Tâm Kinh Tụng giảng giải

Sắc Tức Thị Không, Không Tức Thị Sắc



Sơ Tổ tụng:

Chẳng không, không chẳng có,

Chẳng sắc, sắc không hình,

Sắc, không đồng về một,

Cõi tịnh được an bình.

Chẳng không, không vi diệu,

Chẳng sắc, sắc rõ ràng,

Sắc, không đều không tướng,

Chỗ nào lập thân hình.

Giảng:

Sắc tức thị không, không tức thị sắc nghĩa là Sắc chính là không, không chính là sắc. Tổ tụng:

“Sắc cùng không một thứ,

Chưa đến thấy hai bên.”

Sắc là hình tướng, là những thứ mắt ta nhìn thấy được, có màu sắc, có hình dáng. Hư không là cái không có hình tướng, không nhìn thấy được. Chúng vốn là hai tướng đối đãi. Nhưng tại sao ở đây Tổ lại nói chúng chỉ là một?

Bởi vì nếu không có Tâm, ai là người biết Sắc? Ai là người biết Hư không? Chính cái Tâm hay phân biệt, hay nhận biết mới là chủ thể. Hư không hay Sắc đều là “con” của Tâm, đều từ Tâm mà hiển hiện. Nếu không có Tâm, thì bản thân hư không cũng vô tri vô giác, chẳng biết mình là hư không; sắc cũng chẳng biết mình là sắc. Thành ra, khi chưa nhận được tự tâm, ta thấy chúng là hai thứ khác biệt, sanh diệt khác nhau. Nhưng khi đã nhận được Tâm rồi, ta mới bừng tỉnh: tất cả chỉ là pháp hư ảo, giả dối, không có thật.

“Nhị thừa sanh phân biệt,

Chấp tướng tự dối tâm.”

Tại sao các vị Nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) lại bị Đức Phật quở là “chấp tướng tự dối tâm”?

Các ngài thấy sanh tử đáng sợ,  Niết-bàn đáng vui, nên chán sanh tử mà cầu  Niết-bàn. Các ngài tuy đã thoát được sự trói buộc của sanh tử luân hồi, nhưng cái sai của các ngài là không nhận ra chính cái Tâm hay biết đó mới là Phật tâm. Các ngài tưởng  Niết-bàn là một cảnh giới bên ngoài, một cái gì đó mình đạt được sau quá trình tu tập, xả bỏ nhiễm ô.

Tự tâm như một kho tàng vô giá. Các vị Nhị thừa vào được kho tàng đó, lấy được một món nhỏ rồi cho rằng “tôi đã đủ rồi”, nhưng không biết nguyên cái kho tàng đó mới là tài sản của mình. Các ngài chấp vào cái cảnh giới mình chứng đắc, cho đó là đích cuối cùng, nên bị kẹt lại. Đó gọi là “tự dối tâm”, dối chính bản tâm thanh tịnh của mình.

Ngoài Không không có Sắc,

Phi sắc nghĩa rộng thênh.”

“Ngoài Không, không có sắc” – điều này rất rõ ràng. Chúng ta thử tìm xem có sắc nào nằm ngoài hư không không? Không thể có. Sắc phải sanh trong hư không, ở trong hư không thì mới thành lập được.

Còn “Phi sắc nghĩa rộng thênh” – cái mà chúng ta gọi là hư không, cái không phải là sắc, nó mới là cái rộng thênh thang, không có bờ mé. Chúng ta tìm được bờ mé của hư không không? Chắc chắn là không. Khi hiểu được sắc chỉ là pháp nương vào hư không mà sanh, còn cái bản thể “không phải sắc” kia mới là cái rộng lớn vô cùng, chúng ta sẽ thấy sự phân biệt sắc – không là vô nghĩa.

Vô sanh tánh thanh tịnh,

Ngộ đó tức Niết-bàn.”

Cuối cùng, cái gì là “vô sanh”? Đó chính là tánh thanh tịnh của chúng ta. Nó chưa từng sanh, chưa từng diệt, luôn thường trụ. Nếu chúng ta nhận ra được điều này, ngay đó là  Niết-bàn.

Đừng tìm Niết-bàn ở đâu xa, cũng đừng dịch chữ Niết-bàn ra thành quá nhiều nghĩa làm gì cho rối. Khi Lục Tổ ngộ đạo, Ngài đã thốt lên: “Đâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh, vốn không dao động, vốn tự đầy đủ, vốn không sanh diệt, vốn sanh muôn pháp”.

Tâm mình hay sanh muôn pháp, nếu mình nắm được “ông chủ” (tự tâm), mình sẽ tự tại. Đừng chạy theo những thứ do “ông chủ” sanh ra, đừng như người xem phim mà khóc cười theo nhân vật trên màn ảnh – đó là sự si mê. Bồ Tát nhìn người giàu hay người nghèo đều thương như nhau, không phải thương cái khổ của họ, mà thương vì họ đang có gia tài vô giá (tự tâm) mà không biết dùng, cứ đi ăn xin những niềm vui giả tạm.

Bài thơ Mộng của Sư ông (Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Từ) nói rất rõ chân lý này:

Gá thân mộng, dạo cảnh mộng,

Mộng tan rồi, cười vỡ mộng.

Ghi lời mộng, nhắn khách mộng,

Biết được mộng, tỉnh cơn mộng.

Khi hiểu được thân này, cảnh này chỉ là giấc mộng, chúng ta sẽ tự tại. Đó chính là ý nghĩa đích thực của “Sắc bất dị không, không bất dị sắc”.

Sau khi nghe Tổ mổ xẻ những tầng nghĩa về “Sắc”, “Không”, “Nhị thừa”, ” Niết-bàn”…, chúng ta nhận ra một điểm cốt lõi: Mọi sự phân biệt đều đến từ một tâm chưa thức tỉnh.

Đừng xem bài tụng này như những lý thuyết suông về triết học. Hãy nhìn nó như một tấm gương soi vào chính mình. Khi chúng ta còn thấy “Sắc” khác “Không”, còn thấy “Sanh tử” khác ” Niết-bàn”, nghĩa là chúng ta vẫn đang đứng bên ngoài kho tàng của chính mình. Sự chấp vào cái tướng “Đắc”, tướng “Chứng” của Nhị thừa cũng giống như việc ta lấy được một viên ngọc trong kho tàng rồi tự hào cho rằng mình đã giàu có, mà quên mất rằng toàn bộ kho tàng ấy vốn dĩ đã thuộc về mình từ vô thủy.

Chúng ta phải luôn nhớ lời cảnh tỉnh của Sư ông:

“Gá thân mộng, dạo cảnh mộng,

Mộng tan rồi, cười vỡ mộng.”

Chúng ta đang sống trong một vở kịch lớn của các pháp hữu vi. Khổ, vui, thành, bại…… – tất cả chỉ là những vai diễn trong giấc mộng ấy. Người tỉnh là người biết đó là mộng, không khóc theo nhân vật, không cười theo kịch bản, họ an nhiên vì biết rõ bản thể của mình vốn như hư không, trong sáng và bất biến.

Đừng tìm cầu Niết-bàn ở một cảnh giới xa xôi nào cả. Niết-bàn ngay tại đây, ngay trong cái tâm đang biết rõ mọi sự sanh diệt này mà không hề bị sanh diệt làm nhiễm ô. Khi chúng ta không còn chạy theo cái bóng của pháp, không còn bị sự ngu si (như cái cách mà Bồ Tát nhìn chúng sanh) che lấp, chúng ta sẽ thấy mình chính là “ông chủ” của mọi hiện tượng.

Hãy dũng cảm quay về, nhận lại “Gia tài” của chính mình. Đừng đi ăn xin những niềm vui chốc lát của ngũ dục nữa. Khi đã nhận ra rồi, chúng ta sẽ thấy “Sắc bất dị không, không bất dị sắc” không còn là những câu kinh khó hiểu, mà chính là sự tự tại, thanh tịnh mà chúng ta đang sống, đang thở, đang hiện hữu trong từng phút giây. Đó chính là Tâm chân thật của chính chúng ta!


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.