Nội dung:
Sư họ Vương, quê ở Trường Lạc, Phúc Châu. Lúc bé theo mẹ đi chùa lễ Phật, Sư chỉ tượng Phật hỏi mẹ: “Đây là gì?” Mẹ bảo: “Phật” Sư nói: “Hình dung không khác với người, con sau cũng sẽ làm Phật.”
Sư xuất gia lúc còn để chóp và hằng chuyên cần tu học giới định tuệ. Sau Sư đến tham học với Mã Tổ Đạo Nhất làm thị giả. Mỗi khi thí chủ đem trai phạn đến, Sư vừa giở lồng bàn ra, Mã Tổ liền cầm một miếng bánh hỏi chúng: “Đây là gì?” Như thế mãi đến ba năm.
Một hôm Sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vịt trời bay qua. Mã Tổ hỏi:
– Đó là cái gì?
Sư thưa:
– Con vịt trời.
– Bay đi đâu?
– Bay qua.
Mã Tổ bèn nắm lỗ mũi Sư kéo mạnh, đau quá Sư la thất thanh. Mã Tổ bảo:
– Lại nói bay qua đi.
Ngay câu ấy, Sư tỉnh ngộ.
Trở về phòng thị giả, Sư khóc lóc rất thống thiết. Những người đồng phòng nghe, hỏi:
– Huynh nhớ cha mẹ phải chăng?
Sư đáp:
– Không.
– Bị người ta mắng chửi chăng?
– Không.
Tại sao khóc?
– Lỗ mũi tôi bị Hòa thượng kéo đau thấu xương.
– Có nhân duyên gì không khế hội?
– Huynh hỏi Hòa thượng đi.
Những vị ấy đến hỏi Mã Tổ:
Thị giả Hải có nhân duyên gì chẳng khế hội ở trong phòng khóc, xin Hòa thượng vì chúng con nói.
Mã Tổ bảo:
– Y đã khế hội, các ngươi tự hỏi lấy y.
Các vị ấy về phòng hỏi:
– Hòa thượng nói huynh đã hội, bảo chúng tôi về hỏi huynh.
Sư bèn cười ha hả. Các vị ấy bảo:
– Vừa rồi khóc sao bây giờ cười?
Sư đáp:
– Vừa rồi khóc, bây giờ cười.
Các vị ấy mờ mịt không hiểu.
Hôm sau Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong, Sư bước ra cuốn chiếu. Mã Tổ xuống tòa, Sư theo sau đến phương trượng.
Mã Tổ hỏi:
– Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn chiếu?
Sư thưa:
– Hôm qua bị Hòa thượng kéo chót mũi đau.
Hôm qua ngươi để tâm chỗ nào?
– Chót mũi ngày nay lại chẳng đau.
– Ngươi hiểu sâu việc hôm qua.
Sư làm lễ, lui ra.
Sư họ Vương, quê ở Trường Lạc, Phúc Châu. Lúc bé theo mẹ đi chùa lễ Phật, Sư chỉ tượng Phật hỏi mẹ: “Đây là gì?” Mẹ bảo: “Phật.” Sư nói: “Hình dung không khác với người, con sau cũng sẽ làm Phật.”
Sư xuất gia lúc còn để chóp và hằng chuyên cần tu học giới định tuệ. Sau Sư đến tham học với Mã Tổ Đạo Nhất làm thị giả. Mỗi khi thí chủ đem trai phạn đến, Sư vừa giở lồng bàn ra, Mã Tổ liền cầm một miếng bánh hỏi chúng: “Đây là gì?” Như thế mãi đến ba năm.
Thiền sư Hoài Hải là người phát xuất ra nhiều nhân vật quan trọng có ảnh hưởng lớn về sau, trong đó nổi bật nhất là thiền sư Hoàng Bá và thiền sư Quy Sơn Linh Hựu. Kế thừa Hoàng Bá có Lâm Tế, sau trở thành tông Lâm Tế hưng thịnh đến ngày nay. Dưới Quy Sơn Linh Hựu thì có Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, sau trở thành tông Quy Ngưỡng.
Lúc nhỏ theo mẹ đi lễ chùa, thấy tượng Phật ngài có ý muốn làm Phật, việc này cho thấy tiền duyên của ngài rất sâu, đã có sẵn từ thuở nào, thế nên lúc ngài đi xuất gia còn rất nhỏ. Ngài chuyên tâm học kinh điển và tu tập giới định tuệ. Sau đến chỗ Mã Tổ Đạo Nhất được cử làm thị giả. Mỗi khi thí chủ đem trai phạn đến, Mã Tổ đều cầm một miếng bánh đưa lên hỏi: Đây là gì? Hỏi một câu như thế suốt ba năm.
Một hôm Sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vịt trời bay qua. Mã Tổ hỏi:
– Đó là cái gì?
Sư thưa:
Con vịt trời.
– Bay đi đâu?
– Bay qua.
Mã Tổ bèn nắm lỗ mũi Sư kéo mạnh, đau quá Sư la thất thanh. Mã Tổ bảo:
– Lại nói bay qua đi.
Ngay câu ấy, Sư tỉnh ngộ.
Mã Tổ không nói đạo lý chỉ nói chuyện chim bay ngoài trời, vậy ngài ngộ là ngộ cái gì? Bởi chúng sanh mê lầm, lúc nào cũng thấy ngoài tâm có pháp, có sự vật tới lui qua lại, mà không biết tất cả pháp không ngoài mình. Mã Tổ muốn thức tỉnh ngài, nên nhân bầy vịt trời mà chỉ cho thấy cái thường hằng nơi mỗi người. Vì vậy khi hỏi: Bay đi đâu? Ngài thưa: Bay qua, Mã Tổ bèn vặn lỗ mũi, ngài đau điếng la lên, Mã Tổ liền bảo: Lại nói bay qua đi! Ngay đó ngài tỉnh ngộ, nhận ra cái không bao giờ mất. Sự vật đến đi, còn cái thấy biết của chúng ta thì thường hằng không đến không đi. Nếu không thường hằng thì vặn lỗ mũi đau đâu biết la. Vặn lỗ mũi đau la lên, khi ấy mới thức tỉnh cái biết chưa từng mất, liền thấy được ông chủ thường hằng của mình.
Thông thường chúng ta hay lệ thuộc vào sự vật đến đi, rồi tâm mình cũng theo đó mà sanh diệt. Nhưng không ngờ, chính tâm sanh diệt đến đi theo sự vật ấy, vẫn có một cái không đến không đi. Mã Tổ là tay diệu thuật, thấy được ngài Bá Trượng sẽ là bậc mẫu mực cho mai sau, nên khéo dùng thủ đoạn kỳ đặc, khiến người được ngộ ngàn đời không quên. Suốt ba năm, mỗi khi giở lồng bàn Mã Tổ đều cầm miếng bánh đưa lên hỏi, cũng chính nhằm trưởng dưỡng cho thị giả ngộ lúc này.
Trở về phòng thị giả, Sư khóc lóc rất thống thiết. Những người đồng phòng nghe, hỏi:
– Huynh nhớ cha mẹ phải chăng?
Sư đáp:
– Không.
– Bị người ta mắng chửi chăng?
– Không.
– Tại sao khóc?
– Lỗ mũi tôi bị Hòa thượng kéo đau thấu xương.
Có nhân duyên gì không khế hội?
– Huynh hỏi Hòa thượng đi.
Lúc ngộ ngài còn nhỏ, chừng mười mấy tuổi, nên khi thấy ngài ở trong phòng khóc thống thiết, các huynh đệ nghĩ ngài nhớ cha mẹ hoặc bị người mắng chửi, bèn xúm lại hỏi thăm vì sao khóc. Ngài kể lại việc bị Hòa thượng kéo mũi đau điếng và bảo các vị ấy đến hỏi Hòa thượng.
Những vị ấy đến hỏi Mã Tổ:
– Thị giả Hải có nhân duyên gì chẳng khế hội ở trong phòng khóc, xin Hòa thượng vì chúng con nói.
Mã Tổ bảo:
– Y đã khế hội, các ngươi tự hỏi lấy y.
Các vị ấy về phòng hỏi:
Hòa thượng nói huynh đã hội, bảo chúng tôi về hỏi huynh.
Sư bèn cười ha hả. Các vị ấy bảo:
– Vừa rồi khóc, sao bây giờ cười?
Sư đáp:
– Vừa rồi khóc bây giờ cười.
Các vị ấy mờ mịt không hiểu.
Tại sao lúc nãy khóc bây giờ cười? Trước khóc vì ngộ nhưng chưa có dịp trình bày với thầy, bây giờ cười vì đã được thầy ấn chứng. Nghe kể Mã Tổ nói như thế, ngài liền biết nên cười, còn những người kia thì mờ mịt không hiểu.
Hôm sau Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong, Sư bước ra cuốn chiếu. Mã Tổ xuống tòa, Sư theo sau đến phương trượng. Mã Tổ hỏi:
– Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn chiếu?
Sư thưa:
– Hôm qua bị Hòa thượng kéo chót mũi đau.
– Hôm qua ngươi để tâm chỗ nào?
– Chót mũi ngày nay lại chẳng đau.
– Ngươi hiểu sâu việc hôm qua.
Sư làm lễ, lui ra.
Tuy đã được ấn chứng nhưng ngài chưa bằng lòng, vì ấn chứng đó là qua lời người khác kể, bản thân ngài cũng chưa làm lễ đúng như pháp, cho nên hôm sau đến để trình bày lại chỗ đã nhận hiểu của mình. Mã Tổ bảo: Ngươi hiểu sâu việc hôm qua. Ngài làm lễ lui ra.
Đứng hầu Mã Tổ, Sư thấy phất tử ở góc giường, bèn hỏi:
– Ngay đây dùng, lìa đây dùng?
Mã Tổ bảo:
– Về sau ngươi mở miệng sẽ lấy cái gì vì người?
Sư cầm phất tử dựng đứng. Mã Tổ hỏi:
– Ngay đây dùng, lìa đây dùng?
Sư để phất tử lại chỗ cũ. Mã Tổ nghiêm chỉnh nạt một tiếng, đến ba ngày Sư còn điếc tai.
Mã Tổ chấn chỉnh nạt một tiếng, tới ba ngày lỗ tai ngài vẫn còn điếc. Chúng ta thấy thủ thuật đặc biệt của Mã Tổ: nhéo lỗ mũi đau thấu xương, nạt một tiếng điếc tai ba ngày… Chỗ ngộ của ngài là ngộ tận xương tủy, không bao giờ quên, con cháu về sau nối truyền đời đời đều được như vậy. Bởi vì nếu chỉ ngộ nhẹ nhẹ sẽ dễ quên, còn ngộ trong trường hợp đặc biệt thì không bao giờ quên. Cho nên chúng ta đừng sợ những việc xem như tàn nhẫn của thiền sư, vì chính sự tàn nhẫn đó mới phát xuất ra những con người đặc biệt.
Sau, Sư về núi Đại Hùng tại Hồng Châu. Ngọn núi này cao vót đến trăm trượng nên thời nhân gọi Sư là Bá Trượng. Bốn phương học giả đua nhau đến tham học rất đông. Trong số học chúng có thiền sư Hy Vận và Linh Hựu là hàng đầu.
Một hôm, Sư bảo chúng:
Phật pháp không phải là việc nhỏ, lão tăng xưa bị Mã Tổ nạt một tiếng, đến ba ngày lỗ tai còn điếc.
Hy Vận nghe nói bất giác le lưỡi. Sư bảo:
-Con về sau thừa kế Mã Tổ chăng?
Hy Vận thưa:
– Không. Nay nhân Hòa thượng nhắc lại, con được thấy Mã Tổ đại cơ đại dụng, nhưng vẫn không biết Mã Tổ. Nếu con thừa kế Mã Tổ, về sau mất hết con cháu của con.
Sư bảo:
– Đúng thế, đúng thế! Thấy bằng với thầy là kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Con hẳn có cái thấy vượt hơn thầy.
Hy Vận liền lễ bái.
Hy Vận nghe nhắc lại cái nạt của Mã Tổ, bất giác le lưỡi, tức là cảm thông được cái nạt đó, nên ngài nói: Ngươi nhận được ý của Mã Tổ, vậy là có thể kế thừa được Mã Tổ rồi. Hy Vận thưa: Nếu con kế thừa Mã Tổ, về sau mất hết con cháu của con. Sao lạ vậy? Bởi vì trong nhà thiền, vị thầy trực tiếp truyền cho trò, trò tiếp tục truyền lại đệ tử, cứ như vậy đời đời thầy trò truyền nhau không dứt. Nếu nhân nghe nhắc hành động của Mã Tổ mà lãnh hội, tức là ngộ nơi Mã Tổ, nhưng Mã Tổ đã tịch làm sao được ấn chứng, như vậy sau này con cháu không được truyền thừa rõ ràng. Nên nói: Nếu kế thừa Mã Tổ, về sau mất hết con cháu.
Ngài bảo: Đúng thế, đúng thế! Thấy bằng với thầy là kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Câu nói này chưa biết chính xác xuất xứ từ ai, bởi ở những bản khác dẫn lời cổ đức cũng có nhắc đến. Tổ Bá Trượng nhắc lại lời của người trước, hay ngài là người đầu tiên nói ra? Nếu là lời của ngài, có thể thấy cái nhìn của ngài thật đáng nể. Người thầy lúc nào cũng muốn đệ tử hơn mình, nếu đệ tử nhận hiểu bằng thầy là đã thua thầy nửa đức. Qua đây đã nói lên tinh thần kỳ đặc của thiền tông.
Như hiện giờ giả sử tôi hiểu được năm phần, tăng ni có người cũng hiểu được năm phần. Nhưng tôi tu trước, các vị tu muộn hơn nên về sự tu hành cũng còn kém. Thế nên về sự hiểu biết thì bằng, nhưng về đức vẫn còn thua. Bởi tôi tu lâu hơn thì đức phải cao hơn. Cho nên nói, thấy bằng thầy là kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Vì vậy ngài Bá Trượng nói: Con hẳn có cái thấy vượt hơn thầy. Người có cái thấy cao vượt hơn thầy mới kham lãnh trách nhiệm của thầy truyền, xứng đáng kế thế sự nghiệp của thầy.
Trong đây có người nào thấy vượt hơn thầy chưa? Phải là những người siêu xuất hơn thầy mới kham nhận lãnh trách nhiệm nặng nề, nếu học trò thua thầy là đi xuống rồi! Tuy hiện tại chưa có, song tôi tin tưởng rằng tất cả tăng ni ở đây đều là sư tử con, ngày sau sẽ rống lên tiếng rống sư tử. Bây giờ sư tử còn nhỏ dĩ nhiên phải yếu, nhưng tới chừng sư tử lớn lên, sẽ gầm hét dữ tợn hơn. Tôi hy vọng như vậy.
Thấy bằng thầy là kém thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy mới kham truyền trao. Chúng ta là con cháu trong nhà thiền, phải luôn luôn ghi nhớ câu nói này. Người thầy phải luôn mong muốn học trò hơn mình, mong muốn đó làm cho đạo pháp được truyền bá lâu dài. Chúng ta đừng có quan niệm sợ học trò hơn mình, suy nghĩ như vậy là lạc hậu, là hủ bại sai lầm. Trình độ và sự tiến bộ của tri thức mỗi thời mỗi tiến lên chứ đâu dừng lại.
Như thời tôi còn nhỏ, người học tới cử nhân thật là hy hữu, ai có bằng tú tài là giỏi lắm, là hạng khó kiếm rồi. Nhưng ở thời đại hiện nay, nếu muốn con cháu mình học tới ngang đó thôi thì lạc hậu, phải học tới tiến sĩ mới có giá trị. Việc học ngày càng phát huy, dân trí ngày càng cao hơn. Muốn xã hội tiến bộ thì người sau phải giỏi hơn người trước. Đó là nói việc thường của thời đại, còn về đạo pháp thì càng phải thấu suốt hơn nữa. Bởi vì Phật pháp được truyền bá hưng thịnh đến ngày sau là đệ tử phải giỏi hơn thầy, nếu đệ tử thua thầy thì Phật pháp sẽ suy tàn. Tổ sư ngày xưa đã có cái nhìn như thế, chúng ta cứ sợ học trò hơn mình, đó là lỗi lớn trong đạo. Thế nên tôi nhắc nhở toàn chúng: Tất cả cần phải ghi nhớ và ý thức rõ việc này.
Lại một hôm, có vị tăng vừa đi vừa khóc đi thẳng vào pháp đường. Sự hỏi:
– Làm gì?
Tăng thưa:
– Cha mẹ đồng thời chết, thỉnh Thầy chọn ngày.
Sư bảo:
– Ngày mai đồng thời chôn.
Kỳ lạ vậy! Vị tăng đến nhờ thầy chọn ngày chôn cha mẹ phải không? Tổ Bồ-đề-đạt-ma có nói “cha vô minh, mẹ tham ái”. Như vậy, cha mẹ ở đây nói không phải theo thế gian nghĩ, mà chính là cha vô minh và mẹ tham ái. Vị tăng vừa đi vừa khóc bảo rằng cha mẹ đồng thời chết, tức là cha vô minh và mẹ tham ái hôm nay không còn nữa. Ngài biết ông tăng này không phải tầm thường, nên bảo ngày mai đồng thời chôn, nếu hai thứ đó hết rồi thì chôn một lượt đi. Các ngài đã cảm thông nhau.
Sư mỗi khi thượng đường dạy chúng có một ông già theo chúng nghe pháp. Hôm nọ, chúng ra hết chỉ còn ông già không đi. Sự hỏi:
– Ông là người gì?
Ông già thưa:
– Con chẳng phải người. Thời quá khứ thuở đức Phật Ca-diếp, con làm tăng ở núi này, nhân học trò hỏi “người đại tu hành lại rơi vào nhân quả chăng?”, con đáp “không rơi vào nhân quả”. Do đó đến năm trăm đời đọa làm thân chồn. Nay thỉnh Hòa thượng chuyển một câu nói để con thoát khỏi thân chồn.
Sư bảo:
– Ông hỏi đi.
Ông già hỏi:
– Người đại tu hành có rơi vào nhân quả chăng?
Sư đáp:
– Không lầm nhân quả.
Ngay câu nói ấy, ông già đại ngộ, làm lễ thưa:
– Con đã thoát thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa thượng lấy theo lễ tăng chết mà tống táng con.
Sư vào trong kêu duy-na đánh kẻng bảo chúng ăn cơm xong đưa đám một vị tăng. Đại chúng nhóm nhau bàn tán: “Đại chúng đều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào nằm, tại sao có việc này?”
Sau khi cơm xong, Sư dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậy khơi lên thấy xác một con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêu như vị tăng.
Đây là một nghi vấn thấu trời, người sau không biết việc này có thật hay chỉ là một huyền thoại do ngài Bá Trượng lập nên? Khi được hỏi người đại tu hành có rơi vào nhân quả không, vị tăng đáp không rơi vào nhân quả, phải đọa làm thân chồn. Đến khi hỏi lại ngài, ngài nói không lầm nhân quả, vị tăng liền thoát khỏi thân chồn. Vậy then chốt của câu chuyện nằm ở chỗ nào?
Trong luận của tổ Bồ-đề-đạt-ma nói, linh giác của chúng ta không rơi vào nhân quả tội phước. Bậc đại tu hành là người đã nhận ra tánh linh giác, tức không còn kẹt trong nhân quả, vậy đáp không rơi vào nhân quả có lỗi gì mà phải đọa làm thân chồn? Chỗ này tôi nhắc kỹ để tất cả hiểu rõ.
Nói đến lý tối thượng thừa thì tánh linh giác đó vượt ngoài nhân quả, nhưng đứng về thế tục đế thì nhân quả là chân lý phổ biến ở thế gian. Thế gian được thành lập, an bày đều theo lý nhân quả, không có gì ra ngoài nhân quả. Vì thế nếu cho rằng người tu hành không rơi vào nhân quả là vô tình phá hoại hệ thống thế tục đế, gây nghi lầm cho chúng sanh. Làm mất niềm tin nhân quả, tức là vô tình phủ nhận đạo đức của thế gian. Đây là việc hết sức quan trọng, là lỗi rất lớn, nên phải bị đọa.
Câu trả lời sau của ngài: không làm nhân quả, vừa khéo vừa hay. Không lầm tức là biết rõ lý nhân quả. Đối với người tu hành giác ngộ, thấu suốt lý sự rõ ràng, nên không phá hoại cũng không phủ nhận nhân quả. Một khi thấy không còn lầm, tự nhiên thoát ngoài nhân quả. Thế nên chúng ta phải khéo hiểu, đừng để rơi vào tội lỗi. Một câu nói sai lầm, đọa làm thân chồn năm trăm đời. Có ai ngán sợ chưa? Chúng ta bây giờ hay phát ngôn cẩu thả, thấy gì nói nấy theo nghĩ tưởng của mình. Do không nghiệm xét kỹ, nên nhiều khi chỉ vì một lời nói cạn cợt mà gây ra hậu quả nghiêm trọng cho mình và cho người.
Những người siêu xuất thế gian mới có thể nói được lý siêu xuất nhân quả, còn chưa được mà nói thì sẽ gây ra nghi lầm. Chúng ta tu hành, dù việc tu chưa rốt ráo nhưng khi thuyết pháp cho người nghe, mình phải biết nhìn xem căn cơ trình độ của họ tới đâu, để nói cho phù hợp. Ví dụ, với người đang sợ tội ham làm phước, mà nói không nhân quả không tội phước, khiến cho họ hết sợ tội, cũng không ham làm phước, mặc tình tạo tác. Như thế là chính mình không được phước, lại gây tội lỗi lớn. Chẳng những không giúp người hết khổ, mà còn làm tăng thêm đau khổ cho họ. Vì vậy muốn giáo hóa hay hướng dẫn người cần phải cẩn thận, hiểu cho tường tận đừng cẩu thả. Không biết đến đâu, thấy chưa ra gì mà thích làm thầy thiên hạ, nói đông nói tây không có căn cứ gì hết, thật là nguy hiểm! Tưởng rằng được người cung kính là hay, không ngờ tự mình rơi vào tội lỗi không thể cứu.
Câu chuyện này dù huyền thoại hay một sự thật, đều là bài học lớn lao cho mọi người. Thâm ý của tổ Bá Trượng chính là cảnh tỉnh chúng ta đừng phạm phải sai lầm, phát ngôn cẩu thả rồi phải chịu khổ nhiều đời. Về sau các nhà chú giải kinh luận cũng thường dẫn lại chuyện trên, để nhắc nhở và thuyết minh về lý nhân quả.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Linh quang chói sáng vượt khỏi căn trần, Thể bày chân thường không cuộc văn tự, Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành,
Chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
Ở đây ngài dùng chữ linh quang, còn trong Thiếu Thất Lục Môn thì tổ Bồ-đề-đạt-ma gọi là linh giác. Linh giác hay linh quang, tên gọi tuy khác nhưng cùng chỉ cho một thể mà thôi.
Ngài chỉ thẳng nơi mỗi người đều có cái linh quang chói sáng, luôn hiển hiện chân thật thường hằng, vượt khỏi căn trần, không hạn cuộc trong văn tự. Thể tánh của tâm ấy không ô nhiễm, vốn tự viên thành. Như vậy, muốn trở về cái linh quang sẵn có đó chúng ta phải làm sao? Chỉ cần lìa vọng duyên, tức là buông xả vọng tưởng đừng để duyên theo sáu trần dính mắc, đó là như như là Phật, không phải chạy tìm đâu xa nữa.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là pháp yếu Đại thừa đốn ngộ?
Sư đáp:
– Các ngươi trước dứt sạch các duyên, thôi hết muôn việc, tất cả các pháp thiện cùng chẳng thiện, thế gian và xuất thế gian chớ ghi nhớ, chớ duyên niệm, buông bỏ hết khiến tâm tự tại. Tâm như cây đá không có phân biệt, không có chỗ đi. Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự hiện. Như mây tan thì trăng hiện. Chỉ dứt tất cả thứ vin theo, tình cảm tham sân ái thủ nhơ sạch đều hết. Đối với ngũ dục bát phong không bị thấy nghe hiểu biết ràng buộc, không bị các cảnh làm mê hoặc, tự nhiên đầy đủ thần thông diệu dụng, ấy là Người giải thoát.
Đối với tất cả cảnh, tâm không yên không loạn, không thu nhiếp không phân tán, thấu tất cả thanh sắc không bị dính ngại, gọi là Đạo nhân.
Thiện ác phải quấy đều không dùng, không mến một pháp, cũng không bỏ một pháp, gọi là Người đại thừa.
Không bị tất cả pháp thiện ác, không hữu, nhơ sạch, hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, phước đức trí tuệ ràng buộc, gọi là Phật tuệ.
Phải quấy, tốt xấu, đúng lý phi lý, các tình cảm thấy biết hết sạch, không thể trói buộc, khiến tâm được tự tại, gọi là Bồ-tát mới phát tâm liền lên địa vị Phật.
Tăng hỏi:
– Đối tất cả cảnh làm sao tâm được như cây đá?
Sư đáp:
– Tất cả pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, chẳng nói phải quấy như sạch, cũng không có tâm trói buộc người, chỉ tự người hư vọng tính chấp, tạo bao nhiêu thứ hiểu, khởi bao nhiêu thứ thấy biết, sanh bao nhiêu thứ yêu sợ. Chỉ cần rõ các pháp không tự sanh, đều do một niệm vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đó là đạo tràng.
Lại, tánh sẵn có không thể gọi tên, xưa nay không phải phàm không phải thánh, chẳng phải nhơ sạch, chẳng phải hữu không, cũng chẳng phải thiện ác, cùng các pháp nhiễm hợp nhau, gọi là cảnh giới người trời nhị thừa. Nếu tâm nhơ sạch hết, chẳng trụ nơi ràng buộc chẳng trụ nơi giải thoát, không tất cả tâm lượng hữu vi vô vi phược thoát, ở nơi sanh tử tâm vẫn tự tại. Hoàn toàn không hòa hợp với uẩn giới, sanh tử, các nhập, trần lao hư huyễn; siêu nhiên không nương tựa, tất cả không ràng buộc, đi ở không ngại, qua lại trong sanh tử như cửa mở.
Phàm người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý không vừa ý, tâm không lui sụt, chẳng để tâm đến danh dự lợi dưỡng ăn mặc, chẳng tham tất cả công đức lợi ích, không bị các pháp thế gian buộc ngại, không thân mến khổ vui, tâm hằng bình đẳng, ăn cơm hẩm cốt nuôi mạng sống, mặc áo vá chỉ để ngừa lạnh; ngơ ngơ như ngu như điếc, sẽ được ít phần tương ưng. Nếu trong tâm ham học rộng biết nhiều, cầu phước cầu trí, đều là ở trong sanh tử, đối với lý đạo thật vô ích, lại bị gió hiểu biết thổi trôi giạt trở lại trong biển sanh tử.
Phật là người không cầu, có cầu tức trái lý, lý không cầu này nếu cầu liền mất. Nếu chấp không cầu, lại đồng có cầu. Nếu chấp vô vi, lại đồng hữu vi. Cho nên Kinh nói: “Không thủ pháp không thủ phi pháp, không thủ phi phi pháp.” Lại nói: “Như Lai đã được pháp, pháp này không thật không hư”
Nếu người hay một lúc tâm giống như cây đá, không bị ẩm, giới, ngũ dục bát phong thổi trôi giạt, liền đoạn được nhân sanh tử, đi đứng tự do, chẳng bị tất cả hữu vi nhân quả ràng buộc, chẳng bị hữu lậu câu thúc. Khi khác lại dùng cái phược vô nhân làm nhân, đồng sự để làm lợi ích chúng sanh, lấy tâm không chấp ứng hợp tất cả vật, dùng tuệ không ngại cởi tất cả trói buộc, cũng nói “hợp bệnh cho thuốc”.
Tăng hỏi:
– Như nay thọ giới rồi thân khẩu được thanh tịnh, đã đủ các việc thiện, như thế được giải thoát chăng?
Sư đáp:
– Được ít phần giải thoát, chưa được tâm giải thoát, chưa được tất cả chỗ giải thoát.
Tăng hỏi:
– Thế nào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?
Sư đáp:
– Chẳng cầu Phật pháp tăng, cho đến chẳng cầu phước trí tri giải, tình cảm nhơ sạch hết, chẳng chấp tâm không cầu là phải, chẳng trụ chỗ hết, cũng chẳng mến thiên đường sợ địa ngục, trói buộc cởi mở không ngại, tức thân tâm và tất cả chỗ đều gọi giải thoát.
– Ngươi chớ cho có ít phần giới thân khẩu ý tịnh là xong, đâu biết môn giới định tuệ như hà sa, mà vô lậu giải thoát toàn chưa dính một mảy.
Cố gắng! Nhằm hiện nay cố tìm xét lấy, đừng đợi mắt mờ tai điếc, tóc bạc mặt nhăn, già khổ đến thân, buồn thảm triền miên mắt hằng rơi lệ, trong tâm hoảng sợ không một nơi y cứ, chẳng biết chỗ đi. Đến khi ấy, muốn nghiêm chỉnh tay chân cũng không thể kìm được, dù có phước trí, danh dự lợi dưỡng trọn không cứu được. Vì mắt tâm chưa mở, chỉ nhớ các cảnh, không biết phản chiếu, lại chẳng thấy Phật đạo. Một đời có tạo việc thiện ác thảy hiện ở trước, hoặc vui hoặc sợ, sáu đường năm uẩn thảy bày hiện tiền. Trang sức nhà cửa ghe thuyền xe cộ đẹp đẽ hiển hách, đều từ tâm tham ái của mình hiện ra, tất cả cảnh ác đều biến thành cảnh thù thắng. Chỉ tùy tâm tham ái chỗ nào nặng, nghiệp thức dẫn đến thọ sanh, hoàn toàn không có phần tự do, rồng súc tốt xấu trọn chưa định được.
Tăng hỏi:
– Thế nào được phần tự do?
Sư đáp:
– Hiện nay đối với ngũ dục bát phong lòng không lấy bỏ, xan tham tật đố tham ái ngã sở đều hết, nhơ sạch chẳng còn, như mặt trời mặt trăng trong hư không, không duyên mà chiếu. Tâm tâm như cây đá, niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, cũng như con voi lớn qua sông vừa ùm xuống là đến bờ kia, không bị ngăn ngại. Người này không bị nhiếp thuộc về thiên đường hay địa ngục.
– Phàm học kinh xem giáo lý, mỗi câu đều phải uyển chuyển xoay về nơi mình, tất cả ngôn giáo chỉ làm sáng tỏ tánh giác hiện nay của mình.
– Chỉ không bị tất cả cảnh có không… lôi, là Đạo sư của người, hay chiếu phá tất cả cảnh có không… là tuệ kim cang, tức có phần tự do tự tại. Nếu không hiểu được như thế, dù có tụng được mười hai phần giáo cũng chỉ thành tăng thượng mạn, lại là người chê bai Phật, không phải là người tu hành. Chỉ la tất cả thanh sắc, cũng chẳng trụ nơi lìa, chẳng trụ nơi tri giải, là người tu hành.
Đọc kinh xem giáo lý, nếu chiếu theo thế gian là việc tốt, nếu nhằm vào người minh lý thì thường đọc xem là kẻ bế tắc. Người Thập địa vượt ra, không đi vào vòng sanh tử, nhưng giáo lý tam thừa để trị bệnh tham sân… như hiện nay niệm niệm nếu có bệnh tham sân… thì trước phải trị nó, chẳng cần tìm cầu câu nghĩa hiểu biết. Hiểu biết thuộc về tham, tham thì trở thành bệnh. Như hiện nay chỉ lìa tất cả pháp có không, cũng lìa luôn cái lìa vượt ngoài ba câu (có, không, chẳng phải có chẳng phải không) tự nhiên cùng Phật không khác. Đã tự là Phật, lo gì Phật không biết cách nói. Chỉ e không phải là Phật, bị các pháp có không trói buộc chẳng được tự do. Bởi lý chưa vững, trước có phước trí, bị phước trí chở đi, như người nghèo ở trong cảnh sang. Không bằng trước vững lý, sau mới có phước trí. Nếu cần phước trí thì gặp việc liền nắm đất biến thành vàng, nắm vàng biến thành đất, biến nước biển thành tô lạc, đập núi Tu-di thành bụi nhỏ, hốt nước bốn biển dồn vào một lỗ chân lông, nơi một nghĩa làm vô lượng nghĩa, nơi vô lượng nghĩa làm một nghĩa.
– Thế nào là pháp yếu Đại thừa đốn ngộ?
Sư đáp:
Các ngươi trước dứt sạch các duyên, thôi hết muôn việc, tất cả các pháp thiện cùng chẳng thiện, thế gian và xuất thế gian chớ ghi nhớ, chớ duyên niệm, buông bỏ hết khiến tâm tự tại. Tâm như cây đá không có phân biệt, không có chỗ đi. Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự hiện. Như mây tan thì trăng hiện. Chỉ dứt tất cả thứ vin theo, tình cảm tham sân ái thủ nhơ sạch đều hết.
Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự hiện. Chính câu này mà ngài Vô Ngôn Thông được khai ngộ. Vô Ngôn Thông là vị tổ truyền thiền tông sang Việt Nam. Ngài là đệ tử của tổ Bá Trượng, khi nghe vị tăng hỏi về pháp yếu Đại thừa đốn ngộ, tổ Bá Trượng đáp tới đây ngài liền ngộ. Như vậy Tổ đã chỉ thẳng cho thấy, muốn được pháp yếu đốn ngộ không gì hơn trước phải dứt sạch các duyên, thôi hết muôn việc, đừng mắc kẹt có không, tất cả pháp thiện ác, thế gian xuất thế gian v.v… đừng ghi nhớ, buông bỏ không kẹt. Như mây tan thì trăng hiện, làm tất cả việc mà tâm luôn tự tại.
Nghe Tổ nói: Tâm như cây đá không có phân biệt, không có chỗ đi, đừng lầm tưởng là tâm mình không biết gì hết. Bởi bình thường chúng ta lấy tâm duyên cảnh phân biệt làm hiểu biết của mình, mà không biết rằng những hiểu biết ấy đều là hiểu biết của vọng duyên. Giờ đây nếu muốn thể nhập pháp yếu đốn ngộ Đại thừa thì phải dứt vọng duyên, các thứ hiểu biết do phân biệt không còn, nên nói như cây như đá chứ không phải không biết gì hết. Vì không phân biệt nên không có chỗ đi, không còn chạy theo duyên trần bên ngoài nữa, đất tâm không bị vọng tưởng ngăn che, tự nhiên mặt trời trí tuệ hiện ra, sáng chiếu rõ ràng.
Đối với ngũ dục bát phong không bị thấy nghe hiểu biết ràng buộc, không bị các cảnh làm mê hoặc, tự nhiên đầy đủ thần thông diệu dụng, ấy là Người giải thoát.
Đối với tất cả cảnh, tâm không yên không loạn, không thu nhiếp không phân tán, thấu tất cả thanh sắc không bị dính ngại, gọi là Đạo nhân.
Thiện ác phải quấy đều không dùng, không mến một pháp, cũng không bỏ một pháp, gọi là Người đại thừa.
Không bị tất cả pháp thiện ác, không hữu, nhơ sạch, hữu vi vô vi, thế gian xuất thế gian, phước đức trí tuệ ràng buộc, gọi là Phật tuệ.
Phải quấy, tốt xấu, đúng lý phi lý, các tình cảm thấy biết hết sạch, không thể trói buộc, khiến tâm được tự tại, gọi là Bồ-tát mới phát tâm liền lên địa vị Phật.
Ngài nói rõ có mấy hạng người:
Người dứt hết các duyên, không bị mê hoặc trước ngoại cảnh, không có những thứ chấp trước theo hiểu biết phân biệt ràng buộc, tự nhiên đầy đủ diệu dụng, gọi đó là người giải thoát.
Đối với tất cả cảnh, tâm không yên không loạn, không thu nhiếp không phân tán, thấu tất cả thanh sắc không bị dính ngại, gọi là Đạo nhân.
Thiện ác, phải quấy đều không dùng, không mến một pháp cũng không bỏ một pháp, không mắc kẹt hai bên, gọi là người Đại thừa.
Vượt ngoài phước đức và trí tuệ, không bị tất cả pháp thiện ác, có không, nhơ sạch v.v… ràng buộc, gọi là Phật tuệ.
Người nào buông xả hết phải quấy tốt xấu… các tình cảm thấy biết không thể trói buộc, ở đâu cũng được tự tại, người đó gọi là Bồ-tát mới phát tâm liền lên địa vị Phật.
Tăng hỏi:
– Đối tất cả cảnh làm sao tâm được như cây đá?
Sư đáp:
– Tất cả pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, chẳng nói phải quấy như sạch, cũng không có tâm trói buộc người, chỉ tự người hư vọng tính chấp, tạo bao nhiêu thứ hiểu, khởi bao nhiêu thứ thấy biết, sanh bao nhiêu thử yêu sợ. Chỉ cần rõ các pháp không tự sanh, đều do một niệm vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đó là đạo tràng.
Nghe ngài nói đối tất cả cảnh tâm như cây đá, vị tăng không hiểu thắc mắc, ngài bèn chỉ cho thấy rõ ý nghĩa này.
Tất cả pháp vốn chẳng tự nói không, chẳng tự nói sắc, chẳng nói phải quấy nhơ sạch, cũng không có tâm trói buộc người, chỉ tự người hư vọng tính toán chấp trước, tạo bao nhiêu thứ hiểu, khởi bao nhiêu thứ thấy biết, sanh bao nhiêu thứ yêu sợ. Các pháp bên ngoài không có khả năng trói buộc mình; không có pháp nào tự giới thiệu tôi là pháp, là không, là đẹp, là xấu gì cả; tại chúng ta thấy rồi tự sanh vọng niệm phân biệt thế này thế kia, thành ra thấy có trói buộc. Nếu biết các pháp vốn tự như, không chạy theo phân biệt nữa thì tâm tự lặng lẽ thanh tịnh. Ví dụ ở trước mắt chúng ta có khoảng hai ba mươi người, nhìn chung chung không có vấn đề gì nảy sinh, nhưng nếu chúng ta chú ý phân tích từng người thì liền thấy có kẻ xấu người đẹp, kẻ dễ ghét người dễ thương v.v… Trong bao nhiêu người đó vốn không đẹp xấu, thương ghét, do mình khởi niệm phân chia mới có. Như vậy thấy đẹp xấu, có thương ghét là tại mình chứ không phải tại cảnh. Cảnh chỉ là cảnh, thương ghét tại lòng mình.
Một khi phân biệt khởi lên, tức nhiên lo sợ liền theo đó. Thế nên, chỉ cần nhận rõ các pháp không tự sanh, đều do một niệm vọng tưởng điên đảo của mình chấp tướng mà có. Biết rõ các pháp tự nó là như, tướng sai biệt hiện thấy là do vọng tưởng điên đảo của mình mà có.
Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đó là đạo tràng. Qua câu này ngài đã chỉ rõ cho thấy giải thoát là gì. Cảnh là cảnh, tâm là tâm, tâm và cảnh không đến nhau, tức là tâm không kẹt mắc vào cảnh thì ngay đó là giải thoát. Sở dĩ chúng ta không giải thoát được là do tâm bị cột chặt nơi cảnh, bây giờ biết rõ rồi chỉ cần tập cho tâm đừng dính với cảnh là được. Kinh Pháp Hoa nói: “Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ.” Tướng của thế gian là như vậy, do vọng phân biệt của mình làm cho các pháp chia chẻ, phân ly.
Cốt yếu của việc tu chính nhằm chỗ này. Tâm cảnh không đến nhau, mỗi pháp đều lặng lẽ, ngay đó là đạo tràng. Chữ ngay đó tức chỉ cho cái hiện tại, hiện tiền. Không cần tìm đạo tràng ở đâu xa, chính ngay hiện tại là đạo tràng, là giải thoát. Ngược lại, nếu cứ dính mắc nơi cảnh thì khó mà giải thoát.
Lại, tánh sẵn có không thể gọi tên, xưa nay không phải phàm không phải thánh, chẳng phải nhơ sạch, chẳng phải hữu không, cũng chẳng phải thiện ác, cùng các pháp nhiễm hợp nhau, gọi là cảnh giới người trời nhị thừa. Nếu tâm như sạch hết, chẳng trụ nơi ràng buộc chẳng trụ nơi giải thoát, không tất cả tâm lượng hữu vi vô vi phược thoát, ở nơi sanh tử tâm vẫn tự tại. Hoàn toàn không hòa hợp với uẩn giới, sanh tử, các nhập, trần lao hư huyễn; siêu nhiên không nương tựa, tất cả không ràng buộc, đi ở không ngại, qua lại trong sanh tử như cửa mở.
Ngay nơi bản tánh sẵn có của chúng ta vốn tự vô danh không có tên gọi, chúng ta đặt tên này tên nọ là theo diệu dụng của nó mà tạm đặt tên. Bản tánh ấy không phàm không thánh, không như không sạch… Tuy vô danh nhưng lại nhiều diệu dụng, vì thế có ra rất nhiều tên gọi khác nhau. Nếu hợp với nhiễm thì liền có các thứ quả báo ở cõi người cõi trời, hoặc tiến lên là Nhị thừa. Dứt hết đối đãi, nhơ sạch không còn trói buộc là ra khỏi trần lao, qua lại trong sanh tử không ngăn ngại.
Phàm người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý không vừa ý, tâm không lui sụt, chẳng để tâm đến danh dự lợi dưỡng ăn mặc, chẳng tham tất cả công đức lợi ích, không bị các pháp thế gian buộc ngại, không thân mến khổ vui, tâm hằng bình đẳng, ăn cơm hẩm cốt nuôi mạng sống, mặc áo vá chỉ để ngừa lạnh; ngơ ngơ như ngu như điếc, sẽ được ít phần tương ưng. Nếu trong tâm ham học rộng biết nhiều, cầu phước cầu trí, đều là ở trong sanh tử, đối với lý đạo thật vô ích, lại bị gió hiểu biết thổi trôi giạt trở lại trong biển sanh tử.
Phàm người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý không vừa ý, tâm không lui sụt. Người học đạo, nếu muốn tương ưng với tánh thể đó thì phải dứt hết các duyên. Gặp những thứ khổ vui, vừa ý hay không vừa ý… tâm cũng vẫn an nhiên. Không vì khổ mà lười, không vì vui mà tiếc, luôn luôn bình thản trong mọi hoàn cảnh, khổ vui đều giữ một mực tu hành, không vì những việc thuận nghịch mà làm cho mình tiến hay thối.
Chẳng để tâm đến danh dự lợi dưỡng ăn mặc, chẳng tham tất cả công đức lợi ích, không bị các pháp thế gian buộc ngại, không thân mến khổ vui. Tất cả những danh dự, lợi dưỡng, ăn mặc… đều không tham ưa, bao nhiêu công đức lợi ích cũng không thích. Không bị tất cả các pháp thế gian buộc ngại, không thân mến khổ vui, tâm luôn luôn bình đẳng. Người được như vậy là người chân thật học đạo.
Tâm hằng bình đẳng, ăn cơm hẩm cốt nuôi mạng sống, mặc áo vá chỉ để ngừa lạnh. Người xưa ăn mặc không phải vì hưởng thụ mà chỉ là nuôi mạng sống để tu. Cho nên cái ăn cái mặc không quan trọng, chỉ là tạm ăn để nuôi thân, tạm mặc để ngừa lạnh mà thôi. Thế nhưng chúng ta bây giờ thì sao? Nếu ăn không ngon thì nuốt khó trôi phải không? Quên mất ăn để mà sống rốt cuộc trở thành sống để mà ăn. Ăn đã như thế, còn mặc thì sao? Ở trên núi mặc cái gì cũng được, xuống thành thị rồi phải mặc đồ láng láng cho dễ coi. Mặc trau chuốt cho dễ coi, tất nhiên mặc không phải vì để ngừa lạnh. Nếu chỉ sống để ăn và mặc thôi thì cuộc đời buồn biết mấy, ngày mai chết sẽ đi về đâu? Đó là điều thiết yếu mà chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ, đừng để tâm nguyện hướng đến mục tiêu cao siêu giải thoát của mình bị chôn vùi. Nhớ như vậy để phấn đấu mà tu thì đời tu mới có ý nghĩa.
Ngơ ngơ như ngu như điếc, sẽ được ít phần tương ưng. Được khen không mừng, chê cũng không buồn. Khen chê chẳng bận tâm, không hiện sắc vui buồn, tức là như ngu như điếc. Người như vậy sẽ được ít phần tương ưng. Nếu tu hành mà nhạy bén lanh lợi quá, nghe khen liền nở mày, nghe chê liền hóp mặt thì khó tương ưng. Chỗ này chúng ta phải gắng làm chủ.
Nếu trong tâm ham học rộng biết nhiều, cầu phước cầu trí, đều là ở trong sanh tử, đối với lý đạo thật vô ích, lại bị gió hiểu biết thổi trôi giạt trở lại trong biển sanh tử. Ngài chê trách người trong tâm chỉ ham học rộng, biết cho thật nhiều, cầu phước lớn trí rộng đều là ở trong sanh tử, đối với lý đạo thật vô ích. Lý đạo tức là tâm như như của mỗi chúng ta. Hướng ra bên ngoài tìm cầu là không phù hợp với tâm như như, nên nói đó là vô ích. Bởi còn bị ngọn gió hiểu biết thổi trôi trở lại trong biển sanh tử, chứ chưa ra khỏi. Cho nên người tu là người cầu ra khỏi sanh tử, chứ không phải chỉ ham hiểu biết hay muốn khôn ngoan nhiều.
Phật là người không cầu, có cầu tức trái lý, lý không cầu này nếu cầu liền mất. Nếu chấp không cầu, lại đồng có cầu. Nếu chấp vô vi, lại đồng hữu vi. Cho nên Kinh nói: “Không thủ pháp không thủ phi pháp, không thủ phi phi pháp.” Lại nói: “Như Lai đã được pháp, pháp này không thật không hư.”
Phật là người không cầu, có cầu tức trái lý, lý không cầu này nếu cầu liền mất. Phật là người không cầu, vì có mong cầu tức là vọng. Vừa vọng cầu là mất lý, nên nói lý không cầu, nếu cầu liền mất. Nếu chấp không cầu, lại đồng có cầu. Nếu chấp vô vi, lại đồng hữu vi. Nói không cầu tức là nói đến tâm lặng lẽ, nếu chấp chặt cái không cầu cho là lẽ thật để bám vào đó thì cũng như có cầu, vì còn chấp tất nhiên tâm có khởi niệm.
Ngài lại dẫn kinh Kim Cang để chứng minh. Cho nên Kinh nói: “Không thủ pháp không thủ phi pháp, không thủ phi phi pháp.” Lại nói: “Như Lai đã được pháp, pháp này không thật không hư.”
Nếu người hay một lúc tâm giống như cây đá, không bị ấm, giới, ngũ dục bát phong thổi trôi giạt, liền đoạn được nhân sanh tử, đi đứng tự do, chẳng bị tất cả hữu vi nhân quả ràng buộc, chẳng bị hữu lậu câu thúc. Khi khác lại dùng cái phược vô nhân làm nhân, đồng sự để làm lợi ích chúng sanh, lấy tâm không chấp ứng hợp tất cả vật, dùng tuệ không ngại cởi tất cả trói buộc, cũng nói “hợp bệnh cho thuốc”.
Nếu người tu để tâm giống như cây đá, không loạn động chạy theo ngoại cảnh, không bị trói buộc trong năm ấm… tức sẽ đoạn được nhân sanh tử. Bởi nhân của sanh tử chính là vọng niệm. Vọng niệm đã đoạn, tâm được như như thì đi đứng tự do, không còn bị những pháp hữu vi câu thúc thì khi đó phần làm chủ của chúng ta mới toàn vẹn. Bấy giờ trở lại dùng phược vô nhân làm nhân, đồng sự để làm lợi ích cho chúng sanh. Dùng tâm không bị trói buộc đó tùy tâm chúng sanh mà ứng hợp. Dùng tuệ không ngại cởi tất cả trói buộc cho chúng sanh. Được như vậy mới gọi là hợp bệnh cho thuốc.
Thiền tông gọi giai đoạn này là thõng tay vào chợ, tức mục thứ mười trong Thập mục ngưu đồ. Nếu nói theo Thập mục ngưu đồ của Đại thừa thì tới đây là một vòng tròn, tượng trưng cho sự viên mãn, tâm thể như như không còn năng sở, mà ở đây ngài nói tâm như cây đá, không còn bị các pháp hữu vi trói buộc. Khi tâm tròn sáng rồi mới dấn thân làm lợi ích cho chúng sanh, gọi là hòa quang đồng trần. Mặc tình đến đi, tới lui mọi nơi chợ búa xóm làng, đem thân tâm không phược làm lợi ích chúng sanh. Chúng ta tu mà được như vậy thì việc giáo hóa mới thật sự có ý nghĩa, nếu mang thân tâm còn phược mà giáo hóa thì chính mình đang bị trói làm sao dạy người mở trói, làm sao mở trói cho người!
Tăng hỏi:
– Như nay thọ giới rồi thân khẩu được thanh tịnh, đã đủ các việc thiện, như thế được giải thoát chăng?
Sư đáp:
– Được ít phần giải thoát, chưa được tâm giải thoát, chưa được tất cả chỗ giải thoát.
Tăng hỏi:
– Thế nào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?
Sư đáp:
– Chẳng cầu Phật pháp tăng, cho đến chẳng cầu phước trí tri giải, tình cảm nhơ sạch hết, chẳng chấp tâm không cầu là phải, chẳng trụ chỗ hết, cũng chẳng mến thiên đường sợ địa ngục, trói buộc cởi mở không ngại, tức thân tâm và tất cả chỗ đều gọi giải thoát.
Ngươi chớ cho có ít phần giới thân khẩu ý tịnh là xong, đâu biết môn giới định tuệ như hà sa, mà vô lậu giải thoát toàn chưa dính một mảy.
Có vị tăng hỏi về giới luật: Nếu thọ giới rồi ngay nơi thân khẩu đều giữ giới thanh tịnh, lại làm những việc thiện nữa, như vậy được giải thoát hay không? Ngài đáp: Được ít phần giải thoát, chưa được tâm giải thoát, chưa được tất cả chỗ giải thoát. Chỉ được một ít phần giải thoát thôi, chưa được giải thoát hoàn toàn.
Tâm giải thoát và tất các chỗ giải thoát tức là không còn kẹt bên ngoài, nơi tâm sạch hết tình cảm tri giải, không mong cầu cũng chẳng chấp vào tâm không cầu. Chẳng mến thiên đường, chẳng sợ địa ngục. Đối tất cả cảnh, thân tâm đều không chướng ngại. Được như vậy mới gọi là giải thoát.
Ngài nhắc nhở thêm, chúng ta tu đừng cho rằng, giữ giới ít phần nơi thân khẩu ý thanh tịnh là được rồi. Bởi môn giới định tuệ như hà sa, mà vô lậu giải thoát toàn chưa dính một mảy. Nếu chưa rõ bản tâm thì vẫn chưa phải là cội nguồn giải thoát.
Cố gắng! Nhằm hiện nay cố tìm xét lấy, đừng đợi mắt mờ tai điếc, tóc bạc mặt nhăn, già khổ đến thân, buồn thảm triền miên mắt hằng rơi lệ, trong tâm hoảng sợ không một nơi y cứ, chẳng biết chỗ đi. Đến khi ấy, muốn nghiêm chỉnh tay chân cũng không thể kìm được, dù có phước trí, danh dự lợi dưỡng trọn không cứu được. Vì mắt tâm chưa mở, chỉ nhớ các cảnh, không biết phản chiếu, lại chẳng thấy Phật đạo. Một đời có tạo việc thiện ác thảy hiện ở trước, hoặc vui hoặc sợ, sáu đường năm uẩn thảy bày hiện tiền. Trang sức nhà cửa ghe thuyền xe cộ đẹp đẽ hiển hách, đều từ tâm tham ái của mình hiện ra, tất cả cảnh ác đều biến thành cảnh thù thắng. Chỉ tùy tâm tham ái chỗ nào nặng, nghiệp thức dẫn đến thọ sanh, hoàn toàn không có phần tự do, rồng súc tốt xấu trọn chưa định được.
Ngài răn nhắc, chúng ta là người tu phải cố gắng tìm xét, đừng để già khổ đến nơi rồi buồn thảm rơi lệ, nhớ lại mình tu chưa ra gì mà thọ của tín thí quá nhiều, chết không biết đi về đâu, ngày ra đi không chỗ y cứ. Gần lâm chung tay chân co giật, muốn kìm nó lại cũng không kìm nổi. Lúc đó, dù có phước trí, danh dự lợi dưỡng trọn không cứu được. Khi còn khỏe mạnh, làm sư này thầy kia, chức cao quyền trọng, giả sử lợi dưỡng sung túc, thí chủ cúng dường dồi dào… bấy giờ cũng không cứu được. Những thứ đó là hình thức bên ngoài, do người phong tặng ban cho, một khi quỷ vô thường đến dẫn đi không sao cưỡng lại. Vì sao?
Vì mắt tâm chưa mở, chỉ nhớ các cảnh, không biết phản chiếu, lại chẳng thấy Phật đạo. Nếu chưa mở được mắt tâm thì lúc đó chỉ nhớ cảnh trước, nhớ chùa, nhớ đệ tử… đủ thứ, mà chẳng thấy Phật đạo, không biết được tâm của mình. Đây là điều đen tối nhất!
Một đời có tạo việc thiện ác thủy hiện ở trước, hoặc vui hoặc sợ, sáu đường, năm uẩn thảy bày hiện tiền. Tạo thiện thì cảnh đẹp hiện, tạo ác thì cảnh khổ hiện. Tất cả việc vui buồn mừng sợ thảy đều hiện tiền, rồi theo đó mà thọ thân năm uẩn dẫn đi trong sáu đường.
Trang sức nhà cửa ghe thuyền xe cộ đẹp đẽ hiển hách, đều từ tâm tham ái của mình hiện ra. Tất cả cảnh trước mắt, nào là trang sức, nhà cửa, xe cộ v.v… đều từ tâm tham ái của mình mà hiện. Vì có ham muốn tức là tâm tham ái, cho nên tất cả cảnh ác đều biến thành cảnh thù thắng. Tại sao cảnh ác lại biến thành cảnh thù thắng? Bởi nghiệp xấu đã tạo trước, nên khi sắp chết những cảnh ấy hiện ra thành cảnh thù thắng, khiến tâm tham ái đắm nhiễm ưa thích lao theo cảnh đó, mà không ngờ rằng đang đi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh để thọ thân khổ sau này.
Chỉ tùy tâm tham ái chỗ nào nặng, nghiệp thức dẫn đến thọ sanh, hoàn toàn không có phần tự do, rồng súc tốt xấu trọn chưa định được. Lúc ấy tùy theo tâm ưa thích chỗ nào nặng thì nghiệp thức dẫn đến đó trước, rồi theo nghiệp mà thọ sanh, không có chút phần tự do, cho nên nhào vô thân rồng rắn trâu bò, tốt xấu không nhất định.
Chúng ta tu mà không biết trở lại nguồn tâm, không hướng đến chỗ giải thoát của Phật tổ đã chỉ dạy, chỉ nặng về hình tướng bên ngoài, trong tâm còn kẹt mắc vào đẹp xấu, thương ghét, khổ vui v.v… đều dễ bị kéo lôi vào trong sáu đường thọ khổ. Thế nên phải khéo biết tu, nhớ đừng dính mắc trần cảnh, bởi đây là nhân duyên chướng đạo. Đến lúc lâm chung, dù quyền cao chức trọng cũng không cứu được, chỉ có sự tu tập, tâm trí mở sáng, tự mình mới cứu được mình mà thôi.
Tăng hỏi:
– Thế nào được phần tự do?
Sư đáp:
– Hiện nay đối với ngũ dục bát phong lòng không lấy bỏ, xan tham tật đổ tham ái ngã sở đều hết, nhơ sạch chẳng còn, như mặt trời mặt trăng trong hư không, không duyên mà chiếu. Tâm tâm như cây đá, niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, cũng như con voi lớn qua sông vừa ùm xuống là đến bờ kia, không bị ngăn ngại. Người này không bị nhiếp thuộc về thiên đường hay địa ngục.
Người không nhiếp thuộc về thiên đường hay địa ngục, đó là người tự do. Như vậy muốn biết ngày sau mình có tự do hay không thì ngay khi tám gió thổi liền có thể biết. Đối với xan tham, tật đố v.v… không dính không động tức là giải thoát. Tâm tự như như tợ mặt trời mặt trăng, không duyên mà tự chiếu. Nghĩa là muốn giải thoát thì bước qua giải thoát một cách dễ dàng, cũng như con voi vừa ùm xuống sông liền tới bờ kia không gì khó khăn.
Phàm học kinh xem giáo lý, mỗi câu đều phải uyển chuyển xoay về nơi mình, tất cả ngôn giáo chỉ làm sáng tỏ tánh giác hiện nay của mình. Chỉ không bị tất cả cảnh có không… lôi, là Đạo sư của người, hay chiếu phá tất cả cảnh có không… là tuệ kim cang, tức có phần tự do tự tại. Nếu không hiểu được như thế, dù có tụng được mười hai phần giáo cũng chỉ thành tăng thượng mạn, lại là người chê bai Phật, không phải là người tu hành. Chỉ lìa tất cả thanh sắc, cũng chẳng trụ nơi lìa, chẳng trụ nơi tri giải, là người tu hành.
Kinh giáo cốt chỉ cho chúng ta nhận ra tánh giác của mình, vì vậy khi học kinh xem giáo lý mỗi mỗi đều phải soi về mình. Nếu cứ mắc kẹt vào văn tự ở bên ngoài thì không sao tu được. Chỉ không bị tất cả các cảnh có không lôi cuốn, là Đạo sư của người. Hay chiếu phá được tất cả cảnh có không, đó là tuệ kim cang. Như vậy là người tự do tự tại.
Nếu không hiểu được như thế, dù có tụng được mười hai phần giáo cũng chỉ thành tăng thượng mạn, lại là người chê bai Phật, không phải là người tu hành. Phần đông đọc kinh sách cốt chỉ để tăng thêm tri giải, không biết rằng tri giải càng nhiều mà không ngộ bản tâm, vẫn là trôi trong sanh tử chưa thể giải thoát. Dù đọc hết mười hai phần giáo, bàn thiền nói đạo thao thao cũng là chê bai Phật. Tại sao? Vì chỉ đem danh tướng chỉ dạy cho người, rốt cuộc cũng ở trong vòng lẩn quẩn, tức là chê bai Phật. Chỉ lìa tất cả thanh sắc, cũng chẳng trụ nơi lìa, chẳng trụ nơi tri giải, là người tu hành.
Đọc kinh xem giáo lý, nếu chiếu theo thế gian là việc tốt, nếu nhằm vào người minh lý thì thường đọc xem là kẻ bế tắc. Người Thập địa vượt ra, không đi vào vòng sanh tử, nhưng giáo lý tam thừa để trị bệnh tham sân… như hiện nay niệm niệm nếu có bệnh tham sân… thì trước phải trị nó, chẳng cần tìm cầu câu nghĩa hiểu biết. Hiểu biết thuộc về tham, tham thì trở thành bệnh. Như hiện nay chỉ lìa tất cả pháp có không, cũng lìa luôn cái lìa vượt ngoài ba câu (có, không, chẳng phải có chẳng phải không) tự nhiên cùng Phật không khác. Đã tự là Phật, lo gì Phật không biết cách nói. Chỉ e không phải là Phật, bị các pháp có không trói buộc chẳng được tự do.
Đọc kinh xem giáo lý, nếu chiếu theo thế gian là việc tốt, nếu nhằm vào người minh lý thì thường đọc xem là kẻ bế tắc. Lúc đang đọc kinh xem giáo lý tâm không nghĩ bậy, không làm điều xấu ác, tức nhiên đó là việc tốt. Nhưng tại sao đối với người minh lý, tức là người sống trở lại với tánh giác của mình, thì việc tụng đọc đó bị xem bế tắc? Vì đọc xem là tri giải, mà tri giải thì làm chướng ngại tâm như như của mình, nên ngài nói là kẻ bế tắc.
Đã tự là Phật, lo gì Phật không biết cách nói. Chúng ta đừng sợ không đọc sách nhiều rồi không có ngôn ngữ phong phú để diễn đạt những điều muốn nói, hoặc sợ buông hết trở thành ngu. Buông hết mới trở về với đức Phật của mình được. Mình đã đầy đủ Phật nhân, chỉ sợ không chịu thành tựu Phật quả. Phật tức là giác, giác rồi thì đầy đủ diệu dụng, biết căn cơ chúng sanh tùy theo đó mà giáo hóa, lo gì Phật không hiểu ngôn ngữ. Chỉ e không phải là Phật, bị các pháp có không trói buộc chẳng được tự do. Sợ mình chưa phải là Phật thôi, nếu thành Phật rồi thì không có gì vướng bận cả.
Bởi lý chưa vững, trước có phước trí, bị phước trí chở đi, như người nghèo ở trong cảnh sang. Không bằng trước vững lý, sau mới có phước trí. Nếu cần phước trí thì gặp việc liền nắm đất biến thành vàng, nắm vàng biến thành đất, biến nước biển thành tô lạc, đập núi Tu-di thành bụi nhỏ, hốt nước bốn biển dồn vào một lỗ chân lông, nơi một nghĩa làm vô lượng nghĩa, nơi vô lượng nghĩa làm một nghĩa.
Bởi lý chưa vững, trước có phước trí, bị phước trí chở đi, như người nghèo ở trong cảnh sang. Đây là lời cảnh tỉnh chúng ta. Nhiều người chỉ ham làm phước, mong được phước báu càng nhiều càng tốt. Hoặc có người thích được trí tuệ nên để tâm nghiên cứu kinh luận, chỉ lo học hỏi mà thôi. Người tu thích phước cầu trí đều là tốt, nhưng nếu đối với lý chưa vững mà trước mong có phước trí nhiều thì sẽ bị phước trí chở đi. Phước nhiều càng tăng ham muốn, trí nhiều dễ sanh loạn động. Sau khi chết phước trí đó dẫn mình lên cõi trời hay đưa đến nơi nào tương xứng để thọ hưởng phước trí, chứ không hướng tới giải thoát. Đó là nhân duyên chướng đạo, như người nghèo ở trong cảnh sang vậy.
Người nghèo ở trong cảnh sang là sao? Ví dụ có người trước đây là con quan Đốc phủ sứ danh tiếng giàu có, bây giờ sa cơ mỗi tháng không có một xu lương nào hết. Một thời sang cả nên hiện tại dù nghèo vẫn phải giữ thể diện của mình. Nếu có người mời dự đám tiệc chẳng lẽ chỉ đi năm mười đồng coi sao được. Với địa vị con Đốc phủ, ít nhất cũng phải đi vài ngàn mà trong túi không có đồng xu, phải làm sao? Có người vì rơi vào hoàn cảnh như vậy, thành phá sản nợ lấp đầu. Như những Phật tử trước đây giàu có, mỗi lần tới chùa cúng năm mười ngàn, không được, vì quen cúng nhiều rồi. Lúc đầu cũng ráng, sau dần dần biến mất, bởi không có gì cúng dường ngại quá không đi chùa nữa. Nên nói như người nghèo mà ở trong cảnh sang, nghèo ở trong cảnh nghèo dễ chịu, còn nghèo mà ở trong cảnh sang thì thật là khổ, vì chính cái sang đó nó làm khổ mình. Chúng ta tu chỉ lo cầu phước trí nhiều mà không đạt được lý đạo cũng tương tự như thế, rốt cuộc chính phước trí ấy làm khổ chúng ta vì lý chưa vững. Đó là chỗ quan trọng.
Không bằng trước vững lý, sau mới có phước trí. Tổ Bá Trượng nhắc nhở chúng ta tu trước phải thấy tánh, rồi sau làm gì cũng tốt. Nếu cần phước trí thì gặp việc liền nắm đất biến thành vàng v.v… Đạt được lý, ngộ bản tâm vững vàng rồi thì tất cả phước trí đều biến thành diệu dụng bất tư nghì. Ngược lại, nếu cầu phước trí mà không thấu suốt bản tâm, tức chưa đủ sức làm chủ thì phước trí ấy sẽ trở thành tai họa dẫn chúng ta đi vào các cõi luân hồi.
Có vị tăng hỏi:
Cuốc cỏ chặt cây, khai mương đào đất, có tướng tội báo chăng?
Sư đáp:
– Không thể nói quyết định có tội, cũng không thể nói quyết định không tội, có tội không tội việc tại mỗi người. Nếu tham nhiễm tất cả pháp có không…. có tâm lấy bỏ, còn chưa vượt khỏi ba câu, người này nhất định nói có tội. Nếu vượt ngoài ba câu, tâm như hư không, cũng chẳng tưởng hư không, người này nhất định nói không tội.
Lại nữa, nếu tạo tội rồi, nói không thấy có tội thì thật vô lý. Nếu không làm tội, mà nói có tội thì cũng vô lý. Như trong Luật, do mê giết người và chuyển tướng giết, còn không phạm tội sát. Huống là Thiền tông truyền trao nhau tâm như hư không, không dừng ở một vật, cũng không có tướng hư không, thì đem tội để ở chỗ nào?
Tăng hỏi: Cuốc cỏ chặt cây, khai mương đào đất, có tướng tội báo chăng? Qua câu hỏi chúng ta thấy rõ, thời tổ Bá Trượng chư tăng sinh hoạt nông thiền, nên việc cuốc cỏ chặt cây, khai mương đào đất v.v… là việc làm hằng ngày tại đây. Vị tăng này căn cứ trên giới luật thấy nghi, không biết làm như vậy là có tướng tội báo chăng?
Tổ đáp: Không thể nói quyết định có tội, cũng không thể nói quyết định không tội, có tội không tội việc tại mỗi người. Do đương sự mà thành có tội hay không tội, chứ không phải tại việc làm. Đây là chỗ quan trọng.
Nếu tham nhiễm tất cả pháp có không có tâm lấy bỏ, còn chưa vượt khỏi ba câu, người này nhất định nói có tội. Nếu vượt ngoài ba câu, tâm như hư không, cũng chẳng tưởng hư không, người này nhất định nói không tội. Nếu người tham nhiễm các pháp, tâm lấy bỏ chưa hết thì làm là có tội. Còn người tâm như hư không, không dấy niệm, không đuổi theo phải quấy hay dở thì không tội. Tại sao? Vì có tâm tức là có tội, vô tâm thì không tội.
Lại nữa, nếu tạo tội rồi, nói không thấy có tội thì thật vô lý. Nếu không làm tội, mà nói có tội thì cũng vô lý. Như trong Luật, do mê giết người và chuyển tướng giết, còn không phạm tội sát. Huống là Thiền tông truyền trao nhau tâm như hư không, không dừng ở một vật, cũng không có tướng hư không thì đem tội để ở chỗ nào?
Lại nữa, nếu tạo tội rồi, nói không thấy có tội thì thật vô lý. Ví dụ mình chửi mắng người khiến người nổi giận, rồi nói coi như tôi không có chửi mắng, được không? Nói thế để chứng tỏ rằng tại người kia chấp, còn tôi nói vậy thôi chứ không chấp. Chửi mắng cho vừa miệng mình, rồi nói không chấp, không tội, thật là vô lý. Nếu không chấp thì đừng chửi mắng, còn đã chửi mắng mà nói không chấp sao được? Chỗ này người tu phải nhớ cẩn trọng, đừng học trên lý rồi lấy lý mà che chở sai lầm, đó là nguy hại cho mình.
Nếu không làm tội, mà nói có tội thì cũng vô lý. Nếu người không làm tội mà nói người đó có tội, cũng là vô lý. Như trong Luật, do mê giết người và chuyển tướng giết, còn không phạm tội sát. Mê tức là lúc đó không có tâm cố ý giết. Chuyển tướng giết tức là làm việc này mà lầm qua việc kia. Ví dụ có người thấy trái xoài ở trên cây, lấy cục đá ném trái xoài cho rụng, không ngờ cục đá rớt trúng đầu đứa con nít chết. Nhắm trái xoài mà trúng đứa bé, người này không cố tình giết nên không phạm tội sát.
Giới luật là hình thức kim thúc giúp mình không phạm tội, mà giới luật còn cho rằng do mê giết người và chuyển tướng giết thì không phạm tội sát. Huống là Thiền tông truyền trao nhau tâm như hư không, không dừng ở một vật, cũng không có tướng hư không thì đem tội để ở chỗ nào? Nếu chúng ta sống được với tâm rỗng rang, lặng lẽ thanh tịnh như hư không thì tội lỗi cũng theo đó mà sạch, còn ngược lại thì phải chịu tội, không sao tránh khỏi quả báo.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là hữu tình không Phật tánh, vô tình có Phật tánh?
Sư đáp:
– Từ người đến Phật là tình chấp thánh, từ người đến địa ngục là tình chấp phàm. Chỉ như hiện nay đối hai cảnh phàm thánh có tâm nhiễm ái gọi là “hữu tình không Phật tánh”. Hiện nay đối hai cảnh phàm thánh và tất cả pháp có không…. trọn không có tâm lấy bỏ, cũng không cái hiểu biết không lấy bỏ, ấy là “vô tình có Phật tánh”. Chỉ không có tình ràng buộc nên gọi vô tình, không đồng với loài vô tình như cây đá, hư không, hoa vàng trúc biếc mà cho là có Phật tánh. Nếu nói loài vô tình ấy có Phật tánh, tại sao trong Kinh không thấy thọ ký được thành Phật? Chỉ cái giác chiếu soi hiện nay không bị hữu tình thay đổi, dụ như trúc biếc; ứng cơ biết thời, thiết dụ như hoa vàng.
Lại, nếu bước lên nấc thang Phật thì vô tình có Phật tánh, chưa bước lên nấc thang Phật thì hữu tình không Phật tánh.
Tăng hỏi: Thế nào là hữu tình không Phật tánh, vô tình có Phật tánh? Lâu nay người ta chỉ biết hữu tình có Phật tánh, vô tình không Phật tánh; trái lại các thiền sư nói: Hữu tình không Phật tánh, vô tình có Phật tánh, nghe như ngược ngạo. Thế nên vị tăng này nêu ra để hỏi.
Ngài đáp: Từ người đến Phật là tình chấp thánh, từ người đến địa ngục là tình chấp phàm. Chỉ như hiện nay đối hai cảnh phàm thánh có tâm nhiễm ái gọi là “hữu tình không Phật tánh”. Thấy có phàm thánh trên dưới khác biệt, sanh tâm ái nhiễm chấp trước, gọi là hữu tình không Phật tánh.
Hiện nay đối hai cảnh phàm thánh và tất cả pháp có không… trọn không có tâm lấy bỏ, cũng không cái hiểu biết không lấy bỏ, ấy là “vô tình có Phật tánh”. Đối với các pháp không có tâm lấy bỏ, không chấp trước vào phàm thánh đối đãi, ấy gọi là vô tình có Phật tánh.
Chỉ không có tình ràng buộc nên gọi vô tình, không đồng với loài vô tình như cây đá, hư không, hoa vàng trúc biếc mà cho là có Phật tánh. Vô tình là không có tình ràng buộc trong kiến chấp phàm thánh và các thứ tham ái, chứ không phải vô tình như cây đá.
Nếu nói loài vô tình ấy có Phật tánh, tại sao trong kinh không thấy thọ ký được thành Phật? Như trong kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký toàn là các bậc A-la-hán, những vị hữu học vô học, cho đến chư Bồ-tát và hội chúng, mà chưa thấy Phật thọ ký cho cây đá nào sẽ thành Phật. Như vậy rõ ràng, nói vô tình có Phật tánh tức là không có tình chấp phàm thánh mà thôi. Chỉ cái giác chiếu soi hiện nay không bị hữu tình thay đổi, dụ như trúc biếc; ứng cơ biết thời, thiết dụ như hoa vàng.
Lại, nếu bước lên nấc thang Phật thì vô tình có Phật tánh, chưa bước lên nấc thang Phật thì hữu tình không Phật tánh. Nếu bước lên được nấc thang Phật thì vô tình có Phật tánh, còn ngược lại thì hữu tình không Phật tánh. Nấc thang Phật là nấc thang nào? Tức là bước được vào chỗ chư Phật đã vào, chính chỉ cho tâm thanh tịnh sẵn có của mình.
Hằng ngày làm công tác, Sư đều dẫn đầu trong chúng. Một hôm, chúng tăng lén giấu dụng cụ không cho Sư làm, Sư tìm mãi không được, bảo:
– Tôi không có đức hạnh, đâu dám làm nhọc người.
Sư nhịn ăn hôm ấy, nên có câu “một ngày không làm, một ngày không ăn” (Nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực).
Sư có soạn bộ quy tắc trong nhà thiền, lấy tên là Bá Trượng Thanh Quy.
Đời Đường niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ chín (814) ngày mười bảy tháng giêng, Sư quy tịch, thọ 95 tuổi. Vua ban hiệu là Đại Trí thiền sư, tháp hiệu Đại Bảo Thắng Luân.
Hằng ngày làm công tác, Sư đều dẫn đầu trong chúng. Một hôm, chúng tăng lén giấu dụng cụ không cho Sư làm, Sư tìm mãi không được, bảo:
– Tôi không có đức hạnh, đâu dám làm nhọc người.
Sư nhịn ăn hôm ấy, nên có câu “một ngày không làm, một ngày không ăn”.
Ngài là Hòa thượng đường đầu, tức là bậc thầy của toàn viện, mà luôn luôn cần mẫn siêng năng, làm công tác dẫn đầu trong chúng. Chư tăng thấy ngài lúc này tuổi đã cao, nên lén giấu cuốc xẻng không cho ngài đi làm. Tìm hoài không được, ngài bảo: Tôi không có đức hạnh, đâu dám làm nhọc người. Không làm thì không ăn, hôm ấy ngài nhịn đói. Chư tăng thấy thế không dám giấu cuốc xẻng nữa. Về sau trong nhà thiền thường truyền nhau câu nói của ngài: nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực, một ngày không làm một ngày không ăn.
Như vậy, đường lối sinh hoạt thời của tổ Bá Trượng chính là nông thiền. Áp dụng thiền trong lao tác, làm ruộng rẫy vẫn có thể tu. Nếu chúng ta ứng dụng được tinh thần ấy vào trong cuộc sống thì thời nào tu cũng được, có làm thì có ăn, không gì phải lo sợ. Nhờ tinh thần này đã giúp cho một số tăng ni vượt qua giai đoạn pháp nạn ở Trung Hoa. Trong thời đại phế giáo, tăng ni bị bắt buộc phải hoàn tục, các ngài ở bên ngoài vui vẻ cuốc đất trồng khoai, sinh nhai và thầm tu tập như thường. Đến hết thời phế giáo thì trở về chùa cạo tóc tu lại, không có gì trở ngại hết, đó là nét đặc biệt của thiền tông.
Qua đây chúng ta thấy, tinh thần Thiền tông Trung Hoa có điểm đặc biệt. Dù cho sống vào thời đại nào cũng không bị lạc hậu. Ở các nước xã hội tiến bộ, mọi người đều phải tự làm lấy mà ăn, không ai làm nuôi ai hết. Tinh thần của tổ Bá Trượng được tiếp nhận và phổ cập trong các thiền viện, vừa làm vừa tu, không bị lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài.
Nguyên thủy Phật giáo tại Ấn Độ theo hình thức khất thực, các nước Phật giáo như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên đều theo phương thức này. Như vậy, Phật giáo truyền sang Trung Hoa đã được chuyển hướng, mang một sắc thái mới. Bởi vì ở Trung Hoa tăng ni tu học rất đông, tại các thiền viện chư tăng có đến năm bảy trăm hoặc cả ngàn người. Với số lượng đó nên phải khai rừng, phá núi trồng trọt mà ăn, mà tu.
Đặc biệt ở các chùa cổ Trung Hoa, coi như không tổ chức mà có tổ chức. Điển hình như chỗ Vân Môn, Quy Sơn v.v… chư tăng trong viện vừa làm vừa tu một cách đều đặn. Dù các vị tăng nay đi chỗ này, mai đi chỗ kia, du phương tham học. Thế nhưng khi được nhận vào, vừa treo đãy ở nhà khách tăng là bắt tay vào công tác ngay. Người ta cuốc đất mình cuốc đất, người ta trồng khoai mình trồng khoai… chứ không nói tôi là khách tới chơi, rồi tự do làm gì cũng được. Tăng hành khước đến đâu cũng đều phải như vậy, không được làm khách để người ta nuôi. Nhờ thế nên dù ở năm bảy tháng cũng không chướng ngại, không làm phiền người, chừng nào muốn đi chỗ khác thì đi, chẳng ai ngăn cản.
Chúng ta bây giờ tu tập trong các thiền viện, cũng áp dụng theo đường lối của tổ Bá Trượng, để sự tu hành không bị chướng ngại. Nếu cứ ngồi không, chỉ trông chờ vào Phật tử cúng thì khi gặp khó khăn không thể tu được. Đó là tinh thần đặc biệt của thiền tông, tuy làm cực nhọc như thế tục mà sự tu tập siêu việt, hơn hẳn thế tục.
Phật giáo Nhật Bản cũng như Việt Nam, đều chủ trương theo tinh thần này của tổ Bá Trượng. Bây giờ thời đại văn minh, cuộc sống tương đối sung túc, lại nhờ Phật tử thương ủng hộ, nên chúng ta không phải lao tác nặng nhọc như xưa. Tuy nhiên, phải nhớ đừng ỷ lại vào bên ngoài, vừa làm vừa tu mà không bị chướng đạo, đó mới là hay, là khéo.
Sư có soạn bộ quy tắc trong nhà thiền, lấy tên là Bá Trượng Thanh Quy.
Đời Đường niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ chín (814) ngày mười bảy tháng giêng, Sư quy tịch, thọ 95 tuổi. Vua ban hiệu là Đại Trí thiền sư, tháp hiệu Đại Bảo Thắng Luân.
Ngài có soạn bộ quy tắc trong nhà thiền để tên là Bá Trượng Thanh Quy. Sau này được khắc bản in lại, nhưng chỉ là bản sao chép bổ sung của người sau, còn bộ chính thì đã bị thất lạc. Ngài là một vị tổ rất quan trọng trong thiền tông, đường lối tu tập và sinh hoạt của ngài vạch ra cho tăng ni đã trở thành tiêu chuẩn chung cho thiền môn.
Sư họ Vương, quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu. Đời Đường niên hiệu Chí Đức thứ hai (758), Sư theo thiền sư Đại Huệ ở núi Đại Ngỗi xuất gia học đạo. Năm ba mươi tuổi, Sư lên núi Tung Nhạc thọ giới Cụ túc. Lúc đầu, Sư học tập Tướng tông và Luật tông, kế tìm đến các nơi giảng kinh luận thọ học. Sư đã học được kinh Lăng-già, Hoa Nghiêm, Trung Luận, Bách Luận.
Sau, Sư đến Mã Tổ bỗng nhiên “được cá quên nơm” (đạt lý quên lời), được Du hý tam-muội (chánh định ngao du tự tại).
Thiền sư Phổ Nguyện là một thiền sư nổi tiếng thời ấy. Nếu nói chỗ ngộ, có thể nói ngài ngộ sâu hơn tổ Bá Trượng, nhưng vì môn đệ của ngài truyền chỉ có ít đời nên không được chú ý nhiều.
Một hôm, Sư bưng cháo cho chúng tăng, Mã Tổ hỏi:
– Trong thùng thông là cái gì?
Sư thưa:
– Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì!
Mã Tổ bèn thôi. Từ đây về sau, những bạn đồng tham học không ai dám gạn hỏi Sư điều gì.
Niên hiệu Trinh Nguyên thứ mười một (795), Sư tạm biệt Mã Tổ đi tìm nơi cất am.
Chúng tăng đông quá nên bưng cả thùng cháo, Mã Tổ thấy hỏi, ngài liền nói: Ông già ngậm miệng nói năng làm gì! Sao ngài vô lễ quá vậy? Nếu bây giờ thầy trụ trì hỏi, một chú đạo trả lời như thế, chắc bị ăn gậy rồi. Nhưng lúc ấy Mã Tổ bèn thôi, không hỏi nữa.
Trong nhà thiền thường nói: “Đập bể thùng sơn.” Khi một người đã lãnh hội được, tức là thùng sơn bị lủng bể rồi. Hỏi trong thùng đựng cái gì, Mã Tổ không chỉ hỏi ở thùng cháo. Ngài biết ý của Mã Tổ, nhưng đó là chỗ vô ngôn vừa mở miệng là sai, nên nói ông già ngậm miệng nói năng làm gì. Chỗ này chúng ta không hiểu, nghe ngài nói năng như thế thấy sao vô lễ, nhưng với thiền sư thì khác. Qua đối đáp thầy trò đã hiểu nhau, nên Mã Tổ không nói tiếp nữa.
Sau khi rời Mã Tổ, Sư đồng đi với thiền sư Bảo Vân, Trí Thường, Trí Kiên cả thảy bốn người. Đến giữa đường, sắp từ biệt nhau, Sư cắm gậy xuống đất bảo:
– Nói được cũng bị cái này ngại, nói không được cũng bị cái này ngại.
Trí Thường liền nhổ gậy, đập Sư một gậy rồi nói:
– Cũng chỉ cái này, Vương lão sư nói cái gì ngại, chẳng ngại?
Bảo Vân nói:
– Chỉ một câu này truyền khắp thiên hạ.
Trí Thường hỏi:
– Lại có cái chẳng khắp chăng?
Bảo Vân đáp:
– Có.
Trí Thường hỏi:
– Thế nào là cái chẳng khắp?
Bảo Vân ra bộ tát tai.
Ngài từ giã Mã Tổ đi nơi khác, những vị cùng đi với ngài toàn là bậc thiện tri thức đương thời. Đến lúc sắp từ giã mỗi người đi một phương, ngài cắm gậy xuống đất bảo: Nói được cũng bị cái này ngại, nói không được cũng bị cái này ngại. Như vậy, làm sao nói? Trí Thường liền nhổ cây gậy đập ngài một gậy, rồi nói: Cũng chỉ cái này, Vương lão sư nói cái gì ngại chẳng ngại. Ngài Nam Tuyền họ Vương, nên được gọi là Vương lão sư.
Nói được cũng bị ngại, nói không được cũng bị ngại, là sao? Bởi được và không được là hai bên, còn hai bên thì nói ra lời gì cũng là bị ngại. Làm sao để ra khỏi chỗ này? Nhổ cây gậy đập cho một gậy. Muốn hết ngại thì phải thoát hai bên. Trí Thường đã qua được cái bẫy của ngài.
Bảo Vân nói: Chỉ một câu này truyền khắp thiên hạ. Trí Thường hỏi: Lại có cái chẳng khắp chăng? Bảo Vân nói: Có. Trí Thường hỏi: Thế nào là cái chẳng khắp? Bảo Vân ra bộ tát tai. Như vậy là sao? Hành động tát tai của Bảo Vân chính đã chỉ ra cái chẳng khắp. Vì ngôn ngữ không thể đến được chỗ vô ngôn, nên tạm dùng hành động, tát tai hoặc nhướn mày chớp mắt để nói lên mà thôi.
Bốn vị ngồi uống trà. Bảo Vân đưa chung trà lên nói:
– Khi thế giới chưa thành vẫn có cái này.
Sư bảo:
– Người nay chỉ biết cái này, chưa biết thế giới.
Trí Thường nói:
– Phải.
Sư bảo:
– Sư huynh đâu đồng cái thấy này.
Trí Thường lại đưa chung trà lên bảo:
– Khi thế giới chưa thành nói được chăng?
Sư ra bộ tát tai. Trí Thường đưa mặt nhận tát tai.
Bốn vị ngồi uống trà có nói kinh kệ gì không? Tuy nói đông nói tây, dường như đùa chơi, nhưng toàn là đạo lý trong đó. Chúng ta mở miệng thì thiền đạo đủ thứ, nào là Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, giải thoát v.v… Nhưng chỉ nói trên danh từ mà không biết Bồ-đề, Niết-bàn là gì. Bởi chúng ta cứ lý luận nên lạc vào phân biệt, còn các ngài không dùng từ ngữ thiền đạo, mà lời lời đều hiện chân như, giải thoát. Ra bộ tát tai và đưa mặt nhận tát tai, đâu không phải là diệu dụng trong chân như hay sao! Hành động như đùa, mà chứa đầy đạo lý sâu xa trong ấy.
Sư đến núi Nam Tuyền cất am, ở mãi hơn ba mươi năm chưa từng xuống núi. Niên hiệu Thái Hòa năm đầu (827), Liêm sứ Tuyên Thành là Lục Hoàn nghe đạo phong của Sư bèn cùng Giám quân đồng đến thỉnh Sư xuống núi, với tư cách đệ tử thỉnh thầy. Từ đây, Sư mở rộng đạo huyền, số người tham học không khi nào dưới vài trăm. Các nơi gọi Sư là “Người mô phạm đất Dĩnh”.
Ngài lên núi Nam Tuyền cất am ở, suốt ba mươi năm chưa từng xuống núi. Đạo phong của ngài cao vót, khiến cho mọi người đều quý trọng, gọi là “Người mô phạm đất Dĩnh”. Lanh lợi như ngài mà sau khi ngộ đạo rồi, vẫn ở yên trên núi mấy mươi năm, còn chúng ta là người gì mà lại lăng xăng một đời. Thử xét lại!
Dưới núi Nam Tuyền có một am chủ, có người nói: “Gần đây hòa thượng Nam Tuyền ra đời, sao ông không đến yết kiến?” Am chủ bảo: “Chẳng những Nam Tuyền ra đời, dù có ngàn đức Phật xuất thế, tôi cũng chẳng đến.”
Sư nghe lời này, bèn sai Tùng Thẩm (Triệu Châu) đi khám phá. Tùng Thẩm đến làm lễ, Am chủ chẳng thèm nhìn. Tùng Thẩm từ đông qua tây, lại từ tây qua đông, Am chủ cũng chẳng nhìn. Tùng Thẩm bảo: “Giặc cỏ đại bại”, bèn bỏ tấm mành xuống ra về. Tùng Thẩm thuật lại Sư nghe. Sư bảo:
– Ta từ lâu nghi lão ấy.
Triệu Châu khám phá am chủ, người sau gọi là cái nghi chết người, tông Vân Môn cũng thường nêu lại công án này.
Khi ngài đến trụ Nam Tuyền, dưới núi có một am chủ ở. Có người hỏi: Gần đây hòa thượng Nam Tuyền ra đời, sao không đến yết kiến? Am chủ bảo: Chẳng những Nam Tuyền ra đời, dù có ngàn đức Phật xuất thế tôi cũng chẳng đến. Trả lời oai chưa? Nghe vậy, ngài bèn sai Tùng Thẩm tức ngài Triệu Châu xuống gặp am chủ để nghiệm thử.
Triệu Châu đến làm lễ, rồi đi từ đông qua tây, từ tây qua đông đứng, am chủ cũng chẳng thèm nhìn. Triệu Châu bảo: Giặc cỏ đại bại. Thua rồi, giặc cỏ thua rồi! Bèn bỏ mành xuống ra về. Vậy là Triệu Châu khám phá am chủ chưa? Người nào thấy được chỗ khám phá của Triệu Châu? Nam Tuyền bảo: Ta từ lâu nghi lão ấy.
Một hôm, Sư đến trang sở, Trang chủ dự bị đón tiếp. Sư hỏi:
– Lão tăng ra vào thường không cho người biết, sao Trang chủ biết trước mà bày biện như vậy?
Trang chủ thưa:
– Đêm qua thổ địa mách ngày nay Hòa thượng đến.
Sư bảo:
– Vương lão sư tu hành vô lực bị quỷ thần xem thấy.
Thị giả hỏi:
– Hòa thượng đã là thiện tri thức, vì sao bị quỷ thần xem thấy?
Sư bảo:
Trước thổ địa để một phần cơm.
Trang sở là những khu đất làm ruộng rẫy hoặc lập vườn tược của thiền viện. Ngày xưa những ngôi tự viện trên núi cao thường lập trang sở phía dưới chân núi. Như hiện giờ, tạm xem Thường Chiếu là trang sở của Chơn Không vậy. Chơn Không ở trên núi cao, không thể trồng trọt, nên dưới đó cuốc rẫy trồng khoai, lâu lâu chở về núi để nuôi tăng ni tu học. Người chịu trách nhiệm trông coi trang sở thì gọi là trang chủ.
Một hôm ngài muốn xuống thăm trang sở, đến nơi thấy Trang chủ chuẩn bị đón tiếp trang trọng, ngài hỏi: Lão tăng ra vào thường không cho người biết, sao Trang chủ biết trước mà bày biện như vậy? Trang chủ thưa: Đêm qua thổ địa mách ngày nay Hòa thượng đến. Sở dĩ con biết để sửa soạn trang nghiêm như thế là do thổ địa báo tin. Nghe xong, ngài liền tự trách: Vương lão sư tu hành vô lực bị quỷ thần xem thấy. Lão tăng tu hành không có đạo lực, nên bị quỷ thần xem thấy tâm rồi!
Chúng ta đi đâu mà được thổ địa mách trước thì vui hay buồn? Chắc là vui lắm, tu hành như vậy còn ai hơn nữa. Đôi khi mới chỉ chiêm bao được mách bảo chút gì, nếu trùng hợp sự việc xảy ra đúng như lời mách đó thì mừng quýnh lên, khoe khoang với mọi người. Ngài được quỷ thần quý kính, nên báo tin trước để chuẩn bị đón tiếp cho long trọng, ngài chẳng những không vui mà còn tự trách mình, tu hành vô lực bị quỷ thần thấy tâm. Chỗ này chúng ta mới thấy mình thật đáng hổ thẹn.
Tại sao quỷ thần thấy được tâm ngài? Bởi dự tính là có động tâm. Hôm ấy ngài khởi tâm dự tính mai đi trang sở, nên thổ địa mới thấy được. Khởi niệm tức là tâm có động, mà tâm động là tu hành vô lực chứ gì! Nếu tâm không động, niệm không dấy khởi thì quỷ thần làm sao thấy được.
Bây giờ chúng ta có bị quỷ thần thấy tâm không? Quỷ thần thấy được tâm mình, chắc họ cười lắm. Sao cô này thầy kia chạy suốt ngày! Mới đây rồi tới kia, chạy ngược chạy xuôi. Giong ruổi đông tây như vậy là do không làm chủ tâm mình, nên nói tu hành vô lực. Chừng nào chúng ta tu đến độ quỷ thần muốn tìm mà tìm không ra, chừng đó mới là hay thật sự.
Thị giả nghe ngài nói như vậy, hỏi: Hòa thượng đã là thiện tri thức vì sao bị quỷ thần trông thấy? Ngài bảo: Trước thổ địa để một phần cơm. Đã nói là tu hành vô lực bị quỷ thần thấy, mà còn hỏi tại sao. Thôi, cúng cho thổ địa một bữa ăn đi!
Tùng Thẩm hỏi:
– Đạo chẳng ngoài vật, ngoài vật chẳng đạo, thế nào là đạo ngoài vật?
Sư liền đánh. Tùng Thẩm nắm gậy lại, nói:
– Từ đây về sau chớ có đánh lầm người.
Sư bảo:
– Rồng rắn dễ phân biệt, nạp tử khó lường.
Triệu Châu hỏi: Đạo chẳng ngoài vật, ngoài vật chẳng đạo, thế nào là đạo ngoài vật? Ngoài vật không có đạo, ngoài đạo không có vật, vậy mà còn hỏi thế nào là đạo ngoài vật, không ăn gậy là gì. Thế nên ngài đánh cho một gậy. Triệu Châu không phải tay vừa, liền nắm gậy lại nói: Từ đây về sau chớ đánh lầm người. Con hỏi vậy chứ con biết rồi, thầy đừng đánh. Ngài nói: Rồng rắn dễ phân biệt, nạp tử khó lường. Rồng rắn có lớn nhỏ, hình tướng khác nhau nên dễ biết, còn tăng sĩ ngộ hay chưa việc này khó lường, nên đánh lầm vậy thôi.
Một hôm, Sư đóng cửa phương trượng, lấy tro rắc ngoài cửa, bảo:
– Nếu có người nói được liền mở cửa.
Có nhiều vị tăng nói, mà không hợp ý Sư.
Tùng Thẩm nói:
– Trời xanh
Sư liền mở cửa.
Ngài đóng cửa phương trượng, lấy tro rắc xung quanh rồi bảo: Người nào nói được thì mở cửa, không nói được thì đóng cửa hoài. Người nói thế này, người đáp thế kia đều không hợp ý ngài, đến khi Tùng Thẩm kêu lên: Trời xanh! Ngài mới mở cửa.
Sư dạy chúng:
– Mã Tổ ở Giang Tây nói “tức tâm tức Phật”. Vương lão sư chẳng nói thế ấy, mà nói “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật”. Nói thế có lỗi chăng?
Tùng Thẩm lễ bái đi ra. Khi ấy có vị tăng theo hỏi Tùng Thẩm:
– Thượng tọa lễ bái đi ra, ý thế nào?
Tùng Thẩm bảo:
– Thầy nên hỏi Hòa thượng.
Vị tăng ấy đến hỏi Sư:
– Hành động vừa rồi của thượng tọa Thẩm, ý thế nào?
Sư bảo:
– Ông ấy đã nhận được ý chỉ của lão tăng.
Mã Tổ ở Giang Tây giáo hóa người, thường nói tức tâm tức Phật. Có vị tăng hỏi: “Hòa thượng vì cái gì mà nói tức tâm tức Phật?” Mã Tổ đáp: “Vì dỗ con nít khóc.” Tăng hỏi tiếp: “Con nít nín rồi thì thế nào?” Mã Tổ đáp: “Phi tâm phi Phật.” Tăng hỏi: “Người trừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?” Mã Tổ đáp: “Nói với y là bất thị vật.” Tăng thưa: “Khi chợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?” Mã Tổ nói: “Hãy dạy y thể hội đại đạo.” Ngài nhắc lại lời nói của Mã Tổ để dạy chúng, Triệu Châu bước ra lễ bái, tức là đã hội thông được lời chỉ dạy của thầy.
Như vậy, nói chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật chính là chỉ thẳng đến chỗ cứu cánh. Nếu còn ở trong ấy tìm xem lỗi hay không lỗi, tức là chưa ngộ được lý kia. Ngài Tùng Thẩm đã lãnh hội được, nên liền lễ ngài lui ra, còn người đứng ngoài thì không thể biết được làm như vậy là có ý chỉ gì.
Nhà Đông nhà Tây tranh nhau con mèo, Sư trông thấy liền bảo chúng:
– Nói được là cứu con mèo, nói không được thì chém nó.
Chúng tăng đều ngơ ngác không nói được. Sư liền chém con mèo. Tùng Thẩm ở ngoài đi vào, Sư dùng câu nói trước hỏi. Tùng Thẩm liền cởi giày để trên đầu đi ra. Sư bảo:
– Giá khi nãy có ngươi ở đây, đã cứu được con mèo.
Hai dãy nhà ở hai bên Pháp đường để cho chúng tăng ở, gọi là nhà Đông nhà Tây. Chúng tăng hai nhà giành nhau một con mèo, ngài thấy thế liền bước ra nắm lấy con mèo, cầm dao đưa lên bảo: Nói được là cứu con mèo, còn nói không được thì ngài chặt nó. Cả chúng ngơ ngác, không biết làm sao, cũng không nói được câu nào. Ngài bèn chặt con mèo. Tàn nhẫn quá, phải không?
Tùng Thẩm ở ngoài đi vào, ngài lặp lại câu hỏi trước, Tùng Thẩm liền cởi giày đội lên đầu đi ra. Ngài bảo: Giá khi nãy có ngươi ở đây đã cứu được con mèo. Như vậy có phải ngài cố tình giết con mèo không, nếu không cố tình tại sao ngài lại chặt nó?
Trong nhà thiền khi muốn nghiệm xét đệ tử ngộ hay chưa, đã sống được hay không, các thiền sư thường dùng thủ thuật bất thình lình đưa ra câu hỏi, hoặc hành động gì đó. Nếu người nào phản ánh đúng lúc kịp thời thì biết người ấy hằng sống với tâm thể của mình. Ngược lại, không biết xoay xở thế nào, đó là người không hiểu hoặc hiểu mà chưa sống được. Còn dùng lý thuyết để suy nghiệm mà biết thì cái biết đó chưa phải thấy tánh.
Trong trường hợp này, ngài phải dùng phương tiện mạnh bạo để nghiệm xét đồ đệ của mình. Như vậy giết con mèo không phải cố tình, mà dụng ý của ngài chính là nhằm vào chúng tăng. Nếu ngay đó chúng tăng nói được một câu phù hợp, ngài đã không giết con mèo. Lúc bức vào chỗ sống chết mà vẫn không người nói được, buộc lòng ngài phải hạ dao. Đây là việc làm đau lòng, là hành động bất đắc dĩ của ngài. Nhưng đã nói thì phải làm, nếu nói mà không làm, lần sau lời nói không còn quan trọng nữa.
Triệu Châu là người ngay lúc bất thần vẫn hằng sống được, nên khi nghe nói lại liền lột giày đội lên đầu đi ra. Ngài nói: Phải chi lúc nãy có ngươi, đã cứu được con mèo. Đáng tiếc, khi ấy không có Triệu Châu, nếu có thì sự việc đã khác. Cởi giày đội trên đầu đi, tức là không mắc nơi phàm cũng không kẹt ở thánh. Theo thế gian đầu là quý, giày là tiện, đem cái tiện để trên cái quý tức đã nói lên ý nghĩa phàm thánh không hai. Không còn tâm niệm vướng mắc vào phàm tình thánh giải, mới thực là người hằng sống trong chỗ chân thật. Triệu Châu đã giải đáp được câu hỏi của ngài. Như vậy ngài vì chúng tăng mà làm việc đó, chứ không phải vì ác tâm muốn giết con mèo. Hiểu tường tận rồi chúng ta mới không trách lầm.
Việc tu của chúng ta cũng vậy, nếu đi đứng nằm ngồi đều sống được trong chỗ chân thật thì đâu có phút giây nào trống để cái khác chen vô. Nhưng do chưa sống được, nên bình thường tỉnh táo cũng nhớ biết mình chút chút, song đến lúc gặp việc bất thần thì quên tuốt. Như đêm ba mươi mà trời lại sấm sét chuyển mưa, lâu lâu chớp lóe sáng lên rồi tối đen lại liền. Chúng ta làm sao lúc nào cũng sáng tự ban ngày, đừng để bóng tối phủ che khiến cho không thấy đường đi. Mỗi ngày cần phải hằng sống được với cái chân thật của chính mình, để cho sự tu ngày càng thuần thục thì gặp việc gì cũng tỉnh được. Như người thường niệm danh hiệu Quan Âm, lâu dần thành thói quen, mỗi khi có việc giật mình liền thốt lên “Nam-mô Quan Thế Âm Bồ-tát”. Bởi đã niệm quá quen rồi, nên mở miệng là phát ra. Việc tu cũng vậy, huân tập thuần thục thì mở mắt nhắm mắt đều hiện tiền. Vì vậy khi bất thần là lúc nghiệm người chính xác nhất.
Đại phu Lục Hoàn hỏi Sư:
– Trong nhà đệ tử có một phiến đá, hoặc khi ngồi hoặc khi nằm, nay tính đem làm tượng Phật được chăng?
Sư đáp:
– Được.
Đại phu hỏi:
– Chẳng được chăng?
Sư đáp:
– Chẳng được.
Đại phu hỏi:
– Bồ-tát Đại Bi dùng nhiều mắt tay như thế để làm gì?
Sư hỏi lại:
– Quốc gia dùng Đại phu để làm gì?
Như vậy làm tượng Phật được hay không được? Có ai thử trả lời xem!
Lục đại phu nêu câu hỏi: Trong nhà đệ tử có một phiến đá, hoặc khi ngồi hoặc khi nằm, nay tính đem làm tượng Phật được chăng? Ngài đáp: Được. Theo quan niệm thường tình, nếu phiến đá đã nằm ngồi trên đó mà đem làm tượng Phật là tội. Thế nên ngài đáp được, là nhằm phá chấp. Nhưng câu đáp này cũng ngầm ý rằng, tuy ở đời sống phàm tình vẫn không rời xa thánh trí, trong phàm phu là Phật. Lục đại phu là người hiểu đạo, nên hỏi ngược lại: Chẳng được chăng? Ngài đáp: Chẳng được. Thế là hai bên đã hội thông nhau rồi.
Lục đại phu lại hỏi: Bồ-tát Đại Bi dùng nhiều mắt tay như thế để làm gì? Ngài hỏi lại: Quốc gia dùng Đại phu để làm gì? Ngài trả lời câu hỏi của Lục Hoàn đại phu chưa? Trong một quốc gia có các vị quan là để lo việc cho dân, như vậy một vị quan là một cái dụng, nhiều vị quan là nhiều cái dụng của đất nước. Cũng thế, Bồ-tát Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt, đó chính là diệu dụng của ngài, không có gì lạ.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Vương lão sư từ nhỏ nuôi một con trâu đực, tính thả ăn ở khe đông, sợ e không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương; tính thả ăn ở khe tây, cũng sợ e không khỏi phạm nước cỏ của quốc vương; chi bằng tùy thời nhận chút ít, trọn chẳng thấy được.
Ngài nuôi trâu rất kỹ, không thả ăn bên đông cũng không qua bên tây, không mắc kẹt vào bên nào hết, chỉ tùy thời nhận chút ít mà mọi người trọn chẳng thấy được. Con trâu ngài nói là trâu nào? Chúng ta cũng có nuôi con trâu này, nhưng trâu của ngài đã thuần thục còn trâu của mình hoang quá, thả rong thập phương chứ không phải chỉ ở bốn phương thôi. Phương nào nó cũng chạy vào, phạm đủ chỗ, ăn đủ thứ cỏ nước. Do đó trọn ngày lăng xăng, cứ đuổi theo điên đảo.
Thiền sư Lâm Tế nói: “Tùy duyên tiêu cựu nghiệp, nhậm vận trước y xiêm.” Câu nói này cùng câu nói của ngài giống nhau. Không chạy qua đông cũng không sang tây, chỉ sống tùy duyên tùy thời mà không dính không mắc.
Sư thượng đường bảo:
– Phật Nhiên Đăng nói: “Nếu tâm tướng khởi nghĩ sanh ra các pháp là hư giả chẳng thật.” Vì cớ sao? Vì tâm còn không có, làm sao sanh ra các pháp, ví như bóng phân biệt hư không, như người lấy tiếng để trong rương, cũng như thổi lưới muốn được đầy hơi. Cho nên Lão túc bảo “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật”. Nói thế là dạy các huynh đệ chỗ đi vững chắc. Nói: “Bồ-tát Thập địa trụ chánh định Thủ-lăng-nghiêm được pháp tạng bí mật của chư Phật, tự nhiên được tất cả thiền định giải thoát thần thông diệu dụng, đến tất cả thế giới khắp hiện sắc thân, hoặc thị hiện thành Phật chuyển bánh xe đại pháp, vào Niết-bàn, khiến vô lượng vào một lỗ chân lông, nói một câu trải vô lượng kiếp cũng không hết nghĩa, giáo hóa vô lượng ngàn ức chúng sanh được vô sanh pháp nhẫn, còn gọi là sở tri ngu.” Sở tri ngu rất vi tế cùng đạo trái nhau. Rất khó, rất khó! Trân trọng!
Ngài dẫn lời đức Phật Nhiên Đăng nói trong kinh: Nếu tâm tướng khởi nghĩ sanh ra các pháp, là hư giả chẳng thật. Các pháp có mặt là do tâm sanh, nhưng tâm có thật không? Nếu biết tâm không thật thì các pháp cũng không thật. Vì cớ sao? Vì tâm còn không có, làm sao sanh ra các pháp. Tâm chúng ta suy nghĩ đây kia, chợt có chợt không, nên nói không thật. Tâm đã không thật, làm sao sanh ra các pháp. Các pháp không thật thì có gì để nói là thêm bớt, là sanh diệt, nhơ sạch.
Ví như bóng phân biệt hư không, như người lấy tiếng để trong rương, cũng như thổi lưới muốn được đầy hơi. Ngài chỉ cho thấy: chính tâm chúng ta còn không thật, huống là các pháp từ tâm sanh ra. Nếu chấp các pháp là thật, chẳng khác nào người ngu, bóng không biết gì mà bảo bóng phân biệt hư không, lấy tiếng đem nhốt trong rương, lấy lưới thổi lên muốn đầy hơi như bong bóng… Những việc này hoàn toàn không thể được.
Cho nên Lão túc bảo “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật”. Đây là dẫn lời Mã Tổ nói. Bởi dấy niệm nên có các pháp sanh, biết niệm không thật thì rõ pháp cũng không thật. Vậy thì, nói tâm nói Phật nói vật đó cũng đều từ niệm sanh. Cho nên phủ nhận tất cả, mà nói chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật. Nói thế là dạy các huynh đệ chỗ đi vững chắc. Bởi cốt dạy cho chúng ta nhận ra chỗ chân thật, nên các ngài phải nói như vậy mà thôi.
Nói: “Bồ-tát Thập địa trụ chánh định Thủ-lăng- nghiêm được pháp tạng bí mật của chư Phật, tự nhiên được tất cả thiền định giải thoát thần thông diệu dụng, đến tất cả thế giới khắp hiện sắc thân, hoặc thị hiện thành Phật chuyển bánh xe đại pháp, vào Niết-bàn, khiến vô lượng vào một lỗ chân lông, nói một câu trải vô lượng kiếp cũng không hết nghĩa, giáo hóa vô lượng ngàn ức chúng sanh được vô sanh pháp nhẫn, còn gọi là sở tri ngu.” Sở tri ngu rất vi tế cùng đạo trái nhau. Rất khó, rất khó! Trân trọng!
Bồ-tát tu tới đây rồi mà còn bị gọi là sở tri ngu vi tế. Sở tri ngu vẫn chưa hợp đạo.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Các ngươi! Lão tăng lúc mười tám tuổi đã biết kế sống. Có ai biết kế sống ra trình, sẽ cùng ngươi thương lượng, người ấy mới đáng ở núi.
Sư lặng thinh giây lâu, nhìn đại chúng chắp tay, nói:
– Vô sự, trân trọng! Mỗi người tự tu hành.
Đại chúng vẫn ngồi yên. Sư bảo:
– Huynh đệ! Người thời nay gánh Phật để trên vai mà đi, nghe lão tăng nói: “Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo”, bèn hội họp suy nghĩ. Lão tăng không có chỗ để các ngươi suy nghĩ. Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được, lão tăng sẽ cho suy nghĩ.
Có vị tăng ra hỏi:
– Tổ sư từ trước cho đến Đại sư ở Giang Tây đều nói “tức tâm là Phật”, “tâm bình thường là đạo”. Nay Hòa thượng nói “tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo”, học nhân ắt sanh nghi ngờ, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy.
Sư đáp:
– Ngươi nếu là Phật thì đâu còn phải nghi mà hỏi. Lão tăng chỗ nào có nhà bên cạnh nghi Phật như thế đâu. Lão tăng chẳng phải Phật cũng chẳng từng thấy Tổ sư, ngươi nói như thế, tự tìm Tổ sư đi!
Tăng thưa:
– Hòa thượng nói như thế, dạy học nhân làm sao phù trì được?
Sư bảo:
– Ngươi mau lấy tay bắt hư không đi!
Tăng thưa:
– Hư không không tướng không động, làm sao mà bắt?
Sư bảo:
– Ngươi nói không tướng không động tức là động vậy. Hư không đâu biết nói “ta không tướng không động”. Đây đều là tình kiến của ngươi.
Tăng thưa:
– Hư không không tướng không động còn là tình kiến, trước Hòa thượng dạy con bắt hư không là còn vật gì?
Sư bảo:
– Ngươi đã biết không nên nói bắt, mà lại nghĩ làm sao phù trì?
Tăng thưa:
– Tức tâm là Phật đã chẳng được, thị tâm tác Phật được chăng?
Sư bảo:
– Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật, do tình chấp mà có, đều bởi tưởng mà thành. Phật là người trí, tâm là chủ nhóm phân biệt, khi đối vật phát ra diệu dụng. Đại đức chớ nhận tâm nhận Phật, dù nhận được cảnh ấy vẫn còn bị người gọi là sở tri ngu. Cho nên Đại sư ở Giang Tây bảo: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.” Lại dạy người sau các ông hành trì như thế. Người học thời nay mặc y phục nhà bên cạnh nghi như thế, muốn được rảnh việc có được chăng?
– Đã chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật, nay Hòa thượng lại nói “tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo”, chưa biết thế nào?
– Ngươi chẳng nhận tâm là Phật, trí là đạo, lão tăng chợt được tâm lại để chỗ nào?
– Đã hoàn toàn chẳng được thì đâu khác hư không?
– Đã chẳng phải vật làm sao so với hư không, lại nói cái gì là khác chẳng khác?
– Chẳng lẽ không cái chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật?
– Ngươi nếu nhận cái ấy, lại thành tâm Phật rồi.
– Thỉnh Hòa thượng nói.
Lão tăng tự chẳng biết.
– Tại sao chẳng biết?
– Bảo ta nói làm sao.
– Đành chẳng cho học nhân hội đạo sao?
– Hội đạo gì? Lại làm sao hội?
– Con không biết.
– Không biết lại tốt. Nếu bám lấy lời lão tăng thì gọi là Y thông nhân” (người nương tựa bên ngoài), dù gặp Phật Di-lặc ra đời cũng bị ngài nhổ hết lông đầu.
– Dạy người sau thế nào?
– Ngươi tự xem, chớ lo những người sau.
– Trước Hòa thượng chẳng cho con hội thông, giờ lại bảo con tự xem, chưa biết thế nào?
– Thầm hội, diệu hội, làm sao cho ngươi hội.
Thế nào là diệu hội?
– Lại muốn học ngữ của lão tăng. Dù có nói cũng là lão tăng nói, còn Đại đức thế nào?
– Con nếu tự hội thì đâu phiền xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy?
– Không thể chỉ đông chỉ tây lừa người. Ngươi khi còn khóc tu oa tu oa, sao chẳng đến hỏi lão tăng? Bây giờ khôn ngoan mới nói “con chẳng hội”, mong cái gì? Nếu người đời này lọt lòng mẹ bèn nói “ta xuất gia làm thiền sư”, vậy khi chưa xuất gia từng làm việc gì, hãy nói xem? Ta sẽ cùng ngươi thương lượng.
Khi ấy con chẳng biết.
– Đã chẳng biết thì hiện nay nhận được, có thể phải sao?
– Nhận được đã chẳng phải, không nhận được phải chăng?
– Nhận, chẳng nhận là lời nói gì?
– Đến đây con càng chẳng hội.
– Ngươi nếu chẳng hội, ta cũng chẳng hội.
– Con là học nhân tức chẳng hội, Hòa thượng là thiện tri thức phải hội.
– Chỉ nói với ngươi chẳng hội, ai luận thiện tri thức. Chớ khôn xảo! Xem như Mã Tổ lúc còn tại tiền, có một học sĩ đến hỏi: “Như nước không gân xương hay thắng thuyền muôn đấu, lý này thế nào?” Mã Tổ bảo: “Ở đây không nước cũng không thuyền, luận gì gân xương.” Huynh đệ! Học sĩ ấy bèn thôi, đâu không tỉnh lực. Sở dĩ thường thường nói với các ngươi, Phật không hội đạo, ta tự tu hành, dùng biết để làm gì.
– Thế nào là tu hành?
– Không thể nghĩ lường, đâu thể nói với người tu thế này, hành thế này. Đại nạn!
– Lại cho học nhân tu hành chăng?
– Lão tăng không thể ngăn ngươi.
– Con làm sao tu hành?
– Cần hành thì hành, không nên chuyên tầm bọn khác.
– Nếu không nhờ thiện tri thức chỉ dạy thì không do đâu được hội. Như Hòa thượng mọi khi nói “tu hành phải hiểu mới được, nếu không hiểu thì rơi vào nhân quả, không có phần tự do”, chưa biết tu hành thế nào khỏi vào nhân quả?
– Lại chẳng cần thương lượng. Nếu luận tu hành thì chỗ nào chẳng hành được?
– Thế nào hành được?
– Ngươi không thể theo bọn kia tìm được.
– Hòa thượng chưa nói, dạy con làm sao tìm?
– Giả sử nói chỗ tìm đó, vả như ngươi từ sáng đến tối chợt đi đông đi tây, ngươi còn không suy nghĩ nói, đi được chẳng được, người khác không thể biết được ngươi.
– Ngay khi đi đông đi tây toàn không suy nghĩ, là phải chăng?
– Khi ấy ai nói là phải chẳng phải?
Sư thượng đường dạy chúng:
Các ngươi! Lão tăng lúc mười tám tuổi đã biết kế sống. Có ai biết kế sống ra trình, sẽ cùng ngươi thương lượng, người ấy mới đáng ở núi.
Sư lặng thinh giây lâu, nhìn đại chúng chắp tay, nói:
– Vô sự, trân trọng! Mỗi người tự tu hành.
Đại chúng vẫn ngồi yên.
Ngài mười tám tuổi đã biết kế sống, chúng ta bây giờ bao nhiêu tuổi rồi, có biết kế sống chưa? Nếu biết thì bước ra trình, sẽ cùng thương lượng. Người biết được kế sống mới xứng đáng ở núi. Nói xong, ngài im lặng nhìn đại chúng, rồi chắp tay nói: Vô sự, trân trọng! Mỗi người tự tu hành. Đại chúng vẫn ngồi yên, không ai ra thưa trình gì cả.
Sư bảo:
Huynh đệ! Người thời nay gánh Phật để trên vai mà đi, nghe lão tăng nói: “Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo”, bèn hội họp suy nghĩ. Lão tăng không có chỗ để các ngươi suy nghĩ. Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được, lão tăng sẽ cho suy nghĩ.
Tất cả lời ngài nói ra, chủ yếu là để chúng ta hội được cái không suy nghĩ. Trái lại, chúng ta cứ bám vào ngôn ngữ rồi sanh suy nghĩ, không biết rằng càng suy nghĩ lại càng trái đạo. Thế nên ngài nói: Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được, lão tăng sẽ cho suy nghĩ. Ai trói được hư không, thử làm coi?
Có vị tăng ra hỏi:
Tổ sư từ trước cho đến Đại sư ở Giang Tây đều nói “tức tâm là Phật”, “tâm bình thường là đạo”. Nay Hòa thượng nói “tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo”, học nhân ắt sanh nghi ngờ, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy.
Sư đáp:
– Ngươi nếu là Phật thì đâu còn phải nghi mà hỏi. Lão tăng chỗ nào có nhà bên cạnh nghi Phật như thế đâu. Lão tăng chẳng phải Phật cũng chẳng từng thấy Tổ sư, ngươi nói như thế, tự tìm Tổ sư đi!
Vị tăng này nghi: Từ tổ Bồ-đề-đạt-ma cho đến Mã Tổ ở Giang Tây đều nói tức tâm tức Phật, tâm bình thường là đạo, mà sao bây giờ ngài nói tâm không phải Phật, trí không phải đạo? Ngài đáp: Ngươi nếu là Phật thì đâu còn phải nghi mà hỏi? Nếu tin chắc tâm là Phật thì còn nghi gì nữa. Nghe người nói thế này thế kia rồi sanh nghi ngờ, tức chưa tin tâm mình là Phật. Lão tăng chỗ nào có nhà bên cạnh nghi Phật như thế đâu. Nghi tức là còn mắc kẹt bên ngoài, không thấy được tự tâm, nên gọi người bên cạnh. Lão tăng chẳng phải Phật, cũng chẳng từng thấy Tổ sư. Bởi nghe nhận theo bên ngoài, chứ chưa rõ việc bên trong của chính mình. Vậy thì, tự tìm Tổ sư đi!
Nói tức tâm tức Phật, tâm bình thường là đạo, hoặc nói tâm không phải Phật, trí không phải đạo v…. cũng chỉ nhằm giúp cho người tin nhận được tâm Phật của chính mình. Người ngộ được ngay tâm này là Phật, dù ai nói đông nói tây vẫn không lay động; còn kẻ chưa nhận được, nghe nói khác liền sanh nghi ngờ. Phần đông chúng ta bây giờ nghe nói chân tâm, Phật tánh, Như Lai tạng v.v… không hiểu tại sao chỗ này nói tên này, chỗ kia nói tên khác. Đây là rơi vào danh từ, người này chưa biết gì về chân tâm, Phật tánh… nên mới khởi nghi như vậy.
Tăng thưa:
– Hòa thượng nói như thế, dạy học nhân làm sao phù trì được?
Sư bảo:
– Ngươi mau lấy tay bắt hư không đi!
Tăng thưa:
– Hư không không tướng không động, làm sao mà bắt?
Sư bảo:
– Ngươi nói không tướng không động tức là động vậy. Hư không đâu biết nói “ta không tướng không động”. Đây đều là tình kiến của ngươi.
Tăng thưa:
– Hư không không tướng không động còn là tình kiến, trước Hòa thượng dạy con bắt hư không là còn vật gì?
Sư bảo:
– Ngươi đã biết không nên nói bắt, mà lại nghĩ làm sao phù trì
Đã là vô tướng mà nghĩ phù trì! Ngài bảo bắt hư không chính là để phá chấp trong câu hỏi làm sao phù trì đó. Nếu là kẻ lanh lợi thì nghe câu này hiểu liền. Vị tăng này chậm lụt quá, nên không nhận ra ý chỉ trong lời dạy của ngài.
Tăng thưa:
– Tức tâm là Phật đã chẳng được, thị tâm tác Phật được chăng?
Sư bảo:
– Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật, do tình chấp mà có, đều bởi tưởng mà thành. Phật là người trí, tâm là chủ nhóm phân biệt, khi đối vật phát ra điệu dụng. Đại đức chớ nhận tâm nhận Phật, dù nhận được cảnh ấy vẫn còn bị người gọi là sở tri ngu. Cho nên Đại sư ở Giang Tây bảo: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.” Lại dạy người sau các ông hành trì như thế. Người học thời nay mặc y phục nhà bên cạnh nghi như thế, muốn được rảnh việc có được chăng?
Người học đạo thời nay cứ mượn lời người này, gom nhóm lời người kia, đem ra nói thiền nói đạo mà không nhận được tâm mình. Đây gọi là mặc y phục nhà bên cạnh. Vay mượn lời người khác tức là còn nằm trong tình chấp, chưa được rảnh rang.
Học thiền là phải nhận thẳng, chứ không nên chấp theo lời người khác nói. Dù lời đó hay đến mấy đi nữa, cũng là câu nói của người chứ không phải của mình. Người học thời nay mang nhiều lớp áo vay mượn của nhà bên cạnh, rồi khoe đẹp khoe hay, hoàn toàn không có cái thật của mình. Đó là chỗ dở của chúng ta bây giờ.
– Đã chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật, nay Hòa thượng lại nói “tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo”, chưa biết thế nào?
– Ngươi chẳng nhận tâm là Phật, trí là đạo, lão tăng chợt được tâm lại để chỗ nào?
– Đã hoàn toàn chẳng được thì đâu khác hư không?
Đã chẳng phải vật làm sao so với hư không, lại nói cái gì là khác chẳng khác?
– Chẳng lẽ không cái chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật?
– Ngươi nếu nhận cái ấy, lại thành tâm Phật rồi.
– Thỉnh Hòa thượng nói.
– Lão tăng tự chẳng biết.
– Tại sao chẳng biết?
– Bảo ta nói làm sao.
– Đành chẳng cho học nhân hội đạo sao?
– Hội đạo gì? Lại làm sao hội?
– Con không biết.
– Không biết lại tốt. Nếu bám lấy lời lão tăng thì gọi là Y thông nhân (người nương tựa bên ngoài), dù gặp
Phật Di-lặc ra đời cũng bị ngài nhổ hết lông đầu.
– Dạy người sau thế nào?
– Ngươi tự xem, chớ lo những người sau.
Không chịu xoay lại nhận ra cái sẵn có ngay nơi mình, cứ chấp trên ngôn ngữ danh tự thì bao giờ thấy đạo được. Nghe các ngài nói, rồi bám vào những lời nói đó cho là hay, là thông suốt thì đến Phật Di-lặc ra đời cũng không giác ngộ.
– Trước Hòa thượng chẳng cho con hội thông, giờ lại bảo con tự xem, chưa biết thế nào?
– Thầm hội, diệu hội, làm sao cho ngươi hội.
– Thế nào là diệu hội?
– Lại muốn học ngữ của lão tăng. Dù có nói cũng là lão tăng nói, còn Đại đức thế nào?
– Con nếu tự hội thì đâu phiền xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy?
Không thể chỉ đông chỉ tây lừa người. Ngươi khi còn khóc tu oa tu oa, sao chẳng đến hỏi lão tăng? Bây giờ khôn ngoan mới nói “con chẳng hội”, mong cái gì? Nếu người đời này lọt lòng mẹ bèn nói “ta xuất gia làm thiền sư”, vậy khi chưa xuất gia từng làm việc gì, hãy nói xem? Ta sẽ cùng ngươi thương lượng.
Ngài có chỉ chưa? Hồi còn khóc tu oa sao không tới hỏi, bây giờ khôn ngoan nói hội chẳng hội. Đó là lời nói của phân biệt, phi lý.
– Khi ấy con chẳng biết.
– Đã chẳng biết thì hiện nay nhận được, có thể phải sao?
– Nhận được đã chẳng phải, không nhận được phải chăng?
– Nhận, chẳng nhận là lời nói gì?
– Đến đây con càng chẳng hội.
– Ngươi nếu chẳng hội, ta cũng chẳng hội.
– Con là học nhân tức chẳng hội, Hòa thượng là thiện tri thức phải hội.
– Chỉ nói với ngươi chẳng hội, ai luận thiện tri thức. Chớ khôn xảo! Xem như Mã Tổ lúc còn tại tiền, có một học sĩ đến hỏi: “Như nước không gân xương hay thắng thuyền muôn đấu, lý này thế nào?” Mã Tổ bảo: “Ở đây không nước cũng không thuyền, luận gì gân xương.” Huynh đệ! Học sĩ ấy bèn thôi, đâu không tỉnh lực. Sở dĩ thường thường nói với các ngươi, Phật không hội đạo, ta tự tu hành, dùng biết để làm gì.
Như nước không gân xương hay thắng thuyền muôn đấu, lý này thế nào? Đây là dẫn câu nói của Bàng Uẩn hỏi Mã Tổ. Mã Tổ bảo: Ở đây không nước cũng không thuyền luận gì gân xương. Huynh đệ! Học sĩ ấy bèn thôi, đâu không tỉnh lực. Nghe qua nhận liền mới là người có tỉnh lực, còn nói câu nào hỏi câu nấy, càng hỏi càng kẹt vào ngôn ngữ, làm sao thấy được đạo.
Sở dĩ thường thường nói với các ngươi Phật không hội đạo, ta tự tu hành, dùng biết để làm gì? Phật không hội đạo, tức là Phật không nghĩ mình hội đạo. Mỗi người tự tu hành đi!
– Thế nào là tu hành?
– Không thể nghĩ lường, đâu thể nói với người tu thế này, hành thế này. Đại nạn!
– Lại cho học nhân tu hành chăng?
– Lão tăng không thể ngăn ngươi.
– Con làm sao tu hành?
– Cần hành thì hành, không nên chuyên tầm bọn khác.
– Nếu không nhờ thiện tri thức chỉ dạy thì không do đâu được hội. Như Hòa thượng mọi khi nói “tu hành phải hiểu mới được, nếu không hiểu thì rơi vào nhân quả, không có phần tự do”, chưa biết tu hành thế nào khỏi vào nhân quả?
Lại chẳng cần thương lượng. Nếu luận tu hành thì chỗ nào chẳng hành được?
– Thế nào hành được?
– Ngươi không thể theo bọn kia tìm được.
– Hòa thượng chưa nói, dạy con làm sao tìm?
– Giả sử nói chỗ tìm đó, vả như ngươi từ sáng đến tối chợt đi đông đi tây, ngươi còn không suy nghĩ nói, đi được chẳng được, người khác không thể biết được ngươi.
– Ngay khi đi đông đi tây toàn không suy nghĩ, là phải chăng?
– Khi ấy ai nói là phải chẳng phải?
Việc tu hành không thể nghĩ lường, đâu thể nói tu thế này, hành thế kia. Nói như thế là đại họa. Tu hành là chuyện của chính mình, không ai ngăn cản hết, nhưng phải tu hành thế nào mới gọi là phù hợp? Cần hành thì hành không nên chuyên tầm bọn khác. Ngay đó cần hành thì hành, đừng chạy theo bên ngoài suy tìm. Tại sao?
Như ngươi từ sáng đến tối chợt đi đông đi tây, ngươi còn không suy nghĩ nói, đi được chẳng được, người khác không thể biết được ngươi. Suốt ngày đi đứng một cách tự nhiên, không nghĩ không tưởng, dứt các lỗi lầm, người khác không thể biết được mình.
Vị tăng nghe thế liền hỏi: Vậy thì, ngay khi đi đông đi tây toàn không suy nghĩ, là phải chăng? Ngài đáp: Khi ấy ai nói là phải chẳng phải. Ngài chỉ thẳng mà khéo vô cùng, nhưng vì con mắt trí tuệ của chúng ta vạch hoài mở cũng không ra. Người khéo thì ngay đó liền thấy rõ, tin chắc không còn ngờ vực nữa.
Có vị tăng hỏi:
– Trong hư không có một hạt châu làm sao lấy được?
Sư bảo:
– Chặt tre làm thang bắc trong hư không lấy.
– Trong hư không làm sao bắc thang?
– Ngươi nghĩ thế nào lấy?
Vị tăng hỏi như vậy chúng ta thấy có lý không? Hạt châu mà đem bỏ trong hư không, rồi hỏi làm sao lấy. Ngài bảo: Chặt tre làm thang bắc trong hư không lấy. Nhưng trong hư không làm sao bắc thang? Ngươi nghĩ thế nào lấy? Nếu không bắc thang thì làm sao lấy được? Nghĩ muốn lấy tức hạt châu là cái bị lấy, thành ta có năng có sở rồi, nên ngài đáp như thế.
Sư dạy chúng:
– Chỉ hội được tánh từ vô lượng kiếp đến giờ không biến đổi tức tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ tức là hạnh Bồ-tát. Đạt các pháp không, diệu dụng tự tại, sắc thân tam-muội rõ ràng. Hành sáu ba-la-mật không, thì nơi nơi không ngại, dạo trong địa ngục như xem vườn đẹp, không thể nói y chẳng được tác dụng. Chúng sanh từ vô lượng kiếp đến giờ quên bản tánh, chẳng tự liễu ngộ chân thể, bị mây trần che lấp, đắm mê sắc dục, như mây bay thấy trăng chạy, thuyền đi thấy bờ dời, tạm thời chia đường, chẳng được tự tại, thọ các thứ khổ chẳng tự hiểu biết. Đến hôm nay hội được tánh bản lai, tánh ấy cùng hiện giờ không khác.
Ngài chỉ cho thấy mọi người đều sẵn có tánh bản lai không đổi dời, nhận được tánh đó thì việc tu hành mới tự tại. Ngược lại, chẳng khác nào người ngồi dưới đất, thấy mây bay tưởng là trăng chạy. Như kẻ trong thuyền, thuyền di chuyển mà nhìn ngỡ bờ dời. Nghĩa là ngay trong cái thật lại thấy sai lầm, thành ra lệch lạc.
Sư sắp tịch, đệ nhất tọa hỏi:
– Sau khi Hòa thượng trăm tuổi đi về chỗ nào?
Sư bảo:
– Làm con trâu dưới núi.
Tăng hỏi:
– Con theo Hòa thượng được chăng?
Sư bảo:
– Nếu ngươi muốn theo ta, phải ngậm theo một bó cỏ.
Niên hiệu Thái Hòa thứ tám (834) ngày hai mươi lăm tháng chạp, Sư có chút bệnh. Sáng hôm sau, Sư bảo chúng:
– Sao che đèn huyễn đã lâu, chớ bảo ta có đi lại. Sư nói xong liền tịch, thọ 87 tuổi.
Chết rồi làm con trâu, nghe buồn quá phải không? Người thế gian chấp theo ngôn ngữ văn tự, nghe ngài nói như vậy ắt sẽ cho rằng, hòa thượng Nam Tuyền là một thiền sư nổi tiếng, tu hành ba mươi năm không xuống núi, vậy mà đến chết còn làm con trâu, thấy ngán chưa? Chỗ này mọi người cần phải hiểu cho thấu đáo.
Trước đây ngài nói có nuôi một con trâu, bây giờ ngài chết dĩ nhiên cũng làm con trâu mà thôi. Nhưng chúng ta phải nhớ, con trâu của ngài nói là con trâu gì? Con trâu đó “không ăn cỏ bên tây, cũng không ăn cỏ bên đông”.
Câu nói này hàm chứa hai nghĩa:
Một là để chỉ con trâu của ngài đã thuần thục, tức là ngài hằng sống nơi pháp thân thanh tịnh của mình. Sống với pháp thân thì chết cũng trở về pháp thân, chứ không đi nơi nào khác.
Hai là với cái nhìn của ngài, thánh phàm không sai biệt. Chúng ta thường thấy thánh khác phàm khác, Phật cao tột còn súc sanh là thấp kém, thế nên ai tu cũng mong thành Phật. Ngài nói làm trâu, tức là vượt khỏi tình lượng của phàm và thánh.
Sắp tịch, ngài bảo: Sao che đèn huyễn đã lâu, chớ bảo ta có đi lại. Đây là lời nói từ biệt chúng. Người xưa tin rằng mỗi người có một ngôi sao hay ngọn đèn đại diện cho bổn mạng nguyên thần của mình; khi sao rơi, đèn tắt là khí dương hết, ra đi. Sao mệnh bị che mờ lâu rồi, đèn huyễn sắp tắt bây giờ là lúc trở về; pháp thân vốn không đến đi, thế nên chớ bảo ta có đi lại. Bọt ở trong biển, tan trở về biển vậy thôi.
Nói xong ngài tịch, thọ 87 tuổi.
Sư họ Châu, quê ở Kiến Châu, theo hòa thượng Đạo Trí chùa Đại Vân ở Việt Châu xuất gia học đạo.
Sư đến Giang Tây tham vấn Mã Tổ. Mã Tổ hỏi:
– Từ đâu đến?
Sư thưa:
– Ở chùa Đại Vân, Việt Châu đến
– Đến đây tính cầu việc gì?
– Đến cầu Phật pháp.
– Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta ở đây không có một vật, cầu Phật pháp gì?
Sư lễ bái, thưa:
– Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?
– Chính nay ngươi hỏi ta, là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.
Ngay câu này, Sư tự nhận bản tâm không do hiểu biết, vui mừng lễ tạ.
Phần hành trạng của thiền sư Huệ Hải, chúng ta đã học trong Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn, nên ở đây không giảng lại, chỉ nói những chỗ cần nhắc mà thôi.
Đầu tiên ngài đến Mã Tổ, cầu học Phật pháp. Mã Tổ bảo: Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta ở đây không có một vật, cầu Phật pháp gì? Ngài thưa: Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải? Mã Tổ đáp: Chính ngay ngươi hỏi ta là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng đâu nhờ tìm cầu bên ngoài. Ngay câu này ngài tự nhận bản tâm không do hiểu biết.
Ngài chỉ hỏi một câu mà đã tìm ra kho báu, từ đó về sau tự do sử dụng không thiếu thốn, còn chúng ta lâu rồi sao tìm chưa ra? Tại vì kho báu của mình chôn sâu quá! Ngay nơi nói năng, trong tất cả hành động, mọi động tác thi vi… có cái nào không phải là kho báu của mình. Nhưng vì không chịu ngay đó nhận, cứ đi đông đi tây cầu người chỉ cho kho báu. Kho báu hiện sờ sờ, nếu khéo nhận thì qua một câu liền nhận được, mặc tình sử dụng.
Sư ở hầu Mã Tổ sáu năm. Sau vì bổn sư tuổi già, Sư phải về phụng dưỡng. Từ đây, Sư tàng ẩn chỗ thâm ngộ của mình, chỉ hiện bề ngoài như kẻ tầm thường. Sư có soạn quyển Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận, bị Huyền Án là cháu trong pháp môn lén lấy đến trình Mã Tổ. Mã Tổ xem xong, bảo chúng: “Việt Châu có Đại Châu (hạt châu lớn) tròn sáng thấu suốt tự tại không ngại.” Khi ấy ở trong chúng có người biết Sư họ Châu bèn rủ nhau lần lượt tìm đến Sư, thưa hỏi và nương tựa. Từ đó người ta gọi Sư là Đại Châu hòa thượng.
Sư bảo những vị đến tham vấn:
– Thiền khách! Tôi chẳng hội thiền, trọn không có một pháp có thể chỉ dạy người, không phiền các vị đứng lâu, hãy tự thôi đi.
Tuy vậy mà học chúng dần dần thêm đông, ngày đêm thưa hỏi. Sư bất đắc dĩ vì hỏi giải đáp, biện tài không ngại.
Ngài Huệ Hải nghe một câu nói liền lãnh hội, nhưng vẫn ở lại chỗ Mã Tổ sáu năm. Sau do bổn sư tuổi già nên ngài phải về phụng dưỡng. Từ đây ngài ẩn chỗ hiểu ngộ của mình, chỉ làm việc bình thường của một đệ tử hầu thầy. Lúc rảnh, ngài có soạn quyển Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn. Người cháu trong đạo tên Huyền Án lén lấy đem trình Mã Tổ. Mã Tổ xem xong, nói: Ở Việt Châu có hạt châu lớn tròn sáng thấu suốt tự tại không ngại. Mã Tổ khen ngợi mà không nói người nào, nhưng trong chúng nghe thì biết là ngài, cho nên rủ nhau tìm tới.
Thấy mọi người tựu về đông đảo, ngài thượng đường nói: Thiền khách! Tôi chẳng hội thiền, trọn không có một pháp có thể chỉ dạy người, không phiền các vị đứng lâu, hãy tự thôi đi.
Lối nói của ngài tương tự Mã Tổ. Mã Tổ nói “ta không có một pháp để chỉ dạy cho người”, còn ngài thì nói “tôi chẳng hội thiền”. Người học đạo thời nay nếu nghe nói vậy, chắc là cuốn gói chạy đi mất rồi. Phải không? Còn ngài nói như thế mà chúng vẫn tập ngày càng thêm đông. Bởi chúng đến học đông, ngài bất đắc dĩ phải dùng biện tài vô ngại giải đáp những nghi vấn cho họ.
Có vài vị pháp sư đến hỏi:
– Định hỏi một câu, Thầy có vui lòng đáp lại chăng?
Sư bảo:
– Bóng trăng dưới đầm sâu, mặc ý mò bắt.
– Thế nào là Phật?
– Hồ nước trong đối diện, chẳng phải Phật là gì?
Các vị ấy ngơ ngác không biết gì cả. Giây lâu có vị lại hỏi:
– Thầy nói pháp gì độ người?
– Bần đạo chưa từng có một pháp gì độ người.
– Các thiền sư đều như thế.
– Đại đức nói pháp gì độ người?
– Giảng kinh Kim Cang Bát-nhã.
– Giảng được bao nhiêu lần?
– Hơn hai mươi lần.
– Kinh này ai nói?
Pháp sư tằng hắng lên giọng gắt:
– Thiền sư khéo nói đùa, há không biết Phật nói sao?
“Nếu nói Như Lai có nói pháp là chê bai Phật, người ấy không hiểu nghĩa ta nói” (kinh Kim Cang). Nếu nói kinh này không phải Phật nói, tức là phi báng Kinh. Thỉnh Đại đức nói xem?
Pháp sư im lặng không đáp được. Sư lại hỏi:
– Kinh nói: “Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.” Đại đức hãy nói, cái gì là Như Lai?
– Đến chỗ này tôi mê hẳn.
– Từ trước đến giờ chưa từng ngộ, nói cái gì là mê?
Thỉnh Thiền sư vì tôi nói.
– Đại đức giảng Kinh hơn hai mươi lượt, lại chưa biết Như Lai?
– Pháp sư lại lễ bái, cầu xin chỉ dạy.
Sư bảo:
– Như Lai là nghĩa như của các pháp, đâu thể quên được.
Phải. Là nghĩa như của các pháp.
– Đại đức nói phải, cũng chưa phải.
Văn Kinh rõ ràng đâu thể chưa phải?
– Đại đức Như chăng?
– Như.
– Cây cỏ Như chăng?
– Như.
– Đại đức Như, đồng cây cỏ Như chăng?
– Không hai.
Đại đức cùng cây cỏ đâu khác?
Pháp sư không đáp được, im lặng giây lâu lại hỏi:
– Thế nào được Đại Niết-bàn?
– Chẳng tạo nghiệp sanh tử.
– Thế nào là nghiệp sanh tử?
– Cầu Đại Niết-bàn là nghiệp sanh tử, bỏ như lấy sạch là nghiệp sanh tử, có đắc có chứng là nghiệp sanh tử, không vượt khỏi môn đối trị là nghiệp sanh tử.
– Thế nào chóng được giải thoát?
– Vốn tự không phược (trói buộc) chẳng cần cầu giải thoát, dùng thẳng hành thẳng là không thứ bậc.
Pháp sư khen:
– Thiền sư như Hòa thượng thật là ít có.
Khen xong, pháp sư lễ tạ lui ra.
Có vài vị pháp sư đến hỏi:
– Định hỏi một câu, Thầy có vui lòng đáp lại chăng?
Sư bảo:
– Bóng trăng dưới đầm sâu, mặc ý mò bắt.
– Thế nào là Phật?
– Hồ nước trong đối diện, chẳng phải Phật là gì?
Các vị ấy ngơ ngác không biết gì cả. Giây lâu có vị lại hỏi:
– Thầy nói pháp gì độ người?
– Bần đạo chưa từng có một pháp gì độ người.
Các thiền sư đều như thế.
Các vị pháp sư muốn hỏi đạo, nhưng không biết ngài có vui lòng đáp chăng? Ngài nói: Bóng trăng dưới đầm sâu, mặc ý mò bắt. Ngôn ngữ nói ra chẳng khác nào bóng trăng ở dưới đầm sâu, thấy có mà không phải thật, nhưng nếu khéo thì nhận được rõ ràng.
Pháp sư hỏi: Thế nào là Phật? Ngài đáp: Hồ nước trong đối diện, chẳng phải Phật là gì? Có ai thấy được hồ nước trong đó chưa? Ngài chỉ thẳng mà các vị này ngơ ngác không hiểu. Bởi thông thường cứ theo từ ngữ giải thích Phật là giác v.v… nên nghe nói hồ nước trong đối diện thì mờ mịt không biết, nào ngờ thiền sư đã chỉ ra lẽ thật không chút giấu giếm.
Lát sau, pháp sư khác hỏi: Thầy nói pháp gì độ người? Ngài đáp: Bần đạo chưa từng có một pháp gì độ người. Nghe thế vị này liền ra vẻ mình là một pháp sư: Các thiền sư đều như thế! Pháp sư nói pháp này pháp nọ cao siêu, còn thiền sư không có một pháp nào để dạy cho người. Pháp sư chẳng dè không có một pháp cho người, đó mới thật sự là chỗ chí lý.
– Đại đức nói pháp gì độ người?
– Giảng kinh Kim Cang Bát-nhã.
– Giảng được bao nhiêu lần?
– Hơn hai mươi lần.
– Kinh này ai nói?
Pháp sư tằng hắng lên giọng gắt:
– Thiền sư khéo nói đùa, há không biết Phật nói sao?
“Nếu nói Như Lai có nói pháp là chê bai Phật, người ấy không hiểu nghĩa ta nói.” Nếu nói kinh này không phải Phật nói, tức là phỉ báng Kinh. Thỉnh Đại đức nói xem?
Pháp sư im lặng không đáp được. Sư lại hỏi:
– Kinh nói: “Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.” Đại đức hãy nói, cái gì là Như Lai?
– Đến chỗ này tôi mê hẳn.
– Từ trước đến giờ chưa từng ngộ, nói cái gì là mê?
– Thỉnh Thiền sư vì tôi nói.
– Đại đức giảng Kinh hơn hai mươi lượt, lại chưa biết Như Lai?
Pháp sư lại lễ bái, cầu xin chỉ dạy.
Nghe pháp sư nói ra vẻ tự đắc, giảng kinh Kim Cang có hơn hai mươi lần, thấy như oai quá, ngài liền hỏi: Kinh này ai nói? Một câu hỏi hết sức đơn giản. Đối với pháp sư từng giảng kinh Kim Cang như thế, mà hỏi câu này quả là tầm thường. Pháp sư tằng hắng lên giọng gắt: Thiền sư khéo nói đùa, há không biết Phật nói sao? Ngài dẫn ngay kinh Kim Cang để hỏi lại: “Nếu nói Như Lai có nói pháp là chê bai Phật, người ấy không hiểu nghĩa ta nói.” Nếu nói kinh này không phải Phật nói, tức là phỉ báng Kinh. Thỉnh đại đức nói xem? Pháp sư đến đây hết lời rồi, bị một câu hỏi của ngài, lặng thinh không đáp được.
Ngài lại hỏi tiếp: Kinh nói: “Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, người ấy hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.” Đại đức hãy nói cái gì là Như Lai? Pháp sư tới đây bí hoàn toàn: Đến chỗ này tôi mê hẳn. Ngài quở: Từ trước đến giờ chưa từng ngộ, nói cái gì là mê? Trước giờ có ngộ đâu mà nói mê! Pháp sư chịu thua Thỉnh Thiền sư vì tôi nói. Ngài quở thêm: Đại đức giảng Kinh hơn hai mươi lượt lại chưa biết Như Lai. Pháp sư lễ bái cầu xin chỉ dạy.
Sư bảo:
Như Lai là nghĩa như của các pháp, đâu thể quên được.
– Phải. Là nghĩa như của các pháp.
– Đại đức nói phải, cũng chưa phải.
– Văn Kinh rõ ràng đâu thể chưa phải?
– Đại đức Như chăng?
– Như.
– Cây cỏ Như chăng?
– Như.
– Đại đức Như, đồng cây cỏ Như chăng?
– Không hai.
– Đại đức cùng cây cỏ đâu khác?
Như vậy mình và cây cỏ không hai, không khác. Chúng ta biết nói, còn cây cỏ đâu biết nói, sao lại không khác? Nguy rồi! Pháp sư tưởng đáp đúng, không ngờ bị kẹt.
Pháp sư không đáp được, im lặng giây lâu lại hỏi:
– Thế nào được Đại Niết-bàn?
– Chẳng tạo nghiệp sanh tử.
– Thế nào là nghiệp sanh tử?
– Cầu Đại Niết-bàn là nghiệp sanh tử, bỏ nhơ lấy sạch là nghiệp sanh tử, có đắc có chứng là nghiệp sanh tử, không vượt khỏi môn đối trị là nghiệp sanh tử.
– Thế nào chóng được giải thoát?
– Vốn tự không phược chẳng cần cầu giải thoát, dùng thẳng hành thẳng là không thứ bậc.
Pháp sư khen:
– Thiền sư như Hòa thượng thật là ít có.
Khen xong, pháp sư lễ tạ lui ra.
Sao gọi là dùng thẳng, hành thẳng? Thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe, đi đứng nằm ngồi đừng thêm niệm nghĩ suy tính toán. Người sống được như vậy là người vượt thứ bậc, là giải thoát. Lối nói của ngài không khác tổ Bồ-đề-đạt-ma. Pháp sư lúc mới đến đầy kiêu khí, tới đây hoàn toàn bị ngài nhiếp phục, nên tán thán: Thiền sư như Hòa thượng thật là ít có.
Có vị cư sĩ đến hỏi:
– Tức tâm tức Phật, cái gì là Phật?
Sư bảo:
– Ông nghi cái gì không phải Phật chỉ ra xem!
Cư sĩ lặng thinh. Sư nói tiếp:
– Đạt thì khắp cảnh là Phật, chẳng ngộ hằng trái xa.
Cư sĩ nghe nói tức tâm tức Phật, nên đến hỏi ngài: Cái gì là Phật? Ngài hỏi lại: Ông nghi cái gì không phải Phật, chỉ ra xem! Cư sĩ mờ mịt chẳng hiểu nên im lặng không trả lời được. Ngài nói tiếp: Đạt thì khắp cảnh là Phật, chẳng ngộ hằng trái xa. Nếu thấu đạt, tức tỏ ngộ rồi thì cảnh nào cũng là Phật, còn không thì ngay trước mắt mà vẫn không nhận ra.
Có luật sư hiệu Pháp Minh đến nói:
– Các thiền sư phần nhiều rơi vào không.
Sư bảo:
– Trái lại, các tọa chủ phần nhiều rơi vào không.
Pháp Minh hoảng sợ hỏi:
– Tại sao rơi vào không?
– Kinh luận là giấy mực văn tự, giấy mực văn tự đều là không, dù trên tiếng dựng lập danh cú văn thân, đâu chẳng phải là không, Tọa chủ bám chặt vào giáo thể đâu chẳng rơi vào không?
– Thiền sư rơi vào không chăng?
– Chẳng rơi vào không.
– Vì sao chẳng rơi vào không?
– Văn tự… đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào không.
– Nên biết một pháp không đạt, chẳng gọi là tất-đạt.
– Luật sư chẳng những rơi vào không, lại còn dùng lầm danh ngôn.
Pháp Minh đổi sắc mặt, hỏi:
– Lầm chỗ nào?
– Luật sư chưa rành âm Trung Hoa và Phạn, làm sao giảng thuyết?
– Thỉnh Thiền sư chỉ ra chỗ lầm của Pháp Minh.
– Đâu chẳng biết “tất-đạt” là tiếng Phạn sao?
Pháp Minh tuy nhận thấy lỗi, mà tâm vẫn còn giận, lại hỏi:
– Phàm Kinh Luật Luận là lời Phật, đọc tụng y giáo phụng hành, sao chẳng thấy tánh?
– Như chó điên đuổi bóng, sư tử cắn người. Kinh Luật Luận là tự tánh dụng, người đọc tụng là tánh pháp.
– Phật A-di-đà có cha mẹ và họ chăng?
– Phật A-di-đà họ Kiều-thi-ca, cha tên Nguyệt Thượng, mẹ tên Thù Thắng Diệu Nhan.
– Xuất phát từ kinh điển nào?
– Xuất phát từ tập Đà-la-ni. Pháp Minh lễ tạ khen ngợi lui ra.
– Có luật sư hiệu Pháp Minh đến nói:
– Các thiền sư phần nhiều rơi vào không.
Sư bảo:
– Trái lại, các tọa chủ phần nhiều rơi vào không.
Pháp Minh hoảng sợ hỏi:
– Tại sao rơi vào không?
– Kinh luận là giấy mực văn tự, giấy mực văn tự đều là không, dù trên tiếng dựng lập danh cú văn thân, đâu chẳng phải là không, Tọa chủ bám chặt vào giáo thể đâu chẳng rơi vào không?
Vị luật sư này cho rằng những người tu thiền thường chấp không, nên nói: Các thiền sư phần nhiều rơi vào không. Ngài bảo: Trái lại, các tọa chủ phần nhiều rơi vào không. Tại sao? Bởi vì kinh luận là giấy mực văn tự, khi dựng lập thấy có từng bài, từng câu, từng lời, từng đoạn, nhưng nếu đem chia chẻ ra thì không có gì thật cả, chỉ là một mớ nhân duyên giả hợp, tự tánh của nó là không. Bám vào mớ nhân duyên giả hợp đó cho là thật, chẳng phải rơi vào không là gì!
– Thiền sư rơi vào không chăng?
– Chẳng rơi vào không.
– Vì sao chẳng rơi vào không?
– Văn tự… đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào không.
– Nên biết một pháp không đạt, chẳng gọi là tất-đạt.
– Luật sư chẳng những rơi vào không, lại còn dùng lầm danh ngôn.
Pháp Minh đổi sắc mặt, hỏi:
– Lầm chỗ nào?
– Luật sư chưa rành âm Trung Hoa và Phạn, làm sao giảng thuyết?
– Thỉnh Thiền sư chỉ ra chỗ lầm của Pháp Minh.
– Đâu chẳng biết “tất-đạt” là tiếng Phạn sao?
Pháp sư tuy được nghe giải thích vẫn chưa chấp nhận, nên hỏi lại: Thiền sư rơi vào không chăng? Ngài nói: Chẳng rơi vào không. Pháp sư hỏi: Vì sao chẳng rơi vào không? Ngài đáp: Văn tự đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào không. Người ta thường cho rằng tu thiền là rơi vào không, ở đây ngài chỉ cho thấy rõ, tu thiền là trở về với trí tuệ thanh tịnh của chính mình. Trí tuệ thanh tịnh đó không lúc nào vắng mặt, đầy đủ diệu dụng, lưu xuất ra bao ngôn ngữ văn tự. Luôn sống với cái thực tại hiện tiền thì làm sao rơi vào không được? Nếu cho rằng tu thiền là chấp không, tức là không hiểu chữ Không của đạo Phật.
Pháp Minh nói: Nên biết một pháp không đạt, chẳng gọi là tất-đạt. Luật sư này nói tất-đạt, tức là thấu suốt rốt ráo. Nếu còn một pháp không hiểu thì không thể đạt được rốt ráo. Nhưng không ngờ bị ngài bẻ lại: Luật sư chẳng những rơi vào không, lại còn dùng lầm danh ngôn. Nghe quở Luật sư xấu hổ quá đổi sắc mặt, hỏi: Lầm chỗ nào? Ngài nói: Luật sư chưa rành âm Trung Hoa và Phạn, làm sao giảng thuyết? Luật sư lúc này đuối lý: Thỉnh Thiền sư chỉ ra chỗ lầm của Pháp Minh. Ngài nói: Đâu chẳng biết tất-đạt là tiếng Phạn sao? Tất-đạt là tiếng Phạn, ngôn ngữ Trung Hoa và Phạn mà luật sư còn chưa rành thì làm sao giảng thuyết được.
Pháp Minh tuy nhận thấy lỗi mà tâm vẫn còn giận, lại hỏi:
– Phàm Kinh Luật Luận là lời Phật, đọc tụng y giáo phụng hành, sao chẳng thấy tánh?
– Như chó điên đuổi bóng, sư tử cắn người. Kinh Luật Luận là tự tánh dụng, người đọc tụng là tánh pháp.
– Phật A–di–đà có cha mẹ và họ chăng?
– Phật A-di-đà họ Kiều-thi-ca, cha tên Nguyệt Thượng, mẹ tên Thù Thắng Diệu Nhan.
– Xuất phát từ kinh điển nào?
– Xuất phát từ tập Đà-la-ni.
Pháp Minh lễ tạ khen ngợi lui ra.
Luật sư Pháp Minh mặc dù thấy lỗi, nhưng vẫn còn tức giận nên hỏi: Phàm kinh luật luận là lời Phật, đọc tụng y giáo phụng hành, sao chẳng thấy tánh? Ngài đáp câu này hơi bạo: Như chó điên đuổi bóng, sư tử cắn người. Tại sao? Bởi Kinh Luật Luận là tự tánh dụng, tức là cái dụng của tự tánh, do Phật ngộ đạo rồi nói ra. Chúng ta đọc tụng lại lời của Phật, y theo đó phụng hành, nên nói người đọc tụng là tánh pháp. Như vậy, kinh luật luận là dụng, người đọc tụng là sự, tức là cái bóng của tự tánh, chứ không phải thể. Tụng đọc thế ấy thì làm sao thấy tánh, làm sao ngộ được tự tâm.
Vị luật sư này muốn bắt bí Thiền sư, nên không hỏi đạo lý nữa mà quay sang hỏi: Phật A–di–đà có cha mẹ và họ chăng? Ngài đáp rành rẽ khiến cho Luật sư hết sức khen ngợi, lễ bái rồi lui ra.
Có vị pháp sư thông tam tạng đến hỏi:
– Chân như có biến đổi chăng?
Sư đáp:
– Có biến đổi.
– Thiền sư lầm.
– Đại đức có chân như chăng?
– Có.
– Nếu không biến đổi, quyết định Đại đức là phàm tăng. Đâu chẳng nghe: “Thiện tri thức hay chuyển ba độc thành ba món tịnh giới, chuyển sáu thức thành sáu thần thông, chuyển phiền não thành Bồ-đề, chuyển vô minh thành đại trí chân như” Nếu không biến đổi, Đại đức thật là ngoại đạo chủ trương tự nhiên vậy.
– Nếu vậy chân như tức có biến đổi?
– Nếu chấp chân như có biến đổi cũng là ngoại đạo.
– Thiền sư vừa nói chân như có biến đổi, giờ lại nói không biến đổi, vậy thế nào thật đúng?
– Nếu người thấy tánh rõ ràng, như hạt châu ma-ni hiện sắc, nói biến đổi cũng được, nói không biến đổi cũng được. Nếu người không thấy tánh, nghe nói chân như biến đổi bèn hiểu biến đổi, nghe nói không biến đổi bèn hiểu không biến đổi.
Pháp sư khen:
– Nên biết, Nam tông (thiền đốn ngộ miền Nam) thật không thể lường.
Pháp sư thông tam tạng mà lại hỏi: Chân như có biến đổi chăng? Chúng ta học kinh điển bao năm, vậy thử trả lời xem chân như có biến đổi không? Nếu nói biến đổi thì sao gọi là chân như. Ngài biết pháp sư này chấp chân như là không biến đổi, nên đáp: Có biến đổi.
Pháp sư nghe qua quả quyết Thiền sư đáp sai: Thiền sư lầm rồi. Ngài hỏi lại: Đại đức có chân như chăng? Câu hỏi ngược lại của ngài làm Pháp sư bị kẹt. Dĩ nhiên, ai không chấp nhận mình có chân như. Ngài bắt đầu phá chấp: Nếu không biến đổi, quyết định Đại đức là phàm tăng. Chân như của Đại đức không biến đổi, chắc chắn Đại đức làm phàm tăng hoài. Vì sao? Vì phàm thì mãi mãi là phàm, dù bây giờ tu mấy đi nữa cũng vẫn là phàm phu mà thôi.
Ngài dẫn kinh làm chứng: Thiện tri thức hay chuyển ba độc thành ba món tịnh giới, chuyển sáu thức thành sáu thần thông, chuyển phiền não thành Bồ-đề, chuyển vô minh thành đại trí chân như. Chuyển tức là có biến đổi. Nhờ chuyển hết phiền não, mới thành Phật. Còn không biến đổi thì sao? Đại đức thật là ngoại đạo chủ trương tự nhiên vậy.
Nghe ngài nói như thế, Pháp sư nghi ngờ: Nếu vậy chân như tức có biến đổi? Ngài bảo: Nếu chấp chân như có biến đổi cũng là ngoại đạo. Vậy là chỗ học lâu nay của Pháp sư tiêu tan mất rồi, trả lời thế nào cũng kẹt. Nói không biến đổi bị cho là phàm tăng, giờ nói biến đổi lại thành ngoại đạo.
Pháp sư lúng túng hỏi: Thiền sư vừa nói chân như có biến đổi, giờ lại nói không biến đổi, vậy thế nào thật đúng? Ngài đáp: Nếu người thấy tánh rõ ràng, như hạt châu ma-ni hiện sắc, nói biến đổi cũng được, nói không biến đổi cũng được. Đây là cái thấy thật. Ngài ví dụ, như hạt ngọc ma-ni, có những vật màu xanh vàng đỏ trắng để chung quanh, người sáng mắt biết rõ hạt ma-ni vốn không màu sắc, do để gần những vật có màu sắc nên thấy ánh hiện màu sắc. Biết rõ ràng rồi, nói hạt ngọc ma-ni có màu sắc cũng được, không màu sắc cũng được. Kẻ không biết, nghe người này nói hạt ngọc không màu sắc thì chấp không sắc, nghe người kia nói hạt ngọc có màu sắc thì cho có màu sắc. Thấy biết như vậy là thể dụng không phân. Thể của ngọc là trong suốt, dụng của ngọc là chiếu soi. Vì không hiểu rõ nên ai nói sao tin vậy, trở thành lầm chấp.
Nếu người không thấy tánh, nghe nói chân như biến đổi bèn hiểu biến đổi, nghe nói không biến đổi bèn hiểu không biến đổi. Chỗ hiểu của người thật sự thấy tánh khác hẳn người chỉ nghe mà chưa thấy. Chúng ta tu thì phải dùng trí tuệ chuyển vô minh phiền não, nên nói biến đổi, còn thể tánh của chân như thì trước sau không biến đổi. Như vậy, khi nói chuyển hay biến đổi là đứng về dụng, lúc nói không biến đổi là đứng về thể. Tu là tu trên dụng, còn thể tánh đâu cần tu. Hiểu rồi nói sao cũng đúng, không hiểu nói gì cũng sai là vậy.
Đến đây, Pháp sư phục rồi, bèn tán thán: Nên biết, Nam tông thật không thể lường. Nam tông là chỉ cho thiền đốn ngộ phương Nam.
Luật sư Nguyên đến hỏi:
– Hòa thượng tu có dụng công chăng?
Sư đáp:
– Dụng công.
– Dụng công thế nào?
– Khi đói thì ăn, khi mệt thì ngủ.
Tất cả người đều như vậy, đồng chỗ dụng công của Thầy chăng?
– Chẳng đồng.
– Tại sao chẳng đồng?
– Họ khi ăn chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ cần dùng, khi ngủ chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn chuyện, do đó chẳng đồng.
Nguyên im lặng.
Các thiền sư đói ăn mệt ngủ, chúng ta cũng đói ăn mệt ngủ, nhưng lại khác nhau xa. Chúng ta đói mà lên mâm cơm nhìn món này, nhìn món kia, kiếm tiêu, đòi ớt v.v… chứ đâu chịu ăn liền. Khi ngủ cũng vậy, nằm gác tay lên trán lăn qua trở lại, nhớ đông nghĩ tây, chừng nào mệt quá mới ngủ thiếp đi, đánh mất biết bao thời giờ trong đó, vì vậy không giống chỗ dụng công của thiền sư.
Đại đức Uẩn Quang đến hỏi:
– Thiền sư tự biết chỗ sanh chăng?
Sư đáp:
– Chưa từng tử đâu cần luận sanh. Biết sanh tức là pháp không sanh, chẳng lìa pháp sanh nói có không sanh. Tổ sư nói: “Ngay cái sanh tức không sanh.”
– Người không thấy tánh cũng được như vậy chăng?
– Tự chẳng thấy tánh chẳng phải không tánh. Vì sao? Thấy tức là tánh, không tánh thì không thể thấy. Thức tức là tánh, nên gọi thức tánh. Liễu tức là tánh, nên gọi liễu tánh. Hay sanh muôn pháp gọi là pháp tánh, cũng gọi là pháp thân. Tổ sư Mã Minh nói: “Nói là pháp tức là tâm chúng sanh, nếu tâm sanh thì tất cả pháp sanh, nếu tâm không sanh, pháp không nương đâu sanh, cũng không danh tự.” Người mê không biết pháp thân không hình tướng hay ứng vật hiện hình, bèn nói “Trúc biếc xanh xanh đồng là pháp thân, hoa vàng mịt một thảy đều Bát-nhã” (Thanh thanh thúy trúc tổng thị pháp thân, uất uất hoàng hoa vô phi Bát-nhã). Hoa vàng nếu là Bát-nhã, Bát-nhã tức đồng vô tình; trúc biếc nếu là pháp thân, pháp thân tức đồng cây cỏ. Như người ăn măng tức là ăn pháp thân. Những lối nói như thế đâu thể kể chép hết. Đối diện mê Phật nhiều kiếp mong cầu, trong pháp thể mà mê lầm, chạy tìm kiếm bên ngoài. Thế nên, người hiểu đạo đi đứng ngồi nằm đều là đạo, người ngộ pháp tung hoành tự tại đều là pháp.
Đại đức lại hỏi:
– Hư không hay sanh linh tri chăng? Chân tâm duyên thiện ác chăng? Người tham dục là đạo chăng? Người chấp phải quấy về sau tâm thông chăng? Người xúc cảnh sanh tâm có định chăng? Người trụ chỗ yên lặng có tuệ chăng? Người ôm lòng khinh người có ngã chăng? Người chấp không chấp hữu có trí chăng? Người tầm văn thủ chứng, người khổ hạnh cầu Phật, người lìa tâm cầu Phật, người chấp tâm là Phật, trí này hợp đạo chăng? Thỉnh Thiền sư mỗi mỗi vì đáp.
Sư đáp:
– Hư không chẳng sanh linh tri, chân tâm chẳng duyên thiện ác, người chìm sâu trong tham dục căn cơ cạn, người phải quấy lăng xăng chưa thông, người xúc cảnh sanh tâm ít định, người yên lặng quên hết là tuệ chìm, người khinh người cao mạn là ngã mạn, người chấp không chấp có đều ngu, người tầm văn thủ chứng thêm kẹt, người khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo, chấp tâm là Phật là ma.
– Nếu như thế thì rốt ráo không thể có?
– Rốt ráo là Đại đức, chẳng phải rốt ráo không có gì.
Uẩn Quang vui mừng lễ tạ.
Đại đức Uẩn Quang đến hỏi:
– Thiền sư tự biết chỗ sanh chăng?
Sư đáp:
– Chưa từng tử đâu cần luận sanh. Biết sanh tức là pháp không sanh, chẳng lìa pháp sanh nói có không sanh. Tổ sư nói: “Ngay cái sanh tức không sanh.”
– Người không thấy tánh cũng được như vậy chăng?
– Tự chẳng thấy tánh chẳng phải không tánh. Vì sao? Thấy tức là tánh, không tánh thì không thể thấy. Thức tức là tánh, nên gọi thức tánh. Liễu tức là tánh, nên gọi liễu tánh. Hay sanh muôn pháp gọi là pháp tánh, cũng gọi là pháp thân. Tổ sư Mã Minh nói: “Nói là pháp tức là tâm chúng sanh, nếu tâm sanh thì tất cả pháp sanh, nếu tâm không sanh, pháp không nương đâu sanh, cũng không danh tự.” Người mê không biết pháp thân không hình tướng hay ứng vật hiện hình, bèn nói “Trúc biếc xanh xanh đồng là pháp thân, hoa vàng một mịt thảy đều Bát-nhã” (Thanh thanh thủy trúc tổng thị pháp thân, uất uất hoàng hoa vô phi Bát-nhã). Hoa vàng nếu là Bát-nhã, Bát-nhã tức đồng vô tình; trúc biếc nếu là pháp thân, pháp thân tức đồng cây cỏ. Như người ăn măng tức là ăn pháp thân. Những lối nói như thế đâu thể kể chép hết. Đối diện mê Phật nhiều kiếp mong cầu, trong pháp thể mà mê lầm, chạy tìm kiếm bên ngoài. Thế nên, người hiểu đạo đi đứng ngồi nằm đều là đạo, người ngộ pháp tung hoành tự tại đều là pháp.
Thấy các pháp có sanh có diệt là cái thấy của phàm phu, dưới con mắt của thiền sư, ngay nơi sanh mà rõ vô sanh. Do đó các ngài thường an trú nơi Niết-bàn, còn chúng ta thì chợt tỉnh chợt mê nên trôi lăn trong lục đạo.
Tất cả chúng ta đều có tánh này, nhưng vì mê mà không chịu nhận. Thế nên ở đây ngài chỉ thẳng: Tự chẳng thấy tánh chẳng phải không tánh. Tự tánh nơi mỗi người không lúc nào mà chẳng hiện, do chẳng thấy chứ không phải người có người không. Ngay thấy nghe hiểu biết, tánh thường hiển lộ trong đó, nếu không có tánh thì làm sao chúng ta biết thấy, biết nghe. Chỉ tùy phát ra nơi nào rồi theo đó mà gọi tên thôi. Nên nói: Thấy tức là tánh, không tánh thì không thể thấy. Thức tức là tánh, nên gọi thức tánh. Liễu tức là tánh, nên gọi liễu tánh. Hay sanh muôn pháp gọi là pháp tánh, cũng gọi là pháp thân. Đây là lời chỉ dạy thiết yếu của ngài.
Người hiểu đạo đi đứng ngồi nằm đều là đạo, người ngộ pháp tung hoành tự tại đều là pháp. Nếu chúng ta hiểu đạo thì đi đứng ngồi nằm đều là đạo, ngộ pháp thì tung hoành tự tại đều là pháp, chứ không phải đợi ngồi một chỗ mới là đạo, là pháp. Bởi vì đi đứng nằm ngồi thường quên, chứ tánh thấy nghe hiểu biết này có vắng thiếu bao giờ. Thế nên người hiểu đạo chạy đông chạy tây đều là đạo, vì đạo chính nơi tâm mình chứ đâu phải trong rừng trong núi.
Như vua Trần Thái Tông ở Việt Nam chúng ta, ngài chán ngán ngôi vua trốn lên núi Yên Tử tu, gặp Quốc sư hỏi: Bệ hạ lên núi để cầu cái gì? Vua đáp: Để cầu Phật. Quốc sư nói: Phật ở nơi tâm chứ không phải Phật ở trong núi. Như vậy, tâm mà ngộ thì ở đâu cũng có Phật. Chúng ta là người tu phải gắng nhớ, đừng bỏ mình đi cầu bên ngoài, bởi càng chạy tìm càng không thấy đạo.
Đại đức lại hỏi:
– Hư không hay sanh linh tri chăng? Chân tâm duyên thiện ác chăng? Người tham dục là đạo chăng? Người chấp phải quấy về sau tâm thông chăng? Người xúc cảnh sanh tâm có định chăng? Người trụ chỗ yên lặng có tuệ chăng? Người ôm lòng khinh người có ngã chăng? Người chấp không chấp hữu có trí chăng? Người tầm văn thủ chứng, người khổ hạnh cầu Phật, người lìa tâm cầu Phật, người chấp tâm là Phật, trí này hợp đạo chăng? Thỉnh Thiền sư mỗi mỗi vì đáp.
Sư đáp:
– Hư không chẳng sanh linh tri, chân tâm chẳng duyên thiện ác, người chìm sâu trong tham dục căn cơ cạn, người phải quấy lăng xăng chưa thông, người xúc cảnh sanh tâm ít định, người yên lặng quên hết là tuệ chìm, người khinh người cao mạn là ngã mạn, người chấp không chấp có đều ngu, người tầm văn thủ chứng thêm kẹt, người khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo, chấp tâm là Phật là ma.
– Nếu như thế thì rốt ráo không thể có?
– Rốt ráo là Đại đức, chẳng phải rốt ráo không có gì. Uẩn Quang vui mừng lễ tạ.
Vị đại đức này đặt một loạt bao nhiêu câu hỏi, thỉnh ngài giải đáp. Ngài trả lời rõ ràng từng câu.
Hỏi: Hư không hay sanh linh tri chăng? Đáp: Hư không chẳng sanh linh tri. Linh tri không có tướng mạo, thường dụ như hư không, chứ hư không làm sao sanh linh tri được.
Hỏi: Chân tâm duyên thiện ác chăng? Đáp: Chân tâm chẳng duyên thiện ác. Chính ý này Lục Tổ đã nói: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?” Tổ đã chỉ thẳng không chút giấu giếm, bản lai diện mục của thượng tọa Minh cũng là chân tâm của mỗi người. Nếu còn chạy theo thiện ác thì không bao giờ thấy được chân tâm, không thể nhận ra bản lai diện mục. Chân tâm hiện tiền tại sao mình không thấy, có vắng mặt lúc nào đâu? Vắng mặt thì không biết nghe, không biết thấy. Vậy mà cứ chạy đi cầu Phật bên ngoài, đó là điều hết sức lầm lẫn nơi mỗi chúng ta.
Hỏi: Người tham dục là đạo chăng? Đáp: Người chìm sâu trong tham dục căn cơ cạn. Người thích đắm chìm trong tham dục là kẻ căn cơ thấp kém.
Hỏi: Người chấp phải quấy về sau tâm thông chăng? Đáp: Người phải quấy lăng xăng chưa thông. Chấp phải chấp quấy là chưa thông đạo lý. Nên nhớ, người nào chạy theo phải quấy, ngồi lại bàn nói những chuyện lăng xăng, người đó là kẻ không thông đạo lý. Như vậy chúng ta tự nghiệm thì biết mình là hạng người nào, để mà ráng sửa chứ khỏi cần phải đợi có tha tâm trí mới biết.
Hỏi: Người xúc cảnh sanh tâm có định chăng? Đáp: Người xúc cảnh sanh tâm ít định. Cảnh vừa tới đã rối rắm trong lòng tức là ít định, còn người khi chạm cảnh gặp việc mà vẫn tỉnh sáng thì người đó tâm dễ được định.
Hỏi: Người trụ chỗ yên lặng có tuệ chăng? Người ôm lòng khinh người có ngã chăng? Người chấp không chấp hữu có trí chăng? Đáp: Người yên lặng quên hết là tuệ chìm. Người cứ im im, không ưa giáo hóa cũng không khởi niệm lợi ích cho ai, là người tuệ chìm. Người khinh người cao mạn là ngã mạn. Người chấp không chấp có đều ngu.
Hỏi: Người tầm văn thủ chứng, người khổ hạnh cầu Phật, người lìa tâm cầu Phật, người chấp tâm là Phật, trí này hợp đạo chăng? Đáp: Người tầm văn thủ chứng thêm kẹt, người khổ hạnh cầu Phật là mê. Ngày ăn một bữa… dùng các hình thức khổ hạnh để được thành Phật, đó là kẻ mê. Phật là giác ngộ tự tâm, chứ không phải ở hình tướng bên ngoài. Lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo, chấp tâm là Phật là ma. Tại sao? Bởi chấp nhận vọng tâm sanh diệt, ta nghĩ thế này ta nghĩ thế kia, cho đó là Phật, không phải ma là gì? Dùng trí phân biệt, sanh ra tất cả những thứ chấp trước, đều không hợp đạo chỉ tăng thêm chướng mà thôi.
Nghe ngài giải đáp tường tận như thế, Uẩn Quang nghi: Nếu như thế thì rốt ráo không thể có? Tu hành để rồi rốt cuộc không có gì hết hay sao? Ngài nói: Rốt ráo là Đại đức, chẳng phải rốt ráo không có gì. Tất cả pháp bên ngoài đều không thật, chỗ cứu cánh cùng tột chính là quay trở về tự tánh của mình chứ không đâu xa.
Tọa chủ giảng kinh Duy-ma-cật hỏi:
– Kinh nói: “Lục sư ngoại đạo kia là thầy của ngươi, nhân kia xuất gia, thầy kia bị đọa ngươi cũng theo đó mà đọa. Người thí cho ngươi chẳng gọi phước điền, cúng dường cho ngươi đọa trong ba đường ác. Chê Phật, hủy pháp, chẳng vào chúng số, trọn chẳng được diệt độ. Ngươi nếu như thế mới nên nhận thức ăn.” Thỉnh Thiền sư vì giải thích.
Sư đáp:
– Người mê chạy theo sáu căn gọi là lục sư, ngoài tâm cầu Phật gọi là ngoại đạo, thấy có vật để thí chẳng gọi phước điền, sanh tâm nhận cúng dường đọa ba đường ác. Người nếu hay chê bai Phật là chẳng dám cầu Phật, hủy báng pháp là chẳng dám cầu pháp, chẳng vào chúng số là chẳng dám cầu tăng, trọn chẳng được diệt độ là trí dụng hiện tiền. Nếu có người hay hiểu như thế liền được thức ăn thiền duyệt pháp hỷ.
Người được trí dụng hiện tiền không mắc kẹt Phật pháp tăng bên ngoài, người hiểu rõ như thế là được thiền duyệt pháp hỷ. Đây là đoạn khó nhất trong kinh Duy-ma-cât.
Tọa chủ hỏi:
– Kinh Bát-nhã nói “Độ chín loài chúng sanh đều vào vô dư Niết-bàn”, lại nói “thật không chúng sanh được diệt độ”. Hai đoạn văn kinh này làm sao hội thông? Người xưa nay đều nói “thật độ chúng sanh mà chẳng nhận tướng chúng sanh”. Tôi còn nghi chưa giải quyết, thỉnh Thiền sư vì giải thích.
– Chín loài chúng sanh trong một thân đầy đủ, tùy tạo tùy thành: vô minh là noãn sanh (sanh bằng trứng), ôm ấp phiền não ở trong là thai sanh (sanh bằng bào thai), nước ái thấm ướt là thấp sanh (sanh chỗ ẩm ướt), chợt khởi phiền não là hóa sanh (từ loài này hóa sanh loài khác). Ngộ tức là Phật, mê gọi là chúng sanh. Bồ-tát chỉ lấy tâm sanh niệm niệm làm chúng sanh, nếu rõ tâm sanh niệm niệm đó thể nó là không, gọi là độ chúng sanh vậy. Người trí ở trên bản tế (nguồn tâm) của mình mà độ lúc chưa hiện hình, chưa hiện hình đã là không, tức biết thật không có chúng sanh được diệt độ.
Bồ-tát thấy niệm sanh diệt đó là chúng sanh, rõ tâm ở trên nguồn tâm mà độ lúc chưa hiện hình, tức biết thật không có chúng sanh được diệt độ. Bởi tâm khi chưa dấy niệm tức là không, cho nên không thấy có chúng sanh được diệt độ.
Sư thượng đường dạy:
– Các ngươi may mắn tự khéo làm người vô sự. Kẻ nhọc nhằn tạo tác muốn mang cùm sa ngục làm gì? Mỗi ngày từ sáng đến tối bôn ba nói “Ta tham thiền học đạo, hiểu thấu Phật pháp”. Như thế càng không dính dáng gì, chỉ chạy theo thanh sắc, biết khi nào dứt. Bần đạo đến tham vấn Hòa thượng ở Giang Tây (Mã Tổ), Hòa thượng dạy: “Kho báu nhà của ngươi đầy đủ tất cả, sử dụng tự tại chẳng nhờ cầu bên ngoài.” Bần đạo từ đây lập tức thôi dứt, của báu của mình tùy thân thọ dụng, có thể nói sống thích thú, không một pháp có thể thủ, không một pháp có thể xả, chẳng thấy tướng của một pháp sanh diệt, chẳng thấy tướng của một vật qua lại, khắp mười phương thế giới không có bằng hạt bụi mà chẳng phải của báu nhà mình. Nếu tự quan sát kỹ càng thì nhất thể tam bảo của tự tâm thường tự hiện tiền, không thể nghi ngờ. Chớ suy xét, chớ tìm kiếm vì tâm tánh xưa nay thanh tịnh. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt, nếu hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện tiền.” Kinh Tịnh Danh nói: “Quán thân thật tướng, quán Phật cũng vậy.” Nếu chẳng theo thanh sắc mà động niệm, chẳng theo tướng mạo mà sanh hiểu, tự nhiên vô sự đi. Chớ đứng lâu. Trân trọng!
Hôm nay đại chúng nhóm họp mãi không giải tán. Sư hỏi:
– Các ngươi vì cớ sao ở đây mãi không đi? Bần đạo đã đối diện trình nhau, lại chịu thôi chăng? Có việc gì khả nghi? Chớ lầm dụng tâm uổng phí khí lực. Nếu có nghi ngờ, các ngươi tùy ý thưa hỏi.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là Phật, thế nào là pháp, thế nào là tăng, thế nào là nhất thể tam bảo?
Sư đáp:
– Tâm là Phật, chẳng cần đem Phật cầu Phật, tâm là pháp, chẳng cần đem pháp cầu pháp, Phật pháp hòa hợp không hai là tăng, tức là nhất thể tam bảo. Kinh nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không khác.” Thân khẩu ý thanh tịnh gọi là Phật ra đời, ba nghiệp chẳng thanh tịnh gọi là Phật diệt độ. Dụ như khi giận thì không vui, khi vui thì không giận. Chỉ là một tâm, thật không hai thể. Bản trí sẵn vậy, vô lậu hiện tiền, như rắn hóa thành rồng không đổi vảy, chúng sanh hồi tâm thành Phật chẳng đổi mặt. Tánh vốn thanh tịnh chẳng đợi tu hành, có chứng có tu tức đồng người tăng thượng mạn. Chân không chẳng kẹt, ứng dụng không cùng, không thủy không chung. Người lợi căn đốn ngộ, dụng không thứ bậc tức là A-nậu-bồ-đề (Vô thượng chánh giác). Tâm không hình tướng tức là sắc thân vi diệu. Không tướng là thật tướng pháp thân. Thể tánh tướng đều không tức là thân hư không vô biên. Muôn hạnh trang nghiêm tức là công đức pháp thân. Pháp thân này là gốc của muôn hóa, tùy chỗ đặt tên: trí dụng không hết gọi là Vô tận tạng, hay sanh muôn pháp gọi là Bản pháp tạng, đủ tất cả trí gọi là Trí tuệ tạng, muôn pháp về như gọi là Như lai tạng. Kinh nói: “Như Lai đó, tức nghĩa như của các pháp”, lại nói: “Tất cả pháp sanh diệt thế gian, không có một pháp chẳng về như”.
Sư thượng đường dạy: Các ngươi may mắn tự khéo làm người vô sự. Vô sự là chắp tay đi tới đi lui cả ngày, phải không? Ngài lại nói: Kẻ nhọc nhằn tạo tác muốn mang cùm sa ngục làm gì. Như vậy người vác củi, gánh nước… mang cùm sa ngục hết rồi. Chỗ này chúng ta phải hiểu cho rõ, kẻo không thì dễ bị lầm.
Người vô sự không phải là kẻ làm biếng chẳng làm gì hết, mà là đi đứng nằm ngồi trong mọi hoạt động, tâm không chạy đông chạy tây. Nhọc nhằn tạo tác tức là làm theo hình tướng, bày việc này nắm bắt việc kia lung tung cả ngày. Nếu không có ý mong cầu, làm mà trong tâm vô sự thì tuy làm tất cả nhưng vẫn rảnh rang.
Mỗi ngày từ sáng đến tối bôn ba nói “Ta tham thiền học đạo, hiểu thấu Phật pháp”. Như thế càng không dính dáng gì, chỉ chạy theo thanh sắc, biết khi nào dứt. Nói tham thiền học đạo lăng xăng mà tự không nhận ra cái của mình, như thế cũng chỉ là chạy theo thanh theo sắc mà thôi, có dính dáng gì đến lý thật.
Bần đạo đến tham vấn Hòa thượng ở Giang Tây (Mã Tổ), Hòa thượng dạy: “Kho báu nhà của ngươi đầy đủ tất cả, sử dụng tự tại chẳng nhờ cầu bên ngoài.” Bần đạo từ đây lập tức thôi dứt, của báu của mình tùy thân thọ dụng, có thể nói sống thích thú, không một pháp có thể thủ, không một pháp có thể xả, chẳng thấy tướng của một pháp sanh diệt, chẳng thấy tướng của một pháp qua lại, khắp mười phương thế giới không có bằng hạt bụi mà chẳng phải của báu nhà mình. Nếu tự quan sát kỹ càng thì nhất thể tam bảo của tự tâm thường tự hiện tiền, không thể nghi ngờ. Chớ suy xét, chớ tìm kiếm vì tâm tánh xưa nay thanh tịnh. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt, nếu hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện tiền.”
Chư Phật hay là một đức Phật? Chúng ta nghe nói chư Phật, rồi lầm tưởng là chư Phật ở bên ngoài, mà không ngờ rằng chính là chỉ cho đức Phật ngay nơi mình. Nếu thấy các pháp không sanh, các pháp không diệt thì tự nhiên đức Phật của mình hiện tiền.
Kinh Tịnh Danh nói: “Quán thân thật tướng, quán Phật cũng vậy.” Nếu chẳng theo thanh sắc mà động niệm, chẳng theo tướng mạo mà sanh hiểu, tự nhiên vô sự đi. Chớ đứng lâu. Trân trọng!
Những lời dạy của ngài thật chí lý, nếu chúng ta nhận ra được lý này rồi thì thấy đức Phật nơi mình không lúc nào vắng thiếu, đi đâu cũng thấy Phật. Vậy mà chúng sanh lang thang trong đường luân hồi, thật là tội nghiệp! Phật không cô phụ chúng ta, tại chúng ta cõng Phật trên vai đi tìm Phật, nên luôn cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Nếu nhận ra Phật ngay nơi mình thì dù chạy đông chạy tây, ở bất cứ thời nào cũng thường thấy Phật. Bây giờ là thời mạt pháp, cách đức Phật Thích-ca hơn hai ngàn năm, nhưng nếu biết ngay tâm thanh tịnh là Phật, chắc rằng Phật cũng không xa mình, còn không hiểu cứ theo đức Phật ở Ấn Độ mà cầu thì không thể nào thấy Phật.
Người tu thiền hiểu được chỗ này rồi, gặp cảnh nào tu cũng được, ở chùa hoặc bất cứ nơi đâu, có thiền đường hay không thiền đường, vẫn tu như thường. Một số người cứ than thở: không có phương tiện làm sao tu, mắc công kia bận việc nọ làm sao tu v.v… Phật đâu lúc nào vắng mà tu không được, tại không thấy Phật thôi.
Xưa kia Lục tổ Huệ Năng khi đã ngộ bản tâm, ngài ở ẩn trong nhóm thợ săn mà tu. Nếu là chúng ta bây giờ, chắc hết tu được rồi. Người hiểu thiền đúng, niềm tin Phật nơi mình vững vàng, không gì có thể lay động được. Giả sử chúng ta đang lễ lạy tượng Phật trên bàn, có người đến bày chuyện huyễn hoặc, họ bảo Phật đó là do thợ đúc tượng làm ra, lễ bái làm gì vô ích, tu hành như vậy chừng nào thành Phật?… Nếu hiểu không thông, nghe nói thế đâm ra hoảng hốt, cảm thấy mình tu thiếu thực tế, rồi sanh hối hận. Chúng ta đã biết rõ Phật nơi mình, lạy đức Phật bên ngoài có lỗi lầm gì mà không kính lễ?
Đức Phật tự mở ra con đường giải thoát cho mình, không ai dọn sẵn cho ngài. Đâu phải đợi cất chùa xong xuôi rồi ngài mới vô đó ngồi tu, để thụ hưởng sản nghiệp sẵn có ấy. Ở trong thời đại chưa từng ai biết chữ Phật là gì, ngài tự phát tâm tu cho đến giác ngộ, rồi đi vào đời để giúp người tỉnh ngộ. Phật xưa một mình đơn độc, khó khăn muôn ngàn, bị ngoại đạo tà kiến não hại mà ngài tu thành Phật. Chính vì thế ngài mới được tôn xưng, nên tới bây giờ và mãi về sau chúng ta vẫn luôn phải kính lễ ngài.
Chúng ta ngày nay chùa chiền sẵn có, bạn đạo năm bảy chục người cùng tu, tại sao tu không xong, tại sao lo sợ? Vì không giác ngộ, vì không biết Phật nên niềm tin Phật nơi mình không vững. Do đó gặp chút cảnh trở ngại khó khăn là không còn an ổn, nghe ai nói gì cũng nghi, cũng sợ. Thế nên tôi nói, nếu người nhận và hằng sống với Phật thật nơi mình thì không sợ tu chẳng xong. Tôi đảm bảo người này quăng ở đâu tu cũng được. Chúng ta là con của đấng Đại hùng đại lực, gặp cảnh khó mà vẫn tin chắc không nghi, tu hành không lui sụt, như vậy mới thấy dũng lực của mình.
Như trong khoảng thời gian khó khăn, có người lo lắng tôi nuôi tăng ni ở hai thiền viện trên núi này, làm sao đủ ăn? Tôi bảo cứ vững tâm tu, nếu không ai cúng dường, chúng đông không có gì ăn thì thầy trò cùng nhịn đói ngồi thiền nhập định, chứ chạy đông chạy tây làm gì. Nhờ gan dạ như thế, nên đến bây giờ tăng ni trong các thiền viện vẫn tu yên ổn, chưa đói ngày nào. Tất cả phải phát tâm dũng mãnh, quả quyết tu tới thành Phật mới thôi, được vậy thì sự tu mới an ổn, mới thẳng tiến.
Hôm nay đại chúng nhóm họp mãi không giải tán. Sư hỏi:
– Các ngươi vì cớ sao ở đây mãi không đi? Bần đạo đã đối diện trình nhau, lại chịu thôi chăng? Có việc gì khả nghi? Chớ lầm dụng tâm, uổng phí khí lực. Nếu có nghi ngờ, các ngươi tùy ý thưa hỏi.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là Phật, thế nào là pháp, thế nào là tăng, thế nào là nhất thể tam bảo?
Sư đáp:
– Tâm là Phật, chẳng cần đem Phật cầu Phật, tâm là pháp, chẳng cần đem pháp cầu pháp, Phật pháp hòa hợp không hai là tăng, tức là nhất thể tam bảo. Kinh nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không khác.”
– Thân khẩu ý thanh tịnh gọi là Phật ra đời, ba nghiệp chẳng thanh tịnh gọi là Phật diệt độ. Dụ như khi giận thì không vui, khi vui thì không giận. Chỉ là một tâm, thật không hai thể. Bản trí sẵn vậy, vô lậu hiện tiền, như rắn hóa thành rồng không đổi vảy, chúng sanh hồi tâm thành Phật chẳng đổi mặt.
Giận với vui chỉ là một tâm, nhưng khi giận khác với khi vui, tuy khác mà không hai. Nên nói, chỉ một tâm, thật không hai thể.
Khi nói nhất thể tam bảo tức là chỉ tâm đầy đủ Phật pháp và tăng. Lục Tổ nói: “Giác là Phật, chánh là pháp, tịnh là tăng”, đồng một ý này, cũng là chỉ thẳng tâm đầy đủ Phật pháp tăng, gọi chung là nhất thể tam bảo.
Tánh uốn thanh tịnh chẳng đợi tu hành, có chứng có tu tức đồng người tăng thượng mạn. Chân không chẳng kẹt, ứng dụng không cùng, không thủy không chung. Người lợi căn đốn ngộ, dụng không thứ bậc tức là A-nậu-bồ-đề (Vô thượng chánh giác). Tâm không hình tướng tức là sắc thân vi diệu. Không tướng là thật tướng pháp thân. Thể tánh tướng đều không tức là thân hư không vô biên. Muôn hạnh trang nghiêm tức là công đức pháp thân. Pháp thân này là gốc của muôn hóa, tùy chỗ đặt tên: trí dụng không hết gọi là Vô tận tạng, hay sanh muôn pháp gọi là Bản pháp tạng, đủ tất cả trí gọi là Trí tuệ tạng, muôn pháp về như gọi là Như lai tạng. Kinh nói: “Như Lai đó, tức nghĩa như của các pháp”, lại nói: “Tất cả pháp sanh diệt thế gian, không có một pháp chẳng về như”.
Thiền sư Huệ Hải có lối chỉ dạy rất gần gũi với chúng ta. Về lý các thiền sư đều nói không khác, nhưng về cái khéo thì mỗi vị có nét đặc biệt riêng.
Sư thọ bao nhiêu tuổi, tịch lúc nào và nơi nào, chẳng thấy ở đâu ghi.
Không ai biết ngài đi đâu và tịch lúc nào.
Sư họ Đặng (nên gọi là Đặng Ẩn Phong), quê ở Thiệu Võ, Phúc Kiến. Trước Sư đến tham vấn Mã Tổ mà chưa nhận được chỗ huyền áo, Sư lại đến Thạch Đầu đôi ba phen vẫn không thấy đạo.
Lúc ở chỗ Thạch Đầu, Sư hỏi:
– Làm sao được hội đạo?
Thạch Đầu bảo:
– Ta cũng chẳng hội đạo.
– Cứu cánh thế nào?
– Ngươi bị như thế bao lâu rồi.
Một hôm, hòa thượng Thạch Đầu cắt cỏ, Sư khoanh tay đứng bên trái. Thạch Đầu xoay nhanh chiếc kéo sang trước mặt Sư hớt một gốc cỏ. Sư thưa:
– Hòa thượng chỉ cắt được cái này, không cắt được cái kia.
Thạch Đầu đưa chiếc kéo lên. Sư nắm chiếc kéo, làm thế cắt. Thạch Đầu bảo:
– Ngươi chỉ cắt được cái kia, không cắt được cái này.
Sư không đáp được.
Sau, nơi Mã Tổ một câu nói, Sư ngộ đạo.
Một hôm Sư đẩy xe đất, Mã Tổ ngồi duỗi chân trên đường. Sư thưa:
– Thỉnh Thầy rút chân.
Mã Tổ bảo:
– Đã duỗi thì không rút.
– Đã tiến thì không lùi.
Sư bèn đẩy xe qua, cán chân Mã Tổ bị thương. Mã Tổ vào pháp đường cầm chiếc búa gọi:
– Vừa rồi ai đẩy xe cán chân lão tăng bị thương, hãy ra đây!
Sư bước ra đưa cổ trước Mã Tổ. Mã Tổ liền dẹp búa.
Sư họ Đặng, quê ở Thiệu Võ, Phúc Kiến. Trước Sư đến tham vấn Mã Tổ mà chưa nhận được chỗ huyền áo, Sư lại đến Thạch Đầu đôi ba phen vẫn không thấy đạo.
Lúc ở chỗ Thạch Đầu, Sư hỏi:
– Làm sao được hội đạo?
Thạch Đầu bảo:
– Ta cũng chẳng hội đạo.
– Cứu cánh thế nào?
– Ngươi bị như thế bao lâu rồi.
Ngài sống rày đây mai đó, cũng không mở thiền đường dạy chúng, nên mọi người gọi ngài theo hiệu thường là Đặng An Phong.
Ngài tới Thạch Đầu, hỏi: Làm sao được hội đạo? Thạch Đầu bảo: Ta cũng chẳng hội đạo. Ngài hỏi: Cứu cánh thế nào? Thạch Đầu nói: Ngươi bị như thế bao lâu rồi! Nói chẳng hội là đã chỉ rồi, mà còn hỏi cứu cánh thế nào, tức là chưa thấy đạo.
Một hôm, hòa thượng Thạch Đầu cắt cỏ, Sư khoanh tay đứng bên trái. Thạch Đầu xoay nhanh chiếc kéo sang trước mặt Sư hớt một gốc cỏ. Sư thưa:
– Hòa thượng chỉ cắt được cái này, không cắt được cái kia.
Thạch Đầu đưa chiếc kéo lên. Sư nắm chiếc kéo, làm thế cắt. Thạch Đầu bảo:
– Ngươi chỉ cắt được cái kia, không cắt được cái này.
Sư không đáp được.
Sau, nơi Mã Tổ một câu nói, Sư ngộ đạo.
Do chưa thoát được hai bên, cho nên ngài không đáp được.
Một hôm Sư đẩy xe đất, Mã Tổ ngồi duỗi chân trên đường. Sư thưa:
– Thỉnh Thầy rút chân.
Mã Tổ bảo:
– Đã duỗi thì không rút.
– Đã tiến thì không lùi.
Sư bèn đẩy xe qua, cán chân Mã Tổ bị thương. Mã Tổ vào pháp đường cầm chiếc búa gọi:
– Vừa rồi ai đẩy xe cán chân lão tăng bị thương, hãy ra đây!
Sư bước ra đưa cổ trước Mã Tổ. Mã Tổ liền dẹp búa.
Thầy trò làm nhiều điều lạ lùng, người thường không thể suy lường được. Một hôm ngài đẩy xe đất, còn Mã Tổ thì đang ngồi dưới đất duỗi chân ra đường. Ông già này quả là kỳ quái, là một vị tổ được thiên hạ kính trọng mà gặp đâu ngồi đó chơi, chứ không phải ngồi nghiêm chỉnh trên tòa. Ngài thỉnh thầy rút chân cho mình đẩy xe qua, nhưng Mã Tổ chẳng những không rút chân, mà còn nói: Đã duỗi thì không rút. Ngài cũng không nhường, nói: Đã tiến thì không lùi. Rồi đẩy xe đi qua cán chân Mã Tổ bị thương. Sau đó Mã Tổ vào pháp đường, cầm chiếc búa gọi: Vừa rồi ai đẩy xe cán chân lão tăng bị thương, hãy ra đây! Ngài bước ra đưa cổ trước Mã Tổ, Mã Tổ liền dẹp búa. Như vậy là sao, việc này thế nào? Người tầm thường quả là không hiểu nổi.
Hành động của người xưa coi như đùa giỡn, nhưng sự thật là để nói lên ý chí gan dạ trong việc tu hành. Thầy không vừa, đệ tử cũng không vừa, không ai nhường ai hết. Qua đây cho thấy, người tu không nên lệ thuộc vào những quan niệm yếu hèn. Việc nên làm thì gặp bất cứ trở ngại nào, dù có ăn đòn cũng vẫn phải làm. Cần tiến là phải tiến, đừng vì một chút trở ngại liền thối lui.
Chúng ta bây giờ nếu gặp trường hợp như vậy, chắc là quýnh quáng. Thầy không rút chân thì thôi, không dám đẩy tiếp. Có chướng ngại là bị thối liền. Chính câu chuyện này để nói lên ý chí của người tu, trên đường tu đã tiến thì không lùi, dù chướng ngại gì cũng không bao giờ thối chí, sợ sệt. Tính cách của các thiền sư là như vậy.
Sư đến chỗ Nam Tuyền Phổ Nguyện, thấy chúng tăng đang tham vấn. Nam Tuyền chỉ tịnh bình bảo:
– Bình đồng là cảnh, trong bình có nước, chẳng được động đến cảnh, đem nước đến cho lão tăng.
Sư bèn nắm tịnh bình đem đến trước mặt Nam Tuyền đổ nước. Nam Tuyền bèn thôi.
Ngài đối với Nam Tuyền cũng là huynh đệ với nhau. Lâu lâu tới thăm, nhằm lúc Nam Tuyền đang ở trên tòa nói pháp. Nam Tuyền chỉ tịnh bình bảo chúng: Bình đồng là cảnh, trong bình có nước, chẳng được động đến cảnh, đem nước đến cho lão tăng. Cái bình bằng đồng là cảnh, trong bình có đựng nước, cấm động đến bình, đem nước lại xem. Như bây giờ tôi nói: Cái ly trước mặt tôi đây có đựng nước, không được cầm đến cái ly, đem nước lại giùm tôi. Có ai đem được không?
Ngài nghe Nam Tuyền bảo chúng như thế, bèn bước tới nắm chiếc bình đem qua để trước mặt Nam Tuyền. Thông thường các thiền sư hay dùng thuật này để thử người học, xem họ còn mắc kẹt trong ngôn ngữ hay không. Bởi phần nhiều hay bị kẹt nơi ngôn ngữ, nói cái gì tin nhận cái ấy. Nghe nói cấm động đến cảnh thì không biết làm sao đem được nước đến. Vì vậy rơi vào bẫy của thiền sư, cục cựa không nổi, ra cũng không xong.
Sư đến Quy Sơn vào nhà tăng, cởi y bát bỏ chỗ thượng tọa. Quy Sơn nghe Sư thúc đến, sửa soạn oai nghi vào nhà tăng chào. Sư thấy Quy Sơn đến bèn làm thế nằm ngủ. Quy Sơn trở về phương trượng.
Sư ra đi giây lâu, Quy Sơn hỏi thị giả:
– Sư thúc còn đó chăng?
Thị giả thưa:
– Đã đi.
– Khi đi có nói lời gì chăng?
– Không nói lời nào.
– Chớ nói không nói lời nào, tiếng kia vang như sấm.
Đến chỗ Quy Sơn, ngài vô nhà tăng cởi y bát để chỗ thượng tọa ngồi. Quy Sơn là một vị nghiêm trang tề chỉnh, mẫu mực đương thời, nên khi nghe Sư thúc đến liền đầy đủ oai nghi tới chào. Nhưng gặp Sư thúc đặc biệt, vừa thấy Quy Sơn bèn giả bộ nằm ngủ, không thèm nói năng. Quy Sơn thấy thế liền trở về phương trượng.
Sau đó ngài rời chỗ Quy Sơn ra đi, không lâu Quy Sơn hỏi thị giả xem Sư thúc còn đó chăng? Thị giả báo đã đi. Quy Sơn hỏi: Khi đi có nói lời gì chăng? Thị giả thưa: Không nói lời nào. Quy Sơn nói: Chớ nói không nói lời nào, tiếng kia vang như sấm. Đọc qua chúng ta đâu thấy ngài nói lời nào, tại sao Quy Sơn lại bảo lời kia vang như sấm? Chính ngay khi ra thế nằm ngủ, đã nói vang như sấm rồi. Đừng tưởng có lời mới gọi có nói, chính những hình ảnh không lời là lời nói mạnh nhất. Vậy ngài nói cái gì? Tôi cũng không biết, hiện nay có ai biết không?
Sư mùa đông ở Hoành Nhạc, mùa hạ dừng nơi Thanh Lương. Đời Đường khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) Sư định lên Ngũ Đài Sơn, đi đường đến Hoài Tây gặp Ngô Nguyên Tế khởi binh chống triều đình. Quân hai bên đang đánh nhau chưa phân hơn thua. Sư nghĩ: “Ta phải cứu nạn này”, bèn ném tích trượng trong hư không, phi thân bay qua. Tướng sĩ hai bên trông thấy, tâm tranh đấu dứt sạch, liền rút quân. Sư đã dùng phép lạ, ngại làm mê hoặc quần chúng, bèn vào Ngũ Đài Sơn nơi hang Kim Cang thị tịch.
Trước khi thị tịch, Sư hỏi chúng:
– Tôi thường thấy các vị tiền bối khi tịch hoặc ngồi hoặc nằm, có vị nào đứng tịch chăng?
Chúng thưa: – Có.
Sự hỏi:
Có vị nào lộn ngược tịch chăng?
– Chưa từng thấy.
Sư bèn lộn ngược mà tịch, nhưng y phục vẫn nguyên vẹn như đứng. Chúng định để vào áo quan trà-tỳ, mà xô không lung lay. Dân chúng xa gần đồn đãi nhau kéo đến xem đông vô số. Sư có người em gái xuất gia làm ni cũng có mặt tại đây. Cô ni ấy nắm thân Sư, vừa trách:
– Lão huynh ngày trước chẳng giữ luật, khi chết lại làm mê hoặc người.
Trách xong, Cô xô một cái, thân Sư ngã xuống.
Chúng đem trà-tỳ lấy xá-lợi.
Sư mùa đông ở Hoành Nhạc, mùa hạ dừng nơi Thanh Lương. Đời Đường khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) Sư định lên Ngũ Đài Sơn, đi đường đến Hoài Tây gặp Ngô Nguyên Tế khởi binh chống triều đình. Quân hai bên đang đánh nhau chưa phân hơn thua. Sư nghĩ: “Ta phải cứu nạn này”, bèn ném tích trượng trong hư không, phi thân bay qua. Tướng sĩ hai bên trông thấy, tâm tranh đấu đứt sạch, liền rút quân. Sư đã dùng phép lạ, ngại làm mê hoặc quần chủng, bèn vào Ngũ Đài Sơn nơi hang Kim Cang thị tịch.
Ngài là một người tự tại, mùa đông lạnh dừng ở Hoành Nhạc, mùa hạ nóng thì ở Thanh Lương.
Đến niên hiệu Nguyên Hòa, ngài định lên Ngũ Đài Sơn. Giữa đường gặp giặc, hai bên đang đánh nhau, ngài muốn cứu nạn đao binh này, nên ném tích trượng bay lên hư không. Tướng sĩ trông thấy tưởng là thần tiên, liền dừng lại không đánh nhau nữa. Như vậy là ngài can được trận đánh đó, nhưng khi dùng phép lạ rồi, thấy mình phạm giới làm mê hoặc quần chúng, ngài bèn vào hang Kim Cang trong Ngũ Đài Sơn thị tịch. Nếu chưa dùng phép lạ chắc ngài chưa tịch. Bởi dùng phép lạ, sợ dân chúng ham thích tìm đến, nên ngài thị tịch để đền tội.
Trước khi thị tịch, Sư hỏi chúng:
– Tôi thường thấy các vị tiền bối khi tịch, hoặc ngồi hoặc nằm, có vị nào đứng tịch chăng?
Chúng thưa: – Có.
Sự hỏi:
Có vị nào lộn ngược tịch chăng?
– Chưa từng thấy.
Sư bèn lộn ngược mà tịch, nhưng y phục vẫn nguyên vẹn như đứng. Chúng định để vào áo quan trà-tỳ, mà xô không lung lay. Dân chúng xa gần đồn đãi nhau, kéo đến xem đông vô số. Sư có người em gái xuất gia làm ni cũng có mặt tại đây. Cô ni ấy nắm thân Sư, vừa trách:
– Lão huynh ngày trước chẳng giữ luật, khi chết lại làm mê hoặc người.
Trách xong, Cô xô một cái, thân Sư ngã xuống.
Chúng đem trà-tỳ lấy xá-lợi.
Ngài là người kỳ đặc cho đến lúc tịch cũng kỳ đặc, lộn ngược tịch. Chúng tăng muốn để nhục thân ngài vô quan tài trà-tỳ mà xô hoài không ngã, nên không biết làm sao. Dân chúng xa gần nghe đồn đãi chuyện lạ, tìm đến để xem rất đông đảo. Ngài có người em gái xuất gia làm ni, cô ni này cũng cao tay ấn, thấy ngài bày chuyện kỳ đặc như thế, bèn đến vừa xô thân ngài vừa quở: Lão huynh ngày trước chẳng giữ luật, khi chết lại làm mê hoặc người. Nghe cô em quở, ngài biết lỗi nên xô một cái liền ngã xuống, chúng đem đi trà-tỳ.
Người xưa tu hành rất đáng nể, anh em đều xứng đáng, không phải như mình bây giờ. Nếu chúng ta nghe sư huynh tịch, chắc nước mắt chảy dài, không có chút ý chí của người xuất thế. Cô ni này không những không khóc mà còn quở. Bởi một khi đã nhận sâu lẽ thật, thấy sanh tử còn mất không phải là việc đáng sợ, chỉ như trò chơi thôi. Duyên còn thì ở, duyên hết thì đi, không có gì quan trọng. Người được như vậy, mới thật sự tự tại giải thoát.
Lúc còn tại gia, Sư chuyên nghề săn bắn, không thích gặp các nhà tu. Một hôm, nhân đuổi bầy nai chạy qua trước am Mã Tổ, gặp Mã Tổ đứng trước, Sự hỏi:
– Hòa thượng thấy bầy nai chạy qua đây chăng? Mã Tổ hỏi lại:
– Chú là người gì?
– Thợ săn.
– Chú bắn giỏi không?
– Bắn giỏi.
– Một mũi tên chú bắn được mấy con?
– Một mũi bắn được một con.
– Chú bắn không giỏi.
Hòa thượng bắn giỏi không?
– Bắn giỏi.
– Một mũi tên Hòa thượng bắn được mấy con? – Một mũi tên bắn được một bầy.
– Sanh mạng chúng nó, đâu nên bắn một bầy. – Chú đã biết như thế, sao không tự bắn?
– Nếu dạy tôi tự bắn tức không có chỗ hạ thủ.
– Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay chóng dứt.
Ngay khi đó, Sư ném cung bẻ tên, tự lấy dao cạo tóc, theo Mã Tổ xuất gia.
Hành trạng của thiền sư Huệ Tạng tuy hơi ngắn mà đầy đủ ý vị, rất lý thú. Trước khi xuất gia ngài là thợ săn, hoàn toàn không có tâm niệm tu hành nên không thích gặp thầy tu.
Một hôm, nhân đuổi bầy nai chạy qua trước am Mã Tổ, gặp Mã Tổ đứng, ngài hỏi: Hòa thượng thấy bầy nai chạy qua đây chăng? Theo thường tình, chúng ta sẽ nói thấy hoặc không thấy, nhưng Mã Tổ không nói vậy mà ngài hỏi lại: Chú là người gì? Đáp: Thợ săn. Mã Tổ hỏi: Chú bắn giỏi không? Ngài đáp: Bắn giỏi. Mã Tổ hỏi: Một mũi tên chú bắn được mấy con? Đáp: Một mũi bắn được một con. Mã Tổ chê: Chú bắn không giỏi. Một mũi tên bắn được một con mà còn chê không giỏi là sao!
Ngài hỏi lại: Hòa thượng bắn giỏi không? Mã Tổ đáp: Bắn giỏi. Ngài hỏi: Một mũi tên Hòa thượng bắn được mấy con? Mã Tổ nói: Một mũi tên bắn được một bầy. Mã Tổ nói như thế có đúng sự thật không, ngài bắn hồi nào hay quá vậy? Nghe một mũi tên mà bắn tới một bầy, chết nhiều sanh mạng quá, ngài động lòng: Sanh mạng chúng nó, đâu nên bắn một bầy.
Mã Tổ biết tới đây có thể độ được rồi, nên nói: Chú đã biết như thế, sao không tự bắn? Nếu có lòng thương thì sao không tự bắn mình mà đi bắn nó? Ngài nói: Nếu dạy tôi tự bắn tức không có chỗ hạ thủ. Cái đó không tướng mạo làm sao ra tay được. Vậy là ngài nhận ra ý chỉ nơi Mã Tổ rồi. Mã Tổ biết ngài đã hiểu nên nói: Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay chóng dứt. Nhận ra cái không tướng mạo, tức là phiền não vô minh liền hết.
Ngang đây ngài liền bẻ gãy cung tên, cạo tóc xuất gia theo học pháp với Mã Tổ. Khi mê thì thật là mê, lúc tỉnh ngộ chỉ trong chốc lát. Ngài thật là đặc biệt!
Thợ săn bắn một mũi tên chết một con vật, gọi là thiện xạ không phải tay thường, vậy mà ngài nói không giỏi. Còn ngài là một người tu hành mà bắn một mũi chết một bầy, là sao? Lời của Mã Tổ nói mới nghe qua như đùa, nhưng ý nghĩa rất thâm trầm.
Thông thường ở thế gian, người học chuyên ngành nghề nào thì chỉ biết về khía cạnh đó thôi, còn người tu làm một việc mà được tất cả việc. Bởi khi hướng về nội tâm giác ngộ bản thể, thấy được nguồn gốc của các pháp thì nhìn tất cả thảy đều thông suốt, gặp việc gì, ở trong hoàn cảnh nào cũng làm chủ được mình. Tu hành không phải là chuyện huyền hoặc xa xôi, mà là việc làm thực tế và thẳng tắt nhất. Trở về tâm mình, thấy như chỉ có một việc, nhưng đến khi ngộ rồi thì một việc đã thông tất cả đều thông. Đây mới thật sự là việc làm thẳng tắt, thế nên Mã Tổ nói một mũi bắn được cả bầy là vậy.
Đức Phật giác ngộ thành đạo, được đầy đủ Nhất thiết chủng trí, là trí biết thấu suốt tất cả. Từ đó Phật giảng thuyết bao nhiêu giáo lý kinh điển, mà sau này người nghiên cứu về triết học thì nói Phật là nhà triết học, người nghiên cứu về khoa học thì cho rằng Phật là nhà khoa học v.v… Sự thật Phật không là nhà nào hết, Phật chỉ do ngộ đạo mà biết tất cả, nên nói ra điều gì cũng phù hợp.
Như tôi sau khi học xong Phật học, quý thầy rủ học thêm ngoại ngữ, tôi không chịu tham gia. Bởi tôi nghĩ rằng, mình học tiếng nước nào thì chỉ biết tiếng nước đó mà thôi, còn ngôn ngữ của các nước khác, nếu không học thì mình cũng không thể biết. Chi bằng nỗ lực mà tu, một khi trở về tâm mình rồi tự nhiên thấy biết tất cả không lầm. Nghĩ thế tôi quyết định dồn hết tâm huyết vào việc chuyên tu. Bởi vì điều quan trọng là phải trở về nguồn tâm của mình, đạt đến chỗ cứu cánh rồi thì không gì là không thông suốt.
Một hôm, Sư làm việc ở nhà trù, Mã Tổ xuống hỏi:
– Làm việc gì?
Sư thưa:
– Chăn trâu.
– Làm sao chăn?
– Một khi vào cỏ, bèn nắm mũi kéo lại.
– Con thật là chăn trâu.
Như ngài mới đúng là chăn trâu. Chúng ta ai biết chăn trâu thì phải nhớ như vậy. Hai thầy trò nói chuyện như đùa, mà thật là đạo lý của việc tu hành.
Sư cùng Trí Tạng (Tây Đường) đi dạo chơi. Sư hỏi Trí Tạng:
– Sư đệ biết bắt hư không chăng?
Trí Tạng đáp:
– Biết bắt.
– Làm sao bắt được?
Trí Tạng lấy tay chụp hư không. Sư bảo:
– Làm thế ấy đâu bắt được hư không!
– Sư huynh làm sao bắt được?
Sư liền nắm mũi Trí Tạng kéo mạnh. Trí Tạng đau quá la:
– Giết chết lỗ mũi người ta, buông ngay!
Sư bảo:
– Phải làm như thế mới bắt được hư không.
Trí Tạng về đến khuya mới nhận ra ý chỉ ấy.
Hư không làm sao bắt được? Nắm lỗ mũi. Các ngài nói chuyện như đùa chơi cho vui, mà trong đó là một thời giảng kinh Bát-nhã hay vô cùng. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Ngay nơi sắc thấy được không, rời không đâu có sắc, rời sắc đâu có không. Nếu cứ tìm cái không ngoài cái sắc thì không thể nào nhận ra được. Nắm lỗ mũi tức là ngay sắc mà đạt được không. Ngài Trí Tạng tới khuya đêm đó mới tỉnh ngộ được cái nắm mũi ấy.
Lúc trước tôi cũng tâm đắc lý này, nên cho rằng đây là những bài thuyết pháp kỳ diệu. Từ chuyện Mã Tổ một mũi tên bắn một bầy, ngài Huệ Tạng chăn trâu, cho đến việc bắt hư không đều là những bài thuyết pháp kỳ diệu. Nếu dùng tâm điên đảo suy luận thì chỉ chạy lung tung mà thôi.
Phần này tôi đã giảng nhiều lần rồi, nên ở đây không cần nhắc lại nhiều.
Về sau Sư trụ trì thường dùng cung tên để tiếp độ người. Chúng tăng đến tham vấn, Sư hỏi:
– Vừa rồi ở chỗ nào?
Vị tăng thưa: – Ở.
– Ở chỗ nào?
Tăng khảy móng tay một tiếng, đến lễ bái Sư.
Sự hỏi:
– Đem được cái này đến chăng?
– Đem được.
– Ở chỗ nào?
Tăng khảy móng tay ba tiếng, hỏi Sư:
– Thế nào khỏi được sanh tử?
– Dùng khỏi làm gì?
– Thế nào khỏi được?
– Cái này không sanh tử.
Ngài thường dùng cung tên để tiếp độ người, ai tới ngài liền giương cung bắn. Vị tăng đến tham vấn này cũng là một tay cự phách trong nhà thiền, nên mới có những lời nói và hành động chỉ thẳng như thế.
Không hiểu Sư tịch lúc nào và ở đâu.
Sư họ Liệu, quê ở Kiền Hóa, xuất gia lúc tám tuổi, hai mươi lăm tuổi thọ giới Cụ túc. Có ông thầy tướng thấy tướng Sư nói: “Thầy cốt cách phi phàm sẽ làm phụ tá cho vị Pháp vương.”
Sư tìm đến tham vấn Mã Tổ, được Mã Tổ chấp nhận chỉ dạy. Sư đồng nhập thất với thiền sư Hoài Hải, Nam Tuyền v.v… cũng đồng được ấn ký.
Mã Tổ sai Sư đến Trường An dâng thư cho Quốc sư Huệ Trung. Quốc sư hỏi:
– Thầy ngươi nói pháp gì?
Sư từ bên đông sang bên tây đứng. Quốc sư hỏi:
– Chỉ cái này hay còn gì khác?
Sư trở lại bên đông đứng. Quốc sư bảo:
– Cái này là của Mã sư, còn ngươi thế nào?
Sư thưa:
– Đã trình với Hòa thượng.
Quốc sư hỏi Mã Tổ nói pháp gì, ngài từ bên đông qua bên tây đứng, rồi từ tây sang đông đứng, trình như vậy là có trung thực với Mã Tổ không? Ngài đã trình trung thực và xứng đáng là đệ tử Mã Tổ.
Quốc sư bảo: Cái này là của Mã đại sư, còn ngươi thế nào? Ngài đáp: Đã trình với Hòa thượng. Con cũng giống như thầy con thôi. Đó là cái khéo của ngài. Có ai thấy được chỗ trình của ngài chưa? Chưa thấy thì đành để bí mật vậy!
Mã Tổ hỏi Sư:
– Sao con chẳng xem kinh?
Sư thưa:
– Kinh đâu có khác.
– Tuy nhiên như thế, song con về sau vì người cần phải xem.
– Con bệnh cần phải trị dưỡng, đâu dám nói vì người.
– Con lúc lớn tuổi sẽ làm Phật pháp hưng thịnh ở đời.
Ngài ít xem kinh, Mã Tổ thấy thế hỏi sao chẳng xem kinh, ngài thưa: Kinh đâu có khác. Bao nhiêu kinh điển cũng nhằm nói lên cái đó, có gì khác đâu mà bảo con xem thêm nữa? Mã Tổ khuyên: Tuy nhiên như thế, song con về sau vì người cần phải xem. Đương nhiên không có gì khác, nhưng muốn lợi ích cho người thì cần phải xem kinh điển, để có phương tiện mà chỉ dạy. Ngài thưa: Con bệnh cần phải trị dưỡng, đâu dám nói vì người. Con biết như vậy, song vì còn bệnh nên chưa có ý niệm độ người. Mã Tổ nói: Con lúc lớn tuổi sẽ làm Phật pháp hưng thịnh ở đời.
Thiền sư giáo hóa môn đồ, tùy mỗi người mà các ngài khuyên dạy. Đối với người có duyên truyền bá rộng thì bảo xem kinh để có phương tiện, với người thích phóng khoáng như trường hợp Đặng Ẩn Phong thì cho tự do tự tại, không cần xem kinh. Đó là phương tiện khéo léo của các ngài, không cứng ngắt ở một pháp nào.
Sau khi Mã Tổ tịch, chúng thỉnh Sư khai đường giáo hóa, nhằm năm thứ bảy niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường (791).
Thượng thư Lý Cao thường hỏi tăng chúng:
– Mã Tổ có dạy pháp gì?
Tăng chúng đáp:
– Hoặc nói tức tâm tức Phật, hoặc nói phi tâm phi Phật.
Lý Cao nói:
– Đều rơi bên này.
Lý Cao đến hỏi Sư:
– Mã Tổ có dạy pháp gì?
Sư gọi: – Lý Cao!
Lý Cao đáp:
– Dạ.
Sư bảo:
– Tù và, trống động rồi.
Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải
Lý Cao hỏi Mã Tổ dạy pháp gì, tăng chúng thuật lại lời dạy của Mã Tổ, tức là còn ở bên ngôn ngữ chưa thấy được thể kia, nên Lý Cao nói: Đều rơi bên này. Ông đem lời này hỏi ngài. Ngài gọi: Lý Cao! Lý Cao: Dạ. Ngài bảo: Tù và, trống động rồi. Trống với tù và là hai loại dùng để báo động, cảnh tỉnh. Ngài chỉ trả lời thế thôi mà Lý Cao phục sát đất.
Người đạt đạo không cần nói nhiều, còn chúng ta dùng ngôn ngữ nhiều nên xa đạo. Sau này nếu có ai hỏi Thầy dạy pháp gì, tăng ni ở đây sẽ đáp làm sao? Chúng ta cứ tưởng thuật lại lời người xưa là trung thành, nhưng sự thật chưa phải trung thành, người sáng mắt nghe thế sẽ cười chê. Thuật đặc biệt của thiền sư chính ở những chỗ này.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Nhân quả rõ ràng, phải làm sao, phải làm sao?
Có vị tăng bước ra lấy tay bươi dưới đất.
Sự hỏi:
– Làm gì?
Tăng thưa:
– Cứu nhau, cứu nhau.
Sư bảo:
– Đại chúng! Vị tăng này cũng tàm tạm.
Vị tăng ấy phải áo chạy đi. Sư bảo:
– Trùng trong thân sư tử tự ăn thịt sư tử.
Việc làm này hai bên đều chưa chấp nhận nhau. Thầy nói nhân quả, trò bươi dưới đất để cứu nhau, tuy nhiên cũng là đối đãi. Vị tăng bỏ đi, tức là không chấp nhận ngài. Kết thúc chưa được trọn vẹn, vì vậy nói: Trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử.
Có người thế tục đến hỏi Sư:
– Có thiên đường, có địa ngục chăng?
Sư đáp:
– Có.
– Có Phật pháp tăng, tam bảo chăng?
– Có.
Người ấy hỏi nhiều vấn đề nữa, Sư đều đáp có. Người ấy thưa:
– Hòa thượng nói thế e lầm chăng?
– Ông đã hỏi vị tôn túc nào rồi mới đến đây?
Con đã hỏi hòa thượng Kính Sơn.
– Hòa thượng Kính Sơn nói với ông thế nào?
– Ngài nói tất cả đều không.
– Ông có vợ chăng?
– Có.
– Hòa thượng Kính Sơn có vợ chăng?
– Không.
– Hòa thượng Kính Sơn nói không là phải.
Người ấy lễ tạ lui ra.
Hòa thượng Kính Sơn không vợ cho nên đáp không, còn ngài vì người kia có vợ nên đáp có. Câu chuyện này thật thâm trầm! Người đạt đạo không còn mắc kẹt trong đối đãi hữu vi, nên thấy các pháp đều không thật. Kẻ chưa đạt đạo thì nhìn đâu dính đó, vì vậy pháp nào cũng biến thành có. Chúng ta nói pháp cần phải biết trình độ của người, phải biết thời tiết nhân duyên mà nói. Biết được như thế rồi thì nói có cũng đúng, nói không cũng đúng.
Niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ chín (814) ngày mùng tám tháng tư, Sư quy tịch, thọ 80 tuổi, 55 tuổi hạ.
Vua Hiến Tông sắc ban hiệu là Đại Tuyên Giáo thiền sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Chứng Chơn.
Lúc còn tại gia không rõ danh tánh và quê quán ở đâu. Người ta chỉ biết Sư đến tham vấn Mã Tổ được đại ngộ. Từ giã Mã Tổ, Sư đi tìm nơi an trụ. Lúc Sư ra đi đồng thời với sư Phổ Nguyện, Trí Kiên… Sau, Sư an trụ tại chùa Quy Tông ở Lê Sơn.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Các bậc cổ đức từ trước không phải chẳng hiểu biết, các ngài là bậc cao thượng chẳng đồng hạng thường. Người thời nay không thể tự thành tự lập, để tháng ngày qua suông. Các ngươi chớ lầm dụng tâm, không ai thế được ngươi, cũng không có chỗ ngươi dụng tâm. Chớ đến người khác tìm, từ trước chỉ nương người khác mà hiểu, nói ra đều kẹt. Ánh sáng không thấy suốt, chỉ vì trước mắt có vật.
Tại sao ánh sáng không thấy suốt? Chỉ vì trước mắt có vật. Vừa thấy ngoài tâm có vật là còn kẹt mắc chưa thông. Phải thấy không một vật, mới là người ra khỏi vòng đối đãi.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là huyền chỉ?
Sư đáp:
– Không người hay hội.
– Người hướng về thì sao?
Có hướng tức trái.
– Người chẳng hướng về thì sao?
– Ai cầu huyền chỉ?
– Đi! Không có chỗ ngươi dụng tâm.
Đâu không có cửa phương tiện khiến học nhân được vào?
– Quan Âm sức diệu trí hay cứu khổ thế gian. – Thế nào là sức diệu trí Quan Âm?
Sư gõ cái đỉnh ba tiếng, hỏi:
– Ngươi nghe chăng?
– Nghe.
– Sao ta chẳng nghe?
Tăng không đáp được. Sư cầm gậy đuổi ra.
Hỏi: Thế nào là sức diệu trí Quan Âm? Ngài gõ cái đỉnh ba tiếng, rồi hỏi: Nghe chăng? Tức là đã chỉ diệu trí của Quan Âm rõ ràng rồi. Lối dạy đạo của ngài thật khéo léo và vô cùng lý thú, nhưng do chúng ta chưa ngộ, nên nghe như thần chú, không biết các ngài nói cái gì.
Đại Ngu đến từ biệt Sư. Sự hỏi:
– Đi đâu?
– Đi các nơi học ngũ vị thiền.
– Các nơi có ngũ vị thiền, ta trong ấy chỉ có nhất vị thiền.
– Thế nào là nhất vị thiền?
Sư liền đánh. Đại Ngu bỗng nhiên đại ngộ, thưa: – A! Con hội rồi.
– Nói, nói!
Đại Ngu vừa nghĩ trả lời, Sư lại đánh đuổi ra.
Sau, Đại Ngu đến Hoàng Bá đem việc này thuật lại. Hoàng Bá thượng đường dạy chúng:
– Mã đại sư sanh ra tám mươi tư vị thiện tri thức, hỏi đến cái tiêu chảy, tiêu chảy đầy đất chỉ có Quy Tông.
Đại Ngu hỏi: Sao là nhất vị thiền? Ngài đánh cho một gậy, Đại Ngu liền ngộ. Ngài còn muốn đánh tiếp, Đại Ngu nói: A! Con hội rồi. Ngài bảo: Nói, nói. Đại Ngu vừa suy nghĩ để nói, bị ngài đánh đuổi ra. Thuật đánh này của ngài được thiền sư Hoàng Bá khen ngợi, sau này áp dụng cho Lâm Tế. Đại Ngu sau đến Hoàng Bá, thuật lại việc này. Hoàng Bá thượng đường nói: Mã đại sư sanh ra tám mươi bốn vị thiện tri thức, hỏi đến cái tiêu chảy, tiêu chảy đầy đất chỉ có Quy Tông.
Hoàng Bá cảm thông cái đánh của ngài, nên khi Lâm Tế đến hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?”, Hoàng Bá liền đánh. Ba phen hỏi thì ba phen bị đánh. Lúc Lâm Tế ra đi, Hoàng Bá chỉ đi đến chỗ Đại Ngu. Bởi trước Đại Ngu do bị đánh mà được ngộ, nên cảm thông giúp cho Lâm Tế đại ngộ.
Sư vào vườn hái rau, bèn vẽ một vòng tròn quanh bụi rau, bảo chúng:
– Không được động đến cái này.
Toàn chúng đều không dám động. Giây lâu, Sư lại đến xem bụi rau, thấy còn nguyên, Sư bèn cầm gậy đuổi chúng tăng bảo:
– Cả bọn mà không có một người trí tuệ.
Ngày xưa thầy trò cùng đi làm với nhau, ngài vào vườn hái rau với chúng, rồi vẽ vòng tròn quanh bụi rau, nói: Không được động đến cái này. Toàn chúng đều không dám đụng tới. Lát sau ngài trở lại xem thấy bụi rau còn nguyên, bèn cầm gậy đuổi chúng ra, nói: Cả bọn mà không có một người trí tuệ. Cấm không cho người ta động tới nên không ai dám động, lại nói không có trí tuệ rồi đánh đuổi ra. Như vậy là sao? Lời thiền sư nói chúng ta phải hiểu ngược lại, nếu hiểu theo nghĩa suông tức nhiên bị gạt.
Vân Nham đến tham vấn, Sư làm thế kéo cung. Vân Nham giây lâu mới làm thế rút kiếm. Sư bảo:
– Sao đến rất chậm?
Vân Nham đến tham vấn, ngài ra bộ kéo cung. Vân Nham giây lâu mới làm thế rút kiếm, ngài bảo:
Sao đến rất chậm? Muộn quá rồi! Khi người ta làm thì mình phải trả lời liền, giặc tới mà còn suy nghĩ thì làm sao kịp, qua mất rồi!
Có vị tăng đến từ giã, Sư bảo:
– Lại gần đây, ta vì ngươi nói Phật pháp.
Tăng đến gần. Sư bảo:
– Các ngươi trọn còn việc, ngươi khi khác lại đến đây, không người biết ngươi. Trời lạnh trên đường khéo mà đi.
Có vị tăng đến từ giã đi nơi khác, ngài bảo: Lại gần đây, ta vì ngươi nói Phật pháp. Tăng đến gần, ngài bảo: Các ngươi trọn còn việc, ngươi khi khác lại đến đây, không người biết ngươi. Lẽ ra khi ngài kêu lại gần, là vị tăng thấy được Phật pháp rồi. Nhưng vị tăng lại gần mà không ngộ, vì vậy ngài mới nói như thế. Ngài bảo: Trời lạnh trên đường khéo mà đi. Thôi, ông không nhận được ý chỉ của ta, vậy trời lạnh đi đường cẩn thận!
Sư thượng đường bảo:
– Nay tôi muốn nói thiền, các ngươi tất cả lại gần đây.
Đại chúng tiến đến gần. Sư bảo:
– Các ngươi nghe, hạnh Quan Âm khéo hiện các nơi chốn.
Tăng hỏi:
– Thế nào là hạnh Quan Âm?
Sư khảy móng tay, hỏi:
– Các ngươi có nghe chăng?
– Nghe.
– Một bọn này đến đây tìm cái gì?
Sư cầm gậy đuổi ra, rồi cười lớn, vào phương trượng.
Kỳ lạ! Tăng thắc mắc thế nào là hạnh Quan Âm, ngài khảy móng tay rồi hỏi: Nghe chăng? Tăng đáp: Nghe. Ngài bảo: Một bọn này đến đây tìm cái gì? Ngài chỉ hạnh Quan Âm khéo léo vô cùng. Nói nghe tức nhiên phải thấy hạnh Quan Âm, vậy mà nghe rồi cũng không chịu thấy, đáng đánh đáng đuổi. Thế nên ngài quở, lấy gậy đánh đuổi đi.
Thứ sử Giang Châu là Lý Bột đến hỏi Sư:
– Trong Kinh nói hạt cải để trong núi Tu-di, Bột không nghi. Lại nói “núi Tu-di để trong hạt cải”, phải là nói dối chăng?
Sư gạn lại:
– Người ta đồn Sứ quân đọc hết muôn quyển sách phải chăng?
– Đúng vậy.
– Rờ từ đầu đến chân, thân bằng cây dừa, muôn quyển sách để chỗ nào?
Lý Bột cúi đầu lặng thinh.
Nghe trong kinh nói núi Tu-di để trong hạt cải, Lý Bột nghi ngờ: Núi Tu-di to lớn khôn kể làm sao bỏ trong hạt cải được, nói như vậy e là nói dối. Sư gạn lại: Người ta đồn Sứ quân đọc hết muôn quyển sách phải chăng? Lý Bột nói: Đúng vậy. Ngài liền hỏi: Rờ từ đầu đến chân, thân bằng cây dừa, muôn quyển sách để chỗ nào? Lý Bột cúi đầu lặng thinh.
Muôn quyển sách nếu chất lên gần bằng cái nhà, còn thân chúng ta từ đầu đến chân cao bao nhiêu, vậy làm sao chứa hết muôn quyển sách? Như vậy, ngài đã trả lời núi Tu-di ở trong hạt cải một cách tường tận rồi. Chúng ta thấy tài biện luận của các ngài không theo thế thường giải thích từng câu từng lời, mà các ngài dùng phương tiện đặt ngược vấn đề được hỏi để gạn lại, tự nhiên người hỏi nhận thấy rõ ràng.
Sư có làm bài tụng:
Quy Tông sự lý tuyệt,
Nhật luân chánh đương ngọ,
Tự tại như sư tử,
Bất dữ vật y hỗ,
Độc bộ tứ sơn đảnh,
Ưu du tam đại lộ.
Khiếm khi phi cầm trụy,
Tần thân chúng tà bố,
Cơ thụ tiễn dị cập,
Ảnh một thủ nan phủ,
Thi trương nhược cung kỹ,
Tài tiễn như xích độ.
Xảo lũ vạn ban danh,
Quy Tông hoàn tự thổ,
Ngữ mặc âm thanh tuyệt,
Chỉ diệu tình nan thố,
Khí cá nhãn hoàn lung,
Thủ cá nhĩ hoàn cổ.
Nhất thốc phá tam quan,
Phân minh tiễn hậu lộ,
Khả lân đại trượng phu,
Tiên thiên vi tâm Tổ.
Dịch:
Quy Tông sự lý bặt,
Mặt trời đứng giữa trưa,
Tự tại như sư tử,
Chẳng tựa nương nơi vật,
Riêng lên chót bốn núi,
Dạo chơi ba đường lớn.
Ngáp to chim thú rớt,
Hầm hừ bọn tà kinh,
Máy dựng, tên dễ đến,
Bóng lặn, tay khó che,
Bày ra dường thợ khéo,
Cắt xén tợ thước đo.
Chạm khéo muôn thứ tên,
Quy Tông lại giống đất,
Nói nín tiếng tăm dứt,
Diệu chỉ tình khó dò,
Bỏ mắt kia thành điếc,
Lấy tai nọ thành mù.
Một dùi phủng ba cổng,
Rõ ràng đường tên sau,
Đáng thương đại trượng phu!
Tiên thiên là tâm Tổ.
Bài tụng này siêu thoát vô cùng. Ngài diễn tả cảnh giới của mình: Không còn gì dính dáng, cũng không nương gá vào đâu, dứt bặt ngôn ngữ, độc lộ hiện toàn thân, vượt khỏi chót bốn núi, dạo chơi ba đường lớn. Ngài quả thật là sư tử, gầm lên một tiếng tà ngoại đều thất kinh, không dám bén mảng tới gần… Diệu dụng của ngài khôn lường như thế.
Sau khi Sư tịch, vua ban sắc hiệu là Chí Chơn thiền sư.
Sư họ Trịnh, quê ở Tương Dương, lúc nhỏ xuất gia theo thầy ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Châu.
Ban sơ đến tham vấn Mã Tổ, Sư hỏi:
– Thế nào là Phật?
Mã Tổ đáp:
– Tức tâm là Phật.
Sư liền đại ngộ.
Thiền sư Pháp Thường họ Trịnh, quê ở Tương Dương, lúc nhỏ xuất gia theo thầy học đạo ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Châu. Trước tiên, ngài đến tham vấn thiền sư Mã Tổ, nghe Mã Tổ nói Tức tâm là Phật, liền ngộ. Ngài lấy câu đó làm kim chỉ nam cho việc hành thiền.
Đời Đường khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (785-805), Sư đến núi Đại Mai cách xa huyện Ngân bảy mươi dặm, nơi Mai Tử Chân ở ẩn ngày trước, kết cỏ làm am.
Trong hội Diêm Quan (chỗ giáo hóa của thiền sư Tề An) có vị tăng vào núi tìm cây gậy, lạc đường đến am Sư. Vị tăng hỏi:
– Hòa thượng ở núi này được bao lâu?
Sư đáp:
– Chỉ thấy bốn núi xanh lại vàng.
– Ra núi đi đường nào?
– Đi theo dòng suối.
Vị tăng về thuật lại cho thiền sư Tề An, Tề An nói:
– Ta hồi ở chỗ Mã Tổ từng thấy một vị tăng, sau này không biết tin tức gì, có phải vị tăng này chăng?
Tề An bèn sai vị tăng ấy đi thỉnh Sư xuống núi.
Sư có bài kệ đáp:
Tồi tàn khô mộc ỷ hàn lâm,
Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm.
Tiều khách ngộ chi du bất cố,
Dĩnh nhân na đắc khổ truy tầm.
Dịch:
Cây khô gãy mục tựa rừng xanh,
Mấy độ xuân về chẳng đổi lòng.
Tiều phu trông thấy nào đoái nghĩ,
Dĩnh khách thôi thì chớ kiếm tìm.
Sau khi ngộ đạo, ngài lên núi Đại Mai ở ẩn. Có vị tăng trong hội thiền sư Tề An vào núi tìm gậy, đi lạc đến am ngài. Gặp nhau, tăng hỏi: Hòa thượng ở núi này bao lâu? Ngài đáp: Chỉ thấy bốn núi xanh lại vàng. Mùa kia thấy xanh, mùa nọ thấy vàng, không cần biết bao lâu, tháng nào, năm nào. Người xưa ở núi như vậy. Chúng ta bây giờ ở núi, giở lịch hoài thành ra buồn quá.
Tồi tàn khô mộc ỷ hàn lâm,
Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm.
Tiều khách ngộ chi du bất cố,
Dĩnh nhân na đắc khổ truy tầm.
Dịch:
Cây khô gãy mục tựa rừng xanh,
Mấy độ xuân về chẳng đổi lòng.
Tiều phu trông thấy nào đoái nghĩ,
Dĩnh khách thôi thì chớ kiếm tìm.
Ngài ví mình là cây khô trong rừng lạnh, đã gặp bao nhiêu mùa xuân mà tâm không thay đổi. Mấy ông tiều phu gặp không thèm để ý, thì người đất Dĩnh khổ công theo tìm làm chi?
Mã Tổ nghe Sư ở núi bèn sai một vị tăng đến thăm dò.
Tăng đến hỏi Sư:
– Hòa thượng gặp Mã Tổ đã được cái gì, về ở núi này?
Sư đáp:
– Mã Tổ nói với tôi “Tức tâm là Phật”, tôi bèn đến ở núi này.
– Gần đây Mã Tổ lại nói “Phi tâm phi Phật”.
– Ông già mê hoặc người chưa có ngày xong, mặc ông “Phi tâm phi Phật”, tôi chỉ biết “Tức tâm là Phật”.
Vị tăng trở về thưa lại Mã Tổ những lời Sư nói. Mã Tổ nói với đại chúng:
– Đại chúng! Trái Mai đã chín.
Từ đây nhiều vị thiền khách đến tham vấn Sư.
Tức tâm là Phật. Nghe được câu đó là đủ ở núi rồi.
Câu nói Tức tâm là Phật là trái Mai đã chín. Mặc ông Phi tâm phi Phật, tôi chỉ biết Tức tâm là Phật. Tại điểm đó, nhớ như vậy để sau này xét công phu của mình chín hay sống. Nếu nghe mà nói: “Ủa sao lạ vậy! Hồi trước tôi nghe nói Tức tâm tức Phật, bây giờ lại nói Phi tâm phi Phật là sao?” Như vậy là trái mai chưa chín.
Từ khi Mã Tổ nói với đại chúng trái mai đã chín, thiền khách đến tham vấn ngày càng đông đảo.
Cư sĩ Bàng Uẩn muốn khám nghiệm Sư, tìm đến phỏng vấn, vừa gặp Sư, ông liền hỏi:
– Nghe danh Đại Mai đã lâu, chẳng biết trái Mai chín chưa?
Sư đáp:
– Chín! Ông nhằm chỗ nào cắn?
– Trăm mảnh vụn.
Sư duỗi tay bảo:
– Trả hạt lại cho ta.
Cư sĩ im lặng.
Thật ra người đã ngộ thì đâu còn thấy nhiều ít. Chính vì Bàng Uẩn muốn hỏi thử xem ngài thật ngộ hay chưa, nên mới nói trăm mảnh vụn nghĩa là cắn nát bét.
Ngài đáp: Trả hạt lại cho ta. Nếu ông cắn nát thì trả hạt lại cho ta. Cư sĩ im lặng.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Tất cả các ngươi mỗi người tự xoay tâm lại tận nơi gốc, chớ theo ngọn của nó. Chỉ được gốc thì ngọn tự đến. Nếu muốn biết gốc cần rõ tâm mình. Tâm này nguyên là cội gốc tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, tâm sanh thì các thứ pháp sanh, tâm diệt thì các thứ pháp diệt. Tâm chẳng tựa tất cả thiện ác, mà sanh muôn pháp, vốn tự như như.
Ngài thượng đường cốt yếu để chỉ thẳng cho chúng ta cái chân thật sẵn có nơi mỗi người.
Giáp Sơn cùng Định Sơn đồng đi đường cùng nói chuyện với nhau. Định Sơn nói:
– Trong sanh tử, không Phật tức phi sanh tử.
Giáp Sơn nói:
– Trong sanh tử, có Phật tức chẳng mê sanh tử.
Hai người lên núi lễ vấn Sư. Giáp Sơn đem câu nói của hai người thuật lại Sư nghe và hỏi Sư:
– Chưa biết chỗ thấy của hai người ai được thân (gần gũi)?
Sư bảo:
– Một thân một sơ.
– Ai được thân?
– Hãy đi, sáng mai lại.
Sáng hôm sau Giáp Sơn lại đến hỏi Sư.
Sư bảo:
– Người thân thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng thân.
Có hai vị sư không biết tên gì, lấy tên núi làm danh xưng là Giáp Sơn và Định Sơn, cùng đi đường bàn chuyện với nhau. Hai người nói đối nghịch nhau, không ai chấp nhận ai.
Lễ vấn Sư, xin xác nhận ai gần với lý đạo hơn.
Sư bảo: Người thân thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng thân.
Như vậy dở hay không dở, trúng hay trật là ở chỗ người thân thì chẳng hỏi, người hỏi thì chẳng thân. Ngài không đoán trên hai câu nói, mà người nào còn thắc mắc, còn băn khoăn thì biết người đó không thân, dù nói gì cũng không thân. Người không thắc mắc, tâm an nhiên thì tự nhiên thân. Thiền sư quán sát người nào hỏi nhiều là tâm còn khắc khoải chưa an, chưa an tức là không thân.
Người xưa thật khéo. Nếu chúng ta nghiệm hai câu nói rồi phân biệt thân sơ, thì nói hay cách mấy mà tâm chưa an cũng không phải thân. Ngược lại, nói trúng hay trật không biết mà tâm an rồi tự nhiên thân. Cho nên, ngài dùng phương tiện: Hãy đi, sáng mai lại. Sáng mai người nào tới hỏi trước thì người đó chưa thân.
Bên núi Đại Mai có một kho đá, tương truyền là chỗ để thuốc của thần tiên. Một đêm, Sư nằm mộng thấy có thần nhân đến bảo:
Thầy không phải phàm phu, trong kho đá có quyển sách thánh, người nhận được là chủ cõi này, chẳng thế cũng là bậc đế vương.
Ngay trong mộng Sư đáp:
– Xưa Tăng Trù không màng đến kinh tiên thì quyển kinh ấy tự mất. Tôi lấy Niết-bàn tự vui, tuổi thọ kia đâu thể cùng trời đồng ư?
Vị thần nói:
– Đất này là linh phủ, người thế tục ở đây liền sanh tại biến.
Sư bảo:
– Tôi tạm ẩn nơi làng Mai Úy, chẳng phải chiếm lâu.
Bên núi Đại Mai có một kho đá, tương truyền là chỗ để thuốc của thần tiên. Một đêm, Sư nằm mộng thấy có thần nhân đến bảo:
–
Thầy không phải phàm phu, trong kho đá có quyển sách thánh, người nhận được là chủ cõi này, chẳng thế cũng là bậc đế vương.
Chúng ta ngủ mà nghe nói như vậy thì sáng mai lại bươi khe đá, móc tượng đá liền.
Ngay trong mộng Sư đáp: Xưa Tăng Trù không màng đến kinh tiên thì quyển kinh ấy tự mất. Tôi lấy Niết-bàn tự vui, tuổi thọ kia đâu thể cùng trời đồng ư?
Tuổi thọ kia tức là tuổi thọ của Niết-bàn vô sanh, không đồng với cõi trời. Người tỉnh trong mộng cũng tỉnh. Chúng ta ban ngày tỉnh, ban đêm lại mộng.
Vị thần nói:
Đất này là linh phủ, người thế tục ở đây liền sanh tai biến.
Sư bảo:
– Tôi tạm ẩn nơi làng Mai Ủy, chẳng phải chiếm lâu.
Tinh thần của người xưa là tỉnh táo từ ban ngày cho đến ban đêm, mộng my cũng vẫn tỉnh táo, luôn nhớ hướng đi của mình, không bị lầm gạt.
Chợt một hôm, Sư gọi đồ chúng đến bảo:
– Đến không thể kìm, đi không thể tìm.
Sư thản nhiên lặng lẽ, nghe tiếng chuột kêu, Sư lại hỏi:
– Tức vật này không phải vật khác, các ngươi phải khéo gìn giữ. Nay ta đi đây.
Nói xong, Sư thị tịch, thọ 88 tuổi, 69 tuổi hạ.
Cái gì đến thì không thể kìm hãm cho nó không đến. Tới chừng muốn tìm, tìm cũng không ra.
Nghe tiếng chuột kêu ban đêm, ngài nói tức vật này, không vật gì khác. Chuột kêu với mình dính dáng gì mà ngài bảo phải gìn giữ? Cái hay của ngài là ở câu nói đó. Bởi vì tất cả động tịnh ở bên ngoài, không cái nào ngoài mình mà có, tâm là gốc của muôn pháp không nghi.
Sau này thiền sư Trí Giác có làm bài tán rằng:
Sư sơ đắc đạo
Tức tâm thị Phật,
Tối hậu thị đồ
Vật phi tha vật.
Cùng vạn pháp nguyên
Triệt thiên thánh cốt,
Chân hóa bất di
Hà phương xuất một.
Dịch:
Sư mới được đạo
Tức tâm là Phật,
Rốt sau dạy chúng
Vật chẳng vật khác.
Tột nguồn muôn pháp
Thấu xương muôn thánh,
Hóa thật chẳng dời
Ngại gì còn mất.
Thật là hay! Hồi mới được đạo thì Tức tâm thị Phật, tới khi sắp tịch thì Vật phi tha vật. Tức là nghe tiếng chuột kêu cũng vẫn thấy ở tâm mình, không thấy khác. Như vậy ngài đã đạt được tột nguồn của muôn pháp, thấu triệt xương cốt của ngàn bậc thánh. Nên chân hóa bất di, cái chân thật không dời đổi thì ngại gì còn mất.
Sư họ Đỗ, quê ở Thượng Lạc, Thương Châu. Mẹ Sư họ Lý, một hôm bà nghe trong hư không có tiếng nói: “Cho ở nhờ được chăng?”, bà liền biết có thai. Sư lọt lòng mẹ nhằm lúc ban đêm, có hào quang sáng đầy nhà. Được bốn năm tuổi mà Sư đi thì nhìn thẳng, ngồi thì tréo kiết già.
Đến chín tuổi, Sư theo thiền sư Chí Bổn ở chùa Khai Nguyên học kinh Đại thừa. Năm mười hai tuổi, Sư cạo tóc xuất gia. Hai mươi tuổi, Sư thọ giới Cụ túc với luật sư U ở Tương Châu. Sư học luật Tứ phần vừa xong, liền vì chúng diễn giảng. Sư giảng kinh Đại Niết-bàn suốt mùa hạ mùa đông chẳng dừng.
Buổi sơ sinh, ngài đã tỏ ra là người vô nghiệp. Mẹ ngài nghe trong hư không hỏi “Cho nghỉ nhờ được không?” tức là vô nghiệp rồi. Bốn năm tuổi mà đi thì nhìn thẳng, ngồi thì tréo kiết già. Rõ ràng ngài đã tu từ trước, bây giờ tu tiếp, không phải chuyện lạ.
Nghe tiếng Mã Tổ, Sư tìm đến yết kiến.
Mã Tổ thấy tướng mạo kỳ đặc, tiếng nói thanh như chuông, bèn bảo:
– Cao lớn nghiêm chỉnh mà trong ấy không Phật.
Sư lễ bái, quỳ thưa:
– Về kinh điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe thiền môn “tức tâm là Phật” thật chưa hiểu thấu.
– Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật khác.
Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Độ sang?
– Đại đức chính đang ồn. Hãy đi! Khi khác lại.
Sư vừa đi, Mã Tổ gọi:
– Đại đức!
Sư xoay đầu lại. Mã Tổ hỏi:
– Là cái gì?
Sư liền lãnh hội, lễ bái. Mã Tổ bảo:
– Kẻ độn, lễ bái làm gì?
Cao lớn nghiêm chỉnh mà trong ấy không Phật. Trong ấy có Phật, sao lại bị chê? Vì không nhận được thì có cũng như không, cho nên nói trong ấy không Phật.
Sư lễ bái, quỳ thưa:
– Về kinh điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe thiền môn “tức tâm là Phật” thật chưa hiểu thấu.
– Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật khác.
Chỉ thẳng vào tâm chưa hiểu đó là phải, không có vật nào khác. Ngài chưa thấu được, liền hỏi thêm:
– Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Độ sang?
– Đại đức chính đang ồn. Hãy đi! Khi khác lại.
Ngài muốn hỏi mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Độ sang. Mã Tổ nói khéo: Đại đức chính đang ồn. Hãy đi! Khi khác lại. Trong Bích Nham Lục câu này được dẫn nhiều nhất. Chỗ này là chỗ khéo vô cùng của Mã Tổ. Người thấy tánh, nghe câu này là thấy rồi, còn chưa thấy thì phải đi chỗ khác.
Sư vừa đi, Mã Tổ gọi:
– Đại đức!
Sư xoay đầu lại. Mã Tổ hỏi:
Là cái gì?
Sư liền lãnh hội, lễ bái. Mã Tổ bảo:
– Kẻ độn, lễ bái làm gì?
Người xưa là như vậy. Nhiều khi đánh, nhiều khi kêu kẻ độn nhưng lại truyền tâm ấn cho kẻ độn ấy. Mã Tổ gọi Đại đức cho ngài xoay đầu ngó lại. Đây là cách mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Độ sang. Khi ngài xoay đầu ngó lại, Mã Tổ liền hỏi: Là cái gì? Ngài sực tỉnh liền ngộ, lãnh hội ngay chỗ đó. Trong nhà thiền cái xoay đầu ngó lại quan trọng lắm. Người khéo ngay đó đảnh lễ, còn không khéo thì thôi, bị đuổi đi.
Sau khi nhận được ý chỉ, Sư tìm đến Tào Khê lễ tháp Lục Tổ và đi viếng các thánh tích Lê Sơn, Thiên Thai… Sư lại đến Thanh Lương, dừng ở chùa Kim Các tám năm để xem Đại tạng kinh. Sau đó, Sư sang phương nam đến Tây Hà gặp thứ sử Đổng Thúc Triền thỉnh Sư ở lại tinh xá Khai Nguyên.
Sư nói:
– Duyên của ta ở đây vậy.
Ở đây hơn hai mươi năm, Sư xiển dương thiền học, các nơi đều nghe tiếng, người học đạo tìm đến ngày càng đông. Đáp những câu hỏi của người, Sư thường nói câu:
– Chớ vọng tưởng.
Một câu chỉ thẳng. Chớ vọng tưởng! Đủ rồi. Bao nhiêu câu hỏi Đông Tây, chỉ cần đáp một câu đó là đủ. Như vậy ngài đã nắm trọn cái rốn của bao nhiêu kinh điển, vì hết thảy phương pháp tu đều nằm trong câu “chớ vọng tưởng”.
Sư dạy chúng:
– Chư Phật chưa từng ra đời, cũng không có một pháp dạy người, chỉ tùy bệnh cho thuốc nên có mười hai phần giáo, như lấy trái ngọt nhét thuốc đắng vào, cốt gột sạch gốc nghiệp cho các ngươi.
Những vị cổ đức xưa, sau khi hội được ý chỉ, bèn cất am tranh hoặc ở thất đá, nấu cơm bằng lò bể, như vậy trải hơn hai ba mươi năm, danh lợi không bận lòng, tiền của chẳng phiền nghĩ, quên cả người đời, ở ẩn chốn núi rừng, vua chúa mời chẳng đến, chư hầu thỉnh cũng chẳng đi. Đâu như chúng ta ngày nay, tham danh mến lợi, chìm đắm trong bụi đời, như bọn con buôn.
Bồ-tát học Bát-nhã không được khinh mạn, như đi trên băng, như chạy trên kiếm bén. Khi lâm chung một mảy tình phàm lượng thánh chưa sạch, chút bụi tư niệm chưa quên liền tùy niệm thọ sanh, thọ thân năm ấm nặng hay nhẹ, đến trong thai lừa bụng ngựa, hoặc gá sanh trong địa ngục chịu vạc dầu sôi, đồng cháy quấn mình. Từ trước những ghi nhớ nghĩ tưởng, hiểu biết trí tuệ thảy đều một thời mất hết. Sau đó lại sanh làm trùng kiến, làm muỗi mòng. Tuy là nhân lành mà mắc quả dữ, lại mong điều gì?
Huynh đệ! Chỉ vì tham dục thành tánh nên hai mươi lăm cõi ràng buộc chân mình, không biết chừng nào xong xuôi. Tổ sư xem chúng sanh cõi này (Trung Hoa) có căn tánh Đại thừa nên chỉ truyền tâm ấn để dạy mê tình. Người được đó chẳng chọn phàm thánh, ngu hay trí, vả lại nhiều rỗng, không bằng ít thật. Kẻ đại trượng phu hiện nay thẳng đó liền hết sạch, chóng dứt muôn duyên, vượt khỏi dòng sanh tử, ra ngoài tánh cách tầm thường. Linh quang riêng chiếu, vật không thể buộc, vòi vọi rỡ rỡ riêng đi trong tam giới. Đâu chỉ thân cao trượng sáu vàng ròng chói sáng, cổ đeo vòng bóng, tướng lưỡi rộng dài. “Nếu lấy sắc thấy ta là hành đạo tà.” Dù có quyến thuộc trang nghiêm, chẳng cầu mà tự được, quả đất núi sông chẳng ngại mắt sáng, được đại tổng trì, một nghe ngàn ngộ, trọn chẳng cầu giá trị bằng bữa ăn.
Các ngươi nếu chẳng như thế, Tổ sư đến cõi này chẳng phải thường, có tổn mà có ích. Có ích là trong ngàn người chọn lọc được một người nửa người là pháp khí. Có tổn, như đoạn trước đã nói. Theo kinh điển ba thừa tu hành chẳng ngại được Tứ quả Tam hiền, có phần tiến tu. Cho nên tiên đức nói: “Liễu tức nghiệp chướng xưa nay không, chưa liễu trở lại đền nợ trước.”
Chư Phật chưa từng ra đời, cũng không có một pháp dạy người, chỉ tùy bệnh cho thuốc nên có mười hai phần giáo, như lấy trái ngọt nhét thuốc đắng vào, cốt gột sạch gốc nghiệp cho các ngươi.
Các ngài chẳng khác nào mấy bà mẹ quê muốn cho con uống thuốc sán lãi, họ lấy thuốc nhét vào trái chuối cho uống, sau đó xổ hết. Mười hai phần giáo tùy bệnh cho thuốc, không phải là gốc. Chư Phật chưa từng ra đời, cũng không có một pháp dạy người, đây mới là gốc.
Những vị cổ đức xưa, sau khi hội được ý chỉ, bèn cất am tranh hoặc ở thất đá, nấu cơm bằng lò bể, như vậy trải hơn hai ba mươi năm, danh lợi không bận lòng, tiền của chẳng phiền nghĩ, quên cả người đời, ở ẩn chốn núi rừng, vua chúa mời chẳng đến, chư hầu thỉnh cũng chẳng đi. Đâu như chúng ta ngày nay, tham danh mến lợi, chìm đắm trong bụi đời, như bọn con buôn.
Câu nói cuối nghe đau lòng làm sao! Chúng ta ngày nay, tham danh mến lợi, chìm đắm trong bụi đời, như bọn con buôn. Thật tình nếu chúng ta ôm chuông mõ đi tụng niệm rồi lãnh một số tiền về thì khác nào con buôn, nhiều khi còn vác theo nhiều thứ khác nữa. Tu hành như vậy sẽ đi tới đâu?
Người xưa ở núi hai ba mươi năm, danh lợi không bận lòng, tiền của chẳng phiền nghĩ, quên cả người đời, ở ẩn trong núi, vua chúa mời chẳng đến, chư hầu thỉnh cũng chẳng đi. Người tu như thế tâm mới thanh tịnh. Chúng ta nợ đời lôi thôi, không sao an ổn. Cho nên ngài dạy phải có tinh thần tu học mạnh mẽ như người xưa.
Bồ-tát học Bát-nhã không được khinh mạn, như đi trên băng, như chạy trên kiếm bén. Kinh nói Bồ-tát học pháp Bát-nhã không được khinh người, phải coi chuyện khinh mạn nguy hiểm như đi trên băng vậy. Ví như chúng ta qua sông lớn trong mùa đông, băng đóng cứng một lớp trên mặt nước, muốn qua đừng bị rớt xuống dưới thì phải nín thở đi thật nhẹ, rủi nặng chân một cái là băng bể, lọt xuống nước. Chạy trên kiếm bén thì phải nhẹ nhàng, nhón gót chút thôi, vì nếu để mạnh xuống thì sẽ bị cứa đứt liền. Người tu cũng vậy, dè dặt không khinh mạn. Có tâm ngã mạn là bệnh nặng, giống như đi trên kiếm bén mà giẫm chân mạnh xuống.
Khi lâm chung một mảy tình phàm lượng thánh chưa sạch, chút bụi tư niệm chưa quên, liền tùy niệm thọ sanh. Khi sắp lâm chung còn một mảy tình phàm lượng thánh chưa sạch, một chút bụi tư niệm khởi nghĩ riêng, từng chút từng chút chưa quên thì liền theo niệm thọ sanh.
Thọ thân năm ấm nặng hay nhẹ, đến trong thai lừa bụng ngựa, hoặc gá sanh trong địa ngục chịu vạc dầu sôi, đồng chảy quấn mình. Từ trước những ghi nhớ nghĩ tưởng, hiểu biết trí tuệ thảy đều một thời mất hết. Học hiểu đủ thứ, nhớ đầy bụng nhưng lúc đó không còn nữa.
Sau đó lại sanh làm trùng kiến, làm muỗi mòng. Tuy là nhân lành mà mắc quả dữ, lại mong điều gì? Sở dĩ mắc quả dữ là tại tình lượng chưa hết, tư niệm chưa xong, tự nhiên phải bị luân hồi. Tu sạch hết cái đó là hết luân hồi.
Huynh đệ! Chỉ vì tham dục thành tánh nên hai mươi lăm cõi ràng buộc chân mình, không biết chừng nào xong xuôi. Tổ sư xem chúng sanh cõi này (Trung Hoa) có căn tánh Đại thừa nên chỉ truyền tâm ấn để dạy mê tình. Người được đó chẳng chọn phàm thánh, ngu hay trí, vả lại nhiều rỗng, không bằng ít thật. Trôi lăn trong hai mươi lăm cõi, gốc vì tham dục. Người nhiều cái rỗng không, không bằng chỉ được một ít mà thật.
Kẻ đại trượng phu hiện nay thẳng đó liền hết sạch, chóng dứt muôn duyên, vượt khỏi dòng sanh tử, ra ngoài tánh cách tầm thường. Linh quang riêng chiếu, vật không thể buộc, vòi vọi rỡ rỡ riêng đi trong tam giới. Đại trượng phu nhận được cái đó rồi thì muôn duyên liền buông hết, vượt khỏi vòng sanh tử, chỉ còn linh quang riêng chiếu vòi vọi rỡ rỡ đi trong tam giới.
Đâu chỉ thân cao trượng sáu vàng ròng chói sáng, cổ đeo vòng bóng, tướng lưỡi rộng dài. Đâu phải thấy thân tướng tốt như vàng ròng của đức Phật mà cho đó là Phật thật. Thấy Phật là thấy ngay Phật pháp thân bất sanh bất diệt của mình.
“Nếu lấy sắc thấy ta là hành đạo tà.” Dù có quyến thuộc trang nghiêm, chẳng cầu mà tự được, quả đất núi sông chẳng ngại mắt sáng, được đại tổng trì, một nghe ngàn ngộ, trọn chẳng cầu giá trị bằng bữa ăn. Người ngộ được tánh giác thì không còn chướng ngại, một nghe ngàn ngộ. Ngũ dục thế gian dù giá trị chừng bữa ăn cũng không thích.
Các ngươi nếu chẳng như thế, Tổ sư đến cõi này chẳng phải thường, có tổn mà có ích. Có ích là trong ngàn người chọn lọc được một người, nửa người là pháp khí. Có tổn, như đoạn trước đã nói. Theo kinh điển ba thừa tu hành chẳng ngại được Tứ quả Tam hiền. Có phần tiến tu. Cho nên tiên đức nói: “Liễu tức nghiệp chướng xưa nay không, chưa liễu trở lại đền nợ trước.”
Liễu tức là liễu cái đó. Nếu chúng ta không được như vậy, cần phải cố gắng.
Vua Hiến Tông nhà Đường nhiều phen thỉnh Sư, Sư đều lấy lý do bệnh từ chối không đến. Đến Mục Tông lên ngôi lại sai Lưỡng nhai Tăng lục là Linh Phụ v.v… đến thỉnh Sư.
– Hoàng thượng ân chỉ phen này chẳng giống lúc thường, xin Hòa thượng hãy thuận thiên tâm, không nên nói bệnh.
Sư cười chúm chím nói:
– Bần đạo có đức gì làm phiền Thế chủ? Mời các ngài đi trước, tôi sẽ đi đường riêng.
Sư bèn tắm gội, đến nửa đêm bảo đệ tử Huệ Âm v.v…
– Các ngươi! Tánh thấy nghe hiểu biết cùng hư không đồng tuổi, chẳng sanh chẳng diệt, tất cả cảnh giới vốn tự không lặng, không một pháp có thật, người mê không hiểu bị cảnh làm lầm, trôi lăn không cùng. Các ngươi phải biết, tâm tánh vốn tự có, chẳng phải do tạo tác, ví như Kim cang không thể phá hoại. Tất cả pháp như bóng như vang không có thật. Cho nên Kinh nói: “Chỉ đây một việc thật, còn hai thì chẳng chân.” Thường hiểu tất cả không, không một vật hợp tình, là chỗ chư Phật dụng tâm. Các ngươi cố gắng thực hành!
Nói xong, Sư ngồi kiết già thị tịch. Ngày thiêu Sư, có mây lành năm sắc, mùi hương lạ khắp bốn phương, được xá-lợi như ngọc sáng. Sư thọ 62 tuổi, 42 tuổi hạ. Vua sắc ban hiệu là Đại Đạt quốc sư, tháp hiệu Trừng Nguyên.
Lưỡng nhai Tăng lục là chức tăng lớn nhất trong triều bấy giờ.
Chúng ta bây giờ nghe vua mời thì quá mừng. Thầy trò sửa soạn, khăn gói lên đường liền. Cho nên so với người xưa, chúng ta không bằng một hạt cải hạt bụi, muốn sống không sống được, muốn chết chết không xong.
Di chúc cuối cùng của ngài thật chí lý. Đi đường riêng là như vậy. Nếu không có mấy vị tới thỉnh ngặt quá, chắc là ngài chưa đi. Không đi thì mếch lòng, thôi thì đi bằng đường khác.
Ý chí đức hạnh tu hành của người xưa thật mạnh, vua thỉnh cũng không màng, thà chết chứ không đi. Ngồi kiết già từ giã mọi người, dặn dò xong rồi tịch, tự tại muôn ngàn. Tu như vậy mới ham, tu lôi thôi thì thật là uổng. Vua nghe qua rất kính phục, phong làm Đại Đạt quốc sư, tháp hiệu là Trừng Nguyên.
Sư họ Thôi, quê ở Giang Lăng, xuất gia lúc mười lăm tuổi, đến hai mươi ba tuổi thọ giới Cụ túc. Năm ba mươi tuổi, Sư yết kiến Thạch Đầu, được nhiều lần chỉ dạy mà Sư không khế hội. Kế đó, Sư đến yết kiến Quốc sư Huệ Trung. Năm ba mươi tư tuổi, Sư cùng thị giả Ứng Chơn đến yết kiến Mã Tổ.
Mã Tổ bảo:
– Nhận biết tâm mình xưa nay là Phật, chẳng thuộc thứ lớp, chẳng nhờ tu hành, thể nó tự như, muôn đức tròn đầy.
Ngay câu nói này Sư đại ngộ.
Mã Tổ dặn:
– Nếu trụ trì, ngươi chớ rời chỗ cũ.
Sư nghe chỉ dạy rồi, trở về Kinh Châu cất một am tranh ở ngoài thành không xa.
Tiết sử họ Lư đến phỏng vấn Sư, Sư không đáp lễ. Tiết sử nổi nóng bắt Sư đem ném xuống sông. Tiết sử về đến nha môn thấy khắp nhà đều phát hỏa, lại nghe trong hư không có tiếng quở trách của thần Thiên Vương. Tiết sử lễ tạ xin sám hối, phút chốc lửa tắt, nha môn vẫn còn nguyên. Tiết sử đích thân đi đến bờ sông rước Sư, thấy Sư ở trong nước mà không ướt y, ông càng thêm quý kính. Ông tạo ngôi chùa Thiên Vương ở phía tây phủ, cúng dường cho Sư.
Sư họ Thôi, quê ở Giang Lăng, xuất gia lúc mười lăm tuổi, đến hai mươi ba tuổi thọ giới Cụ túc. Năm ba mươi tuổi, Sư yết kiến Thạch Đầu, được nhiều lần chỉ dạy mà Sư không khế hội. Kế đó, Sư đến yết kiến Quốc sư Huệ Trung. Năm ba mươi tư tuổi, Sư cùng thị giả Ứng Chơn đến yết kiến Mã Tổ.
Tiểu sử thấy bình thường nhưng ý chí của ngài chúng ta nghe mà thán phục.
Mã Tổ bảo:
– Nhận biết tâm mình xưa nay là Phật, chẳng thuộc thứ lớp, chẳng nhờ tu hành, thể nó tự như, muôn đức tròn đầy.
Ngay câu nói này Sư đại ngộ.
Nghe nói như vậy là đại ngộ.
Mã Tổ dặn:
– Nếu trụ trì, ngươi chớ rời chỗ cũ.
Sư nghe chỉ dạy rồi, trở về Kinh Châu cất một am tranh ở ngoài thành không xa.
Tiết sử họ Lư đến phỏng vấn Sư, Sư không đáp lễ. Tiết sử nổi nóng bắt Sư đem ném xuống sông.
Tiết sử tương đương ông Tỉnh trưởng bây giờ. Ông đến, ngài không đáp lễ, ông nổi nóng, bắt ngài ném xuống sông.
Tiết sử về đến nha môn thấy khắp nhà đều phát hỏa, lại nghe trong hư không có tiếng quở trách của thần Thiên Vương. Tiết sử lễ tạ xin sám hối, phút chốc lửa tắt, nha môn vẫn còn nguyên. Tiết sử đích thân đi đến bờ sông rước Sư, thấy Sư ở trong nước mà không ướt y, ông càng thêm quý kính. Ông tạo ngôi chùa Thiên Vương ở phía tây phủ, cúng dường cho Sư.
Ngồi trong nước mà y không ướt, mới thấy phước đức của ngài lớn đến bậc nào. Ngài là thầy thiền sư Sùng Tín. Sùng Tín là thầy Đức Sơn. Đây là pháp nguồn để sau này có thêm hai tông phái là Vân Môn và Pháp Nhãn.
Sùng Tín hỏi:
Từ trước việc truyền trao thế nào?
Sư đáp:
– Chẳng phải sáng, chỗ ngươi đến chẳng được.
– Con mắt ấy, mấy người được đủ?
– Cỏ úa đổi thành lau dài.
Cái đó không phải là cái nói ra được.
Nhận được thì cỏ úa biến thành cọng lau dài. Chúng ta bây giờ không biết có mấy người nhận được chỗ đó.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là nói huyền diệu?
Sư bảo:
– Chớ nên bảo ta hiểu Phật pháp.
– Nỡ để học nhân ôm nghi mãi sao?
– Sao chẳng hỏi lão tăng?
Hiện nay đã hỏi.
– Đi! Không phải chỗ ngươi nương tựa.
Có phải ngài nỡ để cho chúng ta ôm nghi không? Chúng ta bị cái lưỡi của Lão hòa thượng lừa, chỉ cho mà không hiểu, rồi ôm nghi mãi.
Sao chẳng hỏi lão tăng? Ngài đánh lừa. Không nhận ra ý này thì đi, không phải chỗ cho ông nương tựa.
Thường ngày, Sư hay nói: “Sống vui! Sống vui!” Đến khi sắp quy tịch, Sư kêu: “Khổ! Khổ!” Lại nói: “Diêm vương đến bắt ta.”
Viện chủ hỏi:
– Đương thời Hòa thượng bị Tiết sử ném xuống sông mà thần sắc chẳng động, hôm nay sao lại thế ấy?
Sư đưa chiếc gối lên, bảo:
– Ngươi nói lúc đó phải hay hôm nay phải?
Viện chủ không đáp được.
Thường ngày, Sư hay nói: “Sống vui! Sống vui!” Đến khi sắp quy tịch, Sư kêu: “Khổ! Khổ!” Lại nói: “Diêm vương đến bắt ta.” Mấy câu này dễ nghi chết người lắm, vị nào muốn xuyên tạc thì cứ trích vài đoạn ra nói: “Đó! Tu thiền hồi sống thì coi bộ tự do lắm, tới chừng gần chết rồi kêu khổ! khổ!” Thật là nghi chết người.
Viện chủ hỏi:
– Đương thời Hòa thượng bị Tiết sử ném xuống sông mà thần sắc chẳng động, hôm nay sao lại thế ấy?
Sư đưa chiếc gối lên, bảo:
– Ngươi nói lúc đó phải hay hôm nay phải?
Viện chủ không đáp được.
Ngươi nói lúc đó phải hay hôm nay phải? Bởi vì trước ngài kêu vui thì sau phải nói khổ. Chính câu này chỉ thẳng cho Viện chủ mà ông nhận không ra. Cái kêu khổ và cái kêu vui không phải sự thật.
Người xưa nói đừng mắc kẹt trên ngôn ngữ thì dễ lãnh hội. Ai kẹt ngôn ngữ thì chịu, không làm sao lãnh hội nổi. Bởi vì cái khổ ngài kêu không phải là cái khổ bị Diêm vương bắt, mà khổ vì không có người lãnh hội được. Cho nên ngài kêu khổ để làm cái cớ cho người ta thắc mắc đưa ra câu hỏi.
Ngươi nói đương thời phải, hôm nay phải. Câu nói đánh mạnh vào Viện chủ mà Viện chủ không lãnh hội được.
Sư nhập diệt ngày mười ba tháng mười niên hiệu Nguyên Hòa thứ ba (808), thọ 82 tuổi, 63 tuổi hạ.
Sư họ Tuyên, quê ở Tỳ Lăng. Ban sơ Sư đến yết kiến Mã Tổ, nhân đây hiểu đạo mới cạo tóc xuất gia thọ giới Cụ túc.
Sư đến yết kiến Thạch Đầu, tự hứa nếu một câu khế hợp thì ở, chẳng hợp liền đi. Nhưng khi thưa hỏi, Sư vẫn không khế hợp. Sư bèn ra đi. Thạch Đầu theo sau đến cửa ngoài, liền gọi:
– Xà-lê!
Sư xoay đầu lại.
Thạch Đầu bảo:
– Từ sanh đến tử chỉ là cái ấy, xoay đầu chuyển não làm gì?
Sư nhân câu nói này liền đại ngộ, dừng lại đây hai năm.
Như vậy chỉ cần gọi một câu, xoay đầu lại liền thấy được.
Đời Đường niên hiệu Trinh Nguyên năm đầu (785), Sư vào núi Thiên Thai ở đạo tràng Bạch Sa, lại đến Ngũ Duệ.
Có vị tăng hỏi:
– Có vật gì lớn trùm trời đất?
Sư đáp:
– Không người biết được y.
– Lại có thể đục giũa chăng?
– Ngươi thử hạ thủ xem.
– Cái này trong thiền môn, việc trước sau thế nào?
– Ngươi nói trước mắt, từ thành đến nay bao lâu?
– Học nhân chẳng hội.
– Ta khoảng này không có chỗ cho ngươi hỏi.
– Hòa thượng đâu không có chỗ tiếp người?
– Đợi người cần tiếp ta sẽ tiếp.
– Thỉnh Hòa thượng tiếp.
– Ngươi thiếu thốn cái gì?
– Làm sao được không tâm?
– Dời non lấp biển vẫn an nhiên lặng lẽ, động đất vẫn ngủ yên, đâu lay động được y.
Tăng hỏi: Có vật gì lớn trùm trời đất? Sư đáp: Không người biết được y. Cái đó không người biết được y, giờ ngươi nói đó là nói trước mắt. Vậy từ hồi nó thành đến nay là bao lâu rồi?
Dời non lấp biển vẫn an nhiên lặng lẽ, động đất vẫn ngủ yên, đâu lay động được y. Trời đất rúng động, non biển đổi dời, chúng ta cứ nằm yên không lay động. Không tâm là vậy đó, thiếu thốn chỗ nào? Chúng ta nghe một vài chuyện lăng xăng bên ngoài là xao xuyến rồi thì làm sao được không tâm?
Niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ mười ba (818), ngày hai mươi ba tháng ba, Sư tắm gội xong, thắp hương ngồi ngay thẳng, bảo chúng:
– Pháp thân hoàn toàn lặng lẽ, thị hiện có đến đi, ngàn thánh đồng nguồn, vạn linh về một. Nay ta bọt tan đâu bởi hưng suy, không tự nhọc thân phải giữ chánh niệm. Nếu tuân lời dạy này là đền ơn ta, bằng cố trái lời chẳng phải con ta.
Có vị tăng hỏi:
– Hòa thượng đi về đâu?
Sư bảo:
– Không có chỗ đi
– Sao con chẳng thấy?
– Chẳng phải chỗ mắt thấy.
Nói xong, Sư an nhiên thị tịch, thọ 72 tuổi, 41 tuổi hạ.
Khi sắp tịch, ngài sửa soạn đàng hoàng và dặn chúng, thân của ngài hoại đi chẳng khác nào như bọt tan về biển, không nói hưng suy, chúng đừng nhọc thân khóc lóc than kể, mỗi người phải giữ chánh niệm.
Tăng hỏi: Hòa thượng đi về đâu? Sư bảo: Không có chỗ đi. Sao con chẳng thấy? Chẳng phải chỗ mắt thấy. Cái đó không phải chỗ con mắt thấy được.
Nói xong, Sư an nhiên thị tịch, thọ 72 tuổi, 41 tuổi hạ. Cái chết thật là nhàn. Hầu hết những vị thiền sư được ghi trong sử đều ra đi an nhiên. Chúng ta tu hành được như quý ngài thì cũng ra đi tự tại như vậy.
Sư họ Chúc, quê ở Tín An, Cù Châu. Lúc mười ba tuổi, Sư thấy người sát sanh, bất nhẫn không nỡ ăn thịt, cầu xin xuất gia. Xuất gia rồi, lúc đầu Sư học Luật, kế tập tu chỉ quán. Sau, Sư tìm đến yết kiến Mã Tổ, nơi đây Sư ngộ được tâm yếu.
Ở đây chỉ nói đến việc ngài ngộ được tâm yếu, chứ không kể lại nguyên nhân ngộ.
Đời Đường niên hiệu Trinh Nguyên thứ sáu (790), Sư đi du phương. Sau này, Sư dừng ở chùa Thiếu Lâm tại Tung Sơn.
Có vị tăng đến hỏi:
– Thế nào là đạo?
Sư đáp:
– Núi rất tốt.
– Con hỏi đạo, sao Thầy nói núi tốt?
– Ngươi chỉ biết núi tốt đâu từng đạt đạo?
Nếu nghe nói núi tốt, ngươi thấy tánh thì thấy đạo, còn chỉ chấp núi tốt tức là chưa thấy được đạo.
Vị tăng khác hỏi:
– Con chó có Phật tánh không?
Sư đáp:
– Có.
– Hòa thượng có chăng?
– Ta không.
– Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tại sao riêng Hòa thượng lại không?
– Ta chẳng phải tất cả chúng sanh.
– Đã chẳng phải chúng sanh, là Phật chăng?
– Chẳng phải Phật.
– Cứu cánh là vật gì?
– Cũng chẳng phải vật.
– Có thể thấy, có thể nghĩ chăng?
– Nghĩ đó chẳng đến, bàn đó chẳng được. Cho nên nói “Không thể nghĩ bàn”.
Chẳng phải Phật. Cũng chẳng phải vật. Đây là câu nói sống của Mã Tổ. Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật.
Có thể thấy, có thể nghĩ chăng? Nghĩ đó chẳng đến, bàn đó chẳng được. Cho nên nói “Không thể nghĩ bàn”. Thật khéo vô cùng. Người mê nói Phật tánh mà nào thấy Phật tánh. Ngài nói Ta không vì sống được với cái đó rồi, còn nói có nói không chi nữa. Cho nên, ngài nói không mà không phải không. Cái đó không phải tâm, không phải Phật, không phải vật. Nghĩ không đến, bàn chẳng được, nên không thể nghĩ bàn.
Niên hiệu Nguyên Hòa thứ tư (809), vua Hiến Tông thỉnh Sư về kinh đô. Bạch Cư Dị thường đến thăm hỏi Sư.
Bạch Cư Dị hỏi:
– Đã nói Thiền sư sao lại thuyết pháp?
Sư đáp:
– Vô thượng Bồ-đề, trùm nơi thân là Luật, nói ra miệng là Pháp, hành nơi tâm là Thiền. Ứng dụng thì có ba, chỗ tột cùng chỉ có một. Ví như sông Hồ, sông Hán, sông Hoài tùy chỗ đặt tên, tên tuy chẳng phải một, mà tánh nước không hai. Luật tức là Pháp, Pháp chẳng lìa Thiền, sao trong đó vọng khởi phân biệt?
– Đã không phân biệt lấy gì tu tâm?
– Tâm vốn không tổn thương, tại sao cầu tu sửa? Không luận nhơ cùng sạch, tất cả chớ khởi niệm.
– Nhơ tức không nên niệm, sạch không niệm được sao?
– Như trong tròng con mắt người, không thể dính một vật gì, mạt vàng tuy quý báu, dính cũng thành bệnh.
– Không tu không niệm thì đâu khác phàm phu?
– Phàm phu thì vô minh, Nhị thừa thì chấp trước, lìa hai bệnh này gọi là chân tu. Người chân tu không được chăm chú, không được quên lãng, chăm chú thì chấp trước, quên lãng liền rơi vào vô minh. Đây là tâm yếu vậy.
Bạch Cư Dị hỏi:
– Đã nói Thiền sư sao lại thuyết pháp?
Sư đáp:
– Vô thượng Bồ–đề, trùm nơi thân là Luật, nói ra miệng là Pháp, hành nơi tâm là Thiền. Ứng dụng thì có ba, chỗ tột cùng chỉ có một. Ví như sông Hồ, sông Hán, sông Hoài tùy chỗ đặt tên, tên tuy chẳng phải một, mà tánh nước không hai. Luật tức là Pháp, Pháp chẳng lìa Thiền, sao trong đó vọng khởi phân biệt?
Như vậy pháp không rời thiền mà vọng khởi phân biệt. Nhưng Bạch Cư Dị lại nghi:
– Đã không phân biệt lấy gì tu tâm?
Tu là nhờ phân biệt, bởi nhà thơ quen phân biệt rồi nên mới nói như thế.
– Tâm vốn không tổn thương, tại sao cầu tu sửa? Không luận nhơ cùng sạch, tất cả chớ khởi niệm.
Lâu nay nó như vậy, tu sửa cái gì? Không khởi niệm đó là tu, còn có tu là trật.
– Nhơ tức không nên niệm, sạch không niệm được sao?
Tức là bây giờ tôi không niệm cái nhơ, không nghĩ xấu, vậy cái tốt thì sao?
Như trong tròng con mắt người, không thể dính một vật gì, mạt vàng tuy quý báu, dính cũng thành bệnh.
Niệm một pháp tốt pháp lành cũng như trong tròng con mắt mà dính mạt vàng, cũng thành bệnh như thường. Như vậy vô niệm mới là cứu cánh.
Nhưng Bạch Cư Dị vẫn chưa chịu:
– Không tu không niệm thì đâu khác phàm phu?
Phàm phu thì vô minh, Nhị thừa thì chấp trước, lìa hai bệnh này gọi là chân tu. Người chân tu không được chăm chú, không được quên lãng, chăm chú thì chấp trước, quên lãng liền rơi vào vô minh. Đây là tâm yếu vậy.
Hai chỗ dụng này thật khó. Ngồi chăm chăm thì lạc vào Nhị thừa, đi mà không nhớ gì hết là phàm phu. Chiết trung giữa hai cái đó thì tốt. Chăm chú thì gần chấp trước, quên lãng thì rơi vào vô minh. Tâm yếu ở chỗ này.
Tăng hỏi:
– Đạo ở chỗ nào?
Sư đáp:
– Ở trước mắt.
– Sao con không thấy?
– Vì ngươi có ngã nên không thấy.
– Con có ngã nên không thấy, Hòa thượng thấy chăng?
– Có ngươi có ta nên rồi cũng chẳng thấy.
– Không con không ngài lại thấy chăng?
– Nếu không ngươi không ta, còn ai cần thấy?
Con có ngã nên không thấy, Hòa thượng thấy chăng? Câu này người hỏi thật khéo. Có ngươi có ta nên rồi cũng chẳng thấy. Câu đáp cũng rất khéo.
Không con không ngài lại thấy chăng? Nếu không ngươi không ta, còn ai cần thấy? Khi có ngươi, có ta tức là còn có ngã thì không thấy. Nếu hết ta, hết ngươi rồi thì còn ai nữa mà cần thấy? Những câu đáp nghe như đùa mà hay vô cùng.
Niên hiệu Nguyên Hòa thứ mười hai (817), ngày ba mươi tháng hai, Sư thăng đường thuyết pháp xong liền thị tịch, thọ 63 tuổi, 39 tuổi hạ.
Vua sắc ban hiệu là Đại Triệt thiền sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Chánh Chơn.
Sư quê ở Khúc Giang, huyện Thủy Hưng. Ban sơ đến tham vấn Kính Sơn, sau mới đến yết kiến Mã Tổ. Nơi Mã Tổ, Sư ngộ yếu chỉ Thiền tông.
Về sau, Sư trụ trì Đông Tự, học chúng rất đông đến nỗi nhà Tăng giường chống gãy vẹo, thời nhân gọi “Hội giường gãy”.
Mã Tổ tịch rồi, Sư thường lo môn đồ lấy câu “tức tâm tức Phật” học thuộc lòng tụng mãi. Vì thế
Sư bảo:
– Nói Phật trụ ở đâu, mà sao “tức tâm”. Tâm như ông thợ vẽ, mà sao “tức Phật”.
Sư bèn dạy chúng:
Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo. Kiếm rơi đã lâu, ngươi mới khắc dấu thuyền.
Mã Tổ tịch rồi, Sư thường lo môn đồ lấy câu “tức tâm tức Phật” học thuộc lòng tụng mãi. Vì thế Sư bảo:
– Nói Phật trụ ở đâu, mà sao “tức tâm”. Tâm như ông thợ vẽ, mà sao “tức Phật”?
Lời nói gạn lại cho người học đừng chấp. Chúng ta bây giờ có cái bệnh nghe người xưa nói câu gì, liền lấy học thuộc lòng, rồi cho đó là hiểu mà thực hành.
Sư bèn dạy chúng:
– Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo. Kiếm rơi đã lâu, ngươi mới khắc dấu thuyền.
Trung Hoa dùng tích chuyện “khắc dấu thuyền tìm gươm” để răn dạy người đương thời. Chuyện kể rằng có người đi thuyền qua sông, cầm cây gươm quơ quơ dưới nước chơi, bị tuột gươm rơi xuống nước. Người đó đánh dấu vào mạn thuyền chỗ cây gươm rơi, chờ thuyền đậu vào bờ lặn xuống chỗ đó mò. Gọi là khắc mạn thuyền mò gươm.
Thời xưa, người ta không thấy ngay nơi tâm mình có Phật nên Mã Tổ mới chủ trương tức tâm tức Phật, để cho họ nhận lại Phật tánh ngay trong sinh hoạt hằng ngày. Bây giờ, chúng ta lại chấp lấy câu đó học thuộc lòng mà không hiểu, thì không khác gì người đánh dấu mạn thuyền để mò gươm.
Tất cả đều tùy thời tùy duyên. Người dạy đạo phải uyển chuyển, không thể cứ lấy câu hồi xưa mà áp dụng cho thời nay thì không thức thời. Phải phá cái chấp đó để đưa người ta tới sự thật, không mắc kẹt ngôn ngữ, đó mới là bậc thầy sống.
Tướng quốc Thôi Công Quần bị đổi ra Hồ Nam làm Quán sát sứ, đến yết kiến Sư, hỏi:
– Thầy lấy gì được?
Sư đáp:
– Thấy tánh là được.
Ít lâu sau, Sư bị bệnh con mắt. Thôi Công Quần ngạo rằng:
– Đã nói thấy tánh, tại sao con mắt như thế?
Sư bảo:
– Thấy tánh không phải do mắt, con mắt bệnh có hại gì?
Thôi Công Quần lễ tạ sám hối.
Cái được của ngài là thấy tánh. Thấy tánh không phải thấy bằng con mắt. Nên mắt có bệnh, mắt mù cũng không sao. Câu chuyện như đùa mà làm cho chúng ta sáng tỏ, không lầm chữ kiến tánh trên danh ngôn. Tưởng kiến tánh là con mắt thấy thì muôn đời không bao giờ thấy được.
Sư hỏi Nam Tuyền:
– Vừa rời chỗ nào đến?
– Giang Tây.
– Đem được hình Mã đại sư đến chăng?
– Chỉ thế ấy.
– Sau lưng rồi.
Nam Tuyền không đáp.
Lối đối đáp giữa hai huynh đệ như vậy.
Ngưỡng Sơn (Huệ Tịch) đến tham vấn.
Sự hỏi:
– Ngươi người ở đâu?
Ngưỡng Sơn thưa:
– Người Quảng Nam.
– Ta nghe ở Quảng Nam có hạt minh châu trấn hải phải chăng?
– Phải.
– Hạt châu ấy thế nào?
– Ba mươi thì ẩn, rằm thì hiện.
– Lại đem đến được chăng?
– Đem đến được.
– Sao chẳng trình cho lão tăng?
Ngưỡng Sơn khoanh tay đến gần thưa:
– Vừa đến Quy Sơn cũng bị đòi hạt châu này, bèn được không lời có thể đáp, không lý có thể bày.
Sư khen:
– Thật là sư tử con rống rất giỏi!
Ngưỡng Sơn lễ bái.
Ngưỡng Sơn (Huệ Tịch) đến tham vấn. Sự hỏi:
– Ngươi người ở đâu?
Thiền Sư Đông Tự Như Hội
Ngưỡng Sơn thưa:
– Người Quảng Nam.
– Ta nghe ở Quảng Nam có hạt minh châu trấn hải phải chăng?
– Phải.
– Hạt châu ấy thế nào?
– Ba mươi thì ẩn, rằm thì hiện.
Hay ở chỗ này. Ba mươi thì ẩn, rằm thì hiện, hạt châu xuất hiện vào ngày rằm. Ngày ba mươi không có trăng tức là vô minh nên không thấy, rằm sáng ngời thì trăng hiện.
Ngài gạn thêm:
– Lại đem đến được chăng?
– Đem đến được.
– Sao chẳng trình cho lão tăng?
Ngưỡng Sơn khoanh tay đến gần thưa:
– Vừa đến Quy Sơn cũng bị đòi hạt châu này, bèn được không lời có thể đáp, không lý có thể bày.
Sư khen:
– Thật là sư tử con rống rất giỏi!
Ngưỡng Sơn lễ bái.
Tại sao nói như vậy mà ngài khen? Ngưỡng Sơn đã trình hạt châu ấy với Quy Sơn bằng cách không lời để đáp, không lý để bày. Hạt châu ấy đã trình rồi.
Các thiền sư nói chuyện không có câu nào là Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, Phật tánh. Các ngài nói đạo mà tưởng như nói chuyện ở đâu, không có danh từ đạo trong đó. Đó là cái khéo léo của người xưa. Nói kinh mà không có lời kinh, nói đạo lý mà nghe như không đạo lý, lấy chuyện hiện tại biến thành đạo lý.
Nếu chúng ta được hỏi: “Thầy ở tu viện Chơn Không – Vũng Tàu, thấy bản tâm không?” Đáp: “Dạ thấy!” Hỏi: “Thấy nó thế nào?” Chỉ cần đáp: “Còn phiền não không thấy, hết phiền não liền thấy”
Vị thầy khéo dùng chuyện thường tình mà đạo lý tràn đầy. Chúng ta bây giờ dùng danh từ này danh từ nọ dồn dập mà rốt cuộc không có đạo lý chút nào hết. Cho nên, ngài khen sư tử con rống rất giỏi là vậy.
Có người hỏi Sư:
– Con tính thỉnh Hòa thượng khai đường (mở cửa giáo hóa) được chăng?
Sư đáp:
– Đợi đem vật vùi trong hòn đá mà nóng thì được.
Vị ấy không thể đáp.
Niên hiệu Trường Khánh, ngày mười chín tháng tám năm Quý Mão (823), Sư quy tịch, thọ 80 tuổi. Vua sắc phong hiệu là Truyền Minh đại sư, tháp hiệu Vĩnh Tế.
Thiền sư Bảo Triệt là một vị thiền sư nổi danh hành cước đây đó tung hoành.
Một hôm theo hầu Mã Tổ đi dạo, Sư hỏi Mã Tổ:
– Thế nào là Đại Niết-bàn?
Mã Tổ đáp:
– Gấp!
– Gấp cái gì?
– Xem nước.
Sư cùng Nam Tuyền, Quy Tông đến yết kiến Kính Sơn, đi đường gặp một bà già. Sự hỏi:
– Kính Sơn đi đường nào bà?
Bà già đáp:
– Đi thẳng.
– Đầu trước nước sâu qua được chăng?
– Chẳng ướt gót chân.
– Bờ trên lúa tốt thế, bờ dưới lúa xấu thế.
– Thảy bị cua ăn hết.
Trên, dưới đều bị cua ăn hết.
– Nếp thơm ngon.
– Hết mùi hơi.
– Bà ở chỗ nào?
– Chỉ ở đây.
Bà già này là bà già bán quán.
Ba người đồng vào quán ngồi. Bà già nấu một bình trà, bưng ba chén chung đến nói:
– Hòa thượng có thần thông thì uống trà.
Ba người nhìn nhau chưa nói câu nào. Bà già liền bảo:
– Xem kẻ già này trình thần thông đây.
Nói xong bà cầm chung nghiêng bình rót trà, rồi đi.
Bà già này có thần thông chưa? Trình thần thông rồi đó. Bà già cũng là đối thủ với mấy vị thiền sư chứ không thường. Chỗ này nam nhi trượng phu được, bà già cũng được. Hồi xưa nhiều lão bà bán trà như vậy, người học đạo không dám khinh thường, khinh thường là mắc kẹt.
Sư cùng Đơn Hà đi dạo núi, thấy cá lội trong nước, Sư lấy tay chỉ. Đơn Hà nói:
– Thiên nhiên! Thiên nhiên!
Đến hôm sau, Sư hỏi Đơn Hà:
– Hôm qua ý thế nào?
– Đơn Hà nhảy tới làm thế nằm.
Sư nói:
– Trời xanh.
Như vậy là hiểu nhau rồi.
Sư cùng Đơn Hà đi đến núi Ma Cốc. Sự hỏi:
– Tôi đến đó trụ.
Đơn Hà nói:
– Trụ tức lại trở về, có cái này không?
Sư nói:
– Trân trọng!
Nếu có trụ tức là có đi.
Có vị tăng đến hỏi:
– Mười hai phần giáo con chẳng nghi. Thế nào ý Tổ sư từ Ấn Độ qua?
Sư bèn đứng dậy lấy trượng xoay quanh thân một vòng, đứng một chân, bảo:
– Hội chăng?
Tăng thưa:
– Không hội.
Sư liền đánh.
Có vị tăng đến hỏi: Mười hai phần giáo con chẳng nghi. Thế nào ý Tổ sư từ Ấn Độ qua? Sư bèn đứng dậy lấy trượng xoay quanh thân một vòng, đứng một chân, bảo: Hội chăng? Nhiều khi thiền sư làm giống như những nhà múa võ, lấy trượng xoay quanh thân một vòng rồi đứng một chân. Đến hỏi đạo mà làm kiểu đó, ai biết?
Tăng thưa: Không hội. Sư liền đánh. Ai thấy được chỗ này? Phần nhiều có lời mới thấy, còn không có lời thì không thấy nổi.
Tăng hỏi:
– Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư lặng thinh.
Cái này hội chăng?
Đam Nguyên hỏi:
– Quan Âm mười hai mặt là phàm là thánh?
Sư đáp:
– Là thánh.
Đam Nguyên liền tát Sư một cái.
Sư bảo:
– Biết ông chẳng đến cảnh giới ấy.
Chuyện của ngài thấy như bông đùa, nhưng mang ý nghĩa thâm trầm trong đó. Khéo nhất là hành động quơ gậy qua một vòng toàn thân rồi đứng một chân. Vị nào hôm nay chưa thấy, chưa hội thì đợi khi khác.
Sư họ Lý, quê ở quận Hải Môn. Khi Sự ra đời có hào quang chiếu đầy nhà, lại có vị tăng lạ đến nói: “Sứ giả dựng cờ vô thắng, xoay mặt trời Phật soi trở lại, đâu không phải người này.” Lớn lên, Sư xuất gia với thiền sư Vân Tông tại bản quận.
Sau, Sư nghe Mã Tổ giáo hóa ở núi Cung Công, bèn tìm đến yết kiến. Mã Tổ thấy Sư có tướng lạ liền thâu nhận và cho vào thất thầm dạy chánh pháp.
Về sau, Sư trụ viện Trấn Quốc Hải Xương tại Diêm Quan ở Hàng Châu để hoằng hóa. Thời nhân gọi là hội Diêm Quan.
Có vị tăng đến hỏi:
– Thế nào là bản thân Phật Lô-xá-na?
Sư bảo:
– Đem cái bình đồng kia đến cho ta.
Vị tăng liền lấy tịnh bình đem lại.
Sư bảo:
– Đem để lại chỗ cũ.
Vị tăng đem bình để lại chỗ cũ rồi, bèn hỏi lại câu trước. Sư bảo:
– Phật xưa đã đi qua lâu rồi.
Đem tịnh bình lại, rồi đem trở về chỗ cũ. Kỳ vậy? Ai sáng mắt liền thấy. Như vậy cho nhớ, giặc qua rồi mới giương cung. Ngài đã chỉ rồi, vậy mà vị tăng vẫn chưa hiểu ngài nói gì, hỏi lại lần nữa nên ngài nói: Phật xưa đã đi qua lâu rồi.
Có vị giảng sư đến tham vấn. Sự hỏi:
– Tọa chủ chứa chất sự nghiệp gì?
Giảng sư đáp:
– Giảng kinh Hoa Nghiêm.
– Có mấy thứ pháp giới?
– Nói rộng thì có lớp lớp không cùng, nói lược có bốn thứ pháp giới.
Sư dựng đứng cây phất tử hỏi:
– Cái này là pháp giới thứ mấy?
Giảng sư trầm ngâm lựa lời để đáp. Sư bảo:
– Suy mà biết, nghĩ mà hiểu là kế sống nhà quỷ, ngọn đèn côi dưới trời quả nhiên mất chiếu.
Ngọn đèn côi dưới trời tức là ngoài trời sáng mà thắp ngọn đèn nhỏ, không sáng nổi. Như nói thao thao bất tuyệt mà rốt cuộc sự thật lại không nhận ra. Cho nên chúng ta học cũng giống hệt như vậy, học đạo thông hiểu danh từ làu làu, sự thật lại không biết.
Có vị tăng hỏi Đại Mai (Pháp Thường): “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ qua?” Đại Mai đáp: “Tổ sư từ Ấn Độ qua không ý.” Sư nghe câu chuyện này bèn nói:
– Một cái quan tài, hai cái tử thi.
Như vậy là khen hay chê? Là chê. Tại vì người ta nói hớ rồi mình bắt chước nói theo. Chỗ sống này không thể nói có nói không. Ngài lỡ nói cái không ý. Chúng ta nghe dễ chết trên ngôn ngữ, thành ra một quan tài mà hai cái tử thi là như vậy.
Sư gọi thị giả:
– Đem cái quạt tê ngưu lại đây.
Thị giả thưa:
– Rách rồi.
– Quạt đã rách, trả con tê ngưu lại cho ta!
Thị giả không đáp được.
Cũng như bây giờ nói: Đem quạt lông công lại cho ta. Trả lời: Dạ, rách rồi! – Đem con công lại cho ta! Thị giả bí không trả lời được.
Một hôm Sư bảo chúng:
– Hư không là trống, Tu-di là dùi, người nào đánh được?
Chúng đều không đáp được.
Núi Tu-di là cái dùi, hư không là cái trống, ai cầm dùi đánh cái trống đó được? Vì không đánh được nên không ai vào nổi chỗ đó.
Có thiền sư Pháp Không đến thưa hỏi những nghĩa lý trong Kinh, mỗi mỗi Sư đáp xong. Sư bèn bảo:
– Từ Thiền sư lại đến giờ, bần đạo thảy đều không được làm chủ nhân.
Pháp Không thưa:
– Thỉnh Hòa thượng làm chủ nhân lại.
Sư bảo:
– Ngày nay tối rồi hãy về chỗ cũ nghỉ ngơi, đợi sáng mai sẽ đến.
Sáng sớm hôm sau, Sư sai Sa-di đi mời thiền sư Pháp Không. Pháp Không đến, Sư nhìn Sa-di bảo:
– Bậy! Ông Sa-di này không hiểu việc, dạy mời thiền sư Pháp Không, lại mời cái người giữ nhà đến!
Pháp Không chẳng đáp được.
Từ Thiền sư lại đến giờ, bần đạo thảy đều không được làm chủ nhân. Nãy giờ nói chuyện với ông, ta mất quyền làm chủ rồi.
Người tên là Pháp Không mà chưa Không thì chỉ là kẻ giữ nhà thôi. Chỗ này ngài Pháp Không căn cơ lạnh lợi thì đối đáp được. Đằng này ông chịu luôn, quả nhiên là người giữ nhà, chưa phải là thiền sư Pháp Không.
Viện chủ Pháp Hân đến tham vấn. Sư hỏi:
– Ông là ai?
– Pháp Hân.
– Tôi không biết ông.
Pháp Hân không đáp được.
Các vị thiền sư thời xưa thường có nhiều câu hỏi lạ đời. Ai nhận được liền nhận, không nhận được đành ra đi.
Sau, Sư không bệnh ngồi an nhiên thị tịch. Vua sắc phong hiệu Ngộ Không thiền sư.
Ông người huyện Hành Dương, Hành Châu, tự là Đạo Huyền, gia thế chuyên nghiệp Nho, đời sống rất thanh đạm, hiểu ngộ ít phần trần lao, quyết chí cầu giải thoát.
Đời Đường niên hiệu Trinh Nguyên năm đầu (785), ông đến yết kiến hòa thượng Thạch Đầu, hỏi:
– Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?
Thạch Đầu lấy tay bụm miệng ông, bỗng nhiên ông tỉnh ngộ.
Một hôm Thạch Đầu hỏi:
– Từ ngày ông thấy lão tăng đến nay hằng ngày ông làm việc gì?
Ông thưa:
– Nếu hỏi việc làm hằng ngày tức không có chỗ mở miệng.
Ông liền trình một bài kệ:
– Nhật dụng sự vô biệt
Duy ngô tự ngẫu hài
Đầu đầu phi thủ xả
Xứ xứ vật trương quai
Châu tử thùy vi hiệu
Khâu sơn tuyệt điểm ai
Thần thông tịnh điệu dụng
Vận thủy cập ban sài.
Dịch:
Hằng ngày không việc khác,
Chỉ tôi tự biết hay.
Vật vật chẳng bỏ lấy,
Chỗ chỗ nào trái bày.
Quan tước mặc ai gọi,
Núi gò bặt trần ai.
Thần thông cùng diệu dụng,
Gánh nước bửa củi tài.
Thạch Đầu hứa khả, bảo:
– Ông làm cư sĩ hay làm người xuất gia?
Ông thưa:
– Xin cho con theo sở nguyện không cạo tóc xuất gia.
Ông đến tham vấn Mã Tổ, hỏi:
– Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?
Mã Tổ bảo:
– Đợi ông một hớp cạn hết nước Tây Giang, ta sẽ nói với ông.
Ngay câu nói này, ông ngộ được huyền chỉ. Ông dừng ở chỗ Mã Tổ hai năm.
Ông người huyện Hành Dương, Hành Châu, tự là Đạo Huyền, gia thế chuyên nghiệp Nho, đời sống rất thanh đạm, hiểu ngộ ít phần trần lao, quyết chí cầu giải thoát.
Cư sĩ Bàng Uẩn là đệ tử của Mã Tổ. Chúng ta đọc sám thường thấy câu: In như thiền định họ Bàng thuở xưa. Họ Bàng là Bàng Uẩn.
Đời Đường niên hiệu Trinh Nguyên năm đầu (785), ông đến yết kiến hòa thượng Thạch Đầu, hỏi:
– Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?
Thạch Đầu lấy tay bụm miệng ông, bỗng nhiên ông tỉnh ngộ.
Cách khai thị của ngài Thạch Đầu thật khéo. Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì? Bị bụm miệng, ngài liền thấy người không cùng muôn pháp làm bạn.
Một hôm Thạch Đầu hỏi:
– Từ ngày ông thấy lão tăng đến nay hằng ngày ông làm việc gì?
Ông thưa:
-Nếu hỏi việc làm hằng ngày tức không có chỗ mở miệng.
Ông liền trình một bài kệ:
Nhật dụng sự vô biệt
Duy ngô tự ngẫu hài
Đầu đầu phi thủ xả
Xứ xứ vật trương quai
Châu tử thùy vi hiệu
Khâu sơn tuyệt điểm ai
Thần thông tịnh điệu dụng
Vận thủy cập ban sài.
Dịch:
Hằng ngày không việc khác,
Chỉ tôi tự biết hay.
Vật vật chẳng bỏ lấy,
Chỗ chỗ nào trái bày.
Quan tước mặc ai gọi,
Núi gò bặt trần ai.
Thần thông cùng diệu dụng,
Gánh nước bửa củi tài.
Ngẫu hài tức là tự mình thích thôi. Không có trái, không có gì hết. Như vậy, chỗ ông thấy thì gánh nước bửa củi đều là thần thông diệu dụng. Chẳng khác bà già bán nước rót trà là thần thông diệu dụng.
Nếu có Phật tử hỏi: “Thầy tu mấy năm được thần thông chưa?” Tăng ni sẽ trình thần thông bằng cách: Tri khố nhấc nồi cơm xới ra từng bát cho mọi người dùng. Diệu dụng từ sáu căn, từ tứ oai nghi, làm việc gì biết việc đó, gọi là thần thông.
Thạch Đầu hứa khả, bảo:
– Ông làm cư sĩ hay làm người xuất gia?
Thấy ngộ đạo rồi nên hỏi bây giờ ông muốn làm cư sĩ hay là người xuất gia.
Ông thưa:
– Xin cho con theo sở nguyện không cạo tóc xuất gia. Ông đến tham vấn Mã Tổ, hỏi:
– Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?
Mã Tổ bảo:
– Đợi ông một hớp cạn hết nước Tây Giang, ta sẽ nói với ông.
Bên kia chỉ cần bụm miệng, bên đây lại bảo: Đợi ông một hớp cạn hết nước Tây Giang, ta sẽ nói với ông. Ý tứ của hai vị thiền sư không khác, chỉ là cách sử dụng phương tiện khác nhau mà thôi.
Ngay câu nói này, ông ngộ được huyền chỉ, dừng ở chỗ Mã Tổ hai năm.
Ngộ ở chỗ ngài Thạch Đầu và ngộ nơi Mã Tổ.
Sau khi đốn ngộ, ông về nhà lấy thuyền chở của cải đem đổ xuống sông Tương. Ông chỉ cất một cái thất nhỏ ở tu hành, có người con gái tên Linh Chiếu thường theo hầu hạ, chuyên việc chẻ tre bện sáo bán nuôi cha.
Ông có làm bài kệ:
Hữu nam bất hôn,
Hữu nữ bất giá,
Đại gia đoàn loan đầu,
Cộng thuyết vô sanh thoại.
Dịch:
Có con trai không cưới,
Có con gái không gả,
Cả nhà chung hội họp,
Đồng bàn lời vô sanh.
Ông nói năng lanh lợi, các nơi đều nghe tiếng. Ông thường đến các chỗ giảng kinh phát tâm tùy hỷ. Có vị sư giảng kinh Kim Cang đến chỗ “vô ngã vô nhân”. Ông bèn hỏi:
– Tọa chủ đã “vô ngã vô nhân”, vậy ai giảng ai nghe?
Tọa chủ không đáp được.
Ông nói:
– Tuy tôi là người tục cũng tin biết thô thiển.
Tọa chủ hỏi:
– Theo ý Cư sĩ thế nào?
Ông bèn giải bằng bài kệ:
Vô ngã phục vô nhân,
Tác ma hữu sơ thân,
Khuyến quân hưu lịch tọa,
Bất tự trực cầu chân.
Kim cang Bát-nhã tánh,
Ngoại tuyệt nhất tiêm trần,
Ngã văn tịnh tín thọ,
Tổng thị giả danh trần.
Dịch:
Không ngã lại không nhân,
Làm gì có sơ thân,
Khuyên ông đừng ngồi mãi,
Đâu bằng thẳng cầu chân.
Tánh Kim Cang Bát-nhã,
Chẳng dính một mảy trần,
Tôi nghe và tin nhận,
Thảy hiện bày giả danh.
Tọa chủ nghe kệ rồi, vui vẻ khen ngợi:
– Chỗ cư sĩ đến phần nhiều các bậc lão túc đã qua.
Sau khi đốn ngộ, ông về nhà lấy thuyền chở của cải đem đổ xuống sông Tương. Ông chỉ cất một cái thất nhỏ ở tu hành, có người con gái tên Linh Chiếu thường theo hầu hạ, chuyên việc chẻ tre bện sáo bán nuôi cha.
Người xưa thấu được chỗ này, không cần của cải tiền bạc gì hết, chỉ ở núi tu hành.
Ông có làm bài kệ:
Hữu nam bất hôn,
Hữu nữ bất giá,
Đại gia đoàn loan đầu,
Cộng thuyết vô sanh thoại.
Dịch:
Có con trai không cưới,
Có con gái không gả,
Cả nhà chung hội họp,
Đồng bàn lời vô sanh.
Trong nhà chỉ bàn lời vô sanh chứ không bàn gì khác. Con trai ở nhà cày ruộng nuôi mẹ, con gái bện sáo bán nuôi cha. Cư sĩ như vậy thật hiếm thấy.
Ông nói năng lanh lợi, các nơi đều nghe tiếng. Ông thường đến các chỗ giảng kinh phát tâm tùy hỷ. Có vị sư giảng kinh Kim Cang đến chỗ “vô ngã vô nhân”. Ông bèn hỏi:
– Tọa chủ đã “vô ngã vô nhân”, vậy ai giảng ai nghe?
Tọa chủ không đáp được. Ông nói:
– Tuy tôi là người tục cũng tin biết thô thiển.
Tọa chủ hỏi:
– Theo ý Cư sĩ thế nào?
Ông bèn giải bằng bài kệ:
Vô ngã phục vô nhân,
Tác ma hữu sơ thân,
Khuyến quân hưu lịch tọa,
Bất tự trực cầu chân.
Kim cang Bát-nhã tánh,
Ngoại tuyệt nhất tiêm trần,
Ngã văn tịnh tín thọ,
Tổng thị giả danh trần.
Dịch:
Không ngã lại không nhân,
Làm gì có sơ thân,
Khuyên ông đừng ngồi mãi,
Đâu bằng thẳng cầu chân.
Tánh Kim Cang Bát-nhã,
Chẳng dính một mảy trần,
Tôi nghe và tin nhận,
Thảy hiện bày giả danh.
Người nghe là nhân, người nói là ngã. Hai cái đó đều là giả danh, không thật.
Ông đến viếng Đơn Hà, Đơn Hà làm thế chạy. Ông nói:
– Vẫn là thế phóng thân, thế nào là thế tần thân? Đơn Hà liền ngồi. Ông lấy gậy vẽ dưới đất chữ “Thất”. Đơn Hà vẽ đáp chữ “Nhất”.
Ông nói:
– Nhân bảy thấy một, thấy một quên bảy. Đơn Hà đứng dậy đi. Ông gọi:
– Hãy ngồi nán một chút, vẫn còn câu thứ hai.
Đơn Hà bảo:
– Chỗ này nói được sao?
Ông bèn khóc ra đi.
Vẫn là thế phóng thân, thế nào là thế tần thân? Là sư tử phóng thân hay sư tử gầm rống?
Thường thường các thiền sư muốn cười hay khóc đều được. Tại vì chỗ đó là chỗ không còn ngôn ngữ.
Một hôm ngồi trong am, ông chợt nói:
– Khó khó mười tạ dầu mè vuốt trên cây.
(Nan nan thập thạch du ma thọ thượng than.)
Bàng bà đáp:
– Dễ dễ trên đầu trăm có ý Tổ sư.
(Dị dị bách thảo đầu thượng Tổ sư ý.)
Linh Chiếu tiếp:
– Cũng chẳng khó cũng chẳng dễ,
đói đến thì ăn, mệt ngủ khò.
(Dã bất nan, đã bất dị,
cơ lai khiết phạn khốn lai thùy.)
Cả nhà toàn nói chuyện vô sanh. Cái gì khó? Cái gì dễ? Cái gì không dễ không khó? Chính là cái vô sanh. Ví dụ trên cây vuốt hết mười tạ dầu mè rồi trèo lên thì không dễ chút nào. Như mấy chú nói đừng vọng tưởng, nhưng rồi vọng tưởng cứ trồi lên sụt xuống, không yên được.
Bà an ủi: Dễ dễ trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư. Tức là ý Tổ sư tràn đầy trên đầu trăm cỏ. Khó thì khó, nhưng chỗ nào cũng hiện ra cái đó. Cái đó không vắng mặt.
Cô Linh Chiếu hợp hai cái khó dễ đó bằng câu: Cũng chẳng khó, cũng chẳng dễ, đói đến thì ăn mệt ngủ khò. Đói ăn mệt ngủ ở đây không phải như người thế gian. Thông thường trong gia đình thế tục ba bốn người hợp lại là tính kế sinh nhai làm cái này lời, cái kia lỗ, toàn chuyện sanh tử. Gia đình họ Bàng chỉ nói chuyện vô sanh, không màng tới kế sinh nhai. Là cư sĩ mà tu được như vậy thật là hạnh phúc.
Ông ngồi hỏi Linh Chiếu:
– Cổ nhân nói: Sáng sáng đầu trăm cỏ, sáng sáng ý Tổ sư (Minh minh bách thảo đầu, minh minh Tổ sư ý) là sao?
Linh Chiếu thưa:
– Lớn lớn già già thốt ra lời nói ấy (Lão lão đại đại tác giá cá ngữ thoại).
Ông hỏi:
– Con thế nào?
– Sáng sáng đầu trăm cỏ, sáng sáng ý Tổ sư.
Ông bèn cười.
Cha con đối đáp. Câu đáp lại là câu không phân biệt, không suy nghĩ.
Ông có làm bài kệ:
Tâm như cảnh điệc như,
Vô thật điệc vô hư.
Hữu diệc bất quản,
Vô điệc bất cậu.
Bất thị hiền thánh,
Liễu sự phàm phu.
Dị phục dị,
Tức thử ngũ uẩn hữu chân trí.
Thập phương thế giới nhất thừa đồng,
Vô tướng pháp thân khởi hữu nhị.
Nhược xả phiền não nhập Bồ-đề,
Bất tri hà phương hữu Phật địa.
Dịch:
Tâm như cảnh cũng như,
Không thật cũng không hư,
Có cũng chẳng quản,
Không cũng chẳng gò (bó buộc).
Chẳng phải hiền thánh,
Xong việc phàm phu.
Dễ lại dễ,
Tức năm uẩn này có chân trí.
Thế giới mười phương đồng một thừa,
Pháp thân không tướng nào có nhị.
Nếu bỏ phiền não vào Bồ-đề,
Chẳng biết nơi nào có Phật địa?
Lại có bài kệ:
Hộ sanh tu thị sát,
Sát tận thủy an cư.
Hội đắc cá trung ý,
Thiết thuyền thủy thượng phù.
Dịch:
Hộ sanh cần phải giết,
Giết hết mới ở yên.
Hiểu được ý trong đó,
Thuyền sắt nổi phao phao.
Ông có làm bài kệ:
Tâm như cảnh cũng như,
Không thật cũng không hư,
Có cũng chẳng quản,
Không cũng chẳng gò.
Chẳng phải hiền thánh,
Xong việc phàm phu.
Tức là không mắc kẹt ở hai bên. Không chấp cho là hiền thánh mà không phải phàm phu.
Dễ lại dễ,
Tức năm uẩn này có chân trí.
Thế giới mười phương đồng một thừa,
Pháp thân không tướng nào có nhị.
Nếu bỏ phiền não vào Bồ-đề,
Chẳng biết nơi nào có Phật địa?
Nếu bỏ phiền não cầu Bồ-đề là có hai. Pháp thân không có hai. Cầu như thế chừng nào mới đến được Phật địa?
Lại có bài kệ:
Hộ sanh tu thị sát,
Sát tận thủy an cư.
Hội đắc cá trung ý,
Thiết thuyền thủy thượng phù.
Dịch:
Hộ sanh cần phải giết,
Giết hết mới ở yên.
Hiểu được ý trong đó,
Thuyền sắt nổi phao phao.
Muốn bảo hộ cái không sanh tử, phải giết hết những cái sanh diệt. Vậy mới là an cư. Người nào hiểu được ý trong đó thì như thuyền sắt nổi phao trên biển.
Sắp tịch, ông bảo Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng ngọ vô cho ông hay. Linh Chiếu ra xem vào thưa:
– Mặt trời đã đúng ngọ, mà có nhật thực.
Ông ra cửa xem. Linh Chiếu lên tòa của ông ngồi kiết già chắp tay thị tịch.
Ông vào xem thấy cười, nói:
– Con gái ta lanh lợi quá!
Ông bèn chậm lại bảy ngày sau.
Ông tính đi đúng ngọ, nhưng cô Linh Chiếu lanh lợi quá, ra xem rồi vào thưa: Mặt trời đã đúng ngọ, mà có nhật thực. Nghe nói có nhật thực cũng hơi lạ nên ông ra cửa xem.
Linh Chiếu lên tòa của ông ngồi kiết già chắp tay thị tịch.
Ông vào xem thấy cười, nói:
– Con gái ta lanh lợi quá!
Ông bèn chậm lại bảy ngày sau.
Con gái gạt mình đi trước, thành ra ông bèn chậm lại bảy ngày sau, lo hỏa táng con gái cho xong xuôi. Bảy ngày nữa mới tịch.
Châu mục Vụ Công đến thăm bệnh ông.
Ông bảo:
– Chỉ mong các cái có đều không, dè dặt các cái không đều thật, khéo ở thế gian đều như bóng vang.
Nói xong, ông nằm gác đầu trên gối Vu Công mà thị tịch.
Tức là ngay cái có, thấy được lẽ không. Đừng chấp cái không ở ngoài cho là thật. Như cái nắm mũi kéo của ngài Trí Tạng. Khéo thấy tất cả pháp ở thế gian này như bóng vang. Đó là lời ngài nhắc Vu Công.
Tin ông tịch đưa về nhà cho bà hay. Bà nói:
Con gái ngu si và ông già vô tri, không báo tin mà đi, sao đành vậy?
Bà ra báo tin cho con trai đang làm ngoài đồng:
– Bàng công với Linh Chiếu đi rồi con!
Người con trai đang bừa đáp:
– Dạ!
Rồi lặng thinh giây lâu bèn đứng mà tịch.
Bà nói:
– Thằng này sao ngu si lắm vậy!
Lo thiêu con xong, bà đi từ biệt thân thuộc rồi biệt tích.
Ông Bàng Uẩn có làm thi kệ hơn ba trăm thiên còn lưu truyền ở đời.
Cả gia đình tự tại, muốn đi lúc nào là đi, không ốm đau, không cần gì hết. Sanh tử tự tại là như vậy.