Tâm Kinh Tụng giảng giải

Cố Tri Bát Nhã Ba La Mật Đa Thị Đại Thần Chú, Thị Đại Minh Chú



Sơ Tổ tụng:

Bát-nhã là thần chú,

Hay trừ năm uẩn nghi,

Phiền não thảy đoạn dứt,

Thanh tịnh tự phân ly.

Bốn trí cuồn cuộn sóng,

Tám thức lộ thần uy,

Đèn tâm soi pháp giới,

Đó chính là bồ-đề.

Giảng:

“Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú”, nghĩa là: “Hãy biết rằng Bát-nhã Ba-la-mật-đa chính là đại thần chú, là đại minh chú.”

“Chú” được hiểu là “lời nói chân thật”, biểu hiện của chân như, mang năng lượng đặc biệt mà ngôn ngữ thông thường khó diễn tả hết, nên thường không dịch nghĩa, mà cứ để nguyên âm thanh đó. Càng đọc đúng âm thanh nguyên gốc thì sự cảm ứng càng cao. Nhưng vì đây là những âm thanh phát ra từ tâm định của chư Phật Bồ-tát, nên dù chúng ta đọc âm không chuẩn, mà chúng ta dồn hết tâm thành vào đó, thì tự nhiên cũng sẽ đạt được năng lực của thần chú ấy. Vì chú là sự biểu hiện của tâm. Chúng ta trì chú là đang tiếp cận tâm của Phật, của Bồ-tát. Khi tâm chúng ta và tâm chư Phật cảm ứng với nhau, thì việc gì cũng thành tựu.

Có một nông phu chuyên trì Lục tự minh chú, thay vì đọc đúng là “Án Ma Ni Bát Di Hồng”, ông lại đọc sai thành “Án Ma Ni Bát Trâu Hồng”. Nhưng ông không biết mình đọc sai, ngày nào cũng trì mười ngàn biến, ông đếm 10 ngàn viên sỏi bỏ vào hộp 1 và để bên cạnh hộp 2, cứ trì một câu ông lại dời một viên ở hộp 1 qua hộp 2. Một thời gian, tâm ông chuyên nhất bỗng điều kỳ diệu xảy ra, mỗi lần ông trì một biến viên sỏi ở hộp 1 tự bay qua hộp 2, ông không cần tự mình dời nữa. Một hôm, có một vị thầy đi ngang qua nghe ông đọc sai nên giúp ông sửa lại. Ông nghe lời, tối đó khi trì chú ông đọc đúng âm thanh của chú nhưng viên sỏi ở hộp 1 không tự bay qua hộp 2 nữa. Vì sao? Vì ông mải lo nhớ cách đọc cho đúng, tâm không còn chuyên nhất, không còn là “một tâm một ý” nữa, nên năng lực siêu nhiên cũng không còn.

Thế nên, chúng ta đừng sợ là mình phải đọc tiếng Phạn mới được. Chúng ta cứ theo phiên âm tiếng Việt mà đọc, miễn là chúng ta chân thành, một lòng một dạ. Cái tiếng đó chỉ là cái vỏ bên ngoài, cái “tâm” bên trong mới là quyết định. Chúng ta để hết tâm vào đó là sẽ có thần lực. Tất cả các chú như chú Đại Bi, chú Chuẩn Đề, hay chú Lăng Nghiêm v.v…, chú nào cũng linh nghiệm hết, vì đều do chư Phật, Bồ-tát nói ra. Vấn đề không phải là chú nào linh hơn chú nào, mà là chúng ta có duyên với chú nào, và chúng ta có đủ “một tâm” để trì niệm tới nơi tới chốn hay không thôi.

“Bát-nhã là thần chú,

Hay trừ năm uẩn nghi.

Khi nói đến “thần chú”, chúng ta nghĩ ngay đến uy lực. Uy lực của thần chú cực kỳ mạnh mẽ, không thể nghĩ bàn. Sử Thiền sư Việt Nam có kể một câu chuyện, có một thiền sư trước khi xuất gia là chúng ta của một pháp sư, cha ngài đấu pháp với một pháp sư khác và bị đánh chết, để trả thù, Ngài chuyên tâm trì chú Đại Bi suốt ba năm, sau khi có được uy lực phi thường, Ngài đã dùng thần lực chú Đại Bi đánh chết vị pháp sư kia. Sau đó, Ngài hối hận nên xuất gia tu hành. Thế nên, uy lực của thần chú là không thể nghĩ bàn.

Vậy tại sao “Bát-nhã là thần chú”? Bởi trí tuệ Bát-nhã chính là thần lực mạnh mẻ đánh tan mọi nghi ngờ về Năm uẩn của chúng ta. Chúng ta đối với Năm uẩn này cứ nghi mãi, sợ mãi. Phật đã dạy Năm uẩn là không thật, nhưng chúng ta thấy nó ảnh hưởng mình ghê quá, đau đớn quá, nên tin không nổi. Muốn xả thân này mà xả không nổi! Ai đánh mình, nhẫn khó lắm. Ai mắng chửi, sỉ nhục mình…, oán hận cứ tự trào lên, nếu không trả thù được, nỗi hận đó tích tụ bên trong, chờ ngày nhân duyên chín muồi sẽ lại hiện ra.

Chúng ta thường nghi ngờ nhân quả, thấy người ác thì giàu sang hạnh phúc, còn người thiện lại bệnh tật xui xẻo, thế là nghi. Rồi nghi cả chính mình, thấy tu khó quá, chắc mình không làm nổi, rồi buông xuôi. Có một vị thầy đã dạy đệ tử thế này: “Tu đừng để lui sụt, vì lui rồi trở lên rất khó”, giống như leo núi, vất vả lắm mới leo lên được, nhưng xuống núi lại dễ vô cùng, cũng vậy, tu thắng mình rất khó, còn buông xuôi theo thế tục lại rất dễ dàng.

Có một câu chuyện nhân quả có thật: thời thực dân đô hộ châu Phi, một ông chủ da trắng có một sở thích rất độc ác, sáng nào cũng cưỡi ngựa cầm roi da đi khắp đồn điền, hễ gặp nô lệ là đánh bất kể họ có lỗi hay không. Hiện đời, ông tái sinh làm chúng ta ngựa làm việc ở một khu du lịch, phải cho khách cưỡi đi dạo từ sáng tới tối, hết lượt này đến lượt khác không được nghỉ ngơi. Một vị tôn túc có thiên nhãn thấy biết đó là quả báo của ông chủ đồn điền năm xưa, và thời gian để ông trả hết còn rất lâu. Ông ta muốn nói, muốn hối lỗi cũng không được, chỉ biết hí lên vì đau đớn, vì cực nhọc. Chúng ta thấy đó, quả báo hiện tiền nhưng mình tin không nổi. Nếu tin, chúng ta sẽ sợ, không dám làm ác nữa. Bồ-tát thì sợ nhân, chúng sanh thì đợi đến khi quả hiện tiền mới sợ, mà lúc đó thì đã muộn rồi!

Chúng ta tu hành đừng tưởng tu cho Phật, cho Bồ-tát. Chúng ta đi học là học cho chính mình, không phải cho cha mẹ thầy cô, sau này mình được sang trọng, nhàn nhã hay phải đi bốc vác, làm việc tay chân nặng nhọc… đều là do mình cả. Tu hành cũng vậy, nếu mình tin vào trí Bát-nhã, xem đó là thần chú, dám nhận lấy sự chiếu soi của tự tâm, phân biệt được đâu là “mình” (tâm chiếu soi) và đâu là cái tâm “phân biệt hơn thua phải quấy”, thì lúc đó chúng ta mới trừ được mọi nghi ngờ về Năm uẩn và các pháp thế gian.

Trí Bát-nhã là thần chú mạnh nhất, nó đánh tan mọi sự nghi ngờ. Khi tin được rồi, lòng tin sẽ trở thành “tín căn” vững chắc, lúc đó chúng ta mới vững vàng tu hành.

 “Phiền não thảy đoạn dứt,

Thanh tịnh tự phân ly.”

Khi phiền não đoạn dứt, thì “Thanh tịnh” sẽ tự nhiên hiển lộ, tự nó phân ly ra khỏi phiền não. Tâm chúng ta vốn dĩ thanh tịnh, chưa từng bị phiền não nhuốm bẩn. Chỉ vì chúng ta cứ dính mắc, cứ cho mình là người thích, mình là người sân, là người buồn v.v… nên mới cảm giác như cái thanh tịnh đó bị dính với phiền não. Nhưng thực ra, làm gì có chuyện dính!

Khi chúng ta chắc chắn một điều: “Tham không phải là tôi, Sân không phải là tôi”, thì lúc cơn tham hay cơn giận khởi lên, chúng ta sẽ buông được ngay. Giả sử có người tới xin một món đồ không quan trọng lắm hay không có giá trị nhiều, chúng ta cho rất dễ dàng. Còn đối với thân ngũ uẩn này, vì chúng ta thấy nó quá quan trọng với mình nên cứ chấp chặt không buông, thật là khó bỏ!

Thử xét xem cái “sân” có phải là mình không? Hôm qua nổi sân, hôm nay cái sân đó đâu rồi? Nếu sân là mình thì nó phải còn hoài. Nhưng không, rõ ràng nó chỉ sanh rồi diệt, sanh rồi diệt… Nó không thật, mà tại sao chúng ta cứ bám vào nó để rồi tạo ác nghiệp, để rồi phải chịu quả báo đau khổ? Ví dụ như ở địa ngục, nếu chúng ta không thấy nó là giả, thì từng chút đau đớn, từng giọt dầu sôi đổ lên người sẽ là nỗi kinh hoàng tột độ. Nhưng nếu chúng ta thấy nó là giả, thì dù ở địa ngục hay cõi trời, lòng chúng ta vẫn bình thản.

Nhưng khi nào chúng ta thực sự thấy được địa ngục và cõi trời chỉ là một, thấy khổ và vui như nhau, lúc đó mới nói tới chuyện “làm ác không sợ”. Còn bây giờ, chúng ta vẫn còn sợ đau, sợ chết, sợ bị đánh đập…, thì xin đừng làm ác. Làm ác chắc chắn sẽ có quả báo, không chạy đâu cho thoát.

Vậy làm sao để dứt phiền não? Chỉ có một cách duy nhất: Chúng ta phải thấy rõ các pháp, kể cả cái thân này, đều không thật. Khi chúng ta lìa bỏ được sự chấp niệm vào những cái không thật ấy, thì cái thanh tịnh bản nhiên, cái vốn dĩ là chúng ta, sẽ tự hiển lộ ra. Đó chính là sự thanh tịnh tự phân ly khỏi phiền não.

“Bốn trí cuồn cuộn sóng,

Tám thức lộ thần uy.”

Một vị khi đã ngộ đạo, đã giác ngộ hoàn toàn, thì tâm các Ngài không còn là tâm thức phàm phu nữa, mà chuyển hóa tám thức (Bát thức) ô nhiễm thành trí tuệ thanh tịnh (“chuyển thức thành trí”), đạt được Tứ trí (Bốn trí tuệ viên mãn của bậc Giác ngộ). Đây chính là sự biểu hiện của Phật tánh khi không còn bị che lấp bởi vô minh và vọng tưởng..

Năm thức trước (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức) chuyển thành Thành Sở Tác Trí: Đây là trí tuệ làm cho các công việc được thành tựu một cách tự tại. Khi các căn tiếp xúc với trần cảnh, bậc đã chuyển thức sẽ nhận biết sự vật một cách chính xác, không bị dính mắc bởi tham ái hay sân hận. Trí này giúp chư Phật và các bậc Thánh thực hiện các phương tiện thiện xảo để cứu độ chúng sinh mà không khởi tâm phân biệt, tính toán.

Thức thứ sáu chuyển thành Diệu Quan Sát Trí: Đây là trí tuệ quan sát, phân biệt một cách vi tế và chính xác mọi hiện tượng, chân lý mà không bị rơi vào tà kiến hay chấp ngã. Nếu ý thức thông thường thường bị tình cảm và định kiến chi phối, thì Diệu Quan Sát Trí nhìn thấu suốt bản chất của mọi sự vật (vô thường, khổ, không, vô ngã) một cách sáng suốt, thấu đáo mọi căn cơ chúng sinh để giáo hóa phù hợp.

Thức thứ bảy thành Bình Đẳng Tánh Trí: Khi Mạt-na thức không còn chấp “cái tôi” làm trung tâm, hành giả chứng được trí tuệ bình đẳng. Trí này nhận thấy mình và người, chúng sinh và chư Phật, mọi sự vật hiện tượng đều bình đẳng trong thể tánh, đều cùng một chân như. Nó phá tan bức tường ngăn cách giữa chủ thể và khách thể, từ đó khởi lòng từ bi bình đẳng (vô duyên đại từ, đồng thể đại bi).

Và thức thứ tám thành Đại Viên Cảnh Trí: Đây là trí tuệ tối cao, sáng trong như chiếc gương lớn, phản chiếu tất cả vũ trụ vạn vật mà không gợn chút bụi trần. Khi hạt giống (chủng tử) vô minh trong A-lại-da thức được chuyển sạch, nó trở thành Đại Viên Cảnh Trí, soi thấu mọi ngóc ngách của vũ trụ, quá khứ, hiện tại và vị lai mà không bị che khuất, viên mãn trọn vẹn mọi công đức.

Khi đó, “bốn trí cuồn cuộn sóng”, nghĩa là các diệu dụng của trí tuệ ấy tuôn trào không dứt, phóng ra ánh sáng hào quang chiếu rọi khắp các cõi Phật. Ánh sáng đó sáng hơn mặt trời nhưng tuyệt nhiên không làm chói mắt. Đó chính là thần thông, là diệu dụng của bậc đã sống được với tự tánh.

Còn “tám thức lộ thần uy” là sao? Khi đã thành đạo, tám thức không còn bị nghiệp dẫn dắt, mà lộ ra cái uy thần không thể nghĩ bàn. “Thần uy” ở đây không có nghĩa là phép lạ mà là sự tự tại: không còn bị bất cứ pháp nào trói buộc, không còn bị hoàn cảnh làm lung lay hay ảnh hưởng. Chúng ta làm chủ hoàn toàn các pháp, dùng các pháp để chiếu soi, để giáo hóa, chứ không còn bị các pháp “dẫn đi” nữa. Đó chính là lúc chúng ta thực sự “cuồn cuộn sóng”, thực sự lộ ra cái uy thần của một bậc đã làm chủ được sanh tử.

Một bậc đã giác ngộ không cần phải chứng tỏ điều gì, mà chính sự tự tại giữa dòng đời, sự không bị vướng mắc vào bất kỳ pháp nào, chính là sự lộ bày thần uy mạnh mẽ nhất. Đây chính là con đường mà mỗi người học Phật đều phải hướng tới.

“Đèn tâm soi pháp giới,

Đó chính là Bồ-đề.”

Tâm chúng ta vốn dĩ luôn sáng, luôn chiếu soi. Sự chiếu soi ấy chính là “Đèn tâm”, và khi nó soi khắp pháp giới, thấu biết tất cả mọi sự, đó chính là giác ngộ, là Bồ-đề. Bát-nhã chính là trí tuệ thanh tịnh của tự tâm, nó là “thần chú” giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn. Nếu đã sống được với tự tâm, thì trên đời này làm gì còn cái gì là “khó khăn” nữa?

Người thế gian coi bệnh tật là khổ sở tột cùng, nhưng với người đã nhận được tự tâm, bệnh chỉ là bệnh. Có thể đau, nhưng không khổ. Vì chúng ta biết thân ngũ uẩn này đương nhiên phải có lúc đau, lúc bệnh, rồi đến lúc hết thọ mạng thì xả bỏ. Chúng ta không cần phải chạy đôn chạy đáo, lo sợ tột độ. Duyên đến thì uống thuốc, hết duyên thì thôi, cứ bình thường mà đối diện.

Ngài Tinh Vân từng kể: Trước khi đi tu, ngài tạo nhiều ác nghiệp, nên thầy bói nói ngài chỉ thọ được bốn mươi mấy tuổi. Đến năm bốn mươi mấy tuổi, ngài bệnh nặng lắm, nhưng ngài không đi bác sĩ, không cầu cứu ai cả. Ngài biết đó là quả báo, nên chỉ một tâm niệm Phật, dùng cái thân này trả nợ cũ. Ngài cứ nằm đó chịu đựng, một lòng hướng về Tây Phương. Vậy mà một tháng sau, ngài hết bệnh! Đó là nhờ lòng tin sâu sắc vào nhân quả, không bị cái tướng bệnh hoạn chi phối.

Thật ra, mọi bệnh hoạn, tai ương đều chỉ là tướng huyễn. Nếu không tin sâu, chúng ta sẽ chạy đôn chạy đáo, tâm hồn bất an. Còn nếu chúng ta có trí Bát-nhã, thấy tất cả chỉ là không thật, thì dù người ta vu oan bắt chúng ta vào tù, chúng ta cũng thấy bình thường. Vào tù là để trả nghiệp, trả xong thì được giải oan, chẳng có gì phải sợ hay oán hận.

Đó chính là cách “niệm thần chú” đúng nghĩa. Người ta kề dao vào cổ, nhưng nếu tâm chúng ta thanh tịnh, chúng ta vẫn bình thản. Con dao đó chỉ chém được cái thân ngũ uẩn này, chứ đâu chém được cái tự tánh thanh tịnh của chúng ta!

Vậy nên, đừng chỉ niệm Bồ-tát Quán Thế Âm rồi đợi Ngài tới cứu. Ngài cứu được hay không còn tùy vào nghiệp của chúng ta. Thay vì chờ đợi, hãy dùng trí tuệ Bát-nhã để thấy rõ các pháp là huyễn mộng. Khi đạt đến chỗ “không dính mắc”, tức là chúng ta đang trì chú, đang sống với Bồ-đề rồi đó. Các pháp sanh diệt là việc của nó, chẳng dính dáng gì tới cái tâm chân thật này.

Sự giải thoát không nằm ở đâu xa, mà nằm ngay ở cái “tâm chiếu soi” này. Khi thấy mọi sự là huyễn, chúng ta đã nắm được chiếc chìa khóa vạn năng vượt qua mọi khổ ải.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.