Nội dung:
Sư mười chín tuổi làm đại tăng nghe kinh Viên Giác, trong hội này không ai bì kịp Sư. Sau đó Sư đi du phương, trước đến Lương Sơn chỗ thiền sư Duyên Quán.
Sự hỏi:
– Thế nào là đạo tràng vô tướng?
Lương Sơn chỉ hình Bồ-tát Quan Âm, nói:
– Cái này là do Ngô Xử Sĩ vẽ.
Sư suy nghĩ để nói tiếp, Lương Sơn nhanh nhẹn nói:
– Cái này có tướng, cái kia không tướng.
Sư nhân đó tỉnh ngộ, liền lễ bái.
Lương Sơn hỏi:
– Sao không nói lấy một câu?
Sư thưa:
– Nói thì chẳng từ, sợ e trên giấy mực.
Lương Sơn cười bảo:
– Lời này vẫn còn ghi trên bia.
Sư dâng kệ rằng:
Ngã tích sơ cơ học đạo mê
Vạn thủy thiên sơn mịch kiến tri
Minh kim biện cổ chung nan hội
Trực thuyết vô tâm chuyển cánh nghi.
Mông sư điểm xuất Tần thời kính
Chiếu kiến phụ mẫu vị sanh thì
Như kim giác liễu hà sở đắc
Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.
Dịch:
Con xưa học đạo cứ sai lầm
Muôn núi ngàn sông kiếm thấy nghe
Luận cổ bàn kim càng khó hội
Nói thẳng vô tâm lại sanh nghi.
Nhờ Thầy chỉ rõ thời Tần kính
Soi thấy cha mẹ lúc chưa sanh
Hiện nay giác ngộ đâu còn đắc
Đêm thả gà đen trong tuyết bay.
Lương Sơn bảo:
– Có thể làm hưng thạnh tông Tào Động.
Sở ngộ của ngài Cảnh Huyền từ cửa nào vào? Ngài hỏi: Thế nào là đạo tràng vô tướng? Lương Sơn chỉ tượng Bồ-tát Quan Âm, nói: Cái này là do Ngô Xử Sĩ vẽ. Ngài nghĩ để nói tiếp, Lương Sơn liền nói: Cái này có tướng, cái kia không tướng. Nhân đó Cảnh Huyền tỉnh ngộ. Qua bài kệ sau sẽ thấy cửa vào.
Ngã tích sơ cơ học đạo mê
Vạn thủy thiên sơn mịch kiến tri Minh kim biện cổ chung nan hội Trực thuyết vô tâm chuyển cánh nghi. Mông sư điểm xuất Tần thời kính Chiếu kiến phụ mẫu vị sanh thì Như kim giác liễu hà sở đắc
Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.
Ngã tích sơ cơ học đạo mê, con thuở xưa học đạo còn mê lầm. Vạn thủy thiên sơn mịch kiến tri. Muôn sông ngàn núi tìm thấy nghe, lặn lội nơi này nơi kia để tìm học thấy biết. Thấy biết chỉ là kiến giải, không thấy được đạo.
Minh kim biện cổ chung nan hội. Minh kim là bàn luận hiện tại, biện cổ là bàn luận chuyện xưa. Xưa nay biện biệt rành rẽ, nhưng rốt cuộc khó có thể hiểu được. Trực thuyết vô tâm chuyển cánh nghi. Nói thẳng vô tâm lại thêm sanh nghi. Chẳng biết vô tâm có gì không, vô tâm ra sao? Vì thế nghi ngờ.
Bốn câu để diễn tả sự nghi ngờ mê lầm trước sự học hỏi tìm hiểu của mình.
Mông sư điểm xuất Tần thời kính. Nhờ Thầy chỉ ra gương thời Tần. Thời Tần là thời xưa ở Trung Hoa, như thời Lý Trần của chúng ta. Nhờ thầy chỉ cho nhận ra gương thuở xưa. Khi nhận ra được rồi thì Chiếu kiến phụ mẫu vị sanh thì, soi thấy mặt mũi trước lúc cha mẹ sanh.
Hai câu này nói về duyên ngộ đạo của ngài. Nhờ thầy chỉ gương xưa, từ đó soi thấy mặt mày trước khi cha mẹ sanh, chỗ khác gọi là bản lai diện mục. Như vậy là từ cửa Văn-thù tiến vào. Ngài Lương Sơn chỉ hình tượng Quan Âm là hữu tướng, cái kia là vô tướng. Chỉ cảnh mà nhận ra tâm, từ tánh thấy mà vào.
Như kim giác liễu hà sở đắc. Như nay giác ngộ rồi thấy đâu có gì để được. Dạ phóng ô kê đới tuyết phi. Ban đêm thả gà đen mang tuyết bay. Câu này nói lên tông phong Tào Động, trong trắng có đen, trong đen có trắng. Gà đen là âm, tuyết là dương, trong âm có dương, hay là trong sự có lý, trong lý có sự, hai cái không tách rời nhau. Vì thế ngài Lương Sơn nói có thể làm hưng thạnh tông Tào Động.
Sau, Sư đến trụ tại núi Đại Dương khai đường giáo hóa.
Có vị tăng hỏi:
– Tùng lâm bát ngát, trống pháp ầm ầm, nhằm trên tông thừa nói bày thế nào?
Sư đáp:
– Y không có tin tức, đâu cho phù hợp.
– Hôm nay tông thừa đã nhờ Thầy chỉ dạy, chưa biết pháp từ ai, nối pháp người nào?
– Lương Sơn chỉ thẳng thời Tần kính, trước ngọn Trường Khánh một vẻ ngời (Lương Sơn điểm xuất Tần thời kính, Trường Khánh phong tiền nhất dạng huy).
Thế nào là cảnh Đại Dương?
– Hạc côi vượn lão kêu hang dội, tùng gầy trúc lạnh khói xanh che (Cô hạc lão viên đề cốc vận, sấu tùng hàn trúc tỏa thanh yên).
– Thế nào là người trong cảnh?
– Làm gì? Làm gì?
– Thế nào là gia phong Đại Dương?
Bình đầy nghiêng chẳng đổ, khắp nơi chẳng người đói (Mãn bình khuynh bất xuất, đại địa vật cơ nhân).
Thiền khách đầu tiên hỏi: Tùng lâm bát ngát, trống pháp ầm ầm, nhằm trên tông thừa nói bày thế nào? Ngài đáp: Y không có tin tức, đâu cho phù hợp. Về tông thừa này không có tin tức, không có hình dáng, không có câu lời, làm sao trình bày cho người thấy phù hợp được.
Tăng hỏi thêm về chỗ nối pháp, ngài nói: Lương Sơn chỉ thẳng thời Tần kính, trước ngọn Trường Khánh một vẻ ngời. Ngài được ngài Lương Sơn chỉ cho thấy gương thời Tần, tức là nhận ra lẽ thật nơi chính mình. Lúc ở Trường Khánh càng sáng tỏ thêm, đó là chỗ kế thừa của ngài.
Hỏi: Thế nào là cảnh Đại Dương? Ngài đáp: Hạc côi vượn lão kêu hang dội, tùng gầy trúc lạnh khói xanh che. Chim hạc thì cô đơn một mình, vượn già lão đều chỉ cho cảnh già nua đơn độc không ồn náo. Tùng gầy, trúc lạnh cũng là chỗ dứt bặt tin tức. Diễn tả như vậy là chỉ thẳng cảnh Đại Dương hiện tiền.
Hỏi: Thế nào là người trong cảnh? Ngài hỏi: Làm gì? Làm gì? Khi hỏi người trong cảnh, ngài hỏi lại: Làm gì? Làm gì? Đó là chỉ thẳng người trong cảnh.
Hỏi: Thế nào là gia phong Đại Dương? Ngài nói: Bình đầy nghiêng chẳng đổ, tròn đầy hết nhưng không bị đổ bị chảy. Khắp nơi chẳng người đói, đâu đâu cũng được no lòng.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Chư thiền đức! Phải rõ câu bình thường vô sanh, câu diệu huyền vô tư, câu thể minh vô tận. Câu thứ nhất thông một đường. Câu thứ hai không chủ khách. Câu thứ ba kiêm đới. Câu thứ nhất nói được là sư tử gầm rống. Câu thứ hai nói được là sư tử nhảy lùi. Câu thứ ba nói được là sư tử ngồi xổm. Buông ra thì khắp giáp mười phương, nắm lại thì một lúc chặt dứt. Chính khi ấy làm sao thông được tin tức? Nếu chẳng thông được tin tức thì, đến triều dâng Sở vương xem.
Câu thứ nhất thông một đường, câu thứ nhất đạt được là thấy được thể tánh. Câu thứ hai không chủ khách, câu thứ hai không còn đối đãi. Câu thứ ba kiêm đới, câu thứ ba thể dụng bao trùm hết.
Nếu không được là không có chỗ tri âm, không người hiểu thì đem dâng cho vua.
Tăng hỏi:
– Thế nào là câu bình thường vô sanh?
Sư đáp:
– Mây trắng che núi xanh, núi xanh đánh chẳng bày (Bạch vân phúc thanh sơn, thanh sơn đảnh bất lộ).
– Thế nào là câu diệu huyền vô tư?
– Bảo điện không người chẳng đứng hầu, không trồng ngô đồng khỏi phượng đậu (Bảo điện vô nhân bất thị lập, bất chủng ngô đồng miễn phượng lai).
– Thế nào là câu thể minh vô tận?
– Tay chỉ hư không, trời đất chuyển; ngựa đá xoay đường khỏi lưới lồng (Thủ chỉ không thời thiên địa chuyển, hồi đồ thạch mã xuất sa lung).
– Thế nào là sư tử gầm rống?
– Trọn khôngý ngó lại, đâu chịu rơi bình thường (Chung vô hồi cố ý, tranh khẳng lạc bình thường).
– Thế nào là sư tử nhảy lùi?
– Xoay đi quanh lại thảy về cha, đại dụng dấy lên thể chẳng thiếu (Chu toàn vãng phản toàn quy phụ, phồn hưng đại dụng thể vô khuy).
– Thế nào là sư tử ngồi xổm?
– Vượt hẳn máy lại qua, xưa nay không đổi khác (Quýnh tuyệt khứ lai cơ, cổ kim vô biến dị).
Tăng hỏi: Thế nào là câu bình thường vô sanh? Ngài đáp rõ: Mây trắng che núi xanh, núi xanh đảnh chẳng bày. Bình thường vô sanh là thể, như ngọn núi không động, khi chưa thấy đạo thì như núi bị mây che. Thể đó sẵn đầy nơi chúng ta, chỉ vì mê vọng che khuất nên không thấy.
Hỏi: Thế nào là câu diệu huyền vô tư? Ngài đáp: Bảo điện không người chẳng đứng hầu, không trồng ngô đồng khỏi phượng đậu. Bảo điện là chỗ vua ngự, nếu không có vua thì đứng hầu ai? Không có chủ thì không có khách, cũng như không trồng cây ngô đồng, chỗ đâu chim phượng đậu? Câu diệu huyền vô tư là chỗ không còn chủ khách, không còn ngã pháp.
Hỏi: Thế nào là câu thể minh vô tận? Ngài đáp: Tay chỉ hư không, trời đất chuyển; ngựa đá xoay đường khỏi lưới lồng. Đây là diệu dụng, khi tay chỉ lên hư không thì trời đất đều rung chuyển. Xoay đường lại, ngựa bằng đá nhảy khỏi lồng tơ trói buộc.
Hỏi: Thế nào là sư tử gầm rống? Ngài đáp: Trọn không ý ngó lại, đâu chịu rơi bình thường. Không có ý ngó lại là một đường tiến thẳng, không trở thành người tầm thường.
Hỏi: Thế nào là sư tử nhảy lùi? Ngài đáp: Xoay đi quanh lại thảy về cha, đại dụng dấy lên thể chẳng thiếu. Dù cho xoay quanh, lăng xăng lộn xộn thế nào cũng trở về ông chủ đó thôi. Đại dụng dấy lên không ngoài thể.
Hỏi: Thế nào là sư tử ngồi xổm? Ngài đáp: Vượt hẳn máy lại qua, xưa nay không đổi khác, chỗ đó vượt hẳn máy lại qua, tức là cái hay khéo qua lại nó còn vượt lên. Xưa nay không đổi khác, từ cổ chí kim chỉ vẫn như thế.
Tăng hỏi:
– Thế nào là câu Đại Dương thấu pháp thân?
Sư đáp:
– Đáy biển đại dương bụi hồng dấy, trên đánh Tu-di nước chảy ngang (Đại dương hải để hồng trần khởi, Tu-di đánh thượng thủy hành lưu).
Tăng hỏi: Thế nào là câu Đại Dương thấu pháp thân? Ngài đáp: Đáy biển đại dương bụi hồng dấy, trên đảnh Tu-di nước chảy ngang. Chỗ thấu pháp thân của ngài là cái nhìn theo tông Tào Động. Bụi thường dấy trên đất bằng, đây lại nói bụi dấy dưới đáy biển. Trên đỉnh núi thì nước chảy xuống, đâu nói trên đảnh Tu-di nước chảy ngang. Tinh thần thấu pháp thân của tông Tào Động, trong phi lý có hữu lý, trong hữu lý có phi lý.
Thường người học đạo hay tìm hữu lý, chê trách phi lý, nhưng đây luôn luôn nói những câu phi lý. Như ngài Liễu Quán nói “Ngựa đua dưới nước, thuyền chạy trên bờ”. Cái phi lý là lối nói ngược với thế gian, nhưng có ngược không? Hải Lượng Ngô Thì Nhậm cũng nói trong hữu lý có phi lý, mà phi lý lại là hữu lý. Như cây tre, khi mọc lên thì gốc ở dưới đất, ngọn hướng lên trời là hợp lý. Nhưng khi chúng ta chặt tre làm gậy thì gốc có củ rễ ở trên, đầu cắm xuống, hợp lý hay không?
Như vậy, trong phi lý lại có hữu lý. Chúng ta không nên cố chấp một chiều một bên. Nhà thiền thường nói những câu phi lý để dứt bặt dò xét suy gẫm. Chính trong chỗ không dò xét suy gẫm lại thấy được lẽ thật, chỗ dò xét suy gẫm được lại không nhận ra.
Sư tinh thần kỳ lạ, từ bé đến lớn chỉ ngày ăn một bữa; ở tại núi Đại Dương năm mươi năm mà chân không ra khỏi ranh giới, hông không dính chiếu.
Hồng không dính chiếu là chưa từng nằm, chưa ra khỏi ranh giới là chưa từng đi cúng, đi thăm Phật tử. Người xưa gan dạ mới làm nên việc lớn. Chúng ta bây giờ không can đảm, một năm không về thăm quê một lần thì cảm thấy buồn. Ít hôm muốn chạy thăm người này, ít hôm muốn chạy thăm người kia, ở một chỗ cảm thấy tù túng. Đó là cái yếu đuối của mình không làm chủ được.
Nhà Tống niên hiệu Thiên Thánh năm thứ năm (1027), ngày mười sáu tháng bảy, Sư từ chúng. Ba ngày sau, Sư viết bài kệ gửi thị lang Vương Thự, lược rằng:
Ngô niên bát thập ngũ
Tu nhân chí ư thử
Vấn ngã quy hà xứ
Đảnh tướng chung nan đổ.
Dịch:
Ta tuổi tám mươi lăm
Tu nhân đến thế ấy
Hỏi ta đi về đâu
Tướng đánh trọn khó thấy.
Sư dừng bút liền tịch.
Tướng đảnh là vô kiến đảnh tướng, tướng trên đảnh không ai thấy được, dụ cho pháp thân. Viết rồi ngưng bút tịch nhẹ nhàng.
Sư họ Du quê ở Thái Nguyên. Thuở bé Sư bẩm tánh thâm trầm, ít chịu trang sức, có trí tuệ lớn, tất cả văn tự không do thầy dạy mà tự thông hiểu. Năm mười bốn tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời, sống trong cảnh cô quả.
Sư xuất gia, thọ giới Cụ túc, quảy gói du phương. Đến nơi nào, Sư dừng lại thời gian ngắn, không thích ngắm nhìn. Hoặc bị chê gièm không có phong độ, Sư than rằng: Lời sao hẹp hòi thế! Tiên đức từ xưa đi hành khước, chính vì tâm thánh chưa thông nên rong ruổi quyết trạch, không phải du sơn ngoạn thủy.
Sư đã tham vấn qua bảy mươi mốt vị tôn đức, rốt sau mới đến thiền sư Niệm ở Thủ Sơn.
Thủ Sơn lên tòa. Sư ra hỏi:
– Bá Trượng cuốn chiếu, ý chỉ thế nào?
Thủ Sơn đáp:
– Áo rồng vừa phất toàn thể hiện (Long tụ phất khai toàn thể hiện).
Sự hỏi:
– Ý Thầy thế nào?
Thủ Sơn đáp:
– Chỗ tượng vương đi bặt dấu chồn (Tượng vương hành xứ tuyệt hồ tung).
Qua câu nói này, Sư đại ngộ liền đảnh lễ, rồi thưa:
– Muôn xưa đầm biếc nguyệt trong không, ba phen gạn lọc mới được biết (Vạn cổ bích đàm không giới nguyệt, tái tam lao lộc thủy ưng tri).
Sư dừng lại đây hầu hạ thời gian rất lâu.
Ngài Thiện Chiêu có những điểm đáng bắt chước, đáng học hỏi, đó là cuộc sống của ngài đơn sơ, đi tham vấn cốt yếu ngộ đạo chứ không phải đi du lịch. Chúng ta hiện nay thích du lịch tham quan, xem chỗ này chỗ kia, không vì muốn mở sáng mắt đạo.
Ngài đến tham vấn thiền sư Tỉnh Niệm, hỏi: Bá Trượng cuốn chiếu ý chỉ thế nào? Ngài Bá Trượng sau khi bị Mã Tổ véo lỗ mũi đau, trở về liêu khóc. Thị giả ở cùng phòng hỏi: Huynh nhớ cha mẹ phải không? Không. Tại sao khóc? Lỗ mũi tôi bị Hòa thượng véo đau. Đây là ngài Bá Trượng khôn ngoan muốn trình chỗ ngộ của mình, nên nói: Huynh muốn biết hỏi Hòa thượng. Ông thị giả hiền lành, hỏi Hòa thượng. Mã Tổ nói: Y ngộ rồi. Khi về thuật lại, ngài mừng quá, sáng hôm sau Mã Tổ vừa lên tòa, ngài ra lễ bái rồi cuốn chiếu lại, Mã Tổ trở về phương trượng, ngài đi theo.
Như vậy khi biết thầy đã chứng nhận mình ngộ rồi, lúc đó mới mạnh mẽ làm việc. Nên khi hỏi Ý chỉ thế nào? Ngài Thủ Sơn Tỉnh Niệm đáp: Áo rồng vừa phất toàn thể hiện. Nhà vua mặc áo rồng, lúc phất tay áo là lúc ban hành những việc quan trọng. Việc Bá Trượng cuốn chiếu là thể hiện tính cách mạnh mẽ của người ngộ đạo.
Ngài hỏi: Ý Thầy thế nào? Đó là chuyện của Bá Trượng, ý Thầy sao? Ngài Thủ Sơn trả lời: Chỗ tượng vương đi bặt dấu chồn. Con chồn nhỏ không chen chỗ voi đi được. Qua câu nói này ngài Thiện Chiêu đại ngộ, trình bày một câu quá hay, vừa văn chương mà hình ảnh rõ ràng.
Muôn xưa đầm biếc nguyệt trong không, ba phen gạn lọc mới được biết. Chúng ta đứng bên hồ hay đầm nước trong veo, đêm rằm nhìn xuống hồ thấy mặt trăng hiện rõ ràng. Thấy như vậy tưởng mặt trăng ở dưới hồ. Muốn biết mặt trăng thật có dưới đáy hồ không, phải nhảy ùm xuống lấy rổ xúc vớt mặt trăng lên. Vớt năm lần bảy lượt không được, chừng đó mới biết đây chỉ là bóng chứ không thật, ngó lên trời mới thấy mặt trăng thật. Hình ảnh này diễn tả rất hay. Bao nhiêu năm lặn lội đuổi theo bóng mặt trăng, bóng mặt trăng tức là cái điên đảo vọng tưởng của mình. Đến khi giật mình biết nó giả, nhìn lên không trung mới thấy mặt trăng thật. Hai câu mà nói lên chỗ sở ngộ rất khéo. Ngang đó thì ngài dừng trụ.
Sau, Sư từ tạ Thủ Sơn ra đi, đến khoảng Hành Tương, thái thú Trường Sa là Trương Mậu Tông dùng đủ cách cố thỉnh được Sư ở lại. Song Sư vẫn một bề từ chối, ban đêm lén trốn đi. Đến Tương Miện, thái thú Lưu Xương tám phen thỉnh trụ trì Động Sơn, Sư lặng lẽ chẳng đáp.
Niên hiệu Thuần Hóa năm thứ tư (993) Thủ Sơn đã viên tịch, chư tăng và cư sĩ ở Tây Hà họp lại hơn ngàn người đồng tâm cử Sa-môn Khế Thông đến thỉnh Sư trụ trì viện Thái Tử chùa Thái Bình ở Phần Dương. Sư đóng cửa nằm yên không tiếp, Khế Thông xô cửa vào thưa:
– Phật pháp là việc lớn, lui ở yên một chỗ là giữ tiết nhỏ. Hòa thượng Phong Huyệt sợ ứng với lời sấm ký lo tông chỉ diệt mất, may còn có Tiên sư nối nắm. Nay Tiên sư đã tịch, Thầy là người có khả năng gánh vác đại pháp của Như Lai, mà cam nằm ngủ yên sao?
Sư hoảng sợ, đứng dậy nắm tay Khế Thông bảo:
– Nếu không phải Thầy, tôi làm gì được nghe lời này. Chỉnh trang hành lý, tôi cùng đi vậy.
Đến nơi, Sư ở yên đến ba chục năm không ra khỏi cổng ngoài. Thời nhân kính mộ không dám gọi tên, đồng kêu là Phần Dương.
Có hai vị thái thú thỉnh trụ trì, ngài đều không nhận. Khi thầy tịch rồi, đại chúng cử người tới thỉnh, ngài đóng cửa không tiếp. Khế Thông xô cửa vào thưa: Phật pháp là việc lớn, lui ở yên một chỗ là giữ tiết nhỏ. Hòa thượng Phong Huyệt sợ ứng với lời sấm ký lo tông chỉ diệt mất, may còn có Tiên sư nối nắm. Nay Tiên sư đã tịch, Thầy là người có khả năng gánh vác đại pháp của Như Lai, mà cam nằm ngủ yên sao? Ngài hoảng sợ, đứng dậy nắm tay Khế Thông bảo: Nếu không phải Thầy, tôi làm gì được nghe lời này. Chỉnh trang hành lý, tôi cùng đi vậy.
Đến nơi, ngài ở yên đến ba chục năm không ra khỏi cổng ngoài. Chúng ta thấy người xưa năm chục năm không xuống núi, ngài Thiện Chiêu ba chục năm không ra khỏi cổng ngoài. Thời nhân kính mộ không dám gọi tên, đồng kêu là Phần Dương. Phần Dương là tên đất. Người xưa làm nên việc lớn phải có ý chí quyết liệt, dám làm dám chịu dám khổ sở, không phải như chúng ta bây giờ nhút nhát, khi vui thì ở, khi buồn thì đi. Nhiều khi nhập thất một tháng cũng nghe buồn thiu. Đó là vì sức của mình không mạnh mẽ.
Qua đoạn này chúng ta biết thêm ý nghĩa câu nói của ngài Khế Thông. Trọng trách của người tu không nên yên thân thủ phận, nếu không có khả năng thì thôi, có khả năng thì phải ra gánh vác việc lớn để truyền bá tông thừa, tiếp nối ngọn đèn chánh pháp. Đó là việc bổn phận. Nếu yên thân thủ phận, đó là nhỏ mọn ích kỷ không nên.
Sư thượng đường:
– Dưới cửa Phần Dương có con sư tử Tây Hà ngồi xổm tại cửa. Có người đến nó liền cắn chết. Vậy có phương tiện gì vào được cửa Phần Dương, thấy được người Phần Dương. Nếu thấy được người Phần Dương kham làm thầy Phật tổ, chẳng thấy được người Phần Dương trọn là kẻ chết đứng. Hiện nay có người vào được chăng? Cần vui vẻ vào, khỏi phải cô phụ bình sinh. Nếu không phải là khách Long Môn, tối kỵ sẽ bị điểm trán. Cái gì là khách Long Môn một loạt chỉ ra.
Sư đưa gậy lên, nói:
– Lui mau! Lui mau! Trân trọng.
Dưới cửa Phần Dương có con sư tử Tây Hà ngồi xổm. Có người đến nó liền cắn chết. Phần Dương là chỉ cho ông chủ, muốn đến với ông chủ thì có con sư tử đón ở ngoài, ít người vô được. Vô được đó, thấy được đó mới kham cùng Phật tổ làm thầy. Nếu thấy không được thì trọn là kẻ chết đứng.
Người xưa nói, nếu tâm còn một niệm vẫn là kẻ chết. Tại sao? Như người dùng pháp thuật, hiện ra trâu bò người cảnh… tất cả hoạt động. Người đi lại, trâu bò rống bình thường, nhưng chúng ta biết đó là biến hóa. Những hoạt động sống đó đều là giả dối không thật. Sống mà như chết, dù có hoạt động cũng xem như không. Chúng ta hiện giờ sống với vọng tưởng là thật hay giả? Thân tứ đại này thật hay giả? Sống với vọng tưởng với thân tứ đại mà không thấy được ông chủ, thì sống cũng như chết, đi đứng nói năng vẫn là kẻ chết. Thế gian sống với cái chết, người xuất thế biết sống với cái sống. Đó là sự siêu xuất, nếu sống với cái chết như thế gian thì mình cũng là kẻ bỏ đi, không nghĩa lý gì. Nếu tu mà cứ chạy quàng xiên, kiếm cái này nghĩ cái kia, dù cho học giỏi thông thuộc tam tạng kinh điển mà không thấy được ông chủ, không sống được với ông chủ thì cũng coi như người chết. Điều này rất quan trọng.
Người xuất gia khi thấy được ông chủ thì mới không cô phụ bình sinh, không luống uống qua một đời tầm thường.
Tăng hỏi:
– Thế nào là câu tiếp sơ cơ
Sư đáp:
– Ngươi là Tăng đi hành khước.
– Thế nào là câu biện nạp tăng?
– Phương tây mặt trời mọc giờ Mẹo.
– Thế nào là câu chánh lệnh hành?
– Ngàn dặm đem đến trình mặt xưa.
– Thế nào là câu lập càn khôn?
– Bắc Câu-lô châu hạt gạo dài, người ăn không sân cũng không hỷ (Bắc Câu-lô châu trường canh mễ, thực giả vô sân diệc vô hỷ).
Sư lại nói:
– Chỉ đem bốn chuyển ngữ này nghiệm nạp tăng trong thiên hạ, vừa thấy ngươi đi đến liền nghiệm được rồi.
Bốn chuyển ngữ này là bốn chuyển ngữ sống, không cho bàn luận.
Sư thượng đường:
– Phàm một câu nói phải đủ ba huyền môn, một huyền môn phải đủ ba yếu. Cái gì là câu ba huyền ba yếu? Khéo hội là tốt, mỗi người tự suy nghĩ, lại được ổn đáng hay chưa? Cổ đức xưa đi hành khước nghe một nhân duyên mà chưa liễu ngộ, thì ăn uống không biết ngon, nằm ngủ chẳng yên, gấp rút giải quyết chớ cho là việc nhỏ. Vì vậy mà Đại Giác lão nhân vì một đại sự nhân duyên xuất hiện ra đời. Xét ra các ngài từ trước đến nay đi hành khước, chẳng phải vì du sơn ngoạn thủy, xem những vẻ đẹp của châu phủ, thọ dụng manh áo chén cơm, đều vì tâm thánh chưa thông. Do đó mà ruổi giong hành khước, quyết trạch chỗ sâu kín truyền bá phô trương, rộng hỏi các bậc tiên tri (đã liễu ngộ), gần gũi những vị cao đức. Bởi vì muốn tiếp nối ngọn đèn Phật tâm, kế thừa chư Tổ làm rạng rỡ hạt giống thánh để tiếp dẫn kẻ hậu lai, tự lợi và lợi tha vậy.
Hiện nay có người thương lượng chăng? Có thì bước ra cùng toàn thể thương lượng.
Người học đạo chưa thông chưa rõ thì ăn không ngon, ngủ không yên, phải làm sao thông suốt gấp rút giải quyết việc lớn. Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên như kinh Pháp Hoa đã nói, chúng ta đi tu cũng vì một đại sự nhân duyên, làm sao lãnh hội được cứu cánh chân thật đó. Nếu chưa thông thấu được phải đi tham vấn học hỏi, gần thầy lành bạn tốt để thấy được nhận được. Mục tiêu của người tu là đạt đến cứu cánh để nối tiếp ngọn đèn Phật, kế thừa chư Tổ, đầy đủ tự lợi lợi tha. Tu mà không tìm ra, không sáng đạo thì dù thương đạo, muốn nối tiếp truyền thừa chánh pháp nhưng không hiểu thì nối cái gì truyền cái gì? Đó là điểm thiết yếu.
Có vị tăng ra hỏi:
– Thế nào là chỗ gắng sức của con?
Sư đáp:
– Gia Châu tạc tượng lớn.
– Thế nào là chỗ chuyển thân của con?
– Thiểm Phủ đúc trâu sắt.
– Thế nào là chỗ thân thiết của con?
– Tây Hà múa sư tử.
Những câu đáp của ngài, giống như lối hét của tổ Lâm Tế.
Sư lại nói:
– Nếu người hội được ba câu này là đã biện được ba huyền, lại còn ba yếu ngữ cần phải tiến lấy, không thể rảnh rang, cùng đại chúng tụng ra:
Tam huyền tam yếu sự nan phân
Đắc ý vong ngôn đạo dị thân
Nhất cú minh minh cai vạn tượng
Trùng dương cửu nhật các hoa tân.
Dịch:
Ba huyền ba yếu việc khó phân
Được ý quên lời đạo dễ gần
Một câu rành rõ gồm vạn tượng
Trùng dương ngày chín cúc hoa tươi.
Nói có ba huyền ba yếu, nhưng thật ra khó phân biện cái nào huyền, cái nào yếu. Cốt nói như thế để chúng ta được ý quên lời, không phải nói để chấp vào chữ nghĩa. Được ý quên lời thì gần đạo, được đạo rồi thì chỉ một câu mà thấu suốt được muôn tượng. Chính lúc đó là các pháp hiện hữu hiện tiền, như đến tiết Trùng dương thì hoa cúc nở.
Vì ở Tịnh Phần quá lạnh nên Sư cho bãi giờ tham vấn ban đêm. Có vị tăng lạ chống gậy đi đến bảo Sư rằng: “Trong hội có sáu vị Đại sĩ, tại sao không nói pháp?” Nói xong Tăng ấy đi mất, Sư mật ký một bài tụng:
Hồ tăng kim tích quang
Vị pháp đáo Phần Dương
Lục nhân thành đại khí
Khuyến thỉnh vị phu dương.
Dịch:
Tăng Hồ cầm gậy vàng
Vì pháp đến Phần Dương
Sáu người thành pháp khí
Nhắc thỉnh vì tuyên dương.
Ngày xưa ở các thiền môn, luôn luôn có hai thời tham vấn sáng và chiều, đôi khi thêm một thời tối nữa, gọi là dạ tham.
Tại sao chia có ba thời tham vấn? Vì trong chúng từ năm trăm người trở lên, nếu cho một người hỏi chừng mười lăm phút thì trong một buổi không thể giải quyết hết. Tham vấn rất quan trọng, để thiền sinh được trình bày chỗ nghi và vị thầy nhận ra trình độ chúng, chỉ dạy hoặc ấn khả… Chúng theo học ngài Phần Dương rất đông nên tham vấn thứ tự kẻ trước người sau, phải luôn cả ngày cả đêm. Trong ba thời ngài bớt đi một thời vì trời lạnh, có vị tăng lạ đến yêu cầu ngài nói pháp. Sức tu học tinh tấn đến như thế.
Sư thượng đường:
– Phàm một câu nói phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ ba yếu. Có chiếu có dụng, hoặc trước chiếu sau dụng, hoặc trước dụng sau chiếu, hoặc chiếu dụng đồng thời hoặc chiếu dụng chẳng đồng thời. Trước chiếu sau dụng, vẫn cần cùng ngươi thương lượng. Trước dụng sau chiếu, ngươi phải là cá nhân mới được. Chiếu dụng đồng thời, ngươi làm sao ngăn cản? Chiếu dụng chẳng đồng thời, ngươi làm sao kết hợp?
Trước chiếu sau dụng là trước hỏi để dò xét, sau đó khởi dụng. Như có Tăng đến thì hỏi: Ông người xứ nào? Ông tên gì?… Đó là trước chiếu. Đợi y trả lời hoặc có hành động gì, sau đó ngài hoặc hét hoặc đánh phạt hay đánh thưởng, đó là sau dụng.
Trước dụng sau chiếu, như gặp Tăng đến, ngài không nói gì mà hét một tiếng dò xét thử thái độ của ông tăng. Đó là trước dụng. Sau đó hỏi: Ông hội chăng? Ông nói ý chỉ thế nào?… Đó là sau chiếu. Chiếu là dò xét, dụng là hành động.
Chiếu dụng đồng thời, như gặp Tăng đến ngài hét, Tăng cũng hét, ngài đánh nói: Chẳng lễ bái đợi chừng nào? Đánh là dụng, hỏi là chiếu. Cả hai làm một lượt là chiếu dụng đồng thời.
Chiếu dụng chẳng đồng thời, như gặp Tăng đến, ngài đánh một gậy xem y động dụng thế nào, từ đó thương lượng hoặc chiếu hoặc dụng. Hoặc Tăng đến ngài không đánh hét, chào một câu: Ông mới đến!… Câu đó xem chừng để biết cách xử sự, hoặc là chiếu hoặc là dụng không nhất định.
Chiếu dụng hiểu như thế không khó, nhưng đây ngài nói nghe khó hiểu.
Tăng hỏi:
– Thế nào là nguồn đại đạo?
Sư đáp:
– Đào đất tìm trời.
Sao được như vậy?
– Chẳng biết u huyền.
– Thế nào là khách trong khách?
– Chắp tay trước am hỏi Thế Tôn.
– Thế nào là khách trong chủ?
– Đối diện không bạn bè.
– Thế nào là chủ trong khách?
– Hàng mây ngang trên biển, tuốt kiếm quậy Long Môn (Trận vân hoành hải thượng, bạt kiếm giảo Long Môn).
– Thế nào là chủ trong chủ?
– Ba đầu sáu tay giở trời đất, nổi giận Na-tra đập chuông vua (Tam đầu lục tỷ kình thiên địa, phẫn nộ Na-tra phốc đế chung).
Những câu trên là câu không cho suy nghĩ. Câu khách chủ thì cho suy tìm. Thế nào khách trong khách? Tức là chủ nơi đó và khách đến hỏi, cả hai đều không thông nên gọi là khách trong khách. Ngài đáp: Chắp tay trước am hỏi Thế Tôn. Ở trước am có Phật không? Đó là chuyện làm không dính dáng.
Thế nào là khách trong chủ? Trong chủ đã có khách. Ngài nói: Đối diện không bạn bè, vì có một chủ không có người thứ hai.
Thế nào chủ trong khách? Tức là ngay nơi khách mà làm chủ được. Ngài đáp: Hàng mây ngang trên biển, tuốt kiếm quậy Long Môn. Đó là diệu dụng.
Thế nào là chủ trong chủ? Ngài đáp: Ba đầu sáu tay giở trời đất, diệu dụng không thể tư nghì, giống như Na-tra nổi giận đập chuông vua. Chỗ tột cùng diệu dụng đầy đủ, không còn e sợ.
Sư thượng đường:
– Phần Dương có ba quyết,
– Nạp tăng khó biện biệt.
– Lại nghĩ hỏi thế nào?
– Cây gậy trên đầu bổ.
Khi ấy có vị tăng ra hỏi:
– Thế nào là ba quyết?
Sư liền đập. Tăng ấy lễ bái. Sư bảo:
– Vì ngươi một lúc tụng ra:
Đệ nhất quyết
Tiếp dẫn vô thời tiết,
Xảo ngôn bất năng thuyên
Vân trán thanh thiên nguyệt.
Đệ nhị quyết
Thư quang biện hiền triết
Vấn đáp lợi sanh tâm
Bạt khước nhãn trung tiết.
Đệ tam quyết
Tây quốc Hồ nhân thuyết
Tế thủy quá Tân La
Bắc địa dụng tân thiết.
Dịch:
Quyết thứ nhất
Tiếp dẫn không thời tiết,
Lời khéo không thể bày
Mây che trời trong nguyệt.
Quyết thứ hai
Phóng quang biện hiền triết
Hỏi đáp tâm lợi sanh
Nhổ ra định trong mắt.
Quyết thứ ba
Cõi Tây người Hồ thuyết
Sông Tế sang Triều Tiên
Đất Bắc dùng sắt thép.
Sư lại hỏi:
– Lại có người hội chăng? Hội được hãy ra báo tin tức, cần biết xa gần. Chớ ghi ngôn ghi ngữ như thế, thì hiện đời có gì lợi ích. Đứng lâu, trân trọng!
Quyết thứ nhất
Tiếp dẫn không thời tiết,
Lời khéo không thể bày
Mây che trời trong nguyệt.
Các ngài tiếp dẫn chúng sanh không lúc nào thiếu vắng, nhưng dù cho tất cả lời hay lẽ khéo cũng không thể nói đến chỗ chân thật, như mặt trăng bị mây che. Quyết thứ nhất này là chỉ cho thể chân thật sẵn có, ngôn ngữ nói không đến được.
Quyết thứ hai
Phóng quang biện hiền triết
Hỏi đáp tâm lợi sanh
Nhổ ra định trong mắt.
Quyết thứ hai này là phương tiện, dùng lời lẽ kẻ hỏi người đáp để làm lợi ích cho mọi người, như nhổ định tháo chốt khiến họ hết những dính mắc.
Quyết thứ ba
Cõi Tây người Hồ thuyết
Sông Tế sang Triều Tiên
Đất Bắc dùng sắt thép.
Quyết thứ ba là chỗ bặt ngôn ngữ, hết sử dụng, như đức Phật ở Ấn Độ, sông Tế chảy qua Triều Tiên, đất Bắc dùng sắt thép. Ví như chúng ta nói sông Đồng Nai chảy qua Biên Hòa, hoặc nói Bà Rịa có nhiều đá… chỉ cho sự thể hiện tiền, không dùng ý suy gẫm được.
Tăng hỏi:
– Người chân chánh tu hành chẳng thấy lỗi thế gian, chưa biết chẳng thấy lỗi gì?
Sư đáp:
– Tuyết chôn đêm trăng sâu ba thước, trên đất thuyền đi muôn dặm trình (Tuyết mai dạ nguyệt thâm tam xích, lục địa hành chu vạn lý trình).
– Hòa thượng là tâm hạnh gì?
– Lại là tâm hạnh của ngươi.
– Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
– Ba huyền mở đạo chánh, một câu phá tà tông (Tam huyền khai chánh đạo, nhất cú phá tà tông).
– Thế nào là kế sống của Hòa thượng?
– Bình thường tay chẳng nắm, cúng dường Tăng ngũ hồ (Tầm thường bất chưởng ác, cúng dường Ngũ hồ tăng).
– Chưa biết ăn cái gì?
– Cơm Thiên tô-đà chưa thịnh soạn, một vị canh ngon no liền thôi (Thiên tô-đà phạn phi trân soạn, nhất vị lương canh bão tức hưu).
Tăng hỏi: Người chân chánh tu hành chẳng thấy lỗi thế gian. Câu đó trích trong bài tụng Vô Tướng, kinh Pháp Bảo Đàn, chưa biết chẳng thấy lỗi gì? Ngài đáp: Tuyết chôn đêm trăng sâu ba thước, trên đất thuyền đi muôn dặm trình. Tuyết chôn trăng, thuyền đi trên đất. Đó là những câu nói không cho suy nghĩ.
Hỏi: Hòa thượng là tâm hạnh gì? Ngài nói: Lại là tâm hạnh của ngươi. Tâm hạnh của ta tức là tâm hạnh của ngươi.
Hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa thượng? Ngài đáp: Ba huyền mở đạo chánh, tam huyền tam yếu mở đạo chánh, một câu phá tà tông, một câu phá các tông tà.
Hỏi: Thế nào là kế sống của Hòa thượng? Ngài nói: Bình thường tay chẳng nắm, cúng dường Tăng ngũ hồ.
Hỏi: Chưa biết ăn cái gì? Ngài nói: Cơm Thiên tô-đà chưa thịnh soạn, một vị canh ngon no liền thôi. Cơm Thiên tô-đà là cơm các cõi trời tôn quý thơm tho, nhưng chưa thịnh soạn. Còn một vị canh này ăn no liền thôi. Canh của Tổ cúng dường là canh ngon hơn cả cơm Thiên tô-đà.
Sư thượng đường:
– Người thuyết pháp phải đủ mười trí đồng chân. Nếu chẳng đủ mười trí đồng chân thì tà chánh chẳng rành, tăng tục khó phân, không thể vì trời người làm mắt sáng để quyết đoán phải quấy. Như chim bay trong hư không mà gãy cánh, như bắn tên mà dây cung đứt. Vì dây cung đứt nên bắn không trúng đích. Vì cánh gãy nên chim không thể bay trong không. Dây cung chắc, đôi cánh cứng thì đích và hư không đều đạt được. Thế nào là mười trí đồng chân, sẽ cùng các Thượng tọa nêu ra: một đồng nhất chất, hai đồng đại sự, ba tổng đồng tham, bốn đồng chân trí, năm đồng biến phổ, sáu đồng cụ túc, bảy đồng đắc thất, tám đồng sanh sát, chín đồng âm hẩu, mười đồng đắc nhập.
Cùng người nào đồng đắc nhập? Cùng ai đồng âm hẩu? Thế nào là đồng sanh sát? Những vật gì đồng đắc thất? Cái gì đồng cụ túc? Là cái gì đồng biến phổ? Người nào đồng chân trí? Ai hay tổng đồng tham? Cái gì đồng đại sự? Vật gì đồng nhất chất? Có người nào điểm ra được chăng? Điểm ra được thì chẳng tiếc lòng từ bi. Điểm ra chẳng được thì chưa có con mắt của kẻ tham học. Cần phải biện lấy. Cốt biết thị phi, thấy được mặt mày. Chẳng nên đứng lâu. Trân trọng.
Mười trí đồng chân này có chỗ giảng qua những bài kệ nhưng quá dài nên tôi bớt đi, không trích hết những bài kệ. Tuy ngài phân chia ra mười trí nhưng nếu thể nhập được một thì tất cả đều đủ. Nếu có chia chẻ ra cũng chỉ là phương tiện.
Phủ doãn Long Đức là Lý Hầu cùng Sư có tình quen xưa, thỉnh Sư trụ trì chùa Thừa Thiên, sai sứ đi ba lần mà Sư vẫn không đến. Sứ giả bị phạt. Lý Hầu lại sai sứ đi một phen nữa. Sứ giả đến thưa:
– Quyết thỉnh Thầy đồng đi, nếu Thầy không đi tôi liều chết mà thôi.
Sư cười bảo:
– Bởi nghiệp già bệnh không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao quyết đồng?
Sứ thưa:
– Thầy chịu thì trước sau, tùy lựa chọn.
Ngày xưa, vương hầu là tước lớn ở trong triều. Là quan đầu phủ ở kinh đô, Lý Hầu có chùa, sai sứ thỉnh ngài trụ trì ba lần, ngài không nhận. Ông sai sứ đi một phen nữa, giao hẹn nếu thỉnh được ngài thì tốt, không được thì giết. Sứ giả thưa ngài, nếu không chịu đi thì tôi liều chết ở đây, không dám về. Ngài kẹt quá, giờ sao đây? Ngài nói: Thôi thì bởi nghiệp già bệnh, không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao quyết đồng? Sứ giả thưa: Chịu đi thì trước sau tùy lựa chọn, tôi chịu hết.
Sư bảo chúng thiết trai, chỉnh y phục, gọi chúng lại bảo:
– Lão tăng đi có người nào theo được?
Có vị tăng ra thưa:
– Con theo được.
Sự hỏi:
– Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm? Tăng thưa:
– Năm mươi dặm.
Sư bảo:
– Ngươi theo ta chẳng được.
Lại có vị ra thưa:
– Con theo được.
Sự hỏi:
– Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?
Tăng thưa:
– Bảy mươi dặm.
Sư bảo:
– Ngươi theo ta cũng chẳng được.
Thị giả ra thưa:
– Con theo được, chỉ Hòa thượng đến đâu thì con đến đó.
Sư bảo:
– Ngươi theo lão tăng được.
Nói xong, Sư bảo sứ giả:
– Ta đi trước nghe!
Sư dừng lại rồi tịch, Thị giả đứng khoanh tay tịch theo. Sư thọ 78 tuổi, 56 tuổi hạ.
Nếu Phủ doãn Lý Hầu không thỉnh thì chắc ngài chưa tịch. Bây giờ thỉnh ngặt quá, nếu không đi thì sứ giả sẽ bị giết, nếu đi thì già rồi đi mệt, thôi tịch cho khỏe.
Ngài tu đến bảy mươi tám tuổi, sức làm chủ của ngài mình cũng nể rồi, thị giả tu chưa bằng ngài mà dám nói Thầy đến đâu con đến đó. Nghe nói vậy tưởng đâu chỉ nói thôi, nhưng sự thật ngài đứng tịch, thị giả cũng khoanh tay tịch theo. Người xưa tu đến mức độ làm chủ hoàn toàn, nói được làm được, không phải thầy tịch rồi chỉ biết khóc. Đây thì từ vị lớn là bậc thầy, cho tới người nhỏ là thị giả đều tự tại trong lúc ra đi. Muốn đi lúc nào thì đi, sức tu hành của người trước, chúng ta phải kính phục.
Sư họ Cổ quê ở Ký Châu. Khi sắp thành niên, Sư đến viện Bảo Thọ ở Dịch Châu xuất gia và thọ giới Cụ túc. Đi du phương, Sư đến tham vấn Thủ Sơn.
Một hôm, Thủ Sơn đưa cây trúc bề lên hỏi:
– Gọi là trúc bề thì xúc chạm, chẳng gọi trúc bề thì trái mất, gọi là cái gì?
Sư chụp cây trúc bề, ném xuống đất, nói:
– Là cái gì?
Thủ Sơn bảo:
– Mù.
Sư nhân lời này hoát nhiên đốn ngộ.
Thuật của ngài Thủ Sơn đưa ra, nếu gọi trúc bề là xúc chạm, không gọi trúc bề thì trái mất. Nghĩa là hai bên, bên đây trật bên kia cũng sai, bên nào cũng không thể nói được thì làm sao? Chỉ có cách chụp quăng đi, nên ngài Quy Tỉnh mạnh bạo chụp cây trúc bề ném xuống đất nói: Là cái gì? Thủ Sơn bảo: Mù. Ngay đó ngài ngộ.
Sư khai đường, có vị tăng hỏi:
– Tổ Tổ tương truyền truyền Tổ ấn, nay Thầy được pháp nối người nào?
Sư đáp:
– Cõi trong thiên tử, bờ ngoài tướng quân.
– Một giọt nước biển nhờ Thầy chỉ, hướng thượng tông thừa việc thế nào?
– Trước điện Cao Tổ Phàn Khoái giận, nên biết muôn dặm bặt khói mù.
Hỏi chỗ kế thừa của ngài, ngài nói: Cõi trong thiên tử, bờ ngoài tướng quân. Hỏi hướng thượng tông thừa việc thế nào? Ngài đáp: Trước điện Cao Tổ Phàn Khoái giận, nên biết muôn dặm bặt khói mù.
Hán Cao Tổ là một ông vua uy thế lớn đã thâu nhiếp toàn Trung Quốc. Hạng Vũ muốn trừ Lưu Bang, nên bày yến tiệc ở Hồng Môn, đưa Lưu Bang vào thế nguy hiểm. Phàn Khoái liền xông vào bữa tiệc làm gián đoạn kế hoạch, nhằm bảo vệ Lưu Bang. Sau Lưu Bang dấy binh thống nhất Trung Hoa, từ đó các nơi bặt khói mù, tức là bình yên. Mượn hình ảnh này để diễn tả việc hướng thượng của tông thừa. Như chúng ta, khi không làm chủ được vọng tưởng thì bụi mù phủ kín, khi làm chủ được thì bụi mù tiêu tan.
Sư thượng đường:
– Tông sư huyết mạch hoặc phàm hoặc thánh, Long Thọ Mã Minh, thiên đường địa ngục, vạc dầu sôi lò than đỏ, ngưu đầu ngục tốt, sum la vạn tượng, nhật nguyệt tinh tú, phương khác cõi này, hữu tình vô tình… – Sư lấy tay vẽ một lằn, nói: – đều vào tông này. Trong tông này cũng hay giết người, cũng hay tha người. Giết người phải được đao giết người, tha người phải được câu tha người. Cái gì là đao giết người, câu tha người? Ai nói được bước ra đối chúng nói xem? Nếu nói không được là cô phụ bình sinh. Trân trọng.
Khi nghe người xưa nói nếu chúng ta cứ chạy theo câu nói thì không hiểu gì, ngài đưa tay vẽ một lằn ngang, khiến cho chúng ta thấy cái đó. Cái thật không nằm trong ngôn ngữ, phải từ cửa Văn-thù vào.
Sư cùng một vị tăng đi đường, nhân thấy thây người chết, Tăng hỏi:
– Xe ở đây mà trâu ở đâu?
Sư đáp:
– Ngươi đã bước chân đi.
Tăng thưa:
– Trâu cũng không mà đi cái gì?
Sư bảo:
– Ngươi đã không trâu, tại sao đạp nát gót chân?
Tăng thưa:
– Thế ấy là chính từ Diệp Huyện đến.
Sư bảo:
– Chớ chạy loạn.
Kinh Tạp A-hàm có câu chuyện Thất hiền nữ, bảy chị em dẫn nhau vào Thi lâm quán thây chết. Xứ Ấn Độ có tục lệ người chết đem thiêu, nếu không thiêu thì bỏ trong rừng để cho chim thú ăn, rừng đó gọi là Thi lâm. Các vị tu thường vào rừng này quán bất tịnh. Bảy người mới bước tới, thấy thây bỏ ngổn ngang, một cô em hỏi: Xe ở đây mà trâu ở đâu? Người chị trưởng hỏi: Nói gì? Nói gì? Bảy người đều ngộ đạo.
Tăng đem câu này ra hỏi: Xe ở đây mà trâu ở đâu? Xe là thân tứ đại, trâu là thần thức, khi chết thì thân ở đây mà thần thức đi đâu? Ngài đáp: Ngươi đã bước chân đi, nếu không có con trâu tâm thì chân ông biết đi đâu, cũng như không có con trâu đó thì ai biết nói, ai biết hỏi? Nên khi nghe hỏi: Nói gì? Nói gì? Ta liền thấy trâu. Như bà già ở Đầu Tử nói: Con mất trâu, xin Thầy bói cho một quẻ. Ngài Đầu Tử gọi: Bà già! Bà: Dạ. Ngài nói: Trâu còn đó.
Những lối nói khéo để diễn tả tính chất quan trọng của tâm, tất cả thấy được trâu. Người xưa xem thân này như cỗ xe, tâm thức như con trâu. Con trâu bị kéo xe là sướng hay khổ? Ngày nào còn kéo xe là ngày đó còn khổ, khi được mở xe bỏ lại thì khỏe biết chừng nào! Tại sao lúc sắp bỏ xe để thong thả bước đi mà lại khóc? Chỉ vì sợ mất xe mà quên trâu. Nếu biết có trâu rồi thì xe bỏ lại, ăn thua gì, con trâu được thảnh thơi. Người tu phải thấy được lẽ thật đó, không phải để trôi suông ngày tháng.
Tăng thưa: Trâu cũng không mà đi cái gì? Ngài quở: Ngươi đã không trâu, tại sao đạp nát gót chân? Nếu không có trâu, tại sao ông đi mòn chân? Tăng thưa: Thế ấy là chính từ Diệp Huyện đến. Diệp Huyện là chỗ của ngài.
Sư thượng đường giây lâu nói:
– Thiền sinh hành khước cần phải để tâm, tham học phải đủ con mắt tham học, kiến địa phải được câu kiến địa mới có phần tương thân, không bị các cảnh làm lầm, cũng chẳng rơi vào đường ác. Rốt cuộc làm sao cho xong? Có khi câu đến mà ý chẳng đến, vọng duyên tiền trần phân biệt bóng dáng. Có khi ý đến mà câu chẳng đến, như mù rờ voi mỗi người có lối nói khác. Có khi ý câu đều đến, đập nát cõi hư không ánh sáng soi mười phương. Có khi ý câu đều chẳng đến, người mù chạy ngang dọc bỗng nhiên rơi xuống hầm.
Ngài chia ra bốn cách nói:
Thứ nhất, có khi câu đến mà ý chẳng đến, tức là lời nói đến nhưng ý không đến. Đó là vọng duyên tiền trần, phân biệt việc bóng dáng, chỉ nhớ cảnh trước mà phân biệt bóng dáng, tức là không đạt được ý.
Thứ hai, có khi ý đến mà câu chẳng đến, như mù rờ voi mỗi người có lối nói khác. Cùng một con voi, đám người mù ai cũng rờ trúng hết, dụ cho ý đến, nhưng mỗi người diễn tả mỗi cách không giống nhau, là câu chẳng đến.
Thứ ba, có khi ý câu đều đến, đập nát cõi hư không ánh sáng soi mười phương. Ý và lời khiến mở tung chấp trước, thật là rực rỡ.
Thứ tư, có khi ý câu đều chẳng đến, đó là người mù chạy ngang dọc bỗng nhiên rơi xuống hầm. Tức là ý câu đều dở.
Có vị tăng thưa hỏi về cây bá của Triệu Châu.
Sư bảo:
– Ta chẳng tiếc nói với ngươi, mà ngươi có tin không?
Tăng thưa:
– Lời nói của Hòa thượng quý trọng, con đâu dám chẳng tin.
Sư bảo:
– Ngươi lại nghe giọt mưa rơi trước thềm chăng?
Vị tăng ấy hoát nhiên, bất giác thốt ra tiếng:
– Chao!
Sự hỏi:
– Ngươi thấy đạo lý gì?
Vị tăng làm bài tụng đáp:
Thiềm đầu thủy đích
Phân minh lịch lịch
Đả phá càn khôn
Đương hạ tâm tức.
Sư vui vẻ.
Giọt mưa trước thềm
Rành rẽ rõ ràng
Đập nát càn khôn
Liền đó tâm dứt.
Cây bá trước sân của Triệu Châu là công án nổi tiếng. Tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Ngài Triệu Châu đáp: Cây bá trước sân. Ngài có trả lời hay không? Ngài Quy Tỉnh lại nói: Ta chẳng tiếc nói với ngươi, ngươi có tin không? Tin thì ta nói, nếu không tin thì thôi. Tăng thưa: Lời nói của Hòa thượng, con đâu dám chẳng tin. Ngài nói: Ngươi lại nghe giọt mưa rơi trước thềm chăng? Ngay đó ông tăng ngộ.
Như vậy ngài Triệu Châu muốn chỉ cửa Văn-thù, ngài Quy Tỉnh lại nói hạt mưa rơi trước thềm là cửa Quan Âm, Tăng liền ngộ cây bá trước sân. Tổ sư từ An Độ sang chỉ cho chúng ta, hoặc cửa Văn-thù hoặc cửa Quan Âm, từ đó nhận được chính mình.
Sư bệnh sắp tịch, vị tăng khán bệnh đến, hỏi:
– Hòa thượng tứ đại vốn không, bệnh từ chỗ nào đến?
Sư đáp:
– Từ chỗ Xà-lê hỏi đến.
Tăng thưa:
– Khi con chẳng hỏi thì sao?
Sư đáp:
– Xuôi tay nằm dài trong hư không.
Tăng thốt:
– Chao!
Sư liền tịch.
Tứ đại vốn không thật thì bệnh từ đâu đến? Ngài nói từ chỗ Xà-lê hỏi đến. Ông hỏi bệnh thành ra thấy có bệnh, còn ta thì không có bệnh. Tăng nói: Khi con chẳng hỏi thì sao? Ngài đáp: Xuôi tay nằm dài trong hư không. Ngay đó liền tịch. Khỏe khoắn vô cùng.
Thiền sư Trí Tung ở Tam Giao, viện Thừa Thiên, cũng gọi Đường Minh. Ngài khế hợp nơi Thủ Sơn, có nhiều kỳ đặc.
Sư quê ở Phạm Dương, đến tham vấn Thủ Sơn.
Sự hỏi:
– Thế nào là đại ý Phật pháp?
Thủ Sơn đáp:
– Bên thành Sở vương sông Nhữ chảy về đông.
Sư nhân đây có tỉnh, khế hợp ý Phật, bèn làm bài kệ tam huyền:
Tu dụng trực tu dụng
Tâm ý mạc định động
Tam tuế sư tử hẩu
Thập phương một hồ chủng.
Ngã hữu chân như tánh
Như đồng mạc lý ẩn
Đả phá lục môn quan
Hiển xuất Tỳ-lô ấn.
Chân cốt kim cang thể khả khoa
Lục trần nhất phất vĩnh vô già
Khoách lạc thế giới không vi thể
Thể thượng vô vi chân đáo gia.
Dịch:
Cần dùng thì dùng ngay
Tâm ý chớ do dự,
Sư tử ba tuổi rống
Mười phương bặt giống chồn.
Ta có tánh chân như
In tuồng ẩn trong màn
Đập bể cửa lục môn
Ấn Tỳ-lô bày hiện.
Thật thể kim cang có thể bày
Sáu trần một quét mãi không che
Rỗng rang thế giới không làm thể
Trên thể vô vi thật đến nhà.
Câu hỏi đầu tiên của ngài: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài Thủ Sơn đáp: Bên thành Sở vương sông Nhữ chảy về đông. Như chúng ta nói: Bên chợ Biên Hòa sông Đồng Nai chảy về nam, là đại ý Phật pháp.
Ngay đó ngài ngộ, làm ba bài tụng. Bài thứ nhất: Cần dùng thì dùng ngay, ngay đó mà nhận. Tâm ý chớ do dự, nếu còn do dự suy nghĩ thì không đúng, không thấy được. Lúc đó như con sư tử ba tuổi đã biết rống. Mười phương bặt giống chồn, mười phương đều không còn giống chồn.
Bài thứ hai: Ta có tánh chân như, in tuồng ẩn trong màn. Tánh chân như nơi mọi người sẵn có, dường như bị tấm màn che khuất. Đập bể cửa lục môn, ấn Tỳ-lô bày hiện. Lục môn là cửa sáu căn; như vậy làm cho đui mắt, điếc tai… phải không? Ngay nơi sáu căn chúng ta dẹp được lục tặc thì ấn Tỳ-lô bày hiện, tức là pháp thân bày hiện.
Bài thứ ba: Thật thể kim cang có thể bày, sáu trần một quét mãi không che. Thể kim cang bày hiện, sáu trần bị quét sạch không còn che đậy nữa. Rỗng rang thế giới không làm thể, thế giới rỗng rang lấy hư không làm thể. Trên thể vô vi thật đến nhà, nhận được thể vô vi mới thật là đến nhà.
Thủ Sơn nghe xong, mời uống trà, hỏi:
– Ba bài tụng này phải ngươi làm ra chăng?
Sư thưa:
– Phải.
– Hoặc khi có người bảo ngươi hiện ba mươi hai tướng thì sao?
– Con không phải là hồ tinh.
– Tiếc lấy lông mày.
– Hòa thượng rụng nhiều ít?
Thủ Sơn cầm cây trúc bề đập trên đầu bảo:
– Kẻ này về sau làm loạn đây này.
Câu cuối cùng Kẻ này về sau làm loạn đây này, chính là ấn chứng chỗ sở ngộ của ngài.
Sư từ tạ Thủ Sơn, Thủ Sơn lấy cây gậy trao cho Sư. Sư nhận lấy, làm bài kệ:
Hòa thượng trụ trượng
Chiếu phá long tượng,
Lâm Tế gia phong
Cây gậy Hòa thượng
Soi phá long tượng,
Gia phong Lâm Tế
Lạc tại ngã chưởng.
Thủ Sơn bảo:
– Rơi trong tay con.
Chớ làm liên lụy nhau.
Sư đánh Thủ Sơn một tọa cụ. Thủ Sơn bảo:
– Quả nhiên liên lụy.
Sư thưa:
– Hôm nay đánh bại ông già này.
Thủ Sơn nói:
– Lại in tuồng được tiện nghi, lại in tuồng mất tiện nghi.
Đây là những lời đối đáp trước khi ra đi.
Sau, Sư trụ trì viện Thừa Thiên, khai đường dạy chúng:
Văn-thù trượng kiếm
Ngũ Đài hoành hành
Đường Minh nhất lộ
Bả đoạn yêu ngoa.
Tam thế chư Phật
Vị xuất giáo thừa
Võng để du ngư
Long Môn nan độ.
Thùy câu tứ hải
Chỉ câu nanh long
Cách ngoại huyền đàm
Vị cầu tri thức.
Dịch:
Văn-thù cầm kiếm
Ngũ Đài hoành hành.
Đường Minh một lối
Chặt đứt yêu ma.
Chư Phật ba đời
Chưa xuất giáo thừa.
Đáy lưới cá lội
Long Môn khó qua.
Thả câu bốn biển
Chỉ câu rồng dữ.
Cách ngoài nói huyền
Vì cầu tri thức.
Nếu là nêu cao tông chỉ, cần phải đập nát Tu-di. Nếu là nói Phật nói Tổ, nước biển liền phải khô kiệt. Khi xoay bảo kiếm hào quang muôn dặm, vạch cho các ngươi một con đường thông suốt nói thoại. Bóp nghẹt cổ họng, các ngươi chỗ nào ra hơi.
Đây là lối nói không cho suy nghĩ, nói một mạch thẳng, nhận được thì được, không nhận thì thôi.
Tăng hỏi:
– Kẻ độn căn ưa pháp nhỏ, không tự tin làm Phật, sau khi làm Phật thế nào?
Sư đáp:
– Trong nước bắt kỳ lân.
– Thế ấy ắt lên cao tòa?
– Cưỡi trâu lên trời Tam thập tam.
Kẻ độn căn ưa pháp nhỏ, không tự tin làm Phật, ý từ kinh Pháp Hoa. Tăng hỏi sau khi làm Phật thì thế nào? Nếu không tự tin thì sau khi làm Phật như thế nào? Ngài đáp: Trong nước bắt kỳ lân.
Thế ấy ắt lên cao tòa? Cưỡi trâu lên trời Tam thập tam.
Sư thượng đường:
– Ấm mát lạnh nóng, mặc áo ăn cơm tự chẳng kém thiếu, chạy lăng xăng tìm cái gì? Chỉ vì các ngươi chẳng chịu thừa đương (đảm nhận). Hiện nay lại có người thừa đương chăng? Có thì chẳng được cô phụ sơn hà đại địa. Trân trọng!
Ngài đã nói trắng ra. Khi chúng ta có cảm xúc ấm mát lạnh nóng, lúc biết ăn cơm biết mặc áo… ngay nơi đó có thiếu ông chủ bao giờ, lại chạy đi tìm cái gì? Chỉ vì không chịu nhận nên đi tìm đầu này đầu kia. Nếu chịu nhận thì đâu còn cô phụ ai.
Tăng hỏi:
– Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh?
Sư đáp:
– Quê nhà có đường không người đến.
– Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân?
– Ngầm truyền lệnh thiên tử, cùng đi trăm dặm đường.
– Thế nào nhân cảnh cả hai đều đoạt?
– Ễnh ương không đầu chân chỉ trời.
– Thế nào nhân cảnh cả hai đều chẳng đoạt?
– Bờ nam Tấn từ (đền thờ nhà Tấn) ngõ liễu dài.
Giải thích về Tứ liệu giản của tông Lâm Tế. Hỏi: Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh? Ngài nói: Quê nhà có đường không người đến. Có đường là cảnh, không người đến là không người. Đây là dẹp người không dẹp cảnh.
Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân? Ngài đáp: Ngầm truyền lệnh thiên tử, cùng đi trăm dặm đường. Người bộ hành cất bước đi trăm ngàn dặm, là có người. Đây là dẹp cảnh không dẹp người.
Thế nào nhân cảnh cả hai đều đoạt? Ngài nói: ễnh ương không đầu chân chỉ trời, là không còn gì để phải bàn phải nói nữa.
Thế nào nhân cảnh cả hai đều chẳng đoạt? Ngài nói: Bờ nam Tấn từ ngõ liễu dài, phía nam đền thờ nhà Tấn có bờ liễu dài. Đây là chỉ hiện tiền.
Trịnh Công Bộ vào viện thấy pháp tòa liền hỏi:
– Đây là tòa của người nào?
Sư đáp:
– Lão tăng.
Công Bộ nói:
– Nhà mình đâu dám.
Sư bảo:
– Công Bộ chớ ép người lành làm giặc.
Công Bộ nói:
– Cái thật.
Sư bảo:
– Chả dám.
Sư bèn nắm tay dẫn vào phương trượng. Công Bộ nói:
– Thất này từng hiện tám pháp chưa từng có khó được, Trưởng lão lại có hay chưa?
Sư lấy tay áo phất qua mặt Công Bộ. Công Bộ nói:
– Như thế thì ngày nay được mát mẻ.
Sư bảo:
Hãy làm mô phạm cho người sau.
Trịnh Công Bộ là vị quan đã ngộ lý thiền, nên đến chỗ của ngài xem như bạn. Ông thấy pháp tòa liền hỏi: Đây là tòa của người nào? Ngài đáp: Lão tăng. Công Bộ nói: Nhà mình đâu dám. Ngài có chứ tôi không có.
Ngài bảo: Công Bộ chớ ép người lành thành giặc. Vì Công Bộ cho rằng ngài là cao, tôi không có cái đó. Khi đề cao thì ngài hạ xuống.
Công Bộ nói: Cái thật. Ngài nói: Chả dám, rồi nắm tay dẫn vào phương trượng. Đến phương trượng, Công Bộ nói: Thất này từng hiện tám pháp chưa từng có khó được, Trưởng lão lại có hay chưa? Kinh Duy-ma-cật nói, thất của Duy-ma có tám pháp chưa từng có khó được, thất của ngài có được như thế không? Ngài lấy tay áo phất qua mặt Công Bộ, biểu thị cái kỳ đặc chưa từng có. Công Bộ nói: Như thế thì ngày nay được mát mẻ. Ngài bảo: Hãy làm mô phạm cho người sau.
Uống trà nói chuyện, Công Bộ nói:
– Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương thích xem bài kệ của tôi lắm.
Sư bảo:
– Xin cho xem.
Công Bộ đọc:
Hoàng chỉ hưu già nhãn
Thanh vân tự hữu âm
Mạc tương nhàn học giải
Mai một Tổ sư tâm.
Dịch:
Giấy vàng thôi che mắt
Mây xanh tự mát rồi
Chớ đem trò học hiểu
Chôn mất tâm Tổ sư.
Sư bảo:
– Công Bộ quen được tiện lợi.
Công Bộ nói:
– Đây là giặc.
Sư bảo:
– Lại chẳng tái khám.
Giấy vàng thôi che mắt. Thôi đừng dò dẫm sách vở, đừng để sách vở che mắt.
Mây xanh tự mát rồi. Mỗi người đã tự có mây xanh che mát rồi thì kiếm làm chi?
Chớ đem trò học hiểu, chôn mất tâm Tổ sư. Đừng đem việc học hiểu phân tích chia chẻ làm cho tâm Tổ sư bị khuất lấp.
Một ông cư sĩ làm được bài kệ như thế.
Sư thượng đường nhắc lại bài kệ của Pháp Nhãn:
Kiến sơn bất thị sơn
Kiến thủy hà tằng biệt
Sơn hà dữ đại địa
Đô thị nhất luân nguyệt.
Dịch:
Thấy núi chẳng phải núi
Xem nước nào khác gì
Núi sông cùng cõi đất
Trọn là một vầng trăng.
Cả thảy Pháp Nhãn chưa thấy ra khỏi nhà Niết-bàn. Tam Giao (chỉ Sư) thì chẳng vậy, thấy núi sông cùng cõi đất, dao dùi mỗi tự dùng. Trân trọng.
Tất cả núi không thật nước không thật, núi sông cõi đất đều không thật, chỉ một vầng trăng. Vầng trăng là gì? Chính chỗ đó ngài Pháp Nhãn nói tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.
Thiền sư Trùng Hiển ở Tuyết Đậu Minh Châu có liên hệ với Phật giáo Việt Nam. Đời vua Lý Thánh Tông có thiền sư Thảo Đường đệ tử ngài Trùng Hiển Tuyết Đậu, phát xuất thiền phái Thảo Đường.
Ngài Trùng Hiển là đệ tử ngài Trí Môn Quang Tộ, ngài Trí Môn Quang Tộ là đệ tử của thiền sư Đông Lâm Viễn, tức là thị giả Viễn của ngài Vân Môn. Như vậy ngài Trùng Hiển đời thứ tư tông Vân Môn, ngài Thảo Đường ở Việt Nam là đời thứ năm tông Vân Môn.
Sư họ Lý ở phủ Toại Ninh theo thượng nhân Nhân Tiển ở viện Phổ An xuất gia. Sau khi thọ giới Cụ túc, Sư dạo qua các nơi giảng kinh luận, nghiên cứu giáo lý tột cùng. Sư thưa hỏi lanh lẹ, biện luận thông suốt, các nơi đều nhận là pháp khí, bèn khuyên đi tham vấn thiền tông. Ban đầu Sư đến gặp thiền sư Trí Môn Quang Tộ.
Sư hỏi Trí Môn:
– Chẳng khởi một niệm, tại sao có lỗi?
Trí Môn gọi Sư lại gần. Sư vừa đến gần, Trí Môn cầm phất tử nhằm vào miệng Sư đánh. Sư toan mở miệng, Trí Môn lại đánh. Sư hoát nhiên khai ngộ. Sư ở lại đây năm năm, nhận tột chỗ u huyền, mới đi tham vấn khắp nơi.
Khi không khởi một niệm, tại sao có lỗi? Ngài Trí Môn kêu ngài lại gần, cầm phất tử đánh vào miệng. Toan mở miệng đáp, đánh cái nữa. Hoát nhiên đại ngộ. Khi không có một niệm thì có lỗi hay không lỗi? Còn hỏi lỗi ở chỗ nào, ngay đó liền đánh thì thấy.
Sư đến thiền sư Thông ở Động Sơn, Thông hỏi:
– Con trâu của Quy Sơn là ý thế nào?
Sư đáp:
– Làm tiêu bảng cho người sau.
Thông toan nói, Sư lấy tọa cụ phủi một cái rồi đi. Thông gọi:
– Hãy đến đây Thượng tọa!
Sư nói:
– Chưa đến nhà tham thiền.
Đây là một lối đối đáp. Hỏi về con trâu của Quy Sơn, vì ngài Quy Sơn nói sau khi ta chết làm con trâu ở dưới núi. Câu nói đó ý thế nào? Ngài nói: Làm tiêu bảng cho người sau, nghĩa là làm mô phạm cho người sau.
Đến Đại Long, Sư làm tri khách. Một hôm Sự hỏi:
– Nói đó nín đó chẳng phải, chẳng nói chẳng nín lại sai, thảy phải thảy chẳng phải, nắm lấy đại dụng hiện tiền thời nhân biết có, chưa biết Đại Long thế nào?
Đại Long đáp:
– Ngươi có kiến giải như thế.
Sư nói:
– Ông già này ngói bể băng tiêu.
Đại Long nói:
– Tha ngươi ba mươi gậy.
Sư lễ bái, trở lại chỗ chúng. Đại Long lại gọi:
– Tăng vừa hỏi thoại đến đây!
Sư bèn bước ra. Đại Long hỏi:
– Lão tăng tại sao lại ngói bể băng tiêu?
Sư thưa:
– Càng thấy bại khuyết.
Đại Long đổi sắc nói:
– Không chịu được! Không chịu được!
Đổi sắc tức là đỏ mặt, khi đối đáp rồi còn nghi ngờ, nên bị chê đại bại hay bại khuyết.
Sư ra trụ tại Thúy Phong, sau dời về Tuyết Đậu. Ngày khai đường, Sư đến trước pháp tòa nhìn đại chúng nói:
– Nếu luận bổn phận thấy nhau, chẳng cần lên pháp tòa cao.
Sư bèn lấy tay vẽ một lằn, nói:
– Quý vị nhìn theo ngón tay sơn tăng, vô lượng cõi nước chư Phật đồng thời hiện tiền, mỗi vị nên nhìn xem cho kỹ, nếu là chưa biết bờ mé, chẳng khỏi mắc lầy dính nước.
Sư bèn lên tòa. Thượng thủ bạch chùy xong. Có vị tăng mới bước ra, Sư nắm đứng lại, bảo:
– Chánh pháp nhãn tạng của Như Lai ủy thác tại ngày hôm nay. Buông đi thì ngói gạch phát ánh sáng, nắm đứng thì chân kim mất sắc. Quyền bính ở trong tay, giết tha tại lúc này. Có tác gia thì cùng nhau chứng cứ.
Có vị tăng bước ra hỏi:
– Xa lìa Tổ tịch Thúy Phong đến đạo tràng Tuyết Đậu, chưa biết là một là hai?
Sư đáp:
– Ngựa không phải thiên lý mà dối nói đuổi gió.
– Thế ấy mây tan nhà nhà trăng?
– Gã đầu rồng đuôi rắn.
Ngài lấy tay vẽ một lằn ngang, bảo: Nhìn theo ngón tay của lão tăng, vô lượng cõi nước chư Phật ở chỗ này. Chúng ta nghe nói vô lượng cõi nước chư Phật ở chỗ này, tưởng là nhìn theo ngón tay thì thấy, thật sai lầm.
Các ngài chỉ dạy trong sự khéo léo, nói đông nói tây mà cốt chúng ta nhận ra ông chủ. Khi nghe lời nói, không cần hiểu rõ mỗi chữ mỗi nghĩa, chỉ cần hiểu chỗ các ngài muốn chỉ. Đôi khi các ngài nói như thần chú, nói một mạch không cho kịp biết gì, lâu lâu vạch bày một cái vậy thôi.
Ngựa không phải thiên lý mà dối nói đuổi gió, theo sách xưa, ngựa chạy thật giỏi gọi là ngựa truy phong, nghĩa là đuổi gió. Thật ra con ngựa không chạy kịp với gió, chỉ vì ngựa hay nên người ta gọi là truy phong. Tên đó là tạm đặt không có thật. Ý ngài nói hoặc ở Thúy Phong hoặc ở Tuyết Đậu, tuy hai tên cũng chỉ là tên tạm thôi.
Hỏi: Thế ấy mây tan nhà nhà trăng? Tức là mây không còn, trăng chiếu khắp. Ngài đáp: Gã đầu rồng đuôi rắn. Đầu thì hay mà cuối thì dở.
Vị tăng khác hỏi:
– Đức Sơn, Lâm Tế gậy hét đã bày, Hòa thượng vì người thế nào?
Sư đáp:
– Bỏ qua một bước.
Tăng suy nghĩ. Sư liền hét. Tăng thưa:
– Chưa biết chỉ như thế hay còn có gì khác?
Sư đáp:
– Bắn cọp không trúng, uổng phí mũi tên.
– Thổi ốc pháp đánh trống pháp, quan quân đến hội, thế nào là phải?
– Gió mát đến chưa thôi.
– Như thế ắt được ngộ nơi Thầy?
– Một lời đã nói bốn ngựa khó theo.
Tăng lễ bái. Sư bảo:
– Bỏ qua một bước.
Câu nói theo châm ngôn của Trung Hoa Nhất ngôn ký xuất tử mã nan truy. Một lời đã nói ra thì bốn ngựa khó đuổi theo. Đôi khi các ngài dùng những ngôn ngữ của thế gian vào đây.
Sư xem khắp đại chúng bảo:
– Trời người khắp nhóm họp, phát minh việc gì? Đâu thể lẫn chia chủ khách đuổi theo vấn đáp là đúng tông thừa. Môn phong quảng đại oai đức tự tại, sáng vượt xưa nay, nắm đứng càn khôn, ngàn thánh chỉ nói “tự biết”, năm thừa đâu thể kiến lập. Sở dĩ trước lời ngộ ý chỉ, vẫn lầm đầu mối “cố – giám”, qua lời nói ngộ được tông môn, còn bị lầm hiện bày của tình thức.
Quý vị cần biết tướng chân thật chăng? Chỉ là về trước không đeo dính, về sau bặt thân mình, tự nhiên thường quang hiện tiền, mỗi mỗi vách đứng ngàn nhẫn. Lại biện minh được hay không? Chưa biện thì biện lấy, chưa minh thì minh lấy. Đã biện minh được, hay cắt đứt dòng sanh tử, đồng ở ngôi Phật tổ, diệu viên siêu ngộ chính ở khi này, kham đền cái ơn chẳng đền, dùng giúp giáo hóa pháp vô vi.
Ngài chỉ thẳng, mỗi người muốn biết cái chân thật của mình chăng? Muốn biết nó thì trước không đeo dính, sau bặt thân mình, nghĩa là trước không chấp cảnh, sau không thấy có thân, tự nhiên thường quang hiện tiền, mỗi mỗi đều là cao vót.
Nếu biện minh được chỗ chân thật đó thì dứt dòng sanh tử, được ở trong ngôi Phật tổ, mới kham đền cái ơn chẳng đền. Ơn chẳng đền là ơn gì? Như chúng ta thuyết pháp giáo hóa độ chúng sanh, đó là đền ơn Phật tổ.
Thường ở thế gian chúng ta giúp ai việc gì, mai sau họ giúp lại mình gọi là đền ơn. Đền ơn là trả thẳng cho người đã giúp mình. Như cha mẹ sanh ra chúng ta, nuôi dưỡng lớn khôn dạy dỗ cẩn thận, khi cha mẹ già chúng ta lo nuôi nấng lại, đó là đền ơn cha mẹ.
Chúng ta đền ơn Phật tổ cách nào? Giáo hóa chúng sanh, giảng kinh dạy đạo, nhưng Phật tổ đâu còn ở đây để nhận? Đức Phật thường dạy rằng, các ông giáo hóa chúng sanh, cứu độ chúng sanh là đền ơn ta vậy. Đó là đền mà không đền. Chúng ta nhận ơn Phật tổ, nhưng giúp ích lại cho người khác, gọi đó là đền ơn Phật.
Tăng hỏi:
– Thế nào là cởi áo ngự bào mặc y như xấu?
Sư đáp:
– Duỗi tay chẳng duỗi tay.
– Xin Thầy phương tiện.
– Mắt trái móc gân, mắt mặt bươi thịt.
Đó là những câu hoạt ngữ nên chúng ta không thể bàn tới.
Sư thượng đường:
– Đại chúng! Trước cùng xướng đáp, cũng cần là kẻ ấy mới được. Nếu người chưa có con mắt vượt nước xiết đi trên đao, chẳng nhọc đề ra. Do đó nói, như đống lửa lớn, chạm đến gần thì đốt cháy mặt, cũng như cầm ngang bảo kiếm Thái A, xông tới liền tan thân mất mạng.
Sư lại nói:
Cầm ngang Thái A nhà Tổ lạnh
Ngàn dặm cần nên dứt vạn đoan
Chớ chờ điện lạnh ngang đầu xẹt.
Sư lại bảo:
– Xem! Xem
Liền xuống tòa.
Cầm ngang Thái A nhà Tổ lạnh. Kiếm Thái A là kiếm bén danh tiếng của Trung Hoa, nếu cầm kiếm đó thì nhà Tổ lạnh nghĩa là không người dám đến gần.
Ngàn dặm cần nên dứt vạn đoan, muôn dặm dứt hết mọi manh mối thì mới dứt được cái đó.
Chớ chờ điện lạnh ngang đầu xẹt. Kiếm Thái A khi chặt đầu, người ta chỉ nghe hơi lạnh là đầu đã rơi rồi, không kịp nghe đau. Ngài bảo chúng phải sớm dứt mọi manh mối, đừng để đứt đầu rồi mới hay. Ngài lại bảo: Xem! Xem
Sư thượng đường, có vị tăng hỏi:
– Thế nào là Duy-ma một phen làm thinh?
Sư đáp:
– Hàn Sơn hỏi Thập Đắc.
– Như thế là vào cửa bất nhị?
Sư “Hư” một tiếng, lại bảo:
Duy-ma đại sĩ khứ hà tùng
Thiên cổ linh nhân vọng mạc cùng
Bất nhị pháp môn hưu cánh vấn
Dạ lai minh nguyệt thướng cô phong.
Dịch:
Đại sĩ Duy-ma đi không nơi
Ngàn xưa lắm kẻ trông vời với
Pháp môn bất nhị thôi chớ hỏi
Đêm về trăng sáng trên đánh đồi.
Đã là bất nhị thì hỏi cái gì? Hỏi liền thành nhị mất rồi.
Sư thượng đường nói:
Xuân sơn điệp loạn thanh
Xuân thủy dạng hư bích
Liêu liêu thiên địa gian
Độc lập vọng hà cực.
Dịch:
Núi xuân chồng chất xanh
Nước xuân lóng lánh biếc
Thênh thang bầu trời không
Đứng riêng trông nào tột.
Người xưa khi ngộ đạo rồi thì cảnh và người, người và cảnh không hai, nên thấy cảnh lúc nào cũng nên thơ, sống trong cảnh nào cũng thanh thản. Vì vậy các ngài thố lộ ra toàn là những lời thơ. Chúng ta thấy mình với cảnh là hai bên, cảnh vui thì hứng thú, cảnh buồn thì u sầu, lúc nào cũng không thanh thản.
Sư thượng đường:
– Chỗ ruộng đất ẩn mật Phật tổ còn chẳng dám gần, vì sao giở chân chẳng lên? Thần thông du ký quỷ thần không thể lường, vì sao để chân xuống chẳng được? Dù cho tung hoành nơi ngã tư, sáng đánh ba ngàn chiều đánh tám trăm.
Chỗ ẩn mật của Phật tổ, giở chân cũng không lên, mà thật có thần thông thì để chân xuống cũng không được. Đó là diễn tả chỗ chân thật, không cho chúng ta dính bên này bên kia, dù cho có tất cả đặc biệt như thần thông diệu dụng cũng không đạt đến đó được.
Thị giả của Bảo Hoa đến tham vấn Sư. Sự hỏi:
– Bảo Hoa có bao nhiêu chúng?
Thị giả thưa:
– Chẳng nhọc Hòa thượng như thế.
Sư bảo:
– Ta hỏi rành rẽ, ngươi nhảy chạy làm gì?
Thị giả thưa:
– Cũng chẳng được bỏ qua.
Sư bảo:
– Thật là sư tử con.
Uống trà xong, Sư nắm đứng thị giả, hỏi:
– Vừa rồi tại sao vô lễ?
Thị giả suy nghĩ, Sư cho một tát tai, bảo:
– Đi về thuật rõ lại cho Bảo Hoa.
Giai đoạn đầu, ngài hỏi bình thường, Bảo Hoa có bao nhiêu chúng? Thị giả khai trận liền: Chẳng nhọc Hòa thượng như thế, nếu nói nhiều nói ít thì sợ mắc kẹt, cho nên liền nhảy.
Ngài bảo: Ta hỏi rành rẽ, ngươi nhảy chạy làm gì? Thị giả nói: Cũng chẳng được bỏ qua. Sợ nói ra bị ngài bắt bẻ. Ngài khen: Thật là sư tử con. Dọ dẫm rồi uống trà xong mới nói, ngài nắm đứng thị giả, hỏi: Vừa rồi tại sao vô lễ? Khi nãy nhảy, giờ nhảy không khỏi nên suy nghĩ, ngài tát cho một tát, bảo: Đi về thuật rõ lại cho Bảo Hoa, vừa rồi biết nhảy, bây giờ không biết nhảy thành ra thua.
Sư làm bài tụng:
Đạo quý như ngu
Vũ quá hàn vân hiểu bán khai
Sổ phong như họa bích thôi ngôi
Không Sanh bất giải nham trung tọa
Nhã đắc thiên hoa động địa lai.
Dịch:
Mưa qua mây lạnh trời rạng đông
Dãy núi sắp bày xanh ngắt cao
Không Sanh chẳng hiểu ngồi trong núi
Khiến hoa trời rơi đất nghiêng chao.
Hai câu trên diễn tả cảnh, hai câu dưới nói về người. Không Sanh là ngài Tu-bồ-đề. Kinh Bát-nhã nói: Một hôm ngài Tu-bồ-đề ngồi lặng lẽ trong núi, chư thiên rải hoa cúng dường, ngài hỏi: Ai rải hoa? Chư thiên trả lời: Chúng con là trời Đế-thích. Hỏi: Tại sao rải hoa cúng dường? Thưa: Ngài giảng kinh Bát-nhã hay, nên chúng con cúng dường. Nói: Ta chưa từng nói Bát-nhã. Đáp: Ngài không nói, chúng con không nghe, đó là Bát-nhã.
Ngài ngồi yên lặng mà thiên hoa cúng dường, khôn mới được cúng dường hay ngu được cúng dường?
Lại có bài tụng:
Danh thật vô đương
Ngọc chuyển châu hồi Phật tổ ngôn
Tinh thông du thị ô tâm điền
Lão Lư chỉ giải trường thung mễ
Hà đắc phong lưu vạn cổ truyền?
Dịch:
Danh thật không gì bằng
Chuyển ngọc xoay châu Phật tổ bàn
Tinh thông vốn lại nhớp tâm điền
Ông Lư chỉ giỏi nghề giã gạo
Sao được danh truyền mãi muôn đời?
Chuyển ngọc xoay châu Phật tổ bàn. Lời nói của Phật tổ quý báu như châu lăn ngọc chuyển.
Tinh thông vốn lại nhớp tâm điền. Tuy thông suốt hết những lời đó nhưng vẫn còn nhơ tâm điền của mình.
Ông Lư chỉ giỏi nghề giã gạo, Lục Tổ khi tới chỗ Ngũ Tổ có học kinh nào đâu, chỉ lo giã gạo thôi.
Sao được danh truyền mãi muôn đời, cho đến bây giờ những lời ngài nói ra trong kinh Pháp Bảo Đàn, chúng ta vẫn học hoài. Ai cũng kính ai cũng nể, kính nể vì ngài học giỏi hay vì cái gì? Chỗ chân thật sống được, chính là muôn đời lưu truyền.
Một hôm Sư dạo núi nhìn xem bốn phía, bảo thị giả:
– Ngày nào lại đến ở đây?
Thị giả cầu xin kệ di chúc. Sư bảo:
– Bình sinh chỉ lo nói quá nhiều.
Hôm sau Sư đem gậy giày y bát chia cho đồ chúng, nói:
– Ngày bảy tháng bảy lại thấy nhau.
Đúng ngày mùng bảy tháng bảy, Sư tắm gội xong, nằm quay đầu về phía bắc an nhiên thị tịch. Nhằm năm Hoàng Hựu thứ tư (1052) nhà Tống, Sư thọ 73 tuổi, 50 tuổi hạ. Vua sắc thụy là Minh Giác đại sư.
Sư họ Đỗ quê ở Thiều Châu. Trong thời gian du phương, Sư ở Vân Cư làm hương đăng, thấy Tăng nói: “Đại thánh ở Tứ Châu gần đây xuất hiện ở Dương Châu.” Có vị tăng lập câu hỏi đem hỏi Sư:
– Đã là Đại thánh ở Tứ Châu, vì sao lại đến Dương Châu xuất hiện?
Sư đáp:
– Quân tử mến của cho đó là đạo.
Sau vị tăng ấy thuật lại cho am chủ Tường ở Liên Hoa Phong. Am chủ kinh hoảng nói:
– Con cháu Vân Môn vẫn còn.
Đến nửa đêm, ông hướng về Vân Cư lễ bái.
Câu nói có gì kỳ đặc mà kinh hoảng, phải đánh lễ? Quân tử mến của cho đó là đạo. Hệ thống tông Vân Môn là nói ngược, nên nói Đại thánh ở Tứ Châu xuất hiện ở Dương Châu. Như nói vị thánh ở Cần Thơ mà hiện ở Đồng Nai. Đó là lối nói không lý lẽ rõ ràng, ở nơi này mà nói nơi khác.
Khi đem câu đó ra hỏi, ngài đáp rằng: Quân tử mến của cho đó là đạo. Đạo của quân tử đâu phải ham thích tiền của, đây cho rằng quân tử thích tiền của, tức là nói ngược, thuộc con cháu tông Vân Môn. Nghe câu đó am chủ Tường ở Liên Hoa Phong đảnh lễ.
Sư về trụ tại Động Sơn, thượng đường có vị tăng hỏi:
– Đạt-ma chưa truyền ấn tâm địa, Thích-ca chưa mở hạt châu trong búi tóc, khi ấy nếu hỏi ý Tổ tây sang, lại có ý Tổ tây sang chăng?
Sư đáp:
– Tháng sáu mưa tầm tã, trùm khắp tâm bá tánh.
Thế ấy, mây tan nhà nhà trăng, xuân đến chốn chốn hoa?
– Gót chân giẫm đến mé nước kim cang là bao nhiêu?
Tăng không đáp được. Sư bảo:
– Tổ sư Tây sang đặc biệt đề xướng việc này, tự vì Thượng tọa chẳng tiến. Sở dĩ từ cửa mà vào chẳng phải của báu trong nhà, nhận bóng quên đầu đâu chẳng lầm lớn. Đã là Tổ sư Tây sang đặc biệt đề xướng việc này, đâu cần đối chúng nói lải nhải. Trân trọng.
Đạt-ma chưa truyền ấn tâm địa, Thích-ca chưa mở hạt châu trong búi tóc. Phật Thích-ca chưa mở hạt châu trong búi tóc là lúc nào? Trong kinh Pháp Hoa có một đoạn đức Phật ví dụ vua Chuyển Luân đem quân tướng đi đánh giặc. Khi thắng trận về, những vị tướng có công thì tặng thưởng lụa là châu ngọc, vị tướng giỏi nhất thì nhà vua mở hạt châu trong búi tóc tặng thưởng cho. Hạt châu này đặc biệt quý trọng không dễ dàng ban cho ai, chỉ có người công lao đặc biệt mới đem cho.
Phật cũng vậy, các vị Tỳ-kheo chứng quả A-la-hán là dụ cho những viên tướng thường, ngài nói Tứ đế, Thập nhị nhân duyên… Với các bậc kỳ đặc thì ngài nói kinh Pháp Hoa, như vua mở hạt châu trên búi tóc ban thưởng cho người tướng đặc biệt đó.
Khi ấy nếu hỏi ý Tổ tây sang, lại có ý Tổ tây sang chăng? Ngài đáp: Tháng sáu mưa tầm tã, trùm khắp tâm bá tánh. Có ý Tổ sư không? Mưa khắp hết không lựa chỗ nào, đâu đâu cũng ướt hết.
Hỏi: Thế ấy thì mây tan nhà nhà trăng, xuân đến chốn chốn hoa? Ngài đáp: Gót chân giẫm đến mé nước kim cang, là bao nhiêu? Nếu chân chúng ta đạp đến mé đất kim cang, thì có biết nước đó sâu bao nhiêu?
Tăng không đáp được, ngài bảo: Tổ sư Tây sang đặc biệt đề xướng việc này, tự vì Thượng tọa chẳng tiến. Sở dĩ, từ cửa mà vào chẳng phải của báu trong nhà, nhận bóng quên đầu đâu chẳng lầm lớn. Đã là Tổ sư Tây sang đặc biệt đề xướng việc này, đâu cần đối chúng nói lải nhải. Trân trọng. Ngài quở, việc đặc biệt của Tổ sư Tây sang mà Thượng tọa tiến không được. Nếu từ cửa mà vào thì không phải là của báu trong nhà, nhận bóng quên đầu đâu chẳng lầm lớn. Nhận bóng quên đầu là sao? Kinh Lăng-nghiêm nói, Diễn-nhã-đạt-đa soi gương thấy bóng đầu mặt trong gương cho là cái đầu thật. Úp gương lại không thấy, bèn hoảng chạy la: Tôi mất đầu! Đầu thật vẫn còn mà nhận bóng cho là đầu rồi quên cái đầu thật. Đó là lầm lớn. Tổ sư Tây sang đặc biệt đề xướng việc nhận lầm này. Biết được tin tức đâu cần phải nói huyên thuyên.
Sư thượng đường nói:
– Bảo sơn tăng nói cái gì mới được, xưa tức là nay, nay tức là xưa. Do đó, kinh Lăng-nghiêm nói: “Tùng ngay gai cong, cò trắng quạ đen.” Lại biết được chăng? Tuy nhiên như thế, chưa hẳn tùng một bề ngay, gai một bề cong, cò thì trắng, quạ thì đen. Động Sơn (chỉ Sư) nói nơi đây cũng có cây tùng cong, cũng có cây gai ngay, cũng có con cò đen cũng có con quạ trắng. Đứng lâu. Trân trọng!
Thông thường chúng ta cho rằng quạ thì đen, cò thì trắng, nhưng có những con cò ma không trắng, cũng có những con quạ chưa hẳn là đen. Nói cò trắng quạ đen là cách nói thông dụng, chưa hẳn là chân lý, đôi khi có những ngoại lệ. Chúng ta thường kẹt trong những câu nói rồi chấp chặt cho đó là chân lý.
Sư thượng đường:
– Mùa xuân lạnh nước đông, đêm đến tuyết thêm nhiều, lại thấy chăng? Khắp đất tuyết tràn trề, gió xuân lạnh như xưa, nói thiền nói đạo dễ, thành Phật thành Tổ khó. Trân trọng.
Nói thiền nói đạo dễ, thành Phật thành Tổ khó, nghĩa là mở miệng nói thế này thế kia, học lóm nói thì dễ, sống được với cái đó mới là khó.
Sư thượng đường:
– Tinh mơ gà gáy sáng, cháo xong trời rạng đông, lồng đèn vẫn còn ngủ, cột cái lại tỉnh tỉnh. Tỉnh tỉnh nói thẳng tỉnh tỉnh, rõ ràng nói thẳng rõ ràng, ngày sau tháng khác chớ nhận tớ làm thầy. Trân trọng.
Sư tự tay trồng cả muôn cây tùng ở trên ngọn núi phía đông. Trong khi trồng cây, Sư thường tụng kinh Kim Cang Bát-nhã. Người trong núi nhân đó đặt tên núi này là Kim Cang. Đang trong tùng, thiền sư Tiêu Dao hỏi:
– Ngọn núi ở đây Kim Cang ở chỗ nào?
Sư chỉ, nói:
– Gốc tùng này là đích thân lão tăng trồng.
Ngày mùng tám tháng sáu niên hiệu Thiên Thánh thứ tám (1030), Sư có chút bệnh, nhịn ăn bảy ngày, triệu tập hết tăng tục, nói:
– Pháp tịch này giao cho Tự Bảo trụ trì.
Sư liền lên tòa nói bài kệ Thấu pháp thân.
Tham thiền học đạo mạc man man
Vấn thấu pháp thân bắc đẩu tàng.
Dư kim lão đảo uông luy thậm
Kiến nhân vô lực đắc thương lương.
Duy hữu sừ đầu tri ngã đạo
Chủng tùng thời phục thưởng Kim Cang.
Dịch:
Tham thiền học đạo chớ mờ mờ
Hỏi tột pháp thân bắc đẩu tàng.
Nay tôi già yếu càng quá lắm
Thấy người không sức để luận bàn.
Đạo ta người hiểu chỉ cây cuốc
Những lúc trồng tùng lên Kim Cang.
Nói xong Sư liền thị tịch.
Khi từ giã, ngài nói rằng: Người học đạo cần thấy tột pháp thân, bây giờ tôi già yếu rồi không còn luận bàn gì nữa, đạo thật của tôi chỉ có cây cuốc kia trồng tùng trên đảnh núi Kim Cang.
Sư sanh trong nhà con hát nên không có họ, tánh tình liêm khiết cẩn thận kính trọng Phật thừa, xuất gia tại chùa Giáp Thạch. Làm tăng, Sư tu theo hạnh đầu-đà ăn cơm hẩm mặc y vá. Đến tham vấn thiền sư Giới ở Ngũ Tổ, Sư phát minh tâm địa tiếng tăm vang lừng. Ở hội Ngũ Tổ, Sư làm chủ tự.
Một hôm hòa thượng Giới bệnh, sai một cư sĩ đến kho lấy gừng sắc thuốc, bị Sư rầy không cho. Cư sĩ lên bạch lại Hòa thượng, Hòa thượng bảo đem tiền hoàn lại, Sư mới chịu lấy gừng trao cho. Nhân đây, hòa thượng Giới tâm càng mến trọng. Thời nhân gọi Sư là ông thầy bán gừng.
Thiền sư Tự Bảo ở Động Sơn cũng là con cháu của Vân Môn. Ngài làm tri khố khắt khe đến cỡ nào? Hòa thượng trụ trì bệnh, bảo lấy gừng sắc thuốc, gừng là của chúng, nếu lấy ngang ngài không cho, dù Hòa thượng cũng không cho. Hòa thượng biết ý bảo đem tiền hoàn lại, ngài mới chịu cho, từ đó nổi tiếng là ông thầy bán gừng.
Người xưa đối với của Tam bảo có trách nhiệm gìn giữ không để sơ sót, dù là Trụ trì mà tự tiện dùng của chúng không đúng pháp cũng không cho, huống là người thường. Ngài đem hết nhiệt tình gìn giữ của Tam bảo. Chúng ta bây giờ quá hời hợt, muốn dùng cách nào cũng được, đó là không biết giữ gìn.
Sau, Sư dạo các tòng lâm đến Động Sơn. Thiền sư Hiểu Thông trụ trì nơi đây cũng quý trọng Sư. Sau khi Hiểu Thông tịch, di chúc thỉnh Sư trụ trì.
Sư khai pháp ở Động Sơn, có vị tăng hỏi:
– Thế nào là Phật?
Sư đáp:
– Tương tợ đầu não.
Hoặc nói:
– Lưng dài chân ngắn.
Tăng hỏi:
– Sư xướng gia khúc tông phong ai? Nối pháp người nào?
Sư đáp:
– Lời vẫn ở tại.
– Thế ấy là con Ngũ Tổ Giới, là cháu Vân Môn.
– Ngày chạy năm trăm.
Sư dạy chúng:
– Thảy đều ở trong gió dừng sóng lặng đến, bỗng gặp sóng to nổi dậy, lượng cả ngập trời, chính khi ấy tìm kẻ thủy thủ khó được, trong chúng có người cầm lái hay không?
Chúng không đáp. Sư tiếp:
– Lừa hết mọi người trong thuyền.
Chúng ta chỉ được ở trong gió dừng sóng lặng, nếu khi gặp sóng to gió lớn thì tìm thủy thủ khó được. Nghĩa là khi sóng dừng gió lặng, thủy thủ ngồi đầy hai bên bệ thuyền, đến lúc sóng to gió lớn kiếm một chú không có. Tìm không được thì ai là người cầm lái?
Như vậy, khi bình an chúng ta thấy như mình làm chủ được chút chút. Khi gặp những chuyện náo động, cảnh duyên lôi cuốn chạy theo, không làm chủ được.
Sau, Sư dời đến trụ tại núi Quy Tông. Một hôm Sư chống gậy xuống núi, đi giữa đường gặp lính nạt dẹp đường:
– Tránh bên cho xe Huyện úy đi.
Sư đứng qua bên trái. Con ngựa kéo xe quan huyện úy thấy Sư liền quỳ mọp. Sư nói:
– Súc sanh này cũng biết người.
Huyện ủy biết là Sư liền xuống xe đảnh lễ. Sau đó ngựa mới chịu chạy.
Hồi xưa khi quan đi thì có lính đi trước nạt đường, như bây giờ nhân vật quan trọng đi có xe chạy còi hụ trước để mọi người dẹp qua hai bên. Ngài đi xuống núi, gặp xe Huyện ủy đi cũng phải tránh qua một bên. Con ngựa kéo xe quan huyện thấy ngài bèn quỳ mọp xuống không dám chạy. Ngài khen: Súc sanh này cũng biết người. Quan huyện úy biết đây là vị Hòa thượng có đức hạnh, xuống xe đảnh lễ. Sau đó ngựa mới chịu chạy.
Người tu giữ giới luật nghiêm trang, biết tôn trọng của Tam bảo là những vị có phước đức lớn. Phước đức như thế, đến loài súc sanh cũng nể trọng. Người không có giới đức, không biết quý trọng của Tam bảo, người đó tổn phước, bị quỷ thần chê cười.
Sư lại dời về trụ ở Vân Cư. Một đêm, Sơn thần kiệu Sư đi quanh chùa. Sư quở rằng:
– Khiêng lên phương trượng đi.
Sơn thần riu ríu khiêng lên phương trượng.
Sư vì người gìn giữ giới pháp rất tinh nghiêm.
Ban đêm sơn thần kiệu ngài đi dạo, mà ngài rầy: Trở về phương trượng đi. Sơn thần ríu ríu đi không dám cãi. Đức độ của ngài lớn lao như thế. Chúng ta thấy người xưa, nhờ tâm trong sạch, nhờ giới đức trang nghiêm nên tất cả đều quý kính.
Sư có làm bài Tán chân dung tổ sư Đạt-ma:
Tự:
Sư chân đồ mạc tam giới vô trước
Nghĩ dục an bài tri quân đại thác
Hư lao chỉ điểm hà xứ môn mô
Yếu thức Sư chân càn khôn khoách lạc.
Tán:
Sư tướng hề thế sở hy
Sư my hề trận vân thùy
Sư nhãn hề điện quang huy
Sư tỹ hề tủng Tu-di
Sư khẩu môn vô xỉ hề quá tại thùy?
Nghĩ thiệp lưu sa hề hà bất tự tri phi
Bỉ thử trượng phu hề truyền pháp dữ a thùy?
Cánh trụ Thiếu Lâm hề ma-la khước Tây quy.
Ngộ nạp tăng hề hảo dữ nhất đốn chùy
Tuy nhiên như thị hề bất hội mạc châm chùy.
Dịch:
Tựa:
Chân hình Thầy tít mù tam giới
Toan tính an bài, biết anh lầm lớn
Luống nhọc chỉ điểm chỗ nào mó sờ
Cần biết tướng Thầy, càn khôn thênh thang.
Tán:
Tướng Thầy chừ đời ít có
Mày Thầy chừ hàng mây rủ
Mắt Thầy chừ làn chớp sáng
Mũi Thầy chừ vượt Tu-di
Miệng Thầy không răng chừ lỗi tại ai?
Toan giẫm sa mạc chừ sao chẳng tự biết quấy
Kia đây trượng phu chừ truyền pháp cho ai?
Lại trụ Thiếu Lâm chừ hổ thẹn trở về Tây
Gặp thiền sinh chừ nên cho một trận
Tuy nhiên như thế chừ chẳng hội chớ dùi châm.
Bài tán này trong thiền môn rất được lưu hành.
Ngài làm bài tán khen ngợi bức chân dung của tổ Đạt-ma. Chân tướng của Tổ ra sao? Tướng ấy được lưu truyền qua tranh vẽ, qua sự tưởng tượng của người. Muốn vẽ chân hình Thầy tít mù tam giới. Hình Thầy trùm cả tam giới, chẳng ở trong giới hạn nào. Toan tính an bài, biết anh lầm lớn. Muốn suy tính an bày hình thế này thế kia, rất lầm. Luống nhọc chỉ điểm chỗ nào mó sờ. Đã là thênh thang thì làm sao chỉ điểm được, làm sao mó sờ được? Cần biết tướng Thầy, càn khôn thênh thang. Tướng Thầy là trùm cả càn khôn.
Tựa bài tán gồm bốn câu trên. Sau đây là lời tán:
Tướng Thầy chừ đời ít có. Tướng Thầy trên đời này ít có. Mày Thầy chừ hàng mây rủ. Mày Thầy như đám mây rủ. Mắt Thầy chừ làn chớp sáng. Vừa nói chân mày của Thầy như mây rủ, vừa nói mắt Thầy trong sáng như làn chớp, cũng vừa tả Thầy là mây, Thầy là chớp sáng. Mũi Thầy chừ vượt Tu-di. Lỗ mũi Thầy cao vượt núi Tu-di. Miệng Thầy không răng chừ lỗi tại ai? Ngài sang Trung Hoa lúc đó trên chín chục tuổi, nên không còn răng. Cũng có truyền thuyết nói ngài bị Lương Võ Đế đánh gãy răng.
Toan giẫm sa mạc chừ sao chẳng tự biết quấy. Kia đây trượng phu chừ nên truyền pháp cho ai? Ngài trượng phu, người khác cũng trượng phu mà truyền cho ai? Ngài có cái đó, người khác cũng có cái đó, truyền cho ai? Lại trụ Thiếu Lâm chừ hổ thẹn trở về Tây. Ngài ở Thiếu Lâm, khi tịch chôn trên núi Hùng Nhĩ, tại sao lại thấy quảy chiếc dép về Tây, về Ấn Độ?
Gặp thiền sinh chừ nên cho một trận. Tuy nhiên như thế chừ chẳng hội chớ dùi châm. Tuy như vậy nếu không nhận được không thấy được, đừng suy nghĩ, đừng tìm kiếm.
Bài tán này ý tứ rất hay.
Sư quê ở Long Tuyền, Xử Châu, cha họ Trần mẹ họ Diệp. Mẹ Sư nằm mộng thấy một luồng sáng chạm vào thân, nhân đó biết có thai. Đến khi Sư ra đời có nhiều điềm lạ.
Năm Sư mười lăm tuổi có vị tăng lạ thấy Sư liền vỗ sau lưng nói: “Ông nên xuất gia, trong trần tục không phải là chỗ của ông.” Năm mười bảy tuổi Sư đến chùa Long Quy ở quê nhà xuất gia. Năm mười tám tuổi Sư đến chùa Khai Nguyên ở Tín Châu thọ giới.
Giai đoạn đầu của ngài, từ khi mới sanh đến khi đi tu có những điềm lạ để chứng tỏ túc duyên của ngài đã có từ bao giờ chứ không chỉ trong đời này.
Khoảng niên hiệu Khai Bình (907-910) nhà Hậu Lương, Sư cất bước du phương. Trước đến núi Đầu Tử, Sư ra mắt thiền sư Đại Đồng, đó là buổi phát tâm ban đầu.
Kế, Sư tham vấn hòa thượng Tuần ở Long Nha. Sự hỏi:
– Bậc đại hùng vì sao gần chẳng được?
Long Nha đáp:
– Như lửa với lửa.
Sự hỏi:
– Chợt gặp nước đến thì sao?
Long Nha bảo:
– Ngươi chẳng hội.
Sư lại hỏi:
– Trời chẳng che đất chẳng chở, lý này thế nào?
Long Nha đáp:
– Nên như thế.
Sư không lãnh hội được, lại cầu xin chỉ dạy. Long Nha bảo:
– Đạo giả! Ngươi về sau tự hội.
Câu thứ nhất hỏi ngài Long Nha rằng: Bậc đại hùng vì sao gần chẳng được? Bậc đại hùng là chỉ cho Phật, không phải là Phật ở ngoài chúng ta, chính là Phật sẵn có nơi mình mà gần không được, tại sao?
Ngài Long Nha đáp: Như lửa với lửa. Lửa với lửa không khác, chẳng thể nói gần hay không gần. Ngài không hiểu, lại hỏi: Chợt gặp nước đến thì sao? Lửa đối với nước, lửa gặp nước thì tắt. Ngài tưởng đem câu đó ra bẻ là đúng, không ngờ nếu thấy có nước có lửa là hai bên, tức chưa thấy được đạo. Do đó ngài Long Nha bảo: Ngươi chẳng hội.
Câu thứ hai ngài hỏi thêm: Trời chẳng che đất chẳng chở, lý này thế nào? Tức là chỗ trời không che đất không chở đó thế nào? Ngài Long Nha đáp: Nên như thế! Ngài không lãnh hội được, lại cầu chỉ dạy. Long Nha bảo: Đạo giả! Ngươi về sau tự hội. Cái đó chỉ không được.
Sư đến tham vấn Sơ Sơn. Sư hỏi:
– Trăm vòng ngàn lớp là cảnh giới của ai?
Sơ Sơn đáp:
– Tay trái se dây gai trói con quỷ.
Sự hỏi:
– Chẳng rơi xưa nay thỉnh Thầy nói.
Sơ Sơn bảo:
– Chẳng nói.
Sự hỏi:
– Vì sao chẳng nói?
Sơ Sơn đáp:
– Trong ấy chẳng biện có không.
Sư thưa:
– Nay Thầy khéo nói.
Sơ Sơn kinh hãi.
Như thế, Sư đi tham vấn qua năm mươi tư vị thiện tri thức, mà pháp duyên chưa hợp. Sau cùng Sư đến Lâm Xuyên yết kiến thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích.
Câu hỏi thứ nhất: Trăm vòng ngàn lớp là cảnh giới của ai? Người còn mê lầm thì phiền não bao vây trăm vòng ngàn lớp, đó là cảnh giới gì? Ngài Sơ Sơn trả lời: Tay trái se dây gai trói con quỷ. Con quỷ có hình tướng không? Đem dây trói nó được không? Cái không có hình tướng, không thể trói được mà đem dây trói, nghĩa là trong khi mê tưởng có phiền não, chứ nó không thật.
Phiền não tham sân si… ai khi gặp cảnh bị nó bủa vây thì thấy như có trăm lớp. Đặt câu hỏi tìm xem nó thật hay không? Nếu thật thì lúc nào cũng phải có, nhưng khi tỉnh táo tìm thử coi tham sân si… ở đâu, tìm không có. Nếu cái gì thật thì trước sau vẫn có, cái gì khi có khi không, đợi duyên mới có là không thật. Không thật mà tưởng thật, chẳng khác nào cầm dây trói quỷ.
Ngài không hiểu, hỏi câu thứ hai: Chẳng rơi xưa nay thỉnh Thầy nói. Nói một câu đừng mắc kẹt xưa nay, nói được không? Ngài Sơ Sơn nói: Chẳng nói. Ngài hỏi: Tại sao chẳng nói? Đáp: Trong ấy chẳng biện có không. Vì trong ấy không biện có và không thì làm sao nói được. Ngài nói: Nay Thầy khéo nói. Thầy nói ra là bị rơi xưa nay rồi. Ngài Sơ Sơn kinh hãi.
Như thế đi tham vấn năm mươi tư vị thiện tri thức mà vẫn chưa ngộ. Ngài là người ra đời có những điềm lạ, đi học qua năm mươi tư vị thiện tri thức vẫn còn chưa ngộ, huống nữa chúng ta ra đời khóc oa oa không ai biết tới, đi tu cũng tự mình muốn đi chứ không ai nhắc thúc. Duyên của các ngài sâu dày mà còn khó khăn như vậy, huống nữa duyên mỏng như chúng ta không thể dễ dàng.
Sư do đi khắp các tùng lâm nên mỏi mệt lười thưa hỏi. Ở trong hội Pháp Nhãn, Sư chỉ theo chúng mà thôi.
Một hôm Pháp Nhãn thượng đường, có vị tăng hỏi:
– Thế nào là một giọt nước nguồn Tào?
Pháp Nhãn đáp:
– Là giọt nước nguồn Tào.
Vị tăng ấy mờ mịt thối lui. Sư ngồi bên cạnh hoát nhiên khai ngộ, bình sinh những mối nghi ngờ dường như băng tiêu, cảm động đến rơi nước mắt ướt áo. Sư trình chỗ sở ngộ cho Pháp Nhãn Pháp Nhãn bảo:
– Ngươi ngày sau sẽ làm thầy quốc vương, khiến ánh sáng đạo của Tổ sư rộng lớn, ta không sánh bằng.
Ông tăng hỏi: Thế nào là một giọt nước nguồn Tào? Nguồn Tào là nguồn Tào Khê, ý hỏi đường lối của Lục Tổ. Ngài Pháp Nhãn chỉ lặp lại câu đó: Là giọt nước nguồn Tào, không thêm gì hết. Ông tăng hỏi mà không ngộ, ngài ngồi bên cạnh lại ngộ. Không phải câu trả lời có nghĩa lý mới ngộ, mà người tu khi tâm chín muồi thuần thục rồi, chỉ đợi một chút duyên gợi lại liền hoát nhiên đại ngộ, không lường trước được. Cũng như trái cây chín muồi, chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua liên rụng. Vì vậy chỗ ngộ đó không giải thích được.
Sư dạo núi Thiên Thai xem những di tích của thiền sư Trí Khải dường như chỗ mình ở cũ. Sư lại đồng họ với Trí Khải. Thời nhân gọi hậu thân Trí Khải.
Nếu ngài là Trí Khải đại sư, thì đời trước đã là vị đại sư rồi, đến khi tái lại còn phải tham học lắm công phu. Nếu không phải là Trí Khải đại sư tái lai, tại sao đến đó thấy như chỗ mình quen biết cũ.
Ban đầu, Sư trụ tại Bạch Sa. Lúc đó, thái tử Trung Ý Vương trấn ở Thai Châu, nghe danh Sư thỉnh đến hỏi đạo. Sư bảo:
Ngày sau làm chủ thiên hạ nên nhớ ơn Phật pháp.
Đến niên hiệu Càn Hựu năm đầu (948) Thái tử lên ngôi, sai sứ thỉnh Sư, đối xử theo tình thầy trò.
Nhân duyên của ngài, khi Thái tử đến hỏi đạo, ngài dạy rằng: Ngày sau làm chủ thiên hạ, nên nhớ ơn Phật pháp. Đến khi Thái tử được làm vua, nghĩ rằng đó là Phật pháp ủng hộ, nên kính ngài làm Quốc sư.
Sư thượng đường nói:
– Thánh xưa phương tiện nhiều như hà sa. Tổ sư nói “không phải gió phan động mà tâm nhân giả động”, đây là pháp môn tâm ấn vô thượng. Chúng ta là khách ở trong pháp môn của Tổ sư, nên làm sao hội được ý Tổ sư. Chớ nói gió phan chẳng động mà tâm ông vọng động. Chớ nói chẳng bác gió phan, đến gió phan nhận lấy. Chớ nói chỗ gió phan động là cái gì? Có người nói gá vật sáng tâm chẳng cầu nhận vật. Có người nói sắc tức là không. Có người nói chẳng phải gió phan động nên phải khéo hội. Giải hội như thế đối với ý chỉ Tổ sư có gì giao thiệp. Đã chẳng cho hội như thế, chư Thượng tọa liền nên biết rõ. Nếu ở trong ấy ngộ được triệt để, có pháp môn nào mà chẳng rõ. Trăm ngàn phương tiện của chư Phật một lúc rỗng suốt, lại có chỗ nghỉ nào? Do đó, cổ nhân nói: Một liễu thì ngàn minh, một mê thì muôn lầm.
Chư Thượng tọa! Đâu phải ngày nay hội được một, ngày mai lại chẳng hội. Đâu phải có một phần việc hướng thượng khó hội, có một phần hạ liệt phàm phu chẳng hội. Kiến giải như thế dù trải qua số kiếp như bụi, chỉ tự mỏi mệt tinh thần đâu có lẽ phải.
Ngài dẫn câu chuyện gió động phan động trong kinh Pháp Bảo Đàn. Cả hai trường hợp, một nói gió động, một nói phan động, Lục Tổ không chấp nhận, Ngài nói tâm nhân giả động. Tại sao? Gió hay phướn, tất cả sự vật hiện hữu trên thế gian, không pháp nào rời nhân duyên mà thành. Có ra sự lay động này phải cộng cả gió cả phướn. Nhưng thế nhân nhìn sự vật chỉ một chiều, hoặc bên này hoặc bên kia. Cũng như chúng ta nói hoặc là có hoặc là không, ít khi nào nói cả có và không. Nếu nói vậy người ta cho mình ba phải.
Nhìn một bên, thấy một bên là thiên kiến thiên chấp. Có thiên kiến thiên chấp rồi thì có đấu tranh, ai cũng cho cái thấy của mình đúng, cái thấy của người sai. Gốc của đấu tranh náo động là cái nhìn thiên lệch sai lầm. Vì thế Lục Tổ bảo tâm nhân giả động.
Đây ngài Đức Thiều bảo chúng ta đừng nói gió phan chẳng động mà tâm ông vọng động, cũng đừng nói chẳng bác gió phan, đến gió phan nhận lấy… Chủ trương của ngài là ngay nơi gió động phan động mà nhận ra, thấy được lẽ thật thì đúng, còn lý luận cách này cách kia đều là sai. Vì vậy ngài bảo đừng nói cách nào, đừng nói gá vật sáng tâm… tất cả đều đừng nói, ngay khi nhận được thì nhận, không được thì thôi. Ngài kết thúc, cổ nhân nói: Một liễu thì ngàn minh, một mê thì muôn lầm. Một liễu tức một lần liễu ngộ, ngàn việc đều sáng, còn một lần mê lầm thì muôn việc đều lầm. Chúng ta bây giờ là liễu hay mê? Bởi mê nên thấy gì cũng trật, nói gì cũng sai.
Đâu phải ngày nay hội được một, ngày mai lại chẳng hội. Đâu phải có một phần việc hướng thượng khó hội, có một phần hạ liệt phàm phu chẳng hội. Kiến giải như thế dù trải qua số kiếp như bụi, chỉ tự mỏi mệt tinh thần đâu có lẽ phải. Chỗ ngộ này, một lần ngộ thì thấy tất cả, không phải ngộ từng phần, việc này ngộ còn việc kia chưa ngộ, nghĩ như vậy là sai lầm.
Sư có bài kệ dạy chúng:
Thông huyền phong đảnh
Bất thị nhân gian
Tâm ngoại vô pháp
Mãn mục thanh sơn.
Dịch:
Thấu huyền chót đánh
Chẳng phải nhân gian
Ngoài tâm không pháp
Đầy mắt núi xanh.
Pháp Nhãn nghe được bảo:
– Một bài kệ này có thể làm sống dậy tông của ta.
Tông của Pháp Nhãn đặc biệt được nêu lên ở câu Ngoài tâm không pháp. Đó là chủ yếu của lý duy tâm, nên ngài Pháp Nhãn khen ngợi, một bài kệ này đủ làm sống dậy tông của ngài.
Sư dời trụ tại chùa Bát Nhã mở hội thuyết pháp. Hội đầu, Sư dạy chúng:
– Một sợi lông nuốt biển cả, tánh biển không thiếu; một hột cải ném trên mũi nhọn, mũi nhọn không động. Thấy cùng chẳng thấy, hội cùng chẳng hội, chỉ ta biết vậy.
Có bài tụng:
Tạm hạ cao phong dĩ hiển dương
Bát-nhã viên thông biến thập phương
Nhân thiên hạo hạo vô sai biệt
Pháp giới tung hoành xử xứ chương.
Dịch:
Tạm xuống cao phong đã hiển dương
Bát-nhã viên thông khắp mười phương
Người trời bát ngát không sai khác
Pháp giới dọc ngang chốn chốn chương.
Ngài nói về lý Bát-nhã: Một sợi lông nuốt biển cả, tánh biển không thiếu; một hột cải ném trên mũi nhọn, mũi nhọn không động. Một sợi lông và biển cả, cái nào lớn cái nào nhỏ? Biển cả thì thênh thang, một sợi lông có nghĩa lý gì, tại sao một sợi lông nuốt biển cả? Lý Bát-nhã thấy tự tánh tất cả pháp là không, tất cả tướng lớn nhỏ… chỉ là giả tướng sai biệt. Trên tánh Không không có lớn nhỏ, tất cả bình đẳng, biển cả và sợi lông cũng bình đẳng, nên dung nhau không ngăn ngại.
Trong bài kệ ngài nói: Tạm xuống cao phong đã hiển dương, khi tạm xuống núi thì đã hiển dương lý này rồi. Bát-nhã viên thông khắp mười phương, lý Bát-nhã viên thông khắp hết mười phương. Người trời bát ngát không sai khác, dù cõi trời, cõi người lý này cũng đều thông suốt, bao trùm hết. Pháp giới dọc ngang chốn chốn chương, toàn pháp giới nào dọc nào ngang, chỗ nào cũng hiện bày Bát-nhã. Đây nói thể Bát-nhã bao trùm hết, không có nơi chốn, nếu là dụng Bát-nhã tức là trí quán chiếu thì có giới hạn.
Có vị tăng hỏi:
– Người xưa nói: “Người thấy Bát-nhã liền bị Bát-nhã trói, người chẳng thấy Bát-nhã cũng bị Bát-nhã trói.” Đã thấy Bát-nhã vì sao lại bị
– Bát-nhã trói?
Sư đáp:
– Ngươi nói Bát-nhã thấy cái gì?
– Chẳng thấy Bát-nhã vì sao cũng bị Bát-nhã trói? – Ngươi nói Bát-nhã chỗ nào chẳng thấy?
Sư lại bảo:
– Nếu thấy Bát-nhã chẳng gọi là Bát-nhã, nếu chẳng thấy Bát-nhã cũng chẳng gọi là Bát-nhã. Hãy bảo nói cái gì là thấy chẳng thấy? Sở dĩ cổ nhân nói: “Nếu thiếu một pháp chẳng thành pháp thân, nếu dư một pháp cũng chẳng thành pháp thân; nếu có một pháp chẳng thành pháp thân, nếu không một pháp cũng chẳng thành pháp thân.” Đây là chân tông Bát-nhã vậy.
Chúng ta có nghi không? Thấy Bát-nhã thì bị Bát-nhã trói, không thấy Bát-nhã cũng bị Bát-nhã trói. Bát-nhã là trí tuệ sáng suốt, đã được sáng suốt làm sao bị trói?
Như ngài Thiệu Tu nói: “Pháp đầy đủ nơi phàm phu mà phàm phu chẳng hội, pháp đầy đủ nơi thánh nhân mà thánh nhân chẳng biết. Thánh nhân nếu hội tức đồng phàm phu, phàm phu nếu biết tức đồng thánh nhân.” Pháp ấy chỉ cho Bát-nhã, là thấy Bát-nhã liền bị Bát-nhã trói, Bát-nhã là cái bị thấy, không phải chính mình. Như vậy là bị trói, còn nếu không thấy Bát-nhã tức là mờ mịt, cũng bị trói.
Làm sao khỏi cái họa đó? Chỉ nói Bát-nhã là Bát-nhã. Không nói thấy không thấy, vì thấy và không thấy là hai bên nên bị trói, còn Bát-nhã là Bát-nhã thì hết trói.
Nếu thấy Bát-nhã chẳng gọi là Bát-nhã, nếu chẳng thấy Bát-nhã cũng chẳng gọi là Bát-nhã. Hãy bảo nói cái gì là thấy chẳng thấy? Sở dĩ cổ nhân nói: “Nếu thiếu một pháp chẳng thành pháp thân, nếu dư một pháp cũng chẳng thành pháp thân; nếu có một pháp chẳng thành pháp thân, nếu không một pháp cũng chẳng thành pháp thân.” Đây là chân tông Bát-nhã vậy.
Bát-nhã là pháp thân, nói có thấy không thấy, nói có không, nói dư thiếu cũng là bệnh. Tất cả hai bên đều không hợp với pháp thân. Muốn thấy pháp thân nhập pháp thân, đừng thấy khen chê, có không… thì rất khỏe. Chỉ vì chúng ta thấy hai bên, tâm luôn chạy đầu này hướng đầu kia nên không an. Nếu thấy hai bên đều không thật, tự đã an rồi. Thế nên phải biết pháp thân không còn kẹt hai bên, pháp thân tức là Bát-nhã.
Hội thứ tư, Sư thượng đường dạy chúng:
– Cổ nhân nói: “Thế nào là thiền? Tam giới miên miên. Thế nào là đạo? Thập phương hạo hạo.” Vì sao nói tam giới miên miên? Chỗ nào là đạo lý của thập phương hạo hạo? Cần hội chăng? Bít mắt lại, bít tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại, không chỗ rỗng thiếu, không chỗ chuyển động. Thượng tọa hội chăng? Ngang cũng chẳng được dọc cũng chẳng được, buông ra cũng chẳng được, đoạt đi cũng chẳng được, không có chỗ dụng tâm cũng không có chỗ lập bày. Nếu hội được như thế mới là pháp môn bặt chọn lựa, tất cả ngôn ngữ dứt rỉ chảy.
Thế nào là thiền? Tam giới miền miên. Thế nào là đạo? Thập phương hạo hạo. Miên miên là dày dặn khít khao. Thiền là sẵn đầy trong tam giới, không hở không trống. Hạo hạo là thênh thang bát ngát. Đạo là cái thênh thang bát ngát bao trùm cả mười phương. Như vậy thiền đạo trùm cả mười phương, không một chỗ nào hở trống, nên nói một mũi kim xuyên qua cũng không được, đó là miền miên, không nơi nào thiếu đó là hạo hạo.
Đã trùm khắp mười phương không hở không trống, thì hỏi chỗ nào cần hội? Muốn nhận được thiền đạo đó, bít mắt lại, bít tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại, không chỗ rỗng thiếu, không chỗ chuyển động. Đây là trọng tâm tu ở sáu căn. Nếu sáu căn khéo bít lấp thì thông suốt, nếu không khéo để lục tặc dẫn đi thì chúng ta bị trói buộc. Đây nói bít lấp lại, là bít lấp lục tặc ở sáu căn. Nếu lục tặc ở sáu căn mà đập tan hay bít được thì trở thành lục thông. Như vậy tuy nói nhiều pháp môn tu, nhưng đều từ sáu cửa đó.
Mắt thấy mà không chạy theo cảnh, tai nghe mà không chạy theo tiếng, tu dễ hay khó? Vì chạy theo nên tu khó, bị lục tặc phá tan hoang sự nghiệp, khó thấy thiền đạo. Chủ yếu chúng ta làm sao? Mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe mà không bị dính, không bị lôi cuốn, đó là cái gốc để thấy thiền thấy đạo. Ai có quyền hưởng được điều này? Không dành riêng ai, chỉ người nào khéo một chút thì được, còn không khéo thì suốt đời không bao giờ được.
Vì vậy ngài nói: Ngang cũng chẳng được dọc cũng chẳng được, buông ra cũng chẳng được, đoạt đi cũng chẳng được, không có chỗ dụng tâm cũng không có chỗ lập bày. Đạo là trùm hết, làm gì cũng là đạo, chỗ nào cũng là đạo. Nếu sáu căn không còn bị dính mắc, thì tự nhiên sẽ thấy nó thênh thang bát ngát.
Hội thứ sáu, Sư thượng đường dạy chúng:
Phật pháp hiện thành, tất cả đầy đủ. Người xưa nói: “Tròn đồng thái hư không thiếu không dư.” Nếu như thế thì cái gì thiếu cái gì dư, cái gì phải cái gì quấy? Ai là người hội, ai là người chẳng hội? Do đó nói, đi đông cũng là Thượng tọa, đi tây cũng là Thượng tọa, đi nam cũng là Thượng tọa, đi bắc cũng là Thượng tọa. Thượng tọa tại sao được thành đông tây nam bắc? Nếu hội được, tự nhiên con đường thấy nghe hiểu biết bặt dứt, tất cả các pháp hiện tiền. Vì sao như thế? Vì pháp thân không tướng, chạm mắt đều bày, Bát-nhã vô tri đối duyên liền chiếu, một lúc hội triệt để là tốt.
Chư Thượng tọa! Kẻ xuất gia làm gì? Cái lý bản hữu này chưa phải là phần bên ngoài. “Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn.” Nếu biết rõ ràng, không còn một mảy tơ làm chướng ngại. Thượng tọa đứng lâu, trân trọng.
Pháp thân hiện hữu trùm khắp, nên nói Phật pháp hiện thành, ngay hiện tại đây không xa xôi. Tín Tâm Minh nói: Tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, đã không thiếu không dư thì chỗ nào không có?
Ngài dùng ví dụ chúng ta đi đông, đi tây, đi nam, đi bắc, khắp bốn phương nhưng là mấy người? Chỉ một mình thôi, bốn phương có tên khác, nhưng người đi chỉ là một. Như vậy tuy nói mười phương ba đời… nhưng cũng chỉ là ta thôi không có gì khác.
Pháp thân không tướng, chạm mắt đều bày, pháp thân không có tướng mạo, nơi nào mở mắt ra nhìn thấy đều không ngoài pháp thân. Bát-nhã vô tri, đối duyên liền chiếu. Trong kinh có câu “Bát-nhã vô tri, vô sở bất tri”, tức là Bát-nhã không biết, không chỗ nào chẳng biết. Không biết cái gì, không chẳng biết cái gì? Chúng ta quen nhận biết theo thức tình phân biệt, biết theo giả tướng giả cảnh. Điều gì mình cũng phân biệt mình biết, đó là có tri có thức, nhưng đối với cái chân thật thì không biết. Bát-nhã thì không có cái biết theo tình thức phân biệt, nhưng tất cả pháp hiện đến thì đều sáng chiếu soi hết. Khi đối diện thì đen hiện đen, trắng hiện trắng, cao hiện cao, thấp hiện thấp. Bát-nhã không phân biệt mà tất cả tướng đều hiện đúng như thật. Vì thế nói vô tri vô sở bất trị.
Chư Thượng tọa! Kẻ xuất gia làm gì? Cái lý bản hữu này chưa phải là phần bên ngoài. “Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn.” Nếu biết rõ ràng, không còn một mảy tơ làm chướng ngại. Thượng tọa đứng lâu, trân trọng.
Ngài nhắc lại bổn phận của người xuất gia. Chúng ta đi xuất gia để làm gì? Có phải vì muốn đạt được lý sẵn có mà lâu nay mê lầm quên mất, nên phải chịu luân hồi sanh tử? Cần phải thấy được nguồn cội để thoát ly sanh tử, đó là bổn phận của người xuất gia. Kinh Tứ Thập Nhị Chương dạy Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn. Thức tâm tức là biết được tâm, đạt bản nguyên tức thấu triệt được nguồn gốc các pháp, người đó mới gọi là Sa-môn.
Bổn phận người tu là phải như vậy, mà chúng ta cứ thờ ơ, sáng tụng thời kinh, tối tụng thời kinh rồi sống lây lất qua ngày, có xứng danh nghĩa người tu chưa? Tu là phải thao thức băn khoăn tìm ra thể chân thật nơi mình. Phải làm sao thấy cho được, biết cho rõ, như vậy mới xứng với nghĩa Sa-môn. Còn nếu không thấy được, không biết rõ thì gọi là Sa-môn dỏm không phải Sa-môn thật. Chúng ta phải ráng làm sao cho đúng với ý nghĩa mà mình đã mang, đừng làm sai.
Đến niên hiệu Khai Bảo thứ năm (972), ngày hai mươi tám tháng sáu, Sư có chút bệnh, họp chúng từ biệt xong, ngồi kiết già thị tịch. Sư tịch tại Liên Hoa Phong thọ 82 tuổi, được 65 tuổi hạ.
Sư họ Tưởng, xuất gia lúc còn bé, tinh chuyên tam học, có chí tìm hiểu huyền chỉ. Sư du phương qua các nước Mân, Việt trải các thiền hội, mà chưa khế hợp bản tâm. Sau cùng, Sư đến Lâm Xuyên yết kiến Pháp Nhãn được thầy trò đạo hiệp.
Về sau, Sư trở về Ngân Thủy cất am trên núi Đại Mai. Một hôm có hai thiền khách đến. Sự hỏi:
– Thượng tọa ở đâu đến?
Thiền khách đáp:
– Ở đô thành.
– Thượng tọa rời đô thành đến núi này, thì ở đô thành thiếu Thượng tọa, núi này dư Thượng tọa. Dư thì ngoài tâm có pháp, thiếu thì tâm pháp chẳng khắp. Nói được đạo lý thì ở, chẳng hội nên đi.
Cả hai đều không đáp được.
Nếu rời đô thành đến núi này thì ở đô thành thiếu Thượng tọa, chỗ này dư Thượng tọa. Nếu dư thì ngoài tâm có pháp, nếu thiếu thì tâm pháp không bao trùm. Như vậy nói sao? Dư hay thiếu? Đó là câu hỏi ngài nêu lên mà cả hai vị đều đáp không được.
Sư dời về cất am Thiên Thai trên núi Bạch Sa. Có thượng tọa Bằng Ngạn là người học rộng nhớ giỏi đến tranh luận với Sư về tông thừa. Sự hỏi:
– Nói nhiều cách đạo càng xa, nay có việc xin hỏi, từ trước chư thánh và các bậc tiên đức có ngộ hay không?
Bằng Ngạn đáp:
– Nếu là chư thánh tiên đức đâu không có ngộ!
– “Một người trở về nguồn chân, mười phương hư không thảy đều tiêu mất.” Nay núi Thiên Thai y nguyên, làm sao nói tiêu mất?
Bằng Ngạn không đáp được.
Dẫn trong kinh Lăng-nghiêm: “Nhất nhân phát chân quy nguyên, thử thập phương không giai tất tiêu vẫn.” Nghĩa là một người trở về nguồn chân thì mười phương hư không đều tiêu hết. Như vậy nếu các bậc tiên đức có ngộ đạo, tức đã trở về nguồn chân thì thế giới đã tiêu hết, tại sao núi Thiên Thai còn đây? Bằng Ngạn không đáp được. Ngang đây cũng bí luôn. Ngài khéo hỏi, với những người thông hiểu kinh điển thì dùng kinh điển để hỏi.
Câu hỏi này chúng ta có hoang mang không? Kinh nói một người ngộ rồi, mười phương thế giới đều tiêu hết. Như vậy Phật tổ đã ngộ, tại sao trái đất còn nguyên, không tiêu hết? Ở đây nếu hiểu theo nghĩa thông thường thì hoang mang, nếu thật hiểu thì thế giới tiêu với người ngộ chứ không tiêu với người mê. Như cùng là lời chửi mắng mà người ngộ thì cười, người mê thì sân. Vì người ngộ thấy giả còn người mê thấy thật, tùy theo mê ngộ mà thấy khác. Nên với người ngộ thế giới không thật, người mê không thấy như thế được.
Khoảng niên hiệu Càn Hựu nhà Hậu Hán (948-950) Trung Ý Vương thỉnh Sư vào cung hỏi pháp, mời ở viện Tư Sùng. Vua cho mời các bậc thiền đức và danh sĩ trong thành đến cùng Sư bàn đạo lý.
Thiền sư Thiên Long hỏi:
– “Tất cả chư Phật và Phật pháp đều từ Kinh này ra”, không biết Kinh này từ đâu ra?
Sự hỏi:
– Nói gì?
Thiên Long hỏi trở lại. Sư bảo:
– Qua rồi.
Kinh này là kinh Pháp Hoa hay kinh Kim Cang? Ngài hỏi: Nói gì? Đó là trả lời rồi, mà Thiên Long không hiểu hỏi lại, ngài nói: Qua rồi. Ngài đáp dễ hiểu không? Như vậy kinh này từ đâu ra? Từ chỗ hỏi mà ra.
Trưởng lão Tư Nghiêm hỏi:
– Thế nào là hiện tiền tam-muội?
Sự hỏi:
– Lại nghe chăng?
Tư Nghiêm đáp:
– Tôi không bệnh tai.
Sư bảo:
– Quả nhiên là bệnh tai.
Thế nào là hiện tiền tam-muội? Hiện tiền tam-muội là chánh định hiện tiền, hỏi về chánh định hiện tiền thì ngài hỏi lại: Lại nghe chăng? Vị này bảo, tôi không điếc, ngài bảo, quả nhiên là điếc rồi. Tại sao? Cái đang nghe đó là hiện tiền tam-muội. Câu nói của ngài rất đơn giản mà rất thâm thúy.
Thường chúng ta nghĩ tam-muội là chánh định, khi nào ngồi kiết già ngay thẳng quên thân quên cảnh mới gọi là tam-muội; lúc đang đi, đang làm công tác không gọi là tam-muội. Thiền tông chủ trương trong khi hoạt động, ngay chỗ đông người mà vẫn sống với tánh nghe tánh thấy thì đó là hiện tiền tam-muội. Cái hay nghe có động không? Không động tức là hiện tiền, không động tức là chánh định. Sống với tánh lặng lẽ hay nghe hay thấy đó là hiện tiền tam-muội. Nếu sống chạy theo cảnh theo tiếng thì hiện tiền là vọng động, không có tam-muội.
Sư nhắc lời minh trên tháp của Tuyết Phong, hỏi chư lão túc:
– “Phàm từ duyên mà có thì trước sau thành hoại, chẳng từ duyên mà có thì nhiều kiếp bền lâu.” Bền cùng hoại gác lại, hiện giờ Tuyết Phong ở đâu?
Cả chúng đều không đáp được. Nếu có đáp cũng không đúng với ý hỏi. Khi ấy mọi người đều kính phục, Vua rất hài lòng, thỉnh Sư ở đó, ban hiệu Viên Thông Phổ Chiếu thiền sư.
Phàm từ duyên mà có thì trước sau thành hoại, chẳng từ duyên mà có thì nhiều kiếp bền lâu. Cái không thuộc về duyên thì bền lâu, cái thuộc duyên thì hoại. Hoại và bền lâu gác qua, hỏi Tuyết Phong hiện giờ ở đâu? Nếu theo thuật của ngài Đầu Tử hay của ngài Hoàng Bá thì nó ở đâu? Kêu: Huệ Minh! Lên tiếng nói là ngay đó, phải không? Nhưng cả chúng không đảm đương được nên chịu thua.
Sư thượng đường bảo chúng:
– Các ông lại nhận được chăng? Chớ bảo nói nín động tịnh đều là Phật sự, chớ lầm hội.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là mặt trăng thứ hai?
Sư đáp:
– Ấn mắt xem hoa, hoa lắm đóa; mắt tỏ xem cây, cây mấy cành.
Ngài chỉ cho chúng ta biết đừng lầm, nói nín động tịnh đều là Phật sự. Tại sao? Khi nói nín động tịnh, nếu mê thì có thành Phật sự không? Khi chưa hội thì tất cả hoạt động chưa phải là Phật sự, hội rồi mới thành Phật sự.
Tăng hỏi: Thế nào là mặt trăng thứ hai? Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật nói mặt trăng thứ hai là chỉ tánh thấy tánh nghe của mọi người sẵn có. Tánh thấy tánh nghe đó là hiện tướng của chân thật chưa phải là cứu cánh chân thật. Như khi lấy tay ấn con mắt nhìn mặt trăng trên trời, thấy có một vòng tròn kế bên. Mặt trăng thứ hai này kề cận mặt trăng thật, để nói rằng tánh nghe, tánh thấy… gần với cái chân thật. Kinh Lăng-nghiêm nói: “Nhất tinh minh sanh lục hòa hợp”, nhất tinh minh là chỉ cho một thể trong sáng, theo duyên mà có sáu hòa hợp, sáu hòa hợp tức là tánh thấy tánh nghe…, là cái chân thật tương đối gần với cái chân thật tuyệt đối.
Có mặt trăng thứ ba là bóng trăng ở dưới nước, nếu sánh với mặt trăng thật thì cách xa. Mặt trăng thứ ba là tạm dụ cho ý thức phân biệt của chúng ta. Kinh nói, như Diễn-nhã-đạt-đa quên đầu. Nghĩa là thấy bóng trong gương mà cho là thật, quên đầu mặt thật của mình. Cũng như khi nhìn bóng mặt trăng dưới nước cho là mặt trăng thật, đó là quên mà nhận lầm.
Khi tăng hỏi mặt trăng thứ hai, ngài nói: Ấn mắt xem hoa, hoa lắm đóa, tức là khi ấn mắt nhìn hoa thật thì thấy như có vài ba đóa hoa kế cận, hoa kế cận gần với hoa thật. Mắt tỏ xem cây, cây mấy cành, khi mắt sáng rồi thì thấy cây có từng cành rõ ràng không nghi ngờ.
Sư người Ngụy Phủ, có trí thông minh lạ thường, biện tài vô ngại. Trong hội Pháp Nhãn, toàn chúng đều ngưỡng mộ, đồng nói: “Người sáng suốt mẫu mực”.
Một hôm Pháp Nhãn hỏi chúng:
– Cổ cọp mang lục lạc người nào mở được?
Toàn chúng không đáp được. Sư vừa đi đến,
Pháp Nhãn hỏi Sư. Sư thưa:
– Người cột mở được.
Pháp Nhãn bảo chúng:
– Các ngươi chẳng được khinh y.
Thường khi nghe người đặt câu hỏi, chúng ta luôn hiểu theo ý ở ngoài. Như câu: Cổ cọp mang lục lạc người nào mở được? Chúng ta cứ tìm người tài ba, người có thần thông mở được, không biết tìm lại gốc. Ngài Pháp Đăng chỉ nói, ai cột thì người đó mở được, không cần nói người nào. Đó là trở về gốc. Nếu tìm người có khả năng mở thì bị lạc trong tưởng tượng thiếu thực tế. Vì khi nói cổ cọp mang lục lạc, đó là tưởng tượng, chạy theo nó mà suy luận, rốt cuộc sống trong tưởng tượng.
Chính câu nói của ngài vừa thực tế vừa mang ý nghĩa thực hành. Tất cả chúng ta tự than mình phiền não khổ đau, cái đó ai gỡ cho mình, ai dẹp cho mình? Người tạo phiền não khổ đau thì tự dẹp tự cởi, kêu người khác cởi sao được. Chúng ta cứ lạy Phật kêu Phật cứu, mình tạo mà kêu Phật mở, được không? Như khi mình bị người chửi liền nổi giận muốn trả thù, nhưng vì người đó có thế lực hơn, mình trả thù không được nên tức giận mất ăn mất ngủ. Ai giải thoát cho mình đây? Kêu Phật cứu được không? Chỉ dùng trí tuệ thấy lời chửi không thật không quan trọng, bỏ là xong. Đó là mình tự gỡ.
Như khi thấy một người nữ nhan sắc, mình mến thương quá, bây giờ cầu người kia người nọ cứu đừng cho mình thương, được không? Dầu cho người đó cứu mình, chặn không cho cô đó tới mà mình cứ mơ tưởng hoài thì hết thương được không? Chỉ một việc là bỏ, đừng nghĩ tới người đó thì hết thương, đơn giản vậy.
Tất cả sự việc đều từ gốc phăn tìm, chúng ta không nhận ra, cứ tìm trên ngọn, cầu người này cầu người kia cứu mà mình không tự cứu, không tự gỡ. Như thế thật sai lầm. Chúng ta phải nhìn thật đúng, cái gì tạo ra thì cái đó giải quyết được, đừng tìm cầu cái khác. Việc tu thực tế không huyền hoặc, đa số người tu chúng ta nhận lầm, tự mình tạo nghiệp rồi chạy đi cầu người này cầu người kia. Làm sao cầu được? Mình tạo thì mình gỡ, chỉ cần thức tỉnh biết sai lầm, sửa là được, cầu cứu người khác là chuyện khó được. Câu đối đáp của thiền sư tuy đơn sơ nhưng rất thâm thúy, cụ thể, thực tế vô cùng.
Ban đầu Sư nhận thỉnh trụ viện Song Lâm tại núi U Cốc, Hồng Châu. Sư thượng đường chỉ pháp tòa nói:
– Núi này trước đã có các đời tôn túc thuyết pháp, tòa này cao rộng, bất tài làm sao lên? Người xưa nói: “Đảnh lễ Tu-di Đăng Vương Như Lai mới có thể ngồi.” Hãy nói Tu-di Đăng Vương Như Lai hiện ở chỗ nào? Đại chúng cần thấy chăng, đồng thời lễ bái đi.
Sư bước lên tòa giây lâu nói:
– Vì đại chúng chỉ như thế, lại có chỗ hội chăng?
Tăng hỏi:
– Thế nào là cảnh Song Lâm?
Sư đáp:
– Vẽ cũng chẳng thành.
– Thế nào là người trong cảnh?
– Hãy đi. Cảnh vẫn chưa biết mà luận đến người.
Viện Song Lâm đây là nơi có nhiều vị tôn túc trước đã khai tòa. Vị tôn túc đầu là ngài Phó Đại Sĩ ở đời Lương, sau này nhiều vị nữa. Vì thế ngài nói có các tôn túc lên tòa rồi, bây giờ ngài bất tài làm sao lên. Câu nói Đảnh lễ Tu-di Đăng Vương Như Lai mới có thể ngồi, dẫn trong kinh Duy-ma-cật. Cư sĩ Duy-ma-cật ở trong thất, có các vị Bồ-tát, Tỳ-kheo… đến thăm bệnh, ông hóa hiện ra bao nhiêu tòa cao ngất, các vị La-hán không lên được, ông nói muốn lên phải đảnh lễ Tu-di Đăng Vương Như Lai. Các ngài đảnh lễ Phật xong, lên tòa ngồi được. Đây lấy cớ đó mà nói.
Tăng hỏi: Thế nào là cảnh Song Lâm? Thường thường trước hỏi cảnh, kế đó hỏi người. Ngài đáp: Vẽ cũng chẳng thành, cảnh đó vẽ cũng không được. Tăng liền hỏi người, ngài bảo: Đi! Cảnh còn chưa biết mà luận đến người. Cảnh bên ngoài còn chưa hiểu, nói đến người bên trong làm sao hiểu?
Kế, Sư trụ viện Hộ Quốc. Có vị tăng hỏi:
– Khéo hành đạo Bồ-tát không nhiễm các pháp tướng, thế nào là đạo Bồ–tát?
Sư đáp:
– Tướng các pháp.
– Thế nào được chẳng nhiễm?
– Nhiễm dính chỗ nào?
Hỏi: Thế nào là đạo Bồ-tát? Đáp: Tướng các pháp. Tại sao? Bồ-tát có những hạnh như bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Tất cả hạnh đó đều là pháp tướng, nhưng pháp tướng mà không nhiễm tướng. Tăng hỏi: Thế nào chẳng nhiễm? Đáp: Nhiễm dính chỗ nào? Khi Bồ-tát thực hành các hạnh đó mà thấy được pháp thân, pháp thân thì không có chỗ nào dính nhiễm.
Sư lại đến trụ viện Long Quang ở Kim Lăng. Sư thượng đường, Duy-na bạch chùy rằng:
– Chúng long tượng trong pháp hội nên quán nghĩa đệ nhất.
Sư bảo:
– Duy-na là nghĩa đệ nhị. Các trưởng lão hiện nay là nghĩa thứ mấy?
Sư liền giở tay áo bảo chúng:
– Đại chúng hội chăng? Đây là tay múa chân đạp, chớ nói năm trăm đời trước đã làm nhạc chủ, hoặc có lòng nghi xin để mắt xem.
Ngài muốn chỉ nghĩa đệ nhất, nhưng khi nói ra thì thành nghĩa đệ nhị, nên ngài nói mà không nói, chỉ đưa tay áo lên, gọi là đạp múa, mời để mắt xem… Đều là lối nói không cho chúng ta nghiệm xét được.
Sau cùng Sư trụ đại đạo tràng Thanh Lương ở Kim Lăng.
Đến tháng sáu niên hiệu Khai Bảo năm thứ bảy (974), Sư có chút bệnh, bảo chúng:
– Lão tăng nằm bệnh gắng gượng đến đây cùng các ngươi thấy nhau. Hiện nay đạo tràng mỗi chỗ rõ ràng là Hóa thành. Hãy nói thế nào là Hóa thành? Đâu chẳng thấy Đạo sư xưa nói “Bảo sở chẳng xa cần phải tiến tới”. Khi đến thành rồi, lại nói “Do ta hóa ra”. Nay các ngươi thử nói đạo lý này xem, là Như Lai thiền, là Tổ sư thiền, quyết định được chăng? Các ngươi tuy là kẻ sanh muộn, cần biết quốc chủ của ta nơi nào thắng cảnh đều dựng lập đạo tràng, việc cần dùng chẳng thiếu, chỉ cần các ngươi mở miệng. Hiện nay không biết cái gì là miệng của các ngươi, làm sao đáp đền công tử ân tam hữu? Muốn được hội chăng? Chỉ biết cái miệng là không lỗi, nếu có lỗi tại các ngươi có ngã. Nay gió lửa ép nhau, đi ở là lẽ thường.
Lão tăng trụ trì sắp qua một kỷ (mười hai năm) mỗi mỗi nhờ quốc chủ giúp đỡ, cho đến mười phương thí chủ cùng đạo lữ, từ chủ sự đến tiểu tăng đều hết lòng vì ta, lặng lẽ mà khó nói. Hoặc mang gai mặc vải, đây tức là thuận tục, ta nói trái với chân. Hãy nói thuận là tốt hay trái là tốt? Song thuận theo ta nói là không điên đảo. Di hài của ta để tại núi Nam, bên trái bên phải của Hòa thượng Đại Trí Tạng xin hai phần huyệt. Sự thăng trầm rất rõ ràng không nên đổi dời. Cố gắng! Cố gắng! Trân trọng.
Ngày hai mươi tư tháng sáu, Sư ngồi yên thị tịch.
Ngài dẫn kinh Pháp Hoa nói về Hóa thành, Bảo sở. Phật ví dụ ngài là vị thầy dẫn đường một số người muốn tìm châu báu. Giữa đường mệt mỏi, họ ngán không muốn đi, ngài hóa một thành phố đầy đủ tiện nghi, dẫn mọi người hăng hái tiến vô thành. Khi nghỉ ngơi khỏe khoắn rồi, ngài nói: Đây là Hóa thành chưa phải Bảo sở, cần phải đi nữa. Như vậy khi nói Hóa thành là phương tiện đối với người mệt mỏi. Các cấp bậc tu chứng như Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm… là Hóa thành, cho các Tỳ-kheo đỡ ngán con đường xa xôi. Được các quả vị này chưa phải cứu cánh, nhưng có để tạm yên lòng, dần dần tiến tới. Ngài nói, mỗi đạo tràng đều là Hóa thành, ý khuyên mọi người đừng quá ỷ lại vào đạo tràng, phải tự nỗ lực tiến.
Mỗi người chỉ biết cái miệng là không lỗi, nếu có lỗi tại các ngươi có ngã. Miệng nói xằng bậy lỗi từ đó mà ra. Tại sao nói cái miệng không lỗi? Tất cả lý lẽ mà chúng ta biểu dương đều từ bản ngã, nếu không có ngã thì miệng không nói bậy; sở dĩ thành lỗi là vì còn thấy có ngã, ai động tới thì bênh cái ngã của mình, vì thế miệng nói những lời không hiền.
Nay gió lửa ép nhau, đi ở là lẽ thường. Gió lửa ép nhau là giờ phút sắp lâm chung, tứ đại ép ngặt nhau, ép ngặt tan rã đó là việc thường không gì lạ. Các ngài thấy là việc thường, còn chúng ta thì rất sợ hãi.
Lão tăng trụ trì sắp qua một kỷ (mười hai năm) mỗi mỗi nhờ quốc chủ giúp đỡ, cho đến mười phương thí chủ cùng đạo lữ, từ chủ sự đến tiểu tăng đều hết lòng vì ta, lặng lẽ mà khó nói. Hoặc mang gai mặc vải, đây tức là thuận tục, ta nói trái với chân. Hãy nói thuận là tốt hay trái là tốt? Song thuận theo ta nói là không điên đảo. Di hài của ta để tại núi Nam, bên trái bên phải của Hòa thượng Đại Trí Tạng xin hai phần huyệt. Sự thăng trầm rất rõ ràng không nên đổi dời. Cố gắng! Cố gắng! Trân trọng.
Trước hết ngài cám ơn những người đã giúp ngài trong việc giáo hóa, trước là chánh quyền, kế đó là thí chủ, kế nữa là chư tăng ở trong chùa. Ngài dặn mọi người, thường lệ khi chết thì đệ tử mang gai mặc vải tức là để tang, đây tức là thuận tục, mà ta nói trái với chân. Nếu để tang theo kiểu đó là thuận với thế tục nhưng trái với đạo. Hãy nói thuận là tốt hay trái là tốt? Như vậy thuận theo thế tục mà trái với đạo, tốt hay không tốt? Thuận theo đạo mới là không điên đảo. Di ý của ngài là để chôn ngài ở nơi này, thấy rõ sự thăng trầm đừng có đổi dời.
Sư quê ở huyện Phúc Thanh, Phúc Châu. Ban đầu Sư đến tham vấn Pháp Nhãn. Một hôm Pháp Nhãn chỉ mưa bảo: “Giọt giọt rơi trong con mắt của Thượng tọa.” Lúc này nghe nói vẫn chưa ngộ. Sau nhân đọc kinh Hoa Nghiêm, Sư liền cảm ngộ. Sư đến trình với Pháp Nhãn, Pháp Nhãn ấn chứng.
Tại sao ngài Pháp Nhãn nói Giọt giọt rơi trong con mắt của Thượng tọa? Có giọt mưa nào rơi trong con mắt chúng ta không? Tông Pháp Nhãn chủ trương tam giới duy tâm, không một pháp nào rời tâm mình. Như ngài Tuyết Phong nói, khắp cả mười phương là con mắt của Thượng tọa. Mười phương là con mắt của mình thì không giọt mưa nào rời con mắt ấy. Mắt này không phải là con mắt nhỏ hiện nay, mà là con mắt trùm khắp.
Sư về cất am trên núi Tứ Minh ở Minh Châu. Tiết độ sứ Tiền Ức kính Sư làm thầy. Trung Ý Vương thỉnh Sư khai pháp hai nơi ở Lâm An. Sau, Sư trụ ở chùa Linh Ấn thượng, được ban hiệu Liễu Ngộ thiền sư.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Mười phương chư Phật thường ở trước các ngươi, lại thấy chăng? Nếu nói thấy, là đem tâm thấy hay đem mắt thấy? Do đó nên nói: “Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt; nếu hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện tiền.”
Phật nói các pháp vô thường, vô thường tức là sanh diệt. Đây lại nói Tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt; nếu hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện tiền. Nghĩa là nếu nhìn trên giả tướng thì các pháp có sanh diệt là vô thường, nhưng thật tánh của các pháp thì không vô thường. Nếu thấy được tánh các pháp không có vô thường, đó là thấy chư Phật. Nếu chỉ thấy giả tướng của nó thì chưa thấy Phật. Làm sao thấy Phật? Phật đâu ở bên ngoài mà thấy? Chỉ cần thấy các pháp không sanh diệt, đó là thấy Phật hiện tiền.
Sư lại nói:
– “Thấy sắc là thấy tâm”, hãy nói cái gì là tâm? Các tướng núi sông đất đai, vạn tượng sum la, xanh vàng đỏ trắng, nam nữ… là tâm hay chẳng phải tâm? Nếu là tâm, vì sao lại trở thành vật tượng? Nếu chẳng phải là tâm, sao lại nói thấy sắc là thấy tâm? Hội chăng? Chỉ vì mê cái này mà thành điên đảo các thứ chẳng đồng. Trong cái không đồng dị ép thành đồng dị. Hiện nay thẳng đó thừa đương chóng ngộ bản tâm, rõ ràng không một vật có thể làm thấy nghe. Nếu người lìa tâm riêng cầu giải thoát, người xưa gọi là lầm sóng tìm nguồn, rất khó hiểu ngộ.
Tất cả cảnh đều không ngoài tâm, nếu ngoài tâm thì chúng ta không thể biết. Thấy sắc tức là thấy tâm, nghe tiếng tức là nghe tâm. Chúng ta có nghe tâm không hay nghe tiếng là tiếng, thấy sắc là sắc? Vì chúng ta quen tập khí nhìn ra ngoài thấy sắc này đẹp xấu… quên mình có cái đang thấy. Khi nghe thì phân biệt tiếng khen tiếng chê… quên mình có cái đang nghe. Vì vậy thấy sắc không thấy tâm, nghe tiếng không nghe tâm. Nếu thấy sắc nghe tiếng mà vẫn nhớ mình đang thấy đang nghe, đó là đang thấy nghe tâm, gọi là phản văn tự tánh.
Chúng ta thường mê cảnh mà quên tâm, nên trong cái không đồng dị ép thành đồng dị. Như thế là ngoài tâm, lìa tâm cầu giải thoát, là lầm sóng tìm nguồn, quên sóng mà tìm nguồn nước. Nhìn sông suối khi gió thổi có sóng dậy, lại nói sóng không phải nước, đi tìm nước chừng nào tìm ra? Vì thế nói lầm sóng tìm nguồn, rất khó hiểu ngộ.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là Ma-ha Bát-nhã?
Sư đáp:
– Tuyết rơi bời bời.
Tăng không đáp được.
Sư hỏi: – Hội chăng?
Tăng thưa: – Chẳng hội.
Sư nói:
Ma-ha Bát-nhã
Phi thủ phi xả
Nhược nhân bất hội
Phong hàn tuyết hạ.
Dịch:
Ma-ha Bát-nhã
Chẳng thủ chẳng xả
Nếu người chẳng hội
Gió lạnh tuyết rơi.
Muốn hội Ma-ha Bát-nhã phải chẳng thủ chẳng xả, đừng dính hai bên, đó là Bát-nhã.