Sơ tổ tụng:
“Sắc cùng không một thứ,
Chưa đến thấy hai bên,
Nhị thừa sanh phân biệt,
Chấp tướng tự dối tâm.
Ngoài không, không có sắc,
Phi sắc nghĩa rộng thênh,
Vô sanh tánh thanh tịnh,
Ngộ đó tức Niết-bàn.”
Giảng:
Khi giảng về câu “Sắc bất dị không, không bất dị sắc” (nghĩa là sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc), Sơ tổ đi thẳng vào bản chất của hai hiện tượng này.
“Sắc cùng một thứ,
Chưa đến thấy hai bên.”
Chúng ta cần thấu hiểu rõ bản chất của sắc và không. Hư không là cái không có hình tướng, còn sắc là cái có hình tướng, có màu sắc mà mắt thường có thể nhìn thấy được. Đây là những khái niệm tồn tại trong pháp đối đãi: sắc có hình tướng, hư không không hình tướng; sắc có màu sắc, hư không vô sắc. Chính sự đối đãi qua lại này đã tạo nên tên gọi “sắc” và “không”.
Tuy nhiên, xét đến cùng, sắc và không vốn chỉ là một thứ. Vì sao vậy? Bởi vì nếu không có tâm, thì làm sao có ai biết được sắc hay hư không? Hư không ở đây là chỉ hư không bên ngoài đối lập với sắc, chứ không phải là thể tâm thanh tịnh của chính mình. Thể tâm của ta thanh tịnh được ví dụ “như hư không” để dễ hình dung, chứ tâm không phải là hư không vô tri, và tâm cũng không biến thành hư không. Bản thân hư không là vô tri vô giác, nó không biết nó là hư không; sắc cũng chẳng biết nó là sắc. Cả hai chỉ là pháp vô tình bên ngoài.
Chính cái tâm hay hay biết mới là tâm chân thật. Vì sắc và hư không đều do tâm nhận biết và đều từ tâm sinh ra, nên tự bản chất chúng chỉ là một.
Thế nhưng, khi hành giả “chưa đến” – tức là chưa trực nhận được tự tâm của chính mình – thì ta vẫn thấy có “hai bên”. Ta phân biệt rạch ròi: sắc thì có sinh diệt, hư không thì vô sinh diệt; sắc có hình tướng, hư không thì vô hình tướng.
Ngay khi ta đã “đến”, đã trực nhận được tự tâm rồi, ta mới vỡ lẽ: hóa ra tất cả cũng chỉ từ tâm này sinh ra mà thôi! Nếu không có tâm, ai nhận biết hư không, ai nhận biết sắc? Cả hai đều chỉ là pháp hư huyễn, giả dối, không có thật. Ngay cả hư không cũng chẳng có thật, bởi nếu tâm không nhận biết thì hư không đối với ta cũng chẳng tồn tại. Do đó, chỉ có chân tâm hay biết mới là chân thật, và khi chân tâm đã là một thì sắc và không được nó nhận biết cũng chính là một.
Hai câu tiếp theo trong bài kệ của Sơ tổ chỉ rõ cái lầm của hàng Nhị thừa – tức là các hành giả tu tập theo pháp Thanh văn và Duyên giác:
“Nhị thừa sanh phân biệt,
Chấp tướng tự dối tâm.”
Các vị Nhị thừa thấy sinh tử là đáng sợ, Niết-bàn là đáng vui, từ đó sinh tâm chán bỏ sinh tử để cầu Niết-bàn. Tuy các ngài đã giác ngộ phần nào, có thể tự tại trong sinh tử và không còn tạo các nghiệp buộc ràng, nhưng cái khổ lớn nhất của hàng Thanh văn là không nhận ra được tâm hay biết chính là Phật tâm, là tự tâm thanh tịnh của chính mình.
Vì không nhận ra nguồn cội ấy, các ngài nghĩ rằng sinh tử thì đáng sợ, còn Niết-bàn là một cảnh giới đáng vui hoàn toàn khác biệt ở bên ngoài. Các ngài cho rằng nhờ mình tu hành, xả bỏ các thói quen và cấu uế nên mới đạt được cảnh giới đó – xem đó là một phần thưởng do công phu tu tập đem lại.
Chính vì hiểu lầm rằng Niết-bàn là một cảnh giới từ bên ngoài đến, các ngài đã rơi vào lập trường của Tiểu thừa. Thực ra, đạo lý các ngài đạt được cũng từ tâm mà ra, nhưng các ngài lại không biết đó là bản tâm thanh tịnh của chính mình. Sự không dám nhận, không dám tin vào bản tâm ấy đã khiến các ngài vướng vào pháp chấp, và vì thế đã bị Đức Phật quở trách.
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật đã khai mở để các vị Thanh văn, Duyên giác hiểu rằng cảnh giới mà các ngài đang chứng đắc kỳ thực chỉ là một phần tâm cảnh, là “hóa thành” tạm thời trên đường tu, chứ chưa phải là sự toàn diện của tự tâm. Thể rỗng lặng trùm khắp cùng diệu dụng vô biên của tự tánh đòi hỏi hành giả phải tiếp tục đi sâu vào, phải tiếp tục sống sâu hơn nữa mới đến được chốn mà chư Phật và Bồ Tát đã đến.
Lúc bấy giờ, có những vị nghe xong bèn “hồi tâm Đại thừa”, bắt đầu quay về tu tập để khai thác sâu hơn tự tâm của chính mình – đó là các vị hồi tâm Đại A-la-hán. Ngược lại, có những vị không thể tin nổi, khăng khăng cho rằng: “Đây rõ ràng là cảnh giới con đã tự mình chứng đắc!”, từ chối lời dạy của Đức Phật và rời khỏi hội Pháp Hoa. Đức Phật gọi những vị này là “bất hồi tâm độn A-la-hán”. Các ngài chấp chặt vào cảnh giới thanh tịnh do sự xả ly ái dục mà có được, chấp nhận cái tâm mình chỉ dừng lại ở bước đó, mà không dám nhận đó chính là Phật tâm, là tự tâm vô tận của mình.
Hình ảnh này giống như một người bước vào kho tàng báu vật vĩ đại, nhưng lại chỉ nhặt được một vài món tài sản nhỏ ở một góc phòng, rồi vội vã cho rằng như thế là đủ, là mình đã giàu có lắm rồi. Họ không hề biết rằng cả kho tàng to lớn ấy mới thực sự là của mình, và họ cũng chẳng dám bước vào sâu để thừa hưởng trọn vẹn. Hàng Thanh văn, Duyên giác cũng giống như thế: họ có chạm đến sự thanh tịnh, nhưng lại không dám nhận nguyên vẹn cả kho tàng tự tánh, mà chỉ nhận một phần nhỏ rồi tự mãn.
Đó chính là lỗi lầm của Nhị thừa: “chấp tướng tự dối tâm”. Các ngài chấp chặt vào cái tướng Niết-bàn bên ngoài, cho đó là một cảnh giới thật có do mình chứng đắc được, để rồi tự dối gạt lấy bản tâm thanh tịnh sẵn có của chính mình.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, khi chỉ dạy về năm mươi ấm ma, Đức Phật cũng cho biết các bậc Thanh văn, Duyên giác thường kẹt lại ở những tầng sâu của tâm thức (ấm ma thứ 49 và 50), tưởng rằng cảnh giới thanh tịnh tĩnh lặng đó là tột cùng, là cứu cánh cuối cùng. Các ngài đâu biết rằng việc thể nhập trọn vẹn vào bản thể thường trụ mới là sự thật rốt ráo.
Việc dừng lại ở cảnh giới ấy tuy giúp các ngài không còn bị ba cõi trói buộc, nhưng lại mất đi sự tự tại, không thể dạo chơi khắp chốn cứu độ muôn loài như các bậc Bồ-tát. Tất cả chỉ vì các ngài không chịu khai thác trọn vẹn nguồn năng lượng và diệu dụng vô tận vốn có sẵn ngay trong tự tâm của chính mình.
Hai câu tiếp theo trong bài kệ tiếp tục soi sáng mối quan hệ mật thiết giữa sắc và không:
“Ngoài không, không có sắc,
Phi sắc nghĩa rộng thênh.”
Nếu chúng ta thử tìm kiếm sắc ở bên ngoài hư không thì hoàn toàn không thể tìm thấy. Sắc có thể hiện hữu là vì nó nằm ở trong hư không; nếu tách rời hư không thì sắc không thể nào có được. Do đó, ngoài không thì tuyệt đối không thể tìm thấy sắc.
Ngược lại, cụm từ “phi sắc” – tức là cái không phải là sắc (chỉ cho hư không) – mang một ý nghĩa rộng thênh thang, vô cùng tận. Hư không ấy không có bờ mé, không thể nào tìm thấy điểm dừng hay giới hạn của nó. Khi ta ngắm nhìn hư không, ta không thể nào tìm ra được ranh giới hay bờ mé của nó ở đâu, bởi nó bao la, rộng lớn vô cùng.
Hai câu kệ cuối cùng đưa hành giả trở về với cứu cánh của tự tánh:
“Vô sanh tánh thanh tịnh,
Ngộ đó tức Niết-bàn.”
Cái gọi là vô sinh – tức là bản tánh không sinh không diệt – chính là tánh thanh tịnh của chúng ta. Nó vốn không sinh, chưa từng sinh thì cũng chưa từng diệt, luôn luôn thường trụ như vậy. Nếu hành giả nhận ra được điều này thì ngay đó chính là Niết-bàn.
Niết-bàn là gì? Đó là sự tự tại, giải thoát, thanh tịnh, vô nhiễm, vô dư… Do có quá nhiều khía cạnh và ý nghĩa vi tế, tiếng Phạn Nirvana được người xưa giữ nguyên âm là “Niết-bàn” thay vì dịch nghĩa. Tùy theo góc nhìn mà ta gọi tên: đứng trên mặt ô nhiễm và thanh tịnh thì gọi là thanh tịnh; đứng trên mặt sinh diệt và bất sinh diệt thì gọi là bất sinh diệt; đứng trên mặt thường trụ không đổi dời thì gọi là thường trụ.
Khi ngộ được tự tâm, ta mới thấu hiểu lời Lục Tổ thốt lên khi triệt ngộ:
“Đâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh!
Đâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ!
Đâu ngờ tánh mình vốn không dao động!
Đâu ngờ tánh mình vốn không sinh diệt!
Đâu ngờ tánh mình hay sinh muôn pháp!”
Tự tánh của chúng ta chưa từng dao động; những biến động ta thấy hằng ngày chỉ là tâm chạy theo ngoại cảnh, là tâm sinh diệt chứ không phải chân tánh. Tự tánh cũng vốn không sinh diệt, vì nó luôn luôn hiện hữu như thế.
Đặc biệt, tự tánh còn hay sinh muôn pháp. Cội nguồn khiến chúng ta trôi nổi trong sinh tử, hay chấp nê vào các pháp, cũng đều từ tự tâm mà sinh ra. Giống như hư không vô hình vô tướng, rộng mông mênh và thanh tịnh, nhưng tất cả muôn sắc pháp đều ở trong hư không mà thành lập. Nếu không có tâm thì ta không thể tìm thấy pháp nào cả; mọi hiện tượng đều do tâm sinh ra.
Vì vậy, nếu biết quay trở về nắm lấy “ông chủ” – tức là bản tâm thanh tịnh – thay vì bám víu vào những thứ do tâm sinh diệt biến hiện, thì ta sẽ được tự tại vô ngại như ông chủ ấy. Mọi hiện tượng sinh diệt bên ngoài không thể làm ảnh hưởng gì đến tự tánh. Ngược lại, nếu ta quên mất ông chủ, chạy theo các pháp sinh diệt, ta sẽ phải chịu cảnh điên đảo, khổ sở trong luân hồi.
Trong lịch sử thiền tông, khi ngài Đạo Tín đến gặp Tam tổ Tăng Xán để xin dạy pháp môn giải thoát, Tổ hỏi: “Ai trói buộc ông?” – “Dạ, không ai trói con cả.” – “Vậy cầu giải thoát làm gì?” Ngay câu nói ấy ngài Đạo Tín nhận ra: từ xưa đến nay có ai trói mình đâu, tự tâm mình sinh ra chấp trước nên tự trói lấy mình đấy thôi!
Hay như ngài Tăng Xán là người bị bệnh phong hủi, nghĩ rằng mình mang nhiều nghiệp chướng nặng nề nên đến xin Nhị tổ Huệ Khả dạy cho pháp sám hối. Tổ bảo: “Đem tội ra đây, ta sám cho!” Tăng Xán quay lại tìm không thấy tội đâu. Tổ liền bảo: “Ta đã sám hối cho ông rồi!”
Tội lỗi từ đâu ra? Cũng từ tâm mình sanh ra mà thôi. Ta cho nó là tội thì nó thành tội, ta nhìn nó bằng tâm bình thường thì nó trở lại bình thường. Có những người dù mang bệnh nhưng tâm họ bình thản, không hề thấy đau khổ, bởi họ xem đó chỉ là pháp sinh diệt tự nhiên của thân xác.
Giống như người đi xem phim: có người xem mà khóc cười theo nhân vật, quên mất mình đang xem phim vì cứ ngỡ đó là chuyện thật; nhưng có người tỉnh táo nhận biết tất cả chỉ là tuồng diễn huyễn hóa, nên họ thản nhiên, không buồn không vui. Người khóc cười theo nhân vật chính là chúng ta đang mê lầm chạy theo các pháp sinh diệt giả tạm bên ngoài. Còn người tỉnh thức thì thấy rõ thiện ác, thành bại trên màn hình đời chỉ là tuồng diễn, tâm họ hoàn toàn bình thản, không dính mắc.
Chính vì thấu triệt được điều này nên Bồ-tát nhìn chúng sinh đau khổ không phải chỉ thương cái khổ bề ngoài, mà thương vì chúng sinh có sẵn kho báu vô giá trong nhà mà không biết dùng, cứ đi ăn xin khắp chốn. Bồ-tát thương cả người nghèo lẫn người giàu, bởi vì dù giàu sang hay nghèo hèn mà không nhận ra tự tánh, cứ mãi đắm chìm trong ngũ dục lạc vô thường, thì rốt cuộc cũng chỉ đang chịu khổ trong mộng ảo.
Sư ông – Thiền sư thượng Thanh hạ Từ – có làm bài thơ “Mộng” vô cùng sâu sắc:
“Gá thân mộng,
Dạo cảnh mộng,
Mộng tan rồi,
Cười vỡ mộng!
Ghi lời mộng,
Nhắn khách mộng,
Biết được mộng,
Tỉnh cơn mộng.”
Thân này là mộng, cảnh này cũng là mộng. Đến khi “mộng tan rồi” – tức là khi ta thức tỉnh – ta sẽ chỉ mỉm cười trước những hý trường sinh tử vô minh.
Nếu ta nhận ra được điều này, thì ngay nơi thân mộng cảnh mộng ấy, tâm ta thanh tịnh, và ngay đó chính là Niết-bàn, chẳng phải tìm kiếm ở đâu xa.