Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

33. Lục Tổ Huệ Năng (638 - 713) 



Sư họ Lư, tổ tiên quê ở Phạm Dương, cha tên Hành Thao, mẹ là Lý Thị. Đời Võ Đức (618-627 TL) nhà Đường, cha Sư làm quan ở Nam Hải, sau dời về Tân Châu. Sư sanh tại Tân Châu. 

Sư được ba tuổi, cha mang bệnh rồi mất, mẹ thủ chí nuôi con. Sự lớn lên trong gia đình rất nghèo túng. Mỗi ngày Sư phải vào rừng đốn củi đem ra chợ đổi gạo nuôi mẹ. 

Một hôm, nhân gánh củi ra chợ bán, có người mua bảo gánh đến nhà. Sư gánh ngang qua một căn nhà, bỗng nghe người trong nhà tụng kinh, âm ba vang ra. Sư vừa nghe chợt tỉnh ngộ, Sư hỏi khách: 

– Tụng đó là kinh gì? Phát xuất từ đâu? 

Khách đáp: 

– Kinh Kim Cang, phát xuất từ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở chùa Đông Sơn, tại huyện Hoàng Mai. 

Nghe nói xong, Sư tỏ chí muốn tìm đến đó học đạo, song gia cảnh còn mẹ già không ai nuôi! Có người khách hàng quen xin đài thọ số tiền để Sư cung cấp mẹ già. Gặp cơ hội tốt, Sư về xin phép mẹ cho xuất gia, mẹ hoan hỷ cho Sư xuất gia. 

Lục Tổ là vị Tổ gần gũi chúng ta nhất. Lâu nay chúng ta nghĩ rằng người tu hành đạo đức cao siêu nếu trở lại độ chúng sanh thì đầy đủ phước đức, sanh trong nhà giàu có rồi đi tu đắc đạo, giáo hóa. Nhưng Lục Tổ lại sanh trong gia đình nghèo khó, đến nỗi phải đi đốn củi gánh ra chợ bán nuôi sống qua ngày. Trong đạo thường nói các vị Bồ-tát ra đời không phải chỉ nhất định ở một hạng người nào đó trong xã hội, mà có mặt trong mọi tầng lớp dân chúng. Biết như thế thì chúng ta chẳng dám khinh ai, vì chung quanh chúng ta người nào cũng có thể là Bồ-tát. Khi đủ duyên đi tu thì cũng có thể đắc đạo và đủ cơ duyên giáo hóa. Như vậy ai cũng là người đáng quý chứ không nên xem thường. Nếu cho rằng Phật Bồ-tát ra đời phải là những vị phước đức đầy đủ, sanh trong cảnh giàu sang vua chúa, đó là hiểu lầm.

Ngài Huệ Năng họ Lư, quê ở Phạm Dương, cha mất sớm chỉ còn mẹ tên là Lý Thị. Mới ba tuổi đã mồ côi cha thì làm sao có đủ điều kiện để đi học, bởi vậy phải chịu nghèo dốt. Một hôm nhân gánh củi ra chợ bán, có người khách mua bảo gánh đến nhà. Khi gánh củi tới nhà người, nghe người nhà bên cạnh tụng kinh bỗng chợt tỉnh ngộ.

Tuy ngài ở trong cảnh nghèo khổ dốt nát, nhưng tâm thì sáng suốt cho nên nghe một câu kinh liền tỉnh ngộ. Khi ấy ngài hỏi khách: Tụng đó là kinh gì, phát xuất từ đâu? Khách đáp: Kinh Kim Cang, phát xuất từ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở chùa Đông Sơn tại huyện Hoàng Mai, ngài khuyến khích chư tăng Phật tử nên tụng kinh Kim Cang, để phá hết tất cả những chấp trước mê lầm.

Trong thiền viện chúng ta thường tụng kinh Bát-nhã, vì Bát-nhã thu gọn ý nghĩa kinh Kim Cang. Khi tụng kinh Bát-nhã, thâm nhập được lý Bát-nhã thì cũng bớt chấp bớt khổ. Chúng ta chỉ cần ứng dụng câu Bồ-tát Quán Tự Tại khi thực hành lý Bát-nhã sâu xa, soi thấy thân năm uẩn không thật, thì tất cả khổ nạn đều qua hết. Nếu tụng và thực hành được thì cả đời mình an lành tự tại.

Giả sử đang đi ngoài đường bị ai đó kêu tên chửi, nếu khi ấy biết thân này không thật, họ chửi mà mình vẫn đi thản nhiên là qua được khổ ách. Cho nên người tu thiền đặt nặng ở trí tuệ Bát-nhã, mà Bát-nhã là tinh túy cho kinh Kim Cang.

Nghe khách nói xong, ngài muốn tìm đến đó học đạo, nhưng hoàn cảnh mẹ già không có người nuôi nên hơi khó xử. Đang suy nghĩ không biết giải quyết thế nào, có người khách quen tốt bụng biết ngài ham học đạo, xin đứng ra thay thế trách nhiệm nuôi dưỡng mẹ già để ngài yên tâm đi tu.

Khi có người hứa giúp đỡ nuôi mẹ già rồi, ngài xin phép mẹ đi xuất gia. Bà cũng là người trọng đạo, nên đồng ý ngay. Chúng ta thấy mẹ ngài là người rất can đảm, chỉ có một đứa con để nhờ cậy trong lúc tuổi già, nhưng thấy con ham tu sẵn sàng hoan hỷ cho đi, mặc dù mình phải sống cô đơn. Đó là gương của một bà mẹ kỳ đặc chúng ta nên học theo.

Bây giờ thì không được như thế, đứa con nào hiếu thảo mà thích đi tu thì cha mẹ không muốn cho, nếu nó đi sẽ bỏ mình bơ vơ. Nghĩ như vậy là vì mình hay vì con? Nếu sợ mình bơ vơ là do tâm ích kỷ. Con phát tâm tốt cha mẹ nên hoan hỷ thuận theo, vì tôn trọng điều lành của con, chứ không vì sự ích kỷ của riêng mình. Đó mới là cha mẹ cao thượng.

Sư khăn gói lên đường, trải hơn một tháng mới đến huyện Hoàng Mai, Sư vào yết kiến Tổ. Tổ hỏi: 

– Ngươi từ đâu đến? 

Sư thưa: 

– Từ Lãnh Nam đến. 

– Đến đây để cầu việc gì? 

– Đến đây chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác. 

– Người Lãnh Nam không có Phật tánh, làm sao cầu làm Phật được? 

– Người thì có nam bắc, chứ Phật tánh không chia nam bắc. 

Tổ biết Sư là hàng pháp khí, bèn bảo xuống nhà trù làm công quả. 

Ở đây, Sư chuyên bửa củi, giã gạo. Cối gạo to, chày đạp lớn, người Sư ốm, không đủ sức nặng cất được chày đạp, Sư phải cột thêm cục đá vào lưng để đủ sức giã gạo. Sư làm công việc nặng nhọc như vậy gần ngót sáu tháng, mà chưa khi nào trễ nải thối chí.

Khi được mẹ hoan hỷ cho đi, ngài khăn gói lên đường, đi bộ một tháng mới tới huyện Hoàng Mai. Ngài yết kiến Ngũ Tổ. Tổ hỏi: Ngươi từ đâu đến? Ngài thưa: Từ Lãnh Nam đến. Tổ hỏi: Đến đây để cầu việc gì? Ngài đáp: Đến đây chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác. Đi tu chỉ muốn làm Phật chứ không muốn làm gì khác.

Bây giờ có nhiều người đi tu không muốn làm Phật, mà muốn làm thần thánh hoặc đời sau giàu có sung sướng, chứ ít ai chịu làm Phật vì Phật khó làm. Bởi vì Phật là giác ngộ giải thoát sanh tử, mục đích duy nhất của người tu cũng là được giác ngộ giải thoát sanh tử, chứ không có gì khác.

Ngũ Tổ bảo người Lãnh Nam không có Phật tánh, làm sao cầu làm Phật được? Ngài nói câu này để dọ dẫm trình độ Phật pháp của người cư sĩ mới đến. Lãnh Nam tức là xứ quê mùa, như vùng sơn cước hay cao nguyên ở xứ mình. Vì người ở chỗ quê mùa không có Phật tánh làm sao cầu thành Phật. Ngài thưa: Người thì có nam bắc, chứ Phật tánh không chia nam bắc. Câu nói đó chứng tỏ ngài đã hiểu đạo như thế nào rồi. Khi nghe cư sĩ nói như thế, Tổ biết là bậc pháp khí, tức là người có thể gánh vác Phật sự lớn lao sau này. Biết như vậy, nhưng nói nhiều sợ mọi người để ý, Tổ bèn bảo ngài xuống nhà trù làm công quả. Ngài tới đây chưa học đạo gì cả, chỉ làm công quả thôi.

Ở nhà trù ngài chuyên bửa củi giã gạo. Ngày xưa người học đạo có ý chí rất mạnh mẽ, tự mình sáng kiến để vượt qua sự khó khăn trong việc làm cũng như việc tu. Ngài nhẹ ký quá, chày không cất lên thì lấy đá đeo thêm cho đủ sức nặng. Nếu chúng ta bây giờ vào chùa công quả, một mình không đủ sức nặng để cất cái chày thì kêu thầy tri sự cho thêm người nữa, chứ không ai có thể làm như ngài.

Chỗ khác còn nói chi tiết hơn, là khi ngài cột cục đá sau lưng do cái chày cất lên xuống, sợi dây siết sâu vô trong thịt bị hư thối có giòi, mỗi khi giòi rớt xuống đất ngài lượm để vô. Đó là chuyện người xưa thuật lại không biết có thêm bớt gì không. Nhưng thực tế năm 1993 chúng tôi đi Trung Quốc có ghé chùa Nam Hoa, là chỗ Lục Tổ ở, người ta còn để cái cối giã gạo, cái chày và cục đá ngày xưa ngài đeo. Thấy những vật còn như vậy, nhưng không biết người sau tái tạo hay những vật cũ ngày xưa còn để lại.

Chúng ta thấy trên phương diện tu hành, khi còn là cư sĩ ngài chỉ nghe được một câu kinh liền tỉnh ngộ. Khi vào chùa làm công quả, công việc hết sức nặng nhọc mà ngài vẫn làm chưa khi nào trễ nải hay thối chí. Tám tháng trời giã gạo, bửa củi mà không hề chán nản thối lui, người xưa dám chết sống vì đạo, chừng nào đủ duyên thì xuất gia chứ không đòi hỏi. Chúng ta bây giờ muốn tu mà ý chí không bền vững, nên thầy bắt làm công quả một tháng coi bộ ngán rồi.

Một hôm, Tổ xuống nhà trù, đi ngay đến chỗ Sư giã gạo, thấy Sư mang đá giã gạo, Tổ bảo: 

– Ngươi vì đạo quên mình như thế ư? Ta biết ngươi căn tánh lanh lợi, nhưng ngại kẻ khác hại ngươi nên ta không nói chuyện với ngươi, ngươi có biết chăng? 

Sư thưa: 

– Con đã biết thế. 

Tổ biết thời cơ truyền pháp đã đến, liền ra lệnh cho toàn chúng trình kệ. Trong số chúng bảy trăm người đều suy nhường thượng tọa Thần Tú. Sư nghe bài kệ của Thần Tú biết là chưa thấy tánh, nên họa lại một bài kệ. Đọc kệ của Sư, Tổ biết Sư đã thấy tánh. Mấy hôm sau, Tổ tìm cơ hội xuống nhà trù, đến chỗ Sư giã gạo hỏi: 

– Gạo trắng chưa? 

Sư thưa: 

– Đã trắng mà chưa có sàng.

Tổ bèn cầm gậy gõ trên tay cối ba cái, rồi đi lên.

Canh ba đêm ấy Sư vào thất Tổ. Tổ truyền pháp và trao luôn y bát cho Sư, dạy đi về phương Nam. 

Một hôm Ngũ Tổ xuống nhà trù thấy ngài mang đá giã gạo, Tổ bảo: Ngươi vì đạo quên mình như thế ư? Ta biết ngươi căn tánh lanh lợi, nhưng ngại kẻ khác hại ngươi, nên ta không nói chuyện với ngươi, ngươi có biết chăng? Như vậy là giữa thầy trò có sự thông cảm, học trò vì đạo quên mình, không nghĩ tới bản thân, một mình đeo đá giã gạo nhọc nhằn, Tổ cũng cảm thấy xót xa. Cho nên mới hỏi, lâu nay ta không nói chuyện với ngươi, ngươi có biết chăng? Ngài thưa: Con đã biết thế. Tức là con biết Tổ đã hiểu con rồi.

Tổ biết thời cơ truyền pháp đã đến, nên ra lệnh cho toàn chúng trình kệ, trong số chúng bảy trăm người đều nhường cho thượng tọa Thần Tú. Ngài Huệ Năng nghe bài kệ của Thần Tú biết là chưa thấy tánh nên họa lại một bài kệ. Đọc kệ của ngài, Ngũ Tổ biết đã thấy tánh nên mấy hôm sau xuống nhà trù, đến chỗ ngài giã gạo, hỏi: Gạo trắng chưa? Ngài đáp: Đã trắng mà chưa có sàng. Tổ cầm gậy gõ trên tay cối ba cái, rồi chắp tay sau lưng đi lên. Đúng canh ba đêm ấy, ngài đến gõ cửa sau, Tổ liền mở cửa cho vào thất.

Ngũ Tổ lấy y che hết các cửa sổ chung quanh, rồi đem kinh Kim Cang ra giảng cho Huệ Năng nghe, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng bừng ngộ. Canh ba đêm ấy Ngũ Tổ truyền y bát cho Huệ Năng và đưa xuống thuyền qua sông đi về phương Nam.

Sư mang y bát đi được mấy hôm vừa đến Dữu Lãnh bị một người hiệu Huệ Minh đuổi theo. Sư để y bát trên tảng đá, vào rừng ẩn. Huệ Minh đến giờ y bát lên không nổi, đành phải kêu: 

– Hành giả! Tôi đến đây vì pháp chứ không vì y bát. 

Sư nghe nói, bước ra ngồi trên tảng đá bảo: 

– Nếu ông vì pháp, hãy bình tâm lại nghe tôi nói. 

Huệ Minh đứng lặng yên giây lâu. Sư bảo: 

– Khi không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? 

Huệ Minh nghe câu này liền đại ngộ. 

Sư thường tàng ẩn nơi hai ấp Hoài và Hội. Có lúc gặp phải cuộc sống khó khăn, Sư lại gia nhập vào đoàn thợ săn. Đến bữa ăn, Sư hái rau luộc nhờ trong nồi thịt, rồi chỉ ăn rau, không ăn thịt. Như vậy Sư với hình thức cư sĩ, thường tùy nghi nói pháp cho họ nghe. 

Ngày xưa Ngũ Tổ dạy đệ tử tụng kinh Kim Cang, khi gặp Huệ Năng, Tổ đem kinh Kim Cang ra giảng, ngài Huệ Năng ngộ đạo từ kinh Kim Cang. Bây giờ chúng tôi dạy thiền, giảng kinh cho tăng ni Phật tử nghe hiểu rồi ứng dụng tu, đâu có trái với đạo lý, không sai tông chỉ.

Sau khi nghe Ngũ Tổ giảng kinh, ngài Huệ Năng ngộ đạo và được truyền y bát. Truyền y bát tiêu biểu ý nghĩa gì? Ý nghĩa làm chứng tín cho người sau tin. Như ngày xưa tổ Bồ-đề-đạt-ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa, độ tổ Huệ Khả ngộ đạo, vì muốn cho người tin đây là người ngộ đạo thật, nên mới trao y bát để làm chứng. Bởi vậy trọng tâm là ngộ đạo, chứ không phải y bát. Nhưng người sau hơi đặt nặng y bát, quên chỗ ngộ đạo.

Khi ngài Huệ Năng mang y bát đi được mấy hôm, đến Dữu Lãnh bị một người tên là Huệ Minh đuổi theo. Huệ Minh vốn là một võ tướng đi tu, gặp chuyện này liền nổi xung đuổi trước. Tổ để y bát trên tảng đá rồi vào rừng ẩn, bởi vì y bát để làm chứng cho người tin rằng, vị này được Tổ chứng nhận, chứ không phải gốc của sự tu. Cho nên ngài để y bát trên tảng đá, tùy ý ai muốn lấy thì lấy, ngài không giữ làm gì.

Huệ Minh đến giở y bát lên không nổi, đành phải kêu: Hành giả! Tôi đến đây vì pháp, chứ không vì y bát. Khi ấy ngài Huệ Năng bước ra khỏi bụi rậm nói: Nếu ông vì pháp, hãy bình tâm lại nghe tôi nói. Huệ Minh đứng lặng yên giây lâu. Ngài bảo: Khi không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? Ngay câu nói này Huệ Minh liền ngộ bản lai diện mục, tức là nhận ra mặt mày xưa nay của chính mình, gọi là ngộ đạo.

Tại sao nhận ra con người xưa nay của chính mình gọi là ngộ đạo? Đa số chúng ta chỉ cho thân này là mình, ngoài ra không biết gì nữa, nếu khá hơn một chút thì cho cái suy nghĩ là mình, nhưng những cái đó thật sự chưa phải là mình xưa nay, chỉ là thân hiện nay thôi.

Thân xưa nay của chính mình không phải là thân tứ đại. Tôi thường nhắc thân tứ đại đất nước gió lửa, chất cứng trong người là đất, chất ướt trong người là nước, sự chuyển động trong người là gió, hơi ấm trong người là lửa, bốn thứ đó không phải là mình, vì nó không có tri giác. Nếu chấp cái không tri giác là mình thì sai lầm. Tại sao? Ví dụ móng tay khi còn ở trong da thịt là của mình, khi nó dài cắt rớt xuống đất là của ai? Tóc còn ở trên đầu nói tóc của tôi, khi cạo rớt xuống đất thì đâu có gì là của tôi. Vậy mà khi đầu tóc còn nguyên vẹn ai nhổ một sợi là tức lắm. Như vậy tất cả những cái mình cho là tôi đều không thật, mà bám chặt vào đó thật là vô lý! Đó là không biết được con người thật xưa nay của chính mình.

Kế đến là chấp cái suy nghĩ cho là mình. Nhưng chúng ta suy nghĩ cái gì? Suy nghĩ hơn thua, phải quấy, tốt xấu, hay dở v.v… Chúng ta đều bị mắc kẹt trong đối đãi hai bên. Ngoài ra không có gì để suy nghĩ. Những suy nghĩ đó là cái tâm sanh diệt, bám vào thân tâm sanh diệt không thật không bền cho là mình, vì vậy mà không thấy được mặt thật xưa nay của chính mình.

Muốn thấy mặt thật xưa nay của chính mình phải làm sao? Đơn giản vô cùng: không nghĩ thiện không nghĩ ác, tâm an định hằng giác hằng trị, mới thật là mình. Lâu nay chúng ta quên mất, cứ nhận cái thân tâm sanh diệt cho là mình, nên gọi là mê. Nếu buông hết hai bên thì cái chân thật hiện tiền, đó là nhận được bộ mặt thật xưa nay của chính mình, cái đó không bị bại hoại không bị sanh tử, gọi là giác ngộ.

Đạo Phật nói giác ngộ không phải giác ngộ chuyện đâu đâu, mà giác ngộ chính mình. Biết nơi mình cái gì là giả cái gì là thật, không bị mê lầm. Biết mình đúng như thật thì biết sự vật chung quanh cũng đúng như thật. Nếu chưa biết mình mà muốn biết tất cả cái bên ngoài thì biết để mà chơi thôi, chứ không đưa mình tới chỗ giác ngộ chân thật.

Nhiều người hiểu lầm cho đạo Phật là bi quan. Vì quý thầy cứ giảng pháp cho Phật tử nghe, chứ không làm việc bố thí từ thiện. Phật tử đi chùa nghe pháp tụng kinh thì người ta cho là tiêu cực. Nhưng thật tình chúng ta đi chùa đem hết tâm tư nghe giảng, ngồi thiền để bỏ cái tâm chạy theo hai bên nghĩ thiện nghĩ ác. Tâm hai bên lặng đi thì cái chân thật hiện ra.

Kinh Pháp Hoa ví dụ bản lai diện mục là hạt minh châu cột trong chéo áo, để chỉ cho chúng ta có cái quý báu mà không biết, cả đời si mê chạy theo cái tạm bợ hư dối. Vì si mê nên giành giật hơn thua rất đáng thương. Có nhiều người khi còn sống giành giật đủ thứ, lúc chết rồi buông tay, ai làm gì thì làm, chẳng biết chi hết. Vậy mà ít ai chịu tỉnh! Như một món đồ đẹp, một bữa ăn ngon không đáng giá, đồ đẹp rồi cũng hư, thức ăn ngon rồi cũng tiêu mất. Vậy mà chúng ta cứ muốn giành về mình, rốt cuộc mình cũng bại hoại.

Tọa thiền là phương tiện quay lại cố tìm cho ra cái chân thật để thấy mình là gì. Thấy thân này lỗ mũi hít vô thở ra, tim đập máu chảy, những tâm niệm sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, có cái gì là mình thật đâu. Dù chưa giác ngộ mà thấy được những cái giả đó cũng giảm phiền não năm mươi phần trăm. Nếu đinh ninh mình là thật, những hơn thua phải quấy đối đãi đều thật thì mê trọn vẹn một trăm phần trăm.

Sau khi nghe lời dạy của ngài Huệ Năng, Huệ Minh quay trở về không đuổi theo nữa.

Ngài Huệ Năng thường ẩn ở hai ấp Hoài và Hội, có lúc gặp phải cuộc sống khó khăn, ngài gia nhập vào đoàn thợ săn, đến bữa ăn hái rau gửi luộc nhờ trong nồi thịt, chỉ ăn rau không ăn thịt. Nghĩa là ngài tránh sự giết hại sinh vật, chỉ ăn cơm rau sống qua ngày, chờ thời cơ để ra giáo hóa. Dưới hình thức cư sĩ nhưng ngài tùy nghi nói pháp cho họ nghe.

Có lần Sư đến Thiều Châu, gặp ông cư sĩ Lưu Chí Lược kết bạn. Chí Lược có người cô làm Ni hiệu Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Niết-bàn. Sư vừa nghe tụng qua đã hiểu được thâm ý, vì cô giải nói nghĩa thú. 

Sư cô đem quyển kinh ra hỏi chữ, Sư bảo: 

– Chữ thì tôi không biết, nghĩa tùy cô cứ hỏi. 

Sư cô bảo: 

– Chữ còn không biết, nghĩa làm sao hiểu nổi? 

Sư bảo: 

– Diệu lý của chư Phật, chẳng liên quan gì đến văn tự. 

Sư cô nghe nói kinh ngạc, liền báo tin cho các bậc kỳ lão trong làng hay rằng: 

 Có bậc đạo sĩ đáng cúng dường. 

Dân chúng trong làng nghe tin, đua nhau đến chiêm lễ Sư. Gần đó có ngôi chùa cổ hiệu Bảo Lâm, lâu đời bị đổ nát, dân chúng trong làng hợp sức tu bổ lại, thỉnh Sư về trụ trì. Hằng ngày tứ chúng bốn phương tụ hội về đông đảo, không bao lâu ngôi chùa Bảo Lâm biến thành một đạo tràng xinh đẹp. 

Chẳng bao lâu có người theo dõi, Sư lại tìm nơi ẩn tránh. 

Ngót mười sáu năm ẩn tránh. Sự biết cơ duyên hoằng pháp đã đến, bèn đến Quảng Châu, nhằm ngày mùng tám tháng giêng năm Bính Tý, niên hiệu Nghi Phượng năm đầu (676 TL) nhà Đường. Sư vào nghỉ nhờ ngoài hiên chùa Pháp Tánh. 

Sư đến Thiều Châu kết bạn với cư sĩ Lưu Chí Lược. Ông có người cô là ni Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Niết-bàn, ngài vừa nghe qua là hiểu thâm ý, nên vì cô giải nói nghĩa thú. Vì ngài ngộ được đạo lý thiền nên nghe qua là hiểu liền, còn chúng ta cũng nghe kinh Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm… mà chưa ngộ nên nghe hoài không hiểu.

Khi ấy Sư cô đem quyển kinh ra hỏi chữ, Sư bảo tôi không biết chữ chỉ hiểu nghĩa lý, cô hỏi nghĩa lý thì tôi giảng cho nghe. Theo quan niệm thông thường Sư cô này bảo chữ còn không biết, nghĩa làm sao hiểu nổi! Sư bảo diệu lý của chư Phật chẳng quan hệ gì tới văn tự. Cái chân thật mà Phật muốn chỉ cho chúng ta chẳng quan hệ gì đến văn tự, chúng ta phải nhìn lại mình nhận cho ra, đó là cái gốc chứ không phải chữ nghĩa ở bên ngoài. Chữ nghĩa bên ngoài là tướng sanh diệt, còn con người chân thật là phải đem hết khả năng sáng suốt của mình mà nhận ra. Bởi vậy mới gọi là giáo ngoại biệt truyền. nghe nói kinh ngạc, liền báo tin cho các bậc kỳ lão trong làng biết rằng có bậc đạo sĩ đảng cúng dường. Dân chúng trong làng nghe tin, đua nhau đến chiêm lễ Sư. 

Gần đó có ngôi chùa cổ hiệu Bảo Lâm lâu đời bị đổ nát, dân chúng trong làng hợp sức tu bổ lại. Khi ấy Sư còn cư sĩ mà họ thỉnh về trụ trì. Hằng ngày tử chúng bốn phương tụ hội về đông đảo, không bao lâu ngôi chùa Bảo Lâm biến thành một ngôi chùa xinh đẹp. Chùa Bảo Lâm sau này thành chùa Nam Hoa hiện giờ ở Tào Khê Thiều Châu, bây giờ là Quảng Châu.

Ngài ở đó một thời gian bị người phát giác tung tích liền trốn đi chỗ khác. Dưới hình thức cư sĩ ngài ôm y bát ẩn tránh trong rừng mười sáu năm. Biết cơ duyên hoằng pháp đã đến, ngài bèn tới Quảng Châu nhằm ngày mùng tám tháng giêng năm Bính Tý, niên hiệu Nghi Phượng năm đầu nhà Đường, tức là năm 676 Tây lịch. Ngài vào nghỉ nhờ ngoài hiên chùa Pháp Tánh. Chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, bây giờ đổi tên là chùa Quang Hiếu, chính chỗ đó tôi cũng đi tới và cây bồ-đề ngày xưa vẫn còn.

Hôm ấy, pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết-bàn. Trước chùa treo lá phướn dài, gió thổi lá phướn phất phơ qua lại. Hai ông đạo lấy đó làm đề tài tranh luận. Người nói “phướn động”, người bảo “gió động”. Bàn qua cãi lại mà không ngã lẽ. Sư đến thưa: 

– Có thể cho khách cư sĩ này lạm bàn chăng? 

Hai ông đồng ý, Sư bảo: 

– Không phải phướn động, không phải gió động, mà tâm nhân giả động. 

Mọi người nghe qua đều ngạc nhiên. Họ vào báo cho Ấn Tông biết lời bàn kỳ diệu ấy. 

Hôm sau Ấn Tông mời Sư vào hỏi về lý “Tâm động”. Sư giải rõ thâm lý cực diệu. Ấn Tông bất giác đứng dậy thưa: 

– Ngài không phải là người thường. Nghe nói y pháp của Ngũ tổ Hoàng Mai đã về phương Nam, vậy có phải Ngài chăng. 

Sư đáp: 

– Chẳng dám. 

Ấn Tông bèn tập họp bốn chúng, cầu xin Sư trình bày y bát của Tổ. Sư bèn đem y bát cho đại chúng chiêm bái. 

Ấn Tông xin làm đệ tử, đồng thời cầu chỉ dạy thiền yếu. 

Hôm ấy pháp sư Ân Tông đang giảng kinh Niết-bàn, trước chùa treo lá phướn dài, gió thổi phất phơ qua lại, có hai ông Sa-di lấy đó làm đề tài để tranh luận. Người nói phướn động, người bảo gió động, bàn qua cãi lại mà không ngã lẽ. Gió thổi lá phướn bay phất phơ, vậy cái gì động? Phướn động hay gió động? Người nói phướn động người nói gió động, ai cũng có lý.

Nếu không có gió thì làm sao lá phướn động? Như vậy thì gió động. Nếu không có lá phướn động thì làm sao biết có gió động? Như vậy nói phướn động hay gió động đều đúng hết. Tuy nhiên đó là cái hai bên, chấp hai bên thì cãi nhau suốt đời không ra lẽ. Bởi vì các pháp là duyên sanh, không phải do một cái mà có.

Lúc bấy giờ ngài thấy hai ông Sa-di cãi hoài mà không ngã lẽ, ngài liền nói có thể cho khách cư sĩ này lạm bàn chăng? Hai vị Sa-di đồng ý. Sư bảo không phải phướn động, không phải gió động mà tâm nhân giả động. Bởi vì gió là gió, phướn là phướn, có can hệ gì tới mình đâu mà cãi, khởi lên cãi đó là tâm động. Cho nên ngài nói một câu hết sức đơn giản, không phải phướn động không phải gió động mà tâm nhân giả động. Mọi người nghe câu nói này đều ngạc nhiên giật mình, họ liền thưa cho Ấn Tông biết lời bàn kỳ diệu ấy.

Hôm sau Ấn Tông mời ngài vào hỏi về lý tâm động. Ngài giải rõ thâm lý cực diệu, Ấn Tông bất giác đứng dậy thưa: Ngài không phải là người thường, nghe nói y pháp của Ngũ tổ Hoàng Mai đã về phương Nam, vậy phải ngài chăng? Sư đáp chẳng dám! Chẳng dám tức là lời nói khiêm nhường. Ấn Tông bèn tập họp tứ chúng, xin ngài trình y bát của Tổ. Ngài bèn dem y bát cho đại chúng chiêm bái. Ấn Tông xin làm đệ tử, đồng thời cầu chỉ dạy thiền yếu. Một vị pháp sư giảng Kinh, mà khi biết được Tổ là người thâm hiểu đạo lý liền xin làm đệ tử và cầu chỉ dạy pháp tu thiền, thật là hiếm có!

Đến ngày rằm tháng giêng, Ấn Tông thỉnh các bậc danh đức đến làm lễ thế phát cho Sư. Ngày mùng tám tháng hai làm lễ truyền giới Cụ túc cho Sư tại chùa Pháp Tánh. Luật sư Trí Quang làm Tuyên luật sư. 

Giới đàn này, đời Tống, Tam tạng Cầu-na-bạt đà-la đã dự ký trước rằng: 

 Sau sẽ có nhục thân Bồ-tát thọ giới tại đây. 

Lại, thời Lương mạt, Tam tạng Chân Đế đích thân trồng hai cây bồ-đề tại giới đàn này và bảo chúng rằng: 

 Sau khoảng một trăm hai chục năm, sẽ có bậc đại sĩ ở dưới cội bồ đề này khai diễn pháp Vô thượng thừa, độ chúng sanh vô lượng. 

Sau đó có quan thứ sử Thiều Châu tên Vi Cừ thỉnh Sư đến chùa Đại Phạm thuyết pháp môn vi diệu và thọ giới vô tướng tâm địa. Quan liêu sĩ thứ và kẻ tại gia, người xuất gia đến dự nghe pháp trên ngàn người. Những thời thuyết pháp tại đây, được đệ tử Sư ghi lại đầy đủ trong kinh Pháp Bảo Đàn. 

Năm sau, Sư muốn trở về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê là chỗ ẩn xưa kia. Ấn Tông cùng quan liêu sĩ thứ đạo tục tiễn đưa có hơn ngàn người. Sư an trú ở đây, tăng chúng xa gần đua nhau đến tham vấn. Trung bình chư tăng thường có mặt tại chùa không dưới một ngàn. Sư đã dựng lên cây cờ đại pháp, bốn phương trông thấy đều hướng về. 

Đến ngày rằm tháng giêng, Ấn Tông thỉnh các bậc danh đức đến làm lễ thế phát cho Sư. Ngày mùng tám tháng hai làm lễ truyền giới Cụ túc cho tại chùa Pháp Tánh, luật sư Trí Quang làm Tuyên luật sư. Trước đó một trăm năm, ngài Cầu-na-bạt-đà-la người Ấn đi ngang qua đây đã dự trước rằng, sau sẽ có nhục thân Bồ-tát thọ giới tại đây. Lại cuối thời Lương, Tam tạng Chân Đế đích thân trồng hai cây bồ-đề tại giới đàn này, bảo chúng rằng: Sau khoảng một trăm hai chục năm sẽ có bậc đại sĩ ở dưới cội bồ-đề này khai diễn pháp thượng thừa, độ chúng sanh lượng. Đại sĩ cũng là Bồ-tát, như vậy những vị kia đã dự kiến trước rằng sẽ có Bồ-tát ra giáo hóa ở đó.

Thứ sử Thiều Châu tên Vi Cừ thỉnh Sư đến chùa Đại Phạm thuyết pháp môn vi diệu và thọ giới vô tướng tâm địa. Quan liêu sĩ thứ, người xuất gia và kẻ tại gia đến nghe pháp trên một ngàn người, những thời thuyết pháp đều được ghi lại trong kinh Pháp Bảo Đàn. Năm sau, ngài muốn trở về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê, đó là chùa Nam Hoa bây giờ. Ấn Tông cùng quan liêu sĩ thứ đạo tục tiễn đưa hơn một ngàn người. Sư an trú ở đây, tăng chúng xa gần đua nhau đến tham vấn, trung bình chư tăng có mặt tại chùa không dưới một ngàn người. Ngài đã dựng lên cây cờ đại pháp tại đây để tứ chúng bốn phương trông thấy mà hướng về. Như vậy ngài đã chính thức là vị Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa.

Niên hiệu Thần Long năm đầu (705 TL) vua Trung Tông xuống chiếu sai sứ là Tiết Giản đi thỉnh Sư về triều. Sư từ chối vì lý do bệnh. Trong lời từ chối của Sư có câu: “Tôi nguyện được trọn đời ở chốn núi rừng” 

Tiết Giản thưa: 

– Các bậc thiền đức nơi kinh thành đều nói “muốn được hội đạo cần phải tọa thiền tập định, nếu không nhân thiền định mà được giải thoát, là việc chưa từng thấy”. Chưa biết Thầy thường nói pháp dạy người thế nào? 

Sư đáp: 

– Đạo do tâm ngộ, đâu phải ở ngồi. Kinh nói: “Nếu nói Như Lai hoặc đến hoặc đi hoặc ngồi hoặc nằm là người ấy không hiểu nghĩa ta nói. Vì sao? Vì Như Lai không từ đâu đến cũng không đi về đâu.” Vì không từ đâu đến nên không sanh, vì không đi đâu nên không diệt. Nếu không sanh diệt là Như Lai thanh tịnh thiền, các pháp không tịch là Như Lai thanh tịnh tọa. Tột cùng không được, cũng không có chỗ chứng, huống là ngồi ư? 

Vua Trung Tông sai sứ thỉnh Lục Tổ về triều để quần thần được học hỏi giáo lý, nhưng ngài lấy lý do bệnh từ chối không đi, nguyện trọn đời ở chốn núi rừng. Nghe qua câu nói này chúng ta phải kính phục. Ngày xưa ai tu mà được vua triệu về làm quan nhất là làm Quốc sư dạy vua chúa là điều hy hữu, là vinh dự tột bậc. Nhưng ngài từ chối không đi, chỉ nguyện trọn đời làm tăng ở chốn núi rừng, không muốn làm Quốc sư. Đó là điều hiếm có.

Khi ấy Tiết Giản thấy ngài từ chối e rằng trở về triều vua hỏi không biết trả lời ra sao, sợ bị bắt tội, nên mới ở lại học hỏi đạo lý để về trình vua.

Tiết Giản thưa: Các bậc hiền đức nơi kinh thành đều nói “muốn được hội đạo, cần phải tọa thiền tập định, nếu không nhân thiền định mà được giải thoát là việc chưa từng thấy”. Chưa biết Thầy nói pháp dạy người thế nào? Tổ đáp: Đạo do tâm ngộ, đâu phải ở ngồi. Kinh nói: Nếu nói Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc nằm hoặc ngồi là người ấy không hiểu nghĩa ta nói. Vì sao? Vì Như Lai không từ đâu đến cũng không đi đâu. Câu này phát xuất từ kinh Kim Cang.

Phật không từ đâu đến, tại sao có sanh? Phật không đi đâu tại sao có diệt? Đây là chỉ cho Phật pháp thân không sanh không diệt, nên không đến không đi. Chúng ta thấy Phật có sanh có diệt, đó là Phật hóa thân và báo thân. Kinh Kim Cang nói Phật là chỉ cho Phật pháp thân. Lục Tổ là chỉ thẳng cho mọi người nhận ngay nơi mình, ai cũng sẵn có Phật pháp thân không đến không đi, không ngồi không nằm. Chúng ta hiểu rõ ý nghĩa này rồi thì mới thấy giá trị lời dạy của Tổ.

Tổ giải thích thêm, vì không từ đâu đến nên không sanh, vì không đi đâu nên không diệt. Nếu ở đâu đến là sanh ra, rồi đi là diệt. Như vậy có đến đi là có sanh tử. Thân hiện hữu của chúng ta có sanh tử, vì từ cha mẹ sanh ra, khi hết duyên nó bại hoại. Sanh ra gọi là đến, bại hoại gọi là đi. Thân này có đến đi, còn pháp thân thì không đến đi, không sanh diệt. Không sanh diệt là Như Lai thanh tịnh thiền, các pháp không tịch là Như Lai thanh tịnh tọa. Ở đây ngài nói thiền và tọa rất là đặc biệt. Nếu chúng ta nhận được nơi mình có pháp thân thanh tịnh không sanh không diệt, gọi là Như Lai thanh tịnh thiền, đi đâu ở chỗ nào, tới lui qua lại đều là thiền.

Ai cũng có tánh giác bất sanh bất diệt hằng hữu nơi mình. Như hội chúng nhìn lên bàn thấy hoa sen. Nếu đem hoa sen để chỗ khác thì có thấy không? Nói không thấy là lầm. Có hoa sen thì thấy hoa sen, dời hoa sen chỗ khác thì thấy không có hoa sen. Như vậy sự vật ngoại cảnh có đổi thay sanh diệt, còn cái thấy thì không sanh diệt đổi thay.

Tánh nghe hằng hữu nên khi có tiếng thì biết có tiếng, không có tiếng thì biết không có tiếng. Nhưng chúng ta lệ thuộc vào tiếng, cho nên khi có tiếng gọi là có nghe, khi không tiếng gọi là không nghe. Như vậy chỉ biết tiếng động mà không nhớ cái hay nghe không động. Cái hay nghe không động nên không sanh diệt, tiếng động cho nên có sanh diệt. Khi chúng ta ngủ có nghe không? Khi thức thì tiếng động gần xa đều nghe, nhưng khi ngủ nếu nghe đâu có ngủ được. Tuy nhiên người ngủ vẫn nghe, nếu người ngủ không nghe thì kêu không giật mình, vì sẵn có cái hay nghe nên kêu liền thức.

Sáu cơ quan mắt tai mũi lưỡi thân ý khi mở ra thì sáng, cho nên đối với cảnh ở ngoài nhạy bén. Khi ngủ thì đóng lại, nên phải có cái gì làm động mạnh mới thấy mới nghe. Như chúng ta tắt đèn ngủ, bất thần ai đó bật đèn lên thì giật mình. Cũng vậy khi ngủ tưởng là không nghe, nhưng vẫn nghe mà yếu hơn. Thành ra khi ngủ nhắm mắt tưởng là không thấy nhưng sự thật cũng vẫn thấy vẫn nghe. Khi tới nhà người quen thấy đóng cửa, chúng ta vừa ấn chuông thì có người ra mở cửa, là biết trong nhà có người thường trực. Nếu không có người thì ấn chuông một buổi cũng không ai mở cửa.

Chúng ta chỉ biết chạy theo âm thanh sắc tướng sanh diệt, mà không nhớ cái biết chân thật hằng hữu không sanh diệt của mình. Bởi nhớ tiếng cho nên phân biệt tiếng hay dở, tiếng dễ thương dễ ghét… bao nhiêu chuyện cãi vã hơn thua là do nhớ tiếng. Nếu nghe ai nói chỉ biết mình đang nghe, thì nghe tất cả âm thanh mà không dính kẹt, là tập làm thánh nhân. Nghe mà dính mắc âm thanh, không nhớ cái hay nghe đó là phàm phu. Như vậy thánh nhân và phàm phu cách nhau không xa.

Kinh Bát-nhã nói Không tức là không có thật thể, nên gọi là không tịch. Thấy các pháp bên ngoài không thật thể tức là rỗng lặng, là Như Lai thanh tịnh tọa. Thấy người thấy vật thấy tất cả cảnh bên ngoài, đều biết duyên hợp không thật, không có gì để dính mắc nhiễm ô gọi là Như Lai thanh tịnh tọa. Nếu ngộ được thiền này thì đi đứng nằm ngồi đều là thiền. Chúng ta chưa ngộ nên phải ngồi điều phục mấy chú vọng tưởng.

Lục Tổ dạy đi đâu làm gì cũng thiền, nhưng ở đây tôi bắt chư tăng ni Phật tử ngồi thiền, có trái không? Nếu ngộ được như Tổ thì khỏi ngồi, đi đâu cũng thiền, nếu chưa ngộ thì chịu khó ngồi, vì ngồi dễ điều phục tâm hơn.

Tổ dạy thêm, tột cùng không được, cũng không có chỗ chứng, huống là ngồi ư? Tại sao không có chỗ chứng? Vì pháp thân là cái hiện hữu sẵn có của mình nên nói không được không chứng, đã không được không chứng thì nói gì là ngồi hay không ngồi? Cho nên kinh Bát-nhã nói vô sở đắc.

Tiết Giản thưa: 

 Đệ tử trở về kinh đô ắt Chúa thượng có hỏi. Cúi xin Hòa thượng từ bị chỉ cho chỗ tâm yếu, ngõ hầu đối cảnh giải rành, khiến cho những kẻ học giả ở kinh đô hiểu biết tu hành. Ví như thắp một ngọn đèn, mồi được trăm ngàn ngọn đèn, khiến cho chỗ tối tăm được sáng, sáng mãi không cùng. 

Sư bảo: 

– Đạo không có tối sáng, tối sáng là nghĩa đối đãi nhau; dù sáng mãi không cùng, cũng là có cùng. Bởi vì đối đãi mà lập danh tự, cho nên kinh nói: Pháp không có so sánh vì không có đối đãi. 

– Sáng ví dụ trí tuệ, tối ví dụ phiền não. Người tu hành nếu không dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, thì cái sanh tử từ vô thủy do đâu được ra khỏi? 

Sư bảo: 

– Nếu dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, đây là kẻ tiểu căn nhị thừa, là xe dê xe nai, người đại căn thượng trí không như vậy. 

Nghe giảng tới đây Tiết Giản thưa: Đệ tử trở về kinh đô ắt Chúa thượng có hỏi. Cúi xin Hòa thượng từ bi chỉ cho chỗ tâm yếu, ngõ hầu đối cảnh giải rành, khiến cho học giả kinh đô hiểu biết tu hành. Như thắp một ngọn đèn, mồi được trăm ngàn ngọn đèn, khiến cho chỗ tối tăm được sáng, sáng mãi không cùng. Nói như vậy là hay quá! Một ngọn đèn cháy mồi ngọn đèn khác, rồi mồi cả trăm ngọn, một biến thành mười, mười biến thành trăm, liên tục như vậy thì hết sức cao quý.

Tổ lại bảo đạo không có tối sáng, tối sáng là nghĩa đối đãi nhau. Như trong nhà tối bật đèn lên thì sáng. Như vậy sáng và tối không thật, đổi thay tùy duyên, đủ duyên thì sáng thiếu duyên thì tối, tự sanh tự diệt, không gian trong nhà chẳng thay đổi. Tổ nói tiếp, dù sáng mãi không cùng cũng là có cùng. Bởi vì đối đãi mà lập danh tự nên không phải còn hoài. Cho nên kinh nói pháp không có so sánh vì không đối đãi. Như chúng ta nghe tiếng khen chê, hay dở, tất cả tiếng động ở ngoài là sanh diệt đối đãi nên có rồi mất, không có tiếng nào còn hoài. Nơi chúng ta có cái hay nghe không sanh diệt rõ ràng đâu thiếu. Nhưng chúng ta chỉ nhớ tiếng mà không nhớ cái hay nghe. Cho nên kinh Lăng-nghiêm đức Phật nói “quên mình theo vật”. Nếu ai cho mình là khôn ngoan lanh lợi, thì cũng là người quên mình theo vật, vì đó chỉ là cái khôn ngoan của thế gian sanh diệt mà thôi.

Tiết Giản thưa: Sáng như trí tuệ, tối ví như phiền não, người tu hành nếu không dùng trí tuệ chiếu phá phiền não thì sanh tử từ thủy do đâu được ra khỏi. Ông nói rất hợp đạo lý. Sáng dụ cho trí tuệ, tối tăm dụ phiền não, người tu muốn hết phiền não thì phải dùng trí tuệ chiếu phá mới ra khỏi sanh tử. Nếu không dùng trí tuệ chiếu phá phiền não thì vô minh từ vô thủy làm sao hết được, không hết thì làm sao ra khỏi sanh tử.

Tổ dạy tiếp, nếu dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, đây là kẻ tiểu căn nhị thừa, người đại căn thượng trí không như vậy. Người tu lấy cái này dẹp cái kia là tiểu căn là đối đãi, như vậy thuộc về xe dê xe nai như trong kinh Pháp Hoa nói, không phải là xe trâu trắng, tức là không dùng đối đãi để dẹp phá.

Ví dụ nghe người ta nói nặng, mình dấy niệm sân giận rồi nghĩ tiếng nói đó là duyên hợp hư giả qua rồi mất, giận chi! Nghĩ như vậy thì bớt giận, đó là dùng trí tuệ để chiếu phá vô minh phiền não, cũng hay quá rồi. Nhưng khi nghe tiếng khen chê, chỉ nhớ mình đang nghe, họ nói gì cũng được không cần chiếu phá, hai cách tu khác nhau ở chỗ đó. Dùng cái này để trị cái kia là còn đối đãi. Nhận được mình có bản tánh chân thật không bị những đối đãi chi phối, đó là tu theo Như Lai thanh tịnh thiền.

Tiết Giản hỏi: 

– Thế nào là chỗ kiến giải của Đại thừa? 

Sư đáp: 

 Sáng cùng không sáng tánh nó chẳng hai, tánh không hai tức là tánh thật. Tánh thật thì ở phàm ngu chẳng bớt, ở hiền thánh chẳng thêm, dừng nơi phiền não mà chẳng loạn, đứng nơi thiền định mà chẳng lặng, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng đến chẳng đi, chẳng ở giữa và hai bên, chẳng sanh chẳng diệt, tánh tướng như như, thường trụ không dời đổi, gọi đó là Đạo. 

Tiết Giản thưa: 

 Hòa thượng nói chẳng sanh chẳng diệt, có khác gì chúng ngoại đạo nói? 

Sư bảo: 

– Ngoại đạo nói chẳng sanh chẳng diệt, là đem cái diệt chặn cái sanh, lấy cái sanh để bày cái diệt. Diệt vẫn chẳng diệt, sanh nói không sanh. Ta nói không sanh diệt là xưa tự không sanh, nay cũng không diệt, đâu có thể đồng với ngoại đạo ư? Ông muốn rõ được tâm yếu thì đối tất cả việc thiện ác đều chớ suy nghĩ, tự nhiên được vào. Tâm thể trong trẻo thường lặng lẽ diệu dụng như hằng sa. 

Tiết Giản nghe qua liền đại ngộ, lễ bái Sư trở về triều. Về triều ông tâu hết tự sự cho vua nghe. Vua càng thêm cung kính và ngợi khen. Vua lại ban chiếu và cúng dường ca-sa, tích trượng, bảo câu… Sắc đổi tên chùa Bảo Lâm là Trung Hưng. 

Năm sau, vua lại sắc thứ sử Thiều Châu kiến thiết ngôi chùa Trung Hưng lại và đổi tên là Pháp Tuyền. Chùa của Sư ở trước, tại Tân Châu đổi tên là Quốc Ân. 

Tiết Giản thưa: Thế nào là chỗ kiến giải của Đại thừa? Tổ đáp: Sáng cùng không sáng, tánh nó chẳng hai, tánh không hai tức là tánh thật. Ví dụ không gian trong nhà này, tối và sáng nương khoảng không gian đó mà hiện, khoảng không gian là đồng thì không tối không sáng. Đứng về hiện tướng tối sáng giả dối sanh diệt thấy đó là hai, nhưng thể tánh là không hai, tánh không hai tức là tánh thật, cái hai đó là không thật.

Tánh thật thì ở phàm ngu chẳng bớt, ở hiền thánh chẳng thêm. Tại sao? Như người không biết chữ, thấy nghe ngửi nếm biết được những trần cảnh bên ngoài, với một người học tới cử nhân tiến sĩ cũng thấy nghe ngửi nếm. Giữa hai người đó cái thấy nghe ngửi nếm có khác nhau không? Khác là do sự huân tập hiểu biết trong suy nghĩ, trong tướng sanh diệt, còn thể không sanh diệt cũng như nhau. Như khi thấy màu đỏ thì biết đỏ, trắng thì biết trắng, nghe tiếng người tiếng xe thì biết tiếng người tiếng xe. Thấy nghe cũng như nhau, nên nói tánh thật thì nơi phàm ngu chẳng bớt, nơi hiền thánh chẳng thêm.

Tổ dạy: Dừng nơi phiền não mà chẳng loạn, đứng nơi thiền định mà chẳng lặng, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng đến chẳng đi, chẳng giữa và hai bên, chẳng sanh chẳng diệt, tánh tướng như như, thường trụ không dời đổi, gọi đó là Đạo. Như vậy Đạo là gì? Là thể tánh hiện có nơi mỗi người, lưu xuất ra sáu căn, không ai hơn kém. Đó là thể chân thật không đến đi, không sanh diệt, không loạn động. Như chúng ta thấy nghe mà sống được bằng cái hay thấy hay nghe đó là sống được với Đạo. Đạo là chân lý không sanh diệt, còn chúng ta tu hành giữ giới ăn chay, tụng kinh niệm Phật tọa thiền là sống với Đạo, Đạo đó là sanh diệt.

Tiết Giản thưa: Hòa thượng nói chẳng sanh chẳng diệt, khác gì chúng ngoại đạo nói? Tổ bảo: Ngoại đạo nói chẳng sanh chẳng diệt là đem cái diệt chặn cái sanh, lấy cái sanh để bày cái diệt. Đem cái diệt chặn cái sanh là còn thấy có sanh thật, lấy cái sanh để bày cái diệt là còn thấy cái diệt thật. Như vậy sanh diệt là không thật mà cho là thật, rồi lấy cái này dẹp cái kia cũng chưa phải là chỗ cứu cánh.

Diệt vẫn chẳng diệt, sanh nói không sanh. Ta nói không sanh diệt là xưa tự không sanh nay cũng không diệt, đâu thể đồng với ngoại đạo ư? Tổ nói không sanh không diệt khác với ngoại đạo. Ngoại đạo nói không sanh không diệt là cưỡng nói không sanh không diệt, muốn không sanh diệt phải dẹp cái sanh diệt, nên lấy cái này chặn cái kia. Tổ nói nguyên nó không sanh thì làm sao có diệt. Như thân của chúng ta do cha mẹ sanh ra, vì có sanh nên có diệt, còn cái thấy nghe thì không sanh không diệt.

Mắt bệnh thì không thấy, lỗ tai hư thì không nghe. Khi mắt không thấy tai không nghe tưởng như cái thấy nghe diệt, nhưng thật sự nó không diệt. Tại sao? Ví như dòng điện làm cho cây quạt quay, ngọn đèn sáng. Nếu đóng công tắc thì quạt ngừng đèn tắt, nhưng dòng điện vẫn không mất. Như người mù người điếc có cái hay riêng của họ. Mù thì lỗ tai nhạy, nghe tiếng nói liền biết đó là ai. Điếc thì con mắt nhạy, thấy miệng người khác nhóp nhép thì hiểu ý liền.

Thường đánh cờ tướng thì hai người phải có mắt sáng như nhau để nhìn nước cờ đi cho đúng. Nhưng ở Vũng Liêm có một vị Hòa thượng mù từ nhỏ mà đánh cờ tướng ít ai thắng nổi. Tay ngài nhạy vô cùng, chỉ rờ là biết con xe con pháo rồi bắt đầu đi, rất là hay. Như vậy cái tay thế con mắt. Cho nên cái hay thấy hay nghe không bao giờ mất, nên nói không sanh không diệt.

Tổ dạy: Muốn rõ được việc tâm yếu thì tất cả những việc thiện ác, hay dở tốt xấu… đều chẳng suy nghĩ, buông xả hết, tự nhiên được vào. Tâm an thì hợp với đạo. Nếu một hai giờ ngồi thiền mà buông hết niệm thiện ác thì cũng vào đạo trong một hai giờ.

Chúng ta thấy Lục Tổ thủy chung không hai. Đầu tiên Huệ Minh hỏi thế nào là đạo, ngài bảo: Không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? Đến đoạn này Tổ cũng dạy Tiết Giản muốn rõ được tâm yếu thì đối với tất cả việc thiện ác đều không suy nghĩ, tự nhiên được vào. Hết sức đơn giản, nhưng rất khó làm! Tâm thể trong trẻo thường lặng lẽ mà diệu dụng như hằng sa. Nếu mắt thấy sắc, tai nghe tiếng mà không dính mắc thì diệu dụng như hằng sa.

Tiết Giản rất lanh lẹ, nghe qua liền đại ngộ, lễ bái Tổ xin trở về triều. Về triều ông tâu hết tự sự cho vua nghe. Vua càng thêm cung kính và ngợi khen. Vua lại ban chiếu và cúng dường ca-sa, tích trượng, bảo câu… Đổi tên chùa Bảo Lâm là chùa Trung Hưng.

Năm sau, vua lại sắc thích sử Thiều Châu kiến thiết ngôi chùa Trung Hưng lại và đổi tên là Pháp Tuyền. Chùa của Sư ở trước tại Tân Châu đổi tên là Quốc Ân. Một hôm Tổ bảo chúng: Thiện tri thức mỗi người tịnh tâm nghe ta nói pháp, hết thảy các ngươi tâm mình là Phật, chớ có hồ nghi. Nói tâm của các bậc thánh nhân là Phật thì được, còn tâm mình phàm quá làm sao là Phật, mà Tổ bảo hết thảy các ngươi tâm mình là Phật, chớ có hồ nghi? 

Một hôm Sư bảo chúng: 

– Thiện tri thức! Các ngươi mỗi người tịnh tâm nghe ta nói pháp, hết thảy các ngươi tâm mình là Phật, chớ có hồ nghi. Ngoài không có một pháp có thể dựng lập, đều là tâm mình sanh ra muôn pháp. Kinh nói: “Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt.” Nếu muốn thành tựu chủng trí phải đạt Nhất tướng tam-muội và Nhất hạnh tam-muội. 

Nếu ở tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng ấy mà không sanh yêu ghét, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng nghĩ việc lợi ích, thành hoại v.v… an ổn thanh tịnh gọi là Nhất tướng tam-muội. 

Nếu ở tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm, ròng một trực tâm, không dời khỏi đạo tràng, liền thành tinh độ, gọi là Nhất hạnh tam-muội. 

Nếu người đủ hai tam-muội này, như đất có giống hay chứa đựng, nuôi dưỡng thành tựu được bông trái của nó. Nhất tướng, nhất hạnh cũng lại như vậy. 

Nay ta nói pháp, ví như khi mưa thấm ướt cả đất, Phật tánh của các ngươi ví như các hạt giống, vừa gặp thấm ướt liền nảy mầm. Giữ đúng lời ta quyết được Bồ-đề, đúng theo ta dạy mà thực hành nhất định chứng quả Phật. 

Ngoài không một pháp thể dựng lập, đều từ tâm mình sanh ra muôn pháp. Tâm mình sanh ra muôn pháp là sao? Như hòn non bộ, cái nhà, cây cối v.v… không ngoài tâm mà có, do suy nghĩ muốn trồng điều thì tìm hột điều ươm trồng. Muốn làm hòn non bộ kiểu nào thì suy nghĩ rồi đắp thành. Muốn làm cái nhà thì suy nghĩ phác họa bao nhiêu căn, kiểu gì, rồi mới xây dựng. Những thứ ấy không phải bỗng dưng có, mà do tâm suy nghĩ làm thành, từ đó có hình tướng, lại đặt tên cái nhà, hòn non bộ v.v… như vậy không phải tâm sanh ra muôn pháp là gì!

Kinh nói: Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt. Tại sao? Ví dụ hoa sen không tự nói nó là hoa sen, mà do chúng ta khởi niệm đặt tên nó là hoa sen. Đó là tâm sanh thì pháp sanh. Bây giờ không khởi niệm, dù cho có muôn sự muôn vật mà không thành danh, nên nói tâm diệt thì muôn pháp diệt.

Ngài dạy thêm hai pháp này chúng ta ráng nhớ để tu. Nếu muốn thành tựu chủng trí, phải đạt Nhất tướng tam-muội và Nhất hạnh tam-muội. Chủng trí là trí của Phật. Tam-muội là chánh định.

Nhất tướng tam-muội là sao? Nếu tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng ấy không sanh yêu ghét, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng nghĩ việc lợi ích thành hoại v.v… an ổn thanh tịnh gọi là Nhất tướng tam-muội. Như đứng trước trăm ngàn người mà tâm không suy nghĩ người này đẹp, người kia xấu, người này dễ thương, người kia dễ ghét… Đi chợ thấy bày nhiều đồ vật mà không khởi niệm thích cái này, ưa cái kia v.v… Đối với tất cả tướng cần dùng thì dùng, không dính mắc không lấy bỏ. Không động niệm thì tâm không dính kẹt, thấy là thấy, như vậy gọi là Nhất tướng tam-muội.

Nhất hạnh tam-muội là sao? Nếu ở tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm, chỉ một trực tâm không rời khỏi đạo tràng liền thành tịnh độ gọi là Nhất hạnh tam-muội. Trực tâm là không dính bên này kẹt bên kia, tất cả chỗ là đạo tràng, được vậy là Nhất hạnh tam-muội.

Nếu người đủ hai tam-muội này, như đất giống, hay nuôi dưỡng thành tựu được hoa trái, Nhất tướng Nhất hạnh tam-muội cũng lại như thế. Lời dạy của Lục Tổ rất đơn giản, nếu ứng dụng được thì việc tu hết sức nhẹ nhàng, nếu không ứng dụng được thì việc tu thật là nhiêu khê!

Người thế gian vì quá nhạy bén, đối cảnh luôn dính mắc nên đối với pháp tu này rất khó thực hành. Chư thánh thản nhiên tự tại đi giữa âm thanh sắc tướng mà không dính kẹt. Hiểu như vậy mới thấy sự khác nhau giữa phàm và thánh.

Tổ ví dụ, Ta nói pháp như mưa thấm ướt đất, Phật tánh của các ngươi như hạt giống vừa gặp đất thấm ướt liền nảy mầm. Thực hành đúng lời ta dạy quyết định được Bồ-đề, chứng quả Phật. Tổ xác nhận như vậy là hết lòng với chúng ta rồi.

Niên hiệu Tiên Thiên năm đầu (712 TL), một hôm Sư chợt gọi đồ chúng đến bảo: 

 Ta ở chỗ tổ Hoằng Nhẫn thọ pháp yếu cùng y bát. Nay tuy nói pháp mà không truyền y bát, bởi vì các ngươi lòng tin đã thuần thục, không còn nghi ngờ, nên chẳng truyền. Nghe ta nói kệ: 

Tâm địa hàm chư chủng, 

Phổ vũ tất giai manh. 

Đốn ngộ hoa tình dĩ, 

Bồ-đề quả tự thành. 

Dịch: 

Đất tâm chứa các giống, 

Mưa khắp ắt nảy mầm. 

Hoa đốn ngộ đã nở, 

Trái Bồ-đề tự thành. 

Sư lại bảo: 

– Pháp ấy không hai, tâm ấy cũng vậy. Đạo kia thanh tịnh cũng không các tướng. Các ngươi dè dặt chớ quán tịnh và tâm kia không. Tâm này sẵn tịnh, không lấy bỏ, mỗi người tự nỗ lực tùy duyên được an lành. 

Lúc Tổ sắp tịch dạy đồ chúng: Ta ở chỗ tổ Hoằng Nhẫn thọ pháp yếu cùng y bát. Nay tuy nói pháp mà không truyền y bát, bởi vì các ngươi lòng tin đã thuần thục không còn nghi ngờ. Nghe ta nói kệ:

Đất tâm chứa các giống, 

Mưa khắp ắt nảy mầm.

Hoa đốn ngộ đã nở, 

Trái Bồ-đề tự thành.

Đất tâm chứa các giống là chỉ cho pháp thân có sẵn. Mưa khắp ắt nảy mầm, gặp thầy tổ nhắc nhở thì tự nó nảy mầm. Hoa đốn ngộ đã nở nghĩa là nhận được pháp thân, thấu suốt bản tâm thì trái Bồ-đề tự thành, không nghi ngờ.

Tổ lại bảo: Pháp ấy không hai, tâm ấy cũng vậy. Đạo kia thanh tịnh cũng không các tướng. Các ngươi dè dặt chớ quán tịnh và tâm kia không. Tâm này sẵn tịnh không lấy bỏ, mỗi người tự nỗ lực tùy duyên được an lành. Pháp đó không hai thì đâu có gì là có không mà quán không, đâu có gì tịnh uế mà quán tịnh. Cho nên Tổ dạy đừng quán tịnh cũng đừng quán không. Tâm này sẵn tịnh không nên lấy bỏ, mỗi người tự nỗ lực tu hành thì tùy duyên được an ổn.

Sư thuyết pháp độ sanh đã được bốn chục năm. Trước đây Sư đã sai người về chùa Quốc Ân ở Tân Châu xây tháp. Đến ngày mùng sáu tháng sáu năm này, Sư lại sai người đến đốc suất làm nhanh. Đến ngày mùng một tháng bảy, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai (713 TL), Sư gọi môn nhân bảo: 

– Ta muốn trở về Tân Châu, các ngươi lo sửa soạn thuyền. 

Lúc ấy, đại chúng đều buồn bã, thỉnh Sư ở nán lại. Sư bảo: 

 Chư Phật ra đời vẫn thị hiện vào Niết-bàn. Có đến ắt có đi, lẽ đó là việc thường vậy. Thân hình hài của ta ắt có chỗ. 

Chúng hỏi: 

– Hôm nay Thầy đi bao giờ trở lại? 

Sư bảo: 

– Lá rụng về cội, trở lại không hẹn. 

Chúng hỏi: 

– Pháp nhãn tạng Thầy sẽ trao cho người nào? 

Sư bảo: 

– Có đạo thì được, vô tâm thì thông. 

Chúng thưa: 

– Thầy để lời di chúc xem có nạn không? 

Sư bảo: 

 Ta diệt độ khoảng năm sáu năm ắt có người đến lấy đầu ta. Nghe ta nói kệ: 

Đầu thượng dưỡng thân, 

Khẩu lý tu xan. 

Ngộ Mãn chi nạn, 

Dương Liễu vi quan. 

Dịch: 

Trên đầu nuôi thân, 

Trong miệng để ăn. 

Gặp Mãn gây nạn,

Dương Liễu làm quan. 

Sư nói tiếp: 

Sau khi ta diệt độ khoảng bảy chục năm, có hai vị Bồ-tát từ phương đông đến, một tại gia, một xuất gia chung hưng hóa Phật pháp, sửa lại các ngôi già-lam nâng đỡ tông chỉ của ta.

Khi ngài sắp tịch, đại chúng hỏi: Hôm nay Thầy đi bao giờ trở lại? Tổ bảo: Lá rụng về cội, trở lại không hẹn. Tại sao? Bởi vì chúng ta ai cũng có sẵn tâm thanh tịnh. Thân hoại rồi nhưng thể tánh thanh tịnh không hoại, giống như lá rụng về cội. Cho nên hỏi khi nào trở lại, ngài trả lời đủ duyên thì trở lại, không đủ duyên thì thôi. Đó là hình ảnh của người tu giải thoát.

Chúng hỏi: Pháp nhãn tạng, Thầy sẽ trao cho người nào? Tổ đáp: Có đạo thì được, vô tâm thì thông. Người có tu nhận ra chân lý thì được truyền, người không có tâm dính mắc thì thông được chân lý. Giả sử bây giờ cách xa Tổ một ngàn năm, mà chúng ta thấy được đạo, không có tâm dính mắc thì vẫn được Tổ truyền y.

Chúng thưa: Thầy để lời di chúc xem có nạn không? Tổ bảo: Ta diệt độ khoảng năm sáu năm ắt có người đến lấy đầu ta. Nghe ta nói kệ: 

Trên đầu nuôi thân,

Trong miệng để ăn.

Gặp Mãn gây nạn,

Dương Liễu làm quan.

Tổ tịch, nhục thân còn nguyên nên không chôn mà để trong tháp thờ. Năm sáu năm sau có một số người ở Triều Tiên, nghe nhục thân ngài không hoại, họ ngưỡng mộ quá nên mướn một người tên Mãn, ban đêm đến giờ tháp ra định cắt đầu ngài đem về thờ. Khi ấy viên quan họ Dương tên Liễu điều tra ra mới biết. Đó là nạn mà ngài đã báo trước.

Năm tôi qua Tào Khê, lúc đó tháp đang sửa, người ta thỉnh tượng ngài để ở nhà Tổ. Ngài ngồi giữa, hai bên có hai thiền sư Hám Sơn và Đan Điền cũng còn nguyên nhục thân. Cả một ngàn năm mà hình ảnh của các ngài còn nguyên vẹn như xưa.

Tổ nói tiếp: Sau khi ta diệt độ khoảng bảy chục năm, hai vị Bồ-tát từ phương đông đến, một tại gia, một xuất gia, chung hưng hóa Phật pháp, sửa lại các ngôi già-lam, nâng đỡ tông phong của ta.

Sư về đến Tân Châu, vào chùa Quốc Ân, tắm gội xong, ngồi kiết già, an nhiên thị tịch. Khi ấy, có mùi hương lạ xông ra, mống trắng vòng chí đất. Sư tịch ngày mùng hai tháng tám năm Quý Sửu, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai (713 TL) đời Đường, thọ bảy mươi sáu tuổi. 

Bấy giờ môn đồ hai châu Thiều và Tân muốn đem hài cốt Sư về châu mình an táng. Bàn nhau không ngã lẽ, phải thắp hương cầu nguyện ý Sư; nếu khói hương bay về đâu, thì vâng theo ý đó. Khói hương bay thẳng hướng Tào Khê. Thế là môn đồ ở Thiều Châu sửa soạn đưa linh cữu Sư về nhập tháp. Ngày mười ba tháng mười một đưa linh cữu về nhập tháp tại bên bờ khe Tào Hầu, nay là chùa Nam Hoa. Vua Đường Hiến Tông truy phong Sư là Đại Giám thiền sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu. 

Môn đệ của Sư đắc pháp và hoằng hóa sau này có cả thảy bốn mươi ba vị: 

1- Hành Tư ở núi Thanh Nguyên 

2- Hoài Nhượng ở Nam Nhạc 

3- Pháp Hải 

4- Huệ Trung 

5- Bổn Tịnh 

6- Thần Hội 

7- Huyền Giác 

8- Huyền Sách 

9- Tam Tạng Quật-đa v.v…

Những lời Sư chỉ dạy có thể đa số được sưu tập trong quyển kinh Pháp Bảo Đàn.

Tổ về chùa Quốc Ân ở Tân Châu, tắm gội xong ngồi kiết già an nhiên thị tịch. Khi ấy, có mùi hương lạ xông ra, mống trắng vòng chí đất. Tổ tịch ngày mùng hai tháng tám năm Quý Sửu đời Đường, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, thọ bảy mươi sáu tuổi.

Lục Tổ là tiều phu quê mùa mà được làm Tổ. Tại sao? Bởi vì Tổ không kẹt hai bên cho nên ngài thảnh thơi tự tại giải thoát. Chúng ta thông minh học rộng hiểu nhiều mà còn chạy theo hai bên, dính mắc đủ điều nên tu hoài chẳng xong, huống nữa là được làm Tổ. Như vậy muốn cầu giải thoát thì phải tự gỡ. Nếu còn dính mắc quá nhiều, đến lúc gần chết có thỉnh một trăm thầy tăng một trăm cô ni tụng cho giải thoát cũng giải không nổi. Đó là một lẽ thật

Lời Lục Tổ dạy đơn giản mà chí lý, người sau kính trọng lời dạy của ngài như vàng ngọc, nên ghi lại thành quyển kinh Pháp Bảo Đàn. Khi ấy môn đồ hai châu Thiều và Tân muốn đem hài cốt Tổ về châu mình an táng. Bàn nhau không ngã lẽ, phải thắp hương cầu nguyện ý Tổ; nếu khói hương bay về đâu, thì vâng theo ý đó. Khói hương bay thẳng về Tào Khê.

Ngày mười ba tháng mười một môn đồ ở Thiều Châu sửa soạn đưa linh cữu Tổ về nhập tháp bên bờ khe Tào Hầu, nay là chùa Nam Hoa. Vua Đường Hiến Tông truy phong Tổ là Đại Giám thiền sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu.

Môn đệ của Tổ đắc pháp và hoằng hóa rất nhiều. Những lời dạy của Tổ được sưu tập ghi trong quyển kinh Pháp Bảo Đàn.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.