Nội dung:
Thiền sư Đàm Thạnh là khai tổ tông Tào Động. Nối pháp ngài là Động Sơn Lương Giới, nối pháp Động Sơn là ngài Tào Sơn, lập ra tông Tào Động. Cho nên thiền sư Đàm Thạnh được xem là vị tổ quan trọng trong nhà thiền.
Sư họ Vương, quê ở Kiến Xương, Chung Lăng. Lúc nhỏ, Sư xuất gia tại Thạch Môn. Ban đầu Sư đến tham học với Bá Trượng Hoài Hải ngót hai mươi năm mà chưa ngộ huyền chỉ. Bá Trượng quy tịch, Sư đến tham học với Dược Sơn Duy Nghiễm.
Dược Sơn hỏi:
– Ở đâu đến?
Sư thưa:
Ở Bá Trượng đến.
– Bá Trượng có ngôn cú gì để chỉ dạy đồ chúng?
Thường ngày hay nói “Ta có một câu đầy đủ trăm vị”.
– Mặn là vị mặn, lạt là vị lạt, không mặn không lạt là vị thường, thế nào một câu đầy đủ trăm vị?
Sư không đáp được.
Dược Sơn hỏi một câu làm ngài không thấu nổi. Các thiền sư thường hỏi ở chỗ kia nghe cái gì, thấy cái gì thì lặp lại. Nhưng thật ra là để kiểm nghiệm hành giả.
Hôm khác Dược Sơn hỏi:
– Bá Trượng nói pháp gì?
Sư thưa:
Có khi Thầy thượng đường đại chúng ngồi yên, cầm gậy đồng thời đuổi tan hết, lại gọi: “Đại chúng!” Chúng xoay đầu lại, Thầy bảo: “Ấy là gì?”
Dược Sơn bảo:
– Sao không sớm nói thế đó? Hôm nay nhân ngươi thuật lại, ta được thấy Hải huynh.
Ngay câu nói ấy Sư tỉnh ngộ, lễ bái.
Ngài tỉnh cái gì? Ai thấy được chỗ ngài tỉnh? Thấy được chỗ này thì bí mật càng thêm bí mật, không dám mở miệng.
Dược Sơn hỏi:
– Ngoài chỗ Bá Trượng ngươi còn đến đâu chăng?
Sư thưa:
– Con từng đến Quảng Nam.
– Ta nghe nói ngoài cửa thành Đông ở Quảng Châu có một tảng đá bị Châu chủ dời đi chăng?
– Chẳng những Châu chủ, dù họp tất cả người toàn quốc dời cũng chẳng động.
– Ta nghe ngươi biết làm sư tử múa phải chăng?
– Phải.
– Múa được mấy suất?
– Múa được sáu suất.
– Ta cũng múa được.
– Hòa thượng múa được mấy suất?
– Ta múa được một suất.
– Một tức sáu, sáu tức một.
Dược Sơn hỏi:
– Ngoài chỗ Bá Trượng ngươi còn đến đâu chăng?
Sư thưa:
– Con từng đến Quảng Nam.
– Ta nghe nói ngoài cửa thành Đông ở Quảng Châu có một tảng đá bị Châu chủ dời đi chăng?
– Chẳng những Châu chủ, dù họp tất cả người toàn quốc dời cũng chẳng động.
Tảng đá của thành Đông ở Quảng Châu, hay tảng đá của ngài Vân Nham. Nghe nói tảng đá đó thì ngài biết liền. Người xưa không nói thẳng mà nói bóng nói gió. Chuyện như trên trời dưới đất nhưng để chỉ dạy người tu hành.
– Ta nghe ngươi biết làm sư tử múa phải chăng?
– Phải.
– Múa được mấy suất?
– Múa được sáu suất.
– Ta cũng múa được.
– Hòa thượng múa được mấy suất?
– Ta múa được một suất.
– Một tức sáu, sáu tức một.
Chúng ta làm sư tử múa được chăng? Suất một, suất hai là suất gì? Được mấy suất chân thật? Ở đây dùng hình ảnh sư tử để nói lên chỗ hoạt dụng tự tại ngay nơi sáu căn của người đã làm chủ được rồi. Sống tự tại thì ngay nơi sáu căn mà vào, nên nói một tức sáu, sáu tức một.
Chúng ta đọc kinh Lăng-nghiêm sẽ thấy lục hòa hợp. Người xưa không nói đạo lý, nhưng không rời kinh điển. Chúng ta bây giờ đạo lý tràn trề mà không hợp kinh điển.
Sư đến Quy Sơn Linh Hựu. Quy Sơn hỏi:
– Nghe Trưởng lão ở Dược Sơn làm sư tử múa phải chăng?
– Phải.
– Thường múa hay có khi nghỉ?
– Cần múa thì múa, cần nghỉ thì nghỉ.
– Khi nghỉ sư tử ở chỗ nào?
– Nghỉ, nghỉ.
Cần mua thì múa, cần nghỉ thì nghỉ. Như vậy là tự tại.
Hỏi khi nghỉ sư tử ở chỗ nào? Sư tử đâu có chỗ nơi, nếu nói ở trong hang hay là nói ở chỗ nào đều là bệnh, cho nên đáp: Nghỉ, nghỉ. Người xưa đã thông được chỗ đó, nên những câu nói đùa thật đạo vị.
Sư nấu trà. Đạo Ngô hỏi:
– Nấu trà cho ai?
Sư đáp:
– Có một người cần.
– Sao không dạy y tự nấu?
– Nay có tôi ở đây.
Như vậy để thấy rõ rằng, ông chủ lúc nào cũng có mặt, cần thì nấu. Lối nói chơi tràn đầy đạo lý.
Thạch Sương Khánh Chư đến. Sự hỏi:
– Ở đâu đến?
Thạch Sương thưa:
– Quy Sơn đến.
– Ở trong ấy bao lâu?
– Vừa trải một Đông một Hạ.
– Như thế tức là ở ẩn?
– Tuy ở trong đó mà chẳng biết.
– Người khác cũng chẳng hiểu chẳng biết.
Thạch Sương không đáp được.
Vừa trải một đông một hạ là còn mắc kẹt thời gian. Ngài đẩy tới: Như thế tức là ở ẩn? Thạch Sương liền đảo lại: Tuy ở trong đó mà chẳng biết.
– Người khác cũng chẳng hiểu chẳng biết.
Thạch Sương không đáp được.
Lời nói bậc tác gia nhắm vào bệnh của người để nhổ đinh tháo chốt cho hết điên đảo trần cấu.
Sau, Sư trụ trì núi Vân Nham huyện Du, Đàm Châu. Một hôm Sư bảo chúng:
– Có đứa trẻ nhà kia, hỏi đến không có gì nói chẳng được.
Động Sơn Lương Giới hỏi:
– Trong nhà ấy có bao nhiêu kinh sách?
– Một chữ cũng không.
– Sao biết được nhiều thế?
– Ngày đêm chưa từng ngủ.
– Hỏi một việc lại được chăng?
– Nói được lại chẳng nói.
Hỏi đến không có gì nói chẳng được. Đứa trẻ thông minh quá!
Động Sơn Lương Giới hỏi:
– Trong nhà ấy có bao nhiêu kinh sách?
– Một chữ cũng không.
– Sao biết được nhiều thế?
– Một chữ cũng không, sao biết nhiều vậy?
– Ngày đêm chưa từng ngủ.
Bởi vì ngày đêm chưa từng ngủ nên hỏi gì, nói gì cũng được hết.
– Hỏi một việc lại được chăng?
– Nói được lại chẳng nói.
Tới đó nói được mà không nói, đứa trẻ đó là con nhà ai mà khôn quá vậy? Chúng ta có được đứa trẻ đó không? Nếu có, hãy ráng nuôi nó.
Sư hỏi vị tăng:
– Ở đâu đến?
Tăng thưa:
– Thêm hương rồi đến.
– Thấy Phật chăng?
– Thấy.
– Thấy ở đâu?
– Thấy ở hạ giới.
– Phật xưa! Phật xưa!
Sư hỏi vị tăng: Ở đâu đến?
Tăng thưa: Thêm hương rồi đến.
Thêm hương tức là cúng dường. Cúng dường ở đây giống như ngài Hoài Hải gặp Mã Tổ hỏi “Ngay bây giờ nên làm gì?” Ngài nói “Nên cúng dường”.
– Thấy Phật chăng?
– Thấy.
– Thấy ở đâu?
– Thấy ở hạ giới.
– Phật xưa! Phật xưa!
Nếu thấy Phật ở hạ giới là Phật xưa, không phải Phật bây giờ. Cho nên nói như vậy liền bị ngài quở. Chúng ta công phu gần tới đó, có hơi hé mắt một chút thì câu nói của các ngài, chúng ta cũng hiểu được. Nếu không hé mắt thì mấy câu này coi như đùa chơi.
Đạo Ngô hỏi:
– Đại Bi ngàn tay mắt, mắt nào là mắt chánh?
Sư bảo:
– Như người ban đêm với tay lại sau mò chiếc gối.
– Tôi hội rồi.
– Hội thế nào?
– Khắp thân là tay mắt.
Nói tột cùng lời nói, chỉ nói được tám phần.
– Sư huynh thế nào?
– Toàn thân là tay mắt.
Đạo Ngô hỏi:
– Đại Bi ngàn tay mắt, mắt nào là mắt chánh?
Sư bảo:
– Như người ban đêm với tay lại sau mò chiếc gối.
Đại Bi là đức Quán Thế Âm Đại Bi Thiên Thủ Thiên Nhãn ngàn tay ngàn mắt. Lại hỏi mắt nào là mắt chánh? Ngài đáp: Như người ban đêm với tay lại sau mò cái gối. Lúc đó, biết cái gối chỗ nào, thấy hay không thấy? Tay không có mắt, sao vẫn lấy được?
– Tôi hội rồi.
– Hội thế nào?
– Khắp thân là tay mắt.
Nói hay vô cùng! Nhưng người xưa ít chấp nhận ngôn ngữ nói thật, nên ngài nói tiếp:
– Nói tột cùng lời nói, chỉ nói được tám phần.
– Sư huynh thế nào?
– Toàn thân là tay mắt.
Đây là nghệ thuật của các vị thiền sư. Nói tới chỗ sống này, các ngài khéo lạ đời. Như vậy mới thấy cái hay của nhà thiền.
Sư ngồi bện giày cỏ, Động Sơn Lương Giới đến trước thưa:
– Xin Thầy tròng mắt được chăng?
Sư bảo:
– Của ngươi cho ai rồi?
– Lương Giới không.
– Giả sử có, ngươi nhằm để chỗ nào?
Lương Giới không đáp được.
Sư bảo:
– Xin tròng mắt là mắt chăng?
– Chẳng phải mắt.
Sư nạt đuổi ra.
Sư ngồi bên giày cỏ, Động Sơn Lương Giới đến trước thưa:
– Xin Thầy tròng mắt được chăng?
Học trò dám xin tròng mắt của thầy.
Sư bảo:
– Của ngươi cho ai rồi?
Lương Giới không.
Tròng mắt của mình là cái ai cũng có, cho nên đệ tử hỏi xin, ngài hỏi ngược lại: Cái đó của ngươi cho ai rồi? Động Sơn đáp: Lương Giới không. Là không cho ai hết, hay không có để cho. Ngài hỏi tiếp:
– Giả sử có, ngươi nhằm để chỗ nào?
Lương Giới không đáp được.
Sư bảo:
– Xin tròng mắt là mắt chăng?
– Chẳng phải mắt.
Sư nạt đuổi ra.
Xin tròng mắt đó là nói đến con mắt thật. Đáp: Chẳng phải mắt, là chưa lãnh hội nổi ý của thầy.
Tăng hỏi:
– Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới, là thế nào?
Sư bảo:
– Ngươi nhân đâu từ Phật giới đến?
Tăng không đáp được. Sự hỏi:
– Hội chăng?
– Chẳng hội.
– Chớ bảo hội chẳng được, giả sử hội được cũng chỉ là bên trái bên phải.
Tăng hỏi: Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới, là thế nào?
Sư bảo: Ngươi nhân đâu từ Phật giới đến?
Tăng không đáp được.
Đúng là con cháu Lục Tổ. Người ta hỏi ma giới thì lấy Phật giới đáp.
Sư hỏi: Hội chăng?
– Chẳng hội.
Chớ bảo hội chẳng được, giả sử hội được cũng chỉ là bên trái bên phải.
Nếu thấy hội và không hội, là bên trái bên phải, chưa phải chỗ cứu cánh.
Đời Đường niên hiệu Hội Xương năm đầu (841), tháng mười ngày hai mươi sáu, Sư có chút ít bệnh, tắm gội xong, kêu Chủ sự bảo:
– Sắm sửa trai, ngày mai có Thượng tọa đi.
Đến tối đêm hai mươi bảy, Sư quy tịch, thọ 60 tuổi. Trà-tỳ được xá-lợi rất nhiều.
Niên hiệu Hội Xương (841-846) là những năm Phật giáo ở Trung Hoa gặp pháp nạn, còn gọi là pháp nạn Hội Xương.
Sư họ Trương, quê ở Hải Hôn, Dự Chương. Lúc nhỏ, Sư theo hòa thượng Bàn xuất gia và thọ giới. Sau, Sư đến pháp hội Dược Sơn thầm được tâm ấn.
Một hôm Dược Sơn hỏi Sư:
– Ngươi đi đâu về?
Sư thưa:
– Đi dạo núi về.
Dược Sơn bảo:
– Chẳng rời thất này, nói mau! Nói mau!
Sư thưa:
– Trên núi quạ trắng đầu tợ tuyết, Đáy khe cá lội bận chẳng ngừng.
(Sơn thượng ô nhi đầu tự tuyết,
Giản để du ngư mang bất triệt.)
Sư cùng Đàm Thạnh đứng hầu Dược Sơn. Dược Sơn bảo:
– Chỗ trí chẳng nghĩ đến, tối kỵ nói tới, nói tới tức đầu mọc sừng, Trí đầu-đà (chỉ Sư) hiểu thế nào?
Sư liền đi ra.
Đàm Thạnh hỏi Dược Sơn:
– Sư huynh Trí vì sao không đáp lời Hòa thượng?
Dược Sơn bảo:
– Hôm nay ta đau lưng, y đã hội, ngươi hỏi lấy y.
Đàm Thạnh đến hỏi Sư:
– Vừa rồi vì sao sư huynh không đáp lời Hòa thượng?
Sư bảo:
– Huynh đến hỏi Hòa thượng đi.
Sư cùng Đàm Thạnh đứng hầu Dược Sơn. Dược Sơn bảo:
– Chỗ trí chẳng nghĩ đến, tối kỵ nói tới, nói tới tức đầu mọc sừng, Trí đầu-đà (chỉ Sư) hiểu thế nào?
Sư liền đi ra. Đàm Thạnh hỏi Dược Sơn:
– Sư huynh Trí vì sao không đáp lời Hòa thượng
Đáp chưa? Đáp rồi. Ngài Đàm Thạnh lúc này cũng còn nghèo “chỗ sống” nên mới hỏi sao không đáp lời Hòa thượng?
Dược Sơn bảo:
– Hôm nay ta đau lưng, y đã hội, ngươi hỏi lấy y.
Đàm Thạnh đến hỏi Sư:
– Vừa rồi vì sao sư huynh không đáp lời Hòa thượng?
Sư bảo:
– Huynh đến hỏi Hòa thượng đi.
Chuyện thầy trò đã xong nhưng người bên ngoài thì không hiểu. Bởi vì chưa sống được chỗ đó.
Quy Sơn Linh Hựu hỏi Vân Nham Đàm Thạnh:
– Bồ-đề lấy gì làm tòa?
Đàm Thạnh đáp:
– Lấy vô vi làm tòa.
Đàm Thạnh lại hỏi Linh Hựu câu ấy. Linh Hựu đáp:
– Lấy các pháp không làm tòa.
Linh Hựu lại đem câu ấy hỏi Sư. Sư đáp:
– Ngồi thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm, hãy nói mau! Nói mau!
Quy Sơn Linh Hựu hỏi Vân Nham Đàm Thạnh:
– Bồ-đề lấy gì làm tòa?
Đàm Thạnh đáp:
– Lấy vô vi làm tòa.
Đó là ngôn ngữ trong kinh, các ngài trích ra để dạy người.
Đàm Thạnh lại hỏi Linh Hựu câu ấy. Linh Hựu đáp:
– Lấy các pháp không làm tòa.
Linh Hựu lại đem câu ấy hỏi Sư. Sư đáp:
– Ngồi thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm, hãy nói mau! Nói mau!
Người dùng từ Bồ-đề, người dùng vô vi, người dùng pháp không. Ngài không hài lòng, chỉ nói: Ngồi thì cho y ngồi, nằm thì cho y nằm. Có một người chẳng ngồi chẳng nằm, hãy nói mau! Ngài đã vượt lên, không mắc kẹt ngôn ngữ văn tự nữa.
Linh Hựu hỏi Sư:
– Ở đâu đến?
Sư đáp:
– Khán bệnh đến.
– Có bao nhiêu người bệnh?
– Có người bệnh, có người chẳng bệnh.
– Có người không bệnh đâu không phải Trí đầu-đà?
Bệnh cùng chẳng bệnh đều không can hệ việc đó. Nói mau! Nói mau!
Linh Hựu hỏi Sư:
– Ở đâu đến?
Sư đáp:
– Khán bệnh đến.
– Có bao nhiêu người bệnh?
– Có người bệnh, có người chẳng bệnh.
Nếu hỏi mình, mình sẽ trả lời: “Trong chùa này có năm, bảy người bệnh…” Nhưng các thiền sư hỏi là vượt lên tình thức, đi qua ý khác rồi. Cho nên đáp có người bệnh, có người chẳng bệnh.
– Có người không bệnh đâu không phải Trí đầu-đà?
– Bệnh cùng chẳng bệnh đều không can hệ việc đó. Nói mau! Nói mau!
Ở trên ngài đã thoát được hai bên, nhưng khi nói đến người không bệnh thì ngài liền thoát ra một lần nữa: Bệnh cùng không bệnh không can hệ việc đó. Nói mau! Nói mau! Chúng ta đã nắm được việc đó là việc của ai chưa?
Thấy Đàm Thạnh bệnh, Sư hỏi:
– Lìa cái vỏ lủng này đến chỗ nào thấy nhau?
– Đến chỗ chẳng sanh chẳng diệt thấy nhau.
– Sao không nói chỗ phi chẳng sanh chẳng diệt, cũng chẳng cầu thấy nhau.
Thấy Đàm Thạnh bệnh, Sư hỏi:
– Lìa cái vỏ lủng này đến chỗ nào thấy nhau?
Cái vỏ lủng là thân tứ đại, mỗi ngày chúng ta dồn rác vào đó. Sáng dồn mớ rác vô, chiều dồn mớ rác vô, vậy mà cho là cuộc sống hoàn hảo. Dồn vào nó lại rớt ra, chứa không được, dồn hoài không đầy, cho nên các ngài dùng từ vỏ lủng.
– Đến chỗ chẳng sanh chẳng diệt thấy nhau.
Quá hay! Nghĩa là chúng ta sẽ gặp nhau ở chỗ không sanh không diệt.
– Sao không nói chỗ phi chẳng sanh chẳng diệt, cũng chẳng cầu thấy nhau.
Thoát khỏi sanh diệt rồi thì không cần thấy nhau nữa, vì còn cầu thấy là còn bệnh. Chỗ sống của ngài thể hiện trên mỗi câu đáp, vượt ngoài tình thức đối đãi thông thường.
Đàm Thạnh vá lại đôi giày cỏ, Sư thấy hỏi:
– Làm gì?
– Đem bại hoại vá bại hoại.
– Sao không nói tức bại hoại phi bại hoại.
Đàm Thạnh vá lại đôi giày cỏ, Sư thấy hỏi:
– Làm gì?
– Đem bại hoại vá bại hoại.
Đạo lý như vậy mà ngài không chịu:
– Sao không nói tức bại hoại phi bại hoại.
Chính ngay cái bại hoại đó có cái không bại hoại.
Ở trên một câu, ở dưới một câu, ngài sửa từng câu một, nhằm phá chấp ngã của người sau.
Sau, Sư đến núi Đạo Ngô an trụ ở đây, tăng chúng đến tham vấn rất đông.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là chỗ đắc lực hiện giờ.
Sư đáp:
– Ngàn muôn người gọi mà chẳng xoay đầu, mới có ít phần tương ưng.
– Chợt gặp lửa cháy thì sao?
– Đốt cả quả đất.
Sư hỏi lại vị tăng ấy:
– Dẹp than và lửa, cái gì là lửa?
– Chẳng phải lửa.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là chỗ đắc lực hiện giờ?
Sư đáp:
– Ngàn muôn người gọi mà chẳng xoay đầu, mới có ít phần tương ưng.
Người tu đắc lực rồi thì bao nhiêu cảnh bên ngoài hiện lên mà tâm không động, đó mới là tương ưng. Nếu tâm hơi lay động là biết người đó chưa sống được.
Chợt gặp lửa cháy thì sao?
– Đốt cả quả đất.
Sư hỏi lại vị tăng ấy:
– Dẹp than và lửa, cái gì là lửa?
– Chẳng phải lửa.
Như vậy là vị tăng này đã khéo sống.
Thạch Sương Khánh Chư hỏi:
Trăm năm sau có người hỏi việc cùng tột, làm sao nói với họ?
Sư gọi:
– Sa-di!
Sa-di đáp:
– Dạ!
Sư bảo:
– Thêm nước trong tịnh bình.
Giây lâu, Sư hỏi lại Khánh Chư:
– Vừa rồi hỏi gì?
Khánh Chư lặp lại câu hỏi trước.
Sư đứng dậy đi.
Thạch Sương Khánh Chư hỏi:
– Trăm năm sau có người hỏi việc cùng tột, làm sao nói với họ?
Sư gọi: – Sa-di!
Sa-di đáp: – Dạ!
Sư bảo: – Thêm nước trong tịnh bình.
Ngài đã đáp câu hỏi, vậy mà ngài Khánh Chư lúc này còn trầm tư chờ nghe câu đáp.
– Giây lâu, Sư hỏi lại Khánh Chư:
– Vừa rồi hỏi gì?
Khánh Chư lặp lại câu hỏi trước.
Sư đứng dậy đi.
Là xong. Ta đã nói rồi, ông còn ngồi đó chờ cái gì?
– Sa di! – Dạ. – Thêm nước trong tịnh bình. Pháp tột cùng ngàn xưa muốn chỉ cho người là như vậy. Pháp đó không có hình tướng nên không thể phơi bày ra được. Chỉ trong cái thầm lặng, thầy kêu trò dạ, rồi thêm nước trong tịnh bình là đủ rồi.
Hôm khác Khánh Chư hỏi:
– Một mảnh xương của Hòa thượng gõ in tiếng đồng, đi về chỗ nào?
Sư gọi:
– Thị giả!
Thị giả đáp:
– Dạ!
Sư bảo:
– Năm lừa đi.
Hỏi đến mảnh xương tức là hỏi đến cái cốt tủy, chỗ sống chân thật của Hòa thượng sau này đi về chỗ nào? Ngài kêu thị giả: Thị giả! Thị giả: Dạ! Ngài bảo: Năm lừa đi. Đi về chỗ đó.
Sư mắc bệnh, Tăng chúng đến thăm hỏi.
Sư bảo:
– Có nhận chẳng đền, các ngươi biết nó chăng? Chúng đều buồn thảm.
Sư bảo:
– Ta sẽ đi xa bên tây, lý không rời bên đông.
Đến ngày mùng mười tháng chín niên hiệu Thái Hòa năm thứ chín (835) đời Đường, Sư quy tịch, thọ 67 tuổi. Vua sắc ban là Tu Nhất đại sư, tháp hiệu Bảo Tướng.
– Sư mắc bệnh, Tăng chúng đến thăm hỏi.
Sư bảo:
– Có nhận chẳng đền, các ngươi biết nó chăng?
Chúng đều buồn thảm.
Tại sao nghe câu đó mà buồn thảm? Có nhận tức là có thọ, có thọ mà chẳng đền đáp. Lời ngài trăn trối nên chúng buồn thảm.
Sư bảo:
– Ta sẽ đi xa bên tây, lý không rời bên đông.
Thể xác tuy không có mặt trên dương thế nhưng tâm thể ấy không rời dương thế.
Đến ngày mùng mười tháng chín niên hiệu Thái Hòa năm thứ chín (835) đời Đường, Sư quy tịch, thọ 67 tuổi. Vua sắc ban là Tu Nhất đại sư, tháp hiệu Bảo Tướng.
Sư người tiết tháo tuyệt vời, độ lượng xuất chúng. Nơi Dược Sơn, Sư được tâm ấn, cùng Đàm Thạnh, Viên Trí là bạn đồng học thâm giao.
Khi rời Dược Sơn, Sư bảo hai bạn:
– Hai huynh mỗi người sẽ ở một nơi để dựng lập tông chỉ Dược Sơn, riêng tôi tánh tình quê mùa, chỉ ưa sơn thủy làm vui thú, không có tài năng. Ngày sau, hai huynh biết tôi dừng ở đâu, có gặp vị Tọa chủ nào lanh lợi mách cho một người đến, nếu kham chỉ bảo tôi sẽ đem chỗ bình sinh thọ nhận trao lại, gọi là đền đáp ơn của Tiên sư.
Chia tay nhau, Sư đi đến Tú Châu nơi sông Ngô, bến Hoa Đình, sắm một chiếc thuyền nhỏ tiếp chúng bốn phương qua lại, tùy duyên độ nhật. Người thời ấy không biết tung tích Sư, bèn gọi Sư là Thuyền Tử hòa thượng.
Sư người tiết tháo tuyệt vời, độ lượng xuất chúng. Nơi Dược Sơn, Sư được tâm ấn, cùng Đàm Thạnh, Viên Trí là bạn đồng học thâm giao.
Thiền sư Hoa Đình Thuyền Tử rất đặc biệt. Ngài không ở chùa, không khai hội nói pháp mà lái đò ngang dọc dạo chơi. Tuy vậy, ngài là người tiết tháo tuyệt vời, độ lượng xuất chúng, sống trong chúng ai cũng kính nể.
Khi rời Dược Sơn, Sư bảo hai bạn:
– Hai huynh mỗi người sẽ ở một nơi để dựng lập tông chỉ Dược Sơn, riêng tôi tánh tình quê mùa, chỉ ưa sơn thủy làm vui thủ, không có tài năng. Ngày sau, hai huynh biết tôi dừng ở đâu, có gặp vị Tọa chủ nào lanh lợi mách cho một người đến, nếu kham chỉ bảo tôi sẽ đem chỗ bình sinh thọ nhận trao lại, gọi là đền đáp ơn của Tiên sư.
Người xưa tùy duyên giáo hóa, không ham đệ tử nhiều, dạy một người để kế thừa là đủ đền ơn thầy, không tính toán gì hết.
Chia tay nhau, Sư đi đến Tú Châu nơi sông Ngô, bến Hoa Đình, sắm một chiếc thuyền nhỏ tiếp chúng bốn phương qua lại, tùy duyên độ nhật. Người thời ấy không biết tung tích Sư, bèn gọi Sư là Thuyền Tử hòa thượng.
Hoa Đình ở Tú Châu. Thuyền Tử tức là người sống ở dưới thuyền. Tới đó thấy sơn thủy hợp, ngài dừng lại đưa đò để lấy tiền sinh sống, không nói chuyện tu hành, cũng không nói chuyện giáo hóa.
Một hôm, thuyền đậu bên bờ, Sư ngồi rảnh rang, có vị quan hỏi:
– Thế nào là việc hằng ngày của Hòa thượng? Sư dựng đứng cây chèo bảo:
– Hội chăng?
Vị quan thưa:
– Không hội.
Sư bảo:
Chèo tạt sóng xanh, cá vàng ít gặp. (Trạo bát thanh ba, kim lân hãn ngộ.)
Quan hỏi việc hằng ngày, Sư đưa cây chèo lên, việc hằng ngày của tôi đó. Quan không hiểu. Vì chờ người ngộ được cũng khó như gặp được cá vảy vàng ánh kim quý hiếm.
Sau này, thiền sư Viên Trí có dịp đi đến Kinh Khẩu, gặp lúc thiền sư Thiện Hội thượng đường. Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là pháp thân?
Thiện Hội đáp:
– Pháp thân không tướng.
Tăng hỏi:
– Thế nào là pháp nhãn?
Thiện Hội đáp:
– Pháp nhãn không vết.
Viên Trí bất chợt phát cười.
Thiện Hội xuống tòa, hỏi Viên Trí:
– Tôi vừa đáp câu hỏi của Tăng, chắc có chỗ không đúng khiến Thượng tọa phát cười, xin Thượng tọa từ bi chỉ dạy.
Viên Trí bảo:
– Hòa thượng nhất đẳng là đúng, về xuất thế thì chưa có thầy.
Thiện Hội thưa:
– Chỗ nào tôi không đúng, mong Thượng tọa vì nói để phá.
– Tôi hoàn toàn không nói, mời Hòa thượng đi đến chỗ Hoa Đình Thuyền Tử.
– Người ấy như thế nào?
Người ấy trên không có miếng ngói, dưới không có mũi dùi. Hòa thượng muốn đi xin đổi y phục mà đến.
Thiện Hội bèn giải tán chúng, sửa sang hành lý, đi thẳng đến Hoa Đình Thuyền Tử.
Tăng hỏi: Thế nào là pháp thân?
Thiện Hội đáp: Pháp thân không tướng.
Tăng hỏi: Thế nào là pháp nhãn?
Thiện Hội đáp: Pháp nhãn không vết.
Viên Trí bất chợt phát cười.
Pháp thân không tướng, pháp nhãn không tỳ không vết. Đáp rất đúng. Hỏi đâu đáp đó mà cười, ông già kỳ cục!
Ngài Thiện Hội lanh lợi vô cùng, hiểu Phật pháp rất sâu, nhưng đáp như vậy bị cười. Nếu có ai lại hỏi chúng ta: “Thế nào là Bồ-đề?” Đáp: “Bồ-đề là giác.” Lúc đó nếu có một vị thiền sư ở bên cạnh, chắc ngài cũng bật cười.
Thiện Hội xuống tòa, hỏi Viên Trí:
– Tôi vừa đáp câu hỏi của Tăng, chắc có chỗ không đúng khiến Thượng tọa phát cười, xin Thượng tọa từ bi chỉ dạy.
Lẽ thường, Hòa thượng dạy chúng mà thấy người khác cười chắc chắn nổi giận rồi đuổi người ta ra khỏi nhà liền. Nhưng ngài Thiện Hội là người khiêm tốn, nên mới thỉnh ngài Viên Trí từ bi chỉ dạy. Ngài Thiện Hội lúc này là Hòa thượng, Viên Trí là Thượng tọa, nhưng ngài Thiện Hội thật tâm cầu pháp nên hành xử rất hay.
Viên Trí bảo:
– Hòa thượng nhất đẳng là đúng, về xuất thế thì chưa có thầy.
Nhất đẳng tức là bậc học giỏi, thấu hiểu kinh điển nhưng về xuất thế thì chưa có thầy. Thiền sư thấy được chỗ đó rồi thì nghe người ta nói liền biết đó là hạng nào, biết rõ ràng không nghi.
– Chỗ nào tôi không đúng, mong Thượng tọa vì nói để phá.
– Tôi hoàn toàn không nói, mời Hòa thượng đi đến chỗ Hoa Đình Thuyền Tử.
Ngày nay làm thầy thích thâu đệ tử cho đông, không chịu giới thiệu đến người khác. Người xưa thấy ai có khả năng, hợp với thầy nào liền chỉ đường.
– Người ấy như thế nào?
– Người ấy trên không có miếng ngói, dưới không có mũi dùi. Hòa thượng muốn đi xin đổi y phục mà đến.
Ngài Viên Trí khuyên đừng ăn mặc trịnh trọng kiểu Hòa thượng tới, ông ta sẽ không thèm tiếp. Phải ăn mặc ra vẻ tầm thường, người ấy mới tiếp chuyện. Bởi vì Hoa Đình Thuyền Tử không thích danh lợi, tiết tháo, chỉ thích núi rừng sông biển.
Trên không có miếng ngói, dưới không có mũi dùi. Hiểu theo nghĩa cạn là ngài sống ở trong thuyền trên sông nên không có ngói, chẳng có đất cắm dùi. Hiểu sâu hơn thì đó là người hoàn toàn tự tại, không còn dính mắc cái gì. Đây là lối giới thiệu hết sức khéo léo.
Thiện Hội bèn giải tán chúng, sửa sang hành lý, đi thẳng đến Hoa Đình Thuyền Tử.
Thông thường, đang làm thầy thiên hạ, hỏi đâu nói đó mà bị người khác chê liền nổi giận. Vậy mà vị tăng còn bảo thay đổi y phục đi tìm học với thiện tri thức, đụng đến bản ngã làm sao đi? Sợ hổ thẹn là tư cách của người phàm tục.
Người xưa nếu chưa sáng mắt thì dám bỏ hết. Người thật biết đạo, dù cho địa vị mình ở bậc nào đi nữa, biết rõ mình chưa thấu đáo, có người hơn thì cũng sẵn sàng buông hết để học hỏi. Đó là tư cách của một đạo nhân đáng phục đáng nể.
Chúng ta bây giờ nếu gặp trường hợp như vậy thì sợ giải tán chúng sẽ bị mất uy tín. Điều này dẫn đến việc không giải quyết được vấn đề sanh tử. Như vậy thì dạy cũng như không dạy, không tới đâu.
Vừa thấy Thiện Hội đến, Sư liền hỏi:
– Đại đức trụ trì chùa nào?
Thiện Hội thưa:
– Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.
– Chẳng giống, giống cái gì?
– Chẳng pháp trước mắt.
– Ở đâu học được nó?
– Chẳng phải chỗ mắt tai đến.
Sư cười bảo:
– Một câu hợp đầu ngữ, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước tơ ý ở đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau!
Thiện Hội vừa mở miệng, bị Sư đánh cho một chèo té nhào xuống nước. Thiện Hội mới leo lên thuyền, Sư lại thúc:
– Nói! Nói!
Thiện Hội vừa mở miệng, lại bị đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ, bèn gật đầu ba cái.
Sư bảo:
– Sợi nhợ cần câu mặc ngươi đùa, chẳng chạm sóng xanh ý tự khác. (Can đầu ty tuyến tùng quân lộng, bất phạm thanh ba ý tự thù.)
Thiện Hội bèn hỏi:
– Thả nhợ buông câu ý Thầy thế nào?
– Sợi tơ nổi trên mặt nước biếc, định ý có không.
– Lời kèm huyền mà không đường, đầu lưỡi
nói mà không nói.
– Câu khắp dòng sông mới gặp cá vàng.
Thiện Hội bịt tai.
Sư bảo:
– Đúng thế! Đúng thế!
Sư phó chúc rằng:
– Ngươi ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng tỏ việc này. Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để tìm lấy một người nửa người tiếp tục không để đoạn dứt.
Thiện Hội liền từ giã Sư ra đi, thỉnh thoảng ngó lại.
Sư bèn gọi:
– Xà-lê!
Thiện Hội quay đầu ngó lại.
Sư liền dựng đứng cây chèo bảo:
– Ngươi sẽ bảo riêng có.
Nói xong, Sư lật úp thuyền xuống nước mà tịch.
Vừa thấy Thiện Hội đến, Sư liền hỏi:
– Đại đức trụ trì chùa nào?
Thiện Hội thưa:
– Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.
Nếu còn trụ thì không giống.
– Chẳng giống, giống cái gì?
Nếu nói chẳng giống thì còn có hai bên để so sánh.
– Chẳng pháp trước mắt.
– Ở đâu học được nó?
– Chẳng phải chỗ mắt tai đến.
Chỗ đó không phải pháp trước mắt, cũng không phải chỗ mắt tai đến được.
Sư cười bảo:
– Một câu hợp đầu ngữ, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước tơ ý ở đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau!
Một câu hợp đầu ngữ tức là một câu nói hợp lý. Nhưng một câu hợp lý cũng là muôn kiếp cọc cột lừa, còn trói buộc trong ngôn ngữ, chưa phải chỗ cứu cánh. Thả nhợ mà lìa lưỡi câu làm sao câu được?
Thiện Hội vừa mở miệng, bị Sư đánh cho một chèo té nhào xuống nước. Thiện Hội mới leo lên thuyền, Sư lại thúc:
– Nói! Nói!
Thiện Hội vừa mở miệng, lại bị đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ, bèn gật đầu ba cái.
Chỗ đó là chỗ không cho mở miệng, nên vừa mở miệng là ăn hèo. Ngài Thiện Hội bị hai chèo đánh không thương tiếc, đánh tới nhào xuống nước. Nhưng ngay đó Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ. Nghệ thuật độ sanh của chư tổ ngày xưa thật độc đáo.
Sư bảo:
– Sợi nhợ cần câu mặc ngươi đùa, chẳng chạm sóng xanh ý tự khác.
Ngươi đùa được sợi nhợ cần câu rồi. Không chạm sóng xanh mà ý đã khác. Vậy là xong việc.
Thiện Hội bèn hỏi:
– Thả nhợ buông câu ý Thầy thế nào?
– Sợi tơ nổi trên mặt nước biếc, định ý có không
– Lời kèm huyền mà không đường, đầu lưỡi nói mà không nói.
Thầy trò hiểu nhau rồi nên đối đáp ứng hợp thông thạo.
– Câu khắp dòng sông mới gặp cá vàng.
Thiện Hội bịt tai.
Sư bảo: – Đúng thế! Đúng thế!
Ngài khen: Ta câu mấy năm nay mới được con cá vàng. Thiện Hội nghe thấy khen liền bịt tai, không chấp nhận. Như vậy mới là biết đạo. Cách ứng xử như thế liền được thầy chấp nhận.
Sư phó chúc rằng:
– Ngươi ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng tỏ việc này.
Chỗ đó lặng lẽ trong trẻo, nhưng nếu tới đó mà hài lòng thì mắc kẹt. Dòng suối lặng, tuy trong trẻo mát mẻ nhưng vẫn cần có trăng soi. Nếu không có vầng trăng, suối lặng trở thành nước chết. Cho nên nói chỗ ẩn thân mất dấu vết, mà chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Tức là trong tịch phải có chiếu, chứ đừng kẹt ở trong đó.
Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để tìm lấy một người nửa người tiếp tục không để đoạn dứt.
Một người, nửa người là để chỉ cho những người nối pháp về sau. Các thiền sư hay nói được một hoặc được nửa. Một là người xuất sắc, nửa là người khá.
Thiện Hội liền từ giã Sư ra đi, thỉnh thoảng ngó lại.
Sư liền gọi: – Xà-lê!
Thiện Hội quay đầu ngó lại.
Sư liền dựng đứng cây chèo bảo:
– Ngươi sẽ bảo riêng có.
Ta có cái đó, ngươi cũng có cái đó, đâu cần phải quyến luyến ta. Ngươi còn quyến luyến ta tức là ngươi chưa sống được với cái của ngươi.
Nói xong, Sư lật úp thuyền xuống nước mà tịch.
Tự tại như vậy. Không cần gì hết. Người xưa xem chuyện sống chết như trò đùa. Bổn phận đã xong thì úp thuyền mà tịch, không cần hưởng thụ gì.
Sau này ngài Thiện Hội không trở về tỉnh mà vào núi Giáp Sơn để ẩn tu. Tình thầy trò thật chung thủy. Không cần thời gian dài, gặp nhau chừng nửa tiếng đồng hồ là xong việc.
Tu hành hoặc là ở trong núi cao hoặc ở đồng sâu. Bây giờ chúng ta cũng vậy, ở trên núi rồi thỉnh thoảng xuống đồng. Mấy chỗ đó mới hợp với người tu, may ra kiếm được một người hoặc nửa người để nối đuốc về sau. Điều này chúng ta phải ráng học, nơi thành thị khó thực hiện được.
Không biết tung tích và quê quán của Sư thế nào. Chỉ biết khi Sư mới đến tham vấn Dược Sơn, Dược Sơn hỏi:
– Ở đâu đến?
Sư thưa:
– Ở Nam Nhạc đến
– Đi lại đâu?
– Đi Giang Lăng thọ giới.
– Thọ giới mong làm gì?
– Mong khỏi sanh tử.
– Có một người không thọ giới cũng khỏi sanh tử, ngươi biết chăng?
– Thế thì giới Phật dùng làm gì?
– Vẫn còn quải môi lưỡi.
Sư lễ bái lui ra.
Đạo Ngô đến đứng hầu, Dược Sơn bảo:
– Vừa rồi có một Sa-di mới đến, có chút hơi hám này.
Đạo Ngô thưa:
– Chưa nên toàn tin, cần phải khám phá mới được.
Đến chiều, Dược Sơn thượng đường gọi:
– Sa-di mới đến đâu?
Sư ra khỏi chúng đứng im.
Dược Sơn hỏi:
– Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?
Sư thưa:
– Nước con an ổn.
– Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?
– Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.
– Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?
– Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận.
Dược Sơn ngó Đạo Ngô, Vân Nham, nói:
– Chẳng tin ta nói.
Không biết tung tích và quê quán của Sư thế nào. Chỉ biết khi Sư mới đến tham vấn Dược Sơn, Dược Sơn hỏi:
– Ở đâu đến?
Sư thưa:
– Ở Nam Nhạc đến
– Đi lại đâu?
– Đi Giang Lăng thọ giới.
– Thọ giới mong làm gì?
– Mong khỏi sanh tử.
Có một người không thọ giới cũng khỏi sanh tử,
ngươi biết chăng?
– Thế thì giới Phật dùng làm gì?
– Vẫn còn quải môi lưỡi.
Sư lễ bái lui ra.
Còn quải môi lưỡi là thuộc về ngôn ngữ, chứ chưa thấy được cái đó. Ngay câu này, ngài lễ bái lui ra. Ngài Dược Sơn biết Sa-di đã được chỗ đó.
Đạo Ngô đến đứng hầu, Dược Sơn bảo:
– Vừa rồi có một Sa-di mới đến, có chút hơi hám này.
Đạo Ngô thưa:
– Chưa nên toàn tin, cần phải khám phá mới được.
Khám phá kỹ rồi hãy tin. Một câu nói, một hai hành động giống như đúng mà tin thì e rằng chưa đúng. Cho nên đây là cuộc khám phá thứ hai.
Đến chiều, Dược Sơn thượng đường gọi:
– Sa-di mới đến đâu?
Sư ra khỏi chúng đứng im. Dược Sơn hỏi:
– Ta nghe ở Trường An rất náo loạn, ngươi có biết chăng?
Sư thưa:
– Nước con an ổn.
Thầy hỏi khéo và trò đáp cũng khéo.
– Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?
Nếu xem kinh hay thưa hỏi được đó là việc bên ngoài.
– Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được.
– Có lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi, sao chẳng được?
– Chẳng nói họ không được, chỉ vì không chịu thừa nhận.
Người không xem kinh, không thưa hỏi không phải họ không có mà do họ không chịu thừa nhận.
Dược Sơn ngó Đạo Ngô, Vân Nham, nói:
– Chẳng tin ta nói.
Qua cuộc khám nghiệm, ngài Dược Sơn đã nói đúng. Vị Sa-di đó đã có chỗ sống chân thật, không còn nghi ngờ nữa. Người xưa nghe một câu nói, nhận được rồi thì lòng tin đầy đủ không thiếu, nói gì cũng đúng.
Một hôm Sư từ giã Dược Sơn. Dược Sơn hỏi:
– Đi đâu?
Sư thưa:
– Con ở trong chúng có ngại, nên đến bên đường cất một am tranh để tiếp đãi trà nước cho khách qua lại.
– Sanh tử là việc lớn, sao ngươi không thọ giới đi?
Biết thì những việc ấy liền thôi, lại bảo thọ giới làm gì?
– Như thế chẳng được lìa xa ta, có khi ta cần gặp ngươi.
Một hôm Sư từ giã Dược Sơn. Dược Sơn hỏi:
– Đi đâu?
Sư thưa:
– Con ở trong chúng có ngại, nên đến bên đường cất một am tranh để tiếp đãi trà nước cho khách qua lại.
Ngài muốn sống tự do, nên xin làm người khách bán trà bên đường. Trong thiền sử, phần nhiều mấy người bán trà ngoài đường, nhất là những quán gần các thiền đường thường gặp bậc pháp khí rất đặc biệt.
– Sanh tử là việc lớn, sao ngươi không thọ giới đi?
– Biết thì những việc ấy liền thôi, lại bảo thọ giới làm gì?
– Như thế chẳng được lìa xa ta, có khi ta cần gặp ngươi.
Hồi trước ngài muốn đi thọ giới để giải thoát sanh tử, bây giờ biết được chỗ đó rồi nên không cần thọ nữa.
Sư dầm mưa đến thăm Dược Sơn.
Dược Sơn bảo:
– Ngươi mới đến?
– Dạ.
Dược Sơn nói:
– Ướt cả rồi.
– Không cần đánh trống thổi sáo.
Vân Nham nói:
– Da cũng không, đánh cái trống nào?
Đạo Ngô nói:
– Trống cũng không, đánh cái da nào?
Dược Sơn bảo:
– Hôm nay rất hay, một trường hòa nhạc.
Sư dầm mưa đến thăm Dược Sơn. Dược Sơn bảo:
– Ngươi mới đến?
– Da.
Dược Sơn nói: – Ướt cả rồi.
– Không cần đánh trống thổi sáo.
– Chỗ đó không liên quan gì đến khô ướt.
Vân Nham nói:
– Da cũng không, đánh cái trống nào? Đạo Ngô nói:
– Trống cũng không, đánh cái da nào? Dược Sơn bảo:
– Hôm nay rất hay, một trường hòa nhạc.
Chỗ này thầy trò đã hợp nhau.
Đến giờ thọ trai, Dược Sơn tự đánh trống, Sư
ôm bát múa đi vào trai đường.
Dược Sơn bỏ dùi trống xuống hỏi:
– Hòa thứ mấy?
– Hòa thứ hai.
– Thế nào là hòa thứ nhất?
Sư đến thùng cơm lãnh một phần cơm rồi đi ra.
Đến giờ thọ trai, Dược Sơn tự đánh trống, Sư ôm bát múa đi vào trai đường.
Thông thường ở chúng đông, tới giờ thọ trai phải đánh ba hồi trống để chúng ở các nơi về thọ trai. Nghe đánh trống, ngài ôm bát vừa đi vừa múa.
Dược Sơn bỏ dùi trống xuống hỏi:
– Hòa thứ mấy?
– Hòa thứ hai.
– Thế nào là hòa thứ nhất?
Sư đến thùng cơm lãnh một phần cơm rồi đi ra.
Thầy đánh trống trò múa, đó là hòa. Hòa thứ nhất là im lặng lãnh phần cơm đem về, cái đó chỉ mình tự làm chứ còn không có người thứ hai.
Sư đến hỏi Đơn Hà:
– Thế nào là thầy chư Phật?
Đơn Hà quở:
– Thật tự đáng thương, cần thiết cầm khăn lau làm gì?
Sư lùi ba bước.
Đơn Hà bảo:
– Lầm!
Sư tiến tới ba bước.
Đơn Hà bảo:
– Lầm! Lầm!
Sư giở một chân, xoay một vòng, đi ra.
Đơn Hà bảo:
– Được tức được, cô phụ chư Phật khác.
Sư do đây lãnh ngộ ý chỉ, về trụ Thúy Vi tại Chung Nam sơn.
Sư đến hỏi Đơn Hà:
– Thế nào là thầy chư Phật?
Đơn Hà quở:
– Thật tự đáng thương, cần thiết cầm khăn lau làm gì?
Hỏi tới thầy của Phật cũng là lối lau chùi rác rến bên ngoài, không có gì quan trọng.
Sư lùi ba bước. Đơn Hà bảo:
– Lầm!
Sư tiến tới ba bước. Đơn Hà bảo:
– Lầm! Lầm
Lùi và tiến đều là lầm.
Sư giở một chân, xoay một vòng, đi ra.
Đơn Hà bảo:
– Được tức được, cô phụ chư Phật khác.
Khả dĩ được, nhưng cũng còn cô phụ chư Phật. Sư do đây lãnh ngộ ý chỉ, về trụ Thúy Vi tại Chung Nam sơn.
Đệ tử lớn nhất của ngài sau này là Đại Đồng.
Thiền sư Đại Đồng đến hỏi Sư:
– Không biết Nhị Tổ mới thấy tổ Đạt-ma có sở đắc gì?
Sư bảo:
– Nay ngươi thấy ta lại có sở đắc gì?
Đại Đồng đốn ngộ huyền chỉ
Ngày xưa Nhị Tổ thấy tổ Đạt-ma cũng như nay ngươi thấy ta, đâu khác. Nếu nhận được cái đó thì thấy được huyền chỉ.
Một hôm Sư đi trong pháp đường, Đại Đồng tiến đến trước lễ, thưa:
– Mật chỉ từ Ấn Độ qua, Hòa thượng dạy người thế nào?
Sư dừng bước một chút.
Đại Đồng lại thưa:
– Xin Thầy chỉ dạy.
Sư bảo:
– Lại cần gáo nước nhơ thứ hai sao?
Đại Đồng lễ tạ lui ra.
Sư bảo:
– Chớ lấp gốc.
Đại Đồng thưa:
– Thời tiết đến, gốc mầm tự sanh.
Một hôm, Sư đi trong pháp đường, Đại Đồng tiến đến trước lễ, thưa:
– Mật chỉ từ Ấn Độ qua, Hòa thượng dạy người thế nào?
Sư dừng bước một chút. Đại Đồng lại thưa:
– Xin Thầy chỉ dạy.
Sư bảo:
– Lại cần gáo nước nhơ thứ hai sao?
Ta đã chỉ rồi, nếu còn hỏi thêm nữa đó là gáo nước nhơ thứ hai.
Đại Đồng lễ tạ lui ra. Sư bảo:
– Chớ lấp gốc.
Đại Đồng thưa:
– Thời tiết đến, gốc mầm tự sanh.
Chỗ đó chỉ cần đủ nhân duyên thời tiết đến thì tự nó sanh, không lo mất gốc.
Nhân Sư cúng dường La-hán, có vị tăng hỏi:
– Đơn Hà thiêu tượng Phật gỗ, Hòa thượng vì sao cúng dường La-hán?
Sư bảo:
– Thiêu cũng chẳng thiêu đến, cúng dường cũng một bề cúng dường.
Tăng lại hỏi:
– Cúng dường La-hán, La-hán có đến chăng?
Sư bảo:
– Ngươi mỗi ngày có ăn cơm chăng?
Tăng không đáp được.
Sư bảo:
– Có chút lanh lợi.
Nhân Sư cúng dường La-hán, có vị tăng hỏi:
Đơn Hà thiêu tượng Phật gỗ, Hòa thượng vì sao cúng dường La-hán?
Thầy của ngài thiêu tượng Phật, tại sao ngài lại cúng dường La-hán?
Sư bảo:
– Thiêu cũng chẳng thiêu đến, cúng dường cũng một bề cúng dường.
Thiêu tượng Phật có phải thiêu Phật tánh không? Không! Cái đó không thiêu được. Cho nên cúng dường cứ một bề cúng dường.
Tăng lại hỏi:
– Cúng dường La-hán, La-hán có đến chăng?
Sư bảo:
– Ngươi mỗi ngày có ăn cơm chăng?
Nếu mỗi ngày ngươi có ăn cơm, nhận được cái đó thì biết La-hán đến hay không.
Tăng không đáp được. Sư bảo:
– Có chút lanh lợi.
Tuy có chút lanh lợi mà chưa xong.
Sư họ Dương, quê ở Phúc Châu. Ban sơ Sư đến tham vấn Thạch Củng (Huệ Tạng). Thạch Củng chuyên môn giương cung lắp tên để giáo hóa đồ chúng. Sư vào pháp hội, Thạch Củng bảo:
– Xem mũi tên đây!
Sư bèn vạch ngực thưa:
– Đây là mũi tên giết người, mũi tên cứu người lại làm sao?
Thạch Củng gảy dây cung ba cái.
Sư liền làm lễ.
Thạch Củng bảo:
– Ba mươi năm một phen giương cung, một hai mũi tên chỉ bắn được nửa người thánh.
Người thế gian giương cung bắn nai bắn hươu. Người tu đạo cũng giương cung nhưng là phương tiện nhằm mục đích hóa đạo. Bắn được nửa người thánh chứ chưa được một người, nên chưa rồi. Vì vậy khi qua chỗ ngài Đại Điên, ngài Nghĩa Trung gặp bế tắc.
Sư đến tham vấn Đại Điền thuật lại việc trên. Đại Điền bảo:
– Đã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?
Sư đáp không được.
Đại Điền bảo:
– Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.
Sư hỏi:
– Chẳng cần chỉ đông vẽ tây, thỉnh Thầy chỉ thẳng.
– Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.
– Vẫn là chỉ đông vẽ tây.
– Nếu phượng hoàng con không tìm bên kia.
Sư làm lễ.
Đại Điền bảo:
– Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước cũng khó tròn.
Sư đến tham vấn Đại Điền thuật lại việc trên. Đại Điên bảo:
– Đã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện
Sư đáp không được.
– Như vậy là mới được nửa người.
Đại Điền bảo:
– Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.
Sự hỏi:
– Chẳng cần chỉ đông vẽ tây, thỉnh Thầy chỉ thẳng.
– Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.
– Ngài chỉ thẳng như vậy. Đã ai thấy chưa? Ở đây ngài cũng chịu vì chưa nhận được.
– Vẫn là chỉ đông vẽ tây.
– Nếu phượng hoàng con không tìm bên kia. Là phượng hoàng con thì ngay đó liền nhận, không tìm nơi khác.
Sư làm lễ. Đại Điền bảo:
– Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước cũng khó tròn.
Chính nhờ câu sau mà ngài thấy được ý trước. Sau này ngài thừa kế Đại Điên.
Về sau Sư đến Chương Châu ở núi Tam Bình tiếp độ hậu lai.
Sư dạy chúng:
– Thời nay người học chỉ biết giong ruổi tìm kiếm, xem như nhãn mục của chính mình, có gì tương đương? Các ngươi muốn học chăng? Chẳng cần các thứ khác, các ngươi mỗi người tự có việc bổn phận, sao chẳng nhận ngay? Tại sao tâm bực tức, miệng lẩm bẩm có lợi ích gì? Nói thẳng rằng: Nếu cần con đường tu hành và hóa môn do chư thánh dựng lập thì có ba tạng kinh điển. Nếu là việc trong tông môn, ngươi cốt không lầm dụng tâm.
Có vị tăng ra thưa:
– Lại có con đường học hay không?
Sư bảo:
– Có một con đường trơn như rêu.
– Học nhân bước nhẹ theo được chăng?
– Tâm chẳng nghĩ, ngươi tự xem.
Về sau Sư đến Chương Châu ở núi Tam Bình tiếp độ hậu lai. Sư dạy chúng:
– Thời nay người học chỉ biết giong ruổi tìm kiếm, xem như nhãn mục của chính mình, có gì tương đương? Các ngươi muốn học chăng? Chẳng cần các thứ khác, các ngươi mỗi người tự có việc bổn phận, sao chẳng nhận ngay?
Chúng ta cứ chạy tìm hoài những thứ bên ngoài, không có gì tương đương với con mắt tuệ giác của chính mình. Ngay mình sẵn có cái đó, bổn phận chính của người tu là quay trở về để nhận, mà không chịu nhận.
Tại sao tâm bực tức, miệng lẩm bẩm có lợi ích gì? Nói thẳng rằng: Nếu cần con đường tu hành và hóa môn do chư thánh dựng lập thì có ba tạng kinh điển. Nếu là việc trong tông môn, ngươi cốt không lầm dụng tâm.
Dụng tâm cho khéo mới được. Đây là điểm cốt lõi.
Có vị tăng ra thưa:
– Lại có con đường học hay không?
Sư bảo:
– Có một con đường trơn như rêu.
– Học nhân bước nhẹ theo được chăng?
– Tâm chẳng nghĩ, ngươi tự xem.
Con đường học trơn như rêu, muốn bước nhẹ theo thì tâm chẳng nghĩ, đó là bước.
Có vị tăng hỏi:
– Đậu đen khi chưa nảy mầm là thế nào?
Sư đáp:
– Phật cũng chẳng biết.
Đậu đen khi chưa nảy mầm chỉ cho sự nhận hiểu đã có, nhưng còn ẩn. Cho nên, tới chỗ này nhiều thiền sư dùng đủ thứ danh từ, người gọi đậu đen, người gọi là thùng sơn. Gọi là gì cũng đều chỉ cái đó.
Có vị giảng sư đến hỏi:
Ba thừa và mười hai phần giáo tôi không nghi, thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ đến?
Sư bảo:
Phất tử bằng lông rùa, cây gậy bằng sừng thỏ, Đại đức núp chỗ nào?
– Lông rùa sừng thỏ lại là có sao?
– Thịt nặng ngàn cân, trí không cân lượng.
Có vị giảng sư đến hỏi:
– Ba thừa và mười hai phần giáo tôi không nghi, thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ đến?
Sư bảo:
– Phất tử bằng lông rùa, cây gậy bằng sừng thỏ, Đại đức núp chỗ nào?
Như vậy là đáp rồi. Người xưa khôn ngoan quá, đáp mà không động môi lưỡi. Thật là tài. Vì quen làm giảng sư nên ông không chịu nổi câu này, liền thưa:
– Lông rùa sừng thỏ lại là có sao?
– Thịt nặng ngàn cân, trí không cân lượng.
Trong Bích Nham Lục, công án Bí mật Tổ sư từ
Ấn Độ sang này quan trọng hơn hết, được các thiền sư mỗi người trả lời một cách, khéo léo tài tình.
Sư dạy chúng:
– Các ngươi! Nếu chưa gặp tri thức thì chẳng nên, nếu từng gặp tri thức rồi, phải nhận ngay ý độ ấy, đến trên chót núi hốc đá, ăn cây mặc lá, thế ấy mới có ít phần tương ưng. Nếu chạy cầu hiểu biết nghĩa cú, tức là trông quê hương muôn dặm xa vậy.
Trân trọng!
Nếu cầu hiểu biết nghĩa cú thì quê hương còn xa muôn dặm vậy. Trân trọng!
Sư họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phúc Châu. Năm mười lăm tuổi, Sư từ thân xuất gia theo luật sư Pháp Thường ở chùa Kiến Thiện tại bản quận thế phát. Sau, Sư đến chùa Long Hưng ở Hàng Châu thọ giới. Sư học kinh luật Đại thừa Tiểu thừa rất uyên thâm.
Năm hai mươi ba tuổi, Sư đến Giang Tây tham học với Bá Trượng Hoài Hải. Bá Trượng vừa thấy Sư liền nhận cho nhập chúng. Trong chúng, Sư là người được cử đứng hàng đầu.
Một hôm, Sư đứng hầu Bá Trượng. Bá Trượng hỏi:
– Ai?
Sư thưa:
– Con, Linh Hựu.
Bá Trượng bảo:
– Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?
Sư vạch ra, thưa:
– Không lửa.
Bá Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư, bảo:
– Ngươi bảo không, cái này là cái gì?
Sư do đây phát ngộ, lễ tạ trình bày chỗ giải ngộ của mình.
Bá Trượng bảo:
– Đây là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói:“Muốn thấy Phật tánh phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên được nhớ, mới tỉnh vật của mình không từ bên ngoài được.” Cho nên Tổ sư bảo: “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.” Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh v.v.., xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.
Sư họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phúc Châu. Năm mười lăm tuổi, Sư từ thân xuất gia theo luật sư Pháp Thường ở chùa Kiến Thiện tại bản quận thế phát. Sau, Sư đến chùa Long Hưng ở Hàng Châu thọ giới. Sư học kinh luật Đại thừa Tiểu thừa rất uyên thâm.
Năm hai mươi ba tuổi, Sư đến Giang Tây tham học với Bá Trượng Hoài Hải. Bá Trượng vừa thấy Sư liền nhận cho nhập chúng. Trong chúng, Sư là người được cử đứng hàng đầu.
Thiền sư Linh Hựu tức là tổ Quy Sơn, sanh năm 771 tịch năm 853. Ngài học kinh luật luận rất uyên thâm. Vì vậy sau khi ngộ Thiền tông, ngài chẳng những là bậc tác gia ngộ thiền, mà còn thông cả tam tạng. Tác phẩm Quy Sơn Cảnh Sách là minh chứng rõ ràng cho sự thông hiểu kinh luật của ngài.
Một hôm, Sư đứng hầu Bá Trượng. Bá Trượng hỏi:
– Ai?
Sư thưa:
– Con, Linh Hựu.
Bá Trượng bảo:
– Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?
Sư vạch ra, thưa:
– Không lửa.
Bá Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư, bảo:
– Ngươi bảo không, cái này là cái gì?
Sư do đây phát ngộ, lễ tạ trình bày chỗ giải ngộ của mình.
Nhân duyên khai ngộ của ngài hết sức đơn giản. Tổ Bá Trượng bảo vạch lò lấy lửa, ngài bươi không thấy, trở lại nói không có lửa. Tổ Bá Trượng đích thân lại bươi sâu trong lò, được chút lửa đưa lên hỏi: Cái này là cái gì? Ngài liền ngộ.
Lửa đó dính dáng gì đến đạo lý mà ngộ? Không phải ngộ ở lửa, quan trọng ở câu bươi sâu trong lò. Chúng ta tu hành chỉ nhìn ở bề mặt nổi, hay những hình tướng nông cạn bên ngoài nên khó thấy được cái đó. Phải chịu khó dụng công sâu vào trong mới thấy được. Thành ra việc vạch sâu trong lò không phải chỉ thấy lửa mà là cách để dụng công. Cho nên, thấy là thấy cái đó, chứ không phải thấy lửa.
Bá Trượng bảo:
– Đây là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói: “Muốn thấy Phật tánh phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên được nhớ, mới tỉnh vật của mình không từ bên ngoài được.” Cho nên Tổ sư bảo: “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.” Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh v.v…, xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.
Tổ Bá Trượng rất chân thành: Muốn thấy Phật tánh phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên chợt nhớ, mới tỉnh vật của mình không từ bên ngoài được. Tu hành là xoay lại chính mình, đào bới sâu trong tâm thức để thấy, không phải tìm bên ngoài mà được. Như vậy tỉnh rồi cũng đồng chưa tỉnh.
Nhận được cái sẵn có của mình, từ khi ngộ rồi về sau không tâm hư vọng phàm thánh. Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ, tâm pháp xưa nay vốn đầy đủ, còn tâm hư vọng là hư giả. Tự khéo gìn giữ, đừng chạy theo tâm hư vọng nữa.
Sư theo Bá Trượng làm việc trong núi, Bá Trượng hỏi:
– Đem được lửa đến chăng?
– Đem được.
– Ở chỗ nào?
Sư cầm một cành cây thổi vài cái, đem trao cho Bá Trượng.
Bá Trượng bảo:
– Như trùng đục cây.
Sư theo Bá Trượng làm việc trong núi, Bá Trượng hỏi: – Đem được lửa đến chăng?
Chỗ sở ngộ của ngài thường được tổ Bá Trượng nhắc lại: Đem được lửa đến chăng?
– Đem được.
– Ở chỗ nào?
Sư cầm một cành cây thổi vài cái, đem trao cho Bá Trượng.
Hỏi đem được lửa đến chăng? Ngài cầm que củi thổi như giễu cợt mà không phải giễu cợt, chỉ muốn nói đến cái đó.
Bá Trượng bảo: – Như trùng đục cây.
Như kiến ăn vỏ cây, lâu dần có lằn thành chỉ. Chuyện ông làm giống như trùng đục cây, ngẫu nhiên mà làm, không có ý thức.
Tư Mã Đầu-đà từ Hồ Nam đến yết kiến Bá Trượng, thưa:
– Quy Sơn là thắng cảnh nên lập đại đạo tràng kết tập bạn pháp.
Bá Trượng hỏi:
– Lão tăng muốn đến Quy Sơn nên chăng?
– Quy Sơn kỳ tuyệt có thể họp một ngàn năm trăm chúng, nhưng chẳng phải chỗ Hòa thượng ở.
Sao vậy?
– Hòa thượng là người xương, núi kia là núi thịt, dù có ở, đồ đệ chẳng đầy một ngàn.
– Trong chúng ta có người ở được chăng?
– Đợi xem qua mới biết.
Bá Trượng sai thị giả gọi đệ nhất tọa đến, tức thiền sư Hoa Lâm, hỏi:
– Người này thế nào?
Đầu-đà bảo Hoa Lâm tằng hắng một tiếng, đi vài bước, thưa:
– Người này không được.
Bá Trượng sai thị giả gọi điển tọa đến, tức sư Linh Hựu.
Đầu-đà thưa:
– Đây chính là chủ Quy Sơn.
Tối lại, Bá Trượng gọi Sư vào thất dặn dò:
– Ta hóa duyên tại đây, ngươi sẽ ở thắng cảnh Quy Sơn để nối tiếp tông môn của ta và rộng độ kẻ hậu học.
Tư Mã Đầu-đà từ Hồ Nam đến yết kiến Bá Trượng, thưa:
– Quy Sơn là thắng cảnh nên lập đại đạo tràng kết tập bạn pháp.
Bá Trượng hỏi:
Lão tăng muốn đến Quy Sơn nên chăng?
Quy Sơn kỳ tuyệt có thể họp một ngàn năm trăm chúng, nhưng chẳng phải chỗ Hòa thượng ở.
– Sao vậy?
– Hòa thượng là người xương, núi kia là núi thịt, dù có ở, đồ đệ chẳng đầy một ngàn.
Núi đó là núi thịt, Hòa thượng là người xương, cho nên Hòa thượng tuy phước đức nhiều mà ở đó đồ đệ không tới một ngàn. Đáng lẽ thầy có phước đức hơn trò, thầy ở đâu thì đồ đệ đông đảo. Nhưng mỗi người có duyên riêng, không phải thầy là hơn.
– Trong chúng ta có người ở được chăng?
– Đợi xem qua mới biết.
Bá Trượng sai thị giả gọi đệ nhất tọa đến, tức thiền sư Hoa Lâm, hỏi:
– Người này thế nào?
Đầu-đà bảo Hoa Lâm tằng hắng một tiếng, đi vài bước, thưa:
– Người này không được.
Chỉ cần tằng hắng đi mấy bước là biết. Chứng tỏ vị này tinh thông về tướng số địa lý.
Bá Trượng sai thị giả gọi điển tọa đến, tức sư Linh Hựu.
Đầu-đà thưa:
– Đây chính là chủ Quy Sơn.
Vừa thấy liền biết đó là chủ Quy Sơn.
– Tối lại, Bá Trượng gọi Sư vào thất dặn dò:
Ta hóa duyên tại đây, ngươi sẽ ở thắng cảnh Quy Sơn để nối tiếp tông môn của ta và rộng độ kẻ hậu học.
Hoa Lâm nghe tin này đến thưa:
– Con là thượng thủ, tại sao Linh Hựu được trụ trì?
Bá Trượng bảo:
– Nếu ai có thể ngay trong chúng này nói được một câu xuất cách, sẽ cho trụ trì.
Bá Trượng liền chỉ tịnh bình hỏi:
– Chẳng được kêu là tịnh bình, ngươi kêu là gì?
Hoa Lâm thưa:
– Không thể kêu là cây lủng vậy.
Bá Trượng lại hỏi Sư. Sư đạp nhào tịnh bình rồi đi ra.
Bá Trượng cười bảo:
– Đệ nhất tọa thoái lui núi này.
Bá Trượng bèn sai Sư đến Quy Sơn.
Chỉ cái tịnh bình không cho kêu tịnh bình, mà hỏi kêu cái gì? Hoa Lâm trả lời, Tổ không chịu. Ngài Linh Hựu tới đạp ngã, Tổ lại chịu. Hành động xuất cách như vậy được làm chủ Quy Sơn.
Non Quy cao vót không có bóng người lai vãng, là hang ổ của cọp sói. Sư đến đây cất một am tranh, hằng ngày lượm trái lật, trái dẻ làm thức ăn nuôi sống.
Đã bảy năm qua, một hôm Sư tự nghĩ: Đạo cốt tiếp vật lợi sanh, ở một mình chẳng phải. Sư bèn đi lần xuống núi, thấy cọp sói, Sư bảo: “Nếu ta có duyên với núi này, các ngươi nên đi tránh chỗ khác. Nếu ta không có duyên ở đây thì các ngươi cứ ăn thịt ta đi.” Sư nói xong, các loài thú dữ đều đi tứ tán, Sư trở về am yên ở như trước.
Không bao lâu, dân cư dưới chân núi từ từ hay biết, họ rủ nhau kéo lên núi cất một ngôi chùa cho Sư. Sau này, Liên soái Lý Cảnh Nhượng tâu vua xin ban hiệu chùa, vua ban hiệu là Đồng Khánh. Kế đến, có thượng tọa Đại An và một số chúng từ Bá Trượng đến phụ tá Sư. Đại An nói: “Tôi sẽ làm điển tọa cho Hòa thượng.” Số chúng lần lần lên đến cả ngàn. Tướng quốc Bùi Hưu cũng thường tới lui thưa hỏi chỗ huyền áo.
Non Quy cao vót không có bóng người lai vãng, là hang ổ của cọp sói. Sư đến đây cất một am tranh, hằng ngày lượm trái lật, trái đẻ làm thức ăn nuôi sống.
Ngài Linh Hựu đến núi Quy, ở đây không có một bóng người lai vãng. Ngài cất am tranh, lượm trái lật, trái dẻ để ăn sống qua ngày.
Đã bảy năm qua, một hôm Sư tự nghĩ: Đạo cốt tiếp vật lợi sanh, ở một mình chẳng phải. Sư bèn đi lần xuống núi, thấy cọp sói, Sư bảo: “Nếu ta có duyên với núi này, các ngươi nên đi tránh chỗ khác. Nếu ta không có duyên ở đây thì các ngươi cứ ăn thịt ta đi.” Sư nói xong, các loài thú dữ đều đi tứ tán, Sư trở về am yên ở như trước.
Ngài nói một câu, cọp sói đều tuân lệnh. Chúng ta đến gần chắc bị chúng về chạy không kịp. Người xưa cử đệ tử đi trụ trì như vậy, không cần phải lo chùa chiền, làm sao sống được thì làm, không cần nghĩ tới nữa. Tự cất am ở, tự lượm trái cây ăn mà sống, chịu đựng bảy năm ở trong rừng một mình không có cơm gạo. Qua đó chúng ta thấy sức kham nhẫn khổ hạnh của ngài Quy Sơn mạnh tới bậc nào.
Không bao lâu, dân cư dưới chân núi từ từ hay biết, họ rủ nhau kéo lên núi cất một ngôi chùa cho Sư. Sau này, Liên soái Lý Cảnh Nhượng tâu vua xin ban hiệu chùa, vua ban hiệu là Đồng Khánh. Kế đến, có thượng tọa Đại An và một số chúng từ Bá Trượng đến phụ tá Sư. Đại An nói: “Tôi sẽ làm điển tọa cho Hòa thượng.” Số chúng lần lần lên đến cả ngàn. Tướng quốc Bùi Hưu cũng thường tới lui thưa hỏi chỗ huyền áo.
Từ một người đơn thân độc mã trong rừng với bầy cọp sói, ngài gầy dựng từ từ, đồ chúng lên tới một ngàn năm trăm người. Sống trong núi, tín đồ không thể cúng dường cơm gạo đủ nuôi số người nhiều như vậy, thiền sinh phải trồng trà trồng lúa, làm rẫy… mới sống được.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Phàm tâm của người học đạo phải ngay thẳng chân thật không dối gạt, không tâm hạnh sau lưng trước mặt, lừa phỉnh, trong tất cả giờ thấy nghe bình thường không có chiều uốn, cũng chẳng phải nhắm mắt bịt tai, chỉ lòng chẳng chạy theo vật là được. Từ trước chư thánh chỉ nói: Bên nhơ bợn là lỗi lầm. Nếu không như thế, lòng nhiều nghĩ ác là việc tình kiến tưởng tập. Ví như nước mùa thu lóng đứng trong trẻo lặng lẽ không động không ngại, gọi người này là Đạo nhân, cũng gọi là người vô sự.
Khi ấy có vị tăng hỏi:
– Người được đốn ngộ có tu chăng?
Sư bảo:
Nếu người khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưng vẫn còn tập khí nhiều kiếp từ vô thủy chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trừ sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không nói có một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lý, nghe và lý sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm lại, “chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp” (Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp). Nếu được như vậy, là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lý sự không hai, tức Phật như như.
Sư thượng đường dạy chúng:
Phàm tâm của người học đạo phải ngay thẳng chân thật không dối gạt, không tâm hạnh sau lưng trước mặt, lừa phỉnh, trong tất cả giờ thấy nghe bình thường không có chiều uốn, cũng chẳng phải nhắm mắt bịt tai, chỉ lòng chẳng chạy theo vật là được. Từ trước chư thánh chỉ nói: Bên nhơ bợn là lỗi lầm. Nếu không như thế, lòng nhiều nghĩ ác là việc tình kiến tưởng tập. Ví như nước mùa thu lóng đứng trong trẻo lặng lẽ không động không ngại, gọi người này là Đạo nhân, cũng gọi là người vô sự.
Ngài thiết tha dạy chúng: Người học đạo cần phải ngay thẳng chân thật, không nên có tâm dối gạt phỉnh lừa v.v… Phải sống một cách chân chánh, không phải bịt tai, nhắm mắt. Chỉ cần tâm không chạy theo vật là được, nếu tâm còn dính vật là sai. Tai cũng vẫn nghe, mắt cũng vẫn thấy, nghe không bị tiếng làm cho xao động, thấy không bị sắc làm cho quyến luyến, như vậy thì nghe, thấy không có lỗi lầm. Đó là chỗ đạo.
Nếu không như thế, lòng nhiều nghĩ ác việc tình kiến tưởng tập. Nghĩ ác là nghĩ về tình chấp thương ghét, những thói quen tưởng tượng cái này cái nọ. Ví như nước mùa thu lóng đứng trong trẻo lặng lẽ không động không ngại. Tâm được như nước mùa thu lóng đứng trong trẻo mới gọi là đạo nhân, là người vô sự. Tâm chúng ta còn xao động, còn ô nhiễm thì tuy cạo tóc ở chùa cũng chưa được gọi là đạo nhân.
Khi ấy có vị tăng hỏi:
– Người được đốn ngộ có tu chăng?
Sư bảo:
– Nếu người khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lý nơi mình, nhưng vẫn còn tập khí nhiều kiếp từ vô thủy chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trừ sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không nói có một pháp riêng dạy hắn tu hành thủ hướng. Từ nghe nhập được lý, nghe và lý sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế.
Người đốn ngộ nắm được cái gốc rồi thì tu hay là không tu cũng không quan trọng. Nắm được gốc là đủ.
Chúng ta là kẻ sơ tâm, được chút duyên lành, ngộ được chân lý nơi mình, nhưng tập khí hư xấu, loạn tưởng chưa sạch thì phải gắng tu. Dạy hắn trừ sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại. Tức là dạy những kẻ đốn ngộ còn nhiều tập khí, cắt đứt dòng tâm thức chạy theo sáu trần để tạo nghiệp. Trừ sạch như thế là tu. Không nói có một pháp riêng dạy hắn tu hành thủ hướng. Từ nghe rồi nhập được lý, nghe và lý được sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ lầm mê. Hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Người trở về được cái gốc đó rồi thì bên ngoài có bao nhiêu việc thăng trầm vẫn an nhiên tự tại, không bị lôi cuốn.
Nói tóm lại, “chỗ lý chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp” (Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp). Nếu được như vậy, là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lý sự không hai, tức Phật như như.
Người sau này hay nói: Vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp, lại ít nói: Thật tế lý địa bất thọ nhất trần. Đất thật tế chính là chỗ Lục Tổ nói: “Bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai!” Ở đây, bất thọ nhất trần là không dính một mảy bụi. Người tu đạt được chỗ thật tế rồi thì trên muôn hạnh tùy duyên, làm gì cũng là Phật pháp. Nếu không đạt được lý thật tế thì làm hạnh nào cũng trở thành chấp trước.
Được trên lý thật tế không dính một mảy bụi, trên muôn hạnh không bỏ một pháp, lý sự không hai thì người đó là Phật như như.
Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu
Thiền sư Huệ Tịch (Ngưỡng Sơn) hỏi:
– Trăm ngàn muôn cảnh đồng thời đến, phải làm sao?
Sư đáp:
– Xanh chẳng phải là vàng, dài chẳng phải là ngắn, các pháp mỗi pháp ở địa vị của nó, chẳng can hệ đến việc của ta.
– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ đến ?
Sư chỉ lồng đèn bảo:
– Lồng đèn rất tốt.
– Đâu chỉ cái ấy là phải sao?
– Cái ấy là cái gì?
– Lồng đèn rất tốt.
– Hẳn là chẳng thấy.
Trăm ngàn muôn cảnh đồng thời đến, phải làm sao? Ngài đáp như lạc đề: Xanh chẳng phải là vàng, dài chẳng phải là ngắn, các pháp mỗi pháp ở địa vị của nó, chẳng can hệ đến việc của ta. Bây giờ trước mắt chúng ta trăm ngàn hình tướng, dàn trải đầy dẫy, lúc đó nên nhắm mắt hay mở mắt? Phải mở mắt. Mở mắt để thấy cái này đẹp cái kia xấu, thấy tâm mình lộn xộn ra sao. Tuy nhiên, với thiền sư mở mắt nhưng xanh vẫn là xanh, vàng vẫn là vàng, cái nào ở địa vị cái nấy, tâm không chấp kẹt, tất cả pháp đều ở vị của nó, nên không có lỗi lầm. Ngài Ngưỡng Sơn nghe câu này liền nhận được.
Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ đến? Tổ Quy Sơn chỉ: Lồng đèn rất tốt. Cũng câu hỏi này, có vị thiền sư đáp: “Phất tử bằng lông rùa” hoặc “Cây gậy bằng sừng thỏ, ông trốn ở chỗ nào?” Bí mật hoàn toàn bí mật.
Ngài Ngưỡng Sơn cao tay ấn: Đâu chỉ cái ấy là phải sao? Cái đó chưa phải, nên tổ Quy Sơn hỏi lại: Cái ấy là cái gì? Ngài Ngưỡng Sơn đáp: Lồng đèn rất tốt. Xác định cái đó, ngài đáp: Hẳn là chẳng thấy. Như vậy, ý Tổ sư từ Ấn Độ sang chỉ là trời xanh.
Sư cùng chúng đi hái trà. Sư bảo Huệ Tịch:
– Trọn ngày hái trà chỉ nghe tiếng con mà chẳng thấy hình con, hãy hiện bản hình cho ta thấy coi.
Huệ Tịch liền đập cây trà.
Sư bảo:
– Con chỉ được cái dụng của nó, chẳng được cái thể của nó.
Huệ Tịch thưa:
– Chưa biết Hòa thượng thế nào?
Sư im lặng.
– Hòa thượng chỉ được cái thể của nó, không được cái dụng của nó.
– Tha cho con hai chục gậy.
Sư cùng chúng đi hái trà. Sư bảo Huệ Tịch:
– Trọn ngày hái trà chỉ nghe tiếng con mà chẳng thấy hình con, hãy hiện bản hình cho ta thấy coi.
Nghe tiếng mà không thấy hình, bây giờ hiện hình cho ta thấy xem.
Huệ Tịch liền đập cây trà. Sư bảo:
– Con chỉ được cái dụng của nó, chẳng được cái thể của nó.
Huệ Tịch thưa:
– Chưa biết Hòa thượng thế nào?
Sư im lặng.
– Hòa thượng chỉ được cái thể của nó, không được cái dụng của nó.
– Tha cho con hai chục gậy.
Đập cây trà là hiện bản hình rồi đó. Tha hai chục gậy là phần thưởng. Thầy trò các ngài nói chuyện đạo lý như giỡn chơi.
Sư ngồi, Huệ Tịch đi vào, Sư bảo:
– Tịch con! Hãy nói mau chớ vào ấm giới.
Huệ Tịch thưa:
– Huệ Tịch tin cũng chẳng lập.
– Con tin rồi chẳng lập hay chẳng tin chẳng lập?
– Chỉ là Huệ Tịch, lại tin cái gì?
– Nếu thế ấy chỉ là định tánh Thanh văn.
– Huệ Tịch Phật cũng chẳng lập.
Sư ngồi, Huệ Tịch đi vào, Sư bảo:
– Tịch con! Hãy nói mau, chớ vào ấm giới.
Tức là đừng dính trong ấm và giới.
Huệ Tịch thưa:
– Huệ Tịch tin cũng chẳng lập.
– Con tin rồi chẳng lập hay chẳng tin mà chẳng lập?
– Chỉ là Huệ Tịch, lại tin cái gì?
– Nếu thế ấy chỉ là định tánh Thanh văn.
– Huệ Tịch Phật cũng chẳng lập.
Ngài Huệ Tịch nói: Huệ Tịch tin cũng chẳng lập là không kẹt trong ấm giới. Ngài liền đặt câu hỏi: Tin rồi chẳng lập hay chẳng tin mà chẳng lập? Ngài Huệ Tịch liền tránh cái bẫy đó. Tin hay chẳng tin không thành vấn đề, Huệ Tịch là Huệ Tịch, là trí tuệ lặng lẽ.
Tổ lại bẻ qua: Nếu vậy thì định tánh Thanh văn rồi. Ngài Huệ Tịch liền sửa lại: Huệ Tịch Phật cũng chẳng lập, huống nữa là định tánh Thanh văn.
Sư ngủ vừa thức giấc. Huệ Tịch đến hỏi thăm.
Sư liền xây mặt vào vách. Huệ Tịch thưa:
– Hòa thượng đâu được như vậy.
Sư trỗi dậy bảo:
– Vừa rồi ta nằm một điềm chiêm bao, con thử vì ta đem lại xem.
Huệ Tịch múc một thau nước đem lại cho Sư rửa mặt. Sư rửa mặt xong, giây lát Trí Nhàn (Hương Nghiêm) đến hỏi thăm, Sư bảo:
– Vừa rồi ta nằm một điềm chiêm bao, Huệ Tịch vì ta đem lại xong, ngươi lại đem cho ta xem.
Trí Nhàn liền rót một chung trà bưng đến
Sư bảo:
– Hai con thấy hiểu còn hơn Xá-lợi-phất.
Lanh lẹ thông minh quá chừng! Thầy nói chuyện đâu đâu mà đệ tử biết ý liền. Ngủ mới thức dậy thì cần nước rửa mặt, nên Huệ Tịch chạy múc thau nước đem lại. Rửa mặt xong thì uống trà nên ngài Hương Nghiêm rót một chung trà đem lại. Đúng là đem chiêm bao đến. Quá hay!
Sư hỏi Vân Nham (Đàm Thạnh):
– Nghe huynh ở Dược Sơn lâu lắm phải chăng?
– Phải.
– Tướng Dược Sơn đại nhân thế nào?
– Sau khi Niết-bàn mới có.
– Sau khi Niết-bàn mới có thế nào?
– Nước rưới chẳng dính.
Vân Nham hỏi lại Sư:
– Bá Trượng đại nhân tướng thế nào?
– Chững chạc vòi vọi, sáng suốt rực rỡ, trước tiếng chẳng phải tiếng, sau sắc chẳng phải sắc, con muỗi đậu trên trâu sắt, không có chỗ huynh cắm mỏ.
Ngài Vân Nham tả tướng tổ Dược Sơn: Sau khi Niết-bàn mới có, nước rưới chẳng dính. Ngài Quy Sơn tả tướng tổ Bá Trượng: Chững chạc vòi vọi, sáng suốt rực rỡ, trước tiếng chẳng phải tiếng, sau sắc chẳng phải sắc, con muỗi đậu trên trâu sắt, không có chỗ cho huynh cắm mỏ.
Niết-bàn không có tướng. Muỗi đậu trên trâu sắt không có chỗ cắm mỏ. Như vậy một bên lấy cái không tướng tả tướng, một bên lấy cái tướng tả cái không tướng. Người xưa khéo léo tài tình. Tướng đó làm sao vẽ? Vẽ được như ngài Quy Sơn vẽ tướng tổ Bá Trượng mới nên vẽ.
Thấy Trí Nhàn, Huệ Tịch làm bánh, Sư bảo:
– Bá Trượng tiên sư đương thời thân được đạo lý này.
Huệ Tịch, Trí Nhàn nhìn nhau nói:
– Người nào đáp được lời này?
Sư bảo:
– Có một người đáp được.
Huệ Tịch thưa:
– Người nào?
Sư chỉ con trâu bảo:
– Nói! Nói
Huệ Tịch chạy lấy một bó cỏ đem lại. Trí Nhàn lấy thùng múc một thùng nước đem lại để trước con trâu. Con trâu đang ăn, Sư bảo:
– Như thế như thế, chẳng như thế chẳng như thế.
Huệ Tịch, Trí Nhàn đồng lễ Sư. Sư bảo:
– Hoặc khi sáng, hoặc khi tối.
Mấy thầy tăng hồi xưa cũng thường làm bánh, không phải mấy cô ni mới biết làm. Hai người nhồi bột làm bánh, nói chuyện như đùa mà đầy đạo lý. Ngài Quy Sơn tới nói: Bá Trượng tiên sư đương thời thân được đạo lý này.
Ngài Huệ Tịch, Trí Nhàn nhìn nhau nói: Người nào đáp được lời này? Tổ bảo: Có một người đáp được, rồi chỉ con trâu. Hai vị đệ tử, kẻ đem cỏ người đem nước lại cho trâu ăn. Ngài liền bảo: Như thế như thế, chẳng như thế chẳng như thế.
Về hành động, hai đệ tử thật là lanh lợi. Con trâu không biết nói mà ngài bảo con trâu nói. Như vậy để chúng ta thấy rằng chỗ chí lý vô ngôn ấy không dùng ngôn ngữ mà phát được, cũng không dùng những hành động khôn ngoan khéo léo mà diễn tả được. Chỉ là lặng lẽ thường tri mới phù hợp.
Ngài chỉ con trâu bảo nói là thể hiện chỗ vô ngôn. Hai người đồng nhận được chỗ đó nên đem cỏ và múc nước cho trâu ăn. Hai đệ tử lễ tạ, tuy nhiên ngài thấy vẫn còn chưa viên mãn nên nói: Khi sáng, khi tối.
Một hôm, Sư thúc chúng trình ngữ, bảo:
– Ngoài thanh sắc hãy gặp ta.
Thượng tọa Giám Hoằng trình ngữ:
– Chẳng từ chối đưa ra, người ấy không mắt.
Sư chẳng nhận.
Huệ Tịch ba phen trình ngữ. Lần đầu:
– Thấy, chẳng thấy.
Sư bảo:
– Nhỏ như chót lông, lạnh tự sương tuyết.
Lần thứ hai:
– Ngoài thanh sắc ai cầu thấy nhau?
Sư bảo:
– Chỉ kẹt chỗ giải thoát của Thanh văn.
Lần thứ ba:
Như hai gương chiếu nhau, ở trong không hình tượng.
Sư bảo:
– Lời này đúng, ta phải ngươi chẳng phải, sớm lập hình tượng rồi vậy.
Huệ Tịch hỏi lại Sư:
– Con tinh thần tối tăm, đối đáp vụng về, chẳng biết Hòa thượng hồi còn ở với Sư ông Bá Trượng trình ngữ thế nào?
Sư bảo:
– Ta hồi ở với tiên sư Bá Trượng trình ngữ như vầy: “Như trăm ngàn gương sáng chiếu soi hình tượng, bóng ảnh soi nhau, cõi cõi bụi bụi mỗi mỗi chẳng lầm lẫn.”
Huệ Tịch lễ bái.
Một hôm, Sư thúc chúng trình ngữ, bảo:
– Ngoài thanh sắc hãy gặp ta.
Ngài bảo chúng trình ngữ mà chỉ nói một câu: Ngoài thanh sắc hãy gặp ta. Câu nào ngoài thanh sắc? Ai nói được?
Thượng tọa Giám Hoằng trình ngữ:
– Chẳng từ chối đưa ra, người ấy không mắt. Sư chẳng nhận. Huệ Tịch ba phen trình ngữ. Lần đầu:
– Thấy, chẳng thấy.
Sư bảo:
– Nhỏ như chót lông, lạnh tự sương tuyết.
Lần thứ hai: – Ngoài thanh sắc, ai cầu thấy nhau?
Sư bảo:
Chỉ kẹt chỗ giải thoát của Thanh văn.
Lần thứ ba: – Như hai gương chiếu nhau, ở trong không hình tượng.
Sư bảo:
– Lời này đúng, ta phải ngươi chẳng phải, sớm lập hình tượng rồi vậy.
Lần đầu ngài Huệ Tịch trình ngữ: Thấy, chẳng thấy cũng còn có hai. Cho nên ngài Quy Sơn nói: Nhỏ như chót lông, lạnh tự sương tuyết, không dính gì hết.
Lần thứ hai: Ngoài thanh sắc, ai cầu thấy nhau? Ngài đáp: Chỉ kẹt chỗ giải thoát của Thanh văn. Không cầu thấy nhau như vậy là lặng lẽ, lặng lẽ đó thuộc về Thanh văn.
Câu thứ ba: Như hai gương chiếu nhau, ở trong không hình tượng. Sáng mà lặng là thể tịch, nên ngài nói: Lời này đúng, ta phải ngươi chẳng phải.
Huệ Tịch hỏi lại Sư:
– Con tinh thần tối tăm, đối đáp vụng về, chẳng biết Hòa thượng hồi còn ở với Sư ông Bá Trượng trình ngữ thế nào?
Sư bảo:
– Ta hồi ở với tiên sư Bá Trượng trình ngữ như vầy: “Như trăm ngàn gương sáng chiếu soi hình tượng, bóng ảnh soi nhau, cõi cõi bụi bụi mỗi mỗi chẳng lầm lẫn.”
Huệ Tịch lễ bái.
Huệ Tịch bí quá, thưa: Con tinh thần tăm tối, đối đáp vụng về, chẳng biết Hòa thượng hồi còn ở với Sư ông Bá Trượng trình ngữ thế nào? Ngài đáp: Ta hồi ở với tiên sư Bá Trượng trình ngữ như vầy: “Như trăm ngàn gương sáng chiếu soi hình tượng, bóng ảnh soi nhau, cõi cõi bụi bụi mỗi mỗi chẳng lầm lẫn.” Cõi nước là to, bụi là nhỏ, gương sáng rỡ rỡ chiếu nhau không lầm một hạt bụi, không lầm một cõi. Như vậy mới là chỗ viên mãn.
Cái đó tịch, lặng lẽ, hai bên chiếu nhau không có hình bóng thì chưa phải. Tu đến chỗ viên mãn, trong ngoài đều sáng rỡ mới qua khỏi thức ấm, còn ở trong vòng thức ấm thì tịch mà chưa chiếu. Trong ngoài sáng rỡ cũng như trăm ngàn cái gương sáng chiếu nhau không chút lầm lẫn mới là triệt ngộ.
Các bậc thiền sư xưa, nghe câu nói là biết thiền giả tu đã tới chỗ nào, còn mắc kẹt hay là hết mắc kẹt. Chúng ta tu chừng nào đạt tới chỗ này mới được, chưa đạt tới như thế thì cũng còn kẹt.
Sư thượng đường bảo chúng:
– Sau khi lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ “Quy Sơn tăng Linh Hựu”. Khi ấy gọi là Quy Sơn tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn tăng? Gọi thế nào mới đúng?
Con trâu mang chữ Quy Sơn tăng Linh Hựu, gọi thế nào cho đúng? Người không hiểu nghe đoạn này sẽ hiểu lầm: Tu như tổ Quy Sơn mà gần chết, trăn trối thành con trâu ở dưới chân núi. Chúng ta phải biết chỗ này là chỗ của người đã vượt ra khỏi vòng đối đãi.
Hàng thấp trong lục đạo là súc sanh, còn hàng cao nhất vượt ra khỏi lục đạo là thánh giả. Thánh và phàm không còn kẹt nữa mới là người siêu xuất tam giới.
Tổ Quy Sơn muốn chỉ ra cái siêu xuất của ngài bằng hình ảnh con trâu và Quy Sơn tăng Linh Hựu. Trong đó thật phàm và thánh không hai, không chia chẻ rời được. Còn thấy phàm thấy thánh là phàm tình chưa hết.
Sư truyền bá Thiền giáo hơn bốn mươi năm, người đạt được lý thú không thể kể hết, đệ tử nhập thất (được truyền tâm) được bốn mươi mốt người.
Đời Đường niên hiệu Đại Trung năm thứ bảy (853), ngày mùng chín tháng giêng, Sư tắm gội xong, ngồi kiết già vui vẻ thị tịch. Sư thọ 83 tuổi, 64 tuổi hạ.
Vua ban hiệu Đại Viên thiền sư, tháp hiệu Thanh Tịnh.
Sư có trước tác tập Quy Sơn Cảnh Sách rất được lưu hành trong thiền môn.
Điểm đặc biệt của thiền sư Quy Sơn là lãnh hội được Thiền tông nơi tổ Bá Trượng bằng phương tiện moi lửa. Kế đó, ngài kham khổ ở trên núi bảy năm, không người biết. Sức chịu đựng của ngài phi thường, với tâm niệm vì pháp lợi sanh, không chỉ an ổn cho riêng mình. Cuối cùng, ngài ra khỏi am, thấy cọp sói đầy đường, ngăn trở mọi người không lên núi được, ngài mới phát nguyện: Nếu ta có duyên với núi này, các ngươi nên đi tránh chỗ khác. Nếu ta không có duyên ở đây thì các ngươi cứ ăn thịt ta đi.
Chí nguyện của ngài là sống và làm việc, truyền bá đạo pháp được thì sống, bằng không thì thà chết, chứ không chỉ lợi ích cho riêng mình. Duyên hạnh như vậy nên ngài đã truyền bá đạo pháp được đông đảo. Pháp hội có tới một ngàn năm trăm vị tham học, núi Quy trở thành một thiền hội lớn nhất thời bấy giờ.
Sư người tỉnh Mân (Phúc Kiến), Hồng Châu, thuở nhỏ xuất gia trên núi Hoàng Bá tại bản châu. Trên trán Sư có cục thịt nổi vun lên như hạt châu, âm thanh trong trẻo, ý chí đạm bạc.
Đi dạo núi Thiên Thai, Sư gặp một vị tăng nói chuyện với nhau như đã quen biết từ xưa, nhìn kỹ là người mục quang xạ. Hai người đồng hành, gặp một khe suối nước đầy chảy mạnh, Sư lột mũ chống gậy đứng lại. Vị tăng kia thúc Sư đồng qua. Sư bảo:
– Huynh cần qua thì tự qua.
Vị tăng kia liền vén y, bước trên sóng như đi trên đất bằng. Qua đến bờ, vị tăng kia xoay lại hối:
– Qua đây! Qua đây!
Sư bảo:
– Ôi! Cái gã Thanh văn này. Nếu tôi sớm biết sẽ chặt bắp đùi huynh.
Vị tăng kia khen:
– Thật là pháp khí Đại thừa, tôi không bì kịp. Nói xong, không thấy vị tăng ấy nữa.
Sư người tỉnh Mân (Phúc Kiến), Hồng Châu, thuở nhỏ xuất gia trên núi Hoàng Bá tại bản châu. Trên trán Sư có cục thịt nổi vun lên như hạt châu, âm thanh trong trẻo, ý chí đạm bạc.
Thiền sư Hy Vận Hoàng Bá, chữ Bá này có người đọc là Nghiệt, gọi là Hoàng Nghiệt. Nhưng chữ Nghiệt khó đọc nên thường đọc là Hoàng Bá.
Đi dạo núi Thiên Thai, Sư gặp một vị tăng nói chuyện với nhau như đã quen biết từ xưa, nhìn kỹ là người mục quang xạ.
Xạ là bắn. Mục quang xạ là ánh mắt như xoáy vào đối tượng nhìn, chỉ cho người mắt rất sáng.
Hai người đồng hành, gặp một khe suối nước đầy chảy mạnh, Sư lột mũ chống gậy đứng lại. Vị tăng kia thúc Sư đồng qua. Sư bảo:
– Huynh cần qua thì tự qua.
Vị tăng kia liền vén y, bước trên sóng như đi trên
đất bằng. Qua đến bờ, vị tăng kia xoay lại hối:
– Qua đây! Qua đây!
Sư bảo:
– Ôi! Cái gã Thanh văn này. Nếu tôi sớm biết sẽ chặt bắp đùi huynh.
Vị tăng kia khen:
– Thật là pháp khí Đại thừa, tôi không bì kịp.
Nói xong, không thấy vị tăng ấy nữa.
Khi hai người đồng đi tới suối nước lớn, ngài tới đó chống gậy lột mũ đứng ngó, qua không được. Vị tăng kia liền vén áo đi khơi khơi trên mặt nước. Dùng thần thông chỗ này có hai lỗi, thứ nhất là chỉ mình là hàng Nhị thừa, thứ hai là phạm giới Phật. Cho nên, ngài dõng dạc nói: Ôi! Cái gã Thanh văn này. Nếu tôi sớm biết sẽ chặt bắp đùi huynh. Vị tăng kia khen: Thật là pháp khí Đại thừa, tôi không bì kịp. Chúng ta bây giờ thấy như vậy thì lạy liền, xin quy y.
Tinh thần Đại thừa của nhà Phật không quý chuộng thần thông. Người tu không khéo dễ nhận lầm, yêu chuộng quý mến thần thông. Nghe ai có thần thông thì kính phục. Hàng Thanh văn Duyên giác dùng thần thông độ chúng sanh, Bồ-tát tuyệt nhiên không dùng, các vị Bồ-tát chỉ thẳng tâm địa, thấy tánh thành Phật.
Chúng ta tu là trở lại sống với tâm thanh tịnh của chính mình, cái đó mới là cội nguồn thoát khỏi sanh tử. Thần thông diệu dụng chỉ là cái phụ bên ngoài. Nếu ham cái dụng mà không đạt được cái thể thì làm sao giải thoát! Ham cái dụng tức là ham tướng bên ngoài. Khi nghe nói người này người kia tu ở núi hay ở trong thất ít tháng ít năm, người ta vẫn thường mở miệng hỏi: “Có thấy cái gì chưa? Được cái gì chưa?” Đó là lầm lẫn của người tu hiện thời.
Tinh thần Đại thừa không quý chuộng thần thông mà quý chuộng người ngộ được bản tâm. Đó là điều thiết yếu.
Sư đến kinh đô nhờ người mách đến tham vấn Mã Tổ, đến nơi Mã Tổ đã tịch. Sư đến Thạch Môn lễ tháp, rồi tìm đến Bá Trượng.
Bá Trượng hỏi:
– Chững chạc to lớn từ đâu đến?
Sư thưa:
– Chững chạc to lớn từ Lãnh Nam đến.
– Chững chạc to lớn đến vì việc gì?
– Chững chạc to lớn chẳng vì việc khác. Sư liền lễ bái hỏi:
– Từ trước tông thừa chỉ dạy thế nào?
Bá Trượng lặng thinh.
Sư thưa:
– Không thể dạy người sau dứt hẳn mất.
Bá Trượng bảo:
– Sẽ nói riêng với ngươi.
Bá Trượng đứng dậy đi vào phương trượng.
Sư đi theo sau, thưa:
– Con đến riêng một mình.
Bá Trượng bảo:
– Nếu vậy, người sau sẽ không cô phụ ta.
Từ trước tông thừa chỉ dạy thế nào? Thiền tông từ trước đến giờ chỉ dạy ra sao?
Ngài đi tới tổ Bá Trượng hỏi từ trước tông thừa chỉ dạy thế nào? Tông thừa hay Thiền tông cũng tương tự như nhau. Hỏi Thiền tông chỉ dạy thế nào? Tổ Bá Trượng lặng thinh không nói. Như vậy có tàn nhẫn không? Người ta tha thiết hỏi đạo lý mà không nói gì hết.
Ngài Hoàng Bá thưa không thể dạy người sau dứt hẳn mất, nếu không dạy người thì sau này còn ai nối tiếp. Bá Trượng bảo sẽ nói riêng với ông. Vậy trọng tâm chỗ chỉ dạy tông thừa thế nào? Bá Trượng làm thinh là dạy chưa, có nói chỗ yếu lý của tông thừa không? Chỗ yếu lý của tông thừa vượt ngoài đối đãi, mà ngôn ngữ là đối đãi, nên mở miệng nói thì sai, vì vậy Tổ làm thinh. Ngài Hoàng Bá sợ như vậy người sau không thể học hiểu, tổ Bá Trượng bảo sẽ nói riêng với ông. Cho nên Tổ đi vào phương trượng, Hoàng Bá đi theo.
Ở đây chúng ta không thấy tổ Bá Trượng dạy cái gì, cũng không thấy ngài Hoàng Bá nói ngộ chi, mà thầy trò lại có chỗ kế thừa. Đó là chỗ đặc biệt của nhà thiền. Vì chỗ lặng thinh đó, không thể nào hiểu nổi, mà không hiểu nổi là đúng hay không đúng? Vừa khởi hiểu là đã xa muôn dặm, cho nên ngay chỗ lặng thinh mà nhận thì được. Ngài Bá Trượng lặng thinh, thiền sư Hoàng Bá có hội ý không? Ngài bảo không thể dạy người sau sẽ dứt hẳn mất, Bá Trượng bảo sẽ nói riêng với ông. Tổ Bá Trượng đi vào phương trượng ngài cùng đi theo sau, nói con đến riêng một mình đây. Bá Trượng bảo nếu vậy ông sau sẽ không cô phụ ta. Tổ dạy cái gì mà nói không cô phụ ta? Thầy trò đối xử rất bình thường thì chỗ nào mà thâm nhập được, lại nói sẽ không cô phụ ta?
Chỗ còn nói năng là còn hai, bặt nói năng thì hai hay một? Vì vậy Hoàng Bá nói con tới một mình thôi, Tổ bảo sau ông sẽ không cô phụ ta. Nói một tí thôi mà thật là nhẹ nhàng nhanh chóng, nghe liền hiểu nhau, coi như thầy trò đã thông cảm. Thế là ngài Hoàng Bá được tổ Bá Trượng ấn chứng.
Một hôm Bá Trượng hỏi:
– Ở đâu đến?
Sư thưa:
– Nhổ nấm dưới núi Đại Hùng đến.
– Lại thấy cọp chăng?
Sư làm tiếng cọp rống. Bá Trượng cầm búa thủ thế. Sư vỗ vào chân Bá Trượng một cái. Bá Trượng cười to bỏ đi.
Bá Trượng thượng đường bảo chúng:
– Dưới núi Đại Hùng có con cọp, các ngươi nên xem. Lão Bá Trượng này hôm nay đích thân bỗng gặp và bị cắn một cái.
Một hôm, Bá Trượng hỏi: – Ở đâu đến?
Ngài ở chúng rồi mà thầy còn hỏi ở đâu đến, như giỡn chơi vậy.
Sư thưa: – Nhổ nấm dưới núi Đại Hùng đến.
Núi Bá Trượng tên là núi Đại Hùng, vì nó cao tới hàng trăm trượng nên người ta gọi là Bá Trượng.
Tổ Bá Trượng hỏi: Lại thấy cọp chăng?
Nhổ nấm dưới núi Đại Hùng đến, vậy có thấy được con cọp không? Nếu thấy núi mà không thấy cọp là chưa vào trong núi.
Sư làm tiếng cọp rống. Bá Trượng cầm búa thủ thế. Sư vỗ vào chân Bá Trượng một cái. Bá Trượng cười to bỏ đi. Ngài rống lên một tiếng chứng tỏ rằng mình đã là cọp, cần gì thấy nữa. Bá Trượng thủ thế bằng cái búa, ngài liền vỗ vào chân Bá Trượng một cái. Thầy trò cảm thông nhau được rồi, nên tổ Bá Trượng cười to bỏ đi.
Ngài bỏ đi rồi, tổ Bá Trượng khoe với chúng:
Dưới núi Đại Hùng có con cọp, các ngươi nên xem. Lão Bá Trượng này hôm nay đích thân bỗng gặp và bị cắn một cái.
Cắn một cái trên bắp đùi, vậy là con cọp lớn. Học trò của tổ Bá Trượng cũng gần tương đương với tổ Bá Trượng.
Sư ở chỗ Nam Tuyền. Một hôm, toàn chúng đi hái trà, Nam Tuyền hỏi:
– Đi đâu?
Sư thưa:
– Đi hái trà.
– Đem cái gì hái?
Sư đưa con dao lên. Nam Tuyền bảo:
– Tất cả đi hái trà đi.
Một hôm đi hái trà, Nam Tuyền hỏi: Đem cái gì hái? Ngài đưa con dao mà không nói. Thấy vậy, Nam Tuyền nói: Tất cả đi hái trà đi. Chỗ này kẻ tung người hứng, thầm thầm nhận ý của nhau.
Hôm nọ, Nam Tuyền bảo Sư:
– Lão tăng ngẫu hứng làm bài ca Chăn Trâu, mời Trưởng lão hòa.
Sư thưa:
– Tôi tự có thầy rồi.
Ngài Nam Tuyền là huynh đệ với ngài Bá Trượng. Như vậy đối với ngài Hoàng Bá, Nam Tuyền coi như là Sư thúc. Ngài Nam Tuyền gọi ngài Hy Vận là Trưởng lão, chứng tỏ lúc đó ngài Hy Vận đã lớn tuổi. Nam Tuyền nói rằng: Lão tăng ngẫu hứng làm bài ca Chăn Trâu, mời Trưởng lão hòa. Ngài thưa: Tôi tự có thầy rồi, chỉ tới tham học thêm thôi.
Sư từ giã đi nơi khác, Nam Tuyền tiễn đến cổng, cầm chiếc mũ của Sư đưa lên hỏi:
– Trưởng lão thân to lớn mà chiếc mũ rất nhỏ vậy?
Sư thưa:
– Tuy nhiên như thế, đại thiên thế giới đều ở trong ấy.
Nam Tuyền bảo:
– Vương lão sư vậy.
Sư đội mũ ra đi.
Bây giờ ngài sửa soạn từ giã Nam Tuyền đi. Đến cổng, Nam Tuyền cầm chiếc mũ nói Trưởng lão thân to lớn mà chiếc mũ rất nhỏ vậy. Câu này là câu dọ dẫm lần chót. Ngài đáp rất khéo, Tuy nhiên như thế, cả đại thiên thế giới đều ở trong ấy. Tuy tướng mạo nó nhỏ vậy, mà trùm cả đại thiên sa giới. Do đó ngài Nam Tuyền cũng phải nể. Đó là những câu chuyện đối đáp khi tham vấn những bậc thiện tri thức. Rất là khéo, rất là đặc biệt.
Sau, Sư về trụ trì tại Hồng Châu chùa Đại An.
Đồ chúng tìm đến rất đông.
Có lần, Sư tránh chúng đến chùa Khai Nguyên cũng ở Hồng Châu. Tướng quốc Bùi Hưu vào chùa thấy hình vẽ trên vách, hỏi thầy trụ trì:
– Vẽ cái gì đây?
Thầy trụ trì đáp:
– Vẽ hình cao tăng.
Bùi Hưu hỏi:
– Hình có thể thấy, cao tăng ở đâu?
Thầy trụ trì không đáp được.
Bùi Hưu hỏi:
– Trong đây có thiền nhân chăng?
Thầy trụ trì đáp:
– Vừa có một vị tăng vào chùa đang làm việc in tuồng thiền giả.
Bùi Hưu bèn xin cho gặp. Thấy Sư, Bùi Hưu nói:
– Hưu vừa có một câu hỏi, chư đức tiếc lời, giờ thỉnh thượng nhân đáp thế một câu.
Sư bảo:
– Mời tướng công hỏi lại.
Bùi Hưu lặp lại câu hỏi trước.
Sư lớn tiếng gọi:
– Bùi Hưu!
Bùi Hưu:
– Dạ!
Sư bảo:
– Ở chỗ nào?
Bùi Hưu ngay nơi đó ngộ được ý chỉ như được hạt châu trên búi tóc, bèn thỉnh Sư vào phủ kính thờ làm thầy.
Sư tránh chúng đến chùa Khai Nguyên cũng ở Hồng Châu. Tránh chúng tức là trong chúng lúc đó có những chuyện không vui, ngài không thích nên bỏ đi nơi khác.
Tướng quốc Bùi Hưu vào chùa thấy hình vẽ trên vách, hỏi: Hình của cao tăng ở đây mà cao tăng nơi nào?
Thầy trụ trì không đáp được.
Bùi Hưu hỏi:
– Trong đây có thiền nhân chăng?
Thầy trụ trì đáp:
– Vừa có một vị tăng vào chùa đang làm việc in tuồng thiền giả.
Bùi Hưu bèn xin cho gặp. Thấy Sư, Bùi Hưu nói:
– Hưu vừa có một câu hỏi, chư đức tiếc lời, giờ thỉnh thượng nhân đáp thế một câu.
Sư bảo:
– Mời tướng công hỏi lại.
Bùi Hưu lặp lại câu hỏi trước.
Ngài chỉ cần kêu: Bùi Hưu! Bùi Hưu: Dạ! Nói: Ở chỗ nào? Thì thấy liền. Bùi Hưu thấy cao tăng hay Bùi Hưu thấy cái gì? Như được hạt châu trên búi tóc. Chúng ta thường có thói quen thấy hình tướng mà không thấy được tâm của mình. Bây giờ hỏi tâm ở đâu, làm sao mà chỉ? Cũng như thấy tượng mà hỏi tinh thần của tượng ở chỗ nào, làm sao chỉ được? Không có gì hay hơn gọi: Bùi Hưu! Chỉ cần Dạ là thấy ngay chỗ đó. Trong nhà thiền, cái Dạ này rất quan trọng.
Có hôm Bùi Hưu hỏi:
– Thế nào là Phật?
Sư đáp:
– Tức tâm là Phật, không tâm là đạo. Chỉ không có khởi những tâm động niệm, có không, dài ngắn, ta người, năng sở… Tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm, tâm như hư không, sở dĩ nói: “Chân pháp thân của Phật ví như hư không.” Không nên cầu gì khác, có cầu đều khổ. Giả sử trải qua số kiếp như cát sông Hằng tu hành lục độ vạn hạnh, được Phật Bồ-đề, cũng không phải cứu cánh. Vì cớ sao? Vì thuộc về nhân duyên tạo tác, nhân duyên nếu hết trở lại vô thường. Sở dĩ nói: “Báo, Hóa không phải chân Phật, cũng không phải nói pháp.” Cốt biết tâm mình không ngã không nhân, xưa nay là Phật.
Bùi Hưu hỏi:
– Tâm đã xưa nay là Phật, lại cầu tu lục độ vạn hạnh chăng?
Sư đáp:
– Ngộ tại tâm, không quan hệ gì lục độ vạn hạnh. Lục độ vạn hạnh đều là cửa hóa đạo, là việc bên tiếp vật độ sanh. Giả sử Bồ-đề, chân như, thật tế, giải thoát, pháp thân, thẳng đến Thập địa, bốn quả vị thánh đều là cửa hóa độ, không quan hệ Phật tâm. Tâm tức là Phật, nên nói: “Tất cả trong cửa tiếp độ, Phật tâm là bậc nhất.” Chỉ không tâm sanh tử phiền não v.v… tức không cần đến pháp Bồ-đề v.v… nên nói: “Phật nói tất cả pháp để độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu dùng tất cả pháp” (Tổ Huệ Năng). Từ Phật đến Tổ không luận việc gì khác, chỉ luận một tâm, cũng nói là “Nhất thừa”, nên nói: “Tìm kỹ mười phương lại không có thừa khác, trong chúng này không còn nhánh lá, chỉ toàn hạt chắc” (Kinh Pháp Hoa). Bởi vì ý này khó tìm, nên tổ Đạt-ma sang xứ này đến hai nước Lương, Ngụy mà chỉ có một mình Huệ Khả đại sư thầm tin tâm mình, ngay một câu nói liền lãnh hội “tức tâm là Phật”. Thân tâm đều không, ấy là đại đạo. Đại đạo xưa nay bình đẳng, nên nói “tin sâu chúng hàm sanh đồng một chân tánh”. Tâm tánh không khác, tức tánh tức tâm, tâm không khác tánh, gọi đó là Tổ. Lại có câu: “Khi nhận được tâm tánh, nên nói không nghĩ bàn”
Sau này, tướng quốc Bùi Hưu đến trấn Uyển Lăng lập đại thiền uyển thỉnh Sư làm hóa chủ ở đó. Vì mến núi cũ nên Sư vẫn để hiệu là Hoàng Bá.
Có hôm Bùi Hưu hỏi:
– Thế nào là Phật?
Sư đáp:
– Tức tâm là Phật, không tâm là đạo. Chỉ không có khởi những tâm động niệm, có không, dài ngắn, ta người, năng sở… Tâm vốn là Phật, Phật vốn là tâm, tâm như hư không, sở dĩ nói: “Chân pháp thân của Phật ví như hư không.” Không nên cầu gì khác, có cầu đều khổ. Giả sử trải qua số kiếp như cát sông Hằng tu hành lục độ vạn hạnh, được Phật Bồ-đề, cũng không phải cứu cánh.
Vì cớ sao? Vì thuộc về nhân duyên tạo tác, nhân duyên nếu hết trở lại vô thường. Sở dĩ nói: “Báo, Hóa không phải chân Phật, cũng không phải nói pháp.” Cốt biết tâm mình không ngã không nhân, xưa nay là Phật.
Ngài chỉ thẳng tâm mình tức là Phật, không tâm tức là đạo. Không có tâm phàm, thánh… chính là đạo. Khởi lên tâm đối đãi là mất đạo.
Bùi Hưu hỏi:
– Tâm đã xưa nay là Phật, lại cầu tu lục độ vạn hạnh chăng?
Sư đáp:
– Ngộ tại tâm, không quan hệ gì lục độ vạn hạnh. Lục độ vạn hạnh đều là cửa hóa đạo, là việc bên tiếp vật độ sanh. Giả sử Bồ-đề, chân như, thật tế, giải thoát, pháp thân, thẳng đến Thập địa, bốn quả vị thánh đều là cửa hóa độ, không quan hệ Phật tâm. Tâm tức là Phật, nên nói: “Tất cả trong cửa tiếp độ, Phật tâm là bậc nhất.” Chỉ không tâm sanh tử phiền não v.v.. tức không cần đến pháp Bồ-đề v.v… nên nói: “Phật nói tất cả pháp để độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu dùng tất cả pháp” (Tổ Huệ Năng). Từ Phật đến Tổ không luận việc gì khác, chỉ luận một tâm, cũng nói là “Nhất thừa”, nên nói: “Tìm kỹ mười phương lại không có thừa khác, trong chúng này không còn nhánh lá, chỉ toàn hạt chắc” (Kinh Pháp Hoa). Bởi vì ý này khó tìm, nên tổ Đạt-ma sang xứ này đến hai nước Lương, Ngụy mà chỉ có một mình Huệ Khả đại sư thầm tin tâm mình, ngay một câu nói liền lãnh hội “tức tâm là Phật”. Thân tâm đều không, ấy là đại đạo. Đại đạo xưa nay bình đẳng, nên nói “tin sâu chúng hàm sanh đồng một chân tánh”. Tâm tánh không khác, tức tánh tức tâm, tâm không khác tánh, gọi đó là Tổ. Lại có câu: “Khi nhận được tâm tánh, nên nói không nghĩ bàn.”
Đoạn này tuy giải thích nhiều, nhưng điểm chính yếu đều chỉ thẳng tâm tức là Phật, ngoài tâm không có một pháp nào hơn. Kinh Pháp Hoa nói: “Tìm mười phương không có pháp nào khác.” Ngộ được tâm là thấy Phật, chúng ta bỏ quên tâm mà cầu Phật thì không bao giờ thấy Phật. Bao nhiêu hạnh khác nếu không ngộ được tâm thì cũng không giải thoát. Hiểu rõ ý này để biết cốt ngộ bản tâm là việc trên hết.
Sau này, tướng quốc Bùi Hưu đến trấn Uyển Lăng lập đại thiền uyển thỉnh Sư làm hóa chủ ở đó. Vì mến núi cũ nên Sư vẫn để hiệu là Hoàng Bá.
Một hôm, Sư thượng đường, đại chúng vân tập, Sư bảo:
– Các ngươi! Các ngươi muốn cầu cái gì?
Sư cầm trượng đuổi chúng. Đại chúng không tan. Sư lại ngồi xuống bảo:
– Các ngươi toàn là bọn ăn hèm, thế mà xưng hành cước để cho người chê cười. Thà cam thấy tám trăm, một ngàn người giải tán, chứ không thể chịu sự ồn náo. Ta khi đi hành cước hoặc gặp dưới bụi cỏ có một người, thì đem hết tâm tư xem xét việc ấy. Nếu biết ngứa ngáy khả dĩ lấy đãy đựng gạo cúng dường. Trong lúc đó, nếu dễ dàng như các ngươi hiện giờ thì làm gì có việc ngày nay. Các ngươi đã xưng là hành cước, cần phải có chút ít tinh thần như thế, mới có thể biết đạo. Trong nước Đại Đường không có thiền sư sao?
Có vị tăng ra hỏi:
– Bậc tôn túc ở các nơi họp chúng chỉ dạy, tại sao nói không thiền sư?
Sư bảo:
– Chẳng nói không thiền, chỉ nói không Sư. Xà-lê chẳng thấy sao, dưới Mã Tổ đại sư có tám mươi bốn người ngồi đạo tràng, song được chánh nhãn của Mã Tổ chỉ có hai ba người, hòa thượng Lê Sơn Quy Tông là một trong số ấy. Phàm người xuất gia phải biết sự phần từ trước mới được. Vả như, dưới Tứ Tổ, đại sư Ngưu Đầu Pháp Dung nói dọc nói ngang vẫn chưa biết then chốt hướng thượng. Có con mắt này mới biện được tông đảng tà chánh. Người hiện giờ không hay thể hội, chỉ biết học ngôn ngữ, nghĩ đặt vào trong đãy da, đến đâu cũng xưng là ta hội thiền, lại thay việc sanh tử cho ngươi được chăng? Khinh thường bậc lão túc vào địa ngục nhanh như tên bắn. Ta vừa thấy ngươi vào cửa liền biết được rồi. Lại biết chăng? Cần kíp nỗ lực chớ dung dị. Thọ nhận chén cơm manh áo của người mà để một đời qua suông, người sáng mắt chê cười. Ngươi thời gian sau hẳn sẽ bị người tục lôi đi. Phải tự xem xa gần cái gì là việc trên mặt? Nếu hội liền hội, nếu không hội giải tán đi. Trân trọng!
Một hôm, Sư thượng đường, đại chúng vân tập,
Sư bảo:
– Các ngươi! Các ngươi muốn cầu cái gì?
Sư cầm trượng đuổi chúng. Đại chúng không tan. Sư lại ngồi xuống bảo:
– Các ngươi toàn là bọn ăn hèm, thế mà xưng hành cước để cho người chê cười. Thà cam thấy tám trăm, một ngàn người giải tán, chứ không thể chịu sự ồn náo. Ta khi đi hành cước hoặc gặp dưới bụi cỏ có một người, thì đem hết tâm tư xem xét việc ấy. Nếu biết ngứa ngáy khả dĩ lấy đấy đựng gạo cúng dường. Trong lúc đó, nếu dễ dàng như các ngươi hiện giờ thì làm gì có việc ngày nay. Các ngươi đã xưng là hành cước, cần phải có chút ít tinh thần như thế, mới có thể biết đạo. Trong nước Đại Đường không có thiền sư sao?
Mới vào đầu, ngài chê toàn chúng là bọn ăn hèm, tu không thấy được chỗ đó mà xưng hành cước cho người chê cười. Thà cam thấy tám trăm, một ngàn người giải tán, chứ không thể chịu sự ồn náo. Ở đông đảo, ồn náo mà không thấy đạo, thà giải tán còn hơn.
Ngài kể, khi ta đi hành cước gặp được thiền sư có lời đạo lý, liền đem hết tâm tư xem xét nghiền ngẫm. Nếu biết ngứa ngáy khả dĩ lấy đây đựng gạo củng đường. Khi nào thấy có một mảy tin tức về con đường ấy thì sẵn sàng đem hết thân tâm để phụng sự cúng dường.
Nếu dễ dàng như các ngươi hiện giờ thì làm gì có việc ngày nay. Nếu trong khi đi hành cước mà coi thường, lôi thôi lười biếng, thì làm gì có việc ngày nay. Sở dĩ ta đem hết tâm tư, đem hết nghị lực, dòm thấy một chút tin tức là đem cả đời dùi mài, như vậy mới được. Việc này đâu phải chuyện dễ dàng. Hành cước phải có tinh thần như thế mới có thể đạt đạo.
Có vị tăng ra hỏi:
– Bậc tôn túc ở các nơi họp chúng chỉ dạy, tại sao nói không thiền sư?
Sư bảo:
Chẳng nói không thiền, chỉ nói không Sư. Xà lê chẳng thấy sao, dưới Mã Tổ đại sư có tám mươi bốn người ngồi đạo tràng, song được chánh nhãn của Mã Tổ chỉ có hai ba người, hòa thượng Lê Sơn Quy Tông là một trong số ấy.
Có thiền mà không có Sư. Bởi vì người thấy đạo thì nhiều mà người ngộ đạo đến chỗ cứu cánh thì rất ít. Cũng như bây giờ trong chúng đang nghe tôi giảng, có thể được sáu chục hay tám chục phần trăm hiểu mang máng. Nhưng người hiểu rồi tu được đến viên mãn rất ít. Cho nên nói chẳng nói không thiền, chỉ nói không Sư.
Phàm người xuất gia phải biết sự phần từ trước mới được. Vả như, dưới Tử Tổ, đại sư Ngưu Đầu Pháp Dung nói dọc nói ngang vẫn chưa biết then chốt hướng thượng. Có con mắt này mới biện được tông đảng là chánh.
Ngài Pháp Dung là người đáng kể mà thấy cũng chưa thông. Con mắt của ngài Hoàng Bá thật là sâu sắc. Ngài nhìn người thấu tận xương tủy, phân biệt rành rẽ.
Người hiện giờ không hay thể hội, chỉ biết học ngôn ngữ, nghĩ đặt vào trong đẩy da, đến đâu cũng xưng là ta hội thiền, lại thay việc sanh tử cho ngươi được chăng?
Cứ đem ngôn ngữ nhét vào cái xác này, cho là hội thiền, quý trọng nó, cho là giải thoát sanh tử, đó là sai lầm.
Khinh thường bậc lão túc vào địa ngục nhanh như tên bắn. Ta vừa thấy ngươi vào cửa liền biết được rồi. Lại biết chăng? Cần kíp nỗ lực chớ dung dị. Thọ nhận chén cơm manh áo của người mà để một đời qua suông, người sáng mắt chê cười. Ngươi thời gian sau hẳn sẽ bị người tục lôi đi. Phải tự xem xa gần cái gì là việc trên mặt? Nếu hội liền hội, nếu không hội giải tán đi. Trân trọng!
Ngài đuổi: Không hội thì đi. Ngài thấy mặt liền biết, không đợi suy nghĩ xét nét.
Lâm Tế Nghĩa Huyền đến hỏi:
– Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư liền đập một gậy. Đến ba phen hỏi, mỗi lần đều bị một gậy. Sau cùng, Lâm Tế phải từ giã Sư đi nơi khác. Sư dạy qua tham vấn Đại Ngu. Sau này Lâm Tế đắc ngộ ý chỉ của Sư.
Người thời nay đọc sử tới mấy đoạn này thấy thiền sư ngày xưa quá thô bạo, chỉ có đánh đập chứ không nói đạo lý, nhưng thật tình hành động của các ngài có ý nghĩa rất thâm trầm. Bởi vậy nếu chúng ta không lãnh hội được lý thiền thì không bao giờ tìm thấy được cái hay của nhà thiền. Chủ ý của tổ Hoàng Bá là chỉ thẳng chứ không chỉ quanh co. Người nào ngài mới chỉ thẳng như vậy? Người có căn khí đại thừa, có thể thừa đương đại sự mới được chỉ thẳng như thế. Như tướng quốc Bùi Hưu hỏi, ngài trả lời đâu đó rõ ràng. Là vì tướng quốc mà bị đánh thì từ giã liền, cho nên phải giải cho ông hiểu. Còn Lâm Tế là một con người rất kỳ đặc, ít nói thâm trầm cho nên Tổ đã thầm nhận, nhưng chưa nói ra. Khi Lâm Tế hỏi ngài liền dùng thủ thuật đó. Nhờ thủ thuật này, Lâm Tế sau khi ngộ rồi không còn ý niệm lăng xăng nữa. Vì vậy hệ Lâm Tế truyền bá rất lâu dài.
Chỗ chỉ dạy của Sư đều nhằm vào bậc thượng căn, người trung và hạ khó thấy được yếu chỉ.
Đời Đường khoảng niên hiệu Đại Trung (847-860), Sư tịch tại núi Hoàng Bá.
Nhà vua sắc thụy là Đoạn Tế thiền sư, tháp hiệu là Quảng Nghiệp.
Sư có làm bài kệ khích lệ chúng:
Trần lao quýnh thoát sự phi thường,
Hệ bả thằng đầu tố nhất trường.
Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt,
Tranh đắc mai hoa phốc tỹ hương.
Dịch:
Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường,
Đầu dây nắm chặt giữ lập trường.
Chẳng phải một phen xương lạnh buốt,
Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
Bài kệ nhắc nhở chúng ta thấy bổn phận của mình phải làm gì, đạt được gì, chứ không phải chuyện làm cho có chừng, làm để mà làm, làm trò cười cho thiên hạ. Đó là lời nhắc nhở rất chí thiết của thiền sư Hoàng Bá.
Sau này có một vị vua gọi ngài Hoàng Bá là Sa-môn Thô hạnh. Vì trong pháp hội của ngài có vị hoàng tử trốn vào tu, làm thư ký. Một hôm ngài từ trên chùa đi xuống, thư ký hỏi gì đó, ngài đánh cho một bạt tai. Về sau vua anh chết, vị tăng thư ký được triều đón về làm vua. Để nhớ ngày trước bị đánh nên vua gọi ngài là Sa-môn Thô hạnh.
Trong chùa, ngài dạy người bằng phương tiện đánh. Lâm Tế sau này được ngài đánh mà ngộ và nối pháp luôn. Lâm Tế cũng chuyên đánh với hét. Thầy trò có chỗ tương ưng nhau.
Sư họ Trần, quê ở Phúc Châu, xuất gia lúc còn bé, ở núi Hoàng Bá chuyên học Kinh Luật. Sư thường tự nghĩ: “Ta tuy cố gắng nhọc nhằn mà chưa nghe được lý huyền cực” (lý cao siêu tột cùng của đạo). Do đó Sư bèn một mình du phương, định sang Hồng Châu, đi Thượng Nguyên gặp một ông già bảo Sư: “Thầy nên đến Nam Xương sẽ có sở đắc.” Sự liền đi đến ra mắt Bá Trượng.
Lễ bái xong, Sư thưa:
– Con muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?
Bá Trượng bảo:
– Thật giống người cưỡi trâu tìm trâu.
– Sau khi biết thì thế nào?
– Như người cưỡi trâu về đến nhà.
– Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào?
– Như người chăn trâu cầm roi dòm chừng, không cho nó ăn lúa mạ của người.
Sư nhân đây lãnh hội ý chỉ, chẳng đi tìm đâu nữa.
Ngài thưa: Con muốn cầu biết Phật, thế nào là phải? Bá Trượng bảo: Thật giống người cưỡi trâu tìm trâu. Phật đâu ở ngoài mà đi tìm. Nếu tìm chẳng khác nào như vác Phật đi tìm Phật, hay cưỡi trâu đi tìm trâu. Phật ở ngay nơi mình.
Ngài hỏi thêm: Sau khi biết thì thế nào? Đáp: Như người cưỡi trâu về đến nhà. Nếu biết được thì như người cưỡi trâu về tới nhà, từ đó an ổn.
Ngài hỏi: Chẳng biết trước sau gìn giữ thế nào? Khi biết rồi phải gìn giữ làm sao để được an ổn. Tổ Bá Trượng dạy: Như người chăn trâu cầm roi dòm chừng, không cho nó ăn lúa mạ của người. Thật là giỏi chăn trâu. Từ đây, Tổ dạy rành rõ cách thức chăn trâu, sau này ngài dạy chúng cũng giống như vậy.
Nhân thiền sư Linh Hựu khai sáng tại Quy Sơn, Sư đích thân đến đó phụ tá. Đến khi Linh Hựu tịch, đại chúng thỉnh Sư tiếp nối trụ trì.
Sư thượng đường bảo chúng:
– Cả thảy các ngươi đến Đại An này tìm cầu cái gì? Nếu muốn làm Phật, các ngươi tự là Phật. Sao lại gánh Phật sang nhà bên cạnh tìm, luống tự nhọc nhằn? Ví như con nai khát nước mà chạy theo ánh nắng, biết bao giờ được khế hợp.
Các ngươi muốn làm Phật, chỉ cần không có những tâm: điên đảo, vin theo, vọng tưởng, nghĩ ác, cấu dục, chẳng sạch của chúng sanh, tức các ngươi là Phật chánh giác mới phát tâm, lại đến chỗ riêng nào luận bàn. Sở dĩ, Đại An này ở tại núi Quy ba mươi năm, ăn cơm núi Quy, đại tiện núi Quy, mà không học thiền núi Quy, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ, liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người, liền đánh đập điều phục nó. Đáng thương đã lâu chịu người rầy rà, hiện giờ nó đổi thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi.
Cả thảy các ngươi, mỗi người có hòn ngọc lớn vô giá, từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ, sáu cửa ngày đêm thường phóng quang sáng, cũng gọi là phóng quang tam-muội. Các ngươi tự chẳng biết, lại nhận bóng trong thân tứ đại. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ không dám chênh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu khỉ, không dám để sảy chân. Hãy nói vật gì có thể gìn giữ được? Như thế, không có một mảnh tơ một sợi tóc có thể thấy. Đâu chẳng nghe hòa thượng Chí Công nói: “Trong ngoài tìm kiếm trọn không ra. Trên cảnh thi vi gồm tất cả.”
Trân trọng!
Nhân thiền sư Linh Hựu khai sáng tại Quy Sơn, Sư đích thân đến đó phụ tá. Đến khi Linh Hựu tịch, đại chúng thỉnh Sư tiếp nối trụ trì.
Chúng ta đọc trong Quy Sơn Cảnh Sách có lời tựa cũng để tổ Quy Sơn Đại An. Đó là lời tựa của thiền sư Đại An tổ thứ hai ở núi Quy Sơn. Tổ thứ nhất là Linh Hựu.
Sư thượng đường bảo chúng:
– Cả thảy các ngươi đến Đại An này tìm cầu cái gì? Nếu muốn làm Phật, các ngươi tự là Phật. Sao lại gánh Phật sang nhà bên cạnh tìm, luống tự nhọc nhằn? Ví như con nai khát nước mà chạy theo ánh nắng, biết bao giờ được khế hợp.
Hồi xưa ngài cũng từng tìm như vậy và bị quở, bây giờ ngài quở lại học nhân. Khát nước mà thấy ánh nắng ở xa chập chờn, lầm tưởng là nước chạy tìm, chạy chừng nào mới thấy được nước?
Các ngươi muốn làm Phật, chỉ cần không có những tâm: điên đảo, vin theo, vọng tưởng, nghĩ ác, cấu dục, chẳng sạch của chúng sanh, tức các ngươi là Phật chánh giác mới phát tâm, lại đến chỗ riêng nào luận bàn.
Muốn cầu Phật, chỉ cần buông những tâm đó thì đã là Phật chánh giác mới phát tâm.
Sở dĩ, Đại An này ở tại núi Quy ba mươi năm, ăn cơm núi Quy, đại tiện núi Quy, mà không học thiền núi Quy, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ, liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người, liền đánh đập điều phục nó. Đáng thương đã lâu chịu người rầy rà, hiện giờ nó đổi thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi.
Không tu thiền học đạo gì hết, chỉ biết chăn trâu tâm thôi. Con trâu hồi xưa là con trâu đen, chạy đi đầu này đầu kia, lôi kéo đánh đập riết rồi nó thành con trâu trắng đứng sờ sờ trước mặt.
Cả thảy các ngươi, mỗi người có hòn ngọc lớn vô giá, từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ, sáu cửa ngày đêm thường phóng quang sáng, cũng gọi là phóng quang tam-muội. Các ngươi tự chẳng biết, lại nhận bóng trong thân tứ đại. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ không dám chênh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu khỉ, không dám để sảy chân. Hãy nói vật gì có thể gìn giữ được? Như thế, không có một mảnh tơ một sợi tóc có thể thấy. Đâu chẳng nghe hòa thượng Chí Công nói: “Trong ngoài tìm kiếm trọn không ra. Trên cảnh thi vi gồm tất cả.”
Trân trọng!
Ngài giảng rất thấu đáo. Mỗi người đều có hòn ngọc lớn vô giá nằm sẵn bên trong. Từ cửa mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ. Từ lỗ tai phóng quang lãnh nhận phân biệt tất cả âm thanh lành dữ. Sáu cửa ngày đêm thường phóng quang, cho nên gọi là phóng quang tam-muội.
Ở đây ngài Đại An nói hòn ngọc phóng quang ra sáu cửa. Ngài Vân Nham Đàm Thạnh nói con sư tử múa được sáu suất. Như vậy nếu nơi tâm lắng lặng thanh tịnh sáng suốt thì sáu cửa này đều là sáu cửa phóng quang, không lỗi lầm, không còn là sáu đạo tặc nữa.
Ngài quở chúng ta: Các ngươi tự chẳng biết, lại nhận bóng trong thân tứ đại. Nhận cái bóng tức là nhận tâm sanh diệt trong thân tứ đại là mình. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ không dám chênh nghiêng. Thân tứ đại mà chúng ta hiện mang đây là do tứ đại bên trong kết hợp với tứ đại bên ngoài phụ giúp vào. Nếu hơi nghiêng một chút như nóng nhiều hơn lạnh thì đâm ra nhức đầu khó chịu. Lạnh nhiều hơn nóng cũng bệnh. Như người gánh nặng đi qua cây cầu khỉ, nếu hơi nghiêng một chút thì nhào mình xuống nước, không thể tránh khỏi. Chúng ta cũng vậy, ngay nơi thân tứ đại này mà có một đại nghiêng thì có thể chết liền. Gìn giữ hoài không được.
Như thế, không có một mảnh tơ một sợi tóc có thể thấy. Thân tứ đại không thật, bóng dáng con trâu cũng không thật, tất cả là vô thường. Cái thật của chúng ta là hòn ngọc phóng quang mà mình không thấy.
Ngài dẫn lời của hòa thượng Chí Công: Trong ngoài tìm kiếm trọn không ra. Trong thân và ngoài thân, bóng dáng của sáu trần đều không thật. Trên cảnh thi vị gồm tất cả. Ngay trên cảnh đó mà hành động thì mọi động dụng đều bao gồm hết, không thiếu.
Có vị tăng hỏi Sư:
Tất cả thi vi là dụng của pháp thân, thế nào là pháp thân?
Sư đáp:
– Tất cả thi vi là dụng của pháp thân.
– Lìa năm uẩn, thế nào là thân xưa nay?
– Đất nước gió lửa, thọ tưởng hành thức.
– Cái ấy là năm uẩn.
– Cái ấy khác năm uẩn.
Có vị tăng hỏi Sư:
Tất cả thi vi là dụng của pháp thân, thế nào là pháp thân?
Sư đáp:
– Tất cả thi vi là dụng của pháp thân.
Hai câu đều nhắm thẳng vào pháp thân. Ngài khẳng định bằng cách lặp lại: Tất cả thi vi là dụng của pháp thân.
Vị tăng hỏi tiếp: Lìa năm uẩn, thế nào là thân xưa nay? Thân xưa nay tức là pháp thân, nên ngài đáp: Đất nước gió lửa, thọ tưởng hành thức. Ngay năm uẩn là có pháp thân. Nếu lìa năm uẩn mà kiếm pháp thân thì chẳng khác nào tìm ngọc ở ngoài hư không. Ngài trả lời mà như không trả lời, nhưng thực tình ngài đâu cô phụ lời hỏi. Chỉ vì chúng ta không biết rồi sanh nghi.
– Cái ấy là năm uẩn.
– Cái ấy khác năm uẩn.
Ngài không đáp như ngài Thiện Hội: “Pháp thân là vô tướng”. Bởi vì quan niệm của người học quen phân chia, tưởng pháp thân rời năm uẩn mà có. Đâu ngờ rời năm uẩn thì pháp thân chẳng hiện.
Tăng hỏi:
– Khi ấm này mất, ấm kia chưa sanh thì thế nào?
Sư bảo:
– Ấm này chưa mất, cái gì là Đại đức?
– Chẳng hội.
– Nếu hội ấm này liền rõ ấm kia.
Tăng hỏi: Khi ấm này mất, ấm kia chưa sanh thì thế nào? Tiền ấm mất, hậu ấm chưa sanh tức là sau khi chết rồi, lúc đó thế nào?
Ngài hỏi lại: Ấm này chưa mất, cái gì là Đại đức? Ngay khi sống, ông đã biết ông là ai. Sống không biết, hỏi chết làm gì.
– Chẳng hội.
– Nếu hội ấm này liền rõ ấm kia.
Ngay ấm này mà ông biết thì ấm kia cũng biết liền. Ấm này không hội thì ấm kia cũng không biết. Nếu chúng ta bị người hỏi thì cứ theo câu hỏi mà trả lời, trả lời như không trả lời, làm cho họ mê thêm. Thiền sư thì không như vậy, hỏi là chỉ thẳng. Cho nên, thiền sư thật là người trả lời, trả lời để ngộ, không ngộ thì thôi.
Hòa thượng Tuyết Phong nhân vào núi lượm được một nhánh cây hình giống con rắn, đề trên lưng một câu: “Vốn tự thiên nhiên chẳng nhờ bào gọt”, gửi tặng Sư.
Sư nhận, nói:
– Người bản sắc ở núi, vẫn không vết dao búa.
Có người hỏi Sư:
– Phật ở chỗ nào?
Sư đáp:
– Chẳng lìa tâm.
Người ấy hỏi:
– Thượng nhân Song Phong có sở đắc gì?
– Pháp không có chỗ được, dù có chỗ được, được vốn không được.
Sư giáo hóa ở thành Mân (tỉnh Phúc Kiến) hơn hai mươi năm.
Đời Đường niên hiệu Trung Hòa năm thứ ba (883), ngày hai mươi hai tháng mười, Sư trở về chùa Hoàng Bá, có chút bệnh rồi tịch. Môn đồ xây tháp thờ Sư trên núi Lăng-già.
Vua ban hiệu là Viên Trí thiền sư, tháp hiệu Chứng Chơn.
Sư quê ở Phúc Châu, xuất gia tại chùa Đại Trung quận nhà. Sau, Sư đi hành cước gặp Bá Trượng Hoài Hải chỉ dạy được khai ngộ.
Sư trở về quê, thầy bổn sư hỏi:
– Ngươi rời ta đi các nơi, đã được sự nghiệp gì?
Sư thưa:
– Hoàn toàn không có sự nghiệp.
Bổn sư sai hầu hạ như trước.
Câu này ngài đáp rõ, nhưng vị bổn sư không hiểu, tưởng như vậy là học không nên trò trống gì, cho nên sai hầu hạ như trước.
Một hôm, nhân bổn sư tắm, bảo Sư kỳ đất. Sư bèn vỗ vào lưng bổn sư nói:
– Chỗ điện Phật đẹp mà Phật chẳng thánh. Bổn sư xoay đầu ngó lại.
Sư nói tiếp:
– Phật tuy chẳng thánh vẫn hay phóng quang.
Điện Phật đẹp nhưng Phật chẳng thánh, tức là chỗ đó chưa sáng. Phật tuy chẳng thánh nhưng mà biết phóng quang. Bởi vì cái đó ai cũng có sẵn, nhưng không phải ai cũng biết nhận ra. Ông thầy nghe điên đầu, không hiểu học trò nói gì, nên làm thinh thông qua, vì chưa để ý.
Lại một hôm, bổn sư ngồi nơi cửa sổ xem kinh, có con ong chui đầu vào tấm giấy dán ở cửa sổ tìm lối ra. Sư trông thấy nói:
– Thế giới thênh thang như thế mà chẳng chịu ra, dùi đầu vào giấy cũ biết năm nào ra được?
Sư liền nói bài kệ:
Không môn bất khẳng xuất,
Đầu song đã thái sin
Bách niên toàn cố chỉ,
Hà nhật xuất đầu thì?
Dịch:
Cửa Không chẳng chịu ra,
Quá ngu chui cửa sổ,
Giấy cũ trăm năm dùi,
Ngày nào dùi được phủng?
Bổn sư để kinh xuống hỏi:
– Ngươi đi hành cước gặp người nào, ta trước sau nghe ngươi nói lời dị thường?
Sư thưa:
– Con nhờ ơn hòa thượng Bá Trượng chỉ được chỗ thôi dứt, nay muốn đáp lại đức từ bi.
Bổn sư bèn bảo chúng đến giờ trai, thỉnh Sư thuyết pháp. Sư lên tòa đề cao môn phong của Bá Trượng, nói:
– Linh quang riêng chiếu vượt khỏi căn trần, bày hiện chân thường chẳng câu nệ văn tự. Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
Bổn sư nghe câu này liền cảm ngộ, bảo:
– Ngờ đâu lão tăng nghe được việc tột thế này!
Lại một hôm, bổn sư ngồi nơi cửa sổ xem kinh, có con ong chui đầu vào tấm giấy dán ở cửa sổ tìm lối ra. Sư trông thấy nói:
– Thế giới thênh thang như thế mà chẳng chịu ra, dùi đầu vào giấy cũ biết năm nào ra được?
Sư liền nói bài kệ:
Không môn bất khẳng xuất,
Đầu song đã thái sin
Bách niên toản cố chỉ,
Hà nhật xuất đầu thì?
Dịch:
Cửa Không chẳng chịu ra,
Quá ngu chui cửa sổ,
Giấy cũ trăm năm dùi,
Ngày nào dùi được phủng?
Bài kệ thật hay. Không môn bất khẳng xuất, tức là cửa Không rỗng rang mênh mông mà không chịu ra. Đầu song dã thái si, gieo đầu vào trong cửa sổ dán giấy là ngu quá. Bách niên toản cố chỉ, trăm năm cứ dùi đầu trong giấy cũ thì chừng nào chui ra khỏi được.
Bổn sư để kinh xuống hỏi:
– Ngươi đi hành cước gặp người nào, ta trước sau nghe ngươi nói lời dị thường?
Sư thưa:
– Con nhờ ơn hòa thượng Bá Trượng chỉ được chỗ thôi dứt, nay muốn đáp lại đức từ bi.
Hôm trước nói một lần cũng dị thường, bữa nay nói nghe cũng dị thường. Nếu chúng ta làm bổn sư, chắc lúc đó sẽ nổi giận. Nhưng vị thầy này nghe học trò nói thế liền nhận ra.
Người tu chúng ta nhận được bản tâm thì thênh thang, đầy khắp. Cái đó lớn lao rộng rãi mà không chịu nhận, cứ cắm đầu trong khuôn khổ, giấy tờ mà chết chìm trong đó. Thành ra bài kệ này các học giả nghe buồn lắm.
Chúng ta phải tu để thấy cái rỗng rang thênh thang đó. Thời nay có bệnh sợ, sợ không có gì để dùi mài, thành ra kẹt trong sách vở hoài. Như vậy là dở, tu hành phải sống được với chỗ rỗng rang sáng suốt, đừng để mắc kẹt trên chữ nghĩa.
Bổn sư bèn bảo chúng đến giờ trai, thỉnh Sư thuyết pháp. Sự lên tòa đề cao môn phong của Bá Trượng, nói:
– Linh quang riêng chiếu vượt khỏi căn trần, bày hiện chân thường chẳng câu nệ văn tự. Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
Đây là câu cốt tủy của nhà thiền.
Bổn sư nghe câu này liền cảm ngộ, bảo:
– Ngờ đâu lão tăng nghe được việc tột thế này!
Thật hay! Vị thầy như vậy cũng là bậc hy hữu. Thiền sư Thần Tán sống được thế ấy mới thật là đền ơn thầy tổ. Chứ còn lo cơm cháo, quần áo thôi chưa đủ. Đền ơn đức từ bi của thầy là như vậy.
Linh quang riêng chiếu vượt khỏi căn trần, nghĩa là mỗi chúng ta đều có cái linh quang. Nơi ngài Đại An gọi là hòn ngọc sáng riêng chiếu vượt khỏi căn trần. Luôn luôn hiện bày thể chân thường, không mắc kẹt trong văn tự. Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành. Muốn được nó, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật. Thầy bổn sư nghe liền nhận ra được cái đó.
Sau, Sư đến trụ trì tại chùa Cổ Linh, giáo hóa đồ chúng được mấy trăm. Sắp tịch, Sư cạo tóc tắm gội bảo đánh chuông, gọi chúng dặn:
– Cả thảy các ngươi có biết tam-muội vô thanh (chánh định không tiếng) chăng?
Chúng thưa:
– Chẳng biết.
Sư bảo:
– Các ngươi lắng nghe chớ có suy nghĩ riêng khác.
Chúng đều lắng nghe. Sự an nhiên thị tịch.
Đây là chánh định không tiếng, vào đó thì yên lặng ngàn đời. Chúng ta thấy ngài sửa soạn ra đi một cách tự tại. Các ngươi biết cái đó không? Nói: Chẳng biết. Không biết thì thôi lắng nghe, thiền sư ngồi im lặng ra đi.
Ngài trụ trì tại chùa Cổ Linh, nên còn được gọi là Cổ Linh Thần Tán.
Sư họ Trịnh, quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm xứ Vụ Châu. Tính Sư điềm đạm ít nói mà thông minh, nên thời nhân gọi là Vô Ngôn Thông.
Sư lễ Phật, có một thiền khách hỏi:
– Tọa chủ lễ đó là cái gì?
Sư đáp:
– Là Phật.
Thiền khách bèn chỉ tượng Phật hỏi:
– Cái này là vật gì?
Sư không đáp được.
Đến tối, Sư y phục chỉnh tề đến lễ thiền khách, thưa:
– Hôm nay Thầy hỏi, tôi chưa biết ý chỉ thế nào?
Thiền khách hỏi:
– Tọa chủ được mấy hạ?
Sư thưa:
– Mười hạ.
Thiền khách bảo:
– Đã từng xuất gia chưa?
Sư càng thêm mờ mịt.
Thiền khách nói:
– Nếu như chẳng hội, thì dù trăm hạ cũng đâu lợi ích gì!
Thiền khách khuyên Sư đồng đến tham học với Mã Tổ. Đi đến Giang Tây nghe tin Mã Tổ đã tịch, bèn đến yết kiến Bá Trượng Hoài Hải.
Sư họ Trịnh, quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm xứ Vụ Châu. Tính Sư điềm đạm ít nói mà thông minh, nên thời nhân gọi là Vô Ngôn Thông.
Vô Ngôn Thông là tên thời nhân gọi. Thời xưa trong chùa ai có tính cách như thế nào thì đại chúng gọi như vậy, không phải là tên của thầy đặt.
Sư lễ Phật, có một thiền khách hỏi:
Tọa chủ lễ đó là cái gì?
Sư đáp:
– Là Phật.
Thiền khách bèn chỉ tượng Phật hỏi:
– Cái này là vật gì?
Sư không đáp được.
Đến tối, Sư y phục chỉnh tề đến lễ thiền khách, thưa: – Hôm nay Thầy hỏi, tôi chưa biết ý chỉ thế nào?
Thiền khách hỏi:
– Tọa chủ được mấy hạ?
Sư thưa:
– Mười hạ.
Thiền khách bảo:
– Đã từng xuất gia chưa?
Sư càng thêm mờ mịt.
Vị thiền khách này cắc cớ, chỉ tượng Phật hỏi cái này là gì? Mười hạ rồi mà hỏi đã từng xuất gia chưa? Xuất gia là xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Người chưa kiến tánh thì chưa ra khỏi tam giới, nên tuy mười hạ mà cũng như chưa xuất gia. Nếu như chẳng hội, thì dù trăm hạ cũng đâu lợi ích gì!
Thiền khách khuyên Sư đồng đến tham học với Mã Tổ. Đi đến Giang Tây nghe tin Mã Tổ đã tịch, bèn đến yết kiến Bá Trượng Hoài Hải.
Một hôm trong giờ tham vấn, có vị tăng hỏi Bá Trượng:
– Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?
Bá Trượng đáp:
– Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu.
Nghe câu này, Sư hoát nhiên đại ngộ.
Nghe một câu: Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu, liền đại ngộ. Trước đó ngài đã từng hỏi nhiều thiện tri thức câu này, hỏi hoài mà không ngộ. Tới chỗ Bá Trượng ngài hết muốn hỏi, nhưng khi vị tăng khác hỏi thì ngài ngộ.
Sau, Sư về Quảng Châu trụ trì tại chùa Hòa An.
Có người hỏi:
– Thầy phải thiền sư chăng?
Sư đáp:
– Bần đạo chẳng từng học thiền.
Sư lặng thinh giây lâu, gọi người kia.
Người kia đáp:
– Dạ!
Sư chỉ cây tông lư (cây cọ, cây gồi).
Một hôm, Sư bảo Ngưỡng Sơn Huệ Tịch đem giường lại. Huệ Tịch đem đến. Sư bảo:
– Đem lại chỗ cũ.
Huệ Tịch vâng theo.
Sư hỏi:
– Cái giường ở bên này là vật gì?
– Không vật.
– Cái giường để bên kia là vật gì?
– Không vật.
Sư gọi:
– Huệ Tịch!
Huệ Tịch đáp:
– Dạ!
Sư bảo:
– Di!
Đó là thuật của ngài dùng để giáo hóa đồ chúng. Ngài là vị Tổ của phái Thiền thứ hai ở Việt Nam.
Năm Canh Tý niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường (820), Sư sang Việt Nam ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng (Bắc Ninh). Ở đây trọn ngày, Sư ngồi xoay mặt vào vách suốt mấy năm mà không ai biết, chỉ thiền sư Cảm Thành (trụ trì chùa) biết Sư là vị cao tăng đắc đạo trong nhà thiền. Cảm Thành hết lòng kính trọng tôn thờ Sư làm thầy.
Một hôm, Sư gọi Cảm Thành đến bảo:
– Ngày xưa tổ sư Nam Nhạc (Hoài Nhượng) khi
sắp tịch có dặn mấy lời:
Nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sanh,
Tâm vô sở sanh pháp vô sở trụ.
Nhược đạt tâm địa sở tác vô ngại,
Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.
Dịch:
Tất cả các pháp đều từ tâm sanh,
Tâm không chỗ sanh, pháp không chỗ trụ.
Nếu đạt tâm địa, việc làm không ngại,
Chẳng gặp thượng căn dè dặt chớ dạy.
Nói xong, Sư chắp tay thị tịch, nhằm năm Bảo Lịch thứ hai đời Đường (826).
Cảm Thành rước Sư lên hỏa đàn, thu hài cốt xây tháp thờ ở núi Tiên Du.
Phần lịch sử của ngài ở trong Thiền Sư Việt Nam sẽ giảng rõ hơn.
Vua Đường Tuyên Tông hỏi Sư:
– Thiền tông sao có tên Nam, Bắc?
Sư đáp:
– Thiền môn vốn không có Nam, Bắc. Xưa Như Lai đem chánh pháp nhãn trao cho tổ Đại Ca-diếp, lần lượt truyền nhau đến đời thứ hai mươi tám là tổ Bồ-đề-đạt-ma. Tổ Đạt-ma sang phương này (Trung Hoa) là Sơ tổ, truyền đến vị tổ thứ năm là đại sư Hoằng Nhẫn. Tổ Hoằng Nhẫn mở bày chánh pháp ở Đông Sơn có hai đệ tử lỗi lạc là Huệ Năng và Thần Tú. Đại sư Huệ Năng được truyền y bát, về ở Lãnh Nam làm Tổ thứ sáu. Đại sư Thần Tú ở phương Bắc giáo hóa. Sau này đệ tử sư Thần Tú là Phổ Tịch lập thầy mình lên làm Tổ thứ sáu, rồi tự xưng là Tổ thứ bảy. Hai vị ấy được pháp là một, mà mở đạo khai ngộ có đốn tiệm khác nhau, cho nên gọi là Nam đến Bắc tiệm. Chẳng phải Thiền tông sẵn có tên Nam, Bắc vậy.
– Thế nào gọi là giới?
– Ngừa lỗi dừng ác gọi là giới.
– Sao gọi là định?
– Sáu căn tiếp xúc với cảnh mà tâm không duyên theo là định.
– Sao là tuệ?
– Tâm cảnh đều không, chiếu soi chẳng lầm là tuệ.
– Sao là phương tiện?
– Phương tiện là cửa khéo léo tạm thời ẩn che tướng thật, để giáo hóa bậc trung hạ căn, chiều uốn dẫn dụ họ gọi là phương tiện. Dù là bậc thượng căn nói bỏ phương tiện chỉ nói đạo vô thượng, đây cũng là nói phương tiện. Cho đến Tổ sư dùng lời huyền diệu quên công bặt lời, cũng không vượt ngoài dấu vết phương tiện.
– Sao là Phật tâm?
– Phật là tiếng Ấn Độ, Trung Hoa gọi là Giác. Nghĩa là người có trí tuệ giác chiếu là Phật tâm. Tâm là tên riêng của Phật. Có trăm ngàn tên khác mà nghĩa là một, vốn không có hình trạng, chẳng phải tướng xanh vàng đỏ trắng, nam nữ v.v… ở nơi trời mà chẳng phải trời, ở nơi người mà chẳng phải người, mà hay hiện trời người, hiện nam nữ, chẳng trước chẳng sau, không sanh không diệt, cho nên gọi là tánh linh giác. Như bệ hạ hằng ngày ứng dụng muôn việc tức là Phật tâm của bệ hạ. Giả sử được ngàn vị Phật đồng truyền, vẫn không nghĩ mình có sở đắc.
– Như nay có người niệm Phật là sao?
Như Lai ra đời là bậc thầy thiện tri thức của người. Ngài tùy căn cơ nói pháp, vì bậc thượng căn mở Tối thượng thừa đốn ngộ lý cùng tột, vì bậc trung hạ căn chưa có thể chóng hiểu, do đây Phật vì bà Vi-đề-hy tạm mở cửa “mười sáu pháp quán” dạy niệm Phật sanh về Cực lạc. Cho nên kinh nói: “Tức tâm tức Phật, tâm ấy là Phật, ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm.”
– Có người tụng kinh, trì chú, niệm Phật để cầu Phật thì thế nào?
– Như Lai mở bày các thứ đều vì một thừa tối thượng, như trăm sông đều chảy về biển. Các pháp sai biệt như thế đều trở về biển Tát-bà-nhã (Phật trí).
– Tổ sư đã khế hội tâm ấn, kinh Kim Cang nói “không có pháp sở đắc” là sao?
– Phương pháp giáo hóa của Phật thật không có một pháp cho người. Chỉ vì chỉ dạy cho mọi người, tự tánh mỗi người đều có một kho pháp bảo. Chính khi Phật Nhiên Đăng ấn chứng cho Phật Thích-ca pháp căn bản ấy, Phật Thích-ca không có sở đắc mới khế hội bản ý của Phật Nhiên Đăng. Cho nên Kinh nói: “Không ngã không nhân không chúng sanh không thọ giả, pháp ấy bình đẳng, tu tất cả pháp lành mà chẳng trụ nơi tướng”
– Thiền sư đã hội ý Tổ, lại có lễ Phật tụng kinh chăng?
– Sa-môn Thích tử lễ Phật tụng kinh là pháp thường của trụ trì, có bốn quả báo vậy. Song y Phật giới để tu thân, tìm học với các bậc thiện tri thức để tập tu hạnh thanh bạch, bước theo dấu Như Lai đã đi.
– Sao là đốn ngộ? Sao là tiệm tu?
– Chóng thấy tự tánh cùng Phật đồng bậc, song còn có tập nhiễm từ vô thủy nên mượn tiệm tu để đối trị, khiến theo tánh khởi dụng. Như người ăn cơm không thể một miếng được no.
Hôm ấy, Sư đối đáp với vua bảy khắc. Vua ban cho Sư ca-sa tử y và hiệu là Viên Trí thiền sư.
Thiền sư Hoằng Biện nối pháp thiền sư Chương Kỉnh Hoài Uẩn.
Vua Đường Tuyên Tông hỏi Sư:
– Thiền tông sao có tên Nam, Bắc?
Sư đáp:
– Thiền môn vốn không có Nam, Bắc. Xưa Như Lai đem chánh pháp nhãn trao cho tổ Đại Ca-diếp, lần lượt truyền nhau đến đời thứ hai mươi tám là tổ Bồ-đề-đạt-ma. Tổ Đạt-ma sang phương này (Trung Hoa) là Sơ tổ, truyền đến vị tổ thứ năm là đại sư Hoằng Nhẫn. Tổ Hoằng Nhẫn mở bày chánh pháp ở Đông Sơn có hai đệ tử lỗi lạc là Huệ Năng và Thần Tú. Đại sư Huệ Năng được truyền y bát, về ở Lãnh Nam làm Tổ thứ sáu. Đại sư Thần Tú ở phương Bắc giáo hóa. Sau này đệ tử sư Thần Tú là Phổ Tịch lập thầy mình lên làm Tổ thứ sáu, rồi tự xưng là Tổ thứ bảy. Hai vị ấy được pháp là một, mà mở đạo khai ngộ có đốn tiệm khác nhau, cho nên gọi là Nam đốn Bắc tiệm. Chẳng phải Thiền tông sẵn có tên Nam, Bắc vậy.
Đoạn này dễ hiểu, ngài nói đã rõ. Nhà vua hỏi tiếp:
– Thế nào gọi là giới?
– Ngừa lỗi dừng ác gọi là giới.
– Sao gọi là định
Sáu căn tiếp xúc với cảnh mà tâm không duyên theo là định.
– Sao là tuệ?
– Tâm cảnh đều không, chiếu soi chẳng lầm là tuệ.
Tâm cảnh cả hai đều không, chiếu soi chẳng lầm, đó là tuệ. Định tuệ này là định tuệ đúng theo tinh thần Thiền tông.
– Sao là phương tiện?
– Phương tiện là cửa khéo léo tạm thời ẩn che tướng thật, để giáo hóa bậc trung hạ căn, chiều uốn dẫn dụ họ gọi là phương tiện. Dù là bậc thượng căn nói bỏ phương tiện chỉ nói đạo vô thượng, đây cũng là nói phương tiện. Cho đến Tổ sư dùng lời huyền diệu quên công bặt lời, cũng không vượt ngoài dấu vết phương tiện.
Pháp môn trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật, đó là phương pháp tuyệt vời cao vót, nhưng cũng là phương tiện. Bởi vì cái ấy là cái không tên không lời, không danh tự. Mượn ngôn lời danh tự để chỉ cái ấy thì đều là phương tiện. Hiểu như vậy mới thấy tất cả hành động như đưa tay, nhướn mắt, đánh hét đều là phương tiện.
– Sao là Phật tâm?
– Phật là tiếng Ấn Độ, Trung Hoa gọi là Giác. Nghĩa là người có trí tuệ giác chiếu là Phật tâm. Tâm là tên riêng của Phật. Có trăm ngàn tên khác mà nghĩa là một, vốn không có hình trạng, chẳng phải tướng xanh vàng đỏ trắng, nam nữ v.v… ở nơi trời mà chẳng phải trời, ở nơi người mà chẳng phải người, mà hay hiện trời người, hiện nam nữ, chẳng trước chẳng sau, không sanh không diệt, cho nên gọi là tánh linh giác. Như bệ hạ hằng ngày ứng dụng muôn việc tức là Phật tâm của bệ hạ. Giả sử được ngàn vị Phật đồng truyền, vẫn không nghĩ mình có sở đắc.
Phật tâm nghĩa là chỉ tâm mình là Phật. Tâm ấy khởi ra diệu dụng hằng sa nhưng tất cả các dụng ấy không ngoài tâm Phật.
– Như nay có người niệm Phật là sao?
– Như Lai ra đời là bậc thầy thiện tri thức của người. Ngài tùy căn cơ nói pháp, vì bậc thượng căn mở Tối thượng thừa đốn ngộ lý cùng tột, vì bậc trung hạ căn chưa có thể chóng hiểu, do đây Phật vì bà Vi-đề-hy tạm mở cửa “mười sáu pháp quán” dạy niệm Phật sanh về Cực lạc. Cho nên kinh nói: “Tức tâm tức Phật, tâm ấy là Phật, ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm.”
Đây là phương tiện của Phật mở ra để cứu những người trung hạ căn, không nên cố chấp.
– Có người tụng kinh, trì chú, niệm Phật để cầu Phật thì thế nào?
– Như Lai mở bày các thứ đều vì một thừa tối thượng, như trăm sông đều chảy về biển. Các pháp sai biệt như thế đều trở về biển Tát-bà-nhã.
Như vậy mỗi pháp dạy tuy khác nhưng rốt cuộc đều về biển nhất thiết trí, không khác.
– Tổ sư đã khế hội tâm ấn, kinh Kim Cang nói “không có pháp sở đắc” là sao?
Phương pháp giáo hóa của Phật thật không có một pháp cho người. Chỉ vì chỉ dạy cho mọi người, tự tánh mỗi người đều có một kho pháp bảo. Chính khi Phật Nhiên Đăng ấn chứng cho Phật Thích-ca pháp căn bản ấy, Phật Thích-ca không có sở đắc mới khế hội bản ý của Phật Nhiên Đăng. Cho nên Kinh nói: “Không ngã không nhân không chúng sanh không thọ giả, pháp ấy bình đẳng, tu tất cả pháp lành mà chẳng trụ nơi tướng.”
Như vậy chính pháp không sở đắc mới gọi là đắc pháp.
– Thiền sư đã hội ý Tổ, lại có lễ Phật tụng kinh chăng?
Sa-môn Thích tử lễ Phật tụng kinh là pháp thường của trụ trì, có bốn quả báo vậy. Song y Phật giới để tu thân, tìm học với các bậc thiện tri thức để tập tu hạnh thanh bạch, bước theo dấu Như Lai đã đi.
Lễ Phật, tụng kinh là chuyện thường ai cũng làm, nhưng cốt yếu là phải làm sao bước theo dấu của Phật đã đi, đó mới là chính yếu.
– Sao là đốn ngộ? Sao là tiệm tu?
– Chóng thấy tự tánh cùng Phật đồng bậc, song còn có tập nhiễm từ vô thủy nên mượn tiệm tu để đối trị, khiến theo tánh khởi dụng. Như người ăn cơm không thể một miếng được no.
Đốn ngộ là đốn ngộ tự tánh, tiệm tu là tu những tập nhiễm từ vô thủy.
Hôm ấy, Sư đối đáp với vua bảy khắc. Vua ban cho Sư ca-sa tử y và hiệu là Viên Trí thiền sư.
Thời xưa chia ra một ngày thành trăm khắc. Bảy khắc gần hai giờ đồng hồ.
Sư họ Liễu, quê ở Dương Châu, xuất gia tại chùa Hoa Lâm ở bản châu. Đời Đường niên hiệu Nguyên Hòa năm đầu (806), Sư đến Nhuận Châu thọ giới ở chùa Thiên Hương. Sư không thích học tập Kinh Luận, chỉ mộ tu thiền.
Sư tìm đến yết kiến thiền sư Hoài Uẩn (Chương Kỉnh). Hoài Uẩn hỏi:
– Ở đâu đến?
Sư thưa:
– Đến không chỗ đến, lại không chỗ lại.
Hoài Uẩn lặng thinh, Sư thầm khế hội.
Hỏi từ đâu đến, ngài nói đến không chỗ đến, lại không chỗ lại. Ngài Hoài Uẩn im lặng, còn ngài lãnh hội, đơn giản như vậy, không cần phải thêm gì nữa.
Niên hiệu Khai Thành năm đầu (836 TL), Sư sang Phúc Châu đến ấp Trường Khê có Trần Lượng, Hoàng Du thỉnh Sư ở tại núi Quy giáo hóa.
Một hôm Sư dạy chúng:
– Nheo mày chớp mắt chẳng ngoài người này (người chân thật), một niệm tịnh tâm xưa nay là Phật.
Sư nói kệ:
Dịch:
Tâm bản tuyệt trần hà dụng tẩy,
Thân trung vô bệnh khởi cầu y,
Dục tri thị Phật phi thân xử,
Minh giám cao huyền vị chiếu thì.
Tâm vốn bặt trần đâu cần rửa,
Trong thân không bệnh rước thầy chị,
Phật kia chẳng phải nơi thân ở,
Gương sáng treo cao chưa chiếu gì.
Gặp thời Võ Tôn (841-846 TL) hủy diệt Phật giáo, bắt tăng còn trẻ phải hoàn tục, Sư cũng phải hoàn tục.
Lúc ấy Sư có làm hai bài kệ dạy chúng:
1- Minh nguyệt phân hình xứ xứ tân,
Bạch y ninh trụy giải không nhân,
Thùy ngôn tại tục phương tu đạo?
Kim Túc tằng vị trưởng giả thân.
2-Nhẫn Tiên lâm hạ tọa thiền thì,
Tằng bị Ca Vương cát tài chị,
Huống ngã thánh triều vô thử sự,
Chỉ kim hưu đạo diệc hà bi?
Dịch:
1- Trăng sáng phân hình chỗ chỗ trong,
Bạch y há kéo người “giải không”,
Tại gia ai bảo tu học khó?
Kim Túc từng làm trưởng giả thân.
2- Nhẫn Tiên thiền tọa ở rừng sâu,
Từng bị Lợi Vương chặt cắt đau,
Huống nay thánh chúa không việc ấy,
Chỉ bắt thôi tu đáng buồn đâu.
Đến vua Tuyên Tông lên ngôi (847) sùng phụng Phật pháp, Sư trở về chùa như xưa.
Niên hiệu Hàm Thông năm thứ sáu (865 TL), Sư tịch tại núi này, thọ 84 tuổi, 60 tuổi hạ.
Vua ban hiệu là Quy Tịch thiền sư, tháp hiệu là Bí Chơn.
Niên hiệu Khai Thành năm đầu (836 TL), Sư sang Phúc Châu đến ấp Trường Khê có Trần Lượng, Hoàng Du thỉnh Sư ở tại núi Quy giáo hóa.
Một hôm Sư dạy chúng:
– Nheo mày chớp mắt chẳng ngoài người này (người chân thật), một niệm tịnh tâm xưa nay là Phật.
Sư nói kệ:
Tâm bản tuyệt trần hà dụng tẩy,
Thân trung vô bệnh khởi cầu y,
Dục tri thị Phật phi thân xử,
Minh giám cao huyền vị chiếu thì.
Dịch:
Tâm vốn bặt trần đâu cần rửa,
Trong thân không bệnh rước thầy chi,
Phật kia chẳng phải nơi thân ở
Gương sáng treo cao chưa chiếu gì.
Tâm bản tuyệt trần hà dụng tẩy, tức là tâm mình lâu nay vốn bặt hết các bụi bặm thì cần gì phải giặt rửa. Giống như bài kệ của Lục Tổ. Thân trung vô bệnh khởi cầu y, cái đó ở trong thân mình, đâu có bệnh mà phải cầu thầy.
Dục tri thị Phật phi thân xứ, ông Phật thật không phải ở trong thân. Minh giảm cao huyền vị chiếu thì. Minh giám là gương sáng, cao huyền là treo trên cao, vị chiếu thì tức là khi chưa chiếu. Nguyên câu này nghĩa là gương sáng treo trên cao khi chưa chiếu. Gương sáng này cũng được ví như hòn ngọc sáng, chỉ cho Phật tâm của mình. Tuy nhiên, Phật không ở trong thân nhưng không rời thân. Ngay trong thân đó, thấy được Phật thì như gương sáng treo ở trên cao mà chưa chiếu vậy. Đó là cách ngài nói về thân Phật.
Gặp thời Võ Tôn (841-846 TL) hủy diệt Phật giáo, bắt tăng còn trẻ phải hoàn tục, Sư cũng phải hoàn tục.
Đây là thời ách nạn nặng nhất ở Trung Hoa, đời vua Đường Võ Tôn. Vua lệnh phá chùa chiền và bắt tăng ni trẻ tuổi hoàn tục.
Lúc ấy Sư có làm hai bài kệ dạy chúng:
1- Minh nguyệt phân hình xứ xứ tân,
Bạch y ninh trụy giải không nhân,
Thùy ngôn tại tục phương tu đạo?
Kim Túc tằng vị trưởng giả thân.
2- Nhẫn Tiên lâm hạ tọa thiền thì,
Tằng bị Ca Vương cát tài chi
Huống ngã thánh triều vô thử sự,
Chỉ kim hưu đạo diệc hà bi?
Dịch:
1- Trăng sáng phân hình chỗ chỗ trong,
Bạch y hả kéo người “giải không”,
Tại gia ai bảo tu học khó?
Kim Túc từng làm trưởng giả thân.
2- Nhẫn Tiên thiền tọa ở rừng sâu,
Từng bị Lợi Vương chặt cắt đau,
Huống nay thánh chúa không việc ấy,
Chỉ bắt thôi tu đáng buồn đâu.
Đến vua Tuyên Tông lên ngôi (847) sùng phụng Phật pháp, Sư trở về chùa như xưa.
Bài kệ này nghe rất thong thả. Minh nguyệt là mặt trăng sáng. Phân hình xứ xứ tân nghĩa là mặt trăng sáng ở trên trời chỉ có một, nhưng nhìn ở dưới hồ ao sông biển, chỗ nào cũng có bóng mặt trăng.
Bạch y ninh trụy giải không nhân, áo trắng tức hình thức cư sĩ, đâu làm lui sụt được người đã hiểu lý không. Ý chí ngài thật mạnh mẽ. Người ta tưởng cởi áo ca-sa là tu không được, nhưng cái áo đâu thể làm chướng ngại sự tu. Đạt được lý không rồi cái áo không thành vấn đề gì hết.
Thùy ngôn tại tục phương tu đạo? Ai bảo rằng ở trong thế tục mà chướng ngại sự tu hành? Tu hành vẫn được như thường. Kim Túc từng làm trưởng giả thân. Như ngài Duy-ma-cật từng làm trưởng giả mà vẫn tu vậy. Bốn câu kệ này là nguồn an ủi vô biên.
Nhẫn Tiên lâm hạ tọa thiền thì,
Tằng bị Ca Vương cát tài chi
Huống ngã thánh triều vô thử sự,
Chỉ kim hưu đạo diệc hà bi?
Nhẫn Nhục tiên nhân khi ngồi tọa thiền bị vua Ca-lợi tới cắt đứt thân thể ra từng mảnh, mà còn không giận. Huống nữa là Thánh triều thời đó chỉ bắt hoàn tục, có gì đâu mà buồn.
Ai nhớ hai bài kệ này thì đối với tất cả thời đều hết sức an ổn. Qua đó chúng ta thấy chí đạo mạnh mẽ phi thường của ngài. Mặc áo ca-sa cũng tu, cởi áo ca-sa cũng tu. Mặc áo cởi áo là việc bên ngoài, cái hiểu ở trong mới thật là mình.
Niên hiệu Hàm Thông năm thứ sáu (865 TL), Sư tịch tại núi này, thọ 84 tuổi, 60 tuổi hạ. Vua ban hiệu là Quy Tịch thiền sư, tháp hiệu là Bí Chơn.
Bí Chơn tức là hàm chứa cái chân thật ở trong. Bị bắt để tóc thì cứ để tóc, bắt mặc áo trắng thì cứ mặc áo trắng, đối với ngài không quan trọng, cái gì cũng chịu, không buồn. Học sử ngài chúng ta thấy hay lạ đời. Đó chính là cái hay của người xuất thế.
Sau khi đắc pháp nơi Nam Tuyền, Sư đến Lộc Uyển an trụ. Về sau, Sư không ở một chỗ nhất định, chỉ tùy duyên tùy cảnh giáo hóa độ sanh. Vì thế người đương thời gọi Sư là hòa thượng Trường Sa.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Nếu ta một bề nêu cao tông giáo thì trong pháp đường này cỏ mọc cao một trượng. Vì sự bất đắc dĩ, ta bảo các ngươi rằng: Tột mười phương thế giới là con mắt của Sa-môn, tột mười phương thế giới là thân của Sa-môn, tột mười phương thế giới là ánh sáng của mình, tột mười phương thế giới ở trong ánh sáng của mình, tột mười phương thế giới không có người nào là chẳng phải chính mình. Ta thường nói với các ngươi: Chư Phật trong đời cùng chúng sanh khắp pháp giới là ánh sáng Ma-ha Bát-nhã. Khi ánh sáng này chưa phát, cả thảy các ngươi đến nương nơi đâu? Khi ánh sáng này chưa phát, còn không có tăm dạng Phật và chúng sanh, thì chỗ nào có núi sông thế giới?
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là mắt Sa-môn?
Sư đáp:
– Lâu dài ra chẳng đặng, thành Phật thành Tổ ra chẳng đặng, sáu đạo luân hồi ra chẳng đặng.
– Chẳng biết ra cái gì chẳng đặng?
– Ngày thấy mặt trời, đêm thấy sao.
– Con không hội.
– Núi Diệu Cao sắc xanh lại xanh.
Sau khi đắc pháp nơi Nam Tuyền, Sư đến Lộc Uyển an trụ. Về sau, Sư không ở một chỗ nhất định, chỉ tùy duyên tùy cảnh giáo hóa độ sanh. Vì thế người đương thời gọi Sư là hòa thượng Trường Sa.
Nối pháp ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện là ngài Trường Sa Cảnh Sầm.
– Sư thượng đường dạy chúng:
Nếu ta một bề nêu cao tông giáo thì trong pháp đường này cỏ mọc cao một trượng.
Nếu ngài chỉ thẳng chỗ đó thì pháp đường này không ai để chân tới.
Vì sự bất đắc dĩ, ta bảo các ngươi rằng: Tột mười phương thế giới là con mắt của Sa-môn, tột mười phương thế giới là thân của Sa-môn, tột mười phương thế giới là ánh sáng của mình, tột mười phương thế giới ở trong ánh sáng của mình, tột mười phương thế giới không có người nào là chẳng phải chính mình. Ta thường nói với các ngươi: Chư Phật trong đời cùng chúng sanh khắp pháp giới là ánh sáng Ma-ha Bát-nhã. Khi ánh sáng này chưa phát, cả thảy các ngươi đến nương nơi đâu? Khi ánh sáng này chưa phát, còn không có tăm dạng Phật và chúng sanh, thì chỗ nào có núi sông thế giới?
Tột mười phương thế giới là con mắt của Sa-môn, tột mười phương thế giới là thân của Sa-môn. Con mắt và thân của Sa-môn chỉ cho cái gì? Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật nói khi chưa có hư không thế giới thì chúng ta có tánh chân như sáng suốt, chưa phát khởi vọng tưởng thì cái đó trùm khắp mười phương thế giới. Cho nên, người thấy được cái đó rồi mới thấy mình đầy khắp mười phương, đầy khắp tất cả, không có gì ngoài mình.
Khi ánh sáng này chưa phát, còn không có tăm dạng Phật và chúng sanh thì chỗ nào có núi sông thế giới. Ánh sáng còn đang trong bản thể thanh tịnh của nó thì không có Phật, không có chúng sanh, huống nữa là núi sông, thế giới.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là mắt Sa-môn?
Sư đáp:
– Lâu dài ra chẳng đặng, thành Phật thành Tổ ra chẳng đặng, sáu đạo luân hồi ra chẳng đặng.
– Chẳng biết ra cái gì chẳng đặng?
– Ngày thấy mặt trời, đêm thấy sao.
Ngày thấy mặt trời, đêm thấy sao. Tổ có nói ra ngoài cái đó không? Cho nên nói thành Phật thành Tổ không rời chỗ đó. Sáu đạo luân hồi không ngoài cái đó. Cái đó cũng là con mắt của Sa-môn.
Vị tăng nghe vậy mà không hiểu, nên mới hỏi: Chẳng biết ra cái gì chẳng đặng? Ngài đáp: Ngày thấy mặt trời, đêm thấy sao. Việc ra chẳng đặng là ra cái đó.
– Con không hội.
– Núi Diệu Cao sắc xanh lại xanh.
Đâu phải ngài vô tình không đáp, mà tại vì đáp, trò không hội thành ra coi như không đáp.
Sư sai một vị tăng đến hỏi bạn đồng sư là hòa thượng Hội rằng:
– Hòa thượng sau khi thấy Nam Tuyền rồi thế nào?
Hòa thượng Hội lặng thinh.
Tăng hỏi:
– Hòa thượng trước khi chưa thấy Nam Tuyền thì sao?
Hòa thượng Hội đáp:
– Không thể lại riêng có.
Vị tăng về thuật lại Sư nghe, Sư làm một bài kệ chỉ bày:
Bách trượng can đầu bất động nhân,
Tuy nhiên đắc nhập vị vi chân.
Bách trượng can đầu tu tiến bộ,
Thập phương thế giới thị toàn thân.
Dịch:
Trăm trượng đầu sào vẫn đứng yên,
Tuy là được nhập chẳng phải hiền.
Đầu sào trăm trượng cần vượt khỏi,
Mười phương thế giới thảy thân mình.
Hòa thượng Hội đang ở chỗ lặng lặng mà không được sáng. Lặng lặng an ổn rồi hài lòng, cho nên ngài làm bài kệ này. Còn đeo đầu sào trăm trượng tuy là hay rồi, nhưng chưa phải thật hay. Phải bước khỏi đầu sào trăm trượng mới là hay.
Có quan khách đến yết kiến, Sư gọi:
– Thượng thư
Quan khách:
– Dạ!
– Chẳng phải bản mệnh Thượng thư.
– Không thể rời người đối đáp hiện nay lại có chủ nhân thứ hai.
– Gọi Thượng thư là chí tôn được chăng?
– Thế là khi chẳng đối, đâu không phải là chủ nhân của đệ tử?
– Chẳng những khi đối và khi không đối, mà từ vô thủy kiếp đến giờ cái ấy là cội gốc của sanh tử.
Sư làm bài kệ:
Học đạo chi nhân bất thức chân,
Chỉ vị tùng lai nhận thức thần,
Vô thủy kiếp lai sanh tử bản,
Si nhân hoán tác bản lai nhân.
Dịch:
Học đạo mà không hiểu lẽ chân,
Bởi tại lâu rồi nhận thức thần,
Gốc nguồn sanh tử vô thủy kiếp,
Người ngu lại gọi chủ nhân ông.
Kêu: Thượng thư! – Dạ! Mà không ngộ. Bởi không ngộ nên chỉ là người nhận thức thần chứ chưa thấy được bản tánh. Khi đối đáp còn thấy đối và không đối thì chưa phải người vượt khỏi sanh tử.
Tăng Hạo Nguyệt hỏi:
– Những vị thiện tri thức trong thiên hạ chứng được ba đức Niết-bàn chưa?
Sư đáp:
– Đó là Đại đức hỏi trên quả Niết-bàn hay trong nhân Niết-bàn?
– Trên quả Niết-bàn.
– Những thiện tri thức trong thiên hạ chưa chứng.
– Vì sao chưa chứng?
– Vì công chưa bằng chư thánh.
– Công chưa bằng chư thánh sao làm thiện tri thức?
– Thấy rõ Phật tánh cũng được gọi là thiện tri thức.
– Chẳng biết công bằng chừng nào mới được chứng Niết-bàn?
Sư có bài kệ:
Ma-ha Bát-nhã chiếu,
Giải thoát thậm thâm pháp,
Pháp thân tịch diệt thể,
Tam nhất lý viên thường.
Dục thức công tề xứ,
Thử danh Thường tịch quang.
Dịch:
Trí tuệ lớn rộng soi,
Pháp giải thoát sâu xa,
Thể pháp thân vắng lặng,
Ba một lý thường tròn.
Muốn biết chỗ công bằng,
Đây gọi Thường tịch quang.
Trên quả ba đức Niết-bàn đã nhờ chỉ dạy, thế nào là trong nhân Niết-bàn?
– Đại đức ấy.
– Trong kinh nói ý huyễn là có chăng?
– Đại đức nói gì?
– Thế là ý huyễn tại không chăng?
– Đại đức nói gì?
– Thế là ý huyễn tại chẳng có chẳng không chăng?
– Đại đức nói gì?
– Con ba phen nhận định chẳng hợp ý huyễn, chưa biết Hòa thượng thế nào để rõ được ý huyễn trong Kinh?
– Đại đức tin tất cả pháp không thể nghĩ bàn chăng?
– Lời thành thật của Phật đâu dám không tin.
– Đại đức nói tin, trong hai thứ tin là thứ tin nào?
Theo con hiểu, trong hai thứ tin là tin duyên.
– Y giáo môn nào được sanh tin duyên?
Theo kinh Hoa Nghiêm nói: “Bồ-tát lớn lấy trí tuệ không chướng không ngại tin tất cả cảnh giới thế gian là cảnh giới Như Lai” Lại, kinh Hoa Nghiêm nói: “Chư Phật Thế Tôn thảy biết thế pháp và Phật pháp tánh không sai khác, quyết định không hai.” Cũng kinh Hoa Nghiêm nói: “Phật pháp thế gian pháp, nếu thấy chỗ chân thật của nó, tất cả không sai khác.”
Đại đức nêu chỗ tin duyên trong giáo môn rất có bằng cứ. Nghe lão tăng vì Đại đức nói rõ ý huyễn trong Kinh:
Nhược nhân kiến huyễn bản lai chân,
Thị tắc danh vi kiến Phật nhân,
Viên thông pháp pháp vô sanh diệt,
Vô diệt vô sanh thị Phật thân.
Dịch:
Nếu người thấy huyễn xưa nay chân,
Thế ấy tức là thấy Phật nhân (người),
Suốt thông các pháp không sanh diệt,
Không diệt không sanh ấy Phật thân.
Tăng Hạo Nguyệt hỏi:
Những vị thiện tri thức trong thiên hạ chứng được ba đức Niết-bàn chưa?
Sư đáp:
– Đó là Đại đức hỏi trên quả Niết-bàn hay trong nhân Niết-bàn?
– Trên quả Niết-bàn.
– Những thiện tri thức trong thiên hạ chưa chứng.
– Vì sao chưa chứng?
– Vì công chưa bằng chư thánh.
– Công chưa bằng chư thánh sao làm thiện tri thức?
– Thấy rõ Phật tánh cũng được gọi là thiện tri thức.
Tuy ngộ mà công chưa bằng chư thánh, nên chưa chứng. Người nào thấy rõ Phật tánh thì người đó được gọi là thiện tri thức.
– Chẳng biết công bằng chừng nào mới được chứng Niết-bàn?
Sư có bài kệ:
Ma-ha Bát-nhã chiếu,
Giải thoát thậm thâm pháp,
Pháp thân tịch diệt thể,
Tam nhất lý viên thường.
Dục thức công tề xứ,
Thử danh Thường tịch quang.
Dịch:
Trí tuệ lớn rộng soi,
Pháp giải thoát sâu xa,
Thể pháp thân vắng lặng,
Ba một lý thường tròn.
Muốn biết chỗ công bằng,
Đây gọi Thường tịch quang.
Ba một lý thường tròn, ba là ba thân, một là chỉ cho một thân. Tuy ba thân mà trở về một. Ba là pháp, báo, hóa nhưng đồng một thể trong pháp thân. Nếu nhận được thể pháp thân thì đầy đủ ba thân, cho nên gọi là thường tịch quang.
– Trên quả ba đức Niết-bàn đã nhờ chỉ dạy, thế nào là trong nhân Niết-bàn?
– Đại đức ấy.
– Trong kinh nói ý huyễn là có chăng?
– Đại đức nói gì?
– Thế là ý huyễn tại không chăng?
– Đại đức nói gì?
– Thế là ý huyễn tại chẳng có chẳng không chăng?
– Đại đức nói gì?
Tại sao ba lần tăng hỏi, ngài đều lặp lại có một câu: Đại đức nói gì? Bởi vì vị tăng này chấp huyễn là có, là không, là chẳng phải có chẳng phải không. Như vậy là lạc trong tứ cú làm sao đạt được ý huyễn của Phật. Phật nói huyễn để biết cái phi huyễn. Phật nói diệt sanh diệt để thấy cái không sanh diệt. Vị tăng này chấp trên tướng có không sanh diệt. Vì vậy nên ngài chỉ lặp lại một câu: Đại đức nói gì? Để biết đó là dùng trí đáp, đáp lại bằng cách gác qua.
– Con ba phen nhận định chẳng hợp ý huyễn, chưa biết Hòa thượng thế nào để rõ được ý huyễn trong Kinh?
– Đại đức tin tất cả pháp không thể nghĩ bàn chăng?
– Lời thành thật của Phật đâu dám không tin.
– Đại đức nói tin, trong hai thứ tin là thứ tin nào?
– Theo con hiểu, trong hai thứ tin là tin duyên.
– Y giáo môn nào được sanh tin duyên?
Theo kinh Hoa Nghiêm nói: “Bồ-tát lớn lấy trí tuệ không chướng không ngại tin tất cả cảnh giới thế gian là cảnh giới Như Lai.” Lại, kinh Hoa Nghiêm nói: “Chư Phật Thế Tôn thảy biết thế pháp và Phật pháp tánh không sai khác, quyết định không hai.” Cũng kinh Hoa Nghiêm nói: “Phật pháp thế gian pháp, nếu thấy chỗ chân thật của nó, tất cả không sai khác.
Đại đức nêu chỗ tin duyên trong giáo môn rất có bằng cứ. Nghe lão tăng vì Đại đức nói rõ ý huyễn trong Kinh:
Nhược nhân kiến huyễn bản lai chân,
Thị tắc danh vi kiến Phật nhân,
Viên thông pháp pháp vô sanh diệt,
Vô diệt vô sanh thị Phật thân.
Dịch:
Nếu người thấy huyễn xưa nay chân,
Thế ấy tức là thấy Phật nhân (người),
Suốt thông các pháp không sanh diệt,
Không diệt không sanh ấy Phật thân.
Nhược nhân kiến huyễn bản lai chân. Huyễn xưa nay là chân. Từ huyễn mà thấy được chân mới đúng là người tu hành theo lời Phật dạy. Thị tắc danh vi kiến Phật nhân, ắt gọi người đó là người thấy được Phật. Viên thông pháp pháp vô sanh diệt, nếu người ngộ được lý viên thông rồi thì mỗi pháp đâu còn sanh diệt nữa.
Vô diệt vô sanh thị Phật thân, không còn sanh, không còn diệt mới thật là chân thật.
Có vị tăng hỏi:
– Hòa thượng nối tiếp người nào?
Sư đáp:
– Tôi không nối tiếp người nào.
– Lại có tham học chăng?
– Tôi tự tham học.
– Ý Hòa thượng thế nào?
Sư có bài kệ:
Hư không vấn vạn tượng,
Vạn tượng đáp hư không.
Thùy nhân thân đắc văn,
Mộc xoa quán giác đồng.
Dịch:
Hư không hỏi vạn tượng,
Vạn tượng đáp hư không.
Người nào thân nghe được,
Trẻ con đầu hai chỏm.
Tại sao ngài học ở Nam Tuyền mà nói không phải, lại xưng là tự học? Đó là phủ nhận thầy mình chăng? Thật tình không phải. Đó là người được nghe hư không vấn vạn tượng.
Hư không vấn vạn tượng, vạn tượng đáp hư không. Thầy tâm như hư không, trò hỏi tâm cũng như hư không. Thầy trò tâm đều như hư không. Người gần được nghe, ví như những đứa bé đầu chừa hai vá. Vì trở về nguồn tâm trong trẻo đó giống như sự trong sáng của anh nhi.
Có vị tăng hỏi:
– “Sắc tức là không, không tức là sắc”, lý này thế nào?
Sư có bài kệ:
Ngại xứ phi tường bích,
Thông xứ vật hư không.
Nhược nhân như thị giải,
Tâm sắc bản lại đồng.
Phật tánh đường đường hiển hiện,
Trụ tánh hữu tình nan kiến.
Nhược ngộ chúng sanh vô ngã,
Ngã điện hà thù Phật điện.
Dịch:
Chỗ ngại chẳng tường vách,
Chỗ thông đâu hư không.
Nếu người hiểu như thế,
Tâm sắc xưa nay đồng.
Phật tánh hiển hiện rõ ràng,
Trụ tánh hữu tình khó thấy.
Nếu ngộ chúng sanh vô ngã,
Mặt ta mặt Phật khác gì.
Ngại xứ phi tường bích, thông xứ vật hư không. Chỗ ngại là sắc, chỗ ngại đó không phải tường vách. Thông xứ tức là không, hư không mà cũng không phải là hư không. Tức là ngay nơi sắc thấy không, ngay nơi không thấy sắc. Nhược nhân như thị giải, tâm sắc bản lai đồng. Người nào hiểu được như thế thì tâm sắc xưa nay đồng.
Phật tánh đường đường hiển hiện, tức là Phật tánh hiển hiện rõ ràng. Trụ tánh hữu tình nan kiến, người nào còn chấp chỗ trụ thì khó thấy được Phật tánh. Nhược ngộ chúng sanh vô ngã, ngộ được chúng sanh không có ngã, ngã diện hà thù Phật điện tức mình là Phật chứ không đâu xa.
Sư có bài kệ khuyến học:
Vạn trượng can đầu vị đắc hưu,
Đường đường hữu lộ thiểu nhân du.
Thiền sư nguyện đạt Nam Tuyền khứ,
Mãn mục thanh sơn vạn vạn thu.
Dịch:
Muôn trượng đầu sào chẳng được dừng,
Sờ sờ đường cái ít người đi.
Thiền sư muốn đạt Nam Tuyền lộ,
Đầy mắt núi xanh muôn muôn thu.
Người nào muốn biết con đường của ngài Nam Tuyền đi thì phải bước qua khỏi đầu sào trăm trượng. Qua đầu sào trăm trượng rồi, sẽ thấy hiển bày rành rõ, không phải chỗ đó là không. Chừng ấy mới thấy trước mắt đầy cả núi xanh muôn thu
Vì Sư không có nơi trụ nhất định nên không biết tịch lúc nào và nơi nào.
Sư họ Hác, quê ở làng Hác, thuộc Tào Châu. Thuở nhỏ Sư xuất gia ở Hỗ Thông viện tại bản châu, nhưng chưa thọ giới. Sư tìm đến Trì Dương tham vấn Nam Tuyền (Phổ Nguyện), gặp lúc Nam Tuyền nằm nghỉ, mà vẫn hỏi:
– Vừa rời chỗ nào?
Sư thưa:
– Vừa rời viện Thụy Tượng.
– Thấy Thụy Tượng chăng?
– Chẳng thấy Thụy Tượng, chỉ thấy Như Lai nằm.
– Ngươi là Sa-di có chủ hay không có chủ?
– Sa-di có chủ.
– Chủ ở chỗ nào?
– Giữa mùa đông rất lạnh, ngưỡng mong tôn thể Hòa thượng được muôn phước.
Nam Tuyền khen ngợi liền nhận vào chúng.
Hỏi chủ ở chỗ nào là gài bẫy. Nếu ngài Triệu Châu không sống được chỗ đó, khéo nhận chỗ đó là bị mắc bẫy. Ngài tháo bẫy một cách dễ dàng: Giữa mùa đông rét lạnh, ngưỡng mong tôn thể Hòa thượng được muôn phước. Đó là gỡ bẫy của ngài Nam Tuyền. Ngài được khen ngợi lanh lợi và cho vào chúng.
Sư hỏi Nam Tuyền:
– Thế nào là đạo?
Nam Tuyền đáp:
– Tâm bình thường là đạo.
– Lại có thể nhằm tiến đến chăng?
– Nghĩ nhằm tiến đến là trái.
– Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?
– Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy?
Ngay câu nói này Sư ngộ lý.
Biết bình thường tâm là đạo, cái bình thường đó không thuộc vọng giác, cũng không thuộc về vô ký, mới gọi là bình thường.
Sư đến đàn Lưu Ly tại Tung Nhạc thọ giới.
Thọ giới xong, Sư trở lại Nam Tuyền.
Sư hỏi Nam Tuyền:
– Biết có người ấy đến chỗ nào an nghỉ?
Nam Tuyền bảo:
– Đến nhà đàn-việt dưới núi làm con trâu đi.
– Cảm tạ Thầy chỉ dạy.
– Đêm qua canh ba trăng soi cửa.
Khi nào biết được người ấy, tức là biết được ông chủ thì đến được chỗ an nghỉ. Nam Tuyền bảo đến nhà đàn-việt dưới núi làm con trâu đi, thì ngài vâng làm con trâu. Nam Tuyền khen Đêm qua canh ba trăng soi cửa. Đó là một hình ảnh đẹp.
Sư đến Hoàng Bá (Hy Vận). Hoàng Bá thấy Sư đến liền đóng cửa phương trượng. Sư lấy lửa đem vào pháp đường kêu:
– Cứu lửa! Cứu lửa!
Hoàng Bá mở cửa, nắm đứng Sư lại, bảo:
– Nói! Nói!
Sư bảo:
– Cướp qua rồi mới giương cung.
Ngài là một người lanh lợi. Thấy đóng cửa, ngài đem lửa lại kêu: Cứu lửa! Cứu lửa! Hoàng Bá cũng phải mở cửa, nắm đứng Tùng Thẩm lại: Nói! Nói! Ngài trả lời: Cướp qua rồi mới giương cung. Trễ quá rồi còn nói gì nữa.
Sư đến Đạo Ngô (Viên Trí), vừa vào nhà, Đạo
Ngô nói:
– Mũi tên Nam Tuyền đến.
Sư bảo:
– Xem tên!
Đạo Ngô nói:
– Trật.
Sư bảo:
– Trúng.
Sư đến Giáp Sơn (Thiện Hội) cầm gậy vào pháp đường.
Giáp Sơn hỏi:
– Làm gì.
Sư đáp:
– Dò nước.
Giáp Sơn bảo:
– Một giọt cũng không, dò cái gì?
Sư chống gậy đi ra.
Giáp Sơn Thiện Hội là đệ tử của ngài Hoa Đình Thuyền Tử. Thật là con cháu của ngài Thạch Đầu. Đúng như vậy, một giọt nước cũng không thì dò cái gì?
Sau khi được Nam Tuyền ấn khả, Sư về Tào Châu thăm bổn sư. Người thân thuộc hay tin Sư về đều muốn đến thăm, Sư nghe được bèn nói:
– Lưới ái trần tục không có ngày dứt được, ta đã từ bỏ xuất gia, không muốn gặp lại.
Sư liền mang bát cầm gậy, dạo khắp các nơi. Sư thường nói:
– Trẻ con bảy tuổi hơn ta thì ta hỏi nó, ông già trăm tuổi chẳng bằng ta thì ta dạy họ.
Sau khi được Nam Tuyền ấn khả, Sư về Tào Châu thăm bổn sư. Người thân thuộc hay tin Sư về đều muốn đến thăm, Sư nghe được bèn nói:
– Lưới ái trần tục không có ngày dứt được, ta đã từ bỏ xuất gia, không muốn gặp lại.
Sư liền mang bát cầm gậy, dạo khắp các nơi.
Người xưa nghe bà con tới thăm, liền mang bát đi vì sợ lưới ái trần tục không hết. Về thì bị lưới đó cột, không cột nhiều cũng cột ít. Còn người bây giờ, cứ ít bữa xin thầy cho về, ít bữa lại xin về. Khó cắt lắm, tu như vậy chừng nào thoát khỏi lưới ái.
Nghe chuyện của người ngoài đau khổ, mình buồn chừng hai phần. Về gia đình mà nghe đau khổ thì buồn tới mười phần. Tu hành như thế chẳng khác nào cọ cây hơi ấm ấm rồi thì buông. Người xưa gan dạ nên học đạo không khó. Chúng ta bây giờ yếu đuối quá, nên đối với đạo thật là xa xôi.
Sư thường nói:
– Trẻ con bảy tuổi hơn ta thì ta hỏi nó, ông già trăm tuổi chẳng bằng ta thì ta dạy họ.
Với tinh thần học đạo, dù con nít nhỏ tuổi hơn ngài mà biết, ngài cũng dám học. Còn lớn hơn mà không biết thì ngài dạy. Người hiểu biết đạo phải như vậy. Chúng ta thì người nào lớn hơn mới học, nhỏ thì khinh là người chưa biết.
Sau chúng thỉnh Sư ở viện Quan Âm tại Triệu Châu. Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là Phật?
Sư bảo:
– Ở trong điện.
– Trong điện đâu không phải bùn đất đắp thành tượng?
– Phải.
– Thế nào là Phật?
– Ở trong điện.
– Con mê muội xin Thầy chỉ dạy.
– Ăn cháo xong chưa?
– Ăn cháo xong.
– Rửa chén bát đi!
Tăng nhân đây đại ngộ.
Hỏi hai lần đều được trả lời: Ở trong điện. Tăng chưa nhận được nên hỏi thêm: Con mê muội xin Thầy chỉ dạy. Ngài nói: Ăn cháo xong chưa? – Ăn cháo xong.
Rửa chén bát đi! Đại ngộ! Dễ dàng quá.
Ở đây, ngài nói chuyện chơi hay là đạo lý? Đạo lý ở chỗ rửa chén bát đi. Chúng ta cứ tìm đạo lý ở những thứ kỳ đặc, nhưng không ngờ đạo lý ngay chỗ ăn cơm rửa bát. Bình thường tâm là đạo, ăn cơm rửa bát là bình thường tâm, đâu cần đi truyền đạo lý khác. Cho nên chỉ ngay đó mà ngộ.
Sư thượng đường dạy chúng:
Như minh châu trong tay,
Hồ đến thì hiện Hồ,
Hán đến thì hiện Hán.
Lão tăng nắm một nắm cỏ dùng làm thân vàng (thân Phật) một trượng sáu, đem thân vàng một trượng sáu dùng làm nắm cỏ, Phật là phiền não, phiền não là Phật.
Có vị tăng đứng lên hỏi:
– Chưa biết Phật là phiền não của ai?
Sư đáp:
– Là phiền não của tất cả người.
– Làm sao khỏi được?
– Dùng khỏi làm gì?
Sư thượng đường dạy chúng:
– Như minh châu trong tay, Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán. Lão tăng nắm một nắm cỏ dùng làm thân vàng (thân Phật) một trượng sáu, đem thân vàng một trượng sáu dùng làm nắm cỏ, Phật là phiền não, phiền não là Phật.
Sự tự tại của người đạt đạo khi nắm được hạt trân châu trong tay rồi thì Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Người nào đến hiện ra người ấy, không có sai biệt. Vì vậy, ngài nói: Nắm một nắm cỏ làm thân Phật, rồi đem thân Phật làm nắm cỏ, phiền não tức Bồ-đề, Bồ-đề là Phật. Phật là phiền não, phiền não là Phật, không khác. Đạt được như thế thì diệu dụng không lường.
Có vị tăng đứng lên hỏi:
Sư đáp:
– Là phiền não của tất cả người.
– Làm sao khỏi được?
– Dùng khỏi làm gì?
Vừa nghĩ khỏi là không khỏi rồi.
Có người hỏi:
– Con chó có Phật tánh không?
Sư đáp:
– Không!
Trên đến chư Phật, dưới đến loài trùng kiến đều có Phật tánh, vì sao con chó không có Phật tánh?
– Vì nó còn có nghiệp thức.
Lại có người hỏi:
Sư đáp:
– Có.
– Đã có Phật tánh vì sao còn chui vào trong đãy da!
– Vì biết mà cố phạm.
Có người hỏi:
– Con chó có Phật tánh không?
Sư đáp:
– Không!
Câu đáp này được người sau cho là rất quan trọng.
– Trên đến chư Phật, dưới đến loài trùng kiến đều có Phật tánh, vì sao con chó không có Phật tánh?
– Vì nó còn có nghiệp thức.
Ngài khéo léo làm sao. Biết người hỏi đang chấp chặt là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mà lại hỏi con chó có Phật tánh không. Vì vậy ngài đáp: Không. Đó là cách tháo định gỡ chốt. Vị tăng ấy không nhận biết được nên dẫn kinh làm chứng để xác định con chó có Phật tánh. Ngài liền giải đáp bằng cách: Vì nó còn có nghiệp thức. Còn nghiệp thức che đậy nên không có Phật tánh.
Lại có người hỏi:
– Con chó có Phật tánh không?
Sư đáp: – Có.
Vị tăng này có lẽ nghe hồi xưa ngài đáp không, dính mắc cho là không. Cho nên đến đây ngài đáp có, ông liền hỏi lại:
– Đã có Phật tánh vì sao còn chui vào trong đây da!
Vì biết mà cố phạm.
Có Phật tánh là linh thông sáng suốt, tại sao lại chui vào đãy da? Bởi vì biết mà cố phạm, nên thành tội lỗi, rơi vào lông lá bù xù, làm loài bốn chân. Câu đáp hay làm sao. Ngài thật là lanh lợi vô cùng, đáp có cũng đúng, đáp không cũng đúng. Có không đều đúng.
Sư hỏi vị tăng mới đến:
– Từng đến đây chưa?
Tăng thưa:
– Từng đến.
– Uống trà đi!
Sư lại hỏi vị tăng khác:
– Từng đến đây chưa?
Tăng thưa:
– Chưa từng đến.
– Uống trà đi!
Sau Viện chủ hỏi Sư:
– Vì sao từng đến dạy uống trà đi, chưa từng đến cũng dạy uống trà đi?
Sư gọi:
– Viện chủ!
Viện chủ đáp:
– Dạ!
Sư bảo:
– Uống trà đi!
Trà Triệu Châu là chỗ đó. Ba người đều lãnh hội.
Sư cầm chổi quét đất, có người hỏi:
– Hòa thượng là thiện tri thức vì sao có bụi?
Sư bảo:
– Bên ngoài đến.
Già-lam thanh tịnh vì sao có bụi?
– Có một chút.
Có ông tú tài đến hỏi Sư:
– Phật chẳng trái sở nguyện của chúng sanh, phải chăng?
Sư đáp:
– Phải!
– Con muốn xin cây gậy trong tay Hòa thượng, được chăng?
– Người quân tử không đoạt cái sở thích của người.
– Con không phải là quân tử.
– Ta cũng chẳng phải là Phật.
Nếu là quân tử không đoạt sở thích của người. Vị tú tài này lanh lẹ, con không phải là quân tử thì con có quyền lấy. Ta không phải là Phật thì ta có quyền không cho. Bởi vì chỗ đó không thể cho, cũng không thể đoạt lấy.
Có người hỏi:
– Đã lâu nghe tiếng cầu đá Triệu Châu, nay đến chỉ thấy cầu khỉ.
Sư bảo:
– Ông chỉ thấy cầu khỉ mà không thấy cầu đá.
– Thế nào là cầu đá?
– Độ lừa độ ngựa.
– Thế nào là cầu khỉ?
– Mỗi mỗi độ người.
Có người hỏi:
– Đã lâu nghe tiếng cầu đá Triệu Châu, nay đến chỉ thấy cầu khỉ.
Sư bảo:
– Ông chỉ thấy cầu khỉ mà không thấy cầu đá.
Nếu ông thấy chỉ cầu khỉ thì làm gì ông thấy cầu đá được.
– Thế nào là cầu đá?
– Độ lừa độ ngựa.
– Thế nào là cầu khỉ?
– Mỗi mỗi độ người.
Cầu đá thì độ lừa độ ngựa, còn cầu khỉ thì mỗi mỗi độ người. Ngài thông minh tột cùng.
Sư dạy chúng:
– Vừa có phải quấy thì lăng xăng mất tâm, lại có người đáp thoại hay chăng?
Có vị tăng bước ra vỗ thị giả một cái, nói:
– Sao không đáp Hòa thượng?
Sư liền đi vào phương trượng.
Sau, thị giả thưa:
– Vừa rồi vị tăng làm thế ấy là hội hay chẳng hội?
Sư bảo:
– Ngồi thấy đứng, đứng thấy ngồi.
Ai biết được cái này? Vừa có phải quấy lăng xăng mất tâm, lại có người đáp thoại hay chăng? Bởi vì chỗ đó mở miệng là trật rồi, cho nên vị tăng khéo léo vỗ vai ông thị giả: Sao không đáp lời Hòa thượng? Ngài liền đi vào phương trượng. Đó là đã đáp rồi.
Thị giả không biết ý thầy nên đi vào hỏi: Vừa rồi vị tăng làm thế ấy là hội hay chẳng hội? Ngài đáp: Ngồi thấy đứng, đứng thấy ngồi. Hai người đã thấy nhau, thầy đã thấy trò và trò đã thấy thầy. Tại thị giả dốt nên chưa thấy.
Sư dạy chúng:
– “Chí đạo vô nan, chỉ hiềm lựa chọn”, vừa có nói năng là lựa chọn, là minh bạch. Lão tăng chẳng ở trong minh bạch, các ngươi lại tiếc giữ chăng?
Có vị tăng đứng ra hỏi:
– Đã chẳng ở trong minh bạch thì tiếc giữ cái gì?
Sư bảo:
– Ta cũng chẳng biết.
Hòa thượng đã chẳng biết, vì sao chẳng ở trong minh bạch?
– Hỏi việc thì được, lễ bái xong lui ra.
Vậy là ở trong minh bạch hay không minh bạch? Hỏi việc thì được, lễ bái xong lui ra, đó là minh bạch rồi.
Quan đại phu họ Mã đến hỏi:
– Hòa thượng có tu hành chăng?
Sư đáp:
– Lão tăng nếu tu hành là việc họa.
– Hòa thượng đã chẳng tu hành thì dạy người nào tu hành?
– Đại phu là người tu hành.
– Con sao bảo là tu hành?
– Nếu không tu hành thì đâu được đánh đập người, ở trong địa vị nhân vương đói có cơm, lạnh có áo, không biết ngày ra khỏi.
Đại phu nghe cảm động rơi nước mắt, lễ tạ Sư.
Đối với ngài, tu hành là họa, nhưng đối với ông đại phu này thì phải tu hành. Nếu không tu hành thì đâu được đánh đập người. Nhờ ông tu hành nên giờ ông mới ngồi giữ địa vị quan to, ông đánh người này, ông đập người kia. Rồi ở trong địa vị quan to, đói có cơm, lạnh có áo. Nếu không cố gắng tu hành thì không biết ngày nào ra khỏi vòng sanh tử, cho nên ta dạy ông tu hành.
Mới nghe chúng ta thấy ngài nói gọn quá, mình không hiểu, nhưng đại phu hiểu nên cảm động rơi nước mắt.
Có vị tăng hỏi:
Trong mười hai giờ dụng tâm thế nào?
Sư đáp:
– Ngươi bị mười hai giờ sai khiến, ta sai khiến được mười hai giờ.
Sư bèn nói:
– Huynh đệ! Chớ đứng lâu. Có việc thì thương lượng, không việc thì đến nhà sau ngồi, tìm xét lý là tốt. Lão tăng lúc đi hành cước, trừ hai thời cơm cháo là tạp dụng tâm, ngoài ra không có dụng tâm khác. Nếu chẳng như thế rất là xa vậy.
Có vị tăng hỏi:
– Trong mười hai giờ dụng tâm thế nào?
Sư đáp:
– Ngươi bị mười hai giờ sai khiến, ta sai khiến được mười hai giờ.
Hỏi dụng tâm thế nào, ngài đáp: Ta sai khiến được mười hai giờ, tức là giờ nào cũng là giờ ngài tu hết, vì ngài đã sống và làm chủ được.
Sư bèn nói:
– Huynh đệ! Chớ đứng lâu. Có việc thì thương lượng không việc thì đến nhà sau ngồi, tìm xét lý là tốt. Lão tăng lúc đi hành cước, trừ hai thời cơm cháo là tạp dụng tâm, ngoài ra không có dụng tâm khác. Nếu chẳng như thế rất là xa vậy.
Đối với ngài, chỉ thời cơm cháo có tam đề ngũ quán gọi là tạp dụng tâm, còn ngoài hai thời cơm cháo thì chỉ một mặt dụng tâm ấy. Vậy nên ngài mới gần được. Chúng ta mười hai giờ đều là tạp dụng tâm nên rất là xa vậy.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Phật vàng không độ được lò đúc, Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được nước, Phật thật ngồi ở trong. Bồ-đề Niết-bàn chân như Phật tánh trọn là y phục đắp vào thân, cũng gọi là phiền não, thật tế lý địa để ở chỗ nào? Một tâm chẳng sanh, muôn pháp không lỗi. Ngươi cứ nghiên cứu lý này, ngồi quán xét hai ba mươi năm, nếu chẳng hội thì chặt đầu lão tăng đi! Nhọc nhằn nắm bắt mộng huyễn không hoa, tâm nếu chẳng khác thì muôn pháp nhất như. Đã chẳng từ ngoài được thì câu chấp làm gì? Giống in như con dê gặp cái gì cũng liếm cũng nhai. Lão tăng thấy hòa thượng Dược Sơn (Duy Nghiễm) có người hỏi, ngài liền bảo: “Ngậm lấy miệng chó.” Lão tăng cũng dạy: “Ngậm miệng chó.” Chấp ngã thì nhơ, không chấp ngã thì sạch, giống như con chó săn tìm kiếm vật để ăn. Phật pháp ở chỗ nào? Ngàn người muôn người thảy đều là kẻ tìm Phật, mà ở trong đó tìm một đạo nhân không có. Nếu làm đệ tử của vua Không, chớ bảo tâm bệnh khó trị. Khi chưa có thế giới, trước đã có tánh này, khi thế giới hoại, tánh này chẳng hoại. Một phen được thấy lão tăng, sau lại chẳng phải người khác, chỉ là chủ nhân này. Cái đó lại hướng ngoài tìm làm gì? Khi ấy chớ xoa đầu mọi óc, nếu xoa đầu mọi óc liền mất vậy.
Có vị tăng hỏi:
– Theo lời Thầy dạy “khi thế giới hoại, tánh này chẳng hoại”, thế nào là tánh này?
Sư đáp:
– Tứ đại ngũ uẩn.
– Các thứ ấy vẫn là hoại, thế nào là tánh này?
– Tứ đại ngũ uẩn.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Phật vàng không độ được lò đúc, Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được nước, Phật thật ngồi ở trong.
Phật vàng, Phật gỗ, Phật đất, ba ông Phật đó độ được người không? Chỉ có ông Phật thật ở trong mỗi người mới có thể.
– Bồ-đề, Niết-bàn, Chân như, Phật tánh trọn là y phục đắp vào thân, cũng gọi là phiền não, thật tế lý địa để ở chỗ nào?
Những danh từ Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, Phật tánh chỉ là y phục đắp ngoài, chưa phải cái thể của ông Phật thật. Cho nên nếu chấp vào đó cũng là phiền não, nên trên thực tế, những danh từ đó không có chỗ dụng.
– Một tâm chẳng sanh, muôn pháp không lỗi. Người cứ nghiên cứu lý này, ngồi quán xét hai ba mươi năm, nếu chẳng hội thì chặt đầu lão tăng đi!
Ngài khẳng định, nếu một tâm không sanh thì muôn pháp không lỗi, cứ như vậy mà sống, cứ như vậy mà tu. Hai ba mươi năm mà không ngộ thì chặt đầu lão tăng.
-Nhọc nhằn nắm bắt mộng huyễn không hoa, tâm nếu chẳng khác thì muôn pháp nhất như.
Chúng ta cứ chạy theo những hình ảnh bên ngoài, chẳng khác nào nắm bắt những việc trong mộng. Những việc huyễn hóa như hoa đốm trong hư không, có gì thật đâu. Nếu tâm mình không khác thì muôn pháp đều nhất như.
– Đã chẳng từ ngoài được thì câu chấp làm gì? Giống in như con dê gặp cái gì cũng liếm cũng nhai.
Con dê gặp lá nào cũng liếm, cũng đưa vô miệng. Chúng ta cũng vậy, thấy cái gì cũng duyên, gặp cái gì cũng dính, giống hệt con dê.
– Lão tăng thấy hòa thượng Dược Sơn (Duy Nghiễm) có người hỏi, ngài liền bảo: “Ngậm lấy miệng chó.” Lão tăng cũng dạy: “Ngậm miệng chó.” Chấp ngã thì nhơ, không chấp ngã thì sạch, giống như con chó săn tìm kiếm vật để ăn, Phật pháp ở chỗ nào?
Như con chó săn, kiếm đuổi theo mùi, đuổi theo vật. Bây giờ ngậm cái miệng chó đi thì xong. Các ngài nói nghe có vẻ nhục nhã quá, nhưng nó là sự thật.
– Ngàn người muôn người thảy đều là kẻ tìm Phật, mà ở trong đó tìm một đạo nhân không có. Nếu làm đệ tử của vua Không, chớ bảo tâm bệnh khó trị.
Nói đi tìm Phật mà rốt cuộc không có một đạo nhân. Nếu người nào làm đệ tử vua Không là muôn duyên buông hết. Muôn duyên buông hết thì bệnh nào trị cũng được.
Khi chưa có thế giới, trước đã có tánh này, khi thế giới hoại, tánh này chẳng hoại. Một phen được thấy lão tăng, sau lại chẳng phải người khác, chỉ là chủ nhân này.
Tánh đó trước và sau không bao giờ hoại. Tánh đó ở đâu? Một phen được thấy lão tăng, sau lại chẳng phải người khác. Ai thấy lão tăng đây? Trước sau đâu có khác, chỉ là chủ nhân này.
Cái đó lại hướng ngoài tìm làm gì? Khi ấy chớ xoa đầu mọi óc, nếu xoa đầu mọi óc liền mất vậy.
Ngài chỉ thẳng cho chúng ta biết, ngay khi thấy lão tăng là lão tăng, chứ nào thấy người khác. Xoa đầu moi óc, gác trán tìm cái đó, tìm làm sao cho ra? Ai thấy?
Có vị tăng hỏi:
– Theo lời Thầy dạy “khi thế giới hoại, tánh này chẳng hoại”, thế nào là tánh này?
Sư đáp:
– Tứ đại ngũ uẩn.
– Các thứ ấy vẫn là hoại. Thế nào là tánh này?
– Tứ đại ngũ uẩn.
Vẫn như xưa, trước sau không khác. Ngài đã chỉ thẳng tánh rồi vậy.
Có vị tăng đến từ giã Sư. Sự hỏi:
– Đi đâu?
Tăng thưa:
– Đến Tuyết Phong.
– Tuyết Phong nếu hỏi ngươi: “Hòa thượng dạy những lời gì”, ngươi đáp thế nào?
– Con nói chẳng được, thỉnh Hòa thượng nói.
– Đông thì nói lạnh, hạ thì nói nóng.
Sư lại hỏi:
– Tuyết Phong lại hỏi ngươi: Việc cứu cánh thế nào?
– Con nói chẳng được.
Chỉ nói: chính từ Triệu Châu lại, chẳng phải miệng người truyền.
Vị tăng ấy đến Tuyết Phong, thuật lại cho Tuyết Phong nghe.
Tuyết Phong bảo:
– Phải là Triệu Châu mới được.
– Tuyết Phong nếu hỏi ngươi: “Hòa thượng dạy những lời gì”, ngươi đáp thế nào?
Con nói chẳng được, thỉnh Hòa thượng nói.
– Đông thì nói lạnh, hạ thì nói nóng.
Sư lại hỏi:
– Tuyết Phong lại hỏi ngươi: Việc cứu cánh thế nào?
Con nói chẳng được.
– Chỉ nói: chính từ Triệu Châu lại, chẳng phải miệng người truyền.
Đông thì nói lạnh, hạ thì nói nóng. Đó là đích thân nghe từ miệng ngài Triệu Châu nói, không phải nghe người khác nói.
Vị tăng ấy đến Tuyết Phong, thuật lại cho Tuyết Phong nghe.
Tuyết Phong bảo:
– Phải là Triệu Châu mới được.
Đông thì nói lạnh, hạ thì nói nóng, đâu có khác với câu “Bình thường tâm thị đạo”.
Thời gian trụ trì tại viện Quan Âm, có vua nước Yên, nước Triệu đồng đến ra mắt Sư. Sư vẫn ngồi tiếp không đứng dậy. Vua Yên hỏi:
– Nhân vương đáng tôn trọng hay Pháp vương đáng tôn trọng?
Sư đáp:
– Nếu ở trong Nhân vương thì Nhân vương trọng, nếu ở trong Pháp vương thì Pháp vương trọng.
Hai vua nghe rồi đều vui vẻ kính phục và đồng cúng dường.
Sư học theo người xưa trụ trì rất kham khổ, trong tăng đường trước sau trống rỗng không có bàn ghế, chỉ nằm cái giường dây gãy một góc, lấy dây ràng rịt lại. Có người xin đóng giường mới, Sư không cho. Trụ trì hơn bốn mươi năm, Sư chưa từng biên một lá thư cho thí chủ.
Trụ trì như vậy đó, nhà trống rỗng với giường gãy, bốn mươi năm không có lá thư cho thí chủ. Chúng ta ráng học gương trụ trì của ngài. Thấy người xưa mà hổ thẹn cho mình, chúng ta bây giờ so với người xưa xa lơ xa lắc.
Niên hiệu Càn Ninh năm thứ tư đời Đường (897 TL), ngày mùng hai tháng mười một, Sư nằm nghiêng bên mặt an nhiên thị tịch, Sư thọ 120 tuổi.
Vua ban hiệu là Chơn Tế đại sư.
Sư con nhà bán bánh ở Giang Lăng. Thuở nhỏ có những điềm lạ. Lúc thiền sư Đạo Ngộ được Tiết sử họ Lư thỉnh ở chùa Thiên Vương, người ta không thể hiểu được. Nhà Sư ở đầu đường vào chùa, mỗi ngày Sư đem mười cái bánh vào cúng dường thiền sư Đạo Ngộ. Đạo Ngộ nhận ăn xong, thường để lại một cái bánh, bảo:
Ta cho ngươi để ân huệ cho con cháu.
Một hôm, Sư tự nghĩ: “Bánh là ta đem đến, cớ sao Hòa thượng lại cho ngược lại ta? Biết đâu không có ý chỉ.” Sư bèn đến hỏi Đạo Ngộ.
Đạo Ngộ bảo:
– Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi có lỗi gì?
Sư nghe lời này hiểu được thâm ý liền xin xuất gia.
Đạo Ngộ bảo:
– Ngươi trước sùng phước thiện, nay tin lời ta, có thể gọi là Sùng Tín.
Từ đây, Sư hầu hạ bên thầy.
Từ chuyện rất nhỏ mà ngộ được thâm ý nên ngài xuất gia. Các thiền sư đâu phải là những người học giỏi thôi, có người bửa củi, giã gạo, có người làm tiều phu, có người là thợ làm bánh. Bán bánh biết tu cũng làm thiền sư như thường.
Ngài Sùng Tín sau này nối pháp Thiên Vương Đạo Ngộ.
Một hôm Sư thưa:
– Từ ngày con vào đây đến giờ, chưa được Thầy chỉ dạy tâm yếu.
Đạo Ngộ bảo:
– Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy ngươi tâm yếu.
– Chỉ dạy ở chỗ nào?
– Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?
Sư cúi đầu lặng thinh giây lâu.
Đạo Ngộ bảo:
– Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.
Ngay câu nói đó, Sư khai ngộ. Lại hỏi thêm:
– Làm sao gìn giữ
– Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác.
Có sách khác viết rằng: Hồi ngài mới xuất gia, ngài Đạo Ngộ bảo: “Ngươi làm thị giả cho ta đi rồi ta sẽ dạy tâm yếu cho.” Ngài làm thị giả mấy năm, không thấy dạy câu nào hết. Tưởng không được thầy chỉ dạy tâm yếu. Bữa đó ngài hỏi: “Thầy đã bảo sẽ dạy tâm yếu, sao mấy năm nay không dạy con câu nào hết?”
Một hôm Sư thưa:
– Từ ngày con vào đây đến giờ, chưa được Thầy chỉ dạy tâm yếu.
Đạo Ngộ bảo:
– Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy ngươi tâm yếu.
– Chỉ dạy ở chỗ nào?
– Ngươi dâng trà lên, ta vì ngươi mà tiếp. Người bưng cơm đến, ta vì ngươi mà nhận. Ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?
Ngài Đạo Ngộ nói: Ta luôn dạy tâm yếu cho ngươi, có lúc nào không dạy. Dạy khỏe ru.
Sư cúi đầu lặng thinh giây lâu.
Đạo Ngộ bảo:
– Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.
Ngay câu nói đó, Sư khai ngộ. Lại hỏi thêm:
– Làm sao gìn giữ
– Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác.
Nhờ câu Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai, ngay đó ngài đại ngộ.
Ngài hỏi tiếp: Làm sao gìn giữ? – Mặc tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác. Nghĩa là hằng ngày thong dong tự tại, đừng cho tâm phàm dấy lên thì không cần thánh giải gì, thế là đủ.
Sau Sư đến Lễ Dương dừng trụ tại Long Đàm.
Có vị tăng hỏi:
– Hạt châu trong búi tóc người nào được?
Sư bảo:
– Người không thưởng ngoạn được.
– Để ở chỗ nào?
– Có chỗ tức nói đến.
Người không cầu thưởng ngoạn là được, người muốn thưởng ngoạn hạt châu đó là không được.
Có cô ni hỏi:
– Làm sao được làm Tăng?
Sư bảo:
– Làm Ni đã bao lâu?
– Lại có khi làm Tăng chăng?
– Hiện nay ngươi là gì?
– Hiện nay thân Ni ai chẳng biết?
– Ai biết ngươi?
Có cô ni hỏi:
– Làm sao được làm Tăng?
Cô ni này nghĩ làm ni là tội lỗi nên tu hành không được đạo, bây giờ muốn làm tăng nên hỏi làm sao được làm tăng.
Sư bảo:
– Làm Ni đã bao lâu?
– Lại có khi làm Tăng chăng?
– Hiện nay ngươi là gì?
– Hiện nay thân Ni ai chẳng biết?
– Ai biết ngươi?
Cô ni đó chấp tướng ni: Hiện nay thân Ni ai chẳng biết. Ngài hỏi: Ai biết ngươi? Cái đó không còn phân biệt nam nữ thì ai biết ngươi? Nếu biết là tại ngươi phân biệt, chỗ đó ai mà biết ngươi. Chính câu nói như đùa này nói lên chỗ sống chân thật của các ngài.
Thiền sư sống như vậy, không có phân biệt. Tại mình phân biệt rồi cứ đòi làm tăng, nếu không phân biệt thì còn đòi gì nữa. Sao không giống thiên nữ ở trong thất của ngài Duy-ma-cật, mười hai năm tìm thân nữ không có, thì cái gì là ni?
Thứ sử Lý Cao hỏi:
– Thế nào là chân như Bát-nhã?
Sư đáp:
– Tôi không có chân như Bát-nhã.
– Hân hạnh được gặp Hòa thượng.
– Đây vẫn là lời nói ở bên ngoài.
Như vậy là có hay không có chân như Bát-nhã? Nếu thấy có thì hết Bát-nhã rồi. Chỗ này nghe như nói ngược mà chính là đáp.
Tuyên Giám (Đức Sơn) hỏi:
– Đã lâu nghe danh Long Đàm (đầm rồng), đến đây thì Đàm (đầm) chẳng thấy, Long (rồng) cũng chẳng hiện.
Sư bảo:
– Ngươi đã đến gần được Long Đàm.
Tuyên Giám liền thôi.
Ngài Đức Sơn Tuyên Giám lúc này đến với vẻ cao ngạo, vì ngài là người thông thạo kinh điển. Nhưng khi nghe câu đó, ngài liền phục ở lại, thờ thiền sư Sùng Tín làm thầy.