Asvaghosa
Bồ-tát người nước Ba-la-nại, hiệu Mã Minh cũng có hiệu Công Thắng. Vì khi ngài sanh ra, các con ngựa đều hý lên, nên gọi là Mã Minh. Lại cũng có thuyết nói, mỗi khi ngài thuyết pháp, các con ngựa trong chuồng ở gần đều lặng lẽ lắng nghe, khi thuyết pháp xong chúng lại hý vang, nên gọi ngài là Mã Minh. Lúc chưa xuất gia, ngài là một biện sĩ lỗi lạc, danh tiếng đồn đãi vang cả quốc nội lẫn quốc ngoại.
Sau Phật Niết-bàn sáu trăm năm, Mã Minh là một vị đem chánh pháp Đại thừa truyền bá rất mạnh mẽ. Người đem chánh pháp Đại thừa truyền bá rộng khắp thì gọi là Bồ-tát. Nhưng theo Thiền tông, ngài là vị Tổ thứ mười hai, sanh ở nước Ba-la-nại. Như vậy Thiền và giáo lý Đại thừa không tách rời nhau, một vị Bồ-tát cũng là một Tổ sư nhà Thiền.
Có nhiều người hiểu lầm Thiền tông cách ly chánh pháp Đại thừa, nhưng sự thật chính những vị Tổ là người truyền pháp Đại thừa, mà đã truyền pháp Đại thừa thì các ngài vừa là Giáo cũng vừa là Thiền. Cũng vậy ở đây chúng tôi chủ trương Thiền Giáo song hành.
Tại sao tên là Mã Minh? Có hai thuyết gọi ngài là Mã Minh. Thuyết thứ nhất, khi ngài sanh ra, các con ngựa ở trong chuồng đều hý vang, cho nên cha mẹ đặt tên là Mã Minh. Thuyết thứ hai là khi ngài thuyết pháp cho hội chúng nghe, những con ngựa trong chuồng ở gần đó đều lặng lẽ lắng nghe, ngài thuyết pháp vừa xong, chúng hý vang lên nên gọi là Mã Minh. Theo thuyết ban đầu có lẽ hợp hơn, là vì lúc mẹ ngài sanh thấy có điềm lạ, lấy đó đặt tên của ngài.
Sau khi được tổ Phú-na-dạ-xa độ cho xuất gia và truyền tâm ấn, ngài lại nổi tiếng là một nhà thuyết pháp tài tình. Bao nhiêu tà thuyết ngoại đạo đều bị ngài bẻ dẹp. Chính ngài là người thắp sáng ngọn đuốc Đại thừa ở đầu thế kỷ thứ VI sau Phật Niết-bàn.
Ngài đi giáo hóa đến nước Hoa Thị, nơi đây ngọn đuốc pháp của ngài càng sáng rực hơn. Một hôm, có ông già gầy ốm vào trong hội nghe pháp, bỗng nhiên ngã xuống đất. Ngài bảo chúng:
– Đây là việc phi thường, sẽ có tướng lạ.
Ông già kia liền biến mất. Chợt thấy dưới đất vọt lên người con gái nhan sắc đẹp đẽ, thân màu vàng, dùng tay chỉ ngài nói kệ:
Khể thủ Trưởng lão tôn,
Đương thọ Như Lai ký.
Kim ư thử địa thượng,
Nhi độ sanh tử chúng.
Dịch:
Cúi đầu lễ Trưởng lão,
Hiện nhận lời Phật ghi
Nay ở nơi xứ này,
Độ chúng khỏi sanh tử.
Nói kệ xong, trong chớp mắt không thấy cô nữa. Ngài bảo chúng:
– Giây lát đây sẽ có người ngoại đạo đến đấu sức với ta.
Bỗng chốc gió mưa ầm ỹ kéo đến, khiến trời đất mịt mù. Ngài bảo:
– Đây là báo hiệu ngoại đạo sẽ đến. Ta sẽ trừ chúng.
Nói xong, ngài chỉ tay lên hư không, hiện ra con rồng vàng to lớn, phấn khởi oai thần, khiến pháp ngoại đạo tan biến.
Sau bảy ngày, có một con sâu nằm nép dưới tòa của ngài. Ngài lấy tay nắm con sâu ấy đưa cho đại chúng xem và nói:
– Con sâu này là trá hình của ngoại đạo, đến ẩn núp nơi đây nghe trộm pháp của ta.
Nói xong, ngài ném con sâu ra bảo:
– Đi ngay!
Nhưng con sâu sợ hãi nằm im không động. Ngài an ủi:
– Ta không hại ngươi. Ngươi hãy hiện lại bản hình.
Ngoại đạo liền hiện nguyên hình đảnh lễ xin sám hối. Ngài hỏi:
– Ngươi tên gì? Có bao nhiêu đồ đệ?
Ngoại đạo thưa:
– Con tên Ca-tỳ-ma-la có đến ba ngàn đồ đệ.
Ngài hỏi:
– Tột thần lực của ngươi biến hóa thế nào?
Ngoại đạo thưa:
– Con hóa biển cả là việc chẳng khó.
Ngài hỏi:
– Ngươi hóa tánh biển được chăng?
Ngoại đạo mờ mịt không biết, thưa:
– Lời này con không thể biết.
Ngài vì đó giải thích:
– Tánh biển là núi sông quả đất đều y cứ nơi đó mà lập, tam-muội lục thông do đây phát hiện.
Ngoại đạo nghe pháp ấy, liền khởi lòng tin mạnh mẽ, cùng ba ngàn đồ đệ đều cầu xin xuất gia.
Sau khi nhận được tâm ấn của Tổ thứ mười một, ngài đi giáo hóa, nổi tiếng là một vị thuyết pháp tài tình. Những tà thuyết ngoại đạo đều bị ngài bẻ dẹp, được nhiều người kính phục quy hướng, nhất là những người ngoại đạo. Khi đi giáo hóa đến nước Hoa Thị, nơi đây ngọn đuốc pháp của ngài càng sáng rực hơn. Ở đoạn này có một việc mầu nhiệm, mang tính huyền bí.
Một hôm có ông già gầy ốm đang ở trong hội nghe pháp, bỗng nhiên ngã xuống đất, ngài bảo chúng đây là việc phi thường, sẽ có điềm lạ. Rồi ông già biến mất, lại có một người nữ hiện ra, nói kệ tán thán ngài:
Củi đầu lễ Trưởng lão,
Hiện nhận lời Phật ghi.
Nay ở nơi xứ này,
Độ chúng khỏi sanh tử.
Tán thán ngài là một vị Trưởng lão. Khi xưa lúc Phật còn tại thế, đi đến thành Hoa Thị nói rằng, sau Phật Niết-bàn sáu trăm năm, có một vị Bồ-tát ra đời giáo hóa phương này, cho nên nói ngài được Phật thọ ký. Ngay trên xứ này độ những chúng sanh thoát khỏi dòng sanh tử. Tán thán xong, ẩn mất không thấy.
Ngài bảo chúng: Giây lát đây sẽ có ngoại đạo đến đấu sức với ta. Bỗng chốc gió mưa ầm ỹ xối xả kéo đến mịt mù. Ngài bảo đây là báo hiệu ngoại đạo sẽ đến, ta sẽ trừ chúng. Nói xong ngài chỉ tay lên hư không, hiện ra con rồng vàng to lớn, phấn khởi oai thần, khiến pháp ngoại đạo tan biến.
Sau bảy ngày có một con sâu nằm nép dưới tòa của ngài. Ngài lấy tay bắt con sâu đưa cho đại chúng xem và nói, con sâu này là trá hình của ngoại đạo, nó ẩn núp dưới đây để nghe trộm pháp của ta. Nghe trộm pháp là sao? Bởi vì nghe pháp có hai hạng người, người chính thức nghe pháp và người đến nghe lén gọi là trộm pháp. Đây là ngoại đạo ẩn hình thành con sâu nằm nghe ngài thuyết pháp, gọi là trộm pháp.
Nói xong ngài ném con sâu bảo đi ngay, nhưng con sâu sợ hãi, nằm im không động. Ngài an ủi, ta không hại ngươi, ngươi hãy hiện lại bản hình. Ngoại đạo liền hiện nguyên hình đảnh lễ sám hối. Ngài hỏi: Ngươi tên gì, có bao nhiêu đồ đệ? Ngoại đạo thưa: Con tên Ca-tỳ-ma-la có đến ba ngàn đồ đệ. Như vậy ngoại đạo này tu có thần thông nên được nhiều người theo.
Ngài hỏi: Tột thần lực của ngươi biến hóa thế nào? Ngoại đạo thưa: Con hóa biển cả là việc chẳng khó. Nếu trong thời của chúng ta mà ai có thần lực hỗ mưa trời liền mưa, hô gió liền nổi gió,… chắc là mọi người đến đảnh lễ xin làm đồ đệ chứ không ai chịu ngồi nghe pháp như thế này, bởi vì thần thông hay quá! Nhưng tất cả thần thông chưa phải là chân lý.
Ngài mới hỏi: Ngươi hóa tánh biển được chăng? Ngoại đạo mờ mịt thưa: Lời này con không thể biết. Ngài liền giải thích: Tánh biển là núi sông quả đất đều y cứ nơi đó mà lập, tam-muội lục thông do đây mà phát hiện. Biển là một hiện tượng bên ngoài mà thể tánh của biển là cái trùm hết, cho nên núi sông quả đất thần thông diệu dụng đều từ thể tánh mà hiện bày, biển chỉ là hiện tượng thôi, không phải là cứu cánh, không phải là chân lý. Ngươi hiện được biển là việc kỳ đặc, nhưng đó chỉ là do thần biến thành những giả tướng, chứ không phải là chân tánh. Ngoại đạo nghe pháp ấy liền khởi lòng tin mạnh mẽ cùng ba ngàn đồ đệ cầu xin xuất gia. Chỉ chinh phục một người mà thâu nhiếp cả ba ngàn người. Rất kỳ đặc!
Chúng ta thấy một vị tu theo đạo khác, có thần thông, có ba ngàn đồ chúng, mà khi nghe một câu đạo lý chân chánh, liền trở về hàng phục để cầu xin xuất gia, thật là một điều rất hiếm.
Ngài vì họ cho cạo đầu xuất gia, rồi triệu tập năm trăm vị thánh tăng đến làm lễ truyền giới Cụ túc cho họ.
Ngài bảo giới tử:
– Các ngươi thú hướng Bồ-đề sẽ thành đạo Thánh.
Ca-tỳ-ma-la quả nhiên được giới thể, phát hào quang sáng có mùi hương lạ xông khắp.
Một hôm, ngài gọi Ma-la đến bảo:
– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi hãy truyền bá chớ để đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:
Ẩn hiển tức bản pháp,
Minh ám nguyên bất nhị.
Kim phó ngộ liễu pháp,
Phi thủ diệc phi khí.
Dịch:
Ấn hiện vốn pháp này,
Sáng tối nguyên không hai.
Nay truyền pháp liễu ngộ,
Không lấy cũng chẳng bỏ.
Truyền pháp xong, ngài vào chánh định hiện tướng viên tịch. Ca-ty-ma-la và đồ chúng đem chân thể của ngài để vào khám thờ.
Ngài là vị Tổ thứ mười hai của Thiền tông, cũng là một vị pháp sư làm sáng tỏ giáo pháp Đại thừa. Ngài sáng tác ba bộ luận:
1- Đại Thừa Khởi Tín Luận.
2- Đại Tông Địa Huyền Văn Bản Luận.
3- Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng.
Nổi tiếng nhất là bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận, hiện giờ những nước Phật giáo Đại thừa vẫn truyền dạy bộ luận này.
Ngài vì họ làm lễ xuất gia, rồi triệu tập năm trăm vị Thánh tăng đến làm lễ truyền giới Cụ túc. Trong khi truyền giới, ngài bảo các giới tử, những người thú hướng Bồ-đề sẽ thành đạo Thánh. Ca-ty-ma-la bằng tâm chân thật hướng về đạo Bồ-đề, quả nhiên đắc được giới thể phát hào quang sáng, có mùi hương lạ xông khắp. Sau khi đắc giới, thâm nhập được giáo lý của Tổ giáo hóa nên được Tổ truyền pháp qua bài kệ:
Ẩn hiện vốn pháp này,
Sáng tối nguyên không hai.
Nay truyền pháp liễu ngộ,
Không lấy cũng chẳng bỏ.
Ẩn hiển đều là bản pháp, tối và sáng không phải hai. Nay trao pháp liễu ngộ, pháp đó không lấy cũng không bỏ. Tại sao? Vì còn lấy bỏ là còn hai, mà pháp đó không phải hai. Tinh thần Thiền tông nằm ở chỗ không hai đó.
Khi truyền pháp xong, Tổ vào chánh định hiện tướng viên tịch. Ca-ty-ma-la và đồ chúng đem chân thể của Tổ để vào khám thờ.
Ngài là Tổ thứ mười hai của Thiền tông, cũng là một vị pháp sư làm sáng tỏ giáo pháp Đại thừa.
Sau Phật Niết-bàn khoảng sáu trăm năm, Phật giáo Đại thừa được sáng tỏ có thể nói ngài Mã Minh là người thắp ngọn đuốc Đại thừa mạnh nhất và sáng nhất, bởi vậy mới gọi là Bồ-tát.
Ngài sáng tác ba bộ luận:
1- Đại Thừa Khởi Tín Luận.
2- Đại Tông Địa Huyền Văn Bản Luận.
3- Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng.
Nổi tiếng nhất là bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận, đến bây giờ những nước Phật giáo Đại thừa vẫn truyền dạy bộ luận này. Như vậy ngót hai ngàn năm, bộ luận vẫn còn giá trị như thường.