Punyayasas
Ngài dòng Cù-đàm ở nước Hoa Thị, thân phụ là Bảo Thân. Thân phụ có bảy người con trai, ngài là con út. Thuở nhỏ, ngài tâm tư bình thản không tịnh không loạn. Ngài thường nói với các anh:
– Nếu gặp bậc đại sĩ ngồi nơi đạo tràng thuyết pháp, em quyết đến đó gần gũi tùy hỷ.
Khi tổ Hiếp Tôn Giả đến nước này chấn hưng Phật pháp, ngài liền đến dự trong hội ấy. Thấy ngài ứng đối mẫn tiệp, ngôn ngữ hợp lý, Tổ độ cho xuất gia.
Sau khi đắc pháp nơi tổ Hiếp Tôn Giả, ngài một lòng tinh tấn, lấy sự giáo hóa làm trọng trách. Đạo đức ngài vang khắp, số chúng quy ngưỡng đến ngàn vạn, những người được quả thánh có tới năm trăm vị
Ngài là con trai út trong gia đình, lúc còn nhỏ tâm tư bình thản, không tịnh không loạn, tức là không yên cũng không dao động. Ngài thường nói với các anh, nếu gặp bậc đại sĩ ngồi ở đạo tràng thuyết pháp, em quyết đến đó gần gũi tùy hỷ.
Khi tổ Hiếp Tôn Giả đến giáo hóa vùng này, thấy ngài có lối ứng đối mẫn tiệp phù hợp với chân lý, nên Tổ độ cho xuất gia.
Về sau, ngài đến nước Ba-la-nại có một vị trưởng giả vào hội. Ngài hỏi đồ chúng:
– Các ngươi có biết người nào mới vào đây chăng? Xưa Phật huyền ký rằng: “Sau khi ta diệt độ gần sáu trăm năm, sẽ có một vị thánh nhân ra đời hiệu Mã Minh, sanh trong nước Ba-la-nại, nói pháp nơi thành Hoa Thị, bẻ dẹp dị đạo, độ người vô lượng.”
Mã Minh nghe ngài nói trúng tên mình thì thầm khen, bước ra đảnh lễ ngài và hỏi:
– Tôi muốn biết Phật, thế nào là Phật?
Ngài đáp:
– Ông muốn biết Phật, chẳng biết ấy là phải
– Đã chẳng biết Phật, thì đâu biết là phải?
– Ông đã chẳng biết Phật tại sao biết chẳng phải?
Đây thật là nghĩa cưa.
– Đó là nghĩa cây. Ông nói nghĩa cưa là thế nào?
– Tôi cùng Thầy phân ra bằng nhau. Nghĩa cây của Thầy nói là sao?
– Ngươi bị ta xẻ.
Mã Minh liền ngộ được thắng nghĩa của ngài, vui thích cầu xin xuất gia. Ngài vì độ cho ông xuất gia và thọ giới Cụ túc.
Số chúng được ngài độ, có đến hai trăm vị chứng quả A-la-hán, ngoài ra còn vô số người phát tâm quy kính Tam bảo.
Thấy cơ duyên giáo hóa sắp viên mãn, ngài kêu Mã Minh lại dặn dò:
– Ngươi nên chuyển bánh xe pháp làm vị Tổ thứ mười hai. Xưa đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao cho tổ Ca-diếp lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải truyền tiếp. Nghe ta nói kệ:
Mê ngộ như ẩn hiển,
Minh ám bất tương ly.
Kim phó ẩn hiển pháp,
Phi nhất diệc phi nhị.
Dịch:
Mê ngộ như ẩn hiện,
Tối sáng chẳng rời nhau.
Nay trao pháp ẩn hiện,
Chẳng một cũng chẳng hai
Ngài truyền pháp cho Mã Minh xong, liền hiện thần biến rồi lặng lẽ viên tịch. Mã Minh và đồ chúng xây tháp trùm trên chân thân thờ ngài.
Sau khi xuất gia và đắc pháp nơi Tổ, ngài đi giáo hóa ở Ba-la-nại miền Trung An. Khi ấy trong hội của ngài có con ông trưởng giả rất thông minh đối đáp lanh lẹ, nổi tiếng thời đó. Khi vị này vào trong hội, ngài liền kêu đồ chúng bảo rằng, các ngươi có biết người mới vào đây chăng? Xưa Phật huyền ký rằng sau khi ta diệt độ gần sáu trăm năm, sẽ có một vị thánh nhân ra đời hiệu Mã Minh, sanh ở Ba-la-nại, nói pháp ở thành Hoa Thị, để dẹp các dị đạo, độ người vô lượng.
Khi thấy Mã Minh vào trong hội, ngài nhắc lại lời huyền ký trước, Mã Minh đảnh lễ hỏi: Tôi muốn biết Phật, thế nào là Phật? Tổ đáp: Ông muốn biết Phật, chẳng biết ấy là phải.
Không biết là phải! Câu trả lời nghe rất lạ tai, nhưng đó là sự thật. Ở đây chữ biết có nghĩa là phân biệt. Hiểu biết mà còn khởi phân biệt thì không bao giờ thấy Phật, biết mà không khởi phân biệt đó là Phật rồi. Lời đáp thật khó hiểu, nhưng nếu chúng ta nhìn theo con mắt nhà thiền thì không phải khó lắm.
Mã Minh bẻ lại: Đã chẳng biết Phật, thì đâu biết là phải? Tổ hỏi: Ông đã chẳng biết Phật, tại sao biết chẳng phải? Nếu biết phải, không phải là biết rồi, đã không biết mà nói không phải, như vậy thì ông biết chưa? Nếu chưa biết thì nói không phải cũng được, đã biết mà nói không phải thì không được.
Ví dụ nghe nói ông A nổi tiếng có nhiều người biết tới, nhưng khi ông A đứng trước mặt, mình hỏi người đó có phải ông A không? Nói không phải thì không biết ông A; nếu không biết, sao lại biết đó không phải ông A. Cho nên khi nói không phải người đó, là mình đã biết người đó, mới biết đây là phải hay không phải, còn chưa biết thì không nói phải, không phải.
Nghe Tổ bẻ lại, Mã Minh trở qua một bên: Đây thật là nghĩa cưa. Tổ nói: Đó là nghĩa cây. Ông nói nghĩa cưa là thế nào? Mã Minh đáp: Tôi cùng Thầy phân ra bằng nhau. Ngài nói nghĩa cây là sao? Ngươi bị ta xẻ.
Tức là ngươi đã thua ta rồi. Như vậy thua ở chỗ nào? Mã Minh bảo Tổ nói nghĩa cưa, Tổ bảo ngài nói nghĩa cây. Vì cưa xẻ cây, nên Mã Minh thua.
Nghe Tổ nói vậy Mã Minh liền ngộ được thắng nghĩa, cầu xin xuất gia. Từ đó về sau, Tổ độ chúng hai trăm vị chứng A-la-hán, ngoài ra còn vô số người phát tâm quy y.
Thấy cơ duyên giáo hóa sắp viên mãn, Tổ kêu Mã Minh lại dặn dò: Ngươi nên chuyển bánh xe pháp làm vị Tổ thứ mười hai. Xưa đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao cho tổ Ca-diếp, lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải nên truyền tiếp. Nghe ta nói kệ:
Mê ngộ như ẩn hiện,
Tối sáng chẳng rời nhau.
Nay trao pháp ẩn hiện,
Chẳng một cũng chẳng hai.
Mê ngộ như ẩn hiện, tối sáng chẳng rời nhau. Mê và ngộ là hai mặt của một thể chân tâm, vọng là mê chân là ngộ. Vọng và chân là một thể chứ không hai, cũng như sóng với nước, thấy như hai mà sự thật đồng một thể. Từ một thể chân tâm dấy lên làm hai tướng ẩn và hiển, tức vọng và chân. Như vậy vọng và chân gốc từ một pháp. Sáng và tối không rời nhau. Nếu rời sáng thì không có tối, ngược lại rời tối thì không có sáng. Sáng tối không cố định, nhân tối mới nói sáng, nhân sáng mới nói tối. Nhưng hiểu hai cái không rời nhau có lợi gì?
Như các vị A-la-hán, Bồ-tát là thánh, còn chúng ta là phàm phu. Bây giờ chúng ta biết thánh không rời phàm phu mà có, vì không có vị A-la-hán nào không từ phàm mà thành thánh. Hiểu được nghĩa không tách rời phàm mà có thánh, hay ở trong phàm có chứa chất thánh, chúng ta mới xuất gia tu học để chuyển hóa những tật xấu của phàm phu mà tập làm thánh. Vì thánh có sẵn trong con người phàm chứ không tìm kiếm đâu xa. Hai câu đầu chỉ cho trong tất cả pháp tương đối, tuy đối đãi mà không rời nhau.
Nay trao pháp ẩn hiện, chẳng một cũng chẳng hai. Trao pháp ẩn hiển, pháp đó là một thể của chân tâm thì không còn nói một, cũng không nói hai, vì tới chỗ đó không còn đối đãi.
Tổ truyền pháp cho Mã Minh xong, liền hiện thần biến rồi lặng lẽ viên tịch. Mã Minh và đồ chúng xây tháp trùm cả thân của Tổ thờ luôn.