Nội dung:
Sư họ Hàn, quê ở Ráng Châu. Năm mười bảy tuổi, Sư theo thiền sư Huệ Chiếu ở Tây Sơn, Triều Dương xuất gia. Đời Đường niên hiệu Đại Lịch thứ tám (773) Sư thọ đại giới nơi luật sư Hy Tháo ở Hoành Nhạc. Sư học thông kinh luận, nghiêm trì giới luật. Một hôm, Sư tự than:
– Đại trượng phu phải rời pháp tự tịnh, đâu thể theo việc vụn vặt, làm hạnh áo khăn này.
Sư tìm đến thiền sư Hy Thiên (Thạch Đầu) hỏi:
– Đối tam thừa mười hai phần giáo, con còn hiểu biết thô sơ, đến như thường nghe phương Nam nói “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, thật con mù mịt. Cúi mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy.
Thiền sư Hy Thiên bảo:
– Thế ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao?
Sư mờ mịt không hiểu. Thiền sư Hy Thiên bảo:
– Nhân duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến chỗ Mã đại sư (Đạo Nhất).
Sư vâng lệnh đến yết kiến thiền sư Đạo Nhất. Sư thưa lại câu đã thưa với thiền sư Hy Thiên. Thiền sư Đạo Nhất bảo:
– Ta có khi dạy y nhướn mày chớp mắt, có khi không dạy y nhướn mày chớp mắt; có khi nhướn mày chớp mắt là phải, có khi nhướn mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao?
Ngay câu nói này, Sư liền khế ngộ, bèn lễ bái.
Thiền sư Đạo Nhất hỏi:
– Ngươi thấy đạo lý gì lễ bái?
Sư thưa:
– Con ở chỗ Thạch Đầu như con muỗi đậu trên trâu sắt.
Thiền sư Đạo Nhất bảo:
– Ngươi đã biết như thế, tự khéo gìn giữ.
Sư ở đây hầu hạ ba năm.
Một hôm thiền sư Đạo Nhất hỏi:
– Ngày gần đây chỗ thấy của ngươi thế nào?
Sư thưa:
– Da mỏng da dày đều rớt sạch, chỉ có một chân thật.
Thiền sư Đạo Nhất bảo:
– Sở đắc của ngươi đã hợp với tâm thể, khắp hết tứ chi. Đã được như thế, nên đem ba cật tre cột da bụng, tùy chỗ ở núi đi.
Sư thưa:
– Con là người gì dám nói ở núi?
Thiền sư Đạo Nhất bảo:
– Chẳng phải vậy, chưa có thường đi mà chẳng đứng, chưa có thường đứng mà chẳng đi, muốn lợi ích không chỗ lợi ích, muốn làm không chỗ làm, nên tạo thuyền bè, không nên ở đây lâu.
Sư từ giã Mã Tổ trở về Thạch Đầu.
Sư họ Hàn, quê ở Ráng Châu. Năm mười bảy tuổi, Sư theo thiền sư Huệ Chiếu ở Tây Sơn, Triều Dương xuất gia. Đời Đường niên hiệu Đại Lịch thứ tám (773) Sư thọ đại giới nơi luật sư Hy Tháo ở Hoành Nhạc. Sư học thông kinh luận, nghiêm trì giới luật. Một hôm, Sư tự than:
– Đại trượng phu phải rời pháp tự tịnh, đâu thể theo việc vụn vặt, làm hạnh áo khăn này.
Sư tìm đến thiền sư Hy Thiên (Thạch Đầu) hỏi:
– Đối tam thừa mười hai phần giáo, con còn hiểu biết thô sơ, đến như thường nghe phương Nam nói “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, thật con mù mịt. Củi mong Hòa thượng từ bi chỉ dạy.
Thiền sư Hy Thiên bảo:
– Thế ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao?
Sư mờ mịt không hiểu. Thiền sư Hy Thiên bảo:
– Nhân duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến chỗ Mã đại sư.
Sư vâng lệnh đến yết kiến thiền sư Đạo Nhất. Sư thưa lại câu đã thưa với thiền sư Hy Thiên. Thiền sư Đạo Nhất bảo:
– Ta có khi dạy y nhướn mày chớp mắt, có khi không dạy y nhướn mày chớp mắt; có khi nhướn mày chớp mắt là phải, có khi nhướn mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao?
Ngay câu nói này, Sư liền khế ngộ, bèn lễ bái.
Ban đầu ngài đến hỏi đạo với Thạch Đầu nhưng không khế hợp, Thạch Đầu chỉ dạy ngài đến chỗ Mã Tổ. Mã Tổ nói một câu cũng rất khó hiểu: Ta có khi dạy y nhướn mày chớp mắt, có khi không dạy y nhướn mày chớp mắt. Y là ai, nhướn mày chớp mắt là cái gì? Nhướn mày chớp mắt là khẳng định, không nhướn mày chớp mắt là phủ định. Nói phải và chẳng phải đều có ý vượt ra ngoài hai bên.
Chủ yếu của nhà thiền, bước thứ nhất là cần phải bỏ cảnh trở về tâm, khẳng định tâm mình là Phật. Nhưng khẳng định như thế cũng còn bị mắc kẹt, vì vậy tiến thêm một bước là phủ định, không chấp tức tâm là Phật. Vì còn bám vào danh tự thì chưa thấy được Phật thật, nên phá luôn cái chấp đó.
Đến câu sau: Có khi nhướn mày chớp mắt là phải, có khi nhướn mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao? Khẳng định và phủ định cũng là dùng phương tiện, vì thế tới đây bỏ luôn khẳng định và phủ định, phải và chẳng phải đều buông, chỉ sống với thể chân thật như như.
Nhận rõ được ý chỉ của Mã Tổ chỉ dạy, ngài bèn sụp xuống lạy.
Thiền sư Đạo Nhất hỏi:
– Ngươi thấy đạo lý gì lễ bái?
Sư thưa:
– Con ở chỗ Thạch Đầu như con muỗi đậu trên trâu sắt.
Thiền sư Đạo Nhất bảo:
– Ngươi đã biết như thế, tự khéo gìn giữ.
Sư ở đây hầu hạ ba năm. Một hôm thiền sư Đạo Nhất hỏi:
– Ngày gần đây chỗ thấy của ngươi thế nào?
Sư thưa:
– Da mỏng da dày đều rớt sạch, chỉ có một chân thật.
Thiền sư Đạo Nhất bảo:
– Sở đắc của ngươi đã hợp với tâm thể, khắp hết tứ chi. Đã được như thế, nên đem ba cật tre cột da bụng, tùy chỗ ở núi đi.
Sư thưa:
– Con là người gì dám nói ở núi?
Thiền sư Đạo Nhất bảo:
– Chẳng phải vậy, chưa có thường đi mà chẳng đứng, chưa có thường đứng mà chẳng đi, muốn lợi ích không chỗ lợi ích, muốn làm không chỗ làm, nên tạo thuyền bè, không nên ở đây lâu.
Sư từ giã Mã Tổ trở về Thạch Đầu.
Khi sụp xuống lạy, ngài Đạo Nhất hỏi: Ngươi thấy đạo lý gì mà lễ bái? Ngài nói: Con ở chỗ Thạch Đầu như con muỗi đậu trên trâu sắt. Con muỗi đậu trâu sắt, trâu sắt có rung rinh không? Như vậy ngài Dược Sơn đã nhận được cái bất động ở nơi ngài Thạch Đầu, mà ngài Thạch Đầu bảo không hợp, phải đến Mã Tổ mới hợp. Đó là chỗ người xưa làm đạo hỗ tương nhau. Đệ tử ở chỗ vị thầy này giúp một câu nói, đến vị thầy kia nhân câu nói trước đó, thêm một chút ý nghĩa chen vô, đệ tử liền ngộ, ngộ rồi thì trả đệ tử lại cho vị thầy trước. Thế là ngài Dược Sơn ngộ đạo ở ngài Đạo Nhất mà kế thừa ngài Thạch Đầu Hy Thiên. Người xưa không chấp thầy trò chỉ cốt yếu hướng dẫn người thấy đạo, không mắc kẹt một nơi nào một người nào.
Ngài ở đây ba năm, một hôm thiền sư Đạo Nhất hỏi: Ngày gần đây chỗ thấy của ngươi thế nào? Ngài thưa: Da mỏng da dày đều rớt sạch, chỉ có một chân thật. Da rụng hết chỉ còn xương, nghĩa là chỉ còn cái chân thật.
Thiền sư Đạo Nhất bảo: Sở đắc của ngươi đã hợp với tâm thể, khắp hết tứ chi. Đã được như thế, nên đem ba cật tre cột da bụng, tùy chỗ ở núi. Mã Tổ chỉ dạy ông lên núi ở để giáo hóa mọi người. Ngài thưa: Con là người gì dám nói ở núi? Con không biết gì làm sao dám giáo hóa, mở trường dạy người làm Phật.
Mã Tổ bảo: Chẳng phải vậy, chưa có thường đi mà chẳng đứng, chưa có thường đứng mà chẳng đi, muốn lợi ích không chỗ lợi ích, muốn làm không chỗ làm, nên tạo thuyền bè, không nên ở đây lâu. Đứng lâu mỏi thì phải đi, đi mỏi phải đứng. Tập thay đổi không khí, nên học rồi phải ra làm, chứ cứ ở lỳ một chỗ sao được. Vì vậy muốn lợi ích không chỗ lợi ích, muốn làm không chỗ làm, tức là làm mà không chấp, nên tạo thuyền bè tức là lập phương tiện độ người, không nên ở đây lâu. Bị đuổi quá nên ngài từ giã Mã Tổ trở về Thạch Đầu. Học đạo với thầy, thấy được lợi ích thì đến lúc nào đó cũng phải đi để mở rộng phương tiện. Nhưng ngài Dược Sơn chưa vội ra độ chúng, còn trở về với ngài Thạch Đầu thêm một thời gian.
Một hôm Sư ngồi trên tảng đá, Thạch Đầu trông thấy hỏi:
– Ngươi ở đây làm gì?
Sư thưa:
– Tất cả chẳng làm.
– Tại sao ngồi yên?
– Nếu ngồi yên tức làm.
– Ngươi nói chẳng làm, chẳng làm cái gì?
– Ngàn thánh cũng không biết.
Thạch Đầu dùng kệ khen:
Tùng lai cộng trụ bất tri danh
Nhậm vận tương tương chỉ ma hành
Tự cổ thượng hiền do bất thức
Tháo thứ phàm lưu khởi khả minh.
Dịch:
Chung ở từ lâu chẳng biết chi
Lặng lẽ theo nhau chỉ thế đi
Thượng hiền từ trước còn chẳng biết
Phàm phu nông nổi đâu dễ trị.
Thạch Đầu dạy:
– Nói năng động dụng chớ giao thiệp.
Sư thưa:
– Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp.
– Ta trong ấy mũi kim mảnh bụi chẳng lọt vào.
– Con trong ấy như trồng hoa trên đá.
Thạch Đầu ấn khả.
Một hôm Sư ngồi trên tảng đá, Thạch Đầu trông thấy hỏi:
– Ngươi ở đây làm gì?
Sư thưa:
Tất cả chẳng làm.
– Tại sao ngồi yên?
– Nếu ngồi yên tức làm.
– Ngươi nói chẳng làm, chẳng làm cái gì?
– Ngàn thánh cũng không biết.
Thạch Đầu dùng kệ khen:
Tùng lai cộng trụ bất tri danh
Nhậm vận tương tương chỉ ma hành
Tự cổ thượng hiền do bất thức
Tháo thứ phàm lưu khởi khả minh.
Dịch:
Chung ở từ lâu chẳng biết chi
Lặng lẽ theo nhau chỉ thế đi
Thượng hiền từ trước còn chẳng biết
Phàm phu nông nổi đâu dễ trị.
Đây là chỗ ngàn thánh cũng không biết. Tại sao? Chỗ chẳng làm đó là chỗ chẳng dấy niệm, nếu còn dấy niệm thì ngàn thánh đều biết. Vì vậy ngài Thạch Đầu nói kệ khen ngợi chỗ ngàn thánh cũng không biết đó.
Tùng lai cộng trụ bất tri danh, từ xưa đến giờ ở chung mà không biết tên nó. Nhậm vận tương tương chỉ ma hành, nhậm vận là hồn nhiên lặng lẽ, tương tương là theo nhau, chỉ ma hành là chỉ thế mà đi. Mình đâu nó đó, nó đâu mình đó, cứ thầm thầm lặng lặng theo nhau không rời. Tự cổ thượng hiền do bất thức, những bậc thượng hiền từ xưa vẫn còn không biết. Tháo thứ phàm lưu khởi khả minh, huống bọn phàm phu hấp tấp nông cạn làm sao hiểu nổi.
Thạch Đầu dạy:
– Nói năng động dụng chớ giao thiệp.
Sư thưa:
– Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp.
– Ta trong ấy mũi kim mảnh bụi chẳng lọt vào.
– Con trong ấy như trồng hoa trên đá.
Thạch Đầu ấn khả.
Thầy trò đối đáp rất là tương xứng. Thầy bảo: Nói năng động dụng chớ giao thiệp. Như thế thì được bên này mất bên kia, vậy khi không nói năng động dụng thì sao? Trò tiếp ý: Chẳng nói năng động dụng cũng chớ giao thiệp.
Thạch Đầu nói: Ta trong ấy mũi kim mảnh bụi chẳng lọt vào. Ngài nói: Con trong ấy như trồng hoa trên đá. Thật quá hay! Rất khít khao chặt chẽ.
Ngài Thạch Đầu không hở tí xíu nào để mũi kim mảnh bụi có thể lọt vô, ngài Dược Sơn thì như trồng hoa trên đá, còn chúng ta thì sao? Chắc là có khoảng trống chứa cả thành phố Hồ Chí Minh, phải không?
Qua đối đáp cho thấy thầy trò đều không dính một vật, vì thế ngài Thạch Đầu ấn khả.
Sau Sư đến ở Dược Sơn Lễ Châu, đồ chúng theo học rất đông. Một hôm Sư ngồi, Đạo Ngô, Vân Nham đứng hầu. Sư chỉ hai cây, một tươi một khô đứng trên núi, hỏi Đạo Ngô:
– Khô là phải hay tươi là phải?
Đạo Ngô thưa:
– Tươi là phải.
Sư bảo:
– Sáng tỏ tất cả chỗ, quang minh xán lạn.
Sư lại hỏi Vân Nham:
– Khô là phải hay tươi là phải?
Vân Nham thưa:
– Khô là phải.
Sư bảo:
– Sáng tỏ tất cả chỗ, thôi dạy khô lạt.
Chợt Sa-di Cao đến. Sự hỏi:
– Khô là phải hay tươi là phải?
Sa-di Cao thưa:
– Khô là từ nơi khác mà khô, tươi là từ nơi khác mà tươi.
Sư nhìn Đạo Ngô, Vân Nham bảo:
– Chẳng phải, chẳng phải.
Ba vị này đáp như vậy là thế nào? Chữ khô tươi này chúng ta đừng nghĩ theo nghĩa thường. Khô là ở trong định mà không khởi dụng, còn trong định mà hằng khởi dụng là tươi. Đạo Ngô nói tươi là phải, tức là chấp nhận cái diệu dụng lợi ích hằng sa nên nói tươi là phải. Ngài khen: Sáng tỏ tất cả chỗ, quang minh xán lạn.
Vân Nham nói khô là phải, nghĩa là định là phải. Ngài Dược Sơn khen sáng tỏ tất cả chỗ, định tức là thể thanh tịnh nên sáng suốt tất cả chỗ, nhưng thôi dạy khô lạt tức là đừng có khô lạt. Khô lạt là ở trong định hoài, phải từ định mà khởi dụng chứ đừng mắc kẹt ở trong ấy.
Sa-di Cao nói khô từ nơi khác mà khô, tươi từ nơi khác mà tươi. Nói khô tươi cũng là chuyện bên ngoài, khô cũng không phải, tươi cũng không phải. Theo hai vị Đạo Ngô và Vân Nham thì khô tươi đều là trị bệnh và diệu dụng, nên hai vị đều là phải. Đến Sa-di Cao thì đều không phải, vì là việc bên ngoài.
Viện chủ thưa:
– Đánh chuông rồi, thỉnh Hòa thượng thượng đường.
Sư bảo:
– Ông bưng giùm bát cho tôi.
– Hòa thượng không tay từ bao giờ?
– Ông chỉ là uổng mặc ca-sa.
– Con chỉ là thế, Hòa thượng thì sao?
– Ta không quyến thuộc này.
Xem như viện chủ này không lễ độ mà ngài đáp lại rất ôn hòa: Ông chỉ là uổng mặc ca-sa. Uổng mặc ca-sa tức là uổng mặc áo nhà tu, không xứng đáng ở chùa. Ý ngài muốn bảo, ngươi nhận lấy cái gì của ta, nhưng viện chủ lại bảo, của ai thì người đó đến nhận, bắt người khác nhận sao được, Hòa thượng tự nhận lấy. Ngài chế ông uổng mặc ca-sa, không đủ sức kế thừa ta. Viện chủ còn cố nói: Con chỉ là thế, Hòa thượng thì sao? Hòa thượng nói con uổng mặc áo ca-sa, còn Hòa thượng thì sao? Ngài bảo: Ta không có quyến thuộc này. Ta không phải là bà con của bọn ấy.
Thấy thầy tri viên trồng rau, Sư bảo:
– Trồng thì không ngăn ngươi trồng, chớ cho nó mọc rễ.
Thầy tri viên thưa:
– Không cho mọc rễ thì đại chúng lấy gì ăn?
Sư bảo:
– Ngươi có miệng sao?
Thầy tri viên không đáp được.
Thầy tri viên này thành thật quá! Cứ tưởng cây phải có rễ mới sống, không mọc rễ lấy gì có cây, có rau cho chúng ăn, nên nói: Không cho mọc rễ thì đại chúng lấy gì ăn? Ngài bảo: Ngươi có miệng sao? Nghe vậy thầy tri viên hơi bí.
Trồng mà không cho mọc rễ là làm tất cả việc mà không cho dính mắc. Đây là chỗ chúng ta phải hiểu ý thiền sư, cố thực tập việc làm không dính mắc. Còn câu hỏi Ngươi có miệng sao? Ý nói chỗ đó là chỗ vô ngôn, dù đối đáp cũng không dính, như trồng rau không cho mọc rể.
Có vị tăng hỏi:
– Tổ sư chưa đến nước này (Trung Hoa), nước này có ý Tổ sư chăng?
Sư đáp:
– Có.
– Đã có ý Tổ sư, lại đến làm gì?
– Bởi có, cho nên đến.
Vị tăng hỏi, khi Tổ sư chưa vào Trung Quốc, Trung Quốc có ý Tổ sư chăng? Ngài đáp có. Tăng nói, có rồi lại đến làm chi cho dư. Ngài đáp: Bởi có, cho nên đến. Tại sao? Nếu không có thì Tổ sư chỉ dạy điều gì.
Sư xem kinh, có vị tăng thấy, hỏi:
– Hòa thượng bình thường không cho chúng con xem kinh, vì sao Hòa thượng lại xem?
Sư đáp:
– Ta xem chỉ để che mắt.
– Chúng con học theo Hòa thượng được chăng?
– Nếu các ngươi xem thì da trâu cũng lủng.
Ngài xem kinh, có vị tăng thấy hỏi: Bình thường Hòa thượng không cho chúng con xem kinh, vì sao Hòa thượng lại xem? Đây là tinh thần của nhà thiền, chỉ nghe nhận rồi tu, chưa hiểu thì hỏi để ngộ rồi tu, chứ không cho xem kinh. Vì chư tổ sợ xem nhiều sinh loạn.
Đệ tử thì không cho xem kinh, Thầy thì xem kinh hoài, đệ tử thấy lạ bèn thưa hỏi. Ngài đáp: Ta xem chỉ để che mắt. Đây là chỗ đặc biệt. Đối với người nhận được ý chỉ thì xem mà không loạn, vì đã hội thông thấy suốt. Vì thế nói xem chỉ để che mắt. Tăng thưa: Chúng con học theo Hòa thượng được chăng? Chúng con học theo Thầy để che mắt được chăng? Ngài nói: Nếu các ngươi xem thì da trâu cũng lủng. Các ngươi xem tới đâu, chấp tới đó thì lủng hết, đó là bệnh.
Thứ sử Lý Cao ở Lãng Châu, nghe danh Sư, nhiều phen sai người đến thỉnh mà Sư không đi. Ông đích thân lên núi yết kiến Sư. Sư cầm quyển kinh xem không nhìn lại. Thị giả bạch:
– Thái thú ở đây!
Lý Cao tánh nóng nảy nói:
– Thấy mặt không bằng nghe danh.
Sư gọi:
– Thái thú
Lý Cao: – Dạ!
Sư bảo:
– Sao lại quý lỗ tai mà khinh con mắt?
– Lý Cao chắp tay xin lỗi, rồi hỏi:
– Thế nào là đạo?
Sư lấy tay chỉ trên chỉ dưới, hỏi:
– Hội chăng?
Cao thưa:
– Chẳng hội.
Sư bảo:
– Mây ở trời xanh, nước trong bình.
Lý Cao vui mừng thỏa thích làm lễ, trình một bài kệ:
Luyện đắc thân hình tự học hình
Thiên chu tùng hạ lưỡng hàm kinh
Ngã lai vấn đạo vô dư thuyết
Vân tại thanh thiên thủy tại bình.
Dịch:
Luyện được thân hình giống hạc hình
Dưới tùng ngàn gốc hai hòm kinh
Ta tìm hỏi đạo không lời khác
Mây ở trời xanh, nước trong bình.
Lý Cao lại hỏi:
– Thế nào là giới định tuệ?
Sư bảo:
– Bần đạo trong đây không có gia cụ nhàn này.
Lý Cao không lường nổi huyền chỉ.
Sư lại bảo:
– Thái thú muốn gìn giữ được việc này, cần phải tiến lên ngọn núi cao chót vót mà ngồi, xuống tận đáy biển sâu mà đi, việc trong khuê các nếu bỏ chẳng được bèn là lủng chảy.
Thứ sử Lý Cao ở Lãng Châu, nghe danh Sư nhiều phen sai người đến thỉnh mà Sư không đi. Ông đích thân lên núi yết kiến Sư. Sư cầm quyển kinh xem không nhìn lại. Thị giả bạch:
Thái thú ở đây.
Lý Cao tánh nóng nảy nói:
– Thấy mặt không bằng nghe danh.
Sư gọi: – Thái thú!
Lý Cao: – Dạ!
Sư bảo:
Sao lại quý lỗ tai mà khinh con mắt?
Lý Cao chắp tay xin lỗi, rồi hỏi:
– Thế nào là đạo?
Sư lấy tay chỉ trên chỉ dưới, hỏi:
– Hội chăng?
Cao thưa:
– Chẳng hội.
Sư bảo:
– Mây ở trời xanh, nước trong bình.
Thứ sử Lý Cao ở Lãng Châu nghe danh ngài, nhiều phen sai người đến thỉnh mà ngài không đi. Ông đích thân lên núi yết kiến, ngài cầm quyển kinh xem không nhìn lại. Thị giả cho hay có Thứ sử tới thăm. Thứ sử như vị tỉnh trưởng bây giờ. Thị giả báo tin Thái thú đến, ngài cũng chưa chào, Lý Cao tánh nóng nảy, mình là quan lớn tới mà ông thầy không ra tiếp, liền nói: Thấy mặt không bằng nghe danh. Tại sao? Nghe danh tiếng của Thầy rất quý trọng, đến thấy lơ là không xứng với tên. Ngài gọi: Thái thú! Lý Cao: Dạ! Ngài liền bảo: Sao lại quý lỗ tai mà khinh con mắt?
Chỉ trọng danh tiếng mà khinh con mắt thấy. Chính đây là ý nghĩa hay vô cùng. Người ta chỉ nghe sự đồn đãi mà không trọng lẽ thật. Nên ngài quở: Tại sao quý lỗ tai mà khinh con mắt? Lý Cao cũng biết nên chắp tay xin lỗi, rồi hỏi: Thế nào là đạo? Ngài lấy tay chỉ trên, chỉ dưới hỏi: Hội chăng? Lý Cao thưa: Chẳng hội. Ngài bảo: Mây ở trời xanh, nước trong bình. Đạo ở khắp nơi như mây nước không hạn cuộc.
Lý Cao vui mừng thỏa thích làm lễ, trình một bài kệ:
Dich:
Luyện đắc thân hình tự hạc hình
Thiên chu tùng hạ lưỡng hàm kinh
Ngã lai vấn đạo vô dư thuyết
Vân tại thanh thiên thủy tại bình.
Luyện được thân hình giống hạc hình
Dưới tùng ngàn gốc hai hòm kinh
Ta tìm hỏi đạo không lời khác
Mây ở trời xanh, nước trong bình.
Lý Cao lại hỏi:
– Thế nào là giới định tuệ?
Sư bảo:
– Bần đạo trong đây không có gia cụ nhàn này. Lý Cao không lường nổi huyền chỉ.
Lý Cao là quan văn nên khi hiểu được ý chỉ liền làm bài thơ khen ngài.
Luyện được thân hình giống hạc hình, nghĩa là thân hình ngài nhẹ nhàng như chim hạc bay trên cao, không có gì ràng buộc. Dưới tùng ngàn gốc hai hòm kinh, nơi ngài ở chỉ có hai hòm kinh dưới ngàn gốc tùng. Ta tìm hỏi đạo không lời khác, ta đến hỏi đạo không lời gì khác, mà chỉ nói Mây ở trời xanh, nước trong bình; mây trên trời, nước ở trong bình chừng ấy thôi, mà đạo lý tràn trề.
Lý Cao lại hỏi: Thế nào là giới định tuệ? Ngài bảo: Ở đây bần đạo không có gia cụ nhàn này. Gia cụ nhàn là đồ vật bỏ xó, không dùng đến. Ngài không cần dùng ngôn ngữ để giải thích danh tự, chỉ cần mọi người nhận được thể chân thật sống được với nó, không kẹt trên danh từ. Giới định tuệ đối với ngài xem như trò chơi. Ngài sống với cái thật, không rảnh để bàn danh tự. Lý Cao không lường nổi huyền chỉ.
Sư lại bảo: Thái thú muốn gìn giữ được việc này, cần phải tiến lên ngọn núi cao chót vót mà ngồi, xuống tận đáy biển sâu mà đi, việc trong khuê các nếu bỏ chẳng được bèn là lủng chảy.
Những việc này việc nọ ở trong nhà nếu không buông bỏ được thì còn bị rớt lọt lại trong sanh tử. Phải buông hết tâm tình, lên tận ngọn núi cao, xuống tận đáy biển mới có thể vào được cửa này.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Tổ sư chỉ dạy bảo hộ, nếu tham sân khởi lên cần phải phòng ngự, chớ cho khởi dậy. Các ngươi muốn biết cây khô ở Thạch Đầu cần phải gánh vác, trọn không có cành lá. Tuy nhiên như thế, lại phải tự xem, không được bặt ngôn ngữ. Nay ta vì các ngươi nói ngôn ngữ ấy để hiển bày không ngôn ngữ, cái này xưa nay không tướng mạo tai mắt.
Tuy nhiên như thế lại phải tự xem không được bặt ngôn ngữ, tuy chỗ đó là cội nguồn không còn nhánh nhóc, phải tự nhận lấy tự xem lấy nhưng không nên im lặng ở một nơi hoài, cần phải khởi phương tiện làm lợi ích cho chúng sanh. Nay ta vì các ngươi nói ngôn ngữ ấy để hiển bày chỗ không ngôn ngữ. Cái này xưa nay không tướng mạo tai mắt… Cái này tức là cây khô ở Thạch Đầu.
Một hôm Sư lên núi đi kinh hành, chợt mây tan thấy trăng sáng, Sư cười to một tiếng, vang xa gần chín mươi dặm. Dân chúng ở xa nghe tiếng, hôm sau tìm đến hỏi tăng chúng. Tăng chúng bảo:
– Đó là tiếng của Hòa thượng đêm qua ở trên núi cười.
Lý Cao nghe việc này lại làm bài thơ tặng:
Tuyển đắc u cư thiếp đã tình
Chung niên vô tống diệc vô nghinh
Hữu thời trực thướng cô phong đánh
Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.
Dịch:
Chọn nơi xa vắng hợp lòng quê
Năm tròn mặc khách đến hay về
Có khi tiến thẳng lên đảnh núi
Mây tan trăng hiện tiếng cười hề!
Ngài lên núi đi kinh hành chợt mây tan thấy trăng sáng, ngài cười to một tiếng vang xa gần chín mươi dặm. Dân chúng ở xa nghe tiếng, hôm sau liền đến hỏi tăng chúng. Tăng chúng bảo: Đó là tiếng cười của Hòa thượng đêm qua ở trên núi. Việc này đến tai Lý Cao, ông làm bài thơ tặng:
Tuyển đắc u cư thiếp dã tình, tức là chọn được chỗ vắng vẻ, hợp với tình của người quê mùa.
Chung niên vô tống diệc vô nghinh, trọn năm không tiễn ai cũng không đưa ai.
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh, có khi rảnh đi thẳng lên ngọn núi chót vót ở trên.
Nguyệt hạ phi vân tiểu nhất thanh, mây bay thấy trăng hiện liền cười lên một tiếng.
Đây là khen ngợi ngài có một việc bất khả tư nghì, nghĩa là ở ẩn trên núi hay chỗ sâu kín thanh nhàn không cần biết ai. Như chính ông thứ sử đến ngài không nghênh đón cũng không đưa tiễn, khi rảnh lên ngọn núi chơi, thấy mây tan trăng hiện cười lớn, không lo bất cứ chuyện phải quấy hơn thiệt ở thế gian.
Thiền sư Không Lộ ở Việt Nam có bài kệ:
Dich:
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thường cô phong đánh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Lựa nơi rồng rắn đất ưa người
Cả buổi tình quê những mảng vui
Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm
Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.
(Ngô Tất Tố dịch)
Bài kệ này hai câu cuối gần giống bài thơ Lý Cao, tuy mỗi vị có một ý riêng.
Đời Đường niên hiệu Thái Hòa năm thứ tám (834) tháng hai, sắp thị tịch, Sư kêu to:
– Pháp đường ngã! Pháp đường ngã!
Đại chúng đều mang cột đến chống.
Sư khoát tay bảo:
– Các ngươi không hiểu ý ta.
Sư bèn từ giã chúng thị tịch, thọ 84 tuổi, 60 tuổi hạ.
Vua sắc phong là Hoằng Đạo đại sư, tháp hiệu là Hóa Thành.
Không biết Sư quê quán ở đâu, chỉ biết Sư trước học nho đi vào Trường An ứng cử, dừng nghỉ ở nhà trọ, chợt mộng thấy hào quang trắng đầy nhà. Người đoán mộng nói là “điềm hiểu Không”. Gặp một thiền khách hỏi:
– Nhân giả đi đâu?
Sư đáp:
– Đi thi làm quan.
– Thi làm quan đâu bằng thi làm Phật.
– Thi làm Phật phải đến chỗ nào?
– Hiện nay ở Giang Tây có Mã đại sư ra đời, là trường thi làm Phật, nhân giả nên đến đó.
Sư bỏ thi, tìm đến Giang Tây ra mắt Mã đại sư (Đạo Nhất).
Vừa thấy Mã đại sư, Sư bèn lấy tay giở chiếc khăn trên đầu. Mã đại sư nhìn giây lâu bảo:
– Nam Nhạc Thạch Đầu là thầy của ngươi.
Sư từ giã Mã đại sư đi sang Thạch Đầu.
Đến chỗ Thạch Đầu, Sư cũng làm giống như ở Mã đại sư. Thạch Đầu bảo:
– Ra nhà sau đi.
Sư lễ tạ xong, vào phòng cư sĩ, luân phiên làm bếp ngót ba năm.
Thiền sư Đơn Hà là một người rất khó hiểu, không ai biết được ngài ở đâu, tên gì, chỉ biết rằng một hôm ngài vào Trường An thi, trên đường ghé nhà trọ nghỉ, ban đêm mộng thấy hào quang trắng đầy nhà, người đoán mộng nói là điềm hiểu được lý Không. Sau đó ngài gặp một thiền khách, qua đối đáp biết được ngài định vào Trường An thi, vị thiền khách bảo: Thi làm quan đâu bằng thi làm Phật. Thiền khách chỉ ngài tới Giang Tây ra mắt Mã Tổ. Thời ấy chỗ của Mã Tổ được gọi là trường thi Phật, ai muốn làm Phật thì tới đó để thi. Ngang đây ngài bỏ việc đi thi, tìm tới Giang Tây gặp Mã Tổ.
Vừa thấy Mã đại sư, Sư bèn lấy tay giở chiếc khăn
trên đầu. Mã đại sư nhìn giây lâu bảo:
– Nam Nhạc Thạch Đầu là thầy của ngươi.
Sư từ giã Mã đại sư đi sang Thạch Đầu. Đến chỗ Thạch Đầu, Sư cũng làm giống như ở Mã đại sư. Thạch Đầu bảo:
Ra nhà sau đi. Sư lễ tạ xong vào phòng cư sĩ, luân phiên làm bếp ngót ba năm.
Vừa thấy Mã Tổ, ngài liền đưa tay giở chiếc khăn trên đầu, ý muốn xin xuất gia mà không dùng ngôn ngữ, Mã Tổ nhìn giây lâu bảo: Nam Nhạc Thạch Đầu là thầy của ngươi. Không phải duyên ở đây, qua bên Nam Nhạc Thạch Đầu đi, vị đó mới là thầy của ngươi. Đến chỗ Thạch Đầu, ngài cũng làm giống như ở Mã Tổ, Thạch Đầu bảo: Ra nhà sau đi. Vậy là được chấp nhận rồi.
Sư lễ tạ xong vào phòng cư sĩ, luân phiên làm bếp ngót ba năm. Không được học gì hết, chỉ chia phiên làm bếp. Một nho sĩ lên kinh đô thi làm quan, tới đây không được chỉ dạy gì, chỉ làm bếp suốt ba năm mà không chán. Nếu chúng ta ở ngoài có một chút bằng cấp hay là nhà nho, nhà văn mà vô chùa bắt làm bếp thì chắc không chịu nổi. Ý chí của người xưa khác xa chúng ta bây giờ.
Ở đây không thuật lại chuyện thưa hỏi riêng như thế nào, nhưng qua đối đáp chúng ta có thể biết được ngài đã ngộ đạo trong ba năm ở chỗ Thạch Đầu.
Một hôm Thạch Đầu bảo chúng:
– Ngày mai cắt cỏ ở trước điện Phật.
Sáng hôm sau, đại chúng mỗi người cầm liềm cầm cuốc đến trước chùa làm cỏ. Chỉ riêng Sư lấy thau múc nước gội đầu, đến quỳ gối trước Hòa thượng. Thạch Đầu thấy thế cười, liền cạo tóc cho Sư. Cạo tóc xong, Thạch Đầu lại vì Sư nói giới. Sư bịt tai ra đi.
Sư trở lại Giang Tây yết kiến Mã đại sư. Chưa lễ ra mắt, Sư đi thẳng về tăng đường trèo lên cổ tượng thánh tăng ngồi. Đại chúng kinh ngạc chạy báo cho Mã đại sư hay. Mã đại sư đích thân vào tăng đường trông thấy bèn nói:
– Con ta, Thiên Nhiên.
Sư bèn bước xuống đất lễ bái, thưa:
– Cảm tạ Thầy ban cho pháp hiệu.
Mã đại sư hỏi:
– Từ đâu đến?
Sư thưa:
– Từ Thạch Đầu đến.
– Đường Thạch Đầu trơn, ngươi có té chăng?
– Nếu có trợt té thì chẳng đến đây.
Một hôm Thạch Đầu bảo chúng:
– Ngày mai cắt cỏ ở trước điện Phật.
Sáng hôm sau, đại chúng mỗi người cầm liềm cầm cuốc đến trước chùa làm cỏ. Chỉ riêng Sư lấy thau múc nước gội đầu, đến quỳ gối trước Hòa thượng. Thạch Đầu thấy thế cười, liền cạo tóc cho Sư. Cạo tóc xong, Thạch Đầu lại vì Sư nói giới. Sư bịt tai ra đi.
Thạch Đầu bảo ngày mai cắt cỏ ở trước điện Phật, đại chúng mỗi người cầm liềm, cầm cuốc đến trước chùa làm cỏ, chỉ riêng ngài biết nên múc nước gội đầu đến quỳ trước Hòa thượng. Thạch Đầu cười rồi cạo tóc cho ngài, tức là thầy trò cảm thông nhau. Cạo tóc xong Thạch Đầu lại nói giới cho nghe, nhưng ngài bịt tai đi ra. Sao kỳ vậy? Chúng ta tu cần phải thọ giới, tại sao ngài lại coi thường? Bởi vì khi đã nhận ra đại sự, mới biết việc thọ giới chỉ là phương tiện bên ngoài, nắm được gốc rồi thì ngọn ngành phụ thuộc không đáng kể nữa, nên ngài bịt tại đi ra.
Sư trở lại Giang Tây yết kiến Mã đại sư. Chưa lễ ra mắt, Sư đi thẳng về tăng đường trèo lên cổ tượng thánh tăng ngồi. Đại chúng kinh ngạc chạy báo cho Mã đại sư hay. Mã đại sư đích thân vào tăng đường trông thấy, bèn nói:
– Con ta, Thiên Nhiên.
Sư bèn bước xuống đất lễ bái, thưa:
– Cảm tạ Thầy ban cho pháp hiệu.
Mã đại sư hỏi:
– Từ đâu đến?
Sư thưa:
Từ Thạch Đầu đến.
– Đường Thạch Đầu trơn, ngươi có té chăng?
– Nếu có trợt té thì chẳng đến đây.
Ngài trở lại Giang Tây, chưa đảnh lễ Mã đại sư đã đi thẳng vào tăng đường, trèo lên cổ tượng thánh tăng ngồi. Đại chúng hoảng hốt, không biết ông này là ai mà kỳ lạ, nên đi báo với Mã đại sư. Giả sử chúng ta là trụ trì, nếu thấy một vị tăng ở đâu tới ngỗ nghịch vô lễ như vậy, chắc cũng không thể bình tĩnh. Mã đại sư đến thấy ngài, liền nói: Con ta, Thiên Nhiên. Thấy hành động tức biết là hạng người nào rồi. Ngài trèo xuống cảm tạ thầy ban pháp hiệu, tên Thiên Nhiên có từ đó.
Mã đại sư đã cảm thông và biết được chỗ Thạch Đầu cao vót khó vào, nên hỏi: Đường Thạch Đầu trơn, ngươi có té chăng? Đường Thạch Đầu trơn là lời Mã đại sư nói tặng Thạch Đầu. Đường Thạch Đầu trơn trợt khó đi, ngươi có té không? Nếu té thì chẳng đến. Nói theo lối kinh điển như bây giờ, Thạch Đầu dạy đạo thâm sâu quá ngươi có lãnh hội được không? Dạ, con lãnh hội được. Chúng ta thấy ở đây hai thầy trò nói chuyện với nhau dường như không có đạo lý gì hết, nhưng trong đó tràn đầy đạo lý. Đường Thạch Đầu tuy trơn trợt khó đi mà con đã đến được rồi; tức là đã lãnh hội, đã nắm vững, không bị té như những người khác, nên bây giờ mới trở về đây.
Mã Tổ không trách ngài trèo lên cổ thánh tăng ngồi, bởi vì người hội đạo không chấp nê vào những thứ tiểu tiết, còn chúng ta do chưa thấy đạo nên thấy cái gì trái với lễ nghi thường tình là không chịu nổi. Đó là chỗ khác biệt giữa chúng ta và các thiền sư.
Từ biệt Mã Tổ, Sư đi dọc đường gặp một ông già dắt một đứa bé. Sự hỏi:
– Ông nhà ở đâu?
Ông già đáp:
– Trên là trời dưới là đất.
Sư bảo:
– Chợt gặp trời đổ đất sụp thì sao? Ông già đáp:
– Trời xanh! Trời xanh
Đứa bé “hư” một tiếng. Sư bảo:
– Không phải cha này chẳng sanh được đứa con kia.
Ông già dắt đứa bé vào núi mất.
Câu hỏi nghe rất thường: Nhà ông ở đâu? Ông già đáp: Trên là trời, dưới là đất. Nghe đáp thì biết ông già này không phải tay vừa, ngài hỏi tiếp: Chợt gặp trời đổ đất sụp thì sao? Ông già nói: Trời xanh, trời xanh. Những câu nói nghe qua không thấy có chút đạo lý, nhưng trong đó toàn là đạo lý. Đạo lý ở chỗ nào?
Nói trên là trời, dưới là đất, vậy nhà ông già ở đâu? Thông thường người ta hay nói nhà tôi ở chỗ này, xứ kia, chốn nọ. Bởi vì chúng ta chỉ biết cái nhà của thân tứ đại mà không biết khắp nơi đều là nhà. Nhà ở của thân tứ đại sẽ sụp đổ, còn cái đó thì không bị sụp đổ. Vì vậy nên nói, trời xanh trời xanh. Mênh mông, bát ngát, không đâu chẳng phải nhà. Có chỗ khác nói: Giả sử cả thế giới này hoại, cái đó cũng không hoại. Hai chữ trời xanh nhằm nói lên ý nghĩa ấy.
Ông già nói xong đứa bé liền hư một tiếng. Đâu phải đầu bạc răng rụng mới là thiền sư, còn tí xíu cũng đã biết rồi, thật là hy hữu! Ngài khen: Không phải cha này chẳng sanh được đứa con kia. Đây là rồng sanh rồng con, phượng sanh phượng con, không phải tầm thường.
Ông già dẫn đứa bé vào núi, không nói thêm câu nào. Ở Trung Hoa thời này đi đâu cũng gặp thiền sư, không chỉ người xuất gia mà cả cư sĩ cũng có thể trở thành thiền sư.
Sư đi du phương, đến núi Thiên Thai, nơi chót Hoa Đảnh dừng ở ba năm, sau đó Sư viếng những nơi như Kính Sơn yết kiến thiền sư Quốc Nhất. Đời Đường khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) Sư đến núi Hương Sơn ở Long Môn, Lạc Kinh làm bạn với hòa thượng Phục Ngưu.
Sư lại đến chùa Huệ Lâm, gặp lúc trời đại hàn, Sư bèn thỉnh tượng Phật gỗ đốt để hơ. Viện chủ trông thấy quở:
– Sao đốt tượng Phật của tôi?
Sư lấy gậy bới tro nói:
– Tôi thiêu để lấy xá-lợi.
Viện chủ bảo:
– Phật gỗ làm gì có xá-lợi.
Sư nói:
– Đã không có xá-lợi thì thỉnh thêm hai vị nữa thiêu.
Viện chủ nghe câu nói này tất cả chấp đều tan vỡ.
Thiền Sư Thiên Nhiên ở Đơn Hà
Thiền sư làm nhiều việc lạ thường, nếu nhìn khắt khe theo nề nếp thì chúng ta không thể nào hiểu nổi các ngài.
Ngài đi du phương nhiều nơi, lúc đến chùa Huệ Lâm gặp tiết đại hàn, khoảng tháng mười một, tháng chạp âm lịch, trời lạnh thấu xương ngủ không được, ngài bèn thỉnh tượng Phật gỗ ra đốt. Viện chủ trông thấy, nóng ruột quở: Sao đốt tượng Phật của tôi? Ngài lấy gậy bới đống tro, nói: Tôi thiêu để lấy xá-lợi. Câu nói dường như đùa cợt mà hay đáo để.
Viện chủ không hiểu nên nói: Phật gỗ làm gì có xá-lợi. Viện chủ này thật ngây thơ, nghe nói thiêu Phật gỗ tìm xá-lợi lẽ ra đã biết, vậy mà cũng chưa biết. Sư bèn nói thêm: Đã không có xá-lợi thì thỉnh thêm hai vị nữa thiêu. Câu nói nghe chát lỗ tai, khiến cho Viện chủ ngang đây được ngộ. Nhân câu chuyện này trong nhà thiền có câu: “Đơn Hà thiêu mộc Phật, Viện chủ lạc mi mao.” Đơn Hà đốt tượng Phật gỗ, Viện chủ rụng hết lông mày, là sao?
Những việc làm của ngài Đơn Hà chúng ta thấy lạ lùng, không chút trang nghiêm. Nhưng sự thật, việc làm đó không có lỗi. Còn chúng ta, nếu thiêu tượng Phật thì chắc chắn phải xuống địa ngục. Tại sao? Vì ngài không bị câu thúc trong hình thức tầm thường, nhờ ngài thiêu tượng Phật mà Viện chủ tỉnh ngộ. Tỉnh ngộ cái gì? Đa phần chúng ta đều nặng về hình thức nên hết lòng tôn kính Phật, mỗi ngày lau chùi điện Phật, thay hương hoa, thắp nhang đèn, dâng cơm cúng nước trịnh trọng, cho đó là tu. Cứ như vậy cả đời đem hết khả năng ra phụng sự, dần dần lệ thuộc vào hình tướng, lấy phương tiện làm cứu cánh mà không rõ tự tâm. Kính Phật, thờ phụng Phật trang nghiêm đương nhiên có phước báo lớn, nhưng rất khó ngộ đạo. Bởi một khi đã chìm sâu trong phương tiện thì càng tu càng kẹt, không thể nào đạt đạo.
Ngài thấy Viện chủ ngày đêm thờ phụng Phật, cho đó là sự nghiệp, nên ngài chất củi đốt tượng Phật để cảnh tỉnh Viện chủ. Đối với người chấp chặt vào hình thức, nếu chỉ nói chuyện thông thường thì họ đâu chịu hiểu, cho nên phải làm bạo. Giống như người điếc, phải tiếng sấm to họ mới nghe. Cũng vậy, câu nói của ngài Đơn Hà như tiếng sét đánh tan tâm chấp của Viện chủ. Tượng Phật gỗ đâu phải là Phật thật, Viện chủ ngay đây liền ngộ, lập tức bao nhiêu chấp trước đều rơi rớt sạch, nên nói “rụng hết lông mày”.
Một hôm, Sư đến yết kiến Quốc sư Huệ Trung, trước hỏi thị giả:
– Quốc sư có ở nhà chăng?
Thị giả bảo:
– Ở nhà thì ở mà không thấy khách.
Sư bảo:
– Rất sâu xa thay!
Thị giả bảo:
– Mắt Phật cũng nhìn chẳng thấy.
Sư khen:
– Rồng sanh rồng con, phượng sanh phượng con. Quốc sư ngủ dậy, thị giả thuật lại, Quốc sư đánh thị giả hai chục gậy đuổi ra.
Sư nghe việc ấy bèn nói:
– Không lầm là Nam Dương quốc sư.
Quốc sư có ở nhà chăng? Câu hỏi bình thường, nhưng thị giả không phải tầm thường: Ở nhà thì ở mà không thấy khách. Nói theo cách thông thường, Quốc sư đang ngủ. Ngủ cho nên ở nhà mà không thấy khách. Nhưng trong câu đáp của thị giả còn có ý nghĩa thâm trầm khác nữa, chủ nhà không bao giờ vắng mặt mà không có khách, tức là đóng cửa sáu căn không dính khách trần. Vì vậy ngài bảo: Rất sâu xa thay. Thị giả liền nói: Mắt Phật cũng nhìn chẳng thấy. Chính câu nói này đã làm sáng tỏ. Nói ở nhà, không phải là Quốc sư Huệ Trung, mà chính là nói đến cái không tên tuổi, không hình tướng. Chỗ đó cho dù mắt Phật cũng không nhìn thấy. Ngài khen: Rồng sanh rồng con, phượng sanh phượng con. Được khen vậy là thị giả hay quá rồi, thế nhưng khi Quốc sư ngủ dậy nghe thuật lại, Quốc sư liền đánh thị giả hai mươi gậy đuổi ra. Nghe việc ấy, ngài nói: Không lầm là Nam Dương quốc sư.
Kỳ lạ, đã không khen mà còn đánh nữa là sao? Thị giả có tội gì? Theo tinh thần nhà thiền, khi vị thầy đang giáo hóa, dù học trò có lanh lợi mấy cũng không được làm bướng. Nếu có người tới hỏi, vị thầy nói mà họ không hiểu, dù mình biết cũng không được nói thẳng.
Tìm cách giải thích cho người hiểu là ăn đòn. Đó là chỗ đặc biệt trong nhà thiền.
Hôm sau, Sư lại đến yết kiến Quốc sư, thấy Quốc sư, Sư bèn trải tọa cụ. Quốc sư bảo:
– Chẳng dùng, chẳng dùng.
Sư bước lui. Quốc sư bảo:
– Như thế, như thế.
Sư tiến lại trước. Quốc sư bảo:
– Chẳng phải, chẳng phải.
Sư đi quanh Quốc sư một vòng rồi lui ra. Quốc sư bảo:
– Cách Phật đã xa người nhiều lười biếng, ba mươi năm sau tìm kẻ này lại khó được.
Ngài làm như thế đúng hay sai, Quốc sư nói vậy là khen hay chê? Thông thường khi đối đáp với nhau các thiền sư chỉ dùng hành động, qua đó mà biết nhau. Vì vậy khi tới gặp Quốc sư, ngài không nói gì chỉ dùng hành động. Lối khen của Quốc sư cũng ẩn mật khéo léo, chứ không như chúng ta khen ngợi khiến người thành ngã mạn.
Sư đến thăm cư sĩ Bàng Uẩn, thấy con gái Bàng Uẩn là Linh Chiếu đang rửa rau, Sự hỏi:
– Cư sĩ có nhà chăng?
Linh Chiếu buông rổ rau xuống, đứng khoanh tay. Sư lại hỏi:
– Cư sĩ có nhà chăng?
Linh Chiếu bưng rổ rau lên đi thẳng. Sư bèn trở về. Chốc lát sau Bàng Uẩn về, Linh Chiếu đem việc rồi thuật lại. Bàng Uẩn hỏi:
– Đơn Hà ở đâu?
Linh Chiếu thưa:
– Đã về.
Bàng Uẩn bảo:
– Con lấy đất đỏ nặn trâu.
Lại một hôm Sư đến thăm Bàng Uẩn. Vừa đến cửa gặp nhau, Sư hỏi:
– Cư sĩ có nhà chăng?
Bàng Uẩn đáp:
– Đói chẳng chọn thức ăn.
Sư lại hỏi:
– Ông Bàng có nhà chăng?
Bàng Uẩn đáp:
– Trời xanh! Trời xanh
Nói xong Bàng Uẩn vào nhà. Sư nói:
– Trời xanh! Trời xanh
Nói xong, Sư trở về.
Hôm sau, Sư lại đến Bàng Uẩn. Sư bảo:
– Hôm qua thấy nhau đâu giống ngày nay.
Bàng Uẩn đáp:
– Đúng pháp nhắc lại việc hôm qua để làm con mắt quý.
Chỉ như con mắt quý lại xem đến Bàng Công chăng?
– Tôi ở trong con mắt của Thầy.
– Con mắt tôi chật hẹp chỗ nào an thân?
– Là con mắt gì chật, là thân nào an?
Sư bèn thôi. Bàng Uẩn nói:
– Hãy nói thêm một câu cho trọn lời này. Sư vẫn không nói. Bàng Uẩn lại nói:
– Tựu trung một câu cũng không người nói được.
Sư đến thăm cư sĩ Bàng Uẩn, thấy con gái Bàng Uẩn là Linh Chiếu đang rửa rau, Sư hỏi:
– Cư sĩ có nhà chăng?
Linh Chiếu buông rổ rau xuống, đứng khoanh tay. Sư lại hỏi:
– Cư sĩ có nhà chăng?
Linh Chiếu bưng rổ rau lên đi thẳng. Sư bèn trở về. Chốc lát sau Bàng Uẩn về, Linh Chiếu đem việc rồi thuật lại. Bàng Uẩn hỏi:
– Đơn Hà ở đâu?
Linh Chiếu thưa:
– Đã về.
Thiền Sư Thiên Nhiên ở Đơn Hà
Bàng Uẩn bảo:
– Con lấy đất đỏ nặn trâu.
Gia đình Bàng Uẩn có bốn người, về già ông cất một cái am trên núi, cô con gái là Linh Chiếu đan sáo bán nuôi cha, người con trai thì ở đất bằng cày ruộng nuôi mẹ. Linh Chiếu là một cô gái lanh lợi, khi thiền sư Đơn Hà đến thăm, thấy cô đang rửa rau ngài hỏi: Cư sĩ có nhà chăng? Cô buông rổ rau xuống đứng khoanh tay. Ngài hỏi lại, cô bưng rổ rau lên đi thẳng. Thấy vậy liền biết Cư sĩ không có ở nhà, nên ngài trở về. Bàng Uẩn về cô Linh Chiếu thuật lại, ông quở: Con lấy đất đỏ nặn trâu. Tức là, chỉ khéo làm trò đùa của con nít mà thôi.
Lại một hôm Sư đến thăm Bàng Uẩn. Vừa đến cửa gặp nhau, Sự hỏi:
Cư sĩ có nhà chăng?
Bàng Uẩn đáp:
– Đói chẳng chọn thức ăn.
Sư lại hỏi:
– Ông Bàng có nhà chăng? Bàng Uẩn đáp:
– Trời xanh! Trời xanh!
Nói xong Bàng Uẩn vào nhà. Sư nói:
– Trời xanh! Trời xanh!
Nói xong, Sư trở về.
Một hôm ngài lại đến thăm Bàng Uẩn, vừa đến cửa gặp nhau ngài hỏi: Cư sĩ có nhà chăng? Sao lạ vậy, đã gặp rồi mà còn hỏi? Bàng Uẩn đáp: Đói chẳng chọn thức ăn. Câu nói này có ý gì? Trong nhà thiền, một khi nhận ra được rồi thì biết mình luôn luôn có mặt, không bao giờ vắng thiếu; hay nói cách khác là ông chủ không vắng nhà. Như lúc đói thì món gì ăn cũng được, không có tâm phân biệt lựa chọn món này ngon món kia dở. Nghe trả lời như vậy, ngài muốn xác nhận xem Cư sĩ có hằng sống với ông chủ không, nên hỏi lại: Ông Bàng có nhà chăng? Bàng Uẩn nói: Trời xanh, trời xanh! Gặp nhau đối đáp bao nhiêu đó quá đủ rồi, không còn gì để nói thêm nữa, ngài ra về.
Hôm sau, Sư lại đến Bàng Uẩn. Sư bảo:
– Hôm qua thấy nhau đâu giống ngày nay. Bàng Uẩn đáp:
– Đúng pháp nhắc lại việc hôm qua để làm con mắt quý.
– Chỉ như con mắt quý lại xem đến Bàng Công chăng?
– Tôi ở trong con mắt của Thầy.
– Con mắt tôi chật hẹp chỗ nào an thân?
– Là con mắt gì chật, là thân nào an?
Sư bèn thôi. Bàng Uẩn nói:
– Hãy nói thêm một câu cho trọn lời này.
Sư vẫn không nói. Bàng Uẩn lại nói:
– Tựu trung một câu cũng không người nói được.
Con mắt quý là con mắt gì? Tại sao Bàng Uẩn nói, Tôi ở trong con mắt của Thầy? Nếu ai nhận ra được nơi mỗi người đều có cái thấy trùm khắp thì mới hiểu chỗ này. Ngài theo nghĩa thường gạn lại: Con mắt tôi chật hẹp chỗ nào cho ông an thân? Bàng Uẩn đáp: Là con mắt gì chật, là thân nào an? Vậy là không phải thân, cũng không phải con mắt thịt này rồi. Ngài bèn im lặng, Bàng Uẩn bảo: Hãy nói thêm một câu cho trọn lời này. Ngài vẫn im lặng. Bàng Uẩn nói: Tựu trung một câu cũng không người nói được. Thấy đến chỗ tột lời rồi còn gì để nói nữa. Đến đây không thể dùng lời để nói, càng cố gắng nói thì càng cách xa, nên chỉ im lặng mà thôi.
Đời Đường niên hiệu Nguyên Hòa thứ ba (808), một hôm Sư nằm ngang trên cầu Thiên Tân. Gặp lưu thủ là Trịnh công ra đuổi mà Sư không dậy. Trịnh công gạn hỏi duyên do. Sư chậm rãi đáp: “Tăng vô sự.” Trịnh công lấy làm lạ, phát tâm dâng hai bó lụa và hai chiếc áo. Từ đây mỗi ngày Trịnh công thường dâng cúng gạo bún. Dân chúng ở kinh đô Lạc Dương đồng quy kính Sư.
Cầu Thiên Tân là một cây cầu quan trọng trong thành phố Lạc Dương. Một hôm ngài nằm ngang trên cầu mà ngủ. Gặp lưu thú là Trịnh công, như cảnh sát bây giờ, đến đuổi ngài cũng không chịu dậy. Trịnh công hỏi lai do, ngài đáp: Tăng vô sự. Bởi làm tăng vô sự nên không có gì để sợ. Thấy tư cách của ngài như vậy, Trịnh công nể phục phát tâm cúng dường. Từ đó dân chúng cũng cùng nhau quy kính ngài.
Đến niên hiệu Nguyên Hòa thứ mười lăm (820) vào mùa xuân, Sư bảo đồ đệ:
– Ta nhớ suối rừng chỗ gửi thân ngày già.
Môn đệ sai Tề Tĩnh Phương đến núi Đơn Hà ở Nam Dương cất am cúng dường. Sư về núi Đơn Hà khoảng ba năm, những người học đạo tìm đến tham học số thường đến ba trăm. Chúng xây cất thành viện lớn.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Tất cả các ngươi đều phải bảo hộ một vật linh, chẳng phải các ngươi tạo tác danh mạo, lại nói gì là tiến cùng chẳng tiến. Ta ngày xưa yết kiến hòa thượng Thạch Đầu cũng chỉ dạy cần phải tự bảo hộ. Việc này không phải tự các ngươi nói bàn mà được. Tất cả mỗi người các ngươi đều tự có một chỗ ngồi, lại nghi cái gì? Thiền đâu phải là vật để các ngươi hiểu, đâu có Phật khá thành. Một chữ Phật hằng không thích nghe. Các ngươi tự xem, thiện xảo phương tiện từ bi hỷ xả chẳng phải từ ngoài được, chẳng dính một tấc vuông. Thiện xảo là Văn-thù, phương tiện là Phổ Hiền. Các ngươi lại nghĩ tìm đuổi vật gì? Chẳng cần hằng cầu, chẳng rơi vào không. Học giả thời nay lăng xăng lộn xộn cho là tham thiền hỏi đạo. Ta ở đây không đạo có thể tu, không pháp có thể chứng, miếng ăn thức uống mỗi cái tự có phần, đâu cần phải lo nghĩ. Mỗi nơi mỗi chỗ đều có cái như thế. Nếu biết Thích-ca tức là ông già phàm phu, các ngươi phải tự xem xét lấy.
Chớ để một người mù dẫn đám mù kéo nhau rơi vào hầm lửa. Đêm tối mập mờ, làm sao được! Vô sự, trân trọng!
Đến niên hiệu Nguyên Hòa thứ mười lăm (820) vào mùa xuân, Sư bảo đồ đệ:
Ta nhớ suối rừng chỗ gửi thân ngày già.
Môn đệ sai Tề Tĩnh Phương đến núi Đơn Hà ở Nam Dương cất am cúng dường. Sư về núi Đơn Hà khoảng ba năm, những người học đạo tìm đến tham học số thường đến ba trăm. Chúng xây cất thành viện lớn.
Trước giờ ngài đi lang thang, đến lúc sắp tịch muốn trở về núi. Vì vậy môn đệ mới sai Tề Tĩnh Phương đến núi Đơn Hà ở Nam Dương cất am cúng dường ngài. Người đương thời gọi ngài là thiền sư Đơn Hà Thiên Nhiên. Đơn Hà là tên núi, Thiên Nhiên là tên do Mã Tổ ban cho. Sau đó đồ chúng kéo nhau đến tham học ngày càng đông, lúc đầu từ một am nhỏ lâu dần trở thành một thiền viện lớn.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Tất cả các ngươi đều phải bảo hộ một vật linh, chẳng phải các ngươi tạo tác danh mạo, lại nói gì là tiến cùng chẳng tiến. Ta ngày xưa yết kiến hòa thượng Thạch Đầu cũng chỉ dạy cần phải tự bảo hộ. Việc này không phải tự các ngươi nói bàn mà được. Tất cả mỗi người các ngươi đều tự có một chỗ ngồi, lại nghi cái gì?
Ở đây ngài gọi là vật linh, còn trong luận của tổ Bồ-đề-đạt-ma thì gọi là “linh giác”. Cái đó không có hình tướng danh mạo, lại nói gì là tiến hay chẳng tiến. Khi xưa ngài đến hòa thượng Thạch Đầu, cũng được chỉ dạy cần phải tự bảo hộ, vì đó không phải là việc có thể đem ra luận bàn. Tất cả mỗi người các ngươi đều tự có một chỗ ngồi, lại nghi cái gì? Chỗ này trong nhà thiền thường gọi là “nhàn điền địa” tức một khoảnh đất an nhàn. Nói nhàn điền địa, linh giác hay vật linh… cũng đều nhằm chỉ cho cái không tướng mạo sẵn có nơi mỗi người.
Thiền đâu phải là vật để các ngươi hiểu, đâu có Phật khá thành. Một chữ Phật hằng không thích nghe. Các ngươi tự xem, thiện xảo phương tiện từ bi hỷ xả chẳng phải từ ngoài được, chẳng dính một tấc vuông. Thiện xảo là Văn-thù, phương tiện là Phổ Hiền. Các ngươi lại nghĩ tìm đuổi vật gì? Chẳng cần hằng cầu, chẳng rơi vào không.
Thiền không phải vật có hình thức thì đâu thể hiểu được, vì thiền tức là Phật, Phật tức là đạo, vốn đã sẵn có còn thành cái gì! Nên nói, một chữ Phật hằng không thích nghe. Bởi chữ Phật cũng chỉ là nghe qua danh tự bên ngoài, sống với cái thường hằng ngay nơi chúng ta, đó mới là Phật thật.
Thiện xảo là Văn-thù, phương tiện là Phổ Hiền. Văn-thù là trí tuệ khéo léo, Phổ Hiền là phương tiện. Như vậy Văn-thù, Phổ Hiền chính là chỉ cho trí tuệ và phương tiện khéo léo của mỗi người, chứ không phải Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền ở bên ngoài. Đã không ở bên ngoài mà còn chạy tìm cầu vật gì? Nên nói: Chẳng cần cầu cũng chớ để rơi vào không.
Học giả thời nay lăng xăng lộn xộn cho là tham thiền hỏi đạo. Ta ở đây không đạo có thể tu, không pháp có thể chứng, miếng ăn thức uống mỗi cái tự có phần, đâu cần phải lo nghĩ. Mỗi nơi mỗi chỗ đều có cái như thế.
Đối với ngài không thấy có đạo có thể tu, có pháp có thể chứng, khi ăn uống… mỗi mỗi đều an nhàn thanh tịnh, không cần lo nghĩ. Chúng ta bởi tu chưa xong nên thấy đạo để tu, thấy pháp để chứng, vì vậy ngày ngày đều không yên. Phải biết không có một pháp thật bên ngoài, chỉ hằng sống với tánh linh giác của mình mà thôi.
Nếu biết Thích-ca tức là ông già phàm phu, các ngươi phải tự xem xét lấy. Chớ để một người mù dẫn đám mù kéo nhau rơi vào hầm lửa. Đêm tối mập mờ, làm sao được! Vô sự, trân trọng!
Đức Thích-ca là Phật, là giáo chủ cõi Ta-bà mà dám nói là phàm phu. Tại sao ngài vô lễ như vậy? Bởi đứng về thân tướng thì thân của Phật không khác thân phàm phu, cũng bị vô thường sanh diệt tan hoại như nhau, cho nên chúng ta đừng lầm thân tướng ấy. Phật là bậc giác ngộ tánh giác và hằng sống trong tánh giác của mình, chúng ta phải nhận ra chỗ phi phàm nơi đức Phật để biết được mình cũng có cái cao siêu ấy. Về thân, chúng ta và người thế gian không khác, đều là thân xác bị tan hoại, nhưng về tâm thì hoàn toàn khác xa nhau. Người thế gian vì cho thân này là thật, nên đuổi theo danh lợi, bị mê lầm trong tất cả cảnh. Còn người tu biết danh lợi là sanh diệt hư giả, biết có cái không sanh không diệt hằng hiện hữu, nên không bị mê lầm.
Nếu chúng ta chỉ thấy giả tướng mà không nhận ra tánh giác của chính mình thì làm sao giác ngộ như Phật. Bởi cứ mong chuyển thành tướng tốt, nên một bề lo chăm chút thân tướng bên ngoài, ít bữa soi gương xem dạo này mình ngồi thiền sắc mạo thế nào, hồng hào hơn không v.v… Nếu thấy da dẻ hồng hào sáng sủa hơn thì mừng, cho rằng tu có chút sở đắc. Thật là đáng thương! Ngồi thiền nhiều tất nhiên tướng mạo chuyển biến tốt đẹp, nhưng đó không phải là việc đáng kể. Trong kinh Lăng-nghiêm, đoạn nói về ngũ ấm ma, Phật chỉ rõ những cảnh do ma trá hình làm người vui thích. Như có người ăn uống sơ sài mà mạnh khỏe hồng hào… rồi lầm tưởng là mình có sở đắc nên say mê trong ấy.
Hiện nay có vài vị dạy tu thiền giống như yoga, gọi là mật pháp trị bệnh, người theo cũng rất đông. Mục đích tu của họ là mong cho hết bệnh, mong thấy được những tướng lạ, hay điều gì đó cao siêu huyền bí. Nhưng đạo Phật không phải như vậy. Chính yếu của người tu Phật là đạt đến giác ngộ, nhận ra bản tâm sáng suốt của mình. Chúng ta không nên nặng vào hình tướng, đừng mắc kẹt bên ngoài; quan trọng là buông xả những tập khí, nhận được Phật trong tâm của mình, đó mới là chân thật.
Có thân là có bệnh, thân sanh diệt đẹp xấu không quan trọng, mà nhận ra tâm tánh của mình mới thật sự quan trọng. Bởi phần nhiều hay chú tâm vào hình tướng bên ngoài, nên ma mới được cơ hội dựa dẫm lừa lọc. Vì vậy thiền sư Đơn Hà muốn chỉ cho biết, chính thân Phật cũng là thân phàm phu, vẫn còn nằm trong thân tướng sanh diệt.
Chớ để một người mù dẫn đám mù kéo nhau rơi vào hầm lửa. Không nên nhận lầm thân mà phải thấy được tánh giác. Nếu không nhận ra tánh giác thì chẳng khác nào người mù dẫn một đám mù cùng rơi xuống hầm lửa mà thôi.
Đêm tối mập mờ, làm sao được! Nếu không sáng mắt, không thấy được bản tâm thì trên đường tu mù mù mịt mịt. Vì si mê nên tà chánh không phân rõ, đêm tối hai đường màu sắc mập mờ làm sao biết nẻo đi. Thôi, không có gì để nói nữa. Vô sự, trân trọng!
Có vị tăng đến tham học, vừa tới chân núi gặp Sư. Tăng hỏi:
– Núi Đơn Hà phải đi đường nào?
Sư chỉ núi bảo:
– Chỗ xanh sâm sẩm.
Tăng thưa:
– Chớ chỉ cái này là phải sao?
Sư bảo:
– Thật sư tử con, một phen khêu động liền nhảy.
Hỏi núi Đơn Hà, ngài chỉ chỗ xanh sâm sẩm là ngài đùa cợt hay chỉ thật? Khi muốn nói đến pháp thân, các thiền sư thường diễn tả qua hình thức trời xanh. Nhưng ông tăng này cũng không vừa, nghe vậy liền nói: Chớ chỉ cái này là phải, cái đó có hình tướng sao? Sư bảo: Thật là sư tử con vừa động đến liền nhảy. À! Ta không biết chú là sư tử con.
Sư hỏi vị tăng:
– Nghỉ ở đâu? Tăng thưa:
– Nghỉ dưới núi.
– Ăn cơm ở đâu?
– Ăn cơm dưới núi.
– Người đem cơm cho Xà-lê ăn có đủ mắt không?
Tăng không đáp được.
Niên hiệu Trường Khánh năm thứ tư (824 TL) ngày hai mươi ba tháng sáu, Sư gọi đệ tử bảo:
– Lấy nước nóng tắm, ta sắp đi đây.
Tắm xong, Sư đội mũ mang giày cầm trượng, duỗi một chân chưa đến đất liền tịch, thọ 86 tuổi. Vua sắc phong là Trí Thông thiền sư, tháp hiệu Diệu Giác.
Sư có làm hai bài Ngoạn Châu Ngâm, hiện còn lưu hành.
Thiền sư ra đi dễ dàng quá, không thở từng cơn mệt nhọc như mình. Cho nên chúng ta phải ráng tu như các ngài vậy.
Sư họ Trương, quê ở Đông Dương, Vụ Châu. Lúc bé Sư dung nghi khác thường, không học mà biết. Năm mười bốn tuổi, Sư xin xuất gia cha mẹ không cho, Sư thệ bớt ăn bớt uống, mỗi ngày chỉ ăn một bữa, dần dần thân thể tiều tụy. Cha mẹ bất đắc dĩ hứa cho Sư xuất gia.
Sư xuất gia với Đại Đức ở Minh Châu. Năm hai mươi lăm tuổi, Sư đến chùa Trúc Lâm ở Hàng Châu thọ giới Cụ túc. Sư tinh tấn tu hành giới luật trang nghiêm. Ban đêm Sư thường ra gò mả ngồi thiền, không kể gió mưa, chẳng chút sợ sệt.
( Đạo Ngộ có hai vị đồng thời đồng xứ, một vị ở chùa Thiên Hoàng đệ tử Thạch Đầu, một vị ở chùa Thiên Vương đệ tử Mã Tổ. Truyền Đăng Lục chép một vị là sai.
Sau, Sư đến yết kiến thiền sư Quốc Nhất ở Kính Sơn, nhận được tâm pháp, ở lại đây hầu năm năm.
Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779) Sư đến Chung Lăng yết kiến Mã Tổ, chỉ được ấn định lại những chỗ hiểu trước, không có pháp gì khác. Sư dừng lại đây hai năm.
Sư lại đến yết kiến Thạch Đầu. Đến Thạch Đầu, Sự hỏi:
– Lìa định tuệ lấy pháp gì dạy người? Thạch Đầu đáp:
– Ta ở đây không có nô tỳ, lìa cái gì.
– Thế nào rõ được?
– Ngươi chụp được hư không chăng?
– Thế ấy tức chẳng từ ngày nay đi.
– Chưa biết bao giờ ngươi từ bên kia đến?
– Đạo Ngộ chẳng phải người bên kia.
– Ta đã biết trước chỗ ngươi đến.
Sao Thầy lấy tang vật vu khống người?
– Thân ngươi hiện tại.
– Tuy nhiên như thế, cứu cánh làm sao chỉ dạy người sau?
– Ngươi nói ai là người sau?
Sư nhân đây đốn ngộ, đối với lời dạy của hai vị thầy trước tâm còn sở đắc, nơi đây sạch hết dấu vết.
Khi đến yết kiến Thạch Đầu, ngài hỏi: Lìa định tuệ lấy pháp gì dạy người? Thạch Đầu đáp: Ta ở đây không có nô tỳ, lìa cái gì. Nô tỳ là tôi tớ, không có tôi tớ thì lìa cái gì. Nói định tuệ cũng chỉ danh từ giả tạm bên ngoài, nên ngài gọi là nô tỳ. Chủ nhân thật vượt thoát ra ngoài những tên gọi ấy, đừng kẹt vào ngôn ngữ danh suông không thật.
Nghe vậy ngài thắc mắc: Thế nào rõ được? Vậy làm sao rõ được cái ấy. Thạch Đầu hỏi lại: Ngươi chụp được hư không chăng? Cái đó không hình tướng giống như hư không, muốn rõ được nó chẳng khác nào muốn chụp hư không. Chỗ này mỗi người nên tự ngộ, tự nhận lấy.
Ngài nói: Thế ấy tức chẳng từ ngày nay đi. Nếu vậy tức là không phải từ ngày nay đi rồi. Thạch Đầu nói: Chưa biết bao giờ ngươi từ bên kia đến. Nói ngày nay đi hay bên kia đến là vẫn còn ở hai bên. Bên này là bờ mê, bên kia là bến giác. Còn bên này bên kia là chưa đến cứu cánh.
Ngài nói: Đạo Ngộ chẳng phải người bên kia. Thạch Đầu bảo: Ta đã biết trước chỗ ngươi đến. Ngươi không phải người bên kia, vậy ta đã biết chỗ ngươi đến rồi. Sao Thầy lấy tang vật vu khống người? Con chưa đến mà tại sao Thầy biết trước chỗ đến, vậy là Thầy lấy tang vật vu khống cho con. Thạch Đầu nói: Thân người hiện tại. Ngay thân ngươi hiện giờ mà biết thôi.
Ngài thưa: Tuy nhiên như thế, cứu cánh làm sao chỉ dạy người sau? Tuy biết là cái hiện đang sống đây, nhưng làm sao để chỉ dạy lại cho người sau nhận được. Thạch Đầu gặng lại: Ngươi nói ai là người sau? Một câu rất mạnh, khiến ngài đốn ngộ.
Tại sao? Bởi nghĩ tới người sau, tức có mình hiện tại, vậy là bản ngã còn ngầm. Khi bị Thạch Đầu hỏi lại, lúc đó ngài mới bừng tỉnh, ngang đây kiến chấp chóng sạch, gọi là đốn ngộ. Như chúng ta bây giờ, cứ cắm đầu lo cho mình, rồi lo cho người sau đủ chuyện, cho nên ngã càng ngày càng to như núi, tu hoài cũng không đốn ngộ.
Về sau, Sư đến núi Sài Tử ở Đương Dương, Kinh Châu, học chúng theo học rất đông. Dân chúng trong đô thành nghe danh lũ lượt kéo đến tham vấn. Trong đô thành có chùa Thiên Hoàng là nơi danh lam bị hỏa hoạn hư sập, thầy trụ trì là Linh Giám tìm cách xây cất lại. Linh Giám ước rằng: “Nếu được thiền sư Đạo Ngộ về làm Hóa chủ ở đây là phước lớn của ta.” Lúc nửa đêm, Linh Giám đến cầu thỉnh Sư, Sư hoan hỷ nhận chịu. Từ đây về sau, Sư dừng trụ ở chùa Thiên Hoàng.
Có quan Hữu bộc xạ Bùi công đến cúi đầu hỏi pháp, Sư trọn không đưa đón. Bùi công càng kính trọng. Đối với khách, Sư không phân biệt sang hèn đều ngồi chào họ.
Ngài đối với người sang kẻ hèn bình đẳng, không quý trọng mà cũng không khinh thường, đều ngồi chào mà không đứng dậy. Tướng quốc đời Đường là Bùi công tới thăm ngài không đón, lúc đi về ngài cũng chẳng đưa, khiến cho Bùi công càng thêm kính trọng. Đó là hạnh đặc biệt của ngài.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là nói huyền diệu?
Sư đáp:
– Chớ bảo ta hiểu Phật pháp.
– Nỡ để học nhân đeo nghi mãi sao?
Sao chẳng hỏi lão tăng?
– Hỏi rồi.
– Đi! Không phải chỗ ngươi ngụ.
Tăng hỏi: Thế nào là nói huyền diệu? Ngài đáp: Chớ bảo ta hiểu Phật pháp. Câu nói này có lời gì huyền diệu không? Không, vậy huyền diệu ở chỗ nào? Huyền diệu là chỗ không thể hiểu, khởi hiểu tức không phải huyền diệu rồi!
Ngài đáp như thế là đã chỉ chỗ huyền diệu mà vị tăng này không vào cửa nổi, nên hỏi: Nỡ để học nhân đeo nghi mãi sao? Ngài vặn lại: Sao chẳng hỏi lão tăng? Đã nói cho rồi mà không hiểu, thôi hỏi lại ta đi. Tăng thưa: Hỏi rồi. Ngài bảo: Đi! không phải chỗ ngươi ngụ. Biết vị tăng này không phải thứ thiệt, nên ngài quở đuổi ra.
Tháng tư năm Đinh Hợi niên hiệu Nguyên Hòa (807) đời Đường, Sư có chút bệnh bảo đệ tử báo trước ngày tịch. Đến ngày cuối tháng, chúng họp nhau đến thăm bệnh Sư. Bỗng nhiên, Sư gọi:
– Điển tọa!
Điển tọa lại gần, Sư bảo:
– Hội chăng?
Điển tọa thưa:
– Chẳng hội.
Sư cầm chiếc gối ném xuống đất, rồi từ biệt chúng thị tịch. Sư thọ 60 tuổi, 35 tuổi hạ.
Gọi mà không ai ngộ nên ngài quăng chiếc gối rồi từ giã mọi người ra đi. Chúng ta cũng phải cố gắng tu để chừng ra đi được mạnh mẽ như vậy.
Không biết quê quán và tên tộc của Sư. Chỉ biết buổi đầu Sư đến tham vấn Thạch Đầu, Thạch Đầu hỏi:
– Cái gì là tâm ngươi?
Sư thưa:
– Nói năng là tâm.
Bị Thạch Đầu nạt đuổi ra.
Hơn một tuần, Sư lại đến hỏi:
– Trước đó đã chẳng phải, ngoại trừ cái này, gì là tâm?
Thạch Đầu bảo:
– Trừ bỏ nhướn mày chớp mắt, đem tâm lại!
– Không tâm có thể đem lại.
– Nguyên lai có tâm sao nói không tâm? Không
tâm thì đồng phỉ báng.
Ngay câu nói ấy, Sư đại ngộ.
Tổ Bồ-đề-đạt-ma nói không có gì ngoài tâm, ở đây ngài cũng trả lời như thế, tại sao bị Thạch Đầu nạt đuổi ra? Chỗ này chúng ta phải khéo nhận.
Nếu nhận nói năng hành động theo những suy tưởng bên ngoài, cho đó là tâm thì đã lầm. Vì vậy khi mới đến, Thạch Đầu hỏi: Cái gì là tâm? Ngài đáp: Nói năng là tâm. Liền bị Thạch Đầu đuổi ra.
Tuần sau, ngài trở lại hỏi: Trước đó đã chẳng phải, ngoại trừ cái này, gì là tâm? Thạch Đầu bảo: Trừ ngoài nhướn mày chớp mắt đem tâm lại. Ngài mờ mịt đáp: Không tâm có thể đem lại. Thạch Đầu bảo: Nguyên lai có tâm sao nói không tâm? Không tâm thì đồng phỉ báng. Nghe câu ấy ngài bừng ngộ. Như vậy, ngộ đó là ngộ tâm nào? Cũng ngay nhướn mày chớp mắt nói năng hành động mà thấy được lý thật ở bên trong.
Chúng ta thường lầm theo những suy nghĩ vọng tưởng điên cuồng, mà quên mất tâm chân thật vốn sẵn có. Nếu khéo nhận cái biết ngay nơi nhướn mày chớp mắt thì liền rõ được tâm của chính mình. Cũng đồng nói năng hành động mà người biết thì thấy tâm, người không biết lại lập ý lầm. Đó là chỗ đặc biệt. Kinh nói, như ngỗng chúa uống sữa chừa nước, phải khéo mà nhận.
Một hôm Sư đứng hầu, Thạch Đầu hỏi:
– Ngươi là tăng tham thiền hay là tăng châu huyện?
Sư thưa:
– Tăng tham thiền.
Sao là thiền?
– Nhướn mày chớp mắt.
– Trừ ngoài nhướn mày chớp mắt, đem bản lai diện mục của ngươi ra trình xem?
– Trừ ngoài nhướn mày chớp mắt, thỉnh Hòa thượng xem con.
– Ta trừ xong.
Con trình Hòa thượng rồi.
– Ngươi đã đem trình, tâm ta thế nào?
– Chẳng khác Hòa thượng.
– Không quan hệ việc ngươi.
– Vốn không vật.
– Ngươi cũng không vật.
– Đã không vật tức vật thật.
– Vật thật không thể được. Tâm ngươi thấy lượng ý chỉ như vậy, phải khéo hộ trì.
Một hôm Sư đứng hầu, Thạch Đầu hỏi:
– Ngươi là tăng tham thiền hay là tăng châu huyện?
Sư thưa:
– Tăng tham thiền.
Sao là thiền?
– Nhướn mày chớp mắt.
Thạch Đầu hỏi: Sao là thiền? Ngài đáp: Nhướn mày chớp mắt. Nếu trước ngài không ngộ được ngay nhướn mày chớp mắt có cái chân thật hiện tiền thì bây giờ đâu thể nói được câu này. Tuy nhiên Thạch Đầu vẫn muốn thử lại, nên đặt cái bẫy để gạn xem chỗ thấy của ngài.
– Trừ ngoài nhướn mày chớp mắt, đem bản lai diện mục của ngươi ra trình xem?
– Trừ ngoài nhướn mày chớp mắt, thỉnh Hòa thượng xem con.
– Ta trừ xong.
– Con trình Hòa thượng rồi.
Đến đây thầy trò khai chiến, trò không thua gì thầy. Thấy trò qua bẫy, Thạch Đầu vẫn chưa chịu thôi.
– Ngươi đã đem trình, tâm ta thế nào?
Chẳng khác Hòa thượng.
– Không quan hệ việc ngươi.
– Vốn không vật.
– Ngươi cũng không vật.
– Đã không vật tức vật thật.
– Vật thật không thể được. Tâm ngươi thấy lượng ý chỉ như vậy, phải khéo hộ trì.
Qua đối đáp Thạch Đầu biết được ngài đã có chỗ vào, nên ngay đây liền ấn chứng.
Sau, Sư từ biệt Thạch Đầu đến Linh Sơn, Triều Châu ở ẩn. Học chúng bốn phương quy tụ về khá đông.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Phàm người học đạo phải biết bản tâm nhà mình, đem tâm chỉ nhau mới có thể thấy đạo. Thấy nhóm người hiện thời phần nhiều chỉ nhận nhướn mày chớp mắt, hoặc nói hoặc nín, ngay đó ấn khả cho là tâm yếu, đây thật chưa xong. Nay ta vì các ngươi nói trắng ra, mỗi người phải lắng nghe nhận lấy: Chỉ trừ bỏ tất cả vọng động tưởng niệm xét lường, tức chân tâm của ngươi. Tâm này cùng trần cảnh và khi kìm giữ lặng lẽ hoàn toàn không dính dấp. Tức tâm là Phật không đợi tu sửa. Vì cớ sao? Vì hợp cơ tùy chiếu, lặng lẽ tự dùng, tột chỗ dùng kia trọn không thể được. Bảo là diệu dụng chính là bản tâm, cần yếu hộ trì chớ nên dễ ngươi.
Sau khi từ giã Thạch Đầu, ngài về ẩn ở Linh Sơn tại Triều Châu. Người học nghe tiếng tìm đến thưa hỏi đạo lý rất đông. Vì vậy ngài phải thăng tòa giảng dạy. Lời dạy của ngài rõ ràng rồi, nên ở đây chúng ta chỉ đọc qua thôi, không phải giảng giải thêm.
Có vị tăng hỏi:
– Người trong đó gặp nhau thì thế nào? Sư đáp:
– Sớm đã không ở trong đó rồi.
– Người trong đó thế nào?
– Chẳng hỏi câu ấy.
Bởi vì còn hỏi tức là chưa phải người thấy được lẽ thật.
Hàn Văn Công hỏi Sư:
– Hòa thượng tuổi được bao nhiêu?
Sư cầm xâu chuỗi giơ lên bảo:
– Hội chăng?
Văn Công thưa:
– Chẳng hội.
Sư bảo:
– Ngày đêm trăm lẻ tám.
Văn Công không hiểu trở về.
Hôm sau Văn Công lại đến, vừa tới cửa gặp Thủ tọa, Văn Công thuật câu nói hôm qua của Sư, hỏi ý kiến thế nào? Thủ tọa gõ răng ba cái. Văn Công vào trong gặp Sư, hỏi lại ý kiến hôm qua. Sư cũng gõ răng ba cái.
Văn Công thưa:
– Nguyên lai Phật pháp không hai thứ.
Sự hỏi:
– Là đạo lý gì?
Văn Công thưa:
– Vừa đến hỏi Thủ tọa cũng như thế.
Sư gọi Thủ tọa hỏi:
– Phải ngươi đáp như thế chăng?
Thủ tọa thưa:
– Phải.
Sư đánh đuổi ra.
Lại một hôm Văn Công đến bạch Sư:
– Đệ tử ở quận châu nhiều việc, xin Thầy cho một câu tóm tắt hết Phật pháp.
Sư lặng thinh. Văn Công mờ mịt.
Lúc ấy Tam Bình làm thị giả đứng hầu, bèn gõ giường thiền ba cái. Sự hỏi:
– Làm gì?
Tam Bình thưa:
– Trước lấy định động, sau lấy trí nhổ.
Văn Công thưa:
– Môn phong Hòa thượng cao vót, đệ tử từ bên thị giả được chỗ vào.
Hàn Văn Công hỏi Sư:
– Hòa thượng tuổi được bao nhiêu?
Sư cầm xâu chuỗi giơ lên bảo:
– Hội chăng?
Văn Công thưa:
– Chẳng hội.
Sư bảo:
– Ngày đêm trăm lẻ tám.
Văn Công không hiểu trở về.
Thiền sư không lệ thuộc vào quá khứ hiện tại vị lai, hỏi tuổi tác là điều tối kỵ. Vì vậy khi được hỏi bao nhiêu tuổi, ngài bèn đưa xâu chuỗi lên hỏi: Hội chăng? Đưa xâu chuỗi lên ý muốn nói điều gì? Phải ngài một trăm lẻ tám tuổi không? Hàn Văn Công mờ mịt không hiểu đành trở về.
Hôm sau Văn Công lại đến, vừa tới cửa gặp Thủ tọa, Văn Công thuật câu nói hôm qua của Sư, hỏi ý kiến thế nào? Thủ tọa gõ răng ba cái. Văn Công vào trong gặp Sư, hỏi lại ý kiến hôm qua. Sư cũng gõ răng ba cái.
Văn Công thưa:
– Nguyên lai Phật pháp không hai thứ.
Sự hỏi:
– Là đạo lý gì?
Văn Công thưa:
– Vừa đến hỏi Thủ tọa cũng như thế.
Sư gọi Thủ tọa hỏi:
– Phải ngươi đáp như thế chăng?
Thủ tọa thưa:
– Phải.
Sư đánh đuổi ra.
Hôm sau Văn Công trở lại, gặp Thủ tọa ông bèn thuật lại việc hôm qua và hỏi xem ý chỉ thế nào, Thủ tọa nghe xong gõ răng ba cái. Văn Công vào trong gặp ngài, ngài cũng gõ răng ba cái. Thầy trò làm giống hệt nhau không khác. Văn Công nói: Nguyên lai Phật pháp không hai thứ. Ngài nghe nói lấy làm lạ, ông nói không hai thứ là đạo lý gì? Văn Công thưa lại sự việc, ngài gọi Thủ tọa đến hỏi: Phải ngươi đáp như thế chăng? Thủ tọa thưa: Phải. Ngài liền đánh đuổi ra.
Tại sao đáp giống thầy mà bị thầy đánh đuổi ra, vậy đưa xâu chuỗi lên là ý chỉ gì? Lần chuỗi để định tâm, tâm yên định không nghĩ về quá khứ vị lai, thế thì tuổi tác bao nhiêu cũng đâu có nghĩa lý gì. Ngài đưa xâu chuỗi lên để chỉ ngay cái hiện tại đó, đừng tìm kiếm đâu xa, ngày đêm lúc nào tâm cũng hằng an định. Cho nên khi được hỏi lại thì Thủ tọa gõ răng ba cái, ngài cũng gõ răng ba cái. Muốn đạt được sự an định phải dùng trí mà vào, còn chạy tìm kiếm suy nghĩ theo bên ngoài tức không thể đến được chỗ ấy.
Lại một hôm Văn Công đến bạch Sư:
– Đệ tử ở quận châu nhiều việc, xin Thầy cho một câu tóm tắt hết Phật pháp.
Sư lặng thinh. Văn Công mờ mịt.
Lúc ấy Tam Bình làm thị giả đứng hầu, bèn gõ giường thiền ba cái. Sự hỏi:
– Làm gì?
Tam Bình thưa:
– Trước lấy định động, sau lấy trí nhổ.
Văn Công thưa:
– Môn phong Hòa thượng cao vót, đệ tử từ bên thị giả được chỗ vào.
Hàn Văn Công xin một câu tóm hết Phật pháp, ngài lặng thinh không nói tiếng nào, ông mờ mịt không hiểu. Lúc đó Tam Bình đang làm thị giả đứng hầu bên cạnh, bèn gõ giường thiền ba cái. Ngài hỏi: Làm gì? Tam Bình nói: Trước lấy định động, sau lấy trí nhổ. Văn Công thưa: Môn phong Hòa thượng cao vót, đệ tử từ bên thị giả được chỗ vào.
Im lặng là định. Muốn hiểu được yếu chỉ Phật pháp thì trước phải dùng định động rồi sau mới dùng trí nhổ. Gõ giường thiền hay gõ răng ba cái đều nhằm chỉ chỗ này.
Có vị tăng hỏi:
– Biển khổ sóng to lấy gì làm thuyền bè?
Sư bảo:
– Lấy cây làm thuyền bè.
– Như thế thì qua được?
Người mù vẫn mù như cũ, người câm vẫn câm như cũ.
Không biết Sư tịch lúc nào và nơi nào.
Đơn giản quá, biển khổ sóng to thì lấy cây làm thuyền bè. Câu đáp của ngài có đạo lý gì không?
Nếu có người đến hỏi, bể khổ mênh mông làm sao qua được? Chúng ta sẽ đáp, phải lấy bát thánh đạo làm bè để nương đó mà qua biển khổ v.v… Nhưng ngài lại nói, lấy cây làm thuyền bè. Hỏi: Làm sao qua được? Ngài đáp: Người mù vẫn mù như cũ, người câm vẫn câm như cũ. Những lối giải đáp của các ngài nếu không phải hàng lanh lợi thì khó mà nhận ra ý chỉ.
Không biết ngài tịch lúc nào và ở đâu.