Buddhamitra
Ngài họ Tỳ-xá-la ở nước Đề-già. Từ lọt lòng mẹ đến năm mươi tuổi chưa từng nói một lời, chưa từng đi một bước. Cha mẹ nghi nhân duyên gì mà ngài thế ấy. Đến khi gặp tổ Phật-đà-nan-đề nói duyên đời trước rằng:
– Đứa bé này đời trước thông minh lắm, ở trong Phật pháp do lòng đại bi muốn làm lợi ích lớn cho chúng sanh, cho nên thường nguyện: “Nếu tôi sanh chỗ nào không bị tình phụ tử ràng buộc, tùy duyên lành kia liền được giải thoát.” Miệng nó không nói là tiêu biểu đạo không tịch, chân nó không đi là tiêu biểu pháp không đến đi.
Cha mẹ ngài nghe lời giải thích của Tổ sạch hết nghi ngờ, vui vẻ cho theo Tổ xuất gia.
Khi ra đời ngài không nói không đi tới năm mươi năm, cho nên cha mẹ nghi có tật bệnh. Đến khi gặp tổ Phật-đà-nan-đề nói nguyên do đời trước: Đứa bé này đời trước thông minh lắm, ở trong Phật pháp do lòng đại bi muốn làm lợi ích cho chúng sanh nên thường nguyện: Nếu tôi sanh chỗ nào, không bị tình phụ tử ràng buộc tùy duyên lành kia liền được giải thoát. Nguyện như vậy là nguyện lành, nên khi ra đời ngài được như nguyện, gặp Tổ độ cho xuất gia tùy duyên tu liền được giải thoát.
Chúng ta không nên cho rằng nguyện gì được nấy, mà còn tùy theo có phước hay vô phước. Nếu vô phước dù có nguyện cũng không được như ý, đừng nghe Tổ nguyện rồi bắt chước. Khi nào mình có trí tuệ, có lòng đại bi thương chúng sanh thì nguyện mới được như ý, vì do tâm mà cảm ứng.
Trong đạo Nho có câu: Nhân hữu thiện nguyện, thiên địa tùng chi, nghĩa là người có nguyện lành thì trời đất cũng theo. Hiểu như vậy để chúng ta cố gắng tu. Phật dạy người tu phát đại nguyện là do lòng từ bi muốn độ khắp chúng sanh, nên phát đại nguyện một đời làm chưa xong, những công hạnh tốt chưa được đầy đủ cho nên nguyện đời sau làm tiếp.
Tại sao khi ngài ra đời không nói không đi đến năm mươi năm? Miệng không nói một tiếng là tiêu biểu đạo không tịch rỗng lặng, chỉ tâm thể chân thật của mỗi chúng ta. Tâm thể rỗng lặng vừa khởi niệm phát ra ngôn ngữ thì mất rỗng lặng rồi, mà ngôn ngữ là tướng sanh diệt, nói không hợp với đạo cho nên không nói. Chân không đi là tiêu biểu pháp không đến đi. Tâm thể chân thật không hình tướng mà trùm khắp, đã trùm khắp rồi thì đi đâu, không tướng thì chẳng nói đi đến. Hiểu vậy mới thấy lời của Tổ đơn giản mà chỉ được ý nghĩa sâu kín của đạo.
Nghe lời giải thích của Tổ, cha mẹ vui vẻ cho ngài theo Tổ xuất gia. Sau khi xuất gia ngài được truyền giới pháp đầy đủ và được Tổ truyền tâm kệ phó pháp làm Tổ thứ chín.
Sau khi đắc pháp, ngài du hóa khắp nơi, sang Trung Ấn giáo hóa. Nơi đây có trưởng giả tên là Hương Cái. Ông này có người con trai tên là Nan Sanh, trưởng giả Hương Cái dẫn con đến yết kiến ngài. Đảnh lễ xong, Trưởng giả thưa:
– Thằng bé này ở trong thai mẹ ngót sáu mươi năm, do đó tôi đặt tên là Nan Sanh. Có một vị tiên đến coi tướng nó, rồi nói: “Thằng nhỏ này hẳn là tướng phi phàm, sẽ làm pháp khí Đại thừa, sau gặp Bồ-tát hóa độ.” Bởi có duyên lành nên nay gặp được Ngài, tôi nguyện cho nó theo Ngài xuất gia học đạo.
Ngài hoan hỷ nhận Nan Sanh cho xuất gia thọ giới. Trong buổi lễ xuất gia thọ giới bỗng có ánh sáng mát chiếu khắp chỗ Nan Sanh ngồi.
Cơ duyên hóa độ sắp viên mãn, ngài kêu
Nan Sanh lại dặn dò:
Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải gìn giữ truyền trao, đừng cho đoạn dứt. Ngươi nhận lời ta dạy, hãy nghe kệ đây:
Chân lý bản vô danh,
Nhân danh hiển chân lý.
Thọ đắc chân thật pháp,
Phi chân diệc phi ngụy.
Dịch:
Chân lý vốn không tên,
Nhân tên bày chân lý.
Nhận được pháp chân thật,
Chẳng chân cũng chẳng ngụy.
Nói kệ xong, ngài bèn vào chánh định hiện tướng Niết-bàn. Chư thiên trỗi nhạc cúng dường. Nan Sanh cùng đồ chúng dùng dầu thơm gỗ chiên-đàn làm lễ hỏa táng chân thể của ngài. Hỏa táng xong lượm xá-lợi về tôn thờ nơi chùa Na-lan-đà.
Sau khi đắc pháp, Tổ đi giáo hóa khắp nơi, đến Trung An gặp trưởng giả Hương Cái, có người con trai tên Nan Sanh, ông dẫn con đến yết kiến Tổ. Trưởng giả thưa: Thằng bé này ở trong thai mẹ sáu mươi năm mới sanh ra, tôi đặt tên là Nan Sanh. Bởi có duyên lành nên nay gặp Ngài tôi nguyện cho nó theo Ngài xuất gia học đạo.
Tổ hoan hỷ nhận Nan Sanh cho xuất gia thọ giới. Cơ duyên hóa độ sắp viên mãn, Tổ kêu Nan Sanh lại dặn dò truyền trao chánh pháp. Sau đây là bài kệ truyền pháp:
Chân lý vốn không tên,
Nhân tên bày chân lý.
Nhận được pháp chân thật,
Chẳng chân cũng chẳng ngụy.
Chân lý vốn không tên, nhân tên bày chân lý. Chân lý thì không có tên, nhưng không tên làm sao biết, nên tạm mượn giả danh để nương đó mà hiểu chân lý.
Nhận được pháp chân thật, chẳng chân cũng chẳng ngụy. Bản thể thì không đối đãi, nói chân là đối với ngụy, nói giả là đối với thật. Bản thể không sanh không diệt, vượt ra ngoài tất cả pháp đối đãi, làm sao nói chân nói ngụy. Vì vậy, khi nhận được pháp chân thật thì không còn nói chân nói ngụy.
Nhà thiền có câu “truyền đăng tục diệm”, nghĩa là trao đèn nối lửa, chỉ cho sự truyền thừa giữa Thầy và trò. Tại sao Thầy trò truyền pháp mà gọi là trao đèn nối lửa? Bởi vì đạo Phật lấy giác ngộ làm chỗ cứu cánh, mà giác ngộ là trí tuệ sáng suốt chân thật tuyệt đối. Trí tuệ sáng suốt chân thật là chỉ cho ánh sáng, nên thường mượn ngọn đèn ngọn đuốc tượng trưng. Như vậy, đạo Phật chủ trương người tu phải giác ngộ, nên truyền trí tuệ cho mọi người chứ không phải truyền lòng tin.
Trọng trách của người xuất gia học Phật là làm sao cho ngọn đuốc của mình sáng tỏ, chúng ta là người đi trước phải học hiểu thực hành những lời Phật chỉ dạy, để truyền đạt cho người sau, nếu dừng là có tội làm cho Phật pháp đoạn dứt. Do đó khi truyền tâm ấn cho đệ tử, chư Tổ trao một bài kệ rồi nhắc phải ráng gìn giữ truyền trao đừng cho đoạn dứt, nếu đoạn dứt là người đó không tròn bổn phận.
Khi cơ duyên đã mãn, Tổ vào chánh định hiện tướng Niết-bàn, Nan Sanh cùng đồ chúng dùng gỗ chiên-đàn ướp dầu thơm làm lễ hỏa táng, lượm xá-lợi tôn thờ nơi chùa Na-lan-đà.