Chánh văn:
Hành giả trong bậc Tam thừa tu hành đạo nghiệp khế hội chân lý, đều do trừ chướng hiển lý chứ không việc gì khác. Vì sao? Người Nhị thừa trừ Tứ trụ hoặc gọi là được thánh quả, lại không có pháp nào khác. Bậc đại sĩ Bồ-tát phá sạch Trần sa vô minh chướng hiển bày lý Bồ-đề cũng không tu pháp gì lạ. Lấy đây mà xét, nếu người hay khéo dùng Lục diệu môn đối trị phá nội ngoại chướng, tức là tu đạo nghiệp chứng đạo quả, lại không có đạo nào khác.
Thế nào là công dụng Lục diệu môn đối trị? Hành giả cần phải biết bệnh, biết thuốc. Thế nào là biết bệnh? Nghĩa là biết tam chướng:
– Một là Báo chướng, tức là thập bát giới, thập nhị nhập hiện đời không thiện, thô động, tán loạn làm chướng ngại.
– Hai là Phiền não chướng, là các thứ phiền não tam độc, thập sử v.v…
– Ba là Nghiệp chướng, là những chướng đạo ác nghiệp thời quá khứ hoặc hiện tại, trong khoảng chưa thọ báo hay làm chướng ngại thánh đạo.
Hành giả trong khi tọa thiền tam chướng phát khởi phải khéo biết tướng của nó, dùng pháp môn này đối trị trừ diệt.
Thế nào trong khi tọa thiền biết tướng báo chướng khởi và pháp đối trị?
1- Phân biệt nghĩ ngợi tâm tán động chạy theo các cảnh không tạm dừng trụ, gọi là báo chướng khởi. Tâm phù động ngoa xảo chạy theo các cảnh, tán loạn tung hoành như khỉ vượn gặp cây khó mà kìm chế. Khi ấy hành giả nên dùng pháp Sổ tức, Sổ tức điều tâm chính là chân đối trị vậy. Cho nên Phật nói: “Người duyên lự nhiều, dạy Sổ tức.”
2- Trong khi tọa thiền hoặc tâm cũng hôn trầm cũng tán loạn. Hôn trầm tức là tâm không ghi nhớ, mờ mịt muốn ngủ. Tán loạn là tâm phù động giong ruổi. Khi ấy hành giả nên dùng Tùy tức khéo điều tâm. Tùy tức soi tỏ hơi thở ra vào, tâm y hơi thở dứt các duyên không cho ý phân tán. Soi tỏ hơi thở ra vào trị bệnh vô ký hôn trầm, tâm nương nơi hơi thở trị bệnh giong ruổi lăng xăng.
3- Trong khi tọa thiền nếu biết thân tâm bực bội, hơi thở thô, tâm tán loạn lộn xộn, khi ấy hành giả phải dùng Chỉ. Buông thả thân thể, phóng xả hơi thở, kìm tâm lóng đứng dứt các duyên lự, đó là pháp trị.
Thế nào là phiền não chướng khởi và pháp đối trị?
Phiền não có ba thứ, pháp đối trị cũng có ba:
1- Trong khi tọa thiền tham dục phiền não chướng khởi, khi ấy hành giả nên dùng Cửu tưởng quán trong môn Quán tâm và pháp Bội xả ban đầu cùng hai pháp Thắng xứ, các pháp quán bất tịnh để đối trị.
2- Trong khi tọa thiền sân nhuế phiền não chướng khởi, khi ấy hành giả phải dùng Từ Bi Hỷ Xả v.v… trong môn Quán tâm mà đối trị.
3- Trong khi tọa thiền ngu si tà kiến phiền não khởi, khi ấy hành giả nên dùng Hoàn môn phản chiếu thập nhị nhân duyên, tam không, các đạo phẩm phá dẹp nguồn tâm quay về bản tánh là pháp đối trị.
Thế nào là nghiệp chướng và cách đối trị?
Nghiệp chướng có ba thứ, pháp đối trị cũng có ba:
1- Trong khi tọa thiền bỗng nhiên cấu tâm mờ mịt, quên mất cảnh tâm duyên, đó là nghiệp chướng hắc ám khởi. Khi ấy, hành giả phải dùng Tịnh phương tiện, niệm Ứng thân Phật có ba mươi hai tướng thanh tịnh sáng suốt trong Tịnh môn mà đối trị.
2- Trong khi tọa thiền bỗng dưng khởi nghĩ ác, suy nghĩ tham dục v.v… không có pháp ác nào mà chẳng nghĩ, đó là tội nghiệp của đời quá khứ đã tạo. Khi ấy, hành giả nên niệm Báo thân Phật có Nhất thiết chủng trí hoàn toàn thanh tịnh và những công đức Thường, Lạc v.v… trong Tịnh môn để đối trị.
3- Trong khi tọa thiền nếu có các thứ tướng cảnh giới ác hiện khởi, cho đến ép ngặt thân tâm, đó chính là ác nghiệp chướng do đời này hoặc đời trước đã tạo. Khi ấy, hành giả nên niệm Pháp thân Phật bản tịnh không sanh không diệt, bản tánh thanh tịnh, trong Tịnh môn để đối trị.
Đây là lược nói Lục diệu môn đối trị, đoạn trừ tướng của ba chướng. Nếu nói rộng không ngoài mười lăm thứ chướng.
Lại nữa, hành giả trong khi tọa thiền nếu phát các thứ thiền thâm định, giải thoát, trí tuệ khác, hoặc các thứ chướng khởi, phải y cứ Lục môn khôn khéo dùng đối trị. Các thứ chướng thô tế đã trừ, chân như thật tướng tự hiển, tam minh lục thông tự phát, thập lực, tứ vô sở úy, tất cả công đức, hạnh nguyện của chư Phật Bồ-tát tự nhiên hiện tiền không do tạo tác. Cho nên kinh chép: “Lại thấy chư Phật, tự nhiên thành Phật đạo.”
Giảng:
Hành giả trong bậc Tam thừa tu hành đạo nghiệp khế hội chân lý, đều do trừ chướng hiển lý chứ không việc gì khác. Vì sao? Người Nhị thừa trừ Tứ trụ hoặc gọi là được thánh quả, lại không có pháp nào khác.
Tu thiền được kết quả trong các bậc Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, là đều do khế hội với chân lý mà trừ các chướng. Chướng trừ được rồi thì lý đạo hiện, vì lý đạo đã sẵn có bởi do chướng che khuất mà thôi.
Người Nhị thừa trừ Tứ trụ hoặc gọi là được thánh quả, lại không có pháp nào khác. Hàng Thanh văn, Duyên giác muốn tiến đến thánh quả thì phải trừ Tứ trụ hoặc, vì bốn thứ hoặc này làm cho kẹt mắc. Tứ trụ hoặc là: Kiến nhất thiết trụ địa, Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa, Hữu ái trụ địa. Thường chúng ta hay có những thứ ưa thích làm chướng ngại đường tu. Ví dụ người thích ăn thì lúc ngồi thiền nhớ tưởng món ăn ngon, người thích sắc đẹp nên khi ngồi lại chỉ nhớ sắc đẹp của người này người kia, người thích âm thanh nếu đang ngồi thiền mà nghe tiếng hát thì tâm chạy theo lời nhạc v.v… Do nhớ tưởng bận chạy theo những gì mình thích, nên tâm loạn động không dừng trụ được, đó là chướng. Vì vậy hàng Nhị thừa tu hành phá được chướng thì lý đạo hiển hiện, gọi là chứng đắc thánh quả.
Bậc đại sĩ Bồ-tát phá sạch Trần sa vô minh chướng hiển bày lý Bồ-đề cũng không tu pháp gì lạ. Lấy đây mà xét, nếu người hay khéo dùng Lục diệu môn đối trị phá nội ngoại chướng, tức là tu đạo nghiệp chứng đạo quả, lại không có đạo nào khác.
Trần sa hoặc là cái mê lầm như cát bụi. Thánh quả Nhị thừa thì mê lầm Kiến Tư hoặc nơi mình đã hết, nhưng còn thấy cái mê lầm của chúng sanh nhiều như cát bụi, nên sanh tâm chán ngán, thối chí độ sanh, thủ cảnh Niết-bàn thiên không của Tiểu thừa. Hàng Bồ-tát muốn tu tiến thì phải dẹp sạch mê lầm vi tế Trần sa hoặc này, hiển bày lý Bồ-đề. Sự tu không có pháp gì khác, cũng tu Lục diệu môn mà thành Bồ-tát.
Như vậy, muốn tu đạt được kết quả của hàng Nhị thừa hay bậc đại sĩ Bồ-tát, đều phải khéo áp dụng pháp Lục diệu môn này mà đối trị phá nội ngoại chướng, tức là tu đạo nghiệp chứng đạo quả , chứ không có đường lối nào khác.
Thế nào là công dụng Lục diệu môn đối trị? Hành giả cần phải biết bệnh, biết thuốc. Thế nào là biết bệnh? Nghĩa là biết tam chướng:
– Một là Báo chướng, tức là thập bát giới, thập nhị nhập hiện đời không thiện, thô động, tán loạn làm chướng ngại.
– Hai là Phiền não chướng, là các thứ phiền não tam độc, thập sử v.v…
– Ba là Nghiệp chướng, là những chướng đạo ác nghiệp thời quá khứ hoặc hiện tại, trong khoảng chưa thọ báo hay làm chướng ngại thánh đạo.
Bệnh có chia ra ba thứ gọi là tam chướng, gồm có: Báo chướng, Phiền não chướng, Nghiệp chướng. Chướng là ngăn trở làm cho việc tu không tiến được.
Báo chướng là nghiệp báo của thân này. Ví dụ mình đang an ổn tiến tu, bỗng nhiên bị bệnh hoặc cảnh trần bên ngoài chi phối, làm cho sự tu hành bị trì trệ. Thập bát giới là sáu căn, sáu trần và sáu thức. Thập nhị nhập là sáu căn và sáu trần. Bởi thân này hợp với hoàn cảnh bên ngoài và tâm thức ở trong, làm cho thô động tán loạn trở ngại sự yên tịnh của chính mình, nên gọi là báo chướng. Vì vậy khi tu gặp những báo chướng, chúng ta phải khéo vượt qua, chiến thắng đừng để thua nó.
Phiền não chướng là các thứ phiền não tam độc, thập sử v.v… mà chúng ta thường hay mắc phải. Ví dụ có ai làm mình không vừa ý, hoặc bị người chọc tức, đến khi ngồi thiền cứ nhớ sai quấy của người đó nên tham sân si dấy khởi, ngồi thiền mà tâm không yên, đó là phiền não chướng.
Chúng ta có bệnh tham, tu muốn như thuyền xuôi nước thuận gió, nếu gặp việc gì trở ngại thì nói tu sao khó quá! Như có người nói, mình tu lẽ ra được Phật gia hộ không gặp chướng, mà sao cứ xảy ra chuyện này chuyện kia hoài. Lúc chưa tu không bị khảo, bây giờ tu rồi lại bị khảo v.v… Chúng ta cầu nguyện Phật gia hộ cho được bình yên để tu, không ai dám cầu Phật cho con có thử thách. Nếu người tu mà bình yên quá thì tu khó tiến, cần phải có những thử thách để khảo sát xem mình có nỗ lực không. Như học trò phải có thi cử, nếu không thi thì đâu được lên lớp, làm sao có bằng cấp? Thi là khảo hạch để biết sức của học trò có thể vượt qua cấp học đó được chưa. Chúng ta tu phải đủ can đảm vượt qua chướng ngại. Ai tu cũng có chướng, đừng nói tu là không chướng. Nếu người tu mà nói để yên cho tôi tu, đừng động tới tôi, như vậy là đâu có tu! Gặp báo chướng mà khéo biết vượt qua, mới thành công trong sự tu. Cho nên khi tu mà gặp chướng khảo thì phải mừng, vì chuẩn bị bước lên một bậc nữa. Nếu gặp khảo liền chán hết muốn tu, thì suốt đời cũng như chú học trò sợ thi nên cứ ngồi lại lớp hoài.
Nghiệp chướng là những việc làm không tốt mà xưa kia mình đã tạo, cho nên đời này bị tật nguyền hoặc gặp những việc phiền hà. Biết rồi chúng ta phải cố gắng vượt qua, để tu hành tiến tới thánh đạo.
Hành giả trong khi tọa thiền tam chướng phát khởi phải khéo biết tướng của nó, dùng pháp môn này đối trị trừ diệt.
Thế nào trong khi tọa thiền biết tướng báo chướng khởi và pháp đối trị?
1- Phân biệt nghĩ ngợi tâm tán động chạy theo các cảnh không tạm dừng trụ, gọi là báo chướng khởi. Tâm phù động ngoa xảo chạy theo các cảnh, tán loạn tung hoành như khỉ vượn gặp cây khó mà kìm chế. Khi ấy hành giả nên dùng pháp Sổ tức, Sổ tức điều tâm chính là chân đối trị vậy. Cho nên Phật nói: “Người duyên lự nhiều, dạy Sổ tức.”
Người tu nếu tâm chạy lăng xăng như khỉ vượn thì phải áp dụng phương pháp quán Sổ tức để kìm chế, hoặc đếm hơi thở lâu mà vọng tưởng vẫn cứ khởi thì phải xoay trở lại, vừa theo hơi thở vừa đếm hơi thở để kìm chế cho tâm yên định.
2- Trong khi tọa thiền hoặc tâm cũng hôn trầm cũng tán loạn. Hôn trầm tức là tâm không ghi nhớ, mờ mịt muốn ngủ. Tán loạn là tâm phù động giong ruổi. Khi ấy hành giả nên dùng Tùy tức khéo điều tâm. Tùy tức soi tỏ hơi thở ra vào, tâm y hơi thở dứt các duyên không cho ý phân tán. Soi tỏ hơi thở ra vào trị bệnh vô ký hôn trầm, tâm nương nơi hơi thở trị bệnh giong ruổi lăng xăng.
Ngồi thiền nếu vừa buồn ngủ vừa tán loạn thì phải dùng Tùy tức để điều tâm. Nhờ theo hơi thở “vô cùng ra sạch”, thấy biết rõ ràng nên hết buồn ngủ. Do nương theo hơi thở mà dứt các duyên, ý hết phân tán lăng xăng. Đó là dùng pháp Tùy tức, chú tâm theo hơi thở để trừ bệnh hôn trầm và tán loạn.
3- Trong khi tọa thiền nếu biết thân tâm bực bội, hơi thở thô, tâm tán loạn lộn xộn, khi ấy hành giả phải dùng Chỉ. Buông thả thân thể, phóng xả hơi thở, kìm tâm lóng đứng dứt các duyên lự, đó là pháp trị.
Nếu lúc ngồi thiền mà nghe trong người bứt rứt khó chịu, hơi thở khò khè nặng nề, tâm tán loạn không yên, khi đó phải buông xả thân tâm, không dùng đếm cũng không theo hơi thở, lóng đứng dứt hết các duyên không cho nghĩ ngợi. Như thế dần dần thong thả, nhẹ nhàng an định.
Thế nào là phiền não chướng khởi và pháp đối trị?
Phiền não có ba thứ, pháp đối trị cũng có ba:
1- Trong khi tọa thiền tham dục phiền não chướng khởi, khi ấy hành giả nên dùng Cửu tưởng quán trong môn Quán tâm và pháp Bội xả ban đầu cùng hai pháp Thắng xứ, các pháp quán bất tịnh để đối trị.
Trong lúc ngồi thiền, đang đếm hoặc theo hơi thở, bỗng tâm khởi tưởng ái dục không yên, thì phải dùng các pháp quán bất tịnh để đối trị. Như quán ba mươi sáu vật trong thân nhơ nhớp, hoặc quán thân này từ mới chết, tắt thở bầm xanh lần lần nứt nẻ, cho đến chỉ còn những lóng xương khô… Quán thấy thân này đáng sợ nhờm gớm, tâm ái dục sẽ theo đó dừng. Đó là dùng pháp quán để đối trị phiền não chướng về tham dục. Khi tu nếu khéo biết dùng thuốc thì bệnh sẽ hết.
2- Trong khi tọa thiền sân nhuế phiền não chướng khởi, khi ấy hành giả phải dùng Từ Bi Hỷ Xả v.v… trong môn Quán tâm mà đối trị.
Trong khi ngồi thiền mà nhớ đến những chuyện trái ý, như hôm trước có ai mắng chửi mình v.v… thì tâm phiền não sân hận liền dấy lên, lúc đó phải dùng từ bi hỷ xả để đối trị. Nghĩ rằng, người chửi bới mình là người đáng thương, vì họ mờ tối nên nghĩ sai nói bậy, mình là người tu sáng suốt phải nên thương họ. Do khởi tâm từ bi hỷ xả nên không thấy có gì quan trọng, phiền não chướng theo đó lần lần hết.
3- Trong khi tọa thiền ngu si tà kiến phiền não khởi, khi ấy hành giả nên dùng Hoàn môn phản chiếu thập nhị nhân duyên, tam không, các đạo phẩm phá dẹp nguồn tâm quay về bản tánh là pháp đối trị.
Lúc ngồi thiền khởi nghĩ tu để sống dai, hoặc ưa thích hiện phép lạ, muốn luyện pháp này pháp kia v.v… đó gọi là tà kiến. Tà kiến thuộc về ngu si nên phải dùng Hoàn môn phản chiếu lại tâm nghĩ tưởng ấy. Nếu vẫn chưa lặng thì quán thập nhị nhân duyên, từ vô minh duyên hành, hành duyên thức v.v… Quán thập nhị nhân duyên cũng chưa tan thì quán qua tam không, Không, Vô tướng, Vô nguyện. Quán như vậy là phá được tâm tà kiến.
Thế nào là nghiệp chướng và cách đối trị?
Nghiệp chướng có ba thứ, pháp đối trị cũng có ba:
1- Trong khi tọa thiền bỗng nhiên cấu tâm mờ mịt, quên mất cảnh tâm duyên, đó là nghiệp chướng hắc ám khởi. Khi ấy, hành giả phải dùng Tịnh phương tiện, niệm Ứng thân Phật có ba mươi hai tướng thanh tịnh sáng suốt trong Tịnh môn mà đối trị.
Trong khi ngồi thiền đang đếm hơi thở bỗng dưng quên, tâm mờ mịt lơ lửng không nhớ biết gì, đó là nghiệp chướng hắc ám khởi. Lúc ấy phải biết dùng Tịnh phương tiện, tức là pháp Tịnh của Lục diệu môn mà trừ nó. Hoặc nhớ Ứng thân Phật có ba mươi hai tướng tốt, như trái tai dài, tóc xoắn lại v.v… thì tâm hắc ám sẽ qua.
2- Trong khi tọa thiền bỗng dưng khởi nghĩ ác, suy nghĩ tham dục v.v… không có pháp ác nào mà chẳng nghĩ, đó là tội nghiệp của đời quá khứ đã tạo. Khi ấy, hành giả nên niệm Báo thân Phật có Nhất thiết chủng trí hoàn toàn thanh tịnh và những công đức Thường, Lạc v.v… trong Tịnh môn để đối trị.
Lúc bình thường không có những ý nghĩ xấu mà khi ngồi thiền bỗng nhiên khởi tưởng đủ thứ chuyện hung dữ, ác độc, tham lam v.v… cứ nhớ hoài những chuyện xấu ác kìm không được, phải biết đó là do nghiệp chướng quá khứ của mình đã tạo, bây giờ nó hiện trở lại. Khi ấy nên khởi quán Báo thân Phật có Nhất thiết chủng trí biết tất cả mà hoàn toàn thanh tịnh, quán các công đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh trong Tứ đức Niết-bàn… Luôn nhớ quán như vậy, nghiệp ác của quá khứ theo đó dần hết.
3- Trong khi tọa thiền nếu có các thứ tướng cảnh giới ác hiện khởi, cho đến ép ngặt thân tâm, đó chính là ác nghiệp chướng do đời này hoặc đời trước đã tạo. Khi ấy, hành giả nên niệm Pháp thân Phật bản tịnh không sanh không diệt, bản tánh thanh tịnh, trong Tịnh môn để đối trị.
Trong khi tọa thiền có các thứ tướng cảnh giới ác hiện khởi, ép ngặt thân tâm làm cho sợ hãi, như cảm giác có rắn bò, ma quỷ hiện hình v.v… Thấy như vậy rồi thân tâm bất an, hồi hộp sợ sệt, ngồi thiền không yên. Trường hợp này phải biết là do nghiệp chướng ác của mình đã tạo trước đây, nên bây giờ nó đến. Lúc ấy phải quán Pháp thân Phật trong sáng thanh tịnh, chính mình cũng sẵn có. Chú tâm quán sát, không dấy khởi một niệm, lần lần các tướng đó tan biến, không cần đọc bùa chú gì. Nếu thấy rồi sợ, lo kiếm bùa chú để trị thì loạn càng thêm loạn, vì đã loạn rồi thêm đọc bùa chú nữa, thành hai cái loạn, nên phải dùng Tịnh môn để đối trị.
Đây là lược nói Lục diệu môn đối trị, đoạn trừ tướng của ba chướng. Nếu nói rộng không ngoài mười lăm thứ chướng.
Mỗi thứ chướng có ba thứ, mỗi thứ lại có ba cách đối trị. Người tu nếu không hiểu rõ thì khi gặp chướng dễ bị thối tâm, có hiểu mới biết cách vượt qua mà tiến tu. Như có nhiều người hay than: Lúc bình thường mình hiền lành tử tế với mọi người, không có gì xấu ác; nhưng không hiểu sao lúc ngồi thiền bất chợt nhớ chuyện không vui, liền nổi sân hận muốn hại người này, trả thù người kia… Lẽ ra mình tu thì những cái xấu ác đó phải lặng đi, tại sao khi ngồi yên nó lại nổi lên?
Điều này đơn giản thôi, nhưng bởi không biết nên sanh nghi ngờ. Đó chính là phiền não chướng của quá khứ đã tích lũy lưu lại trong tàng thức, bây giờ chúng ta tu nó trỗi dậy quấy phá khiến mình mất thanh tịnh, nó hoành hành làm cho mình thối tâm, chứ không phải tại mình tu mà nó hiện ra. Biết như vậy rồi dùng phương pháp phù hợp đối trị, lần lần chướng hết mới được giải thoát. Chúng ta tu cốt trị dứt tất cả bệnh chướng của quá khứ và hiện tại, chứ không phải đầu hàng chịu thua. Nếu cứ để mặc nó muốn làm gì thì làm, nghiệp chướng sẽ còn hoài không thể nào giải thoát.
Lại nữa, hành giả trong khi tọa thiền nếu phát các thứ thiền thâm định, giải thoát, trí tuệ khác, hoặc các thứ chướng khởi, phải y cứ Lục môn khôn khéo dùng đối trị. Các thứ chướng thô tế đã trừ, chân như thật tướng tự hiển, tam minh lục thông tự phát, thập lực, tứ vô sở úy, tất cả công đức, hạnh nguyện của chư Phật Bồ-tát tự nhiên hiện tiền không do tạo tác. Cho nên kinh chép: “Lại thấy chư Phật, tự nhiên thành Phật đạo.”
Chướng hết rồi thì tâm thanh tịnh, từ tâm thanh tịnh mà tam minh, lục thông, thập lực, tứ vô sở úy v.v… được hiện tiền. Những thứ này đều từ bên trong phát ra, chứ không phải từ bên ngoài cho mình. Vì vậy đây dẫn kinh nói: Lại thấy chư Phật tự nhiên thành Phật đạo . Tự nhiên tức là khi tu sạch hết các chướng, lúc đó tâm tự hiển lộ, không phải do ai ban cho.