Chánh văn:
Hành giả muốn được thâm thiền định trí tuệ, cho đến thật tướng Niết-bàn, sơ học an tâm cần phải khôn khéo. Thế nào là khôn khéo? Chính pháp Lục diệu môn này phải hiểu biết để điều phục tâm, tùy pháp nào thích hợp với tâm nên thường dùng. Vì cớ sao? Nếu tâm không thích hợp, tu đối trị vô ích. Thế nên, khi mới tập tọa thiền phải nên học Sổ tức điều tâm, kế học Tùy tức, lại học Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh mỗi pháp trải qua vài ngày. Học rồi, trở lại từ Sổ, Tùy cho đến Hoàn, Tịnh tu tập an tâm. Mỗi pháp trải qua vài ngày, như thế đến đôi ba phen, hành giả ắt phải biết pháp nào thích hợp với tâm. Nếu Sổ tức thích hợp, nên dùng Sổ tức an tâm, cho đến Tịnh cũng như thế. Tùy phương tiện mà dùng không theo thứ tự. Như thế, khi an tâm nếu biết thân an, hơi thở điều, tâm tịnh và khai minh, trước sau vẫn an thì nên chuyên dùng pháp này. An tức là tốt, nên thường lấy đó làm pháp tắc, ấy là lược nói kẻ sơ học khôn khéo áp dụng Lục diệu môn, tùy tiện nghi an tâm.
Hành giả tâm được an ổn ắt có chỗ chứng. Thế nào là chứng? Nghĩa là được pháp trì thân, thô trụ, tế trụ, Dục giới vị đáo địa và Sơ thiền v.v… các thứ thiền định. Được các định rồi, nếu tâm trụ không tiến, phải tùy định thâm thiển tu Lục diệu môn cho khai phát.
– Thế nào là định thiển không tiến, tu Lục diệu môn khiến khai phát?
– Như hành giả mới được pháp trì thân và pháp thô tế trụ, trải qua thời gian mà không tăng tiến, khi ấy phải nên tế tâm tu Sổ tức. Sổ tức nếu không tiến, phải tu Tùy tức. Tùy tức nếu không tiến, phải ngưng tâm vi tế tu Chỉ. Chỉ nếu không tiến, phải ở trong định Quán pháp ấm, giới, nhập. Quán nếu không tiến, phải Hoàn quy kiểm xét nguồn tâm. Hoàn nếu không tiến, phải lóng lặng thể Tịnh. Sáu pháp này, nếu khi được một pháp tăng tiến thì nên khéo dùng pháp ấy mà tu. Khi đã tiến vào thâm thiền định là vượt hơn cảnh Sổ tức.
Tướng Sổ tức đã mất, tiến phát thiền Tùy tức, ở trong định này nếu không tăng tiến, phải khéo tu năm pháp Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh thì Tùy định tiến dần dần được sâu. Tùy cảnh đã qua liền phát Chỉ thiền. Chỉ thiền nếu không tiến phải khéo tu bốn pháp Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh thì Chỉ tướng tiến lần được sâu, Quán tâm khai phát. Tuy có Chỉ pháp mà biết từ nhân duyên sanh không có tự tánh. Chỉ tướng đã qua, nếu Quán thiền không tiến phải khôn khéo tu ba pháp Quán, Hoàn, Tịnh. Quán thiền đã tiến, tiến rồi lại qua, chuyển vào thâm định, tuệ giải khai phát, chỉ biết pháp tướng của tự tâm, biết Quán là hư dối không thật, cũng thuộc vọng tình, như việc trong mộng trông thấy. Biết rồi không thọ, trở lại phản chiếu nguồn tâm. Hoàn thiền trải lâu lại không thấy tiến, phải khéo quay lại phản quán nguồn tâm và thể tịnh lặng lẽ. Hoàn thiền đã tiến, tiến rồi lại qua liền phát Tịnh thiền. Thiền này về niệm tướng quán đã trừ, nói năng đều bặt, vô lượng tội lỗi được diệt, tâm thanh tịnh thường nhất, ấy gọi là Tịnh thiền. Tịnh nếu không tiến phải khéo đuổi cấu tâm, thể nhập chân tịch không, tâm như hư không, không có chỗ nương tựa. Khi ấy, Tịnh thiền dần dần thâm tịch, thấu triệt sáng suốt, phát tâm vô lậu, chứng đạo Tam thừa. Đây là lược nói Lục diệu môn tùy tiện nghi mà dùng, tăng trưởng các Thiền, công đức, trí tuệ cho đến nhập Niết-bàn.
Lại nữa, hành giả trong thời gian tu tập, nếu có nội chướng, ngoại chướng khởi, muốn dẹp trừ cũng y cứ Lục diệu môn tùy lấy một pháp, mỗi mỗi hiểu biết áp dụng đuổi nó. Nếu được lành liền lấy đó làm phương thuốc. Công dụng Lục diệu môn trị thiền chướng, ma sự và bệnh hoạn trong lúc tu thiền quyết được lành vậy. Đã nói từ trước tới đây ý vẫn khó thấy, hành giả nếu dùng pháp môn này phải khéo suy nghĩ nhận cho được ý, chớ thực hành bừa.
Giảng:
Hành giả muốn được thâm thiền định trí tuệ, cho đến thật tướng Niết-bàn, sơ học an tâm cần phải khôn khéo. Thế nào là khôn khéo? Chính pháp Lục diệu môn này phải hiểu biết để điều phục tâm, tùy pháp nào thích hợp với tâm nên thường dùng. Vì cớ sao? Nếu tâm không thích hợp, tu đối trị vô ích. Thế nên, khi mới tập tọa thiền phải nên học Sổ tức điều tâm, kế học Tùy tức, lại học Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh mỗi pháp trải qua vài ngày. Học rồi, trở lại từ Sổ, Tùy cho đến Hoàn, Tịnh tu tập an tâm. Mỗi pháp trải qua vài ngày, như thế đến đôi ba phen, hành giả ắt phải biết pháp nào thích hợp với tâm. Nếu Sổ tức thích hợp, nên dùng Sổ tức an tâm, cho đến Tịnh cũng như thế. Tùy phương tiện mà dùng không theo thứ tự. Như thế, khi an tâm nếu biết thân an, hơi thở điều, tâm tịnh và khai minh, trước sau vẫn an thì nên chuyên dùng pháp này. An tức là tốt, nên thường lấy đó làm pháp tắc, ấy là lược nói kẻ sơ học khôn khéo áp dụng Lục diệu môn, tùy tiện nghi an tâm.
Đường lối tu của đạo Phật không cứng ngắc mà phải linh động. Trước dạy tu theo thứ tự từ Sổ tức cho đến Hoàn Tịnh, nhưng lại có trường hợp đặc biệt gọi là Tùy tiện nghi tu Lục diệu môn. Nghĩa là trong sáu pháp này, nếu tu pháp nào được an tâm, được thanh tịnh thì ứng dụng tu lâu dài, còn pháp nào tu không hợp, có những thứ bệnh hoặc bị trở ngại thì bỏ pháp đó để tu qua pháp khác. Ví dụ tu đếm hơi thở một hồi nghe tức ngực thì nên bỏ Sổ tức chuyển qua Tùy tức cho thông, hoặc theo hơi thở mà tâm cứ tán loạn thì phải dùng Chỉ để dừng nó. Như vậy, tùy theo bệnh, tùy theo căn cơ của mỗi người mà ứng dụng tu đúng pháp thì việc tu mới có hiệu nghiệm.
Hành giả tâm được an ổn ắt có chỗ chứng. Thế nào là chứng? Nghĩa là được pháp trì thân, thô trụ, tế trụ, Dục giới vị đáo địa và Sơ thiền v.v… các thứ thiền định. Được các định rồi, nếu tâm trụ không tiến, phải tùy định thâm thiển tu Lục diệu môn cho khai phát.
Nếu tu một pháp có kết quả thì sẽ có chỗ chứng đạt. Chứng nghĩa là được pháp trì thân, thô trụ, tế trụ, Dục giới vị đáo địa và các thứ thiền định.
Pháp trì thân là lúc ngồi thiền tâm được an vững, không có tưởng niệm thô động hoặc những tướng làm cho khó chịu.
Thô trụ, tế trụ là trụ trong pháp tu còn thô hay tế. Ví dụ khi theo hơi thở vô ra được an ổn, nhưng hơi thở còn sâu dài mạnh là thô trụ, hơi thở nhẹ nhàng yên tĩnh dường như không là tế trụ.
Dục giới vị đáo địa tức là được định nhưng chưa thoát khỏi cõi Dục, sắp vào Sơ thiền mà chưa đến Sơ thiền. Nếu được Sơ thiền thì khi chết được lên cõi Sắc giới. Từ Sơ thiền trở lên, các thứ thiền định khác đều từ bước đầu này. Tuy nhiên, nếu được các định rồi mà tâm trụ không tiến, thì phải tùy định thâm thiển tu Lục diệu môn , dùng mỗi pháp riêng tu cho khai phát để vượt qua chỗ kẹt mắc đó.
– Thế nào là định thiển không tiến, tu Lục diệu môn khiến khai phát?
– Như hành giả mới được pháp trì thân và pháp thô tế trụ, trải qua thời gian mà không tăng tiến, khi ấy phải nên tế tâm tu Sổ tức. Sổ tức nếu không tiến, phải tu Tùy tức. Tùy tức nếu không tiến, phải ngưng tâm vi tế tu Chỉ. Chỉ nếu không tiến, phải ở trong định Quán pháp ấm, giới, nhập. Quán nếu không tiến, phải Hoàn quy kiểm xét nguồn tâm. Hoàn nếu không tiến, phải lóng lặng thể Tịnh. Sáu pháp này, nếu khi được một pháp tăng tiến thì nên khéo dùng pháp ấy mà tu. Khi đã tiến vào thâm thiền định là vượt hơn cảnh Sổ tức.
Khi tu Sổ tức đếm hơi thở được yên tịnh, từ lúc bắt đầu ngồi cho tới khi xả không nghĩ gì khác, chỉ nhớ số từ một đến mười không sai sót, cứ như vậy hoài cũng chưa được, phải buông đếm hơi thở bước qua Tùy tức. Theo hơi thở nhẹ nhàng dần được an định, nếu dừng ngang đó thì không thể tiến, nên phải qua tu Chỉ, hoặc Quán, Hoàn, Tịnh. Tùy áp dụng pháp nào cũng được, miễn là vượt qua khỏi chỗ chìm lặng đó.
Tu thiền chủ yếu là an định, nhưng định không phải chỗ cuối cùng của thiền, có định rồi lại phải vượt qua để tiến lên. Nếu ngồi tâm an tĩnh được thanh tịnh nhưng không tiến, không sáng suốt, thì lúc đó phải áp dụng qua pháp khác. Như trước đây tâm nhiễm ái dục chạy theo sáu trần, nay do tu tập lìa hết các dục được an vui, đó là bước thứ nhất Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc. Tu thêm một thời gian, tâm không còn niệm lăng xăng mà luôn yên định, vui vẻ nhẹ nhàng, là tiến lên bước thứ hai Nhị thiền Định sanh hỷ lạc. Định hoài cũng là chỗ bị trụ, nên phải vươn lên vượt khỏi chỗ đó, đây là Tam thiền Ly hỷ diệu lạc. Rồi đến Tứ thiền Xả niệm thanh tịnh v.v… Cứ như vậy từ bước thứ nhất mà tiến dần lên.
Tu không phải chỉ dừng ở một chỗ, mà phải buông bỏ từng chặng để tiến lên những pháp khác. Có hai lối: Một là tu từ Sơ thiền tiến dần đến Tứ thiền, chuyển qua quán pháp Tứ diệu đế thấy đúng như thật thì chứng quả A-la-hán. Hai là, tu tới Tứ thiền rồi tiến qua Không vô biên xứ… cho đến Diệt tận định, chứng quả A-la-hán. Trong hai lối này thì lối thứ nhất thẳng tắt hơn.
Như vậy, được định rồi cần phải có trí tuệ, thấy đúng như thật pháp Tứ đế, chứ không chìm lặng trong định. Người tập tu phải ứng dụng sáng suốt khéo léo, người hướng dẫn tu cũng phải biết bước tiến của đệ tử để nhắc nhở, được vậy sự tu mới không bị trì trệ.
Tướng Sổ tức đã mất, tiến phát thiền Tùy tức, ở trong định này nếu không tăng tiến, phải khéo tu năm pháp Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh thì Tùy định tiến dần dần được sâu. Tùy cảnh đã qua liền phát Chỉ thiền. Chỉ thiền nếu không tiến phải khéo tu bốn pháp Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh thì Chỉ tướng tiến lần được sâu, Quán tâm khai phát. Tuy có Chỉ pháp mà biết từ nhân duyên sanh không có tự tánh. Chỉ tướng đã qua, nếu Quán thiền không tiến phải khôn khéo tu ba pháp Quán, Hoàn, Tịnh. Quán thiền đã tiến, tiến rồi lại qua, chuyển vào thâm định, tuệ giải khai phát, chỉ biết pháp tướng của tự tâm, biết Quán là hư dối không thật, cũng thuộc vọng tình, như việc trong mộng trông thấy. Biết rồi không thọ, trở lại phản chiếu nguồn tâm. Hoàn thiền trải lâu lại không thấy tiến, phải khéo quay lại phản quán nguồn tâm và thể tịnh lặng lẽ. Hoàn thiền đã tiến, tiến rồi lại qua liền phát Tịnh thiền. Thiền này về niệm tướng quán đã trừ, nói năng đều bặt, vô lượng tội lỗi được diệt, tâm thanh tịnh thường nhất, ấy gọi là Tịnh thiền.
Chỉ thiền là thiền định do tu Chỉ. Bởi nhân kìm tâm một chỗ, hoặc giữ nơi chót mũi mà được yên định. Dừng lặng lâu dễ sanh ngủ gục khiến cho mê mờ, nên khi ấy phải khéo tu Quán để trí tuệ khai phát.
Quán một thời gian thấy rõ thân cảnh đều là duyên hợp, hư dối không thật, lúc ấy nên chuyển qua tu Hoàn, tức là quán xét trở lại cùng tột tâm hay quán đó xem nó ở đâu. Tu Hoàn đã tiến liền bước qua tu Tịnh. Do tâm thanh tịnh thuần nhất nên được gọi là Tịnh thiền. Cứ như thế thứ lớp mà tu tập.
Tịnh nếu không tiến phải khéo đuổi cấu tâm, thể nhập chân tịch không, tâm như hư không, không có chỗ nương tựa. Khi ấy, Tịnh thiền dần dần thâm tịch, thấu triệt sáng suốt, phát tâm vô lậu, chứng đạo Tam thừa. Đây là lược nói Lục diệu môn tùy tiện nghi mà dùng, tăng trưởng các Thiền, công đức, trí tuệ cho đến nhập Niết-bàn.
Tịnh nếu không tiến thì phải đuổi cấu tâm, thể nhập chân tịch không. Tịnh là buông xả trong sạch, không niệm nào dấy khởi, tâm thường lặng lẽ. Cấu tâm là tâm còn mang những ái nhiễm của thế gian, nên cần phải đuổi dẹp sạch hết. Nếu tâm được như hư không, không có chỗ nương tựa thì Tịnh thiền mới được thâm tịch thấu suốt, chứng vô lậu giải thoát. Như vậy, nhờ khéo léo ứng dụng tu Lục diệu môn mà được đầy đủ công đức trí tuệ, cho đến nhập Niết-bàn.
Lại nữa, hành giả trong thời gian tu tập, nếu có nội chướng, ngoại chướng khởi, muốn dẹp trừ cũng y cứ Lục diệu môn tùy lấy một pháp, mỗi mỗi hiểu biết áp dụng đuổi nó. Nếu được lành liền lấy đó làm phương thuốc. Công dụng Lục diệu môn trị thiền chướng, ma sự và bệnh hoạn trong lúc tu thiền quyết được lành vậy. Đã nói từ trước tới đây ý vẫn khó thấy, hành giả nếu dùng pháp môn này phải khéo suy nghĩ nhận cho được ý, chớ thực hành bừa.
Người tu thiền, muốn dẹp được nội chướng ngoại chướng, chỉ cần lấy pháp Lục diệu môn mà trị, không cần pháp gì khác. Như khi tu thiền nếu được thiền Chỉ, tức là dừng định ở chót mũi mà tâm yên lặng, rồi cứ say ở trong định đó, bị nó làm cho mờ mịt thì phải chuyển qua tu Quán. Dùng trí tuệ quán các pháp do nhân duyên sanh để ra khỏi định chìm lặng đó. Trí tuệ quán lâu trở thành chướng vì còn động, cho nên phải bỏ chuyển qua tu Hoàn, tìm lại manh mối của nó.
Tóm lại, tất cả pháp đều là phương thuốc tùy theo bệnh mà trị. Nếu bệnh gì nặng thì áp dụng phương pháp đó để trị cho phù hợp, khi có kết quả rồi thì chuyển qua cái khác chứ không giữ mãi ở một chỗ. Việc tu cần phải hiểu cho kỹ, đừng thực hành bừa rồi sanh bệnh. Đó là tùy theo hoàn cảnh mà khéo tu Lục diệu môn.