Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải

Đời Thứ Mười Một Sau Lục Tổ



Tông Tào Động Đời Thứ Bảy

THIỀN SƯ NGHĨA THANH Ở ĐẦU TỬ (1032-1083) 

họ Lý quê Thanh Xã, lúc bảy tuổi có nhiều điềm lạ, đến chùa Diệu Tướng xin xuất gia. Học luận Bách Pháp chưa bao lâu, Sư than: “Con đường ba a-tăng-kỳ xa xôi, tự giam hãm nào có ích gì!” Sư bèn vào Lạc Dương nghe kinh Hoa Nghiêm thông suốt nghĩa lý. Đọc bài kệ của Bồtát Chư Lâm đến câu “tức tâm tự tánh”, Sư liền phát tỉnh, nói: “Pháp lìa văn tự đâu thể giảng ư?” Sư bèn cất bước du phương qua các thiền hội.

Luận Bách Pháp thuộc về tông Duy thức, chia các pháp thành một trăm pháp tâm thức và ngoại cảnh. Lối chia chẻ đó thuộc về hình thức, bởi hình thức nên nói rằng người tu từ phàm phu đến thành Phật phải trải qua ba a-tăng-kỳ, tức là ba vô số kiếp. Vì thế ngài nói, tự giam hãm nào ích gì! Ngài đi tìm nghe kinh Hoa Nghiêm, được thông suốt lý Kinh. Đến bài kệ tức tâm tự tánh, ngay tâm đó là tánh của mình, ngài bèn tỉnh ngộ. Ngộ về tâm nên biết pháp đó lìa văn tự không thể giảng nói, vì tâm không phải là hình tướng bên ngoài mà diễn đạt được. Bấy giờ ngài tìm đến các hội thiền.

Thiền sư Viên Giám ở Hội Thánh nham, một đêm nằm mộng thấy có nuôi con chim ưng sắc xanh, tỉnh giấc ông cho là một điềm lành. Đến sáng ngày ấy, Sư liền đi đến. Sư lễ ra mắt, Giám nhận cho ở và dạy khán câu “Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời”. 

Sự khán câu này trải qua ba năm, một hôm Giám hỏi: 

– Ngươi ghi nhớ được thoại đầu chăng, thử nêu ra xem? 

Sư nghĩ đáp lại, bị Giám bụm miệng. Bỗng nhiên Sư khai ngộ, bèn đảnh lễ. Giám bảo: 

– Ngươi diệu ngộ huyền cơ chăng? 

Sư thưa: 

– Nếu có cũng phải mửa bỏ. 

Lúc đó, thị giả Tư ở bên cạnh nói: 

– Thanh Hoa Nghiêm ngày nay như bệnh được ra mồ hôi. 

Sư ngó lại, bảo: 

– Ngậm lấy miệng chó, nếu nói lăng xăng, ta buồn nôn. 

Ngài Viên Giám là đệ tử của tông Lâm Tế. Đời Tống, tông Lâm Tế bắt đầu cho khán thoại đầu, nên khi ngài Nghĩa Thanh đến đây thì ngài Viên Giám dạy khán thoại đầu, câu Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời. Ngài khán ba năm, khi ngài Viên Giám hỏi rồi ngài muốn trả lời, Viên Giám bụm miệng, ngay đó ngài ngộ. Lúc ấy ngài Viên Giám hỏi rằng: Ngươi diệu ngộ huyền cơ chăng? Nếu thông thường thì nói: Dạ! Con ngộ rồi. Nhưng ngài đáp: Nếu có cũng phải mửa bỏ. Nếu còn thấy ngộ cái đó cũng phải bỏ luôn, chứng tỏ chỗ thấy của ngài siêu việt. Thị giả thấy vậy nói rằng: Thanh Hoa Nghiêm ngày nay như bệnh được ra mồ hôi. Ngài bảo: Ngậm lấy miệng chó, nếu nói lăng xăng, ta buồn nôn. Tất cả những gì gọi là ngộ, là đắc đều là đồ bỏ không xài được. Thấy tột rồi nó là như vậy.

Sau đó ba năm, Giám đem tông chỉ của tông Tào Động chỉ dạy Sư đều diệu khế. Giám trao giày, y của Đại Dương Huyền và dặn dò: 

– Ngươi thay ta nối dòng tông Tào Động, không nên ở đây lâu, phải khéo hộ trì. 

Lại nói kệ: 

Tu-di lập thái hư 

Nhật nguyệt phụ nhi chuyển. 

Quần phong tiệm ỷ tha 

Bạch vân phương cải biến.

Thiếu Lâm phong khởi tùng 

Tào Khê động liêm quyển. 

Kim phượng túc long sào

Thần đài khởi xa niễn. 

Dịch: 

Tu-di đứng trong không 

Nhật nguyệt cạnh mà chuyển.

Nhiều đánh đều nương y

Mây trắng mới biến đổi.

Gió Thiếu Lâm thổi rừng

Động Tào Khê cuốn sáo.

Phượng vàng đậu ổ rồng 

Nhà rêu đâu xe nghiền. 

Giám lại bảo Sư đến nương nơi thiền sư Viên Thông Tú. 

Ngài Viên Giám thuộc tông Lâm Tế, ngài Đại Dương Cảnh Huyền thuộc tông Tào Động, nhưng hai vị là bạn thân. Khi ngài Cảnh Huyền sắp tịch, không có người kế thừa, bèn đem y đem giày gửi cho ngài Viên Giám: “Sau này ông gặp người nào xứng đáng thì nói yếu chỉ của tông Tào Động cho họ, rồi trao giày, y này để kế thừa tông Tào Động” Vì thế khi ngài Nghĩa Thanh ngộ rồi, ngài Viên Giám nói yếu chỉ của tông Tào Động cho nghe, hiểu xong rồi thì truyền y, giày của ngài Cảnh Huyền cho. Từ đây ngài nối pháp tông Tào Động.

Sư đến Viên Thông không thưa hỏi gì, chỉ ăn cơm xong rồi ngủ. Tri sự thấy thế, bạch với Viên Thông: 

– Trong tăng đường có vị tăng cả ngày lo ngủ, xin thực hành theo quy chế. 

Viên Thông hỏi: 

– Người nào? 

Tri sự thưa: 

– Thượng tọa Thanh. 

Viên Thông bảo: 

 Khoan! Đợi ta xét qua. 

Viên Thông cầm gậy đi vào tăng đường, thấy Sư đang nằm ngủ. Viên Thông gõ vào giường, quở: 

– Trong đây tôi không có cơm dư cho Thượng tọa ăn xong rồi ngủ. 

Sư thưa: 

– Hòa thượng dạy tôi làm gì? 

Viên Thông bảo: 

– Sao chẳng tham thiền? 

Sư thưa: 

– Món ăn ngon không cần đối với người bụng no. 

Viên Thông bảo: 

– Tại sao có nhiều người không chấp nhận Thượng tọa? 

Sư thưa: 

– Đợi họ chấp nhận để làm gì? 

Viên Thông hỏi: 

– Thượng tọa đã gặp ai rồi đến đây? 

Sư thưa: 

– Phù Sơn. 

Viên Thông bảo: 

– Hèn gì lười biếng như thế. 

Viên Thông bèn nắm tay cùng cười, rồi trở về phương trượng. 

Thảnh thơi quá! Món ăn ngon không cần đối với người bụng no. Nhưng nếu người bụng đói thì cần không? Nếu bụng đói thì dầu món ăn dở cũng cần, đừng nói là món ăn ngon. Để thấy người triệt ngộ thì không cần phải thưa hỏi gì thêm nữa, vì đó là dư; nhưng nếu mình chưa triệt ngộ thì đó là thiếu, hỏi hoài chưa đủ.

Ban đầu Sư trụ tại Bạch Vân. Sau Sư dời đến Đầu Tử. 

Sư thượng đường gọi đại chúng bảo: 

– Nếu luận việc này như loan phượng bay giữa hư không chẳng để dấu vết, như con linh dương treo sừng ai tìm được dấu chân, rồng vàng chẳng giữ đầm lạnh, thỏ ngọc đâu gá bóng trăng. Nếu lập chủ khách thì phải ngoài cõi Oai Âm lắc đầu, hỏi đáp nói bày vẫn là bên lề huyền lộ đề xướng. Nếu được như thế, vẫn còn ở giữa đường. Nếu lại chần chừ suy nghĩ thì chẳng cần thấy nhau. 

Cứu cánh của đạo không có tựa nương, không có hình dáng. Như loan phượng bay giữa hư không chẳng để dấu vết, bay qua rồi thôi không còn dấu vết. Như con linh dương treo sừng, con linh dương khi ngủ treo sừng trên cây không để lại dấu chân. Thật là rồng vàng thì không ở dưới đầm lạnh, thật là thỏ ngọc thì đâu gá bóng trăng. Vì vậy nếu lập chủ khách thì phải ngoài cõi Oai Âm lắc đầu, hỏi đáp nói bày vẫn là bên lề huyền lộ. Đó là những cái tạm không phải thật, nếu cho là cứu cánh thì không được. Nếu được như thế, vẫn còn ở giữa đường, tức là nếu như thế mà hiểu thì cũng là kẻ giữa đường chưa phải xong việc.

Sư thượng đường: 

– Nếu đề xướng tông thừa thì phàm thánh bặt dấu. Lầu gác cửa mở, nơi khác thấy nhau. Giả sử cuốn rèm được ngộ đâu khỏi bên cạnh, mùa xuân gặp hoa đào lại thêm bệnh mắt. Do đó, cổ nhân nói: “Một đường hướng thượng ngàn thánh chẳng truyền.” Chư nhân giả! Đã là chẳng truyền, tại sao trâu sắt chạy qua nước Tân La (Triều Tiên)? 

Sư bèn hét, nói: 

– Đạt giả phải biết sợ chỗ tối. 

Đề xướng tông thừa phải bặt cả phàm thánh không còn dấu vết, nên nói Giả sử cuốn rèm được ngộ đâu khỏi bên cạnh, cuốn rèm được ngộ là Lăng đạo giả. Gặp hoa đào mà ngộ là thiền sư Linh Vân. Dù cho ngộ như vậy, ngài cũng cho rằng còn bệnh, chưa phải xong. Tại sao? Vì Một đường hướng thượng ngàn thánh chẳng truyền. Nếu có truyền trao thì cái đó là của người cho mình, không phải của mình. Các ngài chỉ ấn chứng chứ không truyền.

Có vị tăng hỏi: 

– Thầy xướng gia khúc tông phong ai, nối pháp vị nào? 

Sư đáp: 

 Một mũi tên trước Oai Âm, bắn thấu hai lớp núi. 

– Thế nào là việc truyền nhau? 

– Toàn do trăng đất Hoài, chiếu soi xuân xứ Dĩnh. 

– Thế ấy là vào nước thấy người dài? 

– Chỉ biết ngọc Kinh lạ, đâu biện tâm Sở vương. 

Tăng lễ bái. 

Tăng hỏi: Thầy xướng gia khúc tông phong ai, nối pháp vị nào? Ngài đáp: Mũi tên trước đức Phật Oai Âm Vương, bắn thấu qua hai lớp núi. Mũi tên đó dụ cho cái sẵn có của chính mình, nó vượt qua hai lớp núi, đây có thể là lớp núi Lâm Tế và lớp núi Tào Động, vì ngài kế thừa tông Tào Động mà lại ngộ nơi tông Lâm Tế.

Tăng hỏi: Thế nào là việc truyền nhau? Ngài đáp: Toàn do trăng đất Hoài, chiếu soi xuân xứ Dĩnh. Trăng đất Hoài có thể ví dụ như trăng Biên Hòa, soi sáng Bà Rịa; như ngộ ở tông Lâm Tế mà kế thừa tông Tào Động. Tăng nói: Thế ấy là vào nước thấy người dài? Ngài nói: Chỉ biết ngọc Kinh lạ, đâu biện tâm Sở vương. Thời xưa, Biện Hòa lên Kinh Sơn tìm ngọc, khi tìm được ngọc bích ở trong đá biết là ngọc quý, đem dâng cho vua Sở. Biết ngọc quý đem dâng vua Sở chứ chưa biết vua Sở có nhận hay không. Đây cũng vậy, tôi biết đó là quý cứ thực nêu lên, còn chuyện ông hiểu sao thì hiểu.

Niên hiệu Nguyên Phong năm thứ sáu (1083) nhà Tống, ngày mùng bốn tháng năm, Sư tắm rửa thượng đường từ biệt chúng, viết kệ:

Lưỡng xứ trụ trì 

Vô khả trợ đạo 

Trân trọng chư nhân 

Bất tu tầm thảo.

Dịch:

Trụ trì hai nơi 

Không thể giúp đạo 

Từ biệt các người 

Chẳng cần tìm lão.

Sư ném bút liền tịch. 

Ngài nói rất khiêm tốn. Ngài nói đời của ngài trụ trì được hai chỗ nhưng cũng chưa làm được việc cho đạo là bao nhiêu. Bây giờ kính chào hết mọi người, thôi đừng tìm kiếm, ngang đây là xong rồi.

THIỀN SƯ THANH PHẪU Ở HƯNG DƯƠNG 

Sư ở Đại Dương làm tri viên, Sư trồng dưa, Đại Dương hỏi: 

– Dưa ngọt chừng nào mới chín? 

Sư thưa: 

– Hiện nay đã chín muồi rồi. 

Đại Dương bảo: 

– Bẻ dưa chín muồi đem lại. 

Sự hỏi: 

– Cho người nào ăn? 

Đại Dương bảo: 

– Cho người không vào vườn. 

Sư thưa: 

– Chẳng biết người không vào vườn lại ăn hay chăng? 

Đại Dương bảo: 

– Ngươi biết y chăng? 

Sư thưa: 

– Tuy nhiên chẳng biết mà không được chẳng cho. 

Đại Dương cười rồi đi. 

Hai thầy trò nói chuyện trồng dưa đơn giản. Hỏi dưa ngọt chừng nào mới chín? Câu này giống Ngũ Tổ hỏi Lục Tổ: Gạo trắng chưa? Ngài trả lời: Hiện nay đã chín muồi rồi, như Lục Tổ trả lời: Gạo đã chín mà chưa có giần sàng. Đại Dương bảo: Bẻ dưa chín muồi đem lại, như vậy ông trình cái chín muồi cho ta xem. Câu hỏi đó nếu không khéo thì kẹt rồi, ngài nói: Cho người nào ăn? Câu rất thông thường mà khéo chuyển qua được chỗ khó. Đại Dương bảo: Cho người không vào vườn. Ngài bẻ lại: Chẳng biết người không vào vườn lại ăn hay chăng? Đại Dương bảo: Ngươi biết y chăng? Không nói ăn hay không ăn nữa, chuyển qua cái khác: Ngươi biết y chăng? Câu này khó trả lời, nếu biết thì thánh nhân hội, nếu không biết thì đồng phàm phu. Ngài trả lời khéo: Tuy nhiên chẳng biết mà không được chẳng cho, biết thì không biết mà không thể không cho. Nếu biết thì thánh nhân còn hội, vẫn còn kẹt, nhưng nếu không cho tức là không có cái đó sao? Không biết mà vẫn có nên phải cho. Câu trả lời gỡ được bẫy, nói được chỗ đó nên Đại Dương liền cười.

Sau khi Sư trụ ở Hưng Dương, thượng đường dạy chúng: 

– Đại đạo từ Tây sang, lý bặt bách phi, trong câu hợp cơ toàn trái diệu chỉ. Bất đắc dĩ mà làm cong vạy tông Tổ sư, huống là lăng xăng có lợi ích gì? Tuy nhiên như thế, việc không phải một chiều, hãy ở trong cửa xướng giáo mở một con đường cùng toàn thể thương lượng. 

Đạo lý của Tổ sư từ Ấn Độ sang, lìa tứ cú dứt bách phi. Nếu trong một câu nói cho là hợp lý để người ta hiểu thì đó là trái với yếu chỉ. Như thế không hợp với tông chỉ Tổ sư, nhưng bất đắc dĩ phải nói, cũng làm cong vậy rồi.

Tăng hỏi: 

– Rồng Ta-kiệt ra khỏi biển thì càn khôn chấn động, thấy mặt trình nhau việc thế nào? 

Sư đáp: 

– Chim đại bàng cánh vàng kình vũ trụ, trong ấy ai là người xuất đầu? 

– Nếu khi gặp người xuất đầu thì làm sao? 

– Giống như chim cắt bắt bồ câu anh không tin, trước sọ khô nghiệm mới biết thật. 

– Thế thì khoanh tay trước ngực lui ba bước? 

– Con rùa đen dưới tòa Tu-di, chớ đợi điểm trán lần thứ hai. 

Trong thời này các ngài thường dùng những câu thơ để đối đáp nhau. Đầu tiên Tăng hỏi: Rồng Takiệt ra khỏi biển thì càn khôn chấn động, thấy mặt trình nhau việc thế nào? Chủ yếu là thấy mặt trình nhau, nhưng trước dẫn rồng Ta-kiệt tức là rồng vua rồng chúa, khi ra khỏi biển có sấm sét nổi lên. Bây giờ thấy mặt trình nhau việc đó ra sao? Ngài đáp lại: Chim đại bàng cánh vàng kình vũ trụ, trong ấy ai là người xuất đầu? Chim đại bàng nuốt rồng, nên nói chim đại bàng cánh vàng kình vũ trụ, trong ấy ai là người xuất đầu? Ai có hình tướng gì hiện ra mà nói trình? Tăng hỏi: Nếu khi gặp người xuất đầu thì làm sao? Nếu có người hiện hình ra thì sao? Ngài nói: Giống như chim cắt bắt bồ câu anh không tin, trước sọ khô nghiệm mới biết thật. Đại bàng bắt rồng cũng lẹ như chim cắt bắt bồ câu, anh còn nghi ngờ, muốn biết thì trước sọ khô nghiệm lấy. Tăng nói: Thế ấy thì khoanh tay trước ngực lui ba bước? Như vậy thì coi như xong rồi, thôi trở lui. Ngài cho đó là người hèn nhụt nên nói: Con rùa đen dưới tòa Tu-di, tòa ngài ngồi ví dụ to như núi Tu-di, chớ đợi điểm trán lần thứ hai. Rùa rút đầu núp dưới tòa, sẽ bị chỉ điểm trên trán lần thứ hai, tức là chỉ cái dở cái khuyết thêm lần nữa.

Sư bệnh, Đại Dương đến hỏi:

– Thân này như bọt huyễn, trong bọt huyễn thành tựu. Nếu không có cái bọt huyễn thì đại sự không do đâu mà biện. Nếu cần đại sự xong, biết cái bọt huyễn này làm gì? 

Sư thưa: 

– Vẫn là việc bên này. 

Đại Dương bảo:

– Việc bên kia thế nào? 

Sư thưa: 

– Khắp đất vầng hồng đẹp, đáy biển chẳng trồng hoa.

Đại Dương cười:

– Là ngươi tỉnh tỉnh chăng? 

Sư hét, nói: 

– Tưởng rằng con quên mất? 

Nói xong liền tịch.

Khi ngài bệnh, Đại Dương là thầy tới thăm. Thầy lúc nào cũng muốn nhắc nhở cho đệ tử biết thân này như mộng huyễn, không có gì, đừng quan trọng nó, nên nói: Thân này như bọt huyễn, trong bọt huyễn thành tựu, thành tựu bản tâm trong bọt huyễn thôi. Nếu không có cái bọt huyễn thì đại sự không do đâu mà biện, nhờ cái bọt huyễn này mình tu hành đạt được đại sự. Nếu cần đại sự xong, biết cái bọt huyễn này làm gì? Khi đạt được đại sự rồi, thân bọt huyễn không còn nghĩa lý gì nữa. Ngài nói vậy để an ủi, ông hiểu đạo rồi thì cái chết không nghĩa lý gì.

Ngài thưa: Vẫn là việc bên này. Nói vậy cũng việc bên này, chưa phải là việc cứu cánh. Đại Dương bảo: Việc bên kia thế nào? Ngài đáp rằng: Khắp đất vầng hồng đẹp, tức là khắp cả cõi đất vầng hồng soi sáng, đáy biển chẳng trồng hoa. Đáy biển thì đâu có trồng hoa được. Đại Dương cười khen, nói: Là ngươi tỉnh tỉnh chăng? Ngài hét, nói: Tưởng rằng con quên mất? 

Nói xong liền tịch. Như vậy lẽ ra ngài là người kế thừa Đại Dương, nhưng ngài tịch sớm quá nên Đại Dương không có người kế thừa, phải gửi nhờ ngài Viên Giám.

 

Tông Lâm Tế Đời Thứ Bảy

THIỀN SƯ TỪ MINH SỞ VIÊN ở THẠCH SƯƠNG (986 – 1039) 

Sư họ Lý quê ở Toàn Châu, lúc nhỏ làm thư sinh, đến năm hăm hai tuổi Sư đến chùa Ẩn Tịnh ở núi Tương xin xuất gia. Mẹ Sư có hạnh hiền đức khuyến khích du phương. Sư du phương đến khoảng Tương Miện kết bạn cùng Thủ Chi, Cốc Tuyền đồng vào Lạc Dương. Nghe danh thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương là tri thức bậc nhất trong thiên hạ, Sư quyết chí tìm đến. Khi ấy nhằm lúc triều đình cử đại binh đến hỏi tội Hà Đông, Lộ Trạch, nhiều người khuyên Sư đừng đi. Sư bất chấp một mình vượt sông leo núi đi đến Phần Dương. 

Giai đoạn đi tìm đạo của ngài, tuy gặp hiểm nguy nhưng bất chấp để đi cho đến nơi, đó là một ý chí rất mạnh.

Phần Dương trông thấy Sư liền thầm chấp nhận. Sư ở đây đã hai năm mà chưa được nhập thất (thấy tánh được gọi vào trượng thất dạy riêng). 

Mỗi khi Sư vào thưa hỏi, chỉ bị Phần Dương mắng chửi thậm tệ, hoặc nghe chê bai những vị khác, nếu có dạy bảo toàn dùng lời thế tục thô bỉ. Một hôm Sư trách: 

– Từ ngày đến pháp tịch này đã qua mất hai năm mà chẳng được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm thế tục trần lao, năm tháng qua nhanh việc mình chẳng sáng, mất cái lợi của kẻ xuất gia… 

Sư nói chưa dứt, Phần Dương nhìn thẳng vào Sư mắng: 

– Đây là ác tri thức dám chê trách ta. 

Phần Dương nổi nóng cầm gậy đuổi đánh. Sư toan la cầu cứu, Phần Dương liền bụm miệng Sư. Sư chợt đại ngộ, nói: 

– Mới biết đạo của Lâm Tế vượt ngoài thường tình. 

Sư ở lại đây hầu hạ bảy năm. 

Ngài đến Phần Dương học đạo, vốn là thư sinh ăn nói rất nho nhã. Phần Dương cứ dùng chửi mắng mà trị, có nói câu nào hỏi câu nào đều dùng lời thô tục, chửi mắng. Ngài Phần Dương Thiện Chiêu có những kỳ đặc như thế.

Một hôm ở trong chúng năm trăm người, buổi sáng ngài nói: “Đêm qua tôi mộng thấy ba má rất đói, bữa nay làm giỗ cúng.” Ngài nhờ người đi mua rượu thịt về cúng giỗ. Cúng giỗ trịnh trọng xong, ngài dọn xuống bàn, mời đại chúng hoan hỷ ăn một bữa cho vui. Cả bàn rượu thịt không ai dám dùng, ngài ngồi ăn thịt uống rượu ngon lành. Xong bữa đó, năm trăm người giải tán chỉ còn mười sáu người. Ngài nói, chỉ cần tốn một bữa rượu thịt mà tống hết mấy trăm người đi.

Nếu là chúng ta chắc cũng bỏ đi, phải không? Nghe danh tưởng thầy đức hạnh cao siêu, dè đâu tới đây thấy thầy ăn thịt uống rượu trước đại chúng. Người xưa đã được rồi thì không ngại những việc nhỏ, vì biết nhiều người đến với mình là chỉ nghe tin đồn, không biết chắc thật về mình. Đôi khi không hiểu được chỗ đạt đạo của bậc thầy nên chưa đủ lòng tin. Ngài thử nghiệm, chỉ một bữa ăn mà thấy thầy không đạt đạo, vì còn ăn thịt uống rượu, bèn bỏ đi hết. Như vậy mới biết rằng người ta không phải hiểu ngài mà tới, chính là nghe nói mà tới. Như ngài Từ Minh thì ở lại không đi, vẫn là không đi, nhờ đó sau này thấy được chỗ chân thật.

Lâm Tế bị ăn đòn mấy phen nhưng vẫn nói ngài Hoàng Bá tâm lão bà, đây ngài Từ Minh bị chửi mà ngộ, cái chửi này có phải tâm lão bà không? Cũng là tâm lão bà. Các bậc thiện tri thức dùng những thuật không thể lường được, người ít học hoặc không thấu hiểu thấy như vậy thì hoảng hốt, không biết ra sao. Đó là nói những bậc thượng thủ, hạng xoàng như chúng ta đừng bắt chước, lấy cớ tôi thử chúng, tôi mua rượu thịt nhậu một bữa chơi! Việc đó không được, không đúng rồi.

Sư đến thiền sư Tung ở Đường Minh dừng lại đây. Tung bảo: 

 Nội hàn Dương Đại Niên tri kiến cao minh, vào đạo chân thật, ngươi nên đến ra mắt. 

Sư đến ra mắt Đại Niên. Đại Niên hỏi: 

 Đối diện chẳng biết nhau, muôn dặm lại đồng phong. 

Sư nói: 

 Gần đây vâng lời thỉnh của Sơn môn. 

Đại Niên nói: 

– Thật cái thoát không. 

Sư nói: 

– Tháng trước rời Đường Minh. 

Đại Niên nói: 

– Vừa rồi ăn năn đã hỏi nhau. 

Sư nói: 

 Tác gia. 

Đại Niên bèn hét! Sư nói: 

– Gần phải. 

Đại Niên lại hét! Sư lấy tay vẽ một lằn. 

Đại Niên le lưỡi nói: 

– Thật là long tượng. 

Sư nói: 

– Ấy là lời gì? 

Đại Niên gọi phòng khách: 

– Đem trà lại! Vốn là người trong nhà. 

Sư nói: 

– Cũng chẳng tiêu được. 

Dương Đại Niên là một cư sĩ làm quan đã ngộ lý thiền, nên khi ngài Từ Minh đến thì hai người có tính cách là bạn hơn là đi tham vấn hay thầy trò dạy nhau. Vì là bạn nên mới đến thì Đại Niên nói: Đối diện chẳng biết nhau, muôn dặm lại đồng phong. Đồng phong tức là cùng trong môn đồ, Ngài nói: Gần đây vâng lời thỉnh của Sơn môn. Đại Niên thì xem như bạn bè, ngài liền đề lên, tôi đến là vì sơn môn thỉnh, Đại Niên liền hạ xuống: Thật cái thoát không. Ông nói đó là nói rỗng.

Ngài nói: Tháng trước rời Đường Minh. Đường Minh là bậc thầy nổi tiếng trong thời đó, tức là để đưa mình lên. Đại Niên nói: Vừa rồi ăn năn đã hỏi nhau. Nghĩa là hối hận đã hỏi nhau, lẽ ra không đáng hỏi mà tôi đã hỏi, đó là hạ xuống một đợt nữa. Ngài đưa Đại Niên lên: Tác gia, như vậy ông là bậc tác gia rồi. Đại Niên liền hét, ngài nói gần phải, Đại Niên lại hét một tiếng nữa, ngài lấy tay vẽ một lằn, Đại Niên tới đó mới le lưỡi: Thật là long tượng. Như vậy hai bên đối đáp rồi mới thấy được nhau.

Trà xong, Đại Niên lại hỏi: 

– Thế nào là một câu Thượng tọa vì người? 

Sư đáp: 

– Thiết! 

Đại Niên nói: 

– Như thế thì cô dâu mặc quần dài chạy trong bùn. 

Sư nói: 

– Ai được giống Nội hàn! 

Đại Niên nói: 

 Tác gia! Tác gia! 

Sư nói: 

– Tha ông hai mươi gậy. 

Đại Niên vỗ đầu gối nói: 

 Trong đây còn cái gì? 

Sư vỗ tay nói: 

– Cũng chẳng đặng bỏ qua. 

Đại Niên cười to. 

Lối đối đáp của các ngài như là mượn hình thức để nói chuyện, người thì vỗ đầu gối, người thì vỗ tay đáp lại.

Đại Niên lại hỏi: 

 Nhớ được nhân duyên Đường Minh đương thời ngộ đạo chăng? 

Sư nói: 

– Đường Minh hỏi Thủ Sơn: Thế nào là đại ý Phật pháp? Thủ Sơn đáp: Bên thành vua Sở sông Nhữ chảy về đông. 

Đại Niên hỏi: 

– Nói như thế ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: 

– Trên nước thả lồng đèn. 

Đại Niên nói: 

– Thế ấy là cô phụ người xưa rồi. 

Sư nói: 

– Nội hàn nghi thì tham vấn nơi khác. 

Đại Niên nói: 

– Con ếch ba chân nhảy lên trời. 

Sư nói: 

– Mặc tình nhảy. 

Đại Niên cười to. 

Sư dừng lại nơi khách xá, sớm chiều cùng Đại Niên bàn luận. 

Lối đối đáp qua lại cũng tương tự ở trên, người này đưa lên thì người kia hạ xuống vậy.

Đại Niên vào triều nói với Phò mã đô úy Lý Tuân Úc: 

 Tôi gần được một đạo nhân thật là Sư tử Tây Hà. 

Lý nói: 

– Tôi bận việc không thể đến ra mắt thì sao? 

Đại Niên im lặng. 

Đại Niên trở về thưa với Sư: 

– Lý công là người trong Phật pháp, nghe đạo phong của Thầy từ xa đến có tâm mong gặp, vì bận việc quốc chánh không thể cùng theo tôi đến đây. 

Tảng sáng Sư ra mắt Lý công. Lý công sai đứa bé ra thưa: 

– Nói được thì cùng Thượng tọa thấy nhau. 

Sư bảo: 

– Ngày nay đặc biệt đến xem nhau. 

Đứa bé vào, Lý Công bảo ra nói: 

– Văn bia khắc chữ trắng, giữa đường trồng tùng xanh. 

Sư đáp: 

– Chẳng bởi tiết ngày nay, hôm khác định khó gặp. 

Đứa bé vào thưa lại, trở ra bạch: 

– Đô úy nói: Thế ấy cùng Thượng tọa thấy nhau rồi. 

Lý công ra tiếp Sư, mời ngồi xong, Lý công hỏi: 

– Tôi nghe ở Tây Hà có con sư tử lông vàng phải chăng? 

Sư đáp: 

– Ở chỗ nào được tin tức ấy?

Lý Công liền hét! Sư bảo: 

– Tiếng dã can. 

Lý công lại hét. Sư nói: 

– Vừa phải. 

Lý công cười to. 

Sư tạm biệt, Lý công hỏi: 

– Thế nào là một câu Thượng tọa sắp đi? 

Sư nói: 

– Khéo sắp dứt. 

Lý công nói: 

– Đâu khác các nơi. 

Sư hỏi: 

– Đô úy lại làm sao? 

Lý công nói: 

– Tha Thượng tọa hai mươi gậy. 

Sư nói: 

– Toàn là lưu thông. 

Lý công hét! Sư nói: 

– Mù! 

Lý công nói: 

– Đi vui vẻ. 

Sư ứng: 

– Dạ! Dạ! 

Từ đây, Sư qua lại nhà họ Dương họ Lý kết làm bạn pháp. 

Qua những câu đối đáp đó, chúng ta thấy điểm đặc biệt, bên đây hạ xuống thì bên kia đứng lên, bên kia đứng lên bên đây hạ xuống, cứ như vậy mà đổi thay, hai bên thông cảm nhau.

Lúc Sư còn ở Phần Dương, nghe Phần Dương nói: “Ta tham vấn khắp hết con cháu Vân Môn, còn hận chưa được yết kiến thiền sư Hiểu Thông.” Sư tìm đến Động Sơn chỗ thiền sư Hiểu Thông ở lại ba năm làm Thủ chúng. 

Sư đến Ngưỡng Sơn, Dương Đại Niên gửi thư cho thái thú Nghi Xuân là Huỳnh Tông Đán thỉnh Sư trụ trì giáo hóa. Thái thú thỉnh Sư trụ tại chùa Nam Nguyên. 

Sau khi trụ, Sư thượng đường dạy chúng: 

– Tất cả chư Phật và pháp A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề của chư Phật đều từ kinh này ra. 

Sư dựng đứng cây gậy, nói: 

– Cái này là cây gậy của Nam Nguyên, cái gì là kinh? 

Sư im lặng giây lâu, nói: 

– Văn kinh về sau, trao lại ngày khác. 

Sư hét một tiếng bước xuống tòa. 

Cái gì là kinh? Đưa cây gậy lên nói, cái này là cây gậy, cái gì là kinh? Các ngài khéo léo, trong khi nói vòng vo tam quốc, nếu người nào sáng thì thấy, không sáng thì không thấy.

Tăng hỏi: 

 Thế nào là Phật? 

Sư đáp: 

– Nước chảy ở cao nguyên. 

– Thế nào là cảnh Nam Nguyên? 

– Sông Hoàng Hà chín khúc xuất phát từ Côn Lôn. 

 Thế nào là người trong cảnh? 

– Theo dòng người chẳng đoái, vung tay trông Phù Tang (Nhật Bản). 

Những câu đáp này đều không cho người suy nghĩ.

Sư trụ trì Nam Nguyên ba năm, giao chùa đi du phương. Đến yết kiến thiền sư Nhân ở Thần Đảnh. Thần Đảnh là cao đệ của Thủ Sơn Niệm. Các thiền sinh ít ai dám lên núi này, vì đạo phong cao vút của ngài. Ngài ở núi ba mươi năm, môn đệ đều ăn đứt hết các nơi. 

Sư để tóc dài chẳng cạo, mặc y rách nói tiếng Sở, xin vào yết kiến xưng là cháu trong Phật pháp. Toàn chúng trông thấy Sư đều cười vang, Thần Đảnh sai đồng tử ra hỏi: 

– Trưởng lão nối pháp ai? 

Sư ngước nhìn lên nói: 

– Chính thấy Phần Dương đến. 

Thần Đảnh ra xem thấy ái ngại hỏi: 

– Phần Dương có sư tử Tây Hà phải chăng? 

Sư chỉ lại sau kêu to: 

– Thất ngã! 

Đồng tử chạy hoảng. Thần Đảnh xoay đầu ngó lại ngơ ngác. Sư ngồi xuống đất cởi chiếc dép xem. Thần Đảnh quên lời hỏi, cũng không nhớ Sư đang ở đó. Sư từ từ đứng dậy sửa y phục ra đi, nói: 

– Thấy mặt chẳng bằng nghe danh. 

Thần Đảnh sai người theo tìm mà chẳng gặp, bèn than: 

– Phần Dương lại có đứa con này sao? 

Câu chuyện của ngài giống câu chuyện trong A-hàm. Một hôm đức Phật thuyết pháp ở dưới tháp Đa Hòa, ngài Ca-diếp mặc y rách, tóc dài râu dài đi tới. Toàn chúng nhìn thấy cười xem thường, đức Phật biết tâm của đại chúng, bèn bảo: Ca-diếp lên đây ta chia nửa tòa cho ông ngồi. Đại chúng đều hoảng hốt.

Như ngài đến chỗ Thần Đảnh mà đại chúng cười, ngài Thần Đảnh thấy chúng cười, không biết ông tăng này ra sao nên ngài có vẻ ái ngại, chưa có cái nhìn thấu suốt. Khi ngài Từ Minh kêu to “thất ngã”, thị giả hoảng hốt chạy, ông thầy cũng ngơ ngác ngó lại xem. Lúc đó ngài Từ Minh thong thả đứng dậy đi. Dò xét để thấy thầy trò bị gạt, mất bình tĩnh, nên ngài nói thấy mặt chẳng bằng nghe danh.

Sa-môn Bổn Diên cùng Quận thú thỉnh Sư trụ trì Đạo Ngô. 

Sư thượng đường: 

– Bảo Ứng nói: “Câu thứ nhất tiến được kham cùng Phật tổ làm thầy, câu thứ hai tiến được kham cùng người trời làm thầy, câu thứ ba tiến được tự cứu chẳng xong.” Đạo Ngô thì chẳng thế, câu thứ nhất tiến được hòa bùn hợp nước, câu thứ hai tiến được không dây tự trói, câu thứ ba tiến được bốn góc dính đất. Do đó nói, ra đi thì sông trong biển lặng, bộ hành tránh đường, đứng lại thì càn khôn thất sắc, mặt trời mặt trăng không sáng. Các ông nhằm chỗ nào hả hơi? Hiện nay có người nào hả hơi chăng? Nếu có, bước ra đối chúng hả hơi xem? Nếu không, Đạo Ngô sẽ vì các ông hả hơi. 

Sư bèn “hư” một tiếng, cầm gậy bước xuống tòa. 

Đoạn này mới nghe chúng ta thấy có vẻ mâu thuẫn. Ngài Bảo Ứng là bậc thượng túc ở trong tông Lâm Tế, ngài Từ Minh là hàng con cháu, đối với câu nói của ngài Bảo Ứng: Câu thứ nhất tiến được thì kham cùng Phật tổ làm thầy, câu thứ hai tiến được thì kham cùng trời người làm thầy. Ngài lại nói: Câu thứ nhất tiến được thì hòa bùn hợp nước, câu thứ hai tiến được thì không dây tự trói. Như vậy là chê hay khen, hàng con cháu sao dám chê bậc thầy? Đây là chỗ phá chấp, như Mã Tổ lúc trước dạy “tức tâm tức Phật”, nhưng khi thấy người học bám vào đó, rồi đọc theo như câu châm ngôn thì ngài lại nói “phi tâm phi Phật”. Như vậy, vì phá chấp của người mà nói khác đi, không phải có ý chống đối. Khi nói đến chỗ cứu cánh thì tất cả đều không thể so sánh, còn có gì để nói năng? Nếu đại chúng không ai nói thì ngài thay đại chúng nói. “Hư” một tiếng, xuống tòa.

Sư thượng đường: 

– Đạo Ngô đánh trống, bốn đại bộ châu đồng tham. Cây gậy nằm ngang, khêu động cả càn khôn đại địa. Úp bát xuống, che đậy hằng sa thế giới. Thử hỏi, các ông nhằm chỗ nào an thân lập mạng. Nếu là biết được nhằm Bắc Câu-lô châu ăn cơm ăn cháo. Nếu là chẳng biết thì trên giường thiền ăn cơm ăn cháo. 

Ngài dùng những hình ảnh để cho chúng ta thấy: Cây gậy nằm ngang, khêu động cả càn khôn đại địa, còn úp bát xuống, che đậy hằng sa thế giới, như vậy các ông ở chỗ nào đây? Úp cái bát thì trùm hết cả hằng sa thế giới, lúc đó các ông ở đâu? Nếu ai biết được thì ở Bắc Câu-lô châu ăn cơm ăn cháo, nếu không biết thì trên giường thiền ăn cơm ăn cháo.

Sau, Sư trụ ở Thạch Sương. Nhân ngày giải hạ, Sư dạy chúng: 

Hôm qua làm trẻ con

Ngày nay tuổi đã già 

Chưa rõ ba tám chín 

Khó đạp đường cổ hoàng. 

Tay quét Hoàng Hà khô

Chân đạp Tu-di ngã 

Phù sinh thân mộng huyễn 

Mạng người đêm khó giữ.

Thiên đường cùng địa ngục 

Thảy đều do tâm tạo 

Núi nam tùng ngọn bắc 

Ngọn bắc cỏ núi nam. 

Một giọt thấm vô biên 

Gốc mầm thêm khô kháo 

Người tham học Ngũ hồ

Chỉ tìm hỏi hư không.

Chết cởi áo ngày hạ 

Sanh mặc áo mùa đông 

Rõ ràng người vô sự 

Hốt nhiên sanh phiền não. 

Sư hét một tiếng, bước xuống tòa. 

Ngài nói một bài kệ dài, đôi câu có ý nghĩa, đôi câu vô ý vô nghĩa. Như Hôm qua làm trẻ con, ngày nay tuổi đã già hai câu này dễ hiểu. Chưa biết ba tám chínkhó đạp đường cổ hoàng thì thôi chịu. Phù sinh thân mộng huyễn, mạng người đêm khó giữ, mạng người ngày nay còn, qua đêm chưa chắc đã còn.

Thiên đường cùng địa ngục, thảy đều do tâm tạo, cũng dễ hiểu. Nhưng nói: Núi nam tùng ngọn bắc, ngọn bắc cỏ núi nam, dễ hiểu hay khó? Một giọt thấm vô biên, gốc mầm thêm khô kháo, đã một giọt nước thấm vô biên, tại sao mầm gốc lại khô? Dường như nói ngược. Người tham học Ngũ hồ, chỉ tìm hỏi hư không. Tham học khắp cả Ngũ hồ tứ hải mà hỏi hư không, thảo luận với hư không.

Câu này thường nghe nhắc: Chết cởi áo ngày hạ, sanh mặc áo mùa đông, có chỗ khác nói gọn hơn, chết như cởi áo hạ, sanh như đắp chăn đông. Rõ ràng người vô sự, tại sao hốt nhiên sanh phiền não? Ngài nói đảo ngược lại. Hét một tiếng, bước xuống tòa.

Sư thượng đường: 

– Một hét phân chủ khách, chiếu dụng đồng thời hành, cần hội ý trong ấy, giữa trưa là canh ba. 

Sư hét một tiếng, nói: 

– Hãy nói là khách là chủ? Lại có người phân rành được chăng? Nếu có người phân rành được thì sáng cho ba ngàn, chiều cho tám trăm. Nếu chưa có người phân rành được thì lão tăng mất lợi. 

Tăng hỏi: 

– Tổ Đạt-ma khi chưa đến thì thế nào? 

Sư đáp: 

– Trường An đêm đêm nhà nhà trăng. 

– Sau khi đến thì thế nào? 

– Bao chỗ nhịp ca bao chỗ buồn.

Hỏi: Tổ Đạt-ma khi chưa đến thì thế nào? Ngài nói: Trường An đêm đêm nhà nhà trăng. Như chúng ta nói, thành phố đêm đêm nhà nhà trăng. Dù Tổ chưa đến nhưng nơi mọi người đã sẵn đủ, như đêm trăng thì nhà nào cũng sáng. Hỏi: Sau khi đến thì thế nào? Đáp: Bao chỗ nhịp ca bao chỗ buồn. Nếu khi nghe người nhịp ca những bài có tính cách bi ai thì chúng ta có buồn không? Người nhịp ca và người buồn hai bên thông cảm nhau? Thì đó, không phải Tổ đem đến cho chúng ta việc gì khác, nhưng ngài xướng lên thì chúng ta cảm thông được, là chỗ truyền nhau.

Sư thượng đường: 

– Ta có một lời, bặt nghĩ quên duyên, khéo nói chẳng được, chỉ cốt tâm truyền. Nếu có lời nào chẳng bằng nêu thẳng. Thế nào là một câu nêu thẳng? 

Sư lặng thinh giây lâu, cầm gậy vẽ một đường, hét một tiếng. 

Câu nêu thẳng là vẽ một đường, ngay đó thấy được thì thấy.

Sư thượng đường: 

– Thuốc nhiều bệnh lắm, lưới dày cá đặc.

Liền bước xuống tòa. 

Sư dạy chúng, lấy gậy gõ giường thiền một tiếng, hỏi: 

– Đại chúng hội chăng? Đâu chẳng nghe nói: 

Tiếng gõ quên sở tri 

Lại chẳng nhờ tu trì 

Các nơi người đạt đạo 

Đều gọi thượng thượng cơ. 

(Nhất kích vong sở tri 

Cánh bất giả tu trì 

Chư phương đạt đạo giả 

Hàm ngôn thượng thượng kỵ.) 

Hương Nghiêm ngộ như thế là rõ ràng ngộ Như Lai thiền, Tổ sư thiền còn chưa mộng thấy được. Hãy nói Tổ sư thiền có cái gì đặc biệt? Nếu nhằm trong lời nói mà nhận thì lừa bịp người sau. Dù cho dưới gậy lãnh lấy vẫn còn cô phụ thánh trước. Muôn pháp vốn yên lặng chỉ tự người ồn náo. Do đó, sơn tăng ở Phước Nghiêm chỉ thấy cảnh giới Phước Nghiêm, sáng dậy muộn, tối ngủ sớm. Có khi mây nổi trên ngọn xanh, có khi trăng lặn dưới đầm lạnh; tiếng chim kêu hót ở trước đài Bát-nhã, hương hoa sa-la tỏa ngát bên sườn núi Chúc Dung. Cầm gậy tre ngồi trên bàn thạch, cùng thiền sinh Ngũ hồ nói lời huyền vi. 

Đầu tro mặt đất đến trụ Hưng Hóa, chỉ thấy gia phong Hưng Hóa, đón đến đưa đi, cửa liền với thành thị xe ngựa rộn ràng, ngư hát Tiêu Tương, vượn ca Nhạc Lộc, tiếng đờn ca ngâm vịnh luôn luôn vào tai. Lại cùng bậc cao nhân trong tứ hải mỗi ngày bàn thiền đạo, năm tháng quên mất. 

Hãy nói ở núi sâu, trụ đô thành, lại có ưu liệt hay không? Thử nói xem. 

Sư im lặng giây lâu, nói: 

– Chỗ chỗ đều Từ Thị, cửa cửa thảy Thiện Tài. 

Lấy gậy gõ một cái hỏi: Hội chăng? Nếu mình khéo thì thấy, không khéo ngài nói thêm.

Ngài nói, thiền sư Hương Nghiêm khi làm bài kệ nhất kích uong sở tri, là ngộ Như Lai thiền chứ chưa phải Tổ sư thiền. Chúng ta đừng mắc kẹt trên lời nói của các ngài. Sở dĩ ngài Ngưỡng Sơn nói Như Lai thiền không phải Tổ sư thiền, vì ngài nghi rằng ngài Hương Nghiêm chưa thấu triệt được Tổ sư thiền mà chỉ do học hiểu làm ra. Thật ra nghe một tiếng mà ngộ được thì đâu không phải Tổ sư thiền? Đoạn trên ngài muốn dùng cửa Quan Âm nói về tánh nghe. Cầm gậy vẽ một đường, hét một tiếng, đó là dùng cửa Văn-thù. Nếu chúng ta không khéo thấy thì ngài tìm cách nói cho qua.

Ngài nói về hai nơi ở của mình. Khi ở chùa Phước Nghiêm trên núi, khi ở chùa Hưng Hóa bên thành thị. Ở Phước Nghiêm thì sống với cảnh Phước Nghiêm thanh tịnh vắng vẻ tiếp tăng Ngũ hồ. Ở Hưng Hóa thì thành phố chợ búa, tiếng ca tiếng hát ồn tai để tiếp những bậc cao nhân tứ hải. Hai nơi đó chỗ nào ưu chỗ nào liệt? Cảnh vắng là ưu hay chỗ thành thị là ưu? Nếu người đạt đạo thì nơi nào cũng là đạo, chưa đạt đạo mà gần chỗ ồn thì tâm dính với ồn, xa chỗ ồn tâm mới tạm ổn. Đối với ngài thì hai nơi đều không khác, vì vậy nói: Chỗ chỗ đều Từ Thị, cửa cửa thảy Thiện Tài.

Năm Mậu Dần niên hiệu Bảo Nguyên (1038) Lý đô úy sai sứ đến thỉnh Sư, thư viết: Bạn pháp trong nước chỉ có Thầy cùng Dương Đại Niên. Đại Niên đã bỏ tôi đi trước, năm nay tôi thấy già suy đến gấp, cái chết chực sẵn, mong được cùng Thầy hội kiến lần chót. 

Sư xót thương cùng thị giả xuống thuyền đến kinh đô. Thuyền đi trên sông, Sư làm kệ: 

Trường giang hành bất tận 

Để lý đáo hà thì 

Ký đắc lương phong tiện 

Hưu tương lỗ trạo thi. 

Dịch: 

Sông dài đi chẳng tột 

Đế đô đến bao giờ? 

Đã gặp gió lành tốt 

Thôi thì gác chèo chơi. 

Đến kinh đô, Sư cùng Lý đô úy hội kiến, luận bàn đạo lý. Hơn tháng sau, quả nhiên Đô úy sắp tịch. Giờ phút chót, Đô úy vẽ hình tròn, và làm bài thơ tặng Sư: 

Thế giới vô y

Sơn hà phỉ ngại

Đại hải vị trần

Tu-di nạp giới. 

Niêm khởi phốc đầu 

Giải hạ yêu đời 

Nhược mịch tử sanh 

Vấn thủ bì đại. 

Dịch:

Thế giới không nương 

Núi sông chẳng ngại

Đại hải vị trần 

Tu-di hạt cải.

Gỡ phắt chiếc khăn 

Cởi bỏ thắt lưng 

Nếu tìm sanh tử 

Hỏi lấy đãy da. 

Sự hỏi: 

– Thế nào là Phật tánh xưa nay? 

Lý đáp: 

– Ngày nay nóng như ngày hôm qua. 

Liền đó, Lý hỏi lại Sư: 

– Một câu sắp đi thế nào? 

Sư đáp: 

 Xưa nay không ngăn ngại, tùy chỗ mặc vuông tròn. 

Lý nói: 

– Chiều đến mỏi mệt không đáp thoại. 

Sư bảo: 

– Chỗ không Phật làm Phật. 

Lý công vui vẻ thị tịch. 

Thế giới không nương 

Núi sông chẳng ngại 

Đại hải vị trần 

Tu-di hạt cải.

Lý đô úy là cư sĩ đang làm quan, khi sắp chết nói rất tự tại. Bốn câu trên diễn tả tính cách vô ngại. Bốn câu dưới: Gỡ phắt chiếc khăn. Cái khăn mà ngài Thủ Sơ đã nói: Khăn thịt mỡ. Cởi bỏ thắt lưng, tức là thắt lưng xương thối. Nếu tìm sanh tử, hỏi lấy đẩy da, là đãy da hôi thối này. Đãy da này hoặc còn hoặc mất, còn một thứ không tử sanh. Một ông cư sĩ mà thấy được như vậy, chúng ta thấy được không?

Một câu sắp đi thế nào? Xưa nay không ngăn ngại, tùy chỗ mặc vuông tròn. Chỗ sắp đi như vậy, tùy duyên không ngăn ngại.

Chiều đến mỏi mệt không đáp thoại. Nói chiều đến cũng là nói sắp lâm chung.

Sư bảo: Chỗ không Phật làm Phật. Lý công vui vẻ thị tịch. Như vậy, dù là cư sĩ mà ngộ đạo lý thâm sâu thì sanh tử tự tại.

Sư trở về, vua Tống Nhân Tông cho thuyền đưa Sư. Đi giữa đường, Sư bảo thị giả: 

 Ta vừa bị trúng gió. 

Nhìn thấy Sư miệng bị phong giật méo qua một bên, thị giả giậm chân xuống thuyền nói: 

– Biết làm sao! Lúc bình thường quở Phật mắng Tổ, hôm nay lại thế ấy? 

Sư bảo: 

– Đừng lo, ta sẽ vì ngươi sửa ngay lại. 

Sư lấy tay sửa lại, miệng ngay như cũ, nói: 

– Từ nay về sau chẳng phiền đến ngươi. 

Ngài tự tại vô cùng, bị phong giật méo miệng mà vẫn như trò chơi. Thị giả cũng rất ngon lành, giậm chân xuống thuyền nói Tại sao lúc bình thường quở Phật mắng Tổ, hôm nay lại thế ấy? Tức là hôm nay không tự do. Ngài nói: Đừng lo, ta sẽ vì ngươi sửa ngay lại, rồi lấy tay sửa ngay như cũ. Đối với sự sống chết hay trong lúc bệnh các ngài cũng tự chủ. Người xưa đạt đạo rồi thì sống thật với đạo, chứ không phải chỉ nói lý thuyết suông.

Năm sau (1039) Sư đến Hưng Hóa. Ngày mùng năm tháng giêng, Sư tắm gội xong, ngồi kiết già từ biệt chúng rồi tịch. Sư thọ 54 tuổi, được 32 tuổi hạ. 

THIỀN SƯ QUẢNG CHIẾU HUỆ GIÁC ở núi LANG DA 

Sư người quê Tây Lạc, cha làm thái thú Hoành Dương mắc bệnh không bao lâu liền chết. Sư phò linh cữu trở về Tây Lạc, đến Lễ Dương tại ngôi chùa Dược Sơn, Sư nhớ như đã ở ngày xưa. Do đó, sau khi mai táng cha xong, Sư xuất gia. 

Sư đi du phương tham vấn, đến Phần Dương được truyền tâm ấn, hợp duyên nơi Trừ Thủy. Sư giáo hóa đồng thời với Tuyết Đậu Minh Giác, bốn phương đều gọi là hai cửa Cam lồ.

Duyên của ngài đi tu rất đặc biệt, thấy ngôi chùa cổ nhớ như xưa đã từng ở rồi phát tâm xuất gia.

Sư thượng đường: 

– Lạ thay! Mười phương chư Phật nguyên là hoa trong con mắt. Muốn biết hoa trong con mắt, nguyên là mười phương chư Phật. Muốn biết mười phương chư Phật, chẳng phải là hoa trong con mắt. Muốn biết hoa trong con mắt, chẳng phải mười phương chư Phật. Nơi đây rõ được, lỗi tại mười phương chư Phật. Nơi đây chưa rõ thì Thanh văn đứng múa, Độc giác hóa trang. Trân trọng. 

Câu nào đúng? Nếu đoạn trước đúng thì đoạn sau sai, nếu đoạn trước sai thì đoạn sau đúng, như thế là sao? Nếu chúng ta mê không nhận ra nơi mình có Phật thì chỉ biết mười phương chư Phật là Phật ngoài mình, tâm niệm đó chỉ như hoa đốm trong con mắt. Nếu chúng ta nhận được nơi mình có Phật, thì mười phương chư Phật chẳng còn là hoa đốm trong con mắt, hoa đốm trong con mắt không phải là mười phương chư Phật.

Nói cách khác, nếu chúng ta mê tìm Phật ở ngoài thì Phật ở ngoài là hoa đốm trong con mắt, nếu chúng ta ngộ thấy nơi mình có Phật thì mười phương chư Phật không khác với mình, lúc đó không còn là hoa đốm trong con mắt. Nơi đây rõ được, lỗi tại mười phương chư Phật, nghĩa là thấy mười phương chư Phật có thật ở ngoài mình. Nơi đây chưa rõ thì sao? Thanh văn đứng múa, Độc giác hóa trang. Nghĩa là kẹt ở quả vị tu chứng, từ Tu-đà-hoàn cho đến Tư-đà-hàm, A-la-hán hoặc Độc giác hoặc Duyên giác.

Tăng hỏi: 

– Thế nào là khách trong khách? 

Sư đáp: 

– Tay ôm sách, kiếm, yết kiến minh quân. 

 Thế nào là chủ trong khách? 

– Cuốn rèm rồi mà không thể thấy. 

– Thế nào là khách trong chủ? 

– Canh ba qua Mạnh Tân. 

– Thế nào là chủ trong chủ? 

– Ngồi riêng trấn đất trời. 

Bốn câu này là câu khách chủ của tông Lâm Tế. Khách là người đến hỏi, chủ là người chủ đáp lại. Nếu người đến hỏi sai thì gọi là khách trong khách, nếu người đến hỏi đúng thì gọi là khách trong chủ.

Câu đầu thế nào là khách trong khách, tức là người khách chưa hiểu thấu. Ngài đáp Tay ôm sách, kiếm, yết kiến minh quân, đã yết kiến minh quân mà còn tay ôm sách kiếm, là chưa đúng lễ, là không hiểu.

Câu thứ hai thế nào là chủ trong khách? Ngài đáp Cuốn rèm rồi mà không thể thấy, cuốn rèm là trống, trước mắt không còn bị chướng ngại nhưng chưa thấy tột được.

Câu thứ ba thế nào là khách trong chủ? Ngài đáp Canh ba qua Mạnh Tân. Mạnh Tân là tên bến đò, chỗ Chu Vũ Vương hội binh chư hầu phạt Trụ.

Câu thứ tư thế nào là chủ trong chủ? Người chủ mà lại là chủ tức là trọn vẹn đúng, nên ngài đáp ngồi riêng trấn đất trời. Đến đây thì không còn diệu dụng nào hơn nữa được.

Sư thượng đường: 

– Thấy nghe hiểu biết đều là nhân sanh tử. Thấy nghe hiểu biết chính là gốc giải thoát. Ví như sư tử nhào lộn không nhất định đứng ở nam bắc đông tây. Cả thảy các ngươi nếu là chẳng hội, không được cô phụ ông già Thích-ca.

Cũng là thấy nghe hiểu biết, tại sao một bên là nhân sanh tử, một bên là gốc giải thoát? Cũng là sáu căn mắt tại mũi lưỡi thân ý, nếu nơi đó chúng ta mê muội thì nó biến thành lục tặc, là nhân sanh tử. Ngược lại nếu nơi sáu căn thấy nghe hiểu biết của mình mà thông suốt không chấp không kẹt thì đó là gốc giải thoát, sáu căn biến thành lục thông. Cũng sáu căn đó mà mê thì lục tặc, giác là lục thông, không tìm kiếm đâu xa.

Làm sao chứng minh? Như khi chúng ta nghe người nói một tiếng nặng chạm tự ái của mình, nếu nghe như vậy mà không dính mắc, đó là gốc giải thoát. Còn nghe như vậy mà nổi sân si, đó là gốc sanh tử. Cũng lỗ tai này, cũng lời nói đó mà mê hay giác, không cần tìm giải thoát ở ngoài sáu căn. Tu không phải chuyện xa lạ, không phải việc cầu kỳ, chính ngay nơi sáu căn khéo chuyển thì từ mê trở thành giác, sáu căn là gốc lục thông. Nếu cứ giữ mê lầm thì sáu căn là lục tặc, phá hết của báu trong nhà, lôi đi luân hồi sanh tử.

Ngài dùng ví dụ như con sư tử nhào lộn chúng ta chưa thấy, nhưng như người múa lân khi đang múa đang nhào lộn thì có nhất định đâu là đầu, đâu là đuôi, đâu là đông, đâu là tây không? Trong khi nhào lộn có khi lấy đầu làm đuôi, lấy đuôi làm đầu, mới đứng bên đông lại xoay qua tây, mới tây xoay qua nam bắc, bất định. Cũng một con lân đó nhưng không cố định đâu là đầu đâu là đuôi, đâu là đông tây nam bắc. Cũng vậy, ngay nơi sáu căn chính nó không cố định là sanh tử cũng không cố định là giải thoát. Chỉ khéo chuyển thì sáu căn trở thành giác là giải thoát, không khéo chuyển để mê là sanh tử, không có cái thứ hai ở ngoài đem đến cho mình.

Ngài nói cả thảy các ngươi nếu là chẳng hội, không được cô phụ ông già Thích-ca. Không được cô phụ đức Phật Thích-ca và cả mười phương chư Phật nữa.

Sư thượng đường: 

– Vỗ nước cá đau đầu, băng rừng chim đậu sợ, hoàng hôn không đánh trống, giữa trưa là canh ba. Chư thiền đức! Đã là giữa trưa vì sao lại là canh ba? 

Sư im lặng giây lâu, nói: 

– Hôm qua thấy liễu rủ xanh, ngày nay gặp lá rơi vàng. 

Câu nói hay hành động của các thiền sư không đến được lẽ thật, không đến được chân lý, nhưng nhờ đó chúng ta khéo thấy được chân lý, thấy được lẽ thật. Như khi chúng ta vỗ mặt nước đùng đùng, vỗ như vậy có đụng cá không? Không trúng mà cá nghe dội nó đau đầu. Cá đau đầu không phải chúng ta đập trúng cá mà đập vào nước, cũng vậy các ngài nói bên đông mà người ta ngộ bên tây, nhân lời nói bên này mà mình ngộ được bên kia. Như đi qua rừng, chim nghe động liền hoảng sợ bay đi. Để biết rằng không phải các ngài chỉ thẳng điều đó được, nhưng nói ở đây chúng ta có duyên liền thấy ở kia. Đó là chỗ khéo của nhà thiền.

Sư thượng đường: 

Tiến tới trước thì tử, lùi lại sau là vong, chẳng tiến chẳng lùi lại rơi vào làng vô sự. Cớ sao? Trường An tuy vui không phải là chỗ ở lâu. 

Tiến tới trước thì tử, lùi lại sau là vong. Không cho tiến tới, không cho lùi lại, tức là không cho kẹt hai bên. Không kẹt hai bên, ở giữa thì rơi vào làng vô sự. Không kẹt bên này không dính bên kia, tâm yên lặng như hư không, gọi đó là làng vô sự.

Cớ sao? Trường An tuy vui không phải là chỗ lâu. Dễ hiểu hơn, có thể nói thành phố tuy vui mà không phải là chỗ ở lâu. Câu nói của ngài Duyên Quán, nếu ở ngay nơi chỗ vô sanh thì nước chết không chứa được rồng. Vì vậy mắc kẹt bên này hoặc mắc kẹt bên kia đều không được, giữ chỗ yên lặng cũng không được, phải nhận ra chỗ chân thật mới đúng. Nếu ngang đó mà tự mãn hài lòng thì vẫn chưa xong, nên nói tuy Trường An là vui nhưng chưa phải chỗ trụ, vì “nước chết không chứa được rồng”.

 

Tông Vân Môn Đời Thứ Tư

THIỀN SƯ NGHĨA HOÀI THIÊN Y (989 – 1060) 

Sư họ Trần quê ở Lạc Thanh, Vĩnh Gia, ông cha chuyên nghề chài lưới. Mẹ nằm mộng thấy ngôi sao rơi trong nhà liền có thai Sư. Khi Sư sanh ra có nhiều điềm kỳ lạ. Thuở bé theo cha đánh cá, Sư ngồi sau lái thuyền, cha được con cá nào trao cho Sư xỏ mang cột lại, Sư không nỡ làm thế, lén cha thả hết, cha nổi giận đánh Sư, Sư vẫn an nhiên chịu đòn. 

Lớn lên, Sư đến kinh đô tại chùa Cảnh Đức xuất gia làm đạo, khoảng niên hiệu Thiên Thánh (1023-1032) được thọ giới làm Tăng. 

Các ngài có duyên đời trước sâu đậm nên đời này dễ phát tâm tu hành. Như mẹ ngài nằm mộng thấy ngôi sao rơi trong nhà liền có thai, đó là điềm rất tốt, nhưng tại sao lại sanh trong nhà chài lưới? Sanh trong nhà chài lưới thì ít phước duyên. Đó là những điều khó lường được.

Chúng ta thấy có một điều đáng học nơi ngài. Cha chài được con cá nào thì đưa ra sau cột mang, người đi chài có cột hai cái cây ở bên thuyền, khi được cá thì cột vào đó rồi bơi đi, cá lội theo không chết, về bán được tiền. Được một con cá lớn là mừng lắm, đưa ra sau bao nhiêu ngài lén thả hết. Cha nổi giận đánh, ngài vẫn an nhẫn không cãi lại.

Dù hành động đó là phải với mình nhưng không phải với cha mình, ông kiếm từng con cá mà mình thả thì bị đánh là đáng lắm, dám thả thì dám chịu đòn không cãi. Chúng ta cũng phải ráng học theo gương đó. Đôi khi việc làm của mình là phải, nhưng không đúng với người khác, người đó không bằng lòng, tức giận la rầy thì phải can đảm chịu.

Một hôm, đang đi trong chợ có vị tăng lạ là Ngôn Pháp Hoa vỗ vai Sư nói: “Vân Môn Lâm Tế.” Sư bèn đi đến Kim Loan yết kiến thiền sư Thiện không khế ngộ, lại đến Diệp Huyện yết kiến thiền sư Tỉnh cũng không khế ngộ. Sư lại sang phương đông đến yết kiến thiền sư Minh Giác nơi Thúy Phong. 

Minh Giác hỏi: 

– Ngươi tên gì? 

Sư thưa: 

– Tên Nghĩa Hoài. 

Minh Giác bảo: 

 Sao chẳng đặt Hoài Nghĩa? 

Sư thưa: 

– Đương thời đến được. 

Minh Giác hỏi: 

– Ai vì ngươi đặt tên? 

Sư thưa: 

 Thọ giới đến giờ đã mười năm. 

Minh Giác hỏi: 

– Ngươi đi hành khước đã rách bao nhiêu đôi giày? 

Sư thưa: 

– Hòa thượng chớ lừa người. 

Minh Giác hỏi: 

 Ta không xét tội lỗi, ngươi cũng không xét tội lỗi, ấy là sao? 

Sư không đáp được. Minh Giác đánh, bảo: 

 Kẻ rỗng nói suông, đi đi! 

Ngài Minh Giác tức là Tuyết Đậu Minh Giác hỏi: Ngươi tên gì? Ngài nói: Tên Nghĩa Hoài. Ngài Minh Giác bảo: Sao chẳng đặt Hoài Nghĩa? Tức là ngược lại. Câu nói đó có ý nghĩa gì không? Bởi vì chúng ta quen theo chiều thuận, ngôn ngữ chữ nghĩa luôn luôn có một chiều. Người tu nhất là tu thiền phải phản quan nhìn ngược lại, nên ngài Minh Giác hỏi sao không đặt là Hoài Nghĩa? Đó là lối nói bảo phải nhìn ngược lại, ngay đó ngài hiểu nên nói: Đương thời đến được, tôi đến được chỗ đó rồi, không cần xoay nhìn lại.

Ngài Minh Giác liền chuyển qua cái khác: Ai vì ngươi đặt tên? Khi chúng ta xuất gia thọ giới thì được Thầy cho pháp danh hoặc pháp hiệu. Đây ngài nói: Thọ giới đến giờ đã mười năm, tức là người cho thọ giới đặt tên.

Minh Giác hỏi: Ngươi đi hành khước đã rách bao nhiều đôi giày? Hỏi bao nhiêu đôi giày, trả lời nhiều ít là mắc kẹt, nên ngài nói: Hòa thượng chớ lừa người, ý nói tôi không bị lừa. Ngài Minh Giác hỏi: Ta không xét tội lỗi, ngươi cũng không xét tội lỗi, ấy là sao? Chỗ này ngài bí, nên Minh Giác liền đánh nói: Kẻ rỗng nói suông, tức là những câu nói trước dường như đúng nhưng toàn là học lóm, nói suông chưa phải thật. Ngang đó ngài chịu thua.

Sư vào thất, Minh Giác bảo: 

– Như thế chẳng được, chẳng như thế cũng chẳng được, như thế chẳng như thế thảy chẳng được. 

Sư suy nghĩ, Minh Giác lại đánh đuổi ra. Như thế đến bốn lần. 

Sư làm trưởng ban vận thủy, một hôm nhân gánh nước, đòn gánh gãy rơi cặp thùng, Sư đại ngộ, làm bài kệ hợp cơ: 

Nhất nhị tam tử ngũ lục thất 

Vạn nhẫn phong đầu độc túc lập 

Ly long hàm hạ đoạt minh châu

Nhất ngôn khám phá Duy-ma-cật. 

Dịch: 

Một hai ba bốn năm sáu bảy

Chót núi muôn nhẫn đứng một chân

Dưới hàm Ly long đoạt ngọc sáng

Một lời khám phá Duy-ma-cật. 

Minh Giác nghe, vỗ bàn khen hay! 

Tại sao làm thơ mà nói một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy? Đó là diễn tả đang gánh nước đi từng bước từng bước một, chợt gãy cái đòn gánh. Gãy đòn gánh rồi ngộ, thấy mình như đứng một chân ở trên chót núi, thấy như đã lấy được hạt minh châu dưới hàm con Ly long, rồi chỉ cần một câu nói là khám phá được ngài Duy-ma-cật. Chỗ Duy-ma-cật im lặng làm thinh, ngay đó mình khám phá được; vì vậy ngài Minh Giác khen hay.

Lý do ngộ ở gánh nước hay ở chỗ nào? Vì ngài đối với những câu nói của ngài Minh Giác mà không đáp được, tâm đang chết trong đó, đến lúc chín muồi, cái đòn gánh gãy liền ngộ. Ngài thì như vậy, còn chúng ta tâm đang chết trong thị phi nhân ngã, phải không? Chết với mấy thứ đó thì thôi chịu, một trăm cái đòn gánh gãy cũng không ngộ đạo được. Cần phải đem hết tâm tư nghiền ngẫm những gì mình chưa biết chưa thấy, như nghe một câu chư Tổ nói mà không hiểu không an lòng, cứ băn khoăn nhớ tới nhớ lui lâu ngày tự nhiên bừng ngộ.

Sau khi Sư trụ, có vị tăng hỏi: 

– Thế nào là Phật? 

Sư đáp: 

– Trải tóc lót bùn, thân nằm ngang trên đất. 

Tăng hỏi: 

– Ý chỉ thế nào? 

Sư đáp: 

– Thế ấy ma Ba-tuần cũng nhíu mày. 

Tăng thưa: 

– Thế ấy thì tạ ơn Thầy chỉ dạy. 

Sư bảo: 

– Tây thiên cõi này. 

Ngài ngộ trong lúc không lời, ngay trong hành động mà ngộ, nên đối đáp của ngài luôn luôn không cho mình hiểu.

Sư thượng đường: 

 Trên đánh Tu-di không đánh chuông, trong ngọn Tất-bát không người nhóm họp. Sơn tăng cưỡi ngựa ngược điện Phật, các ngươi mang giày ngược, sớm dạo Đàn-đặc chiều đến La Phù. Cây gậy ống kim mỗi người tự nhận lấy. 

Sư thượng đường: 

– Nạp tăng nói ngang nói dọc mà chưa biết có con mắt trên đánh. 

Khi ấy, có vị tăng ra hỏi: 

– Thế nào là con mắt trên đánh? 

Sư đáp: 

– Áo rách bày xương gầy, nhà lủng nằm thấy sao. 

Những câu này không cho suy nghĩ để hiểu.

Sư thượng đường: 

– Phàm là Tông sư phải đoạt trâu của kẻ đi cày, cướp thức ăn của người đói, gặp nghèo thì sang, gặp sang thì nghèo. Đuổi trâu của người đi cày khiến cho lúa mạ tốt tươi, cướp thức ăn của người đói khiến họ hằng dứt đói khát. Gặp nghèo thì sang nắm đất thành vàng, gặp sang thì nghèo biến vàng thành đất. 

Lão tăng cũng chẳng đuổi trâu của người cày, cũng chẳng cướp thức ăn của người đói. Sao gọi là trâu của người cày, ta nào cần dùng; thức ăn của người đói, ta nào muốn ăn? Ta cũng chẳng nắm đất thành vàng cũng chẳng biến vàng thành đất. Sao vậy? Vì vàng là vàng đất là đất, ngọc là ngọc đá là đá, Tăng là Tăng tục là tục. Trời đất xưa nay, nhật nguyệt xưa nay, núi sông xưa nay, con người xưa nay. Tuy nhiên như thế, đập nát ải Đại Tản, mấy kẻ mê gặp được Đạt-ma. 

Câu nói đuổi trâu của người cày, cướp thức ăn của người đói là của tổ Lâm Tế. Ngài dùng thuật nói ngược: Người đi cày phải có trâu cày rồi trồng lúa có cơm ăn, đây lại nói đuổi trâu của người cày khiến cho lúa mạ tốt tươi. Người đói được thức ăn là mừng, lại nói cướp thức ăn của người đói khiến họ được no đầy. Như vậy có phải ngược không? Đó là ý nghĩa người tu phải nhìn ngược lại để thấy con người chân thật của mình, đừng đuổi theo bên ngoài, vì thế nói những câu có ý ngược ngạo.

Khi không dùng phương tiện nói ngược, ngài chỉ cho thấy cái thật ngay hiện tiền khỏi cần tìm kiếm, khỏi cần quán chiếu nên nói: vàng là vàng, đất là đất, ngọc là ngọc, đá là đá. Chỉ cần một phen phá được cửa ải cứng chắc thì ngay đó thấy Sơ tổ Đạt-ma. Hết mê tức ngộ, không có gì khác.

Sư thượng đường: 

Nhạn quá trường không 

Ảnh trầm hàn thủy 

Nhạn vô đi tung chi ý 

Thủy vô lưu ảnh chi tâm. 

Dịch: 

Nhạn bay trong không 

Bóng chìm đáy nước 

Nhạn không có ý lưu dấu 

Nước không có tâm giữ bóng. 

Nếu được như thế, mới biết đến trong dị loại mà đi, chẳng cần nối dài chân vịt chặt ngắn cẳng còn dời núi lấp sông. Buông đi thì trăm xấu ngàn vụng, thâu lại thì co co nắm nắm. Dùng đó thì dám so sự giàu của tám đại long vương, chẳng dùng thì hoàn toàn chẳng có giá trị bằng nửa phân tiền. 

Tham! 

Bốn câu thơ này ở Việt Nam thiền sư Hương Hải thường đọc. Nếu không học kỹ tưởng là của ngài Hương Hải sáng tác, nhưng thật ra là của ngài Thiên Y Nghĩa Hoài.

Hình ảnh chim nhạn bay qua trong không, bóng chìm đáy nước, nhạn không có ý lưu dấu, nước không có tâm giữ bóng. Cả hai, chim nhạn và mặt nước đều vô tâm, vô tâm mà có nhạn bay trong không, có mặt nước in bóng. Khi chúng ta tu đến giai đoạn không còn vọng thức, lúc đó dường như không cần phân biệt suy nghĩ mà hiện tiền thấy vẫn thấy, nghe vẫn nghe. Thấy nghe không dính mắc, giống như nhạn bay trong không, mặt nước có in bóng mà không có một chút tỳ vết, không có gì lưu lại.

Nếu chúng ta tu được như vậy, hiện tại là Niết-bàn. Nói chuyện với ai nói thì nói, làm thì làm, qua rồi thôi không dính. Đó là lúc đối cảnh tâm thanh tịnh. Nếu nói chuyện với ai rồi cứ dính lại, nhất là với những người quan trọng, nói xong rồi về cứ suy nghĩ tới suy nghĩ lui, hoặc chuyện đó thế này, chuyện đó thế kia, tâm lăng xăng lộn xộn, làm sao được vô tâm?

Nếu được như thế, mới biết đến trong dị loại mà đi, chẳng cần nối dài chân vịt chặt ngắn cẳng cò, dời núi lấp sông. Buông đi thì trăm xấu ngàn vụng, thâu lại thì co co nắm nắm. Dùng đó thì dám so sự giàu của tám đại long vương, chẳng dùng thì hoàn toàn chẳng có giá trị bằng nửa phân tiền. Tham!

Nếu được như vậy thì mới có thể đi trong lục đạo mà không bị nghiệp lực dẫn đi. Chẳng cần nối dài chân vịt, chặt ngắn cẳng cò. Tại sao? Vì trong tâm chúng ta luôn luôn ưa thích lấy bỏ. Cái gì thích thì nuôi dưỡng, ví dụ như nối dài chân vịt; cái không thích thì bỏ đi như chặt ngắn chân cò. Người không còn ý niệm ưa thích lấy bỏ, chừng đó nếu nói giàu thì không ai giàu bằng, nếu nói nghèo thì cũng không ai nghèo hơn. Nghĩa là rất tự do muốn dùng hay muốn không dùng đều được.

Sư ở trong thất hỏi một vị tăng: 

– Người không tay hay nắm, người không lưỡi giỏi nói! Chợt người không tay đánh người không lưỡi, người không lưỡi nói cái gì? 

Đó là những câu không cho suy tư nghiền ngẫm. Như câu của thiền sư Nhật Bản: Nghe tiếng vỗ một bàn tay, hoàn toàn phi lý.

Sư tự đáp: 

Thục hồn liên tiêu khiếu

Chuyết cựu chung dạ đề 

Viên thông môn đại khải 

Hà sự cách vân nê? 

Dịch: 

Chim quốc suốt đêm kêu 

Tu hú thâu đêm hót 

Cửa viên thông mở rộng 

Việc gì cách mây bùn? 

Trong đó rất rõ ràng.

Sư ở cả thảy bảy đạo tràng, giáo hóa người trong và ngoài nước rất nhiều. Về già, Sư do bệnh cất am ở Sam Sơn thuộc Trì Dương. Có đệ tử là Trí Tài ở Phật Nhật thuộc Lâm Bình thỉnh Sư về hầu hạ. 

Trí Tài đi thành Tô chưa về, Sư sai người gọi về gấp. Trí Tài vừa về tới cửa, Sư bảo: 

Giờ đã đến, ta đi đây. 

Trí Tài thưa: 

– Thầy có lời gì dạy đệ tử? 

Sư nói kệ: 

Hồng nhật chiếu Phù Tang

Hàn vân phong Hoa nhạc 

Tam canh quá thiết vi

Tạt chiết ly long giác. 

Dịch: 

Đất Nhật trời hồng soi 

Đảnh Hoa mây lạnh quến 

Canh ba vượt thiết vi 

Sừng ly long bẻ gãy. 

Đó là lời huyền ký của ngài.

Trí Tài hỏi: 

– Noãn tháp đã thành, thế nào là việc cứu cánh? 

Sư đưa tay nắm tay chỉ đó, bèn đến bên giường xô gối mà tịch. 

Noãn tháp là chỉ cho tháp Vô Phùng. Thế nào là việc cứu cánh? Hỏi về việc cứu cánh, ngài liền đưa nắm tay lên chỉ, rồi liền đó xô gối nằm tịch.

CƯ SĨ TU SOẠN TĂNG HỘI 

Cư sĩ họ Tăng tên Hội, làm chức Tu soạn ở viện Hàn Lâm.

Thuở bé ông cùng thiền sư Minh Giác ở chung một nhà, đến lớn lên mỗi người đi mỗi đường. 

Khoảng niên hiệu Thiên Hy (1017-1021), ông làm thái thú ở Trì Châu. Một hôm gặp nhau ở chùa Cảnh Đức, ông bèn dẫn Trung Dung Đại Học, tham cứu Lăng-nghiêm, những chỗ phù hợp với ngữ cú thiền tông đem ra chất vấn Minh Giác. Minh Giác nói: 

 Cái ấy còn chẳng cùng với kinh điển hợp, huống là Trung Dung Đại Học ư? Học sĩ cần thẳng tắt lý hội việc này. 

Sư khảy móng tay một cái nói: 

 Chỉ như thế tiến lấy. 

Ông ngay câu này lãnh hội ý chỉ. 

Cư sĩ này tiến vào cửa nào? Ông khéo tiến vào cửa Quan Âm một cách dễ dàng.

Đến niên hiệu Thiên Thánh năm đầu (1023), ông làm thái thú ở Tứ Minh, biên thư thỉnh Minh Giác trụ trì Tuyết Đậu. Minh Giác đến, ông thưa: 

– Tôi gần đây cùng Trưởng lão Thanh bàn về câu “Triệu Châu khám phá bà già”, chưa rõ được ý chính có khám phá hay không? 

Minh Giác bảo: 

– Trưởng lão Thanh nói thế nào? Ông nói: 

– Lại như thế đi. 

Minh Giác bảo: 

 Trưởng lão Thanh hãy gác qua một bên. Học sĩ lại biết nạp tăng trong thiên hạ ra chẳng khỏi vòng vây bà già ấy chăng? 

Ông nói: 

– Trong đây riêng có chỗ nói, Triệu Châu nếu chẳng khám phá, bà già một đời chịu thua. 

Minh Giác bảo: 

– Khám phá xong vậy. 

Ông cười to. 

Cư sĩ mà cũng rất thông suốt đạo lý.

THIỀN SƯ Ỷ NGỘ Ở PHÁP XƯƠNG 

Sư họ Lâm quê ở Chương Châu. Thuở nhỏ Sư đến chùa Sùng Phước ở quận nhà xuất gia, có ý chí siêu phàm. Sau khi thọ giới Cụ túc, Sư đi du phương, nổi tiếng trong tùng lâm. 

Sư đến Phù Sơn yết kiến hòa thượng Viễn. Viễn thường chỉ Sư nói với mọi người: “Kẻ hậu học này sẽ làm mô phạm cho người hành khước.” 

Đến Bắc Thiền, Sư yết kiến thiền sư Trí Hiền. Trí Hiền hỏi: 

– Vừa rồi ở đâu? 

Sư thưa: 

– Phước Nghiêm. 

Trí liền hỏi: 

– Hòa thượng Tư Đại lỗ mũi dài bao nhiêu? 

Sư thưa: 

– Giống như Hòa thượng thấy lúc đó. 

Trí Hiền bảo: 

– Hãy nói lão tăng khi thấy dài bao nhiêu? 

Sư thưa: 

– Hòa thượng in tuồng chưa từng đến Phước Nghiêm. 

Trí Hiền cười, nói: 

– Kẻ học ngữ. 

Lại hỏi: 

– Khi ông đến đây Mã Tổ mạnh chăng? 

Sư thưa: 

– Mạnh. 

Trí Hiền bảo: 

– Ngài nói với ngươi cái gì? 

Sư thưa: 

– Bảo Bắc Thiền chớ loạn lắm vậy. 

Trí Hiền bảo: 

– Nghĩ ngươi mới đến chẳng nỡ đánh ngươi. 

Sư thưa: 

– Ỷ Ngộ cũng tha lỗi Hòa thượng. 

Đối đáp có gì hay? Ngài Trí Hiền hỏi: Vừa rồi đâu? Ngài đáp: Ở Phước Nghiêm. Hỏi: Hòa thượng Tư Đại lỗ mũi dài bao nhiêu? Sao không hỏi thăm hòa thượng Tư Đại mạnh khỏe mà hỏi lỗ mũi dài bao nhiêu? Lỗ mũi là mạch sống của mình, nếu người đạt đạo rồi thì thấy được lỗ mũi.

Trong nhà thiền, lỗ mũi tượng trưng cho cái chân thật. Nghe hỏi lỗ mũi thì biết liền, ngài trả lời: Giống như Hòa thượng thấy lúc đó, giống in lỗ mũi lúc Hòa thượng thấy vậy. Trả lời thật là khéo.

Đến câu này mới thấy là khó. Ngài Trí Hiền hỏi: Hãy nói lão tăng khi thấy dài bao nhiêu? Lúc ta thấy lỗ mũi dài bao nhiêu? Ngài đáp lại khéo léo: Hòa thượng in tuồng chưa từng đến Phước Nghiêm. Hòa thượng Tư Đại ở Phước Nghiêm, ngài hỏi lỗ mũi Hòa thượng dài bao nhiêu tức là Hòa thượng chưa biết lỗ mũi của ngài Tư Đại. Ngài Trí Hiền cười nói: Kẻ học ngữ. Ý nói ông là người học lóm.

Hỏi tiếp: Khi ông đến đây Mã Tổ mạnh chăng? Mã Tổ chết bao lâu rồi mà bây giờ hỏi mạnh chăng? Ngài đáp: Mạnh. Trí Hiền bảo: Ngài nói với ngươi cái gì? Ngài nói: Bảo Bắc Thiền chớ loạn lắm vậy. Trí Hiền nói: Nghĩ ngươi mới đến chẳng nỡ đánh ngươi. Nghĩa là ngươi nói hỗn rồi đó, nghĩ vì ngươi mới đến nên không đánh. Ngài nói: Ỷ Ngộ cũng tha lỗi Hòa thượng. Lỗi gì? Lỗi nói loạn.

Uống trà xong, Trí Hiền lại hỏi: 

– Quê hương ở đâu? 

Sư thưa: 

– Chương Châu. 

Trí Hiền bảo: 

– Tam Bình ở đó làm gì? 

Sư thưa: 

– Nói thiền nói đạo. 

Trí Hiền hỏi: 

– Tuổi bao nhiêu? 

Sư thưa: 

– Cùng cột cái đồng tuổi. 

Trí Hiền bảo: 

– Có cột cái hãy gác lại, không cột cái tuổi bao nhiêu? 

Sư thưa: 

– Không cột cái một tuổi cũng chẳng ít. 

Trí Hiền bảo: 

– Nửa đêm thả gà đen. 

Nhân đây, Sư kính trọng làm thầy và ở lại rất lâu. 

Đoạn đối đáp này rất khéo. Hỏi quê quán thì ngài nói ở Chương Châu. Chương Châu là xưa ngài Tam Bình ở đó giáo hóa. Hỏi ngài Tam Bình bao nhiêu tuổi? Như chúng ta thì lần tay tính tuổi để đáp, ngài đáp: Tuổi đồng với cây cột cái. Câu đó còn tương đối dễ, nhưng qua câu sau hỏi: Có cột cái hãy gác lại, không cột cái thì tuổi bao nhiêu? Câu đó thật là cay. Ngài trả lời: Nếu không cột cái một tuổi cũng chẳng ít. Tại sao không nói nhiều mà nói chẳng ít? Bởi vì ngôn ngữ của các ngài dùng không cho kẹt không cho dính, nói ít nói nhiều đều là bệnh, nên không cho mắc kẹt bên nào. Ngài Trí Hiền bảo: Nửa đêm thả gà đen. Câu đó khen hay chê? Nửa đêm là tối, gà đen là tối, tức là hai bên hợp nhau. Ngài nói khéo để thọ ký, tức là ông và ta đã thấy nhau rồi.

Sau, Sư lên ngọn Song Lãnh ở Tây Sơn chọn chỗ sâu vắng cất am dừng ở ba năm với thượng tọa Thắng và Anh Thiệu Vũ. Khi Sư nhận thỉnh trụ trì Pháp Xương, từ biệt nhau, Sư nói: 

– Ba năm chung họp không việc gì chẳng biết, kiểm điểm đưa ra ắt có rỉ chảy. 

Sư cầm gậy vẽ một gạch, nói: 

– Cái này gác lại, việc tông môn thế nào? Thủ tọa Anh đáp: 

– Tu-di để trong lỗ mũi. 

Sư nói: 

– Như thế thì đến bờ xem nguồn nước, chỉ riêng một trường sầu. 

Thủ tọa Anh đáp: 

– Thần Thâm Sa trợn mắt. 

Sư nói: 

– Đâu ngờ thánh phàm không hai đường, phương tiện có nhiều cửa? 

Thủ tọa Anh đáp: 

– Rắn sắt dùi chẳng thủng. 

Sư nói: 

– Gã này có chỗ nào chung bàn? 

Thủ tọa Anh đáp: 

– Tự duyên căn lực cạn, chớ giận mặt trời xuân. 

Lại vẽ một gạch nói: 

– Tông môn gác lại, việc này thế nào? 

Sư cho một tát tai. Thủ tọa Anh nắm đứng lại, nói: 

– Gã Chương Châu này cái gì làm cũng được. 

Sư nói: 

– Ông khởi loại kiến giải ấy, chẳng đánh lại đợi khi nào. 

Sư lại đánh thêm một tát tai. Thủ tọa Anh nói: 

– Cũng là ta chuốc lấy. 

Đây là hai huynh đệ trình độ tương đương, khi sắp từ biệt nhau, dọ dẫm lại xem có hơn kém gì không?

Ngài lấy cây gậy vẽ một gạch nói: Cái này gác lại, việc tông môn thế nào? Tông môn tức là việc trong nhà thiền. Thủ tọa Anh đáp: Tu-di để trong lỗ mũi. Lỗ mũi của mình đang thở hay lỗ mũi nào? Lỗ mũi kia trùm hết nên núi Tu-di ở trong đó. Ngài nói: Như thế thì đến bờ xem nguồn nước, chỉ riêng một trường sầu. Đó là một câu nói không cho suy nghĩ. Thủ tọa Anh đáp: Thần Thâm Sa trợn mắt. Hai bên đối đáp nhau mà không kẹt trong ngôn ngữ.

Ngài hỏi: Đâu ngờ phàm thánh không hai đường, phương tiện nhiều cửa? Thủ tọa Anh đáp: Rắn sắt dùi chẳng thủng, tức là chỗ đó rắn sắt cũng dùi không được. Ngài nói: Gã này có chỗ nào chung bàn? Nếu vậy thì có gì bàn với nhau nữa. Thủ tọa Anh đáp: Tự duyên căn lực cạn, chớ giận mặt trời xuân. Đây là những câu thơ cũ.

Thủ tọa Anh lại vẽ một gạch nói: Tông môn gác lại, việc này thế nào? Lặp lại câu nói của ngài Ỷ Ngộ. Việc này tức là việc hiện tại. Ngay đó ngài cho một tát, thủ tọa Anh nắm đứng lại, nói: Gã Chương Châu này cái gì làm cũng được. Ngài nói: Ông khởi loại kiến giải ấy, chẳng đánh lại đợi khi nào? Đánh thêm một cái nữa, đó là nói chuyện hiện tại. Thủ tọa Anh nói: Cũng là ta chuốc lấy.

Chùa Pháp Xương ở phía bắc Phần Ninh có cả ngàn gộp núi cả muôn cái hồ, mấy gian nhà xưa. Sư đến sống trong cảnh rất đạm bạc, trồng rau cải lấy mà ăn. Tăng chúng các nơi đến, đều không kham chịu nổi nếp sống cơ cực này. Ở đây thật là cô độc. 

Người xưa dù chỗ xa vắng, cuộc sống rất đạm bạc cực khổ, nhưng cần mở mang giáo hóa hay cần tu hành làm Phật sự, thì các ngài cứ đến hết lòng không ngại. Đây diễn tả ngày thuyết pháp đầu tiên của ngài.

Ngày khai đường, Sư lên tòa nói: 

– Ngày nay Pháp Xương khai lô, tăng hành khước chẳng có một người, chỉ có mười tám vị cao nhân ngồi vây quanh lò làm thinh. Chẳng phải là quy củ thật khó, khỏi thấy mọi người nói lầm. Dù cho miệng giống như quả cân, chưa khỏi bị lồng đèn khám phá. Chẳng biết đạo bặt công huân, luống dụng tu nhân chứng quả. 

Sư hét một tiếng, nói: 

– Chỉ hay một niệm hồi tâm, liền khỏi nhị thừa ràng buộc. 

Lô là cái lò, xưa hay dùng chữ khai lô để chỉ cho những hội khai giảng thuyết pháp. Tại sao thuyết pháp gọi là khai lỗ? Vì ở miền bắc Trung Hoa rất lạnh, mùa đông đốt lò lửa vây chung quanh hơ. Bao nhiêu người vây quanh lò lửa, khi khai giảng mọi người tụ hội lại cũng giống như vậy, nên gọi là khai lô.

Ngày khai đường có bao nhiêu khách đến dự? Trong chùa có thờ mười tám vị A-la-hán ngồi chung quanh. Ngài giảng không có ai, chỉ mười tám vị ngồi làm thinh, như vậy cũng cứ giảng. Không phải đợi có nhiều người mới giảng; cần nói cứ nói, cần làm cứ làm. Chúng ta học được nơi ngài hai điểm. Điểm thứ nhất là chỗ sống cơ cực đạm bạc, xa xôi mà cần thì vẫn tới, không sợ không chán. Điểm thứ hai là khi làm Phật sự dù không có ai vẫn cứ làm, dần dần đủ duyên thì mọi người đến. Chỉ lo mình không có đạo, dù ở thành phố chưa chắc người ta đã tới với mình. Nếu là người có đạo đức thì dù ở thôn quê ở rừng núi cũng có người tới, cho nên không sợ thiếu người mà chỉ sợ thiếu đạo đức.

Sư dạy chúng: 

– Ở thành Tỳ-da im lặng phỏng theo tông thừa, Thứu Lãnh giở cành hoa trở thành thuốc độc, chín năm xây mặt vào vách làm ngu độn tông tổ tiên, nửa đêm truyền y là gạt kẻ hậu học, Mã Tổ tức tâm là Phật in tuồng ôm gốc cây đợi thỏ, Bàn Sơn phi tâm phi Phật có thể gọi là hòa bùn hợp nước. Những tri kiến như thế là bại hoại Tổ phong diệt dòng họ Thích. Nương nơi rỗng tiếp tiếng vang, dối thánh gạt hiền. Hậu học không tội mà chịu khổ gặp người chỉ chú. Nếu luận về việc này thì chư Phật chẳng từng ra đời, cũng không một pháp cho người. Tổ Đạt-ma chẳng Tây sang, Nhị Tổ chẳng được tủy, liền được gió lành bát ngát, lão quê gõ nhịp ca vang, tâm không chỗ tựa, hạnh không chỗ nương, nghe thiền cùng đạo dường thấy oan gia, nói sắc với tâm như gặp cọp dữ. Nhiên hậu, Pháp Xương cho ông chọn rau rừng giã gạo nếp làm cơm hòa-la, nấu canh cốt đổng, đói thì ăn mệt thì ngủ, không do các giai vị mà tự cao quý, chớ học tam thừa mà lập ra thời khóa. 

Ngài phủ nhận tất cả hành động đối cơ của người xưa. Như cư sĩ Duy-ma-cật tại thành Tỳ-da im lặng khi được hỏi về pháp môn bất nhị. Đức Phật trên núi Linh Thứu đưa cành hoa, tổ Ca-diếp ngộ đạo, mà ngài cũng cho đó là thuốc độc, tổ Đạt-ma xây mặt vào vách chín năm, ngài nói là ngu độn tông tổ tiên. Ngũ Tổ giữa đêm truyền y cho Lục Tổ, ngài cũng gọi là gạt kẻ hậu học. Mã Tổ nói tức tâm tức Phật, ngài nói in tuồng ôm cây đợi thỏ… Chê tất cả, bác tất cả.

Chúng ta có cái ngu muội học người xưa mà chỉ học theo hình thức, không học đối cơ thích ứng. Như đức Phật ở trên hội Linh Sơn, ngài muốn biết trình độ của đệ tử, nên đưa cành hoa sen lên rồi nhìn xem có ai hiểu được. Lúc đó ngài Ca-diếp mỉm cười, ngài biết người đó hiểu mình, bèn truyền tâm ấn. Như bây giờ tôi đưa cành hoa lên, mấy chú cười rộ lên hết thì tôi tìm ra ai? Vì đã biết hết rồi, nếu cứ lấy chuyện người xưa mà bắt chước làm theo thì đúng hay sai?

Như chuyện rất đơn giản là Ngũ Tổ truyền y cho Lục Tổ vào lúc nửa đêm. Hình ảnh rất ly kỳ, Lục Tổ vô thất rồi Ngũ Tổ lấy y treo chung quanh kín mít ở ngoài không thấy, rồi đem kinh Kim Cang ra nói, đến chỗ Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm, Lục Tổ ngộ. Ngộ rồi thì liền truyền y, rồi lén mở cửa đưa qua sông đi. Bây giờ có một số người cũng bắt chước như vậy, nói rằng thầy truyền tâm ấn cho trò phải đúng canh ba, cũng phải vô thất đóng cửa kín mít lại rồi truyền tâm ấn cho đệ tử. Nếu là đệ tử nữ thì hiểm nguy không biết cỡ nào! Bắt chước như vậy có ngu độn hết thiên hạ không? Phải hiểu tại sao Ngũ Tổ truyền như vậy. Vì trong chúng lúc đó là năm bảy trăm tăng, những vị đó đã học hỏi nhiều năm, tu hành nhiều năm. Lục Tổ chỉ mới là cư sĩ dốt đến đó chưa được sáu tháng, nếu truyền y mà mọi người thấy thì họ lột y kéo trở lại liền. Do đó Ngũ Tổ phải làm kín đáo không cho ai thấy không cho ai hay. Trường hợp như chúng ta bây giờ không phải vậy, mà làm như vậy có phải là ngu xuẩn không?

Ngài bác những hình thức đối cơ của người xưa, để chúng ta đừng mê lầm bắt chước, đó là bị gạt. Ngài dạy chúng ta cần phải thấy rõ chỗ chân thật, nếu thấy rõ thì tất cả đều không có gì quan trọng. Lúc đó là chọn rau rừng giã gạo nếp, làm cơm hòa-la, nấu canh cốt đổng, đói thì ăn mệt thì ngủ, không do các giai vị mà tự cao quý. Tức là không do tu chứng các quả vị mà cho mình là cao, chớ học tam thừa lập ra thời khóa.

Thiền sư Huệ Nam ở Hoàng Long nhắc lại đã dạy Đại Khanh Công khán sanh duyên. Sư nói: 

– Sao chẳng liền đó cho y bặt dứt hết? 

Huệ Nam nói: 

 Cũng từng vì rắn vẽ chân, bởi y tự chẳng nhìn tới. 

Sư nói: 

– Hòa thượng vì y thế nào? 

Huệ Nam đáp: 

– Nhai hết gừng hút sạch giấm. 

Sư nói: 

– Ông thầy quê theo thế tục lại thế ấy. 

Huệ Nam hỏi: 

– Hòa thượng làm sao? 

Sư cầm phất tử liền đánh. Huệ Nam nói: 

– Cái lão già không có tình người. 

Ngài Huệ Nam thuộc dòng Lâm Tế, đệ tử của thiền sư Từ Minh, có ba câu công án. Câu thứ nhất: Người người trọn sanh duyên, Thượng tọa sanh duyên tại chỗ nào? Câu thứ hai: Tay tôi sao giống tay Phật? Câu thứ ba: Chân tôi sao giống chân lừa? Ba câu đó gọi là tam quan của ngài Huệ Nam.

Khi dạy người khán như vậy thì ngài liền nói: Sao chẳng liền đó cho y bặt dứt hết? Sao không chỉ cho y bặt dứt hết mà khán chi cho phiền vậy? Ngài Huệ Nam nói: Cũng từng vì rắn vẽ chân, bởi y tự chẳng nhìn tới, bởi không nhìn tới nên buộc lòng phải vẽ rắn thêm chân. Khán công án là phương tiện giống như vẽ rắn thêm chân không phải thật. Chỗ thật là làm sao cho bặt dứt, nhưng vì người không thấy được nên buộc lòng phải dùng phương tiện. Chúng ta không biết, nghe phương tiện cho là cứu cánh, cho rằng Tổ làm như vậy mới đúng là thiền.

Ngài hỏi thêm: Hòa thượng vì y thế nào? Ngài Huệ Nam đáp: Nhai hết gừng, hút sạch giấm, tức là mọi cái cay chua phải dẹp cho sạch. Ngài nói: Ông thầy quê theo thế tục lại thế ấy. Huệ Nam hỏi: Hòa thượng làm sao? Ngài ngay đó cầm phất tử đánh, không nói thêm. Ngài Huệ Nam nói: Cái lão già không có tình người.

Long đồ học sĩ Từ Hy lúc còn áo vải thường làm bạn với Sư. Trước một ngày sắp tịch, Sư làm kệ gửi cho ông, rằng: 

Kim niên thất thập thất 

Xuất hành tu trạch nhật 

Tạc dạ vấn quy ca 

Báo đạo kim triệu kiết. 

Dịch: 

Năm nay tuổi bảy bảy

Ra đi chọn ngày kiết 

Đêm qua hỏi quẻ rùa 

Nói rằng sáng nay tốt. 

Ngài muốn nói sáng nay ngài đi, vì đêm qua hỏi quẻ rùa nói bữa nay ngày tốt. Đó là một lối nói khéo.

Từ Hy xem xong hoảng hốt, mời thiền sư Thanh ở Linh Nguyên cùng đến. Sư đang ngồi trong thất đem việc trong chùa dặn dò Tri sự: 

 Ta ở núi này đã hai mươi ba năm, gìn giữ của thường trụ không cho sai sót. Nay ta đi vậy. Các ngươi phải cố gắng tu hành. 

Nói xong, Sư cầm gậy nói: 

– Hãy nói cái này trao lại cho ai? 

Từ Hy cùng Linh Nguyên đều lắng lặng. Sư ném cây gậy, nằm trên giường lấy tay gối đầu liền tịch. 

Đi một cách tự do.

THIỀN SƯ PHẬT ẤN hiệu LIỄU NGUYÊN Ở VÂN CƯ (1032 – 1098) 

Thiền sư Phật Ấn hiệu là Liễu Nguyên ở Vân Cư. Ngài là một thiền sư văn chương lỗi lạc, mang nhiều nghệ sĩ tính, nhất là có những hành động mà người ta cho rằng phóng túng. Cái phóng túng của ngài có lý do, theo truyền thuyết thì ngài với Tô Đông Pha xưa là hai huynh đệ cùng tu. Khi qua đời tu rồi, Tô Đông Pha đời sau ra làm quan, văn chương giỏi nhưng mê tửu sắc. Ngài Phật Ấn còn nhớ duyên tu, biết người huynh đệ của mình bị nhiễm, muốn dùng phương tiện đánh thức cho bạn mình tu trở lại. Muốn chơi với ông thì cũng phải gần gần giống, vì thế có những việc của ngài dường không hợp đạo lý, nhưng sau rồi cũng cứu được Tô Đông Pha.

Sư họ Lâm quê ở Phù Lương, Nhiều Châu. Khi Sư sanh ra hào quang xông lên, tóc móng tay đều đầy đủ, dung mạo đẹp đẽ khác thường. Lúc còn bé, Sư nói ra câu nào cũng phù hợp kinh sử, mọi người đều gọi là Thần đồng. Lớn lên, Sư thông hết sách sử không cần giở sách ra mà thông suốt cổ kim. Sư tài năng xuất chúng ý chí siêu phàm, lòng mộ Phật giáo nên phát tâm xuất gia. Lão thông kinh luận, Sư quyết chí du phương. 

Sư dạo qua các pháp tịch, mà phù hợp nơi thiền sư Thiện Xiêm ở chùa Khai Tiên, Lô Sơn. Sau, Sư ở chín nơi đạo tràng, nơi nào chúng cũng đông đảo. 

Khi Sư ở chùa Kim Sơn, Tô Đông Pha gửi thư đến hẹn gặp nhau, thư nói: Chẳng cần xuống núi đón, như Triệu Châu tiếp người thượng đẳng. 

Đông Pha đến, Sư ra đón tiếp. Đông Pha thăm hỏi Sư, Sư dùng kệ đáp: 

Triệu Châu đương nhật thiếu khiêm quang

Bất xuất tam môn kiến Triệu vương 

Tranh tự Kim Sơn vô lượng tướng 

Đại thiên đô thị nhất thằng sàng. 

Dịch: 

Triệu Châu ngày ấy thiếu khiêm nhường

Chẳng đến tam môn đón Triệu vương

Đâu giống Kim Sơn vô lượng tướng 

Đại thiên chung lại một chiếc giường. 

Đông Pha vỗ tay khen hay. 

Thơ hẹn có hai đợt, thơ đầu và thơ cuối. Thơ đầu trong đây không có ghi, tôi tìm được ở chỗ khác. Thơ viết:

Thô sa thí Phật, Phật hân thọ 

Quái thạch cúng tăng, tăng bất hiềm

Không thủ viễn lại hoàn yếu phủ?

Cánh vô nhất vật khả tăng thêm. 

Dịch:

Cát thô cúng Phật, Phật vui nhận

Đá lạ dâng tăng, tăng chẳng từ.

Xa đến tay không vẫn cần chứ?

Lại không một vật khá thêm lên.

Hai câu đầu nói chuyện ngày xưa Phật đi khất thực ngang đám trẻ con đang chơi cát, thấy Phật nó liền hốt cát dâng cúng, Phật nhận và bảo ngài A-nan đem về rải trong thất. Đó là Cát thô cúng Phật, Phật vui nhận. Một hôm khác các Tỳ-kheo đi khất thực, ngang đám trẻ con đang chơi sỏi, chúng cũng dâng một nắm sỏi, Tỳ-kheo cũng nhận. Đó là Đá lạ dâng tăng, tăng chẳng từ.

Hai câu cuối nói, tôi ở xa tới đi tay không, không có vật gì hết, ông có bằng lòng không? Kiểu nói hơi ngạo nghễ của nhà quan lại là nhà văn nổi tiếng. Ngài Phật An đáp lại:

Không thủ trì lai phóng hạ nan 

Tam hiền thập thánh tụ đầu khan 

Cả ban cung dưỡng năng khâm hưởng 

Mộc mã nê ngưu diệc hỷ hoan.

Dịch:

Tay không mang lại buông đi khó,

Tam hiền thập thánh hội họp xem

Thứ này cúng dường hay thọ hưởng

Trâu đất ngựa sắt cũng vui mừng.

Ông nói tay không đến đây, nếu thật là tay không đến, sự cúng dường đó là cao nhất. Hàng tam hiền thập thánh đều phải kính trọng. Nếu buông hết được, tay không thì quý vô cùng, cúng dường bằng cách đó dầu trâu đất ngựa sắt cũng đều hoan hỷ huống nữa là người.

Khi trả lời xong, mấy hôm nữa Tô Đông Pha đến, còn viết thư hẹn gặp. Thư nói: Chẳng cần xuống núi đón, như Triệu Châu tiếp người thượng đẳng. Khi tôi tới thăm, ngài không cần xuống núi đón, giống như ngài Triệu Châu tiếp hạng thượng đẳng.

Ngài Triệu Châu tiếp khách có ba hạng: thượng đẳng, trung đẳng, hạ đẳng. Hạ đẳng như là mấy chú lính, chú cai, chú đội… đến thì ngài ra khỏi cổng đón. Trung đẳng là mấy ông quan như là thiếu úy, trung úy, đại úy đến thì ngài đứng ở trước cổng tiếp. Thượng đẳng như vua, vua nước Triệu tới thăm thì ngài ngồi tại giường thiền tiếp.

Tại sao ngài đối xử như vậy? Hạng hạ đẳng ít học, không hiểu biết, có một chút quyền thế thì hơi kiêu, nên phải ra tận ngoài cửa đón cho họ vui. Hạng trung đẳng có học khá chút ít hiểu biết, nên khi đến thì đứng ở cổng tiếp là vừa. Hạng thượng đẳng đã hiểu sâu thấy rộng, đối với đạo cũng biết, đối với đời cũng thông. Tuy là vua ngoài đời, nhưng người tu là đệ tử đấng Pháp vương, cũng nối dòng vua trong đạo, hai bên có thua gì nhau. Ngồi tại chỗ tiếp để không làm mất uy tín của đạo. Nên Tô Đông Pha nói nên dùng cách tiếp hàng thượng đẳng đối với tôi. Tô Đông Pha đến, ngài vẫn ra núi đón tiếp, dùng kệ đáp:

Triệu Châu ngày ấy thiếu khiêm nhường

Chẳng đến tam môn đón Triệu vương

Đâu giống Kim Sơn vô lượng tướng 

Đại thiên chung lại một chiếc giường.

Kim Sơn là chỉ cho ngài. Tô Đông Pha vỗ tay khen hay. Ngài nói sở dĩ tôi ra núi đón ông vì tôi không học theo ngài Triệu Châu. Ngài Triệu Châu thiếu khiêm nhường, tôi thì có vô lượng tướng, bởi có vô lượng tướng nên cả đại thiên sa giới này tôi thấy như một cái giường. Đứng trên núi cũng ở tại giường, xuống núi cũng tại giường không gì lạ.

Sau đó ngài Phật Ân làm thêm bài thơ nhắc nhở Tô Đông Pha biết được gốc tích mà phát tâm tu.

Mạc quải ca-sa tiện yếu nhàn 

Thất điều trung hữu Thiết vi san 

Kỷ đa phóng dật tung hoành giả

Thất khước nhân thân thuấn tức gian.

Dịch:

Chớ mặc ca-sa lại muốn nhàn 

Bảy điều trong có Thiết vi sơn 

Bao người phóng dật tung hoành ấy 

Khi mất thân người chớp mắt sang.

Ý nhắc hồi xưa ông đã tu, đắp ca-sa nhưng phóng túng buông lung, khi mất thân rồi thì trầm luân đi theo dòng đời. Bài này cũng nhắc chúng ta được mặc chiếc ca-sa rồi thì đừng muốn thảnh thơi rong chơi tự tại. Chiếc ca-sa thất điều này tuy nhẹ nhưng trong đó nặng như núi Thiết vi, mặc vô mà không khéo tu thì nó sẽ là cái ngục làm cho mình chịu khổ.

Bao người phóng dật tung hoành ấy, những người mặc y đó mà còn tung hoành phóng dật thì mất thân này chỉ trong chớp mắt rồi khó trở lại. Nên nhớ được mang chiếc y vào trong thân thì phải cố gắng đừng buông lung, chính cái buông lung đó làm cho mình sau này phải khổ.

Vua Thần Tông nghe danh đức của Sư ngưỡng mộ ban cho ca-sa của Cao Ly tặng và bát vàng. 

Sư thượng đường dạy chúng: 

– Lạnh lạnh, gió rung tiếng tre khô, nước đông cá lội rít, rừng thưa chim ngủ khó, thảy là uy nghiêm của sương dày. Đâu kham hành khách áo đơn, thôi nhớ đường xa ngàn núi non, hãy vây lò hồng một nhóm lửa, buông đi Thù Du đóng cọc trong không, lật ngược Ca-diếp cột phướn trước cửa. 

Liền đó, Sư lại nói: 

– Chẳng hội suy nghĩ càng không manh mối. Tham! 

Ở đây có hai tích: Một là hòa thượng Thù Du (đệ tử Nam Tuyền), ban đầu làm trụ trì viện Hộ Quốc. Tăng hỏi: Thế nào là Đạo sư? Sư bảo: Chớ nhằm hư không mà đóng cọc! Tăng đáp: Hư không là cây cọc. Sư bèn đánh.

Hai là giai thoại ngài A-nan một hôm hỏi tổ Ca-diếp: Khi đức Thế Tôn phó chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, có còn truyền pháp gì riêng nữa chăng? Tổ Ca-diếp liền gọi: A-nan! A-nan ứng thanh: Dạ! Tổ Ca-diếp bảo: Cột phướn trước chùa ngã. Ngài A-nan nhân đây tỏ ngộ.

Ngài nói một mạch, nếu hiểu thì ngay đó thấy, không thấy đừng suy nghĩ, suy nghĩ không ra manh mối.

Một hôm, Sư và đồ chúng vào thất, cư sĩ Tô Đông Pha đến thẳng vào thất. Sư nói: 

– Trong này không có ghế ngồi, Cư sĩ đến đây làm gì? 

Đông Pha đáp: 

– Tạm mượn thân tứ đại của Phật Ấn làm ghế ngồi. 

– Sơn tăng có một câu hỏi, Cư sĩ nếu nói được thì mời ngồi. Bằng nói chẳng được thì cởi đai ngọc để lại. 

Đông Pha vui vẻ nói: 

– Xin hỏi. 

– Vừa rồi Cư sĩ nói “tạm mượn thân tứ đại sơn tăng làm ghế ngồi”. Chỉ như sơn tăng tứ đại vốn không, năm ấm chẳng có, Cư sĩ đến chỗ nào ngồi? 

Tô Đông Pha không đáp được, phải cởi dây đai ngọc để lại. 

Sư tặng lại cho Đông Pha lá y Vân Sơn. Đông Pha làm kệ: 

Bách thiên đăng tác nhất đăng quang

Tận thị hằng sa Diệu pháp vương

Thị cố Đông Pha bất cảm tích

Tá quân tứ đại tác thiền sàng

Bệnh cốt nan kham ngọc đới vi

Độn căn nhưng lạc tiễn phong ky

Hội đương khất thực ca cơ viện

Đoạt đắc Vân Sơn cựu nạp y.

Dịch: 

Đèn trăm ngàn ngọn ánh sáng đồng

Cả thảy hằng sa Diệu pháp vương

Bởi thế Đông Pha đâu dám tiếc

Mượn anh tứ đại làm giường thiền. 

Bệnh gầy không kham đai ngọc ràng

Căn độn nên rơi cơ phong nhanh

Hiểu nên khất thực xa ca kỹ 

Nhận lãnh Vân Sơn chiếc y xưa. 

Đèn trăm ngàn ngọn ánh sáng đồng

Cả thảy hằng sa Diệu pháp vương

Bởi thế Đông Pha đâu dám tiếc 

Mượn anh tứ đại làm giường thiền.

Sở dĩ tôi dám nói mượn thân ngài làm ghế ngồi vì tôi thấy dù một trăm ngọn đèn, một ngàn ngọn đèn, ánh sáng không có khác. Ngài là người xuất gia, tôi là cư sĩ nhưng Phật tánh vốn đồng, tôi mượn thân ngài cũng được. Đó là ý cải chánh tại sao ông ngang ngược vậy. Bài kệ tiếp theo:

Bệnh gầy không kham đai ngọc ràng 

Căn độn nên rơi cơ phong nhanh 

Hiểu nên khất thực xa ca kỹ 

Nhận lãnh Vân Sơn chiếc y xưa.

Thân tôi bệnh, xương khô khó chịu, không mang nổi đai ngọc. Vì căn cơ chậm hơn ngài, nên chịu thua phải để đai ngọc lại. Tôi hiểu ý ngài cho tôi chiếc y bảo nên đi khất thực, đừng đến chỗ ca hát nữa.

Ông làm tám câu thơ tức là hai bài kệ, ngài Phật Ấn cũng làm kệ đáp lại. Bài thứ nhất:

Thạch Sương đoạt đắc hốt Bùi Hưu 

Tam bách niên lai chúng khẩu khoa, 

Tranh tự Tô công lưu ngọc đới

Trường hòa minh nguyệt cộng vô hà. 

Dịch: 

Thạch Sương đoạt được Bùi Hưu hốt

Ba trăm năm suốt miệng chúng khoe,

Nào giống Tô công để ngọc đới 

Thường hòa trăng sáng vẫn không tỳ. 

Ngày xưa ngài Thạch Sương đoạt được cái hốt của ông Bùi Hưu. Tức là một hôm Bùi Hưu cầm cái hốt đến chỗ ngài Thạch Sương, ngài cầm cái hốt đưa lên nói: Trong tay Thiên tử thì gọi là khuê, trong tay quan nhân gọi là hốt, trong tay lão tăng gọi là gì? Bùi Hưu không đáp được, phải để cái hốt lại. Vì thế nói Thạch Sương đoạt được hốt Bùi Hưu, ba trăm năm suốt miệng chúng khoe, tức là đã ba trăm năm rồi người ta vẫn còn nói tới nói lui. Nào giống Tô công để ngọc đới, không giống Tô Đông Pha để ngọc đới lại đây. Thường hòa trăng sáng vẫn không tỳ, câu chuyện này cũng như hòa với trăng sáng để đời đời.

Ngài thêm một bài nữa:

Kinh Sơn Biện thị tam triều hiến

Triệu quốc Tương Như vạn tử hồi

Chí bảo chỉ ưng thiên tử dụng

Nhân hà lưu tại tiểu Bồng Lai? 

Dịch: 

Kinh Sơn họ Biện ba phen hiến

Nước Triệu Tương Như liều chết đòi 

Ngọc quý chỉ nên thiên tử dụng 

Tại sao để lại tiểu Bồng Lai? 

Ý bài kệ này dẫn tích viên ngọc Biện Hòa ở Kinh Sơn. Biện Hòa được viên ngọc quý mà ba phen dâng cho vua Sở mới được nhận. Lạn Tương Như nước Triệu liều chết vô triều Tần để đòi viên ngọc quý giá trị liên thành. Như vậy, ngọc quý chỉ để cho thiên tử dùng, tại sao lại để trong chùa, nên nói tại sao để lại tiểu Bồng Lai? Đó là hai câu chuyện có liên hệ đến ngọc.

Lại có câu chuyện có vẻ khôi hài một chút. Lúc ngài Phật Ấn còn ở chùa Vân Cư, một hôm có cuộc họp của chư tăng. Chư tăng tụ hội đông đủ mà ngài Phật An chưa tới. Sau cùng ngài đi tới, ngài Khắc Văn tức là thiền sư Chân Tịnh hỏi: “Vân Cư vì sao đến trễ?” Vân Cư tức là Phật Ấn, ngài Phật Ấn đáp: “Vì mang giày cỏ đi trong bụng Quy Tông nên đến trễ” (Quy Tông là chỉ cho ngài Khắc Văn). Ngài Khắc Văn bảo: “Lại bị Quy Tông nuốt rồi”, ông đi giày cỏ trong bụng tôi là bị tôi nuốt rồi, ngài Phật Ân đáp: “Làm sao mà mửa cho ra?” Lỡ nuốt rồi làm sao mửa cho ra? Ngài Khắc Văn đáp: “Mửa không ra thì ỉa ra.” Các thiền sư đôi lúc cũng rất tếu.

Một hôm, Vương Kinh Công là nhà quan, mời Phật Ấn tán tượng ngài Phó Đại Sĩ, ngài Phật Ấn cầm viết tán rằng:

Đạo quan, Nho lý, Thích ca-sa 

Hòa hội tam gia tố nhất gia 

Vong khước Suất-đà thiên thượng lộ 

Song Lâm si tọa đãi Long Hoa. 

Dịch:

Đạo quan, Nho dép, Phật ca-sa

Hòa hội ba nhà lại một nhà,

Quên mất đường về trời Đâu-suất 

Song Lâm ngồi mãi đợi Long Hoa. 

Câu chuyện này có tích như sau: Đời Lương, ngài Phó Đại Sĩ ngụ ở chùa Song Lâm, truyền rằng ngài là hóa thân của Phật Di-lặc. Một hôm ngài vào triều gặp Lương Võ Đế, đầu đội mũ đạo sĩ, hình thức tu theo tiên, thân đắp y ca-sa của Phật, chân đi đôi giày của nhà nho. Vua hỏi: “Ngài có phải là đạo sĩ không?” Ngài chỉ cái mũ, vua hỏi: “Ngài có phải là tăng không?” Ngài chỉ cái y, vua hỏi: “Ngài có phải nhà nho không?” Ngài chỉ đôi giày.

Nhân đó, ngài Phật Ấn tán tượng rằng: Đạo quan, Nho dép, Phật ca-sa, hòa hội ba nhà lại một nhà. Ngài là hóa thân của đức Di-lặc mà ở đây lo hòa hội Quên mất đường về trời Đâu-suất, Song Lâm ngồi mãi đợi Long Hoa, ngồi tại chùa Song Lâm hoài chờ tới hội Long Hoa.

Còn rất nhiều giai thoại vui về ngài Phật Ấn độ Tô Đông Pha. Tô Đông Pha làm quan rất nghệ sĩ, nên muốn độ thì cũng phải tùy duyên một chút. Đôi khi mời dự tiệc làm thơ rất thường, dự tiệc thì ngài không từ chay mặn. Mỗi lần làm thơ vui chơi, dự tiệc với Tô Đông Pha, mấy vị kia bận ngâm thơ, ngài ngồi ăn uống tự nhiên, một hồi nhìn lại hết sạch.

Chuyến này các vị lén đi chơi riêng, không rủ Phật Ấn đi nữa. Tô Đông Pha, Hoàng Sơn Cốc đạo nhân, xuống thuyền thả dòng sông, uống rượu làm thơ cho vui. Xuống thuyền rồi dạo chơi một đoạn, tiệc bày ra, Tô Đông Pha mở đầu làm thơ:

Phù bình bác khai

Ngư du xuất lại

Đắc kỳ sở tại!

Đắc kỳ sở tại!

Hoàng Sơn Cốc tiếp:

Phù vân bác khai

Minh nguyệt xuất lai

Thiên hà ngôn tai?

Thiên hà ngôn tai?

Dịch:

Cánh bèo vẹt hai 

Cá lội chơi đây

Thích thú lắm thay!

Thích thú lắm thay! 

Mây trôi vẹt hai 

Trăng ló dạng đây

Trời chẳng nói thay? 

Trời chẳng nói thay? 

Khi đó Phật Ấn nằm sẵn dưới thuyền, lật ván chui lên, liền ngâm bài thơ:

Phù bản bác khai,

Phật Ấn xuất lại

Nhân yên sưu tại?

Nhân yên sưu tại?

Ván bằng vẹt hai

Dịch:

Phật Ấn lại đây 

Người giấu được thay?

Người giấu được thay?

Mấy vị kia buộc lòng phải mời uống rượu làm thơ.

Thêm một chuyện khác. Ngài cố tình độ Tô Đông Pha nên nghe tin Tô Đông Pha rước thêm bà thiếp thứ bảy, Phật Ân đến nói: “Nghe tướng công mới rước thêm bà thiếp thứ bảy, tướng công cho lão tăng mượn một đêm.” Tô Đông Pha ngạc nhiên nhưng cũng đồng ý. Đúng ngày đưa bà thiếp thứ bảy tới chùa, ngài dọn phòng xong xuôi rồi mời bà vô phòng. Trước phòng ngài để bảy lò lửa cháy hừng hực, bắt đầu vén áo đi từ lò này bước qua lò kia, lò kia bước qua lò nọ, đi tới đi lui trên bảy lò lửa cháy hừng hực, đi mãi tới khuya, tới sáng.

Hôm sau, bà về kể lại tình hình cho Tô Đông Pha nghe. Tô Đông Pha nghiệm một hồi, biết ý ngài muốn thức tỉnh mình. Bảy lò lửa tức bảy bà thiếp, đó là mình đang bị đốt, còn ngài đã đi qua rồi. Nhân đó Tô Đông Pha mới nghĩ tới đi tu, họp bảy bà nói: “Thôi bây giờ quý bà để cho tôi đi tu.” Mấy bà khóc không cho, nói: “Bây giờ Tướng công ở lại dù chết chúng tôi cũng lo cho Tướng công, xin Ngài đừng bỏ chúng tôi bơ vơ.” Tô Đông Pha không biết làm sao, một hôm lập mưu, buổi tối mời bảy bà họp lại ngồi nói chuyện. Nói chuyện một đoạn, ông đứng dậy thổi cây đèn phụt tắt, hỏi: “Ai thổi đèn?” Hỏi hoài không ai chịu hết, bởi ông thổi mà ai dám chịu. Ông nói: “Đó, mấy bà mới thấy chuyện thổi đèn là chuyện nhỏ, tôi thổi mấy bà thấy rõ ràng mà không ai dám thay tôi nhận chịu. Đến chuyện sanh tử là chuyện lớn thì ai dám thay tôi chịu?” Mấy bà đuối lý, nên để ông đi tu.

Đó là nhờ ngài Phật Ấn nhắc, ông thức tỉnh, tìm cách thoát ra khỏi bảy cái lò lửa.

Những câu chuyện liên hệ giữa Tô Đông Pha và Phật Ấn cũng ngộ nghĩnh như vậy.

Lý Công Lân vẽ truyền thần cho Sư. Sư bảo vẽ dáng cười. Sư làm bài tán: 

Lý công thiên thượng thạch kỳ lân

Truyền đắc Vân Cư đạo giả chân

Bất vị niêm hoa minh đại sự

Đẳng nhàn khai khẩu tiếu hà nhân? 

Nê ngưu mạn hướng phong tiền khứu

Khô mộc vô đoan tuyết lý xuân 

Đối hiện đường đường câu bất thức 

Thái bình thời đại tự do thân. 

Dịch: 

Lý công, kỳ lân đá trên trời 

Vẽ được chân dung Vân Cư này

Chẳng bởi niêm hoa rành việc lớn

Khi không mở miệng để cười ai?

Trâu đất mặc tình theo ngửi gió

Cây khô tuyết lạnh bỗng nảy chồi

Rành rành trước mắt đều chẳng biết 

Thời đại thái bình thân thảnh thơi. 

Khi ngài bảo vẽ dáng cười, ngài nói kệ ý: Như vậy thì không phải do đức Phật niêm hoa, ngài Ca-diếp thấu suốt việc lớn mà cười, như vậy thì ông cười đây là cười cái gì?

Bốn câu kế:

Trâu đất mặc tình theo ngửi gió

Cây khô tuyết lạnh bỗng nảy chồi 

Rành rành trước mắt đều chẳng biết 

Thời đại thái bình thân thảnh thơi. 

Đây là bài tán nhưng có tính cách đạo lý.

Ngày mùng bốn tháng giêng niên hiệu Nguyên Phù năm đầu (1098) Sư đang cùng khách nói chuyện có người ngộ được tâm, Sư cười rồi tịch. 

Nói chuyện người ta ngộ được, ngài thích quá cười rồi tịch luôn.

 

Tông Pháp Nhãn Đời Thứ Ba

THIỀN SƯ HUỆ NHẬT TRÍ GIÁC ở chùa VĨNH MINH DIỆN THỌ (904-975) 

Sư họ Vương quê ở Dư Hàng, thuở bé đã quy tâm về Phật thừa. Lúc thiếu niên Sư không ăn thịt cá, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Sư trì kinh Pháp Hoa vừa được sáu tuần liền được lão thông, cảm đến bầy dê quỳ nghe kinh. 

Năm Sư hai mươi tám tuổi làm quan trấn ở Hoa Đình, gặp lúc đại sư Thúy Nham Vĩnh Minh dời về ở chùa Long Sách truyền bá thiền tông, Sư thường tới lui hỏi đạo. Vua Văn Mục Vương nước Ngô Việt biết Sư mộ đạo, bèn theo chí nguyện của Sư cho xuất gia. 

Sư lễ Thúy Nham xin làm đệ tử, hàng ngày làm việc phục vụ cho chúng trọn quên mình là kẻ làm quan, mặc chẳng cần đẹp, ăn chẳng nghĩ ngon, áo vải đơn sơ qua ngày đoạn tháng.

Ngài có những hình ảnh rất đáng kính, chúng ta phải noi theo. Ngài có phước trì kinh cảm đến bầy dê quỳ nghe, đến khi ra làm quan vẫn thích tu. Khi xuất gia rồi, vô chùa phục vụ cho chúng quên mình là một ông quan. Nghĩa là không còn nghĩ mình là người sang, mặc không cần đẹp, ăn chẳng nghĩ ngon, áo vải đơn sơ tùy duyên qua ngày.

Lên núi Thiên Thai, ở ngọn Thiên Trụ tập định chín tuần, có loại chim tha cỏ làm ổ trong áo của Sư. 

Ngồi thiền mà chim tha cỏ vô trong áo làm ổ, như vậy có động không? Nếu động chắc nó không dám, chứng tỏ thân tâm ngài đều lặng yên quên thời gian.

Sư đến yết kiến Quốc sư Đức Thiều. Vừa trông thấy Sư, Quốc sư đã chấp nhận, thầm trao huyền chỉ. Quốc sư bảo Sư: 

– Ngươi cùng Nguyên soái có duyên, sau này sẽ làm hưng thịnh Phật pháp. 

Ban đầu, Sư đến Minh Châu ở núi Tuyết Đậu, học chúng rất đông. 

Sư thượng đường dạy: 

– Trong núi Tuyết Đậu thác đổ ngàn tầm không dừng mảy may, vách núi muôn nhẫn không có chỗ để chân. Tất cả các ngươi nhằm chỗ nào tiến bước? 

Có vị tăng ra hỏi: 

– Một lối tắt của Tuyết Đậu làm sao giẫm đi? 

Sư đáp: 

– Bước bước hoa lạnh kết, lời lời suốt đáy băng. 

Niên hiệu Kiến Long năm đầu (960), Trung Vương thỉnh Sư trụ trì chùa mới ở núi Linh Ẩn. Năm sau lại thỉnh Sư trụ trì đại đạo tràng Vĩnh Minh. Ở đây chúng tụ họp đến hơn hai ngàn vị. 

Có vị tăng hỏi: 

– Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh? 

Sư đáp: 

– Lại thêm hương đi. 

– Tạ Thầy chỉ dạy. 

– May mà không giao thiệp. 

Sự làm bài kệ: 

Dục thức Vĩnh Minh chỉ 

Môn tiền nhất hồ thủy 

Nhật chiếu quang minh sanh 

Phong lai ba lãng khởi. 

Dịch: 

(Muốn) Biết diệu chỉ Vĩnh Minh 

Trước cửa một hồ nước 

Trời soi ánh sáng sanh 

Gió thổi sóng mòi dậy. 

Tăng hỏi: 

– Trường Sa kệ rằng: 

Học đạo chi nhân bất thức chân

Chỉ vị tùng tiền nhận thức thần 

Vô thủy thời lai sanh tử bản 

Si nhân hoán tác bản lai nhân. 

Dịch: 

Học đạo mà không hiểu lẽ chân

Bởi tại lâu rồi nhận thức thần

Gốc nguồn sanh tử vô thủy kiếp

Người ngu lại gọi chủ nhân ông. 

Đâu chẳng phải lìa thức tánh riêng có chân tâm ư? 

Sư đáp: 

– Như Lai Thế Tôn trên hội Thủ-lăng-nghiêm vì ngài A-nan giản biệt rất rõ mà ngươi vẫn cố chẳng tin. Ngài A-nan lấy cái suy xét theo đuổi làm tâm, bị Phật quở đó, cái suy xét theo đuổi ấy là “thức” vậy. Nếu lấy cái biết pháp, theo tướng là phiền não thì gọi thức, chẳng gọi tâm. Ý là nhớ, nhớ tưởng cảnh trước khởi vọng đều là vọng thức chẳng can gì về việc của tâm. Tâm chẳng phải có không, có không chẳng nhiễm. Tâm chẳng phải cấu tịnh, cấu tịnh chẳng nhơ. Cho đến mê ngộ phàm thánh đi đứng ngồi nằm đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tâm xưa chẳng sanh nay cũng chẳng diệt. Nếu biết tâm mình như thế, đối chư Phật cũng vậy. Cho nên ông Duy-ma nói: “Trực tâm là đạo tràng”, vì không có hư giả vậy. 

Ngài giản trạch thế nào là tâm, thế nào là thức để chúng ta thấy rõ. Tất cả suy xét, nghĩ nhớ… của chúng ta là vọng thức chứ chưa phải là tâm, tâm thì không kẹt hai bên. Chừng nào không dính hai bên đó mới là tâm, không thấy có không phải quấy… tất cả hai bên đều không dính mắc.

Tăng hỏi: 

– Học nhân ở tại Vĩnh Minh đã lâu, vì sao chẳng hội gia phong Vĩnh Minh? 

Sư đáp: 

– Chỗ chẳng hội nên hội lấy. 

– Chỗ chẳng hội làm sao mà hội? 

– Thai trâu sanh voi con, biển biếc dấy bụi hồng. 

Chỗ chẳng hội tức là chỗ chẳng hiểu. Làm sao chẳng hiểu mà hiểu? Ngài nói, giống như thai con trâu mà sanh ra con voi, dưới biển mà dấy bụi, tức là phải thấy ngược lại thì được.

Sư muốn đem giáo pháp một đời của Phật lưu truyền ở cõi này, xem qua lối phán giáo của các ngài Thiên Thai, Hiền Thủ, Từ Ân chia ba tông tánh tướng… trở thành mâu thuẫn khiến khó khăn thêm cho người học đạo. Sư lấy yếu chỉ của Tâm tông (thiền tông) để chiết trung, nhân đó gom góp sáu mươi bộ các kinh Phương đẳng…, những lời dạy của ba trăm vị Tổ ở Ấn Độ và Trung Hoa, để giúp nghĩa cho ba tông, soạn thành bộ sách một trăm quyển tên là Tông Cảnh Lục để lưu truyền hậu thế. 

Một trăm quyển Tông Cảnh Lục còn trong tạng đó, chú nào siêng thì đọc.

Sư ở chùa Vĩnh Minh mười lăm năm, độ một nghìn bảy trăm đệ tử. Niên hiệu Khai Bảo năm thứ bảy (974), Sư lên núi Thiên Thai truyền giới chừng một vạn người, thường cho bảy chúng thọ giới Bồ-tát. Ban đêm cúng thí quỷ thần, ban ngày làm lễ phóng sanh không thể tính hết. Sáu thời tán hoa, hành đạo còn dư sức, Sư tụng một vạn ba nghìn (13.000) bộ kinh Pháp Hoa. 

Ngoài bộ Tông Cảnh Lục, Sư còn trước tác thi kệ, phú, vịnh đến cả ngàn muôn lời. 

Ngài thuộc đời thứ ba tông Pháp Nhãn, ưu điểm của ngài là sự truyền bá, ý chí mãnh liệt làm sáng đạo, nhưng cũng có khuyết, làm cho tông Pháp Nhãn mất dấu.

Ngài hơi nặng về hình thức. Ban đêm thì cúng thí quỷ thần, ban ngày làm lễ phóng sanh không thể tính hết. Rồi tán hoa, hành đạo tụng mười ba nghìn bộ kinh Pháp Hoa… Ngài lại đem Thiền phối hợp với Tịnh, như bài kệ nói, Thiền có Tịnh như cọp mọc sừng… Vì thế tông phong không thuần nhất.

Vua nước Cao Ly (Triều Tiên) xem các tác phẩm của Sư cảm mến sai sứ đem thư sang, trong thư tự nhận là đệ tử, dâng cúng Sư y ca-sa tía do kim tuyến dệt thành, chuỗi thủy tinh, chậu vàng v.v… 

Có ba mươi sáu vị tăng ở Cao Ly sang học đạo với Sư đều được ấn ký, lần lượt về nước mỗi người giáo hóa mỗi nơi. 

Đến niên hiệu Khai Bảo năm thứ tám (975) tháng chạp, Sư có chút bệnh. Ngày hăm sáu vào buổi sáng, Sư thắp hương từ biệt chúng, ngồi kiết già thị tịch, thọ 72 tuổi, 42 tuổi hạ. 

Đó là cuộc đời vẻ vang.

THIỀN SƯ CHÍ PHÙNG ở chùa HOA NGHIÊM núi NGŨ VÂN (909-985) 

Sư quê ở Dư Hàng, sanh ra đã không ưa thịt cá, cơ thể thơm sạch. Sư xuất gia tại viện Lãng Chiêm núi Đông Sơn, thông suốt tam học, rành rõ tánh tướng. Những khi mộng, Sư thường thấy đi lên núi Tu-di thấy ba đức Phật ngồi tòa. Trước đức Phật Thích-ca, kế Phật Di-lặc, Sư đều lễ dưới chân, duy chẳng biết đức Phật thứ ba, Sư chỉ ngước nhìn mà thôi. Đức Thích-ca chỉ, nói: “Đây là Phật Sư Tử Nguyệt do Di-lặc bổ xứ”, Sư mới chịu làm lễ. Sau khi thức, nhân xem Đại tạng kinh mới biết hợp với mộng. 

Đức Phật Sư Tử Nguyệt này ngài chưa từng biết, nên thấy mà không lễ. Như vậy dù trong mộng ngài cũng rất nghiêm túc, cái gì biết thì làm, không biết thì không làm. Phật Thích-ca biết cho nên lạy, Phật Di-lặc biết thì lạy, đức Phật thứ ba không biết nên không lạy.

Chúng ta vô chùa thấy hình tượng nào cũng cứ lạy, nhiều khi mấy ông thần ông thánh họ thờ mình cũng cứ lạy, phải không? Đó là bệnh dễ tin, không biết đến nơi đến chốn.

Khoảng niên hiệu Thiên Phúc (947), Sư du phương đến núi Thiên Thai ở đạo tràng Vân Cư tham với Quốc sư Đức Thiều, cơ duyên chủ khách được trùng hợp phát minh huyền chỉ. 

Một hôm, Sư vào trong điện Phổ Hiền an tọa, chợt có một vị thần quỳ gối ở trước. Sự hỏi: 

– Ông là ai? 

Thần đáp: 

 Tôi là thần hộ giới. 

Sự hỏi: 

– Tôi lo có những tội trước chưa sạch, ông có biết chăng? 

Thần đáp: 

– Thầy có tội gì, chỉ có một lỗi nhỏ mà thôi. 

Sự hỏi: 

– Lỗi gì? 

Thần đáp: 

– Phàm nước tráng bát cũng là vật của thí chủ, Thầy thường đổ đi không nên vậy. 

Nói xong, vị thần ẩn mất. Từ đây về sau, Sư tráng bát lấy nước uống hết. 

Chúng ta mỗi khi ăn cơm xong rót nước tráng bát rồi uống, là bắt nguồn từ câu chuyện này. Đôi khi chúng ta phung phí của Tam bảo, cho rằng uống một chút nước tráng bát thì có thấm vào đâu. Rất nhiều việc để nhắc nhở, chúng ta tu phải biết cái nào là gốc, cái nào là ngọn.

Việc nhỏ mình tránh mà việc lớn mình làm thì có đúng không? Chúng ta tránh việc lớn trước, đến việc nhỏ cũng phải giữ gìn, như vậy mới hay. Vì thế ở đây tôi có vẻ hơi khó khăn nghiêm khắc là cấm hút thuốc, cấm xem truyện… Vì một chút cơm dính bát, đổ đi còn tội thay, huống là xuất tiền thí chủ mua thuốc hút phà chơi, không no chút nào mà còn mang bệnh, không cấm sao được?

Đó là những cái nếu biết tu thì phải tiết kiệm từng chút phước, từng chút công đức của mình, đừng phung phí. Phung phí là lỗi lớn, cho nên người có trách nhiệm trong chúng thì phải khéo gìn giữ của Tam bảo, chính đó là phước lớn của mình.

Vua nước Ngô Việt nghe danh đức của Sư, thỉnh vào triều ban tử y và hiệu là Phổ Giác đại sư. Ban đầu mời ở viện Công Thần tại Lâm An, tăng chúng tấp nập kéo đến. 

Sư thượng đường dạy: 

Chư Thượng tọa bỏ một tri thức đến tham với một tri thức, trọn học theo gương của Thiện Tài. 

Xin hỏi các Thượng tọa: Như Thiện Tài từ biệt Văn-thù định lên núi Diệu Phong yết kiến Tỳ-kheo Đức Vân, đến đó rồi vì sao Đức Vân lại ở Biệt Phong trông thấy nhau? Phàm giáo ý Tổ ý đồng một phương tiện không có lý khác. Kia nếu rõ được thì đây cũng rành rành. Chư Thượng tọa hiện nay hiệp đoàn với lão tăng là thấy nhau hay chẳng thấy nhau? Chỗ này là Diệu Phong hay là Biệt Phong? Nếu hay từ đây tỉnh được, có thể nói chẳng cô phụ lão tăng, cũng thường thấy Tỳ-kheo Đức Vân, chưa từng có một sát-na xa rời nhau, lại tin đến chăng? 

Ngài dẫn kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp Giới, Bồ-tát Văn-thù khuyến khích Thiện Tài đồng tử đi tham vấn thiện tri thức. Ban đầu Thiện Tài đồng tử lên núi Diệu Phong tham vấn Tỳ-kheo Đức Vân, lên đánh núi tìm không thấy, lại thấy ngài đi kinh hành ở ngọn núi khác.

Ý chỉ thế nào? Ngọn Diệu Phong là ví dụ cho pháp thân, chỗ cứu cánh đó không có ngôn ngữ, không cho hỏi đáp. Vì thế, Thiện Tài tìm lên đó rồi không gặp. Biệt Phong là ngọn núi khác, dụ cho cửa phương tiện, vào cửa phương tiện mới cho hỏi đáp, đến đó mới gặp Tỳ-kheo Đức Vân.

Đó là ý tôi dùng trong bài tụng mỗi đêm: Trên ngọn Diệu Phong rong tự tại. Nơi pháp thân, mặc tình tung hoành, thảnh thơi biết mấy. Hiểu vậy mới biết đầu đuôi câu chuyện, ý kinh và ý thiền không khác.

Niên hiệu Khai Bảo năm đầu (968), Trung Ý Vương xây cất Tinh xá Phổ Môn ba phen thỉnh Sư trụ trì, lại tuyên dương pháp yếu. 

Sư thượng đường: 

– Cổ đức vì pháp đi hành khước chẳng nệ nhọc nhằn, như Hòa thượng Tuyết Phong ba phen trở lại Đầu Tử, chín lần lên Động Sơn, xoay vần qua lại còn cầu con đường vào chẳng được. Xem các ông ngày nay đi tham học, vừa bước đến cửa liền đợi lão tăng tiếp dẫn chỉ rõ nói thiền. Các ông muốn đến đạo Huyền cực, đâu thể rảnh rang; huống là việc này ngộ phải đúng thời, gấp gáp cầu đâu được. Các ông cần biết đúng thời ngộ chăng? Hiện giờ mỗi người hãy vào nhà thiền ngồi yên lặng, đợi bao giờ ngước xem ngọn núi này gật đầu, lão tăng sẽ vì ông nói.

Chúng ta đi học đạo, muốn mau liễu ngộ, phải biết việc đó chừng nào tâm thuần thục chín muồi, cơ duyên đến mới được. Nếu cứ muốn ngộ hoài làm sao ngộ? Ngài nói các ông muốn ngộ thì vào nhà thiền ngồi yên lặng, đợi khi nào thấy hòn núi này gật đầu, chừng đó tôi nói cho ông nghe.

Tăng hỏi: 

– Thế nào là gia phong Phổ Môn? 

Sư đáp: 

Bao người xem chẳng đủ. 

– Thế nào là cảnh Phổ Môn? 

– Ngươi đến chỗ hãy hỏi gia phong rồi thôi. 

Niên hiệu Khai Bảo năm thứ tư (971), Sư cố từ chối với Quốc chủ bởi tuổi đã già muốn tịnh dưỡng nơi chốn suối rừng. Khi ấy, đại tướng Lăng Siêu tạo đạo tràng Hoa Nghiêm ở núi Ngũ Vân dâng cúng cho Sư để làm chỗ dưỡng già. 

Niên hiệu Ung Hy năm thứ hai (985) tháng mười một, Sư có chút bệnh. Đến ngày hăm lăm, Sư sai vị tăng đứng hầu đi thắp hương, lấy nước súc miệng xong, Sư ngồi kiết già giây lâu, từ biệt chúng thị tịch. Sư thọ 77 tuổi, được 58 tuổi hạ. 

THIỀN SƯ BỔN TIÊN ở chùa THỤY LỘC (942 – 1008) 

Sư họ Trịnh quê ở Vĩnh Gia, lúc bé xuất gia tại viện Tập Khánh, thọ giới nơi chùa Quốc Thanh ở Thiên Thai.

Sư đến tham vấn Quốc sư Đức Thiều, Quốc sư đem câu “chẳng phải gió phướn động mà tâm nhân giả động”, Sư liền ngộ giải.

Sư trụ ở chùa Thụy Lộc, chân chẳng dạo thành ấp, tay chẳng nhận tiền bạc, chẳng sắm mền nệm, không mặc tơ lụa, mỗi ngày ăn một bữa, ngồi thiền suốt ngày, trọn ba mươi năm không thay đổi ý chí.

Chúng ta học theo được không? Chân chẳng dạo thành ấp, tay chẳng nhận tiền bạc, chẳng sắm mền nệm, không mặc tơ lụa, mỗi ngày ăn một bữa, ngồi thiền suốt ngày, trọn ba mươi năm không thay đổi ý chí. Chúng ta phải tập gan dạ dám chết sống để tu hành, nếu cứ yếu kém dở tệ thì ngày sau làm sao làm mẫu mực cho người? Vì thế mỗi người gắng lập chí cho mạnh, học gương người xưa dù theo không trọn vẹn, ít ra cũng học được đôi ba phần. Không nên chỉ làm theo sở thích của mình.

Sư dạy chúng: 

– Ta lúc mới gặp Thiên Thai vừa nghe câu nói liền tiến được. Nhưng khoảng một ngàn ngày (ba năm) trong bốn oai nghi in tuồng có vật ngại nơi ngực, như đồng ở chung với kẻ thù. Sau một ngàn ngày, một hôm vật ngại bỗng tan, không còn ở chung với kẻ thù, liền đó an vui chợt nhận ra lỗi trước. 

Nghe câu nói liền tiến được, tức là câu phướn động gió động.

Như vậy hiểu rồi vẫn còn bị chướng, đến ba năm mới tan.

Sư liền thuật ba bài kệ: 

1- Chẳng phải gió phướn động mà tâm nhân giả động 

Phi phong phan động duy tâm động

Tự cổ tương truyền trực chí kim 

Kim hậu thủy vân đồ dục hiểu 

Tổ sư chân thật hảo tri âm. 

Dịch: 

Gió phan chẳng động riêng tâm động

Truyền nối từ xưa nhẫn đến nay, 

Người sau tham học cần muốn biết

Tổ sư chính thật bạn tri âm. 

2- Thấy sắc liền thấy tâm 

Nhược thị kiến sắc tiện kiến tâm

Nhân lại vấn trước phương nan đáp 

Nhược cầu đạo lý thuyết đa ban

Cô phụ bình sinh tam sự nạp. 

Dịch: 

Nếu là thấy sắc liền thấy tâm

Người đến hỏi nhằm thật khó đáp

Muốn cầu đạo lý nói nhiều điều 

Phũ phàng ba việc tăng áo nạp. 

Ba việc của người tăng sĩ là tam thường bất túc. Một là ăn, hai là mặc, ba là ngủ, ba việc đều không đủ. Tăng sĩ phải ý thức được bổn phận chính của mình, vì sự tu hành nên ăn vừa phải, mặc đơn giản, ba giờ phải thức, không ngủ nhiều hơn. Không nên có tâm giải đãi, lén trốn ngồi thiền, nằm nướng thêm. Đó là ăn gian, ăn gian với tôi được, với Phật không được. Bổn phận tăng sĩ là như vậy, ba việc đó là ba việc thường không thể sai sót.

3- Rõ chính mình 

Khoáng đại kiếp lai chỉ như thị

Như thị đồng thiên diệc đồng địa 

Đồng địa đồng thiên tác ma hình

Tác ma hình hề vô bất thị. 

Dịch: 

Nhiều kiếp đến nay chỉ như thế 

Như thế đồng trời cũng đồng đất

Đồng đất đồng trời tạo hình gì? 

Tạo hình gì rồi thảy đều được. 

Thể chân thật chính mình trùm khắp, đồng trời đồng đất, không có gì khác hơn, cũng không có gì ngoài mình.

Sư dạy chúng: 

– Cả thảy các ngươi! Lại thấy Trúc Lâm lan nhã non nước viện xá mọi người chăng? Nếu nói thấy thì ngoài tâm có pháp. Nếu nói chẳng thấy, mà hiện tại Trúc Lâm lan-nhã non nước viện xá mọi người rõ ràng. Lại hội lời dạy như thế chăng? Nếu hội thì lanh lợi chẳng ngại, vô sự chớ đứng lâu.

Đây là hình ảnh của ngài Pháp Nhãn, ngài nói: Ngoài tâm không có pháp.

Sư dạy chúng: 

Trong Thiên Thai giáo nói ba cửa Văn-thù, Quan Âm, Phổ Hiền. Cửa Văn-thù là tất cả sắc. Cửa Quan Âm là tất cả thanh. Cửa Phổ Hiền là chẳng dời bước. Còn ta nói cửa Văn-thù chẳng phải tất cả sắc. Cửa Quan Âm chẳng phải tất cả thanh. Cửa Phổ Hiền là cái gì? Chớ bảo là khác với Thiên Thai giáo nói. Vô sự hãy lui. 

Chúng ta thường nghe nói tất cả sắc là cửa Văn-thù, tất cả thanh là cửa Quan Âm, còn ngài nói tất cả sắc không phải là cửa Văn-thù, tất cả thanh không phải cửa Quan Âm. Dường như trái ngược nhau.

Như nói thấy sắc là thấy tâm, vậy tâm ở bên ngoài, phải không? Tôi thường ví dụ, con mắt chúng ta bị bệnh nên thấy không rõ ràng, khi nhỏ thuốc hết bệnh, thấy cảnh vật rõ, liền biết con mắt đã mạnh. Biết như vậy là nhờ trong này, không phải tại cảnh bên ngoài. Nhân có mắt mà biết cảnh, nếu cho rằng tâm ở bên ngoài thì không đúng.

Vì thế nói cửa Văn-thù là tất cả sắc, nhân tất cả sắc mà nhận ra mình có cái hay thấy. Cửa Quan Âm là tất cả thanh, nhân tất cả thanh mà nhận ra mình có cái hay nghe. Cái hay nghe không phải tất cả thanh, nhưng nhân thanh mà nhận ra được cái nghe.

Lời nói của ngài như có khác, sự thật là nói tột đến nơi để chúng ta thấy rõ yếu chỉ.

Sư dạy chúng: 

– Tất cả các ngươi! Trong ban đêm ngủ mê chẳng biết tất cả. Đã chẳng biết tất cả, thử hỏi khi ấy các ngươi có tánh xưa nay chăng? Nếu nói khi ấy có tánh xưa nay, mà khi ấy lại chẳng biết tất cả, cùng chết không khác? Nếu nói khi ấy không có tánh xưa nay, mà chợt thức giấc liền biết như xưa? Lại hội chăng? Chẳng biết tất cả cùng chết không khác, ngủ mê chợt thức giấc liền biết như xưa. Những khi như thế là cái gì? Nếu chẳng hội, mỗi người tự thể cứu lấy. Vô sự chớ đứng lâu. 

Đây là vấn đề thường làm chúng ta hoang mang. Khi ngủ mê như chết không biết gì, lúc đó có tánh xưa nay không? Có tánh giác sẵn hay là không có? Nếu có tại sao nói như chết? Nếu không có tại sao đánh kẻng thì giật mình thức dậy?

Như vậy khi ngủ mê sáu căn đóng bít, cái biết cũng có mà yếu nhẹ. Khi thức thì sáu căn mở nên biết rõ. Vì vậy nên khi ngủ mê thì phải làm cái gì mạnh mới hay biết, khi thức thì nói ở đâu cũng nghe được. Do đó trong lúc ngủ mê và trong lúc thức, tánh xưa nay không vắng lúc nào.

Niên hiệu Đại Trung Tường Phù năm đầu (1008) tháng hai, bất chợt Sư bảo đệ tử lớn là Như Trú: 

– Nên xây tháp cho ta, rằm tháng tám ta sẽ tịch. 

Như Trú vâng mệnh xây vừa xong xuôi, khi ấy dân chúng quan liêu xa gần đua nhau đến chiêm ngưỡng. Đúng ngày rằm, vẫn tham vấn như thường, đến giờ ngọ, Sư ngồi yên ở phương trượng tay kiết bảo ấn, lại bảo Như Trú: 

– Người xưa nói: “Cưỡi đầu cọp nắm đuôi cọp”, việc ở khoảng giữa lại thế nào? 

Như Trú đáp: 

– Cũng chỉ là Như Trú. 

Sư bảo: 

– Ngươi hỏi lại ta. 

Như Trú hỏi: 

– Cưỡi đầu cọp nắm đuôi cọp, việc khoảng giữa Hòa thượng làm sao? 

Sư đáp: 

– Ta cũng giở chẳng ra. 

Nói xong, Sư an nhiên hé một mắt xem rồi tịch. Sư thọ 67 tuổi, 42 tuổi hạ. 

Sư có trước tác Trúc Lâm Tập mười quyển hơn một nghìn bài thi, ca, từ. 


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.