Pārsva
Ngài tục danh là Nan Sanh, người Trung Ấn. Thân mẫu mang thai đến sáu mươi năm mới sanh ra ngài. Lúc ngài sắp sanh, thân phụ nằm mộng thấy một con voi trắng to trên lưng có chở một bảo tòa, trong bảo tòa có hạt minh châu, từ ngoài cửa đi vào chiếu sáng khắp nhà. Ông giật mình tỉnh giấc thì ngài ra đời.
Sau gặp tổ Phục-đà-mật-đa độ cho xuất gia. Được xuất gia rồi ngài cần mẫn tu học cho đến quên ăn bỏ ngủ, suốt ngày đêm chưa từng đặt lưng xuống chiếu, như thế mãi cả đời. Vì thế, thời nhân gọi ngài là Hiếp Tôn Giả (Tôn giả hông không dính chiếu).
Học sử ngài Hiếp Tôn Giả là học hạnh tinh tấn. Ngài ở trong thai mẹ đến sáu mươi năm, nên khi sanh ra cha mẹ đặt tên Nan Sanh, là rất khó sanh. Ngài gặp tổ Phục-đà-mật-đa độ cho xuất gia. Từ đó ngài cần mẫn tu, quên ăn bỏ ngủ, suốt ngày đêm chưa từng đặt lưng xuống chiếu, như thế mãn cả đời. Vì vậy người đời gọi ngài là Hiếp Tôn Giả.
Đây là tấm gương tốt để chúng ta noi theo, dù người trẻ hay già, xuất gia hay tại gia, hễ nói tu là phải quyết tâm. Không phải trẻ tu lơ mơ đợi già tu miệt mài như ngài Hiếp Tôn Giả. Trẻ tu lơ mơ đợi già tu rút, nhiều khi tu nửa chừng ngã ra chết, thì không tới đâu. Tuy tuổi già mà hiểu đạo rồi tinh tấn tu không trễ nải một phút giây nào, già tu vẫn kết quả. Cho nên trọng tâm của người tu là học đạo, hiểu đạo rồi phải cố gắng thực hành. Dù trẻ hay già nếu cố gắng tu đều có kết quả tốt như nhau. Vì ai cũng có khả năng giải thoát sanh tử. Cho nên chư tổ trong nhà Thiền có vị đi tu lúc mười mấy tuổi, có vị đi tu khi sáu bảy mươi tuổi, có vị thông minh học rộng có người dốt nát v.v… nhưng nếu ai quyết tâm tu thì cũng đạt đạo.
Lãnh thọ chánh pháp xong, ngài đi vân du các nơi tùy cơ giáo hóa. Đến nước Hoa Thị, ngài tạm nghỉ dưới cây đại thọ. Khi ấy, ngài lấy tay chỉ xuống đất bảo chúng:
– Khi nào đất này biến thành màu vàng, sẽ có một thánh nhân vào hội.
Ngài vừa dứt lời, đất liền biến thành màu vàng. Chốc lát có một thiếu niên con nhà giàu tên Phú-na- dạ-xa đến trước ngài đứng chắp tay. Ngài hỏi:
– Ngươi từ đâu đến?
Thanh niên thưa:
– Tâm con chẳng phải đến.
– Ngươi dừng chỗ nào?
– Tâm con chẳng phải dừng.
– Ngươi chẳng định sao?
– Chư Phật cũng thế.
– Ngươi chẳng phải chư Phật.
– Chư Phật cũng chẳng phải.
Ngài nhân đó nói bài kệ:
Thử địa biến kim sắc,
Dự tri ư thánh chí.
Đương tọa bồ-đề thọ,
Giác hoa nhi thành đĩ.
Dịch:
Đất này hóa sắc vàng,
Biết có thánh nhân sang.
Ngồi dưới cây bồ-đề,
Hoa giác nở hoàn toàn.
Phú-na-dạ-xa cũng đọc bài kệ:
Sư tọa kim sắc địa,
Thường thuyết chân thật nghĩa.
Hồi quang nhi chiếu ngã,
Linh nhập tam-ma-đề.
Dịch:
Thầy ngồi đất sắc vàng,
Thường nói nghĩa chân thật.
Xoay ánh sáng chiếu con,
Khiến vào nơi chánh định.
Ngài biết ý Phú-na-dạ-xa lòng cầu đạo rất thiết tha, nên độ cho xuất gia và truyền giới Cụ túc.
Một hôm, ngài gọi Phú-na bảo:
– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay trao cho ngươi, ngươi phải khéo lưu truyền chớ để dứt mất. Hãy nghe ta nói kệ:
Chân thể tự nhiên chân,
Nhân chân thuyết hữu lý.
Lãnh đắc chân chân pháp,
Vô hành diệc vô chỉ.
Dịch:
Chân thể đã sẵn chân,
Bởi chân nói có lý.
Hội được pháp chân chân,
Không đi cũng không dừng.
Truyền pháp xong, ngài ngay nơi chỗ ngồi thị hiện các tướng rồi vào Niết-bàn. Hỏa táng thân ngài xong có xá-lợi nhiều vô số, chúng phải lấy y bọc đem về kính thờ cúng dường.
Khi ngài lãnh thọ giáo pháp rồi đi đến đất Hoa Thị. Ở đây gặp một thiếu niên con nhà giàu tên Phú-na-dạ-xa đến trước ngài chắp tay. Ngài hỏi: Ngươi từ đâu đến?
Nếu là người bình thường thì trả lời, con ở chỗ này chỗ kia đến, nhưng chú thiếu niên lại đáp: Tâm con chẳng phải đến. Trả lời có lạc đề không? Chú thiếu niên này cũng là người phi thường.
Ngài hỏi: Ngươi dừng ở chỗ nào? Tâm con chẳng phải dừng. Không đến không dừng là không mắc kẹt hai bên.
Ngài hỏi lại một câu để thiếu niên khẳng định: Ngươi chẳng định sao?
Nếu ngươi không đến không dừng thì tâm ngươi không định.
Thiếu niên đáp: Chư Phật cũng thế. Nói định một chỗ là tâm có giới hạn, không đến không dừng là tâm thênh thang, tâm con thênh thang. Tâm chư Phật cũng thế.
Ngài hỏi lại: Ngươi chẳng phải chư Phật. Ngươi là phàm phu kia mà!
Thiếu niên đáp: Chư Phật cũng chẳng phải. Nếu còn thấy Phật thấy phàm thì thấy hai, con không phải thì Phật cũng không phải luôn!
Sự đối đáp giữa Tổ và thiếu niên mới nghe qua dường như lạc đề, nhưng hiểu sâu thì thấy người ấy đã hiểu đạo, vì không dính hai bên, không dính hai bên nên thấy tâm mình thênh thang.
Nhân đó Tổ nói kệ:
Đất này hóa sắc vàng,
Biết có thánh nhân sang.
Ngồi dưới cây bồ-đề,
Hoa giác nở hoàn toàn.
Ngài đến để gặp người tuy chưa xuất gia mà hoa giác đã nở rồi, giống như Lục tổ Huệ Năng còn tóc mà vẫn được truyền y.
Tổ nói kệ xong, Phú-na-dạ-xa cũng đọc bài kệ:
Thầy ngồi đất sắc vàng,
Thường nói nghĩa chân thật.
Soi ánh sáng chiếu con,
Khiến vào nơi chánh định.
Như vậy thầy và trò có sự cảm thông. Thầy đem trí tuệ soi cho trò, trò lãnh hội được trí tuệ đó gọi là truyền tâm ấn, chứ không có ấn nào ở ngoài. Ngài biết Phú-na-dạ-xa lòng tha thiết cầu đạo nên cho xuất gia rồi truyền giới Cụ túc.
Khi sắp tịch, ngài nói kệ truyền pháp cho Phú-na- da-xa:
Chân thể đã sẵn chân,
Bởi chân nói có lý.
Hội được pháp chân chân,
Không đi cũng không dừng.
Pháp chân thật sẵn có nơi mỗi người, nó hằng chân chứ không phải do làm hay do duyên hợp, nên nói là chân lý. Hội được pháp chân chân, không đi cũng không dừng, vì tâm thể chân thật thì không còn đối đãi đi dừng. Người tu đạt đạo rồi không còn dính mắc trong đối đãi, tâm không còn một chút phiền não. Hết đối đãi thì không còn niệm thiện niệm ác để tạo nghiệp luân hồi trong đường lành đường dữ, như vậy là giải thoát sanh tử.