được cảnh đời, hoặc thời gian sáng mặt trời mọc, chiều lặn. Cảnh biến chuyển vô thường đó thì ai cũng thấy cũng biết. Nhưng mà cái hiện hữu, uống trà, không ai thấy được.
Bài thứ hai tụng về Tay ta, tay Phật.
Ngã thủ Phật thủ tịnh cử
Thiền nhân trực hạ tiến thủ
Bất động can qua đạo xuất
Đương xứ siêu Phật việt Tổ.
Dịch:
Tay ta tay Phật đồng nêu
Ngay đó thiền nhân tiến lấy
Chẳng khua gươm giáo nói ra
Nơi đây siêu Phật vượt Tổ.
Nếu thấy tay của mình, tay của Phật không khác, ngay đó thấy được thì khỏi khua gươm giáo, tức là khỏi múa gươm múa lưỡi gì. Khi dùng ngôn ngữ, ngài cho là khua gươm giáo.
Bài thứ ba tụng về Chân ta, chân lừa.
Ngã cước lư cước tịnh hành
Bộ bộ đạp trước vô sanh
Trực đãi vân khai nhật hiện
Phương tri thử đạo tung hoành.
Dịch:
Chân ta chân lừa đồng đi
Bước bước đạp đến vô sanh
Thẳng đợi mây tan nhật hiện
Mới biết đạo này tung hoành.
Nếu thấy chân của mình và chân của lừa không khác, đó là đã tiến được tới chỗ vô sanh. Đây là trường hợp tông Tào Động nói về dị loại. Đi trong dị loại dễ đạt đến vô sanh. Thẳng đợi mây tan nhật hiện, tức là tất cả mây mù phiền não tan hết thì mặt trời trí tuệ hiện. Chừng đó mới biết đạo này tung hoành.
Ngài làm bài tụng chung.
Tổng tụng:
Sanh duyên đoán xứ thân lư cước
Lư cước thân thời Phật thủ khai
Vị báo Ngũ hồ tham học giả
Tam quan nhất nhất thấu tương lai.
Dịch:
Chỗ quyết sanh duyên duỗi chân lừa
Chân lừa khi duỗi tay Phật hiện
Vì bảo khách Ngũ hồ tham học
Ba cửa nơi nơi hãy thấu qua.
Sư trụ Hoàng Long hoằng hóa rất thạnh dám so bì với Mã Tổ, Bá Trượng.
Đến niên hiệu Hy Ninh năm thứ hai (1069) ngày mười bảy tháng ba, Sư ngồi kiết già thị tịch. Sư thọ 68 tuổi, được 50 tuổi hạ.
Sư là Khai tổ của hệ phái Hoàng Long, một chi nhánh trong tông Lâm Tế.
Sư họ Lãnh, quê ở Nghi Xuân, Viên Châu. Thuở nhỏ Sư tánh tình nhậm lẹ nói năng vui vẻ và lý thú. Đến lớn Sư không theo nghiệp bút nghiên. Có dịp Sư đến Cửu Phong chợt nhớ như chỗ đã từng ở, quyến luyến không thể bỏ đi. Sự liền xin cạo tóc xuất gia làm Tăng. Sư xem kinh nghe pháp tâm mở sáng tinh thần lãnh hội.
Đi du phương, Sư đến yết kiến thiền sư Từ Minh ở Nam Nguyên. Sư dừng lại đây phụ tá cho Từ Minh một cách siêng năng cần khổ. Từ Minh dời sang Đạo Ngô, Thạch Sương, Sư cũng dời theo. Nơi đây Sư làm Giám tự. Tuy theo Từ Minh đã lâu mà Sư chưa tỉnh ngộ.
Mỗi khi đến thưa hỏi, Từ Minh bảo:
– Việc trong ty khổ quá nhiều hãy đi.
Hôm khác Sư đến hỏi, Từ Minh bảo:
– Giám tự ngày sau con cháu khắp thiên hạ cần gì vội gấp.
Một hôm Từ Minh vừa đi ra chợt mưa đến, Sư rình ở con đường tắt. Từ Minh đến, Sư liền nắm đứng lại nói:
– Ông già này! Hôm nay phải vì tôi nói, nếu không nói tôi sẽ đánh ông.
Từ Minh nói:
– Giám tự biết là việc quanh co liền thôi.
Câu nói chưa dứt, Sư đại ngộ, liền đảnh lễ ngay dưới bùn.
Hôm sau, Sư đầy đủ oai nghi đến phương trượng lễ tạ. Từ Minh quở:
– Chưa phải.
Ngài Dương Kỳ, lý do xuất gia hết sức đơn giản. Ngài đến Cửu Phong, nhớ lại chỗ này như mình đã ở trước rồi, bây giờ trở lại thấy quyến luyến, không thể bỏ qua, vì vậy phát tâm xuất gia.
Khi hỏi đạo thì việc hỏi đạo của ngài cũng lạ. Những khi thưa hỏi ngài Từ Minh từ chối không đáp. Vì tâm khao khát muốn nghe, buộc lòng phải rình ngài Từ Minh đi mà nắm lại, nói: Ông già này! Hôm nay phải vì tôi nói, nếu không nói tôi sẽ đánh ông. Như vậy có vẻ lỗ mãng, không còn vẻ thầy trò nghiêm chỉnh nữa. Ngài Từ Minh nói một câu đơn giản: Giám tự biết là việc quanh co liền thôi. Ngay câu đó liền ngộ rồi đánh lễ ngay dưới bùn.
Câu nói đó có công dụng gì mà ngài ngộ mau vậy? Nói rằng biết là việc quanh co liền thôi. Trong chúng ta hiện giờ, mỗi người tâm mình có quanh co không? Tâm quanh co là tâm chạy bên này bên kia, kinh nói trực tâm là đạo tràng, tâm ngay thẳng là đạo tràng, còn tâm quanh co là phiền não. Biết phiền não liền buông đi là xong.
Quá đơn giản, nghe một câu mà ngộ liền buông được. Chúng ta nghe nói bao nhiêu câu mà không chịu ngộ.
Sau giờ thọ trai, Từ Minh thường lên núi đi kinh hành, có các thiền giả đến tham vấn không biết đâu mà tìm. Sư biết Từ Minh đi chưa bao xa, liền đánh trống họp chúng. Từ Minh giận vầy:
– Tiểu tùng lâm chiều mà đăng tòa từ đâu được quy củ này?
Sư thưa:
– Phần Dương chiều vẫn tham vấn sao lại chẳng phải quy củ.
Từ Minh thượng đường, Sư ra hỏi:
– Khi “chim núp kêu nẩm nẩm, mây lẩn vào núi loạn” là thế nào?
Từ Minh đáp:
– Ta đi trong cỏ hoang, ngươi lại vào thôn sâu.
Sư thưa:
– Quan chẳng nhận kim, lại mượn một câu hỏi.
Từ Minh liền hét. Sư thưa:
– Hét hay.
Từ Minh lại hét. Sư cũng hét. Từ Minh hét luôn hai tiếng. Sư lễ bái. Từ Minh nói:
– Việc này là cá nhân mới hay gánh vác.
Sư phải áo ra đi.
Qua đoạn đối đáp trên, từ câu đầu ngài hỏi, ngài Từ Minh cho rằng chưa phải. Đến khi ngài Từ Minh hét, ngài Dương Kỳ khen: Hét hay! Từ Minh lại hét, ngài cũng hét đáp lại. Từ Minh hét luôn hai tiếng, ngài đảnh lễ. Từ đó thầy trò mới gọi là thông cảm hoàn toàn.
Tại sao nghe Từ Minh nói, Việc này là cá nhân mới hay gánh vác, ngài liền phải áo ra đi? Tức là không còn một tý ngờ vực gì nữa, nên nghe nói là phải áo đi.
Một hôm Từ Minh hỏi:
– Mã Tổ thấy Nam Nhạc liền ngộ, hãy nói cái mê lui ở chỗ nào?
Sư thưa:
– Cần ngộ là dễ, cần mê là khó.
Như chúng ta có cái nhà tối chưa đốt đèn. Khi chưa đốt đèn thấy toàn là bóng tối, khi thắp đèn sáng lên rồi thì bóng tối đi đâu? Nó lui chỗ nào? Ai biết chỗ lui được thì giỏi. Đơn giản vô cùng, vì tối và sáng không thật, có sáng thì không có tối, có tối thì không có sáng. Nếu là thật thì nó có chỗ lui.
Như mấy chú thật có mặt ở đây, sau khi giải tán thì mấy chú đi đâu? Sẽ nói, về đông đường tây đường. Vì có người cụ thể thì còn có chỗ lui. Cái sáng cái tối không thật, không có đến đi. Mê với ngộ cũng vậy, khi mê thì không ngộ, khi ngộ thì không mê, không có chỗ nào để lui.
Câu đáp của ngài nghe càng khó hiểu: Cần ngộ là dễ, cần mê là khó. Chúng ta thấy cần ngộ là khó, cần mê là dễ. Vì đang mê nên kiếm cái ngộ không ra. Với ngài thì ngài đang ngộ, nên kiếm cái mê khó, như đang sáng kiếm cái tối dễ hay khó? Câu nói này chứng minh là ngài đã ngộ.
Hai thầy trò đối đáp rất lý thú. Thầy muốn dọ dẫm người trò đã ngộ hay còn mê, nên nói: Mã Tổ thấy Nam Nhạc liền ngộ, cái mê lui về đâu? Ngài trả lời: Cần ngộ là dễ, cần mê là khó. Hiện giờ con đối với cái ngộ thì thấy dễ, tìm cái mê không ra.
Từ Minh dời về Hưng Hóa, Sư từ tạ trở lại Cửu Phong. Tăng tục trong làng Bình Thật đồng thỉnh Sư trụ trì trên núi Dương Kỳ.
Sư dạy chúng:
– Chẳng thấy một pháp là lỗi lầm lớn.
Sư đưa gậy lên nói:
– Phủng qua lỗ mũi ông già Thích-ca, làm sao nói được một câu thoát thân? Đến chỗ nước chẳng rửa nước, nói ra một câu đi!
Sư im lặng giây lâu nói:
– Đến đạo chớ đi đường dưới núi, hiện nghe vượn hú tiếng đoạn trường.
Sư dạy chúng:
– Tất cả trí thông không chướng ngại.
Sư đưa gậy lên nói:
– Cây gậy đến trước các ông trình thần thông đây.
Sư ném cây gậy nói:
– Liền được càn khôn chấn động quả đất lung lay. Hội chăng? Đâu chẳng thấy nói “nhất thiết trí trí thanh tịnh”.
Sư vin tòa ngồi, nói:
– Ba mươi năm sau chớ bảo Dương Kỳ đầu rồng đuôi rắn.
Tại sao ngài không đầu rồng đuôi rắn? Đoạn này thủy chung đều chỉ con đường Văn-thù. Đưa cây gậy lên, nói ít câu thần chú chơi, rồi đưa cây gậy lên nữa. Mấy phen đưa lên hoặc ném xuống… cũng lấy cây gậy chỉ cho mọi người. Chúng ta không khéo thì cứ chạy theo lời nói mà quên cái chủ yếu của ngài muốn chỉ.
Sư hỏi Tăng mới đến:
Mây dày đường hẹp xe to từ đâu đến?
Tăng thưa:
– Trời không bốn vách.
– Đi rách bao nhiêu đôi giày cỏ?
Tăng liền hét. Sư bảo:
– Một hét hai hét sau lại làm gì?
– Xem ông Hòa thượng già vội vàng.
– Cây gậy không có ở đây, thôi ngồi uống trà.
Ông tăng này giỏi hay dở? Ngài mở màn bằng câu Mây dày đường hẹp chiếc xe to từ đâu đến? Xem như đường hẹp mây dày chật kín rồi, chiếc xe to từ đâu mà đến? Tăng trả lời: Trời không bốn vách. Trời thênh thang, đâu mà đến không được. Đó là cách trả lời khéo léo.
Ngài gài qua cái khác: Đi rách bao nhiêu đôi giày cỏ? Tăng trả lời bằng tiếng hét. Ngài liền bẻ: Một hét hai hét sau lại làm gì? Tăng trả lời: Xem ông Hòa thượng già vội vàng. Ngài nói: Cây gậy không có ở đây, thôi ngồi uống trà. Như vậy nếu có gậy thì sao? Ngài thưởng hay phạt?
Sư hỏi Tăng mới đến:
– Lá rụng mây dồn, sớm rời chỗ nào?
Tăng thưa:
– Quan Âm.
– Dưới chân Quan Âm một câu làm sao nói?
– Vừa đến thấy nhau xong.
– Việc thấy nhau là thế nào?
Tăng không đáp được. Sư bảo:
– Thượng tọa thứ hai đáp thế Thượng tọa thứ nhất xem?
Vị tăng thứ hai cũng không đáp được. Sư bảo:
– Cả hai đều độn hết.
Trong Dương Kỳ Quảng Lục có một đoạn nói: Một hôm trời mùa đông, tuyết xuống ở miền bắc Trung Hoa, thất của ngài dột nát, cho nên tuyết rơi xuống đầy cả giường. Lúc lạnh run ngài làm bài thơ:
Dương Kỳ sạ trụ ốc bích sơ
Mãn sàng tận tán tuyết chân châu
Xúc khước hạng, ám ta hu
Phiên ức cổ nhân thọ hạ cư.
Dương Kỳ sạ trụ ốc bích sơ, đêm qua nhà của Dương Kỳ thưa rách. Mãn sàng tận tán tuyết chân châu, đầy giường trọn tuyết rơi giống như những hột trân châu. Xúc khước hạng, ám ta hu, lạnh rút cổ miệng hít hà, lạnh rút cổ miệng run lập cập. Hình ảnh nhà rách nát, tuyết rơi đầy giường, lạnh run hít hà. Nhưng mà: Phiên ức cổ nhân thọ hạ cư. Câu sau này hay quá chừng! Lại nhớ người xưa ở cội cây. Tuy rằng mình nhà rách bị tuyết rơi lạnh run, nhưng nhớ lại người xưa không có nhà, chỉ ở dưới cội cây, mình bây giờ tuy nhà rách mà còn hơn dưới cội cây, ngang đó có an ủi liền khỏi buồn.
Nhà ngài rách như vậy nên một hôm Tri sự bạch: Bạch Hòa thượng, để con sửa cái thất lại cho Hòa thượng. Ngài hỏi: Ông ngộ đạo chưa? Tri sự thưa: Con chưa ngộ đạo. Ngài bảo: Ông chưa ngộ đạo thì có thời giờ đâu mà lo sửa thất cho ta?
Người xưa chủ yếu là làm sao người đến với mình được ngộ đạo, được thấy đạo. Chẳng những người lớn mong như vậy, người nhỏ cũng phải tận tâm đem hết sức lực của mình tu hành để làm sao cho đạt đạo. Đó là mục đích duy nhất của người tu. Nếu tu chưa ra gì, lo làm cái này cái kia, mất thời giờ không xứng đáng. Vì thế ngài nói, chưa ngộ đạo đâu có thời giờ mà làm thất cho ta.
Niên hiệu Khánh Lịch năm thứ sáu (1046), Sư dời ở núi Vân Cái, Đàm Châu. Sư đem Lâm Tế chánh mạch trao cho thiền sư Thủ Đoan.
Đến niên hiệu Hoàng Hựu cải nguyên (1049), Sư thị tịch. Tháp Sư tại núi Vân Cái.
Tông Lâm Tế đến ngang đây chia ra hai phái: một là Dương Kỳ, hai là Hoàng Long. Vì vậy nói về tông phái nhà thiền thì gọi là năm tông bảy phái.
Sau này chúng ta thấy ở Việt Nam, trong những lá phái cũ chữ Hán, thường thường để Lâm Tế Chánh Tông hoặc là Lâm Tế Gia Phổ. Trong hai phái đó, không biết ngài Dương Kỳ là Lâm Tế Chánh Tông hay là ngài
Hoàng Long. Nhưng trong đây có câu Ngài đem Lâm Tế chánh mạch trao cho thiền sư Thủ Đoan. Chánh mạch gần với chánh tông, có lẽ bên Dương Kỳ thuộc về chánh tông.
Sư họ Quản, quê ở Vô Tích, Thường Châu, dung mạo trang nghiêm tánh tình thuần hậu. Năm mười chín tuổi, Sư theo thiền sư Đạo Thăng ở chùa Thừa Thiên Vĩnh An trên núi Cô Tô xuất gia. Sư ở đây hầu hạ gần mười năm mới được thọ giới Cụ túc. Sau ba năm, Sư từ tạ xin đi du phương.
Sư đến Trì Dương yết kiến Thiên Y Nghĩa Hoài, Thiên Y dẫn câu chuyện:
– “Bồ-tát Thiên Thân theo đức Di-lặc vào nội cung trở về. Bồ-tát Vô Trước hỏi: Ở nhân gian bốn trăm năm, tại cõi trời Đâu-suất một ngày một đêm. Đức Di-lặc trong một thời dạy xong năm trăm ức vị thiên tử chứng pháp nhãn vô sanh, chưa biết nói pháp gì? Thiên Thân đáp: Chỉ nói pháp ấy.” Thế nào là pháp ấy?
Trải qua thời gian lâu, Sư mới khai ngộ.
Một hôm Thiên Y ở trong thất hỏi Sư:
– Khi tức tâm tức Phật thì thế nào?
Sư thưa:
– Giết người đốt nhà có gì là khó.
Bồ-tát Vô Trước và Bồ-tát Thiên Thân là hai anh em ruột. Ngài Vô Trước ngộ lý đại thừa sớm, ngài Thiên Thân thì nghiêng về tiểu thừa. Về sau, ngài Vô Trước dùng mọi phương tiện khuyến khích ngài Thiên Thân hướng về đại thừa. Một đêm ngài Thiên Thân mộng thấy lên cung trời Đâu-suất, gặp Bồ-tát Di-lặc dẫn vào trong nội điện.
Câu chuyện như vậy, đây dẫn lời ngài Vô Trước hỏi ngài Thiên Thân: Nhân gian bốn trăm năm, tại cõi trời Đâu-suất một ngày một đêm. Đức Di-lặc trong một thời dạy xong năm trăm ức vị thiên tử chứng pháp nhãn vô sanh, chưa biết nói pháp gì? Ngài Thiên Thân đáp: Chỉ nói pháp ấy.
Ở thế giới chúng ta bốn trăm năm bằng ở cung trời Đâu-suất một ngày một đêm, như chúng ta thấy những con phù du sớm mai vừa sanh ra đến chiều chết. Người ta thường nói kiếp phù du tạm bợ sớm sanh chiều tử. Các vị Bồ-tát ở cung trời Đâu-suất nhìn chúng ta có giống những con phù du không? Một ngày một đêm ở trên đó, chúng ta chết sống bao nhiêu lần? Bốn trăm năm chết sống ít nhất là sáu lần, mỏng manh hơn con phù du. Vậy mà chúng ta cũng tự mãn cho là mình sống dai, sống dài.
Hình ảnh ở thế gian và hình ảnh trên cung trời Đâu-suất, tuổi thọ và thời gian cách biệt như vậy có khó tin lắm không? Khoa học đã giúp chúng ta hiểu được điều này. Trong vũ trụ có vô số thế giới. Có những thế giới, những hành tinh sánh với quả địa cầu lớn gấp mấy mươi lần. Có nhiều thế giới mà ánh sáng mặt trời chiếu không tới mình không thấy. Như trong kinh nói có cõi trời Thiểu quang thiên, Thiểu tịnh quang thiên, Đại tịnh quang thiên, là tự ánh sáng của nó soi, mặt trời chiếu không tới. Như vậy có những thế giới nhỏ, thế giới lớn, hành tinh nhỏ, hành tinh lớn. Hành tinh của chúng ta so với những hành tinh khác thuộc loại nhỏ, nhỏ thì quay mau, quay mau tức ngày đêm nhanh. Những hành tinh lớn, tỷ dụ lớn hơn mình mấy trăm ngàn lần, tự nhiên nó quay chậm hơn, tối sáng chậm hơn. Ngày tháng dài, người ở đó tuổi thọ cũng dài. Những cõi sai biệt nhau, đó là ý nghĩa thường.
Đến câu ngài Thiên Thân nói: Chỉ nói pháp ấy, ngài Thiên Y Nghĩa Hoài liền đặt câu hỏi: Thế nào là pháp ấy? Nghe câu hỏi đó, ngài Tông Bổn không hiểu gì, đến thời gian lâu xa sau ngài mới khai ngộ. Sau khi ngộ rồi, một hôm ngài Thiên Y ở trong thất hỏi: Khi tức tâm tức Phật thì thế nào? Ngài thưa: Giết người đốt nhà có gì là khó.
Câu trả lời tàn nhẫn, nghe thật lạ tai. Điểm đặc biệt ở đây là khi nói tâm, nói Phật thì đáp bằng giết người đốt nhà. Đó là một phản đề, trong nhà thiền hay dùng, hỏi có thì lấy không đáp, hỏi phải thì lấy quấy đáp. Nên đây hỏi tâm hỏi Phật thì lấy giết người, đốt nhà đáp.
Từ đây danh tiếng Sư đồn khắp tùng lâm. Tào sứ Lý công thỉnh Sư khai pháp ở Thụy Quang, pháp hội rất đông đảo. Thái thú Võ Lâm Trần công thỉnh Sư trụ trì một trong hai chùa Thừa Thiên và Hưng Giáo tùy Sư chọn lấy. Dân chúng tăng tục đất Tô đều ngăn cản, không để Sư đi, lại cố thỉnh Sư trụ trì tại chùa Tịnh Từ. Trên làm ít lời khuyến nhủ rằng: “Mượn Thầy ở đây ba năm vì dạy dân chúng vùng này gieo trồng phước lành, không dám chiếm lâu.” Tăng tục mới ưng cho Sư đi.
Vì dân chúng ở vùng này mến ngài, khi ngài được cử đi trụ trì thì người ta quyến luyến, ngăn không cho đi. Quan phải tạm nói cho mượn ba năm thôi, mãn ba năm rồi về. Mọi người mới chịu cho đi.
Niên hiệu Nguyên Phong năm thứ năm (1082), vua Tống Thần Tông xuống chiếu xây cất thêm trong chùa Tướng Quốc thành sáu mươi tư viện, chia tám phần về Thiền, hai phần về Luật. Vua ra chiếu thỉnh Sư trụ trì chùa Huệ Lâm.
Sư đến nơi, vua sai sứ đến hỏi thăm sức khỏe. Hôm sau, vua thỉnh Sư vào điện Diên Hòa để hỏi đạo. Sư vào ngồi kiết già, vua hỏi:
– Thầy xuất gia nơi chùa nào?
Sư tâu:
– Chùa Thừa Thiên Vĩnh An, Tô Châu.
Vua vui vẻ mời uống trà. Sư bưng chung trà hớp từng ngụm dài, lay động tự tại. Vua nói:
– Thiền tông mới hưng thạnh nên khéo mở đường.
Sư tâu:
– Bệ hạ biết có đạo này như mặt trời soi xuống, thần đâu dám bê trễ.
Sư từ giã trở về, vua đưa mắt nhìn theo và bảo tả hữu rằng:
– Đây là vị tăng chân thật phước huệ.
Qua hình ảnh này, chúng ta thấy ngài có điểm đặc biệt. Xưa thời quân chủ, người đến chỗ vua thì đứng ngồi đều khúm núm không dám ngồi thẳng, không dám cục cựa. Ngài thì ngồi kiết già, uống trà từng hớp từng ngụm, tự tại không sợ gì. Ngài đối với những bậc thiên hạ nể sợ, vẫn xem bình thường, ở trong cung vua như ở nhà. Không có niệm sợ người trên mà khinh kẻ dưới, lúc nào cũng vẫn bình thản.
Sau, Sư lấy cớ già xin trở về rừng núi, được nhà vua chấp thuận, cho Sư tùy ý vân du châu quận không được ép trụ trì. Sư đánh trống nhóm chúng từ biệt, nói kệ:
Bản thị vô gia khách
Na kham nhậm ý du
Thuận phong gia lỗ trạo
Thuyền tử hạ Dương Châu.
Dịch:
Vốn là khách không nhà
Nay được tùy ý dạo
Thuận gió thêm nhịp chèo
Thuyền thẳng đến Dương Châu.
Người tu là khách không nhà. Chữ không nhà đây là không có nhà riêng, người tu chỉ có chỗ chung, nương nhau mà ở, không có cái gì là của riêng mình. Khi được mời trụ trì thì ở đó làm bổn phận, khi hết bổn phận thì đi chỗ khác, vì vậy mà gọi là khách không nhà. Các kinh A-hàm gọi xuất gia là bỏ nhà, không nhà học đạo. Đây nói tư cách của người xuất gia, vốn là khách không nhà.
Sư ra khỏi đô thành, vua quan sĩ thứ đưa đón đầy đường. Sắp từ biệt nhau, Sư để lời nhắc rằng: “Không nên vui đùa năm tháng, già chết chẳng hẹn cùng người. Chỉ nên siêng năng tu hành chớ lười trễ, ấy là thật vì nhau.” Mọi người nghe đều cảm động rơi lệ.
Ngài nhắc không nên vui đùa năm tháng, tức là mỗi ngày qua rồi cười cợt giỡn chơi không lo tu để trôi suông hết ngày, hết tháng hết năm, cái già cái chết không hẹn với chúng ta nói rằng đúng tám mươi tuổi mới chết. Có khi ba bốn, năm mươi tuổi chết… không có nhất định. Vì thế được ngày nào yên ổn, phải ráng tu ngày đó.
Câu sau ngài nói: Chỉ siêng năng tu hành chớ lười trễ, ấy là thật vì nhau. Thương nhau vì nhau thì ráng tu, đừng khóc, đừng tỏ ra quyến luyến bịn rịn mà không chịu tu. Biết thương nhau biết vì nhau thì ráng tu hành chớ lười trễ. Mọi người nghe đều cảm động rơi lệ!
Tăng hỏi Sư:
– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang?
Sư đáp:
– Hàn Tín lâm triều.
– Kẻ căn cơ bậc trung và hạ làm sao lãnh hội?
– Chôn thây muôn dặm.
– Sớm biết việc ngày nay, hối hận chẳng dè dặt buổi đầu.
– Trên mồ Tam hoàng cỏ rậm ri.
Những lối đối đáp này thì không cho chúng ta hiểu.
Sư thượng đường:
– Nơi đầu một sợi lông hiện cõi Bảo Vương, ngồi trong hạt bụi chuyển bánh xe đại pháp.
Sư đưa gậy lên nói:
– Cái này là bụi, làm sao nói đạo lý chuyển bánh xe pháp? Sơn tăng ngày nay chẳng tiếc lông mày cùng tất cả các ngươi nói phá. Đưa lên thì nước biển dậy sóng, núi Tu-di lung lay. Buông xuống thì biển cả càn khôn yên tịnh. Thử hỏi các ngươi, hãy nói đưa lên là phải hay hạ xuống là phải? Nên đoạn chẳng đoạn, hai lớp công án.
Sư gõ thiền sàng bước xuống.
Đoạn này ngài cốt chỉ cái gì? Cốt chỉ cây gậy đưa lên rồi để xuống. Ngài nói: Đưa lên thì nước biển dậy sóng, núi Tu-di lung lay. Buông xuống thì biển cả càn khôn yên tịnh. Quan trọng cho chúng ta thấy cây gậy đưa lên để xuống. Cuối cùng ngài nói: Nên đoạn chẳng đoạn, hai lớp công án. Ngay đó mà không nhận được thì bị hai lớp công án.
Sư thượng đường:
– Đầu tròn giống trời, chân vuông tợ đất, dáng xưa từng góc, ý khí trượng phu, đá ngã Tu-di, đạp nhào biển cả, Đế-thích cùng Long vương không chỗ ẩn thân.
Sư đưa cây gậy lên nói:
– Lại đến trên cây gậy tránh né, mặc người thần thông biến hóa, cứu cánh phải về nơi đây.
Sư giộng cây gậy một cái.
Những câu nói của ngài giống như thần chú vậy thôi, mà mục tiêu là cây gậy.
Về già, Sư trụ ở Linh Nham. Đến niên hiệu Nguyên Phù năm thứ hai (1099) tháng chạp, Sư sắp tịch, tắm gội xong Sư nằm, đệ tử thấy thế đỡ dậy, thưa:
– Hòa thượng truyền đạo khắp thiên hạ, hôm nay không lẽ chẳng để kệ, mong gắng ngồi yên.
Sư nhìn thẳng bảo:
– Kẻ si! Ta bình thường ghét làm kệ, ngày nay cả thảy mong làm cái gì? Bình thường ta ưng nằm thì nằm, chẳng lẽ ngày nay lại chuyên ngồi? Đem bút lại!
Sư cầm bút viết: “Việc sau trao cho Thủ Vinh.” Sư ném bút, nằm xuống tịch.
Ngài nổi tiếng như thế, bình thường nói thiền nói đạo, mọi người đều kính nể, bây giờ gần chết lại nằm nên đệ tử đỡ lên: Xin Thầy viết kệ để lại! Ngài quở: Kẻ si! Bình thường ta ghét làm kệ, bây giờ lại mong ta làm kệ nữa? Bình thường ta ưng nằm thì nằm, ưng ngồi thì ngồi, giờ tại sao bắt phải ngồi? Với kẻ nhỏ thì muốn uy tín người lớn được cao, muốn thế này thế kia cho oai, nhưng với ngài thì trước vua, ngài còn không sợ thì chết sống khen chê, ngài đâu màng. Đi làm sao thảnh thơi thì thôi, cho nên ngài nằm cũng được, không quan trọng. Đó là khí khái của ngài.
Sư họ Tân, quê ở Lũng Thành Tần Châu, mẹ mộng thấy ông sư già đến ngủ nhờ, tỉnh mộng liền biết có thai. Nguyên do là ở núi Mạch Tích có vị sư già quen cùng hòa thượng Lỗ ở chùa Ứng Càn, muốn theo hòa thượng Lỗ đi du phương. Hòa thượng Lỗ chê già đi không được. Vị sư ấy nói với Lỗ: “Ngày sau nên tìm tôi ở dưới ngọn Thiết Trường bên rặng tre cạnh sườn núi.”
Sau, Lỗ nghe ở chỗ ấy có sanh một đứa bé liền tìm đến xem. Đứa bé vừa thấy Lỗ liền cười. Được ba tuổi đứa bé (Sư) xin theo Lỗ về chùa.
Vị sư già này tuy chưa đạt đạo, nhưng có làm chủ được chút nào không? Ông có biết lựa chọn không? Khi người ta chê mình già, không làm được gì, thì thôi bỏ thân già để mang thân trẻ. Kiếm chỗ gá thai, để ra làm phận sự. Như vậy cũng có sức tự chủ mạnh.
Đến mười chín tuổi, Sư thông kinh luật thọ giới Cụ túc, thích đến các hội giảng kinh, làu thông kinh Viên Giác, kinh Hoa Nghiêm. Nhân nghe trong pháp hội của thiền sư Nghĩa Hoài thạnh hành, Sư đi thẳng đến tham vấn.
Nghĩa Hoài hỏi:
– Tọa chủ giảng kinh gì?
Sư thưa:
– Kinh Hoa Nghiêm.
Nghĩa Hoài hỏi:
– Kinh Hoa Nghiêm lấy gì làm tông?
Sư thưa:
– Lấy pháp giới làm tông.
Nghĩa Hoài hỏi:
– Pháp giới lấy gì làm tông?
Sư thưa:
– Lấy tâm làm tông.
Nghĩa Hoài hỏi:
– Tâm lấy gì làm tông
Sư không đáp được. Nghĩa Hoài bảo:
– Có sai hào ly cách xa trời đất, ông phải tự khán ắt có phát minh.
Sau, Sư nghe vị tăng nhắc việc “Bạch Triệu đến tham vấn Báo Từ: Khi tình chưa sanh thì thế nào? Báo Từ nói: Cách.” Sư hốt nhiên đại ngộ, liền chạy thẳng đến phương trượng trình bày chỗ sở chứng. Nghĩa Hoài bảo:
– Ngươi thật là pháp khí, tông của ta sau này thạnh hành nơi ngươi vậy.
Chỗ ngộ của ngài từ kinh Hoa Nghiêm, nên ngài Nghĩa Hoài hỏi: Kinh Hoa Nghiêm lấy gì làm tông? Ngài đáp: Lấy pháp giới làm tông. Hỏi: Pháp giới lấy gì làm tông? Đáp: Pháp giới lấy tâm làm tông. Hỏi thêm: Tâm lấy gì làm tông? Ngài không đáp được. Từ chỗ đó, nên sau này nghe câu ngài Bạch Triệu hỏi ngài Báo Từ: Khi tình chưa sanh thì thế nào? Ngài Báo Từ đáp: Cách. Các thiền sư thường nói: Tình sanh thì trí cách. Đây tình chưa sanh tại sao cách? Câu này tương tự câu Pháp giới lấy tâm làm tông. Tâm lấy gì làm tông? Tâm thì không còn lấy gì làm tông nữa. Cũng như khi tình chưa sanh thì còn gì nữa mà cách. Bây giờ, ngài thấy được nghĩa tâm là chỗ cuối cùng.
Ban đầu Sư trụ ở Long Thư Tứ Diện. Sau có chiếu mời về trụ tại chùa Pháp Vân núi Trường Lê. Vua Thần Tông mời Sư đến trước Thần ngự thuyết pháp và ban hiệu là Viên Thông.
Sư thượng đường:
– Theo gió điều khiển buồm chính là theo mòi đuổi sóng, cắt đứt các dòng chưa khỏi như xưa rỉ chảy. Xét tài bổ chức đâu ngoài hay dở, mua mũ vừa đầu khó được khít khao. Dù cho trên chẳng thấy trời, dưới chẳng thấy đất, đông tây chẳng chia nam bắc chẳng phân, có chỗ nào mà dùng? Dù là gang thép do luyện sắt mà thành, cũng phải trên trán đổ mồ hôi. Thảy chẳng thế ấy làm sao thương lượng?
Sư im lặng giây lâu, nói:
– Lòng son mảnh mảnh ai biết được, cười ngất Hoàng Mai con thạch nữ.
Theo gió điều khiển buồm, người đi biển đi sông khi kéo buồm lên thì nhắm theo chiều gió. Buồm bọc gió thì thuyền mới đi nhanh. Đó là người biết khéo chiều theo hướng gió mà sử dụng buồm. Cắt đứt các dòng chưa khỏi như xưa rỉ chảy. Cắt đứt các dòng tức là chặn hết các dòng.
Xét tài bổ chức đâu ngoài hay dở. Xét tài của người để bổ chức cao thấp… Mua mũ vừa đầu, khó được khít khao. Có nhiều người cho rằng khi mua mũ phải lựa theo đầu của mình. Như vậy khi xét tài bổ chức đâu ngoài hay dở, mua mũ vừa đầu khó được khít khao, đó là tùy theo chỗ sử dụng mà thích ứng từng việc.
Lòng son mảnh mảnh ai biết được, lòng son là chỉ cho tâm trong sáng của chúng ta, mỗi người tự có. Cười ngất Hoàng Mai con thạch nữ. Đây là lấy theo tích Tài Tùng đạo giả xin ở trọ trong nhà của họ Chu, bà mẹ không có chồng mà sanh con, nên gọi là thạch nữ sanh con. Tài Tùng đạo giả chính là tiền thân của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.
Tăng hỏi:
– Mùa xuân tháng hai tháng ba, muôn vật thảy nảy mầm, chưa biết mầm đạo có tăng trưởng hay không?
Sư đáp:
– Nhà mình xem lấy.
– Đâu chẳng phải là chỗ chỉ bày ư?
– Cây chuối cao bao nhiêu?
– Lửa đồng cháy chưa tắt, gió xuân thổi lại sanh.
– Cái ấy là Bạch Công, còn ngươi thì sao?
– Hãy đợi khi khác.
– Xem ngươi nói chẳng ra.
Tăng hỏi: Vào mùa xuân tháng hai tháng ba thì muôn vật đều nảy mầm, vậy mầm đạo tức là mầm Bồ-đề có tăng trưởng hay không? Ngài đáp: Nhà mình xem lấy. Mầm Bồ-đề của ông tăng trưởng hay không thì ông tự biết.
Tăng nói: Đâu chẳng phải chỗ chỉ bày ư? Ngài nói: Cây chuối cao bao nhiêu? Tăng mới dẫn câu Lửa đồng cháy chưa tắt, gió xuân thổi lại sanh. Đó là câu thơ của Bạch Công, nên ngài nói Cái ấy là Bạch Công, còn ngươi thì sao? Tăng nói: Hãy đợi khi khác! Tức là phần con thì hãy đợi khi khác. Khi khác con nói. Ngài đáp: Xem ngươi nói chẳng ra. Nói không ra mà nói là đợi khi khác.
Sư thượng đường:
– Trời lạnh mưa rúc rắc, gió thổi cát bay đá chạy, cây tróc gốc gãy cành, các ngươi thảy đều biết. Hãy nói gió có hình sắc gì? Nếu biết được chấp nhận ngươi có đủ mắt sáng, nếu chẳng biết chớ lấy làm lạ lừa nhau. Tham
Đoạn này có gì đặc biệt? Nói rằng nếu ngay đây mà nhận được thì đủ con mắt sáng, nếu không biết thì đừng lấy làm lạ mà lừa nhau. Nghĩa là cây đá, nhà cửa hình tướng cứng chắc, gió thì không có hình tướng mà khi nổi lên làm cho cái có hình tướng ngã lăn. Cái nào mạnh hơn cái nào? Thế nhân thường nói cái có hình tướng thì thật, cái không hình tướng thì không thật. Cây cối nhà cửa có hình tướng mà bị cái không hình tướng điều khiển. Như vậy thì nhìn lại tâm không có hình tướng mà làm chủ thân này, như gió không hình tướng thổi bay nhà cửa. Từ cái đó hiểu thì nhận ra, nếu không hiểu thì khó biết.
Sư thượng đường:
– Thiếu Lâm chín năm ngồi lặng, lại bị Thần Quang ngó phủng. Hiện nay ngọc đá khó phân, chỉ được gai cột giấy gói. Lại hội chăng? Cười ta thì nhiều, nhận ta thì ít.
Tổ Bồ-đề-đạt-ma ngồi lặng im chín năm ở Thiếu Lâm, vậy mà ngài Thần Quang đến lại ngộ được đạo. Hiện nay ngọc đá khó phân, chỉ được gai cột, giấy gói, tức là bị cột trói, bị niêm dính thôi. Người không hiểu cười ta thì nhiều mà nhận ta thì ít, vì không hiểu, tưởng như nói bậy, còn hiểu được ta thì không có mấy người.
Niên hiệu Nguyên Hựu năm thứ năm (1090) Sư sắp tịch, bảo chúng:
– Lão tăng sáu chỗ trụ trì có phiền Trị sự, Thủ tọa. Đại chúng! Ngày nay tứ đại chẳng chắc, gió lửa sắp tan, mỗi người nên lấy đạo tự an, không trái lời ta di chúc.
Sư bèn nói kệ:
Lai thời vô vật khứ thời không
Nam bắc đông tây sự nhất đồng
Lục xứ trụ trì vô sở bổ.
Dịch:
Khi đến không vật lúc đi không
Nam bắc đông tây việc vẫn đồng
Trụ trì sáu chỗ không ai bổ…
Sư im lặng giây lâu. Giám tự Huệ Đương thưa:
– Sao Hòa thượng không nói câu rốt sau?
Sư nói:
– Trân trọng! Trân trọng!
Nói xong liền tịch.
Khi chúng ta sanh ra thì tay không, đến khi tắt thở thì tay cũng không cầm được gì. Như vậy thì đến tay không, đi cũng tay không, điều đó không phải riêng một ai mà nam bắc đông tây đều giống nhau hết. Từ xứ này đến xứ khác, nghèo như Việt Nam mình, giàu như bên Anh bên Mỹ thì người chết cũng tay không. Kiếp người đến ở rồi đi là thời gian tạm, dù có gây tạo bao nhiêu, rốt cuộc đi cũng là tay không.
Còn câu chót thì sao? Bài kệ bốn câu, mà có ba câu rồi làm thinh. Giám tự nóng ruột hỏi Sao Hòa thượng không nói câu rốt sau. Ngài nói: Trân trọng, trân trọng là kính chào, kính chào, rồi đi.
Sư giới luật tinh nghiêm, nhà Tương thị lang là thí chủ. Một hôm, Thị lang thưa với Sư:
– Ngày mai nhà tôi có khách đông thỉnh Thầy đến rưới cam lồ.
Sư nhận chịu. Hôm sau, Thị lang sai người đến rước. Sư lấy một bài kệ trao. Kệ rằng:
Tạc nhật tằng tương kim nhật kỳ
Xuất môn ỷ trượng hựu tư duy
Vi Tăng chỉ hợp cư nham cốc
Quốc sĩ điên trung thậm bất nghi
Dịch:
Hôm qua đã hẹn đến ngày nay
Ra cửa nương gậy thầm nghĩ suy
Làm Tăng chỉ hợp nơi hang núi
Tiệc tùng quyền quý chẳng nên đi.
Chư tăng ni ở đây thuộc lòng hai câu chót giùm tôi: Làm Tăng chỉ hợp nơi hang núi, câu này tôi đổi, làm Tăng chỉ hợp nơi thôn dã, thôn dã mới đúng chỗ của mình. Tiệc tùng quyền quý chớ nên đi, bởi vậy xin đi tôi không cho, vì nó không phải chỗ. Chư tăng mặc áo vàng đi ra ngoài đám đậu, vườn mít… thấy rất đẹp. Bây giờ mặc áo vàng đứng giữa chỗ vui chơi, thấy thế nào? Không phải chỗ của mình mà tới đó không hợp chút nào, gượng gạo khó coi. Bởi vậy cho nên ngài hứa rồi, về suy nghĩ lại thôi từ chối, không đi nữa.
Có vị tăng hỏi:
– Thầy lấy danh là thiền sư sao không nói thiền?
Sư đáp:
– Ngày đêm nhờ vạn tượng diễn bày mà thôi. Ngôn ngữ có gián đoạn mà pháp này vô tận, nên gọi là Tạo hóa vô tận tạng.
Sư thường cưỡi con bò vàng, cho nên người tục gọi Chánh Hoàng Ngưu.
Ngày tám tháng tư niên hiệu Hoàng Hựu năm đầu (1049) Sư thị tịch, thọ 64 tuổi.
Với ngài thì tiếng gió thổi, tiếng chim kêu, những hình ảnh cây cối nhà cửa núi non đều là thiền, cần gì phải nói.