Sơ Tổ tụng:
Trí Phật sâu khó lường,
Tuệ giải rộng vô biên,
Tâm Vô thượng biến khắp,
Từ quang chiếu đại thiên.
Tâm tịch diệt khéo léo,
Dựng lập vạn pháp môn,
Bồ-tát nhiều phương tiện,
Rộng cứu độ nhân thiên.
Giảng:
“Trí Phật sâu khó lường,
Tuệ giải rộng vô biên.”
Đến đây, Sơ Tổ tán thán công đức của chư Phật và Bồ-tát. Chúng ta hãy chú ý, “trí Phật” ở đây không phải là thứ để chúng ta đem cái tâm phân biệt ra lường tính.
Trí Phật sâu khó lường: Chữ “lường” ở đây chính là cái lỗi của phàm phu. Càng dùng cái tâm suy nghĩ, tìm kiếm, đo lường thì càng xa rời trí tuệ ấy. Chư Phật là những bậc đã hoàn toàn làm chủ và sử dụng được “tài sản vô giá” của chính mình – tức tự tánh. Như người làm chủ đất nước: chỉ khi ở vị trí đó, họ mới thấu hiểu quyền hạn và trách nhiệm của mình. Chư Phật đã “ở vị trí đó”, nên trí tuệ của ngài là sự hiển lộ tự nhiên, không qua suy tính.
Tuệ giải rộng vô biên: Cái hiểu của Phật không bị ngăn ngại bởi bất cứ điều gì. ngài không giống như người mù rờ voi, chỉ thấy một phần mà lầm tưởng là toàn thể. ngài thấy toàn vẹn vũ trụ này như chính nó đang là. Sự sâu mầu của lời Phật dạy – dù chỉ là một phần nhỏ như lá trong lòng bàn tay – cũng đủ để khai mở cho chúng sanh, vì đó là sự thật được chứng nghiệm từ chính kinh nghiệm tự thân, không phải lý thuyết suông.
Tại sao chúng ta vốn có mà lại chưa thể nhập được cái trí tuệ ấy? Vì chúng ta còn thấy cái thân này là thật, còn thấy của cải, danh vọng… là thật. Chúng ta nói “tin Phật”, “tin tánh không”, nhưng chỉ cần đụng đến tài sản hay cái tôi một chút là đã “rung rinh” ngay.
Tiền thân Phật khi làm tiên nhân tu hạnh nhẫn nhục bị vua Ca Lợi chặt hết tứ chi mà không khởi chút sân hận, hay thái tử Tu-đạt-noa (một tiền thân khác của Phật) cho đi tất cả không chút tiếc rẻ – đó là vì các ngài thấy tất cả pháp đều là giả. Nếu chỉ bố thí mà không tu tâm, không nhận ra tự tánh, thì đó chỉ là tạo cái nhân cho đời sau hưởng phước, mà phước báu nếu không có trí tuệ dẫn đường, lại chính là “tai họa đời thứ ba” – vì có quyền, có tiền mà đầy rẫy tham sân si thì chỉ có tạo ác nghiệp dữ dội hơn thôi.
Đừng tìm trí tuệ Phật ở đâu xa, chỉ cần quay về nhận lại “kho báu” ngay nơi chính mình. Chúng ta có đầy đủ tất cả, chỉ là chưa chịu “nhận” và chưa chịu “dụng” mà thôi.
“Tâm vô thượng biến khắp,
Từ quang chiếu đại thiên.”
Tâm vô thượng biến khắp: Tâm vô thượng là tâm giác ngộ tột cùng, không còn gì cao hơn, không còn đối đãi. Biến khắp nghĩa là ở đâu tâm cũng hiện diện, không có giới hạn. Đối với phàm phu, ta chỉ biết mình ở đây, tay chân ở kia. Nhưng với bậc đã ngộ, họ thấy mình không nằm trong thân xác, mà thân xác nằm trong cái “biết” trùm khắp của họ. Khi tâm không còn “cái tôi” ngăn cách, nó tự nhiên trùm khắp. Đức Phật Thích Ca đang giảng pháp ở đây, mà các vị Phật ở phương xa vẫn biết, các vị Bồ-tát vẫn đến dự được. Đó là vì tâm các ngài không bị giới hạn bởi không gian, thời gian.
Từ quang chiếu đại thiên: Từ quang là ánh sáng của lòng từ bi, không vụ lợi, không điều kiện. Chiếu đại thiên là chiếu rọi khắp tam thiên đại thiên thế giới. Lòng từ ấy như ánh mặt trời, nó chẳng bao giờ tắt. Đức Phật thấy chúng sinh khổ vì “đi ăn xin khi mang một đống vàng trên mình” (có tự tính nhưng không chịu nhận), nên ngài xót xa vô cùng, hóa hiện đủ mọi phương tiện để cứu giúp.
Có vị sẽ thắc mắc: Tại sao Phật từ bi mà không cứu hết chúng sanh? Bởi vì sự tiếp nhận ấy phụ thuộc vào nhân duyên và lòng tin. Có một cô kỹ nữ bị đọa xuống địa ngục, bị hành hạ khổ sở, nhưng khi có một vị tăng (hóa thân của Bồ-tát) đến khuyên cô hối lỗi, cô không chịu vì cho rằng mình không có lỗi gì cả, cái “tôi” đang bực bội, đang nghĩ rằng bị oan. Lòng từ của Phật Bồ-tát lúc đó giống như bàn tay đã đưa ra, nhưng cô không nắm lấy.
Hay có một người là dân giang hồ, làm ác rất nhiều, nhưng vì thích bài nhạc chú Án ma-ni bát-di-hồng nên thường hát như một cách giải trí. Đến khi nghiệp đến, thần thức bị dẫn xuống địa ngục chịu hành hình, do sợ hãi tột cùng nên ra sức niệm chú. Chẳng ngờ, Bồ-tát Địa Tạng hiện thân đưa thần thức người đó rời khỏi địa ngục trở về dương thế. Từ đó, anh ta thức tỉnh tu hành, không còn làm ác nữa.
Thế nên, sự gia hộ của chư Phật, Bồ-tát và các vị hộ pháp (Thiên Long Bát Bộ) chỉ có thể có tác dụng khi chúng ta có “nhân” (đã từng gieo duyên, đã từng tu tập, hoặc ít nhất là trong lòng còn chút niềm tin hướng về Phật).
Thế tại sao chư Phật không trực tiếp cứu giúp? Giống như cha mẹ thương con cái, chỉ có thể dạy dỗ, lo cơm nước…, nhưng không thể “sống thay” con; thầy cô thương học trò chỉ có thể dạy hết mình, chứ không thể “học thay” học trò. Chư Phật Bồ-tát cũng vậy, chỉ có thể chỉ cho chúng ta cách nhận ra ông chủ, chớ không thể nhận thay chúng ta. Sự che chở của Phật Bồ-tát chỉ là sự trợ duyên chớ không thể là chánh nhân.
“Tâm tịch diệt khéo léo,
Dựng lập vạn pháp môn.”
Khi chưa thành Phật, chư Phật là Bồ-tát, và các vị Bồ-tát cũng giống như chư Phật. Cái tâm của các ngài là tâm vắng lặng, tịch diệt, không một chút niệm dấy khởi. Nhưng cái tâm tịch diệt đó lại cực kỳ khéo léo.
Tại sao lại nói là khéo léo? Vì các ngài có vô vàn phương tiện để cứu độ nhân thiên. Khi độ chúng sanh, các ngài biết rõ lúc nào nên dùng pháp nào, thời điểm nào nên dùng pháp nào, biết rất rõ ràng. Khi tâm vắng lặng không còn một niệm, thì lúc đó chính là lúc các ngài “khéo” dùng phương tiện dựng lập ra vô số pháp môn. Đức Phật nói Ta có tám muôn bốn ngàn pháp môn để đối trị tám muôn bốn ngàn phiền não. Số tám muôn bốn ngàn đó chỉ là con số biểu trưng cho sự vô lượng, chúng sanh có bao nhiêu loại bệnh, Phật có bấy nhiêu phương tiện để chỉ dạy.
Thời Phật tại thế, tại sao có nhiều vị đắc đạo? Vì Đức Phật biết rõ mỗi người căn cơ thế nào, dạy pháp gì thích hợp, con đường nào là nhanh nhất giúp họ đắc đạo v.v… Cái chỗ “tâm tịch diệt” mà vẫn có đầy đủ phương tiện dựng lập “vạn pháp môn” là ở đó. Phật biết ngài Xá Lợi Phất lúc nào thì ngộ đạo, ngài Mục Kiền Liên đang kẹt ở chỗ nào v.v… Mỗi vị, Đức Phật dùng một phương tiện khác nhau. Với ngài A Na Luật, Phật dùng phương cách quở trách để ông thức tỉnh tu hành…
Có người hỏi: “Tại sao Đề-bà Đạt-đa, Phật lại không độ được?” Thật ra, Đề-bà Đạt-đa là Bồ-tát nghịch hạnh. Ông cố ý làm vậy để thành tựu cái “đẹp” cho Phật. Giống như khi chúng ta coi phim, phải có người ác làm hại thì mới thấy được cái hiền và sự nhẫn chịu của nhân vật chính. Nếu chỉ gặp thuận duyên, làm sao thấy được tài năng và trí tuệ của bậc giác ngộ? Phải có nghịch cảnh, người ta mới khâm phục. Nghịch cảnh đó ở đâu ra? Phải có người dám đóng vai đó. ngài Đề-bà Đạt-đa chấp nhận làm việc đó, chấp nhận xuống địa ngục để thành tựu cho Phật. Đâu phải Phật không độ được ông, Phật độ được chứ, bởi Phật là bậc “Điều Ngự Trượng Phu” mà.
Tuy nhiên, cũng có những người Phật đã khéo léo chỉ dạy nhưng họ không nghe. Như cha mẹ lúc nào cũng muốn dạy con nên người, thầy cô đem hết tâm huyết dạy học trò, nhưng với đứa không chịu học, tối ngày chơi game thì cha mẹ, thầy cô cũng đành chịu thôi. Phật cũng vậy, ngài biết rõ bệnh của chúng ta, lấy đúng toa thuốc cho chúng ta uống, nhưng chúng ta không chịu uống thì Phật cũng thua. ngài không thể uống thay chúng ta được.
Trong thời Phật, nhiều người chứng đắc vì họ chịu nghe lời Phật, thực hành theo phương tiện Phật chỉ dạy. Ai theo lời dạy của Phật đều đắc đạo. Đó là cái khéo léo khi Đức Phật “dựng lập vạn pháp môn”.
“Bồ-tát nhiều phương tiện,
Rộng cứu độ nhân thiên.”
Bồ-tát cũng giống như Phật, các ngài có vô vàn phương tiện để cứu độ, không chỉ cứu độ chư Thiên, loài người, mà còn cứu độ tất cả chúng sanh trong các cõi khác. Như ngài Địa Tạng ở ngay dưới địa ngục để cứu vớt chúng sanh địa ngục, tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà ngài dùng những phương tiện khác nhau để độ. Hay như Bồ-tát Quán Thế Âm, ngài có thể hiện ra đủ mọi thân tướng: làm người, làm thần, làm quỷ… để hóa độ cho phù hợp.
Trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy các vị Bồ-tát thị hiện nhiều thân tướng như Dạ thần, quỷ vương, thậm chí có vị thị hiện làm kỹ nữ. Nhưng các ngài làm kỹ nữ không phải vì mưu cầu vật chất hay bán thân nuôi miệng như người đời, mà “vì đạo”. Các ngài dùng chính thân tướng đó tiếp cận và độ những chúng sanh đang đắm chìm trong nhục dục, dẫn dắt họ quay về với Phật pháp, trở lại với tự tánh thanh tịnh của chính mình.
Đây là đoạn Tổ tán thán Hạnh đức, Trí tuệ và sự khéo léo tuyệt vời của chư Phật và chư vị Bồ-tát. Các ngài đi vào đời, dấn thân vào mọi hoàn cảnh chỉ để giáo hóa chúng sanh. Chúng ta phải thấy mình vô cùng có phúc khi được làm đệ tử Phật, được nghe những chân lý này.
Vậy tại sao mình vẫn khổ? Chỉ là vì mình không chịu làm theo, hoặc làm theo quá ít, nên mới bị vướng bận, bị khổ đau. Mọi pháp trên thế gian này thực sự không có gì là thật, chỉ vì tâm chúng ta chấp nó là thật, nên nó mới thành thật mà buộc chặt lấy chúng ta thôi.