Sư họ Châu quê ở Châu Kỳ thuộc huyện Hoàng Mai. Thuở nhỏ, Sư thông minh xinh đẹp. Có ông thầy xem tướng khen rằng: “Đứa bé này có đầy đủ tướng tốt, chỉ thua Phật bảy tướng thôi.”
Năm bảy tuổi, Sư gặp tổ Đạo Tín độ cho xuất gia. Từ đây về sau, Sư theo hầu Tổ đến khi được truyền tâm ấn. Khi Tổ tịch, Sư kế thừa trụ trì tại núi Phá Đầu, giáo hóa nơi đây rất thạnh hành. Khi ấy, dân chúng kính mộ tông phong, dù ở xa nghìn dặm cũng tìm đến tham học. Tại đạo tràng này, tăng chúng thường trực không dưới năm trăm người.
Tổ thứ ba mươi hai là ngài Hoằng Nhẫn. Hoằng Nhẫn nghĩa là đức nhẫn nhục rất rộng lớn. Bởi vì mẹ ngài không có chồng mà sanh con nên bị bao nhiêu tiếng tăm cay đắng, nhưng bà cũng ráng nhẫn nhục để nuôi ngài tới lúc khôn lớn. Đó là cái nhẫn của bà mẹ. Kế đến là tổ Đạo Tín tuổi đã già nhưng biết ngài là bậc đại pháp khí nên ráng nhẫn nại chờ cho đến khi ngài khôn lớn để truyền chánh pháp.
Ngài họ Châu, vì không có cha nên lấy họ mẹ, quê ở Châu Kỳ thuộc huyện Hoàng Mai. Thuở nhỏ ngài thông minh, thầy xem tướng khen rằng, đứa bé này có đủ tướng tốt, chỉ thua Phật bảy tướng. Như vậy là ngài có hai mươi lăm tướng tốt, bởi vì ngài đã thấm nhuần đạo đức nên những tướng tốt hiện ra khá nhiều. Năm bảy tuổi ngài gặp tổ Đạo Tín, đối đáp tỏ ra lanh lợi khác hơn người thường, Tổ liền nhận cho xuất gia. Ngài theo hầu Tổ đến khi được truyền tâm ấn. Sau khi Tổ tịch, ngài kế thừa trụ trì tại núi Phá Đầu. Khi ấy dân chúng kính mộ tông phong của ngài, dù ở xa nghìn dặm cũng tìm đến tham học. Tại đạo tràng của ngài tăng chúng thường trực từ năm trăm người trở lên, ngài giáo hóa nơi đây rất thạnh hành.
Khoảng niên hiệu Hàm Hanh (670-674 TL) nhà Đường, có người cư sĩ họ Lư tên Huệ Năng, từ phương nam đến yết kiến Sư. Sự hỏi:
– Ngươi từ đâu đến?
Huệ Năng thưa:
– Đệ tử ở Lãnh Nam đến.
– Ngươi đến ý muốn cầu việc gì?
– Đệ tử chỉ muốn cầu làm Phật.
– Người Lãnh Nam không có Phật tánh, làm sao làm Phật được?
– Người thì có nam bắc, Phật tánh há có nam bắc sao?
Sư biết là bậc lợi căn, giả vờ nạt bảo:
– Lại nhà sau đi!
Huệ Năng đảnh lễ, đi xuống nhà sau lãnh phần bửa củi giã gạo.
Một hôm, Sư dự biết thời kỳ truyền pháp đã đến, liền gọi đồ chúng đến bảo:
– Chánh pháp khó hiểu không nên nhớ ghi lời nói suông của ta, giữ làm nhiệm vụ của mình. Các ngươi, tùy ý mỗi người thuật một bài kệ, nếu ý ngộ thầm phù hợp, ta sẽ truyền pháp và y bát.
Đời Đường niên hiệu Hàm Hanh, có cư sĩ họ Lư tên Huệ Năng đến yết kiến Tổ. Đây là một người cư sĩ nhà quê đến yết kiến ngài.
Tổ hỏi: Ngươi từ đâu đến? Huệ Năng thưa: Đệ tử ở Lãnh Nam đến. Lãnh Nam là miền Nam của nước Trung Hoa, đó là miền núi gọi là Ngũ Lãnh, tức là năm ngọn núi ở phía nam. Khi nghe Huệ Năng thưa ở Lãnh Nam đến, Tổ liền hỏi: Ngươi đến ý muốn cầu việc gì? Huệ Năng thưa: Đệ tử chỉ muốn cầu làm Phật.
Đa số Phật tử khi tới chùa xin học đạo, nếu quý thầy hỏi xin học đạo để cầu làm gì thì trả lời sao? Cầu được bình an mạnh khỏe, gia đình yên ổn v.v… chứ ít ai dám cầu làm Phật, còn nói mạnh hơn một chút là con cầu đời sau sanh vào cõi Phật, chứ không bao giờ dám nói cầu làm Phật. Vậy mà ông cư sĩ này dám nói chỉ cầu làm Phật. Cho nên Tổ liền bảo: Người Lãnh Nam không có Phật tánh, làm sao thành Phật được? Nói câu này là Tổ dọ dẫm, thử coi người có tâm cầu đạo như vậy, thấy được đạo lý gì chưa mà nói năng như trên.
Huệ Năng thưa: Người thì có nam bắc, Phật tánh há có nam bắc sao? Lãnh Nam là phương nam, còn chỗ Ngũ Tổ truyền bá là phương bắc. Như vậy người phương nam với người ở phương bắc có khác, nhưng Phật tánh thì đâu có nam bắc. Qua câu nói đó Tổ biết người này là bậc lợi căn không phải hạng tầm thường, nhưng còn là cư sĩ quê mùa, nếu không khéo thì bị người ta hại. Cho nên Tổ giả vờ nạt ra nhà sau đi, Huệ Năng vâng lời đảnh lễ xuống nhà sau lãnh phần bửa củi giã gạo, đó chỉ là công quả thôi.
Ngài tới chùa học đạo bị Tổ đối xử lạnh nhạt, nhưng vẫn bền chí bửa củi giã gạo không chút nản lòng. Năm 1993 tôi qua chùa Nam Hoa, thấy cối giã gạo và cục đá ngài đeo trên lưng vẫn còn.
Ngày xưa giã gạo bằng chày đạp, người đạp phải nặng ký thì cái chày mới cất lên. Nhưng ngài ốm quá không đủ ký nên phải đeo thêm cục đá chừng chục cân để cho đủ sức nặng cất chày lên. Đó là tinh thần học đạo của ngài, dù cho gian nan cực khổ vẫn cố gắng vượt qua.
Một hôm, Tổ dự biết thời kỳ truyền pháp đã đến, liền ra lệnh cho toàn chúng trình kệ. Học chánh pháp của Phật, không phải học thuộc lòng suông, nếu học suông thì cũng chưa tới đâu hết, mà phải thâm nhập ở trong tâm. Cho nên Tổ bảo mỗi người trình một bài kệ, nếu Tổ thấy được tâm ý của họ hợp với đạo thì sẽ truyền y bát cho.
Lúc đó, hội chúng hơn bảy trăm người, ai cũng tôn sùng thượng tọa Thần Tú làm bậc thầy. Họ đồng bảo nhau:
– Nếu không phải thượng tọa Tú, còn ai đảm đương nổi.
Họ đồng nhường phần trình kệ cho Thần Tú.
Thần Tú thầm nghe lời bàn tán của chúng như vậy, tự suy nghĩ phải làm kệ. Làm kệ xong, ban đêm ông lén biên lên vách chùa phía ngoài hành lang:
Thân thị bồ-đề thọ
Tâm như minh cảnh đài
Thời thời cần phất thức
Mạc sử nhạ trần ai.
Dịch:
Thân là cội bồ-đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn phải lau chùi
Chớ để dính bụi bặm.
Sáng ngày, Sư đi kinh hành qua thấy bài kệ, đọc qua biết là của Thần Tú làm. Sư khen rằng:
– Người đời sau, nếu y bài kệ này tu hành cũng được thắng quả.
Toàn chúng đều đua nhau đọc tụng.
Ở nhà trù, Huệ Năng đang giã gạo, có một ông đạo đi qua tụng bài kệ ấy. Hỏi ra biết của Thần Tú làm, Huệ Năng bèn nhờ dẫn đến chỗ biên kệ đánh lễ, đồng thời nhờ biên giùm một bài kệ hòa lại:
Bồ-đề bản vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai?
Dịch:
Bồ-đề vốn không cội
Gương sáng cũng chẳng đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính bụi bặm?
Sư thấy bài kệ này thầm nhận, song không dám nói sợ e có người tật đố hại Huệ Năng. Sư bôi đi nói:
– Ai làm bài kệ này cũng chưa thấy tánh.
Sư bèn gọi Huệ Năng nửa đêm vào thất. Sư lấy y che xung quanh thất, giảng kinh Kim Cang cho Huệ Năng nghe. Đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng bừng ngộ, Sư dạy:
– Chư Phật ra đời chỉ vì một đại sự nhân duyên, bởi chúng sanh căn cơ có lớn nhỏ, tùy đó hướng dẫn, mới có nói ra ba thừa, mười địa đốn tiệm, gọi đó là giáo môn. Như Lai riêng đem Chánh pháp nhãn tạng vô thượng chân thật vi diệu trao cho tổ Ma-ha Ca-diếp, lần lượt truyền đến đời thứ hai mươi tám là tổ Bồ-đề-đạt-ma. Tổ Đạt-ma sang Trung Quốc truyền nối đến đời ta, nay ta đem đại pháp và y bát đã thọ trao lại cho ngươi. Ngươi phải gắng gìn giữ truyền trao đừng cho bặt dứt. Nghe ta nói kệ:
Hữu tình lại hạ chủng,
Nhân địa quả hoàn sanh.
Vô tình ký vô chủng,
Vô tánh diệc vô sanh.
Dịch:
Hữu tình đến gieo giống,
Nhân đất quả lại sanh.
Vô tình đã không giống,
Không tánh cũng không sanh.
Số chúng tăng của tổ Hoằng Nhẫn lúc bấy giờ hơn bảy trăm người, ai cũng tôn sùng ngài Thần Tú là bậc thầy, nên họ cùng bảo nhau nhường phần trình kệ cho Thần Tú. Ngài Thần Tú lúc đó là giáo thọ sư, thay thế Tổ dạy chúng học kinh điển. Ngài là thầy thì học trò ai dám trình, thôi để Thầy đại diện cho chúng trình kệ lên Tổ. Nghe lời bàn tán của họ, ngài Thần Tú rất khổ tâm, biết mình chưa ngộ mà đem cái hiểu biết tầm thường trình lên sợ e Tổ chê. Nhưng toàn chúng không ai chịu trình hết, nhường cho mình thì biết làm sao đây! Hoàn cảnh này thật là khó xử, muốn tránh né cũng không được. Cho nên bất đắc dĩ ngài phải làm bài kệ, nhưng làm xong ban đêm lén biên lên vách chùa phía ngoài hành lang, chứ không dám trình thẳng với Tổ.
Tại sao làm rồi mà không trình lại biên lên vách chùa? Nếu đủ lòng tin nơi mình, làm rồi thì trình lên thầy, để thầy gật đầu thì được truyền y pháp, nhưng chưa đủ lòng tin nên mới lén biên lên vách chùa, thầm nghĩ rằng nếu sáng ra Tổ thấy mà khen thì nhận bài kệ này là của con làm, nếu Tổ không bằng lòng thì thôi nép luôn để khỏi mất mặt với chúng. Đó là một cái thuật rất khéo nhưng Tổ biết đây là bài kệ của Thần Tú.
Thân là cội bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn phải lau chùi
Chớ để dính bụi bặm.
Bài kệ rất là hay. So sánh thân như cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng, nhưng tuy đài gương sáng mà bị bụi phủ thì nó tối, vì vậy mà phải luôn lau chùi, không nên để dính bụi bặm.
Sáng ngày, Tổ đi kinh hành nhìn thấy bài kệ, đọc qua biết là của Thần Tú làm, Tổ khen: Người đời sau nếu y bài kệ này tu hành thì được chứng thẳng quả. Toàn chúng nghe Tổ nói như thế ai cũng phấn khởi đua nhau đọc tụng. Cho rằng bài kệ này là của người đắc đạo, cho nên mình y theo mà tu sẽ được kết quả tốt, do đó ai cũng học thuộc lòng. Bởi người nào cũng thuộc lòng, một hôm Huệ Năng đang giã gạo ở nhà trù, có ông đạo đi qua tụng bài kệ ấy, hỏi ra biết của Thần Tú làm. Huệ Năng nghe đọc biết bài kệ đó chưa thấy tánh, nhưng ngài là cư sĩ, mới vào chùa công quả giã gạo ở dưới bếp có mấy tháng làm sao nói trình kệ để người ta tin. Ngài Huệ Năng bèn nhờ ông đạo dẫn đến chỗ bài kệ để đảnh lễ, đồng thời nhờ người biên giùm một bài kệ họa lại.
Ông đạo dẫn ngài lên chỗ bài kệ, vì ngài không biết chữ nên nhờ người đọc giùm. Nghe xong ngài nói tôi cũng có bài kệ nhờ biên giùm lên vách.
Bồ-đề vốn không cội,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm?
Chúng ta thấy ý nghĩa hai bài kệ không giống nhau. Bài trước Thần Tú nói thân là cội bồ-đề. Bồ-đề nghĩa là giác ngộ, là tâm sáng suốt của mình. Tâm giác ngộ không có hình tướng, bởi vậy nên ngài Thần Tú nói thân là cội bồ-đề, nghĩa là thân là cây giác ngộ. Thân này là tướng tứ đại vô tri bại hoại, mà sao nói giác, ngài nói như thế là chưa nhận ra tâm giác ngộ của chính mình. Ngài Huệ Năng nói ngược lại, Bồ-đề vốn không cội. Tại sao? Vì Bồ-đề là tánh giác, mà tánh giác thì không có hình tướng, cho nên nói không cội.
Câu kế nói tâm như đài gương sáng. Như vậy thì đài sáng hay gương sáng? Gương sáng, chứ không phải đài sáng. Ngài Huệ Năng thì nói gương sáng cũng chẳng đài, nghĩa là tâm mình giống như gương sáng, tự bản thân gương là sáng, không phải đợi có đài nó mới sáng.
Câu thứ ba ngài Thần Tú nói luôn luôn phải lau chùi, gương còn bụi nên phải lau chùi, cũng như tâm chưa hết phiền não nên phải khởi tâm dẹp trừ phiền não. Huệ Năng nói xưa nay không một vật, mà không một vật thì đâu có lau chùi. Bởi vì tâm thể là tánh sáng suốt, không hình tướng không sanh diệt, thì nó không phải một vật. Bởi không phải một vật, nói lau chùi thì lau chùi cái gì?
Câu kệ cuối Thần Tú nói chớ để dính bụi bặm, ngài Huệ Năng nói chỗ nào dính bụi bặm. Đã không một vật thì dính cái gì? Dính là tại còn hình tướng, nếu không còn hình tướng thì cái gì nhiễm dính.
Ý nghĩa hai bài kệ trái ngược nhau. Bài kệ của ngài Thần Tú dạy mình tu phải dẹp trừ phiền não. Còn bài kệ của ngài Huệ Năng thì nói rằng tâm thể không có hình tướng, không phải là một vật thì còn chỗ nào phiền não bám mà phải lau chùi. Đó là chỉ rõ ngài nhận ra thể tánh của chính mình.
Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đọc bài kệ này thầm nhận Huệ Năng được vào cửa. Nhưng Tổ không dám nói sợ e có người tật đố hại Huệ Năng, Tổ liền xóa và nói ai làm bài kệ này cũng chưa thấy tánh, để mọi người không nghi ngờ. Như vậy là Tổ yên lòng không ai để ý tới Huệ Năng. Trường hợp này giống chúng ta bây giờ, hễ người lớn khen thì ai cũng cho là đúng, chê thì cho là sai là dở hết.
Tổ bèn gọi Huệ Năng nửa đêm vào thất, lấy y che xung quanh. Tại sao Tổ giảng kinh lại che hết các cửa sổ. Vì lúc đó Huệ Năng là một cư sĩ vào chùa công quả mới có mấy tháng, còn thượng tọa Thần Tú xuất gia đã lâu, là giáo thọ sư dạy năm bảy trăm tăng. Y bát là biểu tín của Tổ vị, được mọi người sùng kính, chẳng lẽ đem trao cho cư sĩ. Nếu mọi người biết Tổ trao y bát cho cư sĩ thì trong chùa sẽ náo loạn lên. Vì vậy Tổ phải che kín để mọi người không thấy.
Tổ giảng kinh Kim Cang cho Huệ Năng nghe, đến câu ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, Huệ Năng bừng ngộ. Kinh Kim Cang, ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật hai câu quan trọng “Làm sao hàng phục tâm? Làm sao an trụ tâm?” Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Nghĩa là không nên để cho sáu căn duyên dính với sáu trần, đó là an trụ tâm. Tới câu này ngài Huệ Năng liền ngộ.
Khi Huệ Năng còn làm cư sĩ đã nghe tụng kinh Kim Cang, ngài đã sơ ngộ nên khi viết bài kệ lên vách ngài trình Tổ rằng tâm đó không có một vật, vì nó không hình tướng. Khi ấy Tổ biết Huệ Năng được vào cửa, nhưng mới vào cửa thôi, chứ chưa nhận ra chỗ tột cùng của đạo. Tới lúc Tổ giảng đến câu ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thì Huệ Năng thốt lên rằng:
Đâu ngờ tự tánh uốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp…
Tổ biết Huệ Năng đã triệt ngộ bản tâm, nên truyền y bát qua bài kệ:
Hữu tình đến gieo giống,
Nhân đất quả lại sanh.
Vô tình đã không giống,
Không tánh cũng không sanh.
Hữu tình đến gieo giống, nhân đất quả lại sanh. Hữu tình chỉ cho người có chủng duyên với chánh pháp hay nói cách khác là người có duyên với Thiền tông. Nếu người có duyên với Thiền tông đến thì nên truyền dạy. Gieo giống rồi thì từ nơi đất nảy mầm kết quả. Người có sẵn hạt giống Đại thừa hay Thiền tông thì chúng ta trợ duyên cho phát triển.
Vô tình đã không giống, không tánh cũng không sanh. Nếu người không có duyên tức là không có giống thì khó nảy sanh. Ý bài kệ Tổ dạy sau này truyền bá chánh pháp thì phải khéo lựa người có duyên, dùng phương tiện để giáo hóa họ mới có thể đạt đạo, còn người không có duyên với Thiền tông thì khó mà giáo hóa, vì họ không tin.
Huệ Năng thọ pháp và y bát xong, lễ bái thưa:
– Pháp đã nghe dạy, còn y bát có nên truyền cho người sau chăng?
Sư bảo:
– Xưa tổ Đạt-ma sang là người nước khác, truyền pháp cho tổ Huệ Khả, vẫn ngại người đời không tin sự truyền thừa của thầy trò, nên lấy y bát truyền cho để làm tín nhiệm. Nay tông môn của ta thiên hạ đều biết rõ, không còn ai chẳng tin, nên y bát dừng ngay đời ngươi. Song chánh pháp đến đời ngươi truyền bá càng rộng, nếu còn truyền y sẽ sanh sự tranh giành. Cho nên nói: “Người nhận y mạng như chỉ mành.” Ngươi nên đi liền, khéo tránh, thời gian sau sẽ ra hoằng hóa.
Huệ Năng lại hỏi:
– Nay con phải đi về đâu?
Sư bảo:
– Đến Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn.
Huệ Năng lãnh dạy, lễ tạ rồi ra đi ngay đêm ấy.
Huệ Năng thọ pháp và y bát xong lễ bái thưa: Pháp Tổ đã dạy cho con rồi nhưng y bát có nên truyền cho người sau không? Tổ bảo: Xưa tổ Đạt-ma là người Ấn Độ, truyền pháp cho tổ Huệ Khả là người Trung Hoa, sợ người đời không tin sự truyền thừa của thầy trò, nên truyền y bát để làm tin. Như vậy từ ban đầu muốn người ta tin nên Tổ mới truyền y bát. Bây giờ thiên hạ đều biết rõ Thiền tông, không còn ai chẳng tin, nên đến đời của ngươi thì dừng ngay.
Khi ấy số chúng của tổ Hoằng Nhẫn hơn bảy trăm tăng. Đến đời Lục tổ Huệ Năng còn đông hơn nữa, ai cũng biết đạo lý thiền hết rồi, truyền y bát là thừa. Ngày xưa một thầy độ một đệ tử ngộ đạo thì chỉ có một y bát truyền cho một đệ tử. Hiện giờ một vị thầy có trăm đệ tử ngộ đạo thì y bát đâu đủ để truyền, nếu có truyền thì biết cái nào thật cái nào giả, thêm sự tranh cãi rắc rối, cho nên tới đây không truyền.
Tổ dạy Huệ Năng nên đi liền. Huệ Năng vâng dạy lễ tạ Tổ rồi đi ngay đêm ấy không kịp cạo tóc.
Sau khi truyền pháp, liên tiếp ba hôm, Sư không thượng đường thuyết pháp. Toàn chúng đều nghi ngờ, đồng đến thưa thỉnh.
Sư bảo:
– Pháp của ta đã đi về phương Nam rồi. Giờ lại nói gì?
Chúng thưa:
– Người nào được?
Sư bảo:
– Năng thì được đó.
Chúng biết là cư sĩ Huệ Năng. Họ đồng đuổi theo, song tìm không gặp.
Bốn năm sau, một hôm chợt Sư gọi đại chúng bảo:
– Việc ta đã xong, đến lúc nên đi.
Sư vào trong thất ngồi an nhiên thị tịch, nhằm niên hiệu Thượng Nguyên thứ hai (675 TL) nhà Đường, thọ bảy mươi tư tuổi.
Chúng xây tháp ở Đông Sơn huyện Hoàng Mai tôn thờ.
Vua Đường Đại Tông truy phong là Đại Mãn thiền sư, tháp hiệu Pháp Vũ.
Sư có trước tác tập “Tối Thượng Thừa Luận”, hiện giờ còn lưu hành.
Sư được ba đệ tử ưu tú: Huệ Năng, Thần Tú, Huệ An.
Sau khi truyền pháp, liên tiếp ba hôm Tổ không thượng đường thuyết pháp, toàn chúng đều nghi ngờ đến thưa thỉnh, Tổ bảo: Pháp của ta đi về phương Nam rồi, giờ lại nói gì? Chúng thưa: Người nào được? Tổ bảo: Năng thì được đó. Chúng ngầm biết là cư sĩ Huệ Năng, họ đồng đuổi theo song tìm không gặp. Họ đuổi theo để làm gì? Để lấy lại y bát.
Trước kia khi đọc đến đoạn này tôi nghĩ người xưa sao cũng có lắm chuyện kỳ lạ, người xứng được truyền y bát, mình không được mà đuổi theo giành lại để làm gì! Nhưng sau này tôi mới thấy đó là chuyện thường. Ví dụ ở trong chùa có chừng một trăm tăng, người đáng tin cậy nhất sẽ được Thầy giao phó công việc quan trọng, nhưng Thầy không giao, lại giao cho vị cư sĩ quê mùa dốt nát ở đâu đến, tất nhiên không ai bằng lòng.
Tổ Hoằng Nhẫn trao y bát cho Huệ Năng rồi, bốn năm sau ngài gọi chúng bảo Việc ta đã xong, đến lúc nên đi. Tổ vào trong thất ngồi an nhiên thị tịch, thọ bảy mươi bốn tuổi. Thấy xong việc rồi thì ra đi không một chút luyến tiếc. Khỏe quá!
Chúng xây tháp ở Đông Sơn huyện Hoàng Mai để tôn thờ. Vua Đường Đại Tông truy phong là Đại Mãn thiền sư, tháp hiệu là Pháp Vũ. Tổ có trước tác tập Tối Thượng Thừa Luận, hiện giờ còn lưu hành. Tổ được ba đệ tử ưu tú là Huệ Năng, Thần Tú và Huệ An.