Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

13. Tổ-Ca-Ty-Ma-La (Đầu thế kỷ thứ VI sau Phật Niết-bàn)



Kapimala

Ngài người nước Hoa Thị, ban đầu học theo ngoại đạo, giỏi các pháp huyễn thuật, đồ chúng có đến ba ngàn. 

Khi đến so tài với tổ Mã Minh, bị Tổ hàng phục, liền cùng đồ chúng phát tâm xuất gia. Tổ Mã Minh độ cho ngài xuất gia, sau lại truyền tâm pháp. 

Sau khi được truyền tâm pháp, ngài đi giáo hóa khắp nơi. Lần lượt đến nước Tây Ấn, nơi đây có thái tử tên Vân Tự Tại rất ngưỡng mộ ngài. Thái tử thỉnh ngài và đại chúng vào cung cúng dường, ngài từ chối bảo: 

– Phật cấm Sa-môn không được gần gũi vua quan, những nhà có thế lực, nên tôi không dám nhận lời. 

Thái tử bạch: 

– Thưa Tôn giả! Phía bắc thành này có hòn núi lớn, trong núi có hang đá yên lặng bặt người thế tục, có thể ở nơi đó thiền định được. Tuy nhiên, trong đó có nhiều rắn và thú dữ, song tin tưởng đức cao dày của Tôn giả sẽ chuyển hóa chúng. 

Ngài nhận lời, cùng đồ đệ tiến thẳng đến núi ấy. Vừa đến núi này gặp một con rắn lớn dài gần một dặm, trợn mắt nhìn ngài, ngài vẫn đi thẳng không ngó đến nó. Ngài đi đến phía nam chân núi dừng nghỉ chỗ đất bằng, con rắn ấy đến quấn chung quanh ngài. Ngài cũng chẳng đoái hoài, giây lát con rắn bò đi. Ngài tìm lại chúng theo ngài thì họ đã chạy tán loạn hết. Ngài một mình đi thẳng đến hang đá. Bỗng thấy một ông già mặc toàn đồ trắng đi ra chắp tay kính lễ ngài. Ngài hỏi: 

– Ông ở đâu? 

Ông già thưa: 

– Con xưa làm vị Tỳ-kheo thích vắng lặng, bực người mới học đến hỏi, nhân đó nổi sân. Bởi duyên cớ ấy khi chết đọa làm thân rắn ở trong hang này, đến giờ đã ngàn năm. Vừa gặp Tôn giả là bậc Thánh đức nên ra kính lễ. 

Ngài hỏi: 

– Núi này còn có người nào ở nữa chăng? Và họ theo đạo nào, ngươi chỉ cho ta biết? 

Ông già thưa: 

– Cách đây mười dặm về phía bắc có một tàng cây thật to, dưới tàng cây có năm trăm vị nhân tài ẩn dật, vị lãnh tụ hiệu là Long Thọ, thường vì chúng nói pháp, con cũng thường đến nghe. 

Đây là vị Tổ thứ mười ba. Trong phần lịch sử của ngài, chúng ta thấy có những điểm đáng chú ý. Thứ nhất ngài là người đã ngộ đạo, giữ giới luật rất tinh nghiêm.

Khi ngài du hóa đến nước Tây Ấn, được thái tử Vân Tự Tại kính ngưỡng muốn thỉnh ngài và đại chúng về cung cúng dường. Ngài từ chối bảo rằng: Phật cấm Sa-môn không được gần gũi vua quan, những nhà có thế lực, nên tôi không dám nhận lời. Chúng ta thấy ngài là người đạo cao đức trọng, giữ gìn giới luật rất tinh nghiêm, vâng làm đúng theo lời Phật dạy, đó là điều để cho chúng ta noi theo.

Thứ hai, lúc gặp loài thú dữ mà lòng ngài vẫn an nhiên. Khi Thái tử thỉnh ngài và đại chúng vào cung, ngài từ chối, Thái tử liền giới thiệu trong núi sâu có hang đá rất yên tĩnh, thuận tiện cho người tu thiền định, nhưng có nhiều rắn và thú dữ. Tuy nhiên Thái tử tin tưởng đức hạnh cao dày của ngài sẽ chuyển hóa được chúng. Ngài nhận lời cùng đồ đệ tiến thẳng đến ngọn núi ấy.

Khi đến nơi gặp con rắn dài gần một dặm trợn mắt nhìn, ngài vẫn an nhiên đi thẳng không chú ý tới nó. Tới chỗ đất bằng dừng nghỉ, con rắn lại quấn xung quanh, ngài ngồi tĩnh tại chẳng đoái hoài. Giây lát con rắn bò đi, những người theo ngài sợ quá chạy tán loạn.

Đây là chỗ quan trọng của người tu. Chúng ta mở miệng thì nói vô ngã vô thường. Nhưng gặp thú dữ thì chạy quýnh lên hoặc chết giấc. Như vậy miệng nói và tâm hành không giống nhau, nói một đàng mà làm một ngả. Trong đạo không cho phép chúng ta chỉ nói suông mà không hành, nếu nói suông mà không hành chẳng khác nào như cái máy phát thanh, phát ra tiếng cho người khác nghe mà không dính gì với nó. Vì vậy người hiểu đạo phải sống đúng theo đạo mới thật sự có lợi ích. Nếu hiểu rồi đem nói cho hay, rốt cuộc tự tâm không hành, khi gặp cảnh thì cái ngã vẫn còn nguyên.

Chư Tổ nói được là làm được, nghĩa là các ngài nói vô ngã thì những cảnh đáng kinh sợ như tà ma quỷ my cho tới các loài thú dữ đến, các ngài vẫn an nhiên tĩnh tại tâm không lay động.

Như chúng ta đang ngồi thiền ở trong rừng, giả sử có con cọp tới rình, thì nên chạy hay nên ngồi? Chạy thì cọp ăn, bởi vì nó đã rình rồi, chỉ còn cách là cứ sống trong thiền định, nếu bị nó ăn thịt thì mình cũng được chánh định. Nếu chạy dù không bị cọp ăn, thì mình cũng đã mất tự chủ. Cho nên Phật dạy người tu hành phải cố gắng giữ tâm an nhiên trước hai cảnh thuận và nghịch, đó là chỗ công phu miên mật.

Điểm thứ ba là một tấm gương đáng cho người tu phải kinh sợ. Ngài đi tới hang đá thấy có một ông già mặc toàn đồ trắng bước ra chắp tay chào, Tổ hỏi ông ở đâu? Ông già thưa: Con xưa làm vị Tỳ-kheo rất thích vắng lặng, bực người mới học tới hỏi, nhân đó nổi sân. Bởi duyên cớ ấy khi chết đọa làm thân rắn ở trong hang này đến giờ đã ngàn năm. Nay gặp Tôn giả là bậc Thánh con ra kính lễ.

Đây là một điều chúng ta phải lưu ý giữ gìn. Bởi vì người tu hành chủ yếu là làm sao thắng được tham sân si, vì tham sân si là nhân gây nên tội lỗi. Vị Tỳ-kheo này ưa ở chỗ vắng lặng, tức là đã giữ giới luật nhưng chỉ có cái lỗi nổi sân, mà phải đọa làm thân rắn đến cả ngàn năm. Tại sao? Vì khi nổi sân là nói những lời hung dữ ác độc làm cho người khác phiền não, giống như con rắn nhả những nọc độc hại người ta vậy. Nổi sân là cái nhân để thành các loài thú dữ có mang những nọc độc; vì vậy thấy gương người xưa, chúng ta bây giờ phải ráng dè dặt. Khi gặp những điều trái ý đừng nổi nóng lên, vì biết nổi nóng là cái nhân làm thân rắn, mình phải ráng tránh.

Trong giới tu hành có hai bệnh đáng lưu ý. Thứ nhất là bệnh ưa nói, khi tu học hiểu được chút ít giáo lý gặp ai cũng ưa giảng đạo, đó là người từ bi đáo để. Kế đến có người tu được yên yên một chút, muốn mình được yên nên ai tới hỏi là bực bội. Đó là hai cái bệnh chúng ta nên tránh. Cho nên khi nào người cần đạo lý thì sẵn sàng nói, khi người chưa cần thì đừng nói. Kế đến dù cho sự yên tĩnh giúp tâm mình dễ được an, nhưng khi có người tới thưa hỏi điều gì, nếu biết thì phải đáp lại, chứ không nên bực bội sân si, vì đó là cái nhân làm súc sanh. Người tu nên nhớ mấy điểm này đừng để mắc kẹt.

Ngài chờ đồ chúng tụ hội, cùng họ tiến đến phía bắc. Vừa đến cây to, quả nhiên Long Thọ ra nghênh tiếp ngài. Long Thọ vui vẻ đảnh lễ thưa ngài: 

– Chỗ núi sâu vắng vẻ, nơi hang ổ của thú dữ, Đại đức chí tôn sao thương xót đến đây? 

Ngài đáp: 

– Ta không phải chí tôn, đến để phỏng vấn Hiền giả. 

Long Thọ lặng thinh thầm nghĩ: 

– Tôn giả này được tánh quyết định, đạo nhãn đã sáng chưa? Phải là người đại thánh, thừa kế chân tông chăng? 

Ngài biết, liền bảo: 

– Tùy tâm niệm của ngươi, ta đã biết rồi. Chỉ cần xuất gia, lo gì ta chẳng phải thánh? 

Bấy giờ Long Thọ sám hối tạ tội. Ngài liền độ cho xuất gia. 

Một hôm, ngài gọi Long Thọ lại bảo: 

– Nay ta đem đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao cho ngươi, ngươi phải truyền nối chớ dứt. Nghe ta nói kệ: 

Phi ẩn phi hiển pháp, 

Thuyết thị chân thật tế. 

Ngộ thử ẩn hiển pháp, 

Phi ngu diệc phi trí. 

Dịch: 

Pháp không ẩn không hiển,

Nói là mé chân thật. 

Ngộ pháp ẩn hiển này, 

Chẳng ngu cũng chẳng trí. 

Truyền pháp xong, ngài trình thần biến rồi tịch diệt. Long Thọ và đồ chúng hỏa táng thân ngài, lượm xá-lợi xây tháp cúng dường. 

Đoạn này nói đến sự gặp gỡ giữa Tổ và Bồ-tát Long Thọ. Nghe ông già giới thiệu cách mười dặm về phía bắc có vị lãnh tụ hiệu là Long Thọ, thường vì năm trăm vị nhân tài ẩn dật nói pháp. Khi ngài gặp con rắn to ở trong hang, đồ chúng sợ hãi chạy tứ tán. Ngài chờ đồ chúng tụ hội đầy đủ rồi cùng họ tiến đến phía bắc. Vừa đến chỗ cây to, quả nhiên Long Thọ ra nghênh tiếp, đảnh lễ thưa rằng: Chỗ núi sâu vắng vẻ, nơi hang ổ của thú dữ, Đại đức chí tôn sao thương xót đến đây? 

Tổ đáp: Ta không phải chí tôn, đến để phỏng vấn Hiền giả.

Câu đáp rất khiêm tốn khiến ngài Long Thọ thầm nghi ngờ, không biết vị này đã mở sáng con mắt đạo chưa? Có phải là bậc đại thánh thừa kế chân tông chăng? Tổ biết tâm niệm nghi ngờ của ngài Long Thọ liền bảo: Chỉ cần xuất gia, lo gì ta chẳng phải thánh. Nghe như vậy ngài Long Thọ sám hối cầu xin xuất gia. Sau khi xuất gia Tổ thấy ngài Long Thọ đã nhận hiểu được đạo lý đúng đắn, bèn đem chánh pháp nhãn tạng truyền trao cho ngài qua bài kệ:

Pháp không ẩn không hiển 

Nói là mê chân thật.

Ngộ pháp ẩn hiển này,

Chẳng ngu cũng chẳng trí.

Các pháp không ẩn cũng không hiển. Pháp này chỗ khác gọi là Tâm. Tâm chân thật thì không phải ẩn, cũng không hiển. Ấn là giấu kín, hiển là bày lộ. Tâm chân thật không phải giấu kín, cũng không phải bày lộ. Tại sao? Vì lúc nào nó cũng hiện sờ sờ ngay nơi chúng ta, nên không phải ẩn. Tại sao không phải hiển? Vì nó không có tướng mạo nên không phải hiển. Khi nói đến mé chân thật thì ngộ được pháp ẩn hiển. Ngộ được tâm chân thật ẩn mà hiển này, thì không phải ngu cũng không phải trí, tức là vượt qua được hai bên. Không mắc kẹt ngu trí phàm thánh, đó là người vượt qua sự đối đãi giả dối của thế gian.

Truyền pháp xong, Tổ trình thần biến rồi tịch diệt. Ngài Long Thọ và đồ chúng hỏa thiêu nhục thân, lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.