Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

8.Tổ-Phật-Đà-Nan-Đề (Đầu thế kỷ thứ IV sau Phật Niết-bàn)



Buddhanandi

Ngài họ Cù-đàm người nước Ca-ma-la. Thuở nhỏ trên đảnh ngài có cục thịt nổi cao, thường phát ra hào quang năm sắc xen lẫn. Ngài thông minh tuyệt vời, chữ nghĩa một phen xem qua là ghi nhớ. Năm mười bốn tuổi, ngài phát tâm xuất gia chuyên dùng hạnh thanh tịnh để tự tu. 

Khi tổ Bà-tu-mật đến nước Ca-ma-la, ngài đến vấn nạn, nhân đó kính phục xin theo làm đệ tử. Tổ sắp Niết-bàn, gọi ngài đến phó chúc rằng: 

– Chánh pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải truyền bá chớ để đoạn dứt. Nghe ta nói kệ đây: 

Tâm đồng hư không giới, 

Thị đẳng hư không pháp. 

Chứng đắc hư không thời, 

Vô thị vô phi pháp. 

Dịch: 

Tâm đồng hạn hư không, 

Chỉ pháp bằng thái hư. 

Khi chứng được hư không, 

Không pháp không phi pháp. 

Ngài vâng giữ phụng trì. 

Ngài Phật-đà-nan-đề là người mà ở trước đứng ra nghị luận hỏi pháp, và được tổ Bà-tu-mật chấp nhận, từ đó ngài xin theo Tổ xuất gia. Được Tổ truyền tâm pháp qua bài kệ:

Tâm đồng hạn hư không, 

Chỉ pháp bằng thái hư.

Khi chứng được hư không,

Không pháp không phi pháp. 

Tâm thể này rỗng rang trùm khắp cả hư không, đã trùm khắp hư không thì trùm hết muôn pháp, cho nên nói tâm đồng hạn hư không, chỉ pháp bằng thái hư, tức là muôn pháp ở trong hư không, không pháp nào ngoài nó. Người tu chứng được tâm thể rộng lớn như hư không thì không thấy có pháp đối đãi, phải quấy tốt xấu hơn thua… Nên nói khi chứng được hư không, không pháp không phi pháp. 

Sau khi đắc pháp, ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi. Đến nước Đề-già, ngài đi qua cổng nhà họ Tỳ-xá-la, chợt thấy trên nóc nhà có hào quang trắng xông lên hư không. Ngài chỉ cho chúng xem và bảo: 

– Trong nhà này hiện có một vị thánh nhân, tuy miệng không nói một lời, chân không đi một bước, mà thật là bậc căn khí Đại thừa. Dù không ra ngoài đường mà biết việc xúc uế ( 穢). Quả là người nối pháp cho ta, khiến Phật pháp hưng thịnh. Vị này sau sẽ độ năm trăm người chứng quả thánh. 

Ngài nói xong, có người trưởng giả trong nhà bước ra làm lễ thưa: 

– Tôn giả cần điều gì dừng chân lại đây? 

Ngài bảo: 

 Ta đến tìm thị giả, chứ không cần gì. 

Trưởng giả thưa: 

– Nhà tôi đâu có người kỳ đặc mà Ngài tìm, chỉ có đứa con trai, tên Phục-đà-mật-đa không biết nói, không biết đi, tuổi đã năm mươi, nếu Ngài cần tôi cho, không tiếc. 

Ngài bảo: 

– Đứa con ông nói đó, chính là người tôi tìm. 

Trưởng giả thỉnh ngài vào nhà. Phục-đà-mật-đa vừa trông thấy ngài liền trỗi dậy, chắp tay nói kệ: 

Phụ mẫu phi ngã thân, 

Thùy vi tối thân giả? 

Chư Phật phi ngã đạo, 

Thùy vi tối đạo giả? 

Dịch: 

Cha mẹ chẳng phải thân, 

Ai là người chí thân? 

Chư Phật phi đạo tôi, 

Cái gì là tột đạo? 

Ngài nói kệ đáp: 

Nhữ ngôn dữ tâm thân,

Phụ mẫu phi khả tỷ. 

Nhữ hạnh dữ đạo hợp, 

Chư Phật tâm tức thị.

Ngoại cầu hữu tướng Phật, 

Dữ nhữ bất tương tự. 

Nhược thức nhữ bản tâm, 

Phi hợp diệc phi ly. 

Dịch: 

Lời ngươi cùng tâm thân,

Cha mẹ không thể sánh. 

Hạnh ngươi cùng đạo hợp, 

Chư Phật chính là tâm. 

Ngoài cầu Phật có tướng, 

Cùng ngươi không chút giống. 

Nếu biết bản tâm ngươi, 

Chẳng hợp cũng chẳng lìa.  

Mật-đa nghe bài kệ xong rất hoan hỷ, bước xuống đảnh lễ ngài và đi bảy bước, một lòng thành khẩn xin xuất gia. Ngài chấp nhận cho xuất gia, liền triệu tập chúng hiền thánh làm lễ truyền giới Cụ túc. Sau đó, ngài lại dặn dò Mật-đa: 

– Pháp nhãn của Như Lai thầm truyền đến đời ta, nay ta trao lại cho ngươi, ngươi nên truyền trao chớ đoạn dứt. Nghe ta nói kệ: 

Hư không vô nội ngoại, 

Tâm pháp diệc như thử. 

Nhược liễu hư không cố, 

Thị đạt chân như lý. 

Dịch: 

Hư không chẳng trong ngoài,

Tâm pháp cũng như thế,

Nếu hiểu rõ hư không. 

Là đạt lý chân như. 

Mật-đa hân hạnh được truyền pháp vui mừng vô hạn, liền nói kệ khen ngợi: 

Ngã sư thiền tổ trung, 

Thích đương vi đệ bát.

Pháp hóa chúng vô lượng, 

Tất hoạch A-la-hán. 

Dịch: 

Thầy tôi trong thiền tổ, 

Hiện là vị thứ tám. 

Giáo hóa chúng không cùng, 

Thảy được quả La-hán. 

Ngài truyền pháp xong, sắp vào Niết-bàn. Hôm ấy, đang ngồi trên bản tòa, ngài an nhiên thị tịch. Số chúng ngài độ có đến năm trăm vị chứng Nhị quả. Toàn chúng trà-tỳ hài cốt ngài, lượm xá-lợi xây bảo tháp tôn thờ.

Khi ngài đi hoằng hóa đến nước Đề-già gặp một người hết sức kỳ đặc tên là Phục-đà-mật-đa, tuổi đã năm mươi mà không biết nói, không biết đi. Chính vị này sau là thị giả của ngài.

Khi gặp Tổ, người này liền nói chuyện, mà nói bằng bài kệ:

Cha mẹ chẳng phải thân,

Ai là người chí thân? 

Chư Phật phi đạo tôi,

Cái gì là tột đạo?

Câu hỏi thứ nhất: cha mẹ không phải người thân của tôi, vậy ai là người thân của tôi? Câu thứ hai: chư Phật không phải là đạo của tôi, cái gì là đạo rốt cùng của tôi? Qua hai câu hỏi chúng ta cũng biết ngài là người thế nào rồi.

Tổ liền đáp:

Lời ngươi cùng tâm thân,

Cha mẹ không thể sánh.

Hạnh ngươi cùng đạo hợp, 

Chư Phật chính là tâm.

Ngoài cầu Phật có tướng,

Cùng ngươi không chút giống.

Nếu biết bản tâm ngươi,

Chẳng hợp cũng chẳng lìa.

Lời ngươi cùng tâm thân, cha mẹ không thể sánh. Tổ dạy lời nói của ngươi cùng với tâm là thân, thân của ngươi đó là tâm chứ không phải là cha mẹ, tại sao vậy? Cha mẹ là người thân bằng xác thịt cũng ở ngoài mình, chỉ cái tâm mới gần gũi mình nhất. Cho nên cha mẹ không thân bằng Tâm, cái thân nhất là Tâm.

Hạnh ngươi cùng đạo hợp, chư Phật chính là tâm. Hạnh của ngươi cùng đạo hợp nhau, Phật tức là tâm của ông vậy. Ngoài cầu Phật tướng, cùng ngươi không chút giống. Nếu tìm Phật ở bên ngoài, thì Phật đó cùng với ông không giống nhau. Nếu biết bản tâm ngươi, chẳng hợp cũng chẳng lìa. Nếu người đạt được bản tâm mới là cái tột cùng không hợp không lìa.

Tóm lại ý bài kệ Tổ dạy Tâm là chí thân của ông, còn đức Phật là hình tướng bên ngoài, chỉ có đạt được bản tâm thì mới thật là đạo tột cùng. Như vậy những câu hỏi và đáp đều quy về bản tâm. Ngài liền đạt được sở nguyện và xin xuất gia tu hành.

Sau đây là bài kệ truyền pháp:

Hư không chẳng trong ngoài,

Tâm pháp cũng như thế.

Nếu hiểu rõ hư không, 

Là đạt lý chân như. 

Bài kệ truyền pháp này, dùng hạn lượng của hư không để ví dụ cho chân tâm. Như cái nhà này, phần trống ở trong gọi là hư không ở trong, phần trống ở ngoài gọi là hư không ở ngoài. Nhưng hư không chẳng ở trong cũng chẳng ở ngoài, tại tấm vách nhà ngăn vậy thôi, do tưởng tượng đặt nó là trong là ngoài. Hư không chẳng có hình tướng, làm sao có vị trí mà nói là trong là ngoài!

Thấy được bản tâm trùm khắp pháp giới thì tâm sanh diệt không có gì quan trọng. Nếu nhận rõ được lý tâm đồng với hư không thì mới thật sự đạt được lý chân như. Tuy bốn câu kệ ngắn nhưng chỉ dạy chúng ta biết được tâm thể trùm khắp pháp giới không hạn lượng, mà lâu nay chúng ta lầm lẫn cho rằng tâm ở trong thân.

Mật-đa được truyền pháp vui mừng vô hạn, liền nói kệ tán thán:

Thầy tôi trong thiền tổ,

Hiện là vị thứ tám.

Giáo hóa chúng không cùng,

Thảy được quả La-hán.

Tổ truyền pháp xong an nhiên thị tịch. Số chúng ngài độ có đến năm trăm vị chứng Nhị quả. Toàn chúng trà-tỳ hài cốt, lượm xá-lợi xây bảo tháp cúng dường.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.