Tâm Kinh Tụng giảng giải

Sắc Tức Thị Không, Không Tức Thị Sắc



Sơ tổ tụng:

Chẳng không, không chẳng có,

Chẳng sắc, sắc không hình.

Sắc, không đồng về một,

Cõi tịnh được an bình.

Chẳng không, không vi diệu,

Chẳng sắc, sắc rõ ràng,

Sắc, không đều không tướng,

Chỗ nào lập thân hình.

Giảng:

“Sắc tức thị không, không tức thị sắc”: nghĩa là “Sắc chính là không, không chính là sắc”. Nghe qua thì sắc và không dường như là hai pháp đối đãi: có cái này thì có cái kia, có sắc thì có không. Tuy nhiên, ở đây ngài khẳng định sắc chính là không, không chính là sắc. Thực ra, đoạn trên ngài đã chỉ rõ: đối với người chưa hiểu, người u mê, thì thấy sắc và không là hai thực thể khác biệt. Nhưng đối với người đã ngộ đạo, thấu triệt được mọi thứ đều sanh từ tự tâm, thì gốc của sắc và không vốn chỉ là một. Do đó, nói sắc tức là không, không tức là sắc cũng chính là ngụ ý này.

“Chẳng không, không chẳng có,

Chẳng sắc, sắc không hình.”

Nói “chẳng không” là bởi vì “không” ở đây không phải là cái không trống rỗng, vô nghĩa. Tại sao vậy? Vì bản thân cái hư không đó vốn dĩ đâu có thật có. Sở dĩ chúng ta gọi nó là hư không là do tâm thức chúng ta chấp nhận và gán tên cho nó, chứ tự bản thân hư không đâu biết nó là ai, đâu tự biết mình là “hư không”. Cho nên, nói “chẳng không” vì cái không ấy không phải là thật có, và nó cũng chẳng phải là hư không theo nghĩa tuyệt đối.

“Chẳng sắc, sắc không hình”: Nói “chẳng sắc” là vì sắc không có hình tướng cố định. Sắc rõ ràng là có hình tướng chứ, sao lại nói không? Nói “sắc không hình tướng” ở đây là để chỉ rằng sắc không có một tự tính hay hình tướng vĩnh hằng, cố định; nó hoàn toàn do nhân duyên hòa hợp mà thành và không có một chủ thể độc lập nào ở bên trong.

Chúng ta hãy xét kỹ lại chính thân ngũ uẩn này. Ta gọi cái gì là sắc? Là đất, là nước, là lửa, hay là gió? Gọi yếu tố nào cũng không đúng. Phải là sự hòa hợp của cả bốn đại (đất, nước, lửa, gió) mới tạo nên thân sắc uẩn này. Chưa hết, chỉ bốn đại đó thôi thì đã đủ thành một con người chưa? Chắc chắn là chưa.

Như có người dùng vật liệu để làm ra những con ma-nơ-canh mặc đồ ở các cửa hàng thời trang. Những hình nhân đó có thân hình đấy, nhưng chúng có thật sự sống không? Chúng có nói được không? Có suy nghĩ được không? Hoàn toàn không. Như vậy, đất, nước, lửa, gió hợp lại vẫn chưa đủ thành thân ngũ uẩn, mà phải có thêm thức uẩn, thêm nghiệp lực chúng sanh đan xen vào và vô số duyên khác nữa.

Không chỉ riêng thân ngũ uẩn này, mà vạn vật xung quanh cũng thế. Lấy cái bàn làm ví dụ: ta nói nó bằng gỗ, nhưng một khúc gỗ đơn thuần có tự thành được cái bàn không? Không thể được. Khúc gỗ đó phải qua bàn tay người thợ mộc đục đẽo, phải có đinh. Đinh ấy từ đâu ra? Phải có người thợ luyện kim khai thác quặng, nấu quặng thành sắt, rồi đúc thành đinh. Rồi người thợ mộc đóng bàn phải mua dụng cụ, gỗ phải được vận chuyển từ nơi khai thác đến xưởng bằng phương tiện, tốn kém tiền bạc. Tiền đó từ đâu? Là mồ hôi nước mắt của người lao động, là tiền do nhà nước phát hành, mà nhà nước in tiền thì lại cần máy móc, giấy mực, nhân lực, công nghệ… Nhìn sâu vào một pháp, ta thấy có bao nhiêu là pháp trong đó! Một pháp không bao giờ tự mình nó đơn độc thành hình được. Do đó mới nói “sắc chẳng phải sắc”, nghĩa là nó không có hình tướng cố định độc lập.

Không những không có hình tướng cố định, sắc pháp còn luôn biến dịch, đổi thay theo thời gian, không bao giờ đứng yên một chỗ. Thân ngũ uẩn của chúng ta mười năm trước khác, mười năm sau lại càng khác lạ.

Có câu chuyện vui về một cô gái nọ. Hồi cô lên ba, lên bốn tuổi, gia đình hai bên đã hứa hôn với nhau. Đến khi cô đến tuổi cập kê, bên nhà chồng sang đòi cưới, nhưng cô kiên quyết không chịu. Cô bảo: “Các người hãy đi tìm đúng cái đứa bé ba, bốn tuổi hồi cha mẹ tôi hứa hôn mà cưới, chứ bây giờ tôi đã mười mấy, hai mươi tuổi rồi, tôi đâu phải là đứa bé ngày xưa!

Nghe qua thì có vẻ lí lắc, nhưng ngẫm lại rất đúng lý đạo. Liệu người ta có thể tìm lại được đứa bé ba, bốn tuổi ngày xưa không? Hoàn toàn không thể. Thân tướng đã khác, suy nghĩ đã khác, tâm thức đã đổi thay hoàn toàn. Người ta thường nói con gái tuổi trăng tròn (mười tám tuổi) thay đổi khác hẳn lúc nhỏ, đến nỗi những người thân thiết đôi khi nhìn cũng không nhận ra, trừ những ai có sự quan sát tinh tế. Trẻ con ba, bốn tuổi lớn lên thành thiếu nữ mười bảy, mười tám tuổi, hình hài đã biến đổi hoàn toàn. Cô gái ấy nói đúng sự thật: pháp vốn vô thường, biến đổi liên tục, không hề có một hình tướng nhất định hay một chủ tể vĩnh hằng tồn tại độc lập ở một chỗ.

Chính vì thế, ý nghĩa sâu xa của câu “sắc không hình” là vạn vật luôn biến dịch, vô thường, không có thực ngã và không cố định trong một khuôn hình nào cả.

“Sắc, không đồng về một,

Cõi tịnh được an bình.”

“Sắc, không đồng về một”: Như đã phân tích ở trên, dù là sắc hay không thì tất cả đều không nằm ngoài tự tâm thanh tịnh của chúng ta; chúng đều đồng về một nguồn gốc. Cái tâm thanh tịnh này không có ai thực sự đứng ngoài để nhận riêng sắc hay riêng không. Cả sắc lẫn không đều nhờ có tâm thanh tịnh hiển hiện mà chúng ta mới nhận biết được.

“Cõi tịnh được an bình”: Khi đã quay về với tâm thanh tịnh, chúng ta sẽ không còn phân biệt sắc – không, hay vướng kẹt vào các pháp đối đãi nữa. Không phân biệt, tâm tự nhiên an bình.

Sở dĩ chúng ta phải chịu đựng muôn vàn khổ đau, phiền muộn là vì tâm còn khởi niệm phân biệt hai bên: có đẹp – có xấu, có lợi – có hại, có đúng – có sai… Chính những sự đối đãi đó làm mất đi sự an bình, khiến ta lúc vui lúc buồn, khi thương khi ghét…

Ta có thể thấy rõ điều này qua các hiện tượng đời sống. Chẳng hạn, trong một trận bóng đá giữa đội tuyển Việt Nam và Thái Lan, khi đội Việt Nam chiến thắng, người hâm mộ nước nhà rộn ràng đi bão ăn mừng. Ngược lại, người Thái Lan sẽ cảm thấy bực bội, hậm hực, thậm chí đập bàn đập ghế vì tiếc nuối. Niềm vui của bên này được xây dựng trên nỗi buồn của bên kia, và ngược lại. Khổ vui cứ thế mà hình thành từ sự đối đãi.

Nhưng nếu ta là một người đứng ngoài cuộc – ví dụ như một người Mỹ – thì sao? Trận đấu đó hoàn toàn không dính dáng gì đến ta, nên ta hoàn toàn bình thản, chẳng buồn cũng chẳng vui.

Nếu ta dính mắc, ta sẽ bị cột chặt vào vòng xoáy vui buồn của thế gian. Ngược lại, tâm thanh tịnh của chúng ta vốn không dính mắc vào đâu cả, nó là nền tảng sinh ra vạn pháp. Các pháp bên ngoài muốn biến chuyển thế nào mặc chúng, tâm vẫn luôn tĩnh lặng. Khi quay về được với tâm thanh tịnh ấy, ta sẽ không còn bị hai mặt đối đãi của cuộc đời lôi cuốn chạy theo hai đầu khổ – vui nữa.

Tất cả các pháp đối đãi đều từ tâm ta sinh ra. Hãy ngẫm về hình ảnh người mẹ sinh ra hai đứa con. Nếu người mẹ thương yêu cả hai đứa con bằng một tấm lòng công bình như nhau, thì khi chúng cãi vã, người mẹ sẽ không bao giờ bênh vực đứa này mà hắt hủi đứa kia. Người mẹ sẽ nhẹ nhàng khuyên can: “Các con đều là con của mẹ, cùng chung một gốc sinh ra, cớ sao lại tranh chấp, hờn ghen làm khổ nhau làm gì? Nhờ sự công bằng và trí tuệ đó, tình cảm anh em sẽ được hàn gắn.

Nhưng nếu người mẹ sinh tâm hơn thua, thương đứa này ghét đứa kia, thiên vị người anh hay cưng chiều đứa em, thì mâu thuẫn sẽ càng bị đẩy lên cao, gia đình từ đó mà bất hòa, lục đục. Mọi sự rối ren trong nhà suy cho cùng đều bắt nguồn từ việc người làm chủ thiếu sự công bình, sáng suốt.

Câu chuyện lịch sử về Tào Phi và Tào Thực thời Tam Quốc là một minh chứng sâu sắc cho bài học này. Tào Phi và Tào Thực đều là con của Tào Tháo. Tào Thực rất thông minh, có tài văn chương xuất chúng nên thường được cha yêu quý hơn. Khi Tào Phi lên ngôi vua, sẵn mối kình chống và ghen ghét từ thuở nhỏ vì cha thương Tào Thực hơn, vị tân vương liền tìm cách hãm hại em mình. Tào Phi ép Tào Thực phải làm xong một bài thơ chỉ trong bảy bước, nếu làm không được sẽ bị xử tử.

Trong lúc nguy cấp, Tào Thực đã cất lên những vần thơ đẫm nước mắt:

Củi đậu đem nấu đậu,

Đậu trong nồi than khóc,

Cùng một gốc sinh ra

Sao bức nhau lắm vậy?”

Người xưa thu hoạch đậu xong thường lấy chính phần củi và gốc cây đậu khô để đốt nấu chính hạt đậu ấy. Tào Thực mượn hình ảnh ấy để nghẹn ngào trách người anh: Tôi với anh cùng một cha sinh ra, vốn chung một cội nguồn, sao anh lại nhẫn tâm bức hại tôi quá đỗi như vậy? Nghe xong bài thơ, Tào Phi chợt hối hận, từ bỏ ý định sát hại em và anh em hòa thuận trở lại.

Qua câu chuyện ấy để thấy rằng, nếu chúng ta sống sáng suốt, nhận ra vạn vật và con người đều “cùng một gốc sinh ra” – đều xuất phát từ một tâm thanh tịnh – thì hà cớ gì phải phân biệt trắng đen, hơn thua… để rồi làm tổn thương lẫn nhau? Khi thấu triệt được điều đó, ta sẽ chấm dứt việc chạy theo phải trái, đúng sai… của thế gian, biết sống trong sự bình đẳng. Và khi tâm đã bình đẳng, không kẹt hai bên, thì cõi lòng lập tức được an bình, thanh tịnh.

Hai câu tiếp theo trong bài tụng của Sơ tổ mở rộng thêm cái nhìn sâu sắc về bản chất của hư không và sắc pháp:

“Chẳng không, không vi diệu,

Chẳng sắc, sắc rõ ràng.”

“Chẳng không, không vi diệu”: Khi ta nhận ra cái “chẳng không” – tức là hiểu rằng hư không không phải là một sự trống rỗng vô nghĩa, tuyệt đối, mà chính là không gian hiển hiện từ tự tâm – thì ta sẽ thấy cái “không” ấy vô cùng vi diệu và trùm khắp.

Cái tướng “không” này không phải là một thực thể vô tri, mà là tánh không uy uy động động, được tâm thức nhận biết trọn vẹn. Nhờ đó, tính không trở nên tràn đầy, bao la và vi diệu, không còn là thứ xiềng xích trói buộc hay làm ta rơi vào tâm trạng cô độc, lạc lõng.

“Chẳng sắc, sắc rõ ràng”: Ngược lại, khi ta thấy “chẳng sắc” – nghĩa là thấu triệt các sắc pháp không có tự tính cố định, không phải là một thực ngã vĩnh hằng – thì ta sẽ thấu suốt được bản chất nhân duyên hòa hợp của vạn vật. Khi không còn bám chấp vào sắc pháp như một thực thể cứng nhắc, ta mới thực sự nhìn thấy sự tuyệt vời và vẻ đẹp chân thật của sắc.

“Sắc rõ ràng” ở đây có nghĩa là vạn vật hiện hữu đúng như quy luật vận hành của chính nó: hoa hồng sinh ra, nở rộ rồi tàn lụi theo mùa; chú chim cất tiếng hót hồn nhiên theo nhịp điệu tự nhiên của đất trời. Mọi sắc pháp đều rõ ràng, minh bạch theo đúng quy luật sinh diệt, biến dịch của chúng.

Ta sẽ thấy mọi thứ rất đẹp, rất sinh động mà không hề bị kẹt vào hay bị trói buộc bởi bất kỳ hình tướng nào. Cả hư không lẫn sắc pháp đều hiện lên trước mắt ta với cái tướng chân thật, tướng hòa hợp trong dòng sinh diệt uyển chuyển vô cùng kỳ diệu.

Chính vì thấu suốt được nguyên lý ấy, Đức Thế Tôn khi đứng trên đỉnh núi nhìn xuống thành Xá-vệ (Visali), ngài đã thốt lên: “Thành Xá-vệ thật đẹp!.

Có người sẽ thắc mắc: Phải chăng Đức Phật vẫn còn tâm ái nhiễm, còn khởi niệm khen chê cảnh vật nơi trần thế? Thưa không phải vậy! Khi Ngài nói “thành Xá-vệ thật đẹp”, đó là Ngài đang chỉ bày cho chúng ta chỗ thấy của “chẳng sắc, sắc rõ ràng”. Ngài không hề khen ngợi bằng tâm phân biệt hay dính mắc, mà Ngài đang nhìn thấy các sắc pháp biến hiện, sinh diệt một cách tự nhiên trong tính không rỗng lặng.

Cũng giống như khi chúng ta đi du lịch, cảnh vật nơi này hay nơi khác đều mang những nét đẹp riêng biệt. Ta không cần phải so sánh núi này đẹp hơn núi kia, hay nơi này tuyệt vời hơn nơi nọ.

Ví dụ như khi chưa đến Lô Sơn, ta thường tưởng tượng ngọn núi ấy phải kỳ vĩ, khác biệt lắm. Nhưng khi đặt chân đến nơi, ta thấy nó cũng chỉ là núi non, cây cỏ như bao ngọn núi khác trên thế gian. Tuy nhiên, nếu tâm ta thanh tịnh, ta sẽ nhận ra mỗi ngọn núi, mỗi gốc cây, mỗi dòng suối đều mang một vẻ đẹp độc đáo riêng của nó.

Đạt đến cái nhìn này, ta thậm chí có thể vượt qua cả ranh giới giữa “sạch” và “dơ”, giữa “thơm” và “hôi”… trong cái nhìn phân biệt của phàm tình. Lấy nước hoa và phân bón làm ví dụ. Nước hoa dùng để xịt cho thơm người, còn phân bón dùng để nuôi cây tốt tươi. Liệu ta có thể nói cục phân cũng vi diệu như nước hoa không? Bình thường thì không thể, nhưng với tuệ giác thấy rõ giá trị thực sự của vạn pháp, ta sẽ thấy mọi thứ đều có công năng và vị trí riêng của nó trong tự nhiên. Phân bón mang lại chất dinh dưỡng cho cây trái đơm hoa kết trái, nước hoa mang lại hương thơm cho cuộc đời. Mỗi pháp đều có giá trị, có nét đẹp và có sự thành tựu riêng.

Thậm chí, khi nghe tiếng quạ kêu hay tiếng chim anh vũ hót, nếu tâm không vướng kẹt thương ghét, ta sẽ thấy tiếng kêu nào cũng có cái hay riêng của nó. Ngược lại, nếu trong lòng đã sẵn tâm phân biệt, ta sẽ sinh lòng ưa ghét: thích tiếng chim hót vì êm tai, lại ghét tiếng quạ kêu vì cho là điềm gở. Sự thương ghét, tốt xấu ấy hoàn toàn do tự tâm ta sanh ra chứ bản thân sự vật nào có lỗi lầm gì?

Tương tự, chuyện con người đối đãi với loài vật cũng vậy. Ngày xưa, ông bà ta thường dùng phân của trẻ nhỏ làm thức ăn cho chó (những chú chó ta nuôi nhà) để đỡ phải dọn dẹp. Đối với con người hiện đại, phân là thứ dơ bẩn, đáng sợ, nhưng đối với loài chó thì đó lại là thứ quen thuộc. Điều đó cho thấy các pháp vốn dĩ không có nhơ sạch hay tốt xấu tuyệt đối; mọi thứ chỉ là sự phù hợp hay không phù hợp trong từng hoàn cảnh mà thôi.

Khi thấu triệt được điều đó, ta sẽ thấy vạn pháp đều vô cùng thanh tịnh. Đúng như lời Đức Phật đã dạy:

“Chư pháp từ xưa nay,

Tướng thường tự rỗng lặng.”

Nếu ta nhìn thấy rõ sự hòa hợp nhân duyên và quy luật vận hành của các sắc pháp, ta sẽ thấy mọi sắc tướng đều rất rõ ràng, rất đẹp đẽ và vô cùng thanh tịnh, hoàn toàn không bị vướng mắc hay ô nhiễm bởi bất cứ điều gì.

Hai câu kết khép lại bài tụng của Sơ tổ:

“Sắc, không đều không tướng,

Chỗ nào lập thân hình?”

Cả sắc lẫn không đều không có tướng thật. Không chỉ hư không vốn không hình tướng, mà ngay cả các sắc pháp cũng không có cái tướng cố định, vĩnh hằng. “Không tướng” ở đây có nghĩa là không có tự tính độc lập, tất cả chỉ là sự hòa hợp tạm thời của nhân duyên.

Tùy theo nhân duyên mà vạn vật hình thành và biến chuyển. Chẳng hạn như thân ngũ uẩn của chúng ta: lúc nhỏ thì thơ ngây, lớn lên thì già cỗi, và cuối cùng đối diện với cái chết, hoại diệt. Sắc thân này không có một khuôn hình hay sự định tính vĩnh viễn nào cả; nó vô thường và biến đổi theo từng sát-na.

Thậm chí, không phải ai cũng sống đến tuổi già 70 hay 80 mới xả bỏ thân này. Có những người đang khỏe mạnh bỗng mắc bệnh nan y và ra đi rất nhanh. Lại có những đứa trẻ vừa tròn bảy, tám tuổi đã gặp tai nạn bất ngờ và phải chuyển sang một hành trình khác, hoàn tất trọn vẹn sứ mệnh ngắn ngủi của mình trong cõi đời này.

Tôi nhớ có câu chuyện về một người đệ tử Phật, dẫu thương con hết mực nhưng khi đứa con bảy, tám tuổi qua đời, vị ấy vẫn giữ tâm tĩnh lặng, không hề khóc lóc hay đau khổ quỵ ngã. Khi những người thân đến chia buồn và ngạc nhiên hỏi vì sao chị không buồn, chị từ tốn đáp: Tôi không mời nó tự đến; tôi không đuổi nó tự đi. Nó đã hoàn tất con đường của nó!

Thấu triệt được sự thật ấy, ta thấy rõ các pháp đều vận hành theo nguyên lý “như thị” (vốn là thế đó). Nếu hiểu thấu nhân quả, ta sẽ bình thản đón nhận mọi biến cố. Gặp thành công hay thất bại, thuận lợi hay nghịch cảnh, ta đều giữ tâm bình thường.

Tận cùng của cõi đời này rồi cũng chỉ là cái chết. Đau khổ tột cùng của con người cũng là cái chết, mà chết đi thì đâu phải là hết, chỉ là chuyển từ thân này sang thân khác để tiếp tục vòng xoáy sinh tử nếu chưa giác ngộ. Hiểu được như vậy, ta không còn bị chi phối hay dính mắc bởi các tướng được – mất, hơn – thua, phải – quấy của cuộc đời. Tâm không dao động, ta mới có thể thực sự bình an giữa chốn trần gian này.

Mọi kết quả ta gặt hái trong đời đều do nhân duyên từ nhiều đời nhiều kiếp tạo thành. Có người học hành dở dang, không có bằng cấp nhưng làm gì cũng thành công giàu có. Đó là vì họ đã gieo trồng phúc báo về tài sản từ trước. Ngược lại, có người hiền lương, ăn chay niệm Phật từ nhỏ nhưng làm việc gì cũng trắc trở, bệnh tật, gặp toàn chuyện nghịch ý. Đó không phải vì đạo đức không linh ứng, mà vì họ phải trả những nghiệp quả từ nhiều đời trước chưa dứt.

Giống như việc trồng cây: nếu trước kia ta để vườn hoang cỏ dại mọc đầy, nay dẫu ta có bắt đầu gieo trồng cây tốt thì cũng phải cần thời gian làm sạch cỏ và chờ cây lớn khôn mới có ngày thu hoạch.

Chính vì hiểu sâu sắc luật nhân quả, người thấu đạo biết rằng: khổ đau không do ai đem đến, hạnh phúc cũng chẳng phải do ai ban phát, tất cả đều do chính mình tạo tác. Khi gặp nghịch cảnh, họ xem đó là cơ hội trả nợ nghiệp để kết thúc ân oán; khi hưởng phúc báo, họ không đắm nhiễm mà tiếp tục gieo duyên lành.

Lịch sử thiền môn có những bậc tôn túc bị oan khiên vô cớ nhưng vẫn thản nhiên đón nhận. Chẳng hạn như chuyện thiền sư Nanin bị một cô gái trẻ vu oan làm cô mang thai. Cả xóm làng chửi mắng ngài không tiếc lời, phỉ báng ngài tu hành mà phá giới. Ngài vẫn điềm nhiên nhận nuôi đứa bé, hằng ngày đi xin sữa khắp xóm để nuôi con nhỏ trong tiếng chửi rủa ê chề. Mấy tháng trôi qua, cuối cùng cô gái kia hối hận, không chịu nổi sự cắn rứt của lương tâm nên đã cúi đầu thú nhận sự thật trước mọi người. Vị thiền sư đón nhận lời sám hối với nụ cười hoan hỷ, không một chút oán hận.

Hay như ngài Huệ Khả sau khi truyền y bát cho Tam tổ Tăng Xán, ngài tự mình đi đến chỗ cần trả nợ nghiệp trước, hoan hỷ xả thân dưới làn roi đánh đập tra khảo của quan huyện. Các bậc chân nhân chủ động đi trả nghiệp với tâm thế thản nhiên, bởi các ngài biết rõ vạn pháp chỉ là giả dối, chỉ có tự tâm mới là chân thật.

Quay lại với câu hỏi: “Sắc, không đều không tướng / Chỗ nào lập thân hình?

Tìm đâu ra một sắc thân thật để mà chấp trước? Thân ngũ uẩn này vốn vô thường, mong manh như sương sớm hạt móc, chuyển hơi thở đã qua đời sau. Khi sinh ra, con người đã mang sẵn “án tử hình” của vô thường, chỉ là thời hạn thi hành chưa đến mà thôi. Biết rõ thế gian vô thường như vậy, ta há lại nhọc nhằn bận tâm vun bồi cho cái thân giả dối này để rồi chuốc lấy khổ đau hay sao?

Thời xưa, Thái tử Sĩ-đạt-ta sinh ra trong nhung lụa, vua cha dùng ngũ dục để níu chân Ngài ở thế gian. Nhưng Ngài sớm nhận ra không ai có thể cho Ngài sự trẻ mãi không già, sống hoài không chết hay khỏe mạnh không đau. Nhận ra chân lý ấy, Ngài quyết chí xuất gia.

Có người hỏi: Đức Phật cuối cùng cũng già, cũng bệnh, cũng chết đấy thôi, vậy ngài tìm kiếm cái gì?

Thưa, Đức Phật không trốn chạy quy luật sinh tử của thân ngũ uẩn, bởi thân đã sanh ra thì ắt phải chịu sự biến dịch của vật chất. Nhưng cái mà Ngài đạt được chính là sự tự tại tuyệt đối trước sanh tử. Ngài già nhưng không đau khổ vì già, bệnh nhưng không phiền não vì bệnh, chết nhưng tâm không hề vướng mắc. Ngài thấu triệt và làm chủ được phần tâm thức bất sanh bất diệt bên trong, còn thân tứ đại cứ để thuận theo nhân duyên sinh diệt tự nhiên.

Chân lý của vũ trụ từ xưa đến nay vẫn luôn là như vậy. Giống như các nhà khoa học phát hiện ra định luật vật lý hay dòng điện, họ không tạo ra điện hay sóng vô tuyến, mà chỉ nhận ra quy luật sẵn có để ứng dụng mang lại lợi ích cho đời. Đức Phật cũng vậy, Ngài giác ngộ là để thấy rõ chân lý của vạn pháp, từ đó sống hòa hợp với chân lý mà không bị kẹt vào trói buộc, đạt đến sự giải thoát và an lạc tối thượng ngay giữa cuộc đời này.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.