Sơ Tổ tụng:
Thọ, tưởng nhận các duyên,
Hành, thức lượng rộng dung,
Biến kế tâm phải dẹp,
Bệnh ngã chẳng tương quan.
Giải thoát tâm không ngại,
Phá chấp ngộ nguồn tâm,
Nên nói cũng như thế,
Tánh tướng đều như nhau.
Giảng:
Sau khi đã làm rõ sắc và không, đến đây Tổ giải thích về bốn uẩn còn lại Thọ, tưởng, hành, thức. Chúng cũng tương tự như sắc uẩn, nghĩa là đều không có tự tính thật, đều tức là không, đều không phải là không. Năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) vốn là một khối thống nhất, nên khi đã thấu đạt sắc là không, thì bốn uẩn này cũng đều như vậy.
“Thọ, tưởng nhận các duyên,
Hành, thức lượng rộng dung.“
Tổ làm rõ về thọ, tưởng, hành, thức, bởi vì sắc uẩn vốn hiện tướng bên ngoài ta dễ thấy, còn bốn uẩn này là cái thần bên trong, khó nhận diện hơn.
Thọ, tưởng nhận các duyên: Thọ và tưởng không nhận trực tiếp các trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) mà chúng nhận các “duyên” – tức là những bóng dáng, những phản chiếu của sáu trần. Việc tiếp xúc trực tiếp là do sắc uẩn làm, còn thọ và tưởng chỉ ghi nhận lại bóng dáng của sự tiếp xúc đó.
Hành, thức lượng rộng dung: Hành và thức đóng vai trò dung chứa, gom lại và giữ gìn. Thọ, tưởng ghi nhận rồi đưa vào, còn hành và thức thì ôm trọn, cất giữ tất cả.
Tại sao khi có công phu tu tập, ta có thể nhìn thấy rõ ràng quá khứ, biết rõ đời trước mình là ai, làm gì? Đó là vì khi sắc uẩn thâu nhận mọi sự kiện, thọ tưởng ghi lại bóng dáng, rồi hành thức gom tất cả vào kho tàng tâm thức. Tâm thức giống như một ổ cứng máy tính hay một chiếc USB lưu trữ mọi thông tin. Nó chứa đựng vô lượng, không sót một mảy may.
Có những người dù đầu óc nhỏ bé nhưng lại chứa đựng kiến thức khổng lồ, hay đứa trẻ mới sinh ra đã thông thạo nhiều ngôn ngữ, chính là nhờ vào việc sử dụng lại những “thông tin” đã được lưu trữ từ nhiều kiếp. Vì tất cả chỉ là bóng dáng, không chiếm không gian vật lý, nên nó mới có thể chứa đựng vô lượng vô biên như thế. Thay vì vất vả học hành theo cách thông thường, điều quan trọng nhất là tu tập sao cho tâm thanh tịnh, để tìm ra chìa khóa mở kho tàng ký ức của chính mình.
“Biến kế tâm phải dẹp,
Bệnh ngã chẳng tương quan.“
Biến kế tâm phải dẹp: “Biến kế” là cái tâm chấp trước, lầm lạc cho rằng các pháp là có thật, là đúng – sai, phải – quấy. Ví như trong đêm tối, ta thấy cọng dây thừng lại tưởng lầm là con rắn rồi sợ hãi. Các pháp cũng vậy, vốn là pháp huyễn hóa, do duyên hợp mà thành, vậy mà ta lầm tưởng nó là thật. Tổ muốn dạy chúng ta hãy dẹp bỏ cái tâm chấp trước sai lầm đó, hiểu rõ mọi thứ đều vô thường, chịu sự chi phối của nhân duyên.
Bệnh ngã chẳng tương quan: Khi bỏ được tâm chấp pháp là thật, tự nhiên ta cũng buông được “ngã chấp” (chấp cái thân tâm này là thật). Tại sao ta thương hay ghét một người? Đó là do nhân duyên. Đã là duyên thì có hợp có tan, có sanh có diệt. Khi hiểu rõ điều này, ta không còn bị những cảm xúc thương ghét, hơn thua trói buộc. Sự đau khổ, vui buồn đều đến từ việc ta chấp một bên. Nếu tâm bình đẳng với tất cả, ta sẽ tự tại.
“Giải thoát tâm không ngại,
Phá chấp ngộ nguồn tâm.“
Giải thoát tâm không ngại: Khi không còn bị trói buộc bởi các pháp, tâm ta sẽ không còn ngăn ngại. Ngay cả cái chết cũng không ngăn ngại được người đã thấu suốt, vì họ biết đó chỉ là một chặng chuyển tiếp của ngũ uẩn theo nhân quả. Người tự tại có thể tùy nghi đi vào sanh tử để hóa độ chúng sanh hoặc trả nợ nghiệp xưa một cách nhẹ nhàng.
Phá chấp ngộ nguồn tâm: Tâm ta vốn trùm khắp, nhưng vì chấp nên bị kẹt vào hai bên. Khi buông hết, không kẹt vào đâu, ta mới khế hợp với nguồn tâm. Việc giữ giới cũng không ngoài mục đích ấy – giữ giới để không còn làm tổn hại chúng sanh, để tâm lặng lẽ thanh tịnh, từ đó mà định sanh huệ. Giữ giới thực sự là khi tâm không còn một niệm não hại bất kỳ ai.
“Nên nói cũng như thế;
Tánh tướng đều như nhau”
Nên nói cũng như thế: Khi ta phá được tâm chấp trước và ngộ được nguồn tâm, ta sẽ thấy tất cả các pháp đều là “như thế”. Đây chính là chân lý “Như thị”. Buổi sáng mặt trời lên thì có ánh sáng, đêm tối không trăng sao thì trời tối; mùa xuân hoa nở theo thời tiết, chim đậu trên cành hót theo bản năng – mọi thứ vận hành đúng theo quy luật nhân duyên của nó.
Khi đã thấu đạt được nhân quả và nhân duyên, ta không còn khởi tâm muốn “làm chủ” các pháp theo kiểu áp đặt hay điều khiển chúng phải thế này thế nọ. Làm chủ ở đây nghĩa là ta không còn bị các pháp trói buộc hay chi phối. Ta thấy rõ chúng chỉ là những pháp giả dối, vô thường, và ta chọn cách sống thuận theo sự vận hành đó mà vẫn giữ được tâm bình thản. Đó cũng là cách Đức Thế Tôn dạy ta giữ giới: Nương vào quy luật của các pháp để chỉ cho ta con đường thể nhập lại bản tâm thanh tịnh.
Tánh tướng đều như nhau: Tánh của các pháp là rỗng lặng, và tướng của các pháp cũng rỗng lặng. Sự rỗng lặng ấy không có nghĩa là hư vô, mà là cái “rỗng lặng hay chiếu soi”. Mọi sự vật hiện tiền đều đẹp đẽ trong chính sự vận hành của nó. Một bông hoa hồng tỏa hương ngát, hay thậm chí là một cục phân cũng có giá trị riêng trong việc nuôi dưỡng cây cối – tất cả đều là sự vận hành vi diệu của các pháp.
Khi nhìn bằng con mắt của bậc giác ngộ, không có pháp nào là xấu, không có pháp nào là đẹp theo nghĩa phân biệt. Mọi thứ đều đang diễn pháp, đều đang nói lên tiếng nói của sự vô thường và nhân quả. Như cõi Phật A Di Đà, chim chóc hay hoa lá đều đang thuyết pháp, thì ở thế gian này cũng vậy, nếu tâm ta thanh tịnh, ta sẽ thấy mọi sự vật xung quanh đều đang thuyết pháp.
Người thấu đạt được điều này sẽ thấy cõi đời này đẹp vô cùng. Ta không còn chán ghét sanh tử, cũng không cần mải miết cầu tìm Niết-bàn ở đâu xa xôi. Bởi lẽ, khi tâm đã tịnh thì độ cũng tịnh, ngay tại nơi ta đang đứng chính là đạo tràng, ngay nơi này chính là cõi Phật. Đừng chạy đi du lịch hay tìm kiếm cảnh đẹp ở đâu khác, vì nếu tâm chúng ta thanh tịnh, mọi cảnh tượng hiện tiền chính là những thước phim tuyệt mỹ nhất mà chúng ta đang được chiêm nghiệm.