Hôm nay, theo lời mời của bản trường, chúng tôi đến đây nói chuyện với quý vị về Phật giáo, chủ yếu là phần chuyển sang Việt ngữ các nghi thức tụng niệm bằng Hán văn của đạo Phật.
Trước hết, tôi nêu lên tinh thần học Hán Nôm của người dân Việt, trong giới Phật tử cũng như không phải Phật tử. Người Việt Nam chúng ta đều biết rõ tổ tiên mình ngày xưa đã từng dùng chữ Hán, kế đó là chữ Nôm để diễn đạt tất cả những kinh sách Nho giáo, Phật giáo. Do vậy, hầu hết sách vở nhà Nho hay nhà Phật đều được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Chúng ta muốn học giáo lý Phật, hay các môn học của Khổng giáo thì phải biết chữ Hán Nôm. Người học Phật muốn tra cứu lịch sử của đất nước, hay văn hóa Phật giáo mà thiếu kiến thức Hán Nôm thì rất khó khăn vất vả trong việc sưu khảo và nghiên cứu.
Khi chúng tôi ra Hà Nội, đến viện Hán Nôm khảo sát thì thấy sách Việt Nam bằng chữ Hán, chữ Nôm còn rất nhiều. Số lượng sách Hán Nôm vào năm 1955 tại viện Hán Nôm Hà Nội khoảng 2.000 bộ. Kế đó, chúng tôi nghiên cứu về Tam tạng kinh của nhà Phật in vào thời Tống ở Trung Hoa, có trên 5.000 quyển bằng chữ Hán. Như vậy kinh sách chữ Hán Nôm tương đối khá nhiều.
Ngày nay, chúng ta có chữ Việt, đọc hiểu mau chóng dễ dàng. Song, muốn nghiên cứu tất cả những gì tổ tiên để lại, phải tìm học chữ Hán chữ Nôm mới dễ dàng tra khảo. Đối với người tu, chúng tôi chuyên học Phật tu Phật. Nhưng vì ba tạng kinh Phật đều bằng chữ Hán nên buộc lòng chúng tôi phải cố gắng học hỏi Hán văn để có kiến thức đọc kinh.
Chúng tôi nhận thấy đã là đệ tử Phật thì cần phải nghiên cứu, thấu hiểu tam tạng kinh điển. Học chữ Hán đã khó rồi, mà học giáo lý Phật lại càng khó hơn. Dù vậy, chúng tôi vẫn cố gắng hết lòng, biết được bao nhiêu là quý bấy nhiêu.
Nhà Phật không cho phép người tu là một học giả chỉ biết đạo Phật trên chữ nghĩa, mà buộc phải là hành giả, tức phải tu rồi mới hiểu, chứ không thể nói suông được. Thí dụ trong quá trình tu hành, các nhà tu Phật sẽ chứng các tầng thiền định: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Nếu chỉ học chữ “Tam thiền” mà cho rằng đã chứng đắc là chưa biết đạo Phật. Chỗ này bắt buộc hành giả phải hạ thủ công phu tu hành mới chứng được.
Đối với giáo lý đạo Phật, không phải nắm được lý thuyết là thành công, mà phải thực hành. Vì vậy, trên phương diện nghiên cứu về chữ nghĩa hay văn hóa Phật giáo, tăng ni học tập giáo lý rồi còn phải chuyên sâu vào thực hành, mới có thể nắm vững yếu chỉ của đạo.
Người muốn nghiên cứu kinh điển đạo Phật đầy đủ phải học chữ Hán. Để trở thành một nhà nghiên cứu Hán văn có uy tín thì phải mất rất nhiều thời gian và công phu. Chúng tôi vừa học Hán văn để nghiên cứu kinh điển vừa chuyên tu, thành ra thời giờ rất hiếm hoi. Do vậy, chúng tôi biết tới đâu thì làm tới đó, không dám tự nhận mình là một nhà văn hay một nhà bác học.
Những gì tôi trình bày ở đây là quá trình chúng tôi đã học và hành. Việc trước tiên của người tu sĩ Phật giáo là làm thế nào để hiểu được kinh Phật, dịch kinh Phật ra tiếng Việt cho Phật tử, hay những nhà nghiên cứu đọc hiểu. Đây là giai đoạn khó khăn của tăng ni khi tìm hiểu về văn hóa Phật giáo, vì phải học và hành song song với nhau.
Từ khi vào đạo đến nay, tất cả những gì chúng tôi học được là ở những bậc thầy và sự cố gắng nỗ lực tự thân. Càng học chúng tôi càng thấy mình dốt, càng tu càng thấy mình dở, chưa tới đâu hết. Bởi vì đối với sự tu, không phải có một ít vốn liếng sơ sài liền cho đó là đủ. Phải tu cho đạt kết quả, muốn đạt kết quả thì phải thực hành liên tục dài lâu.
Cho nên, người tu Phật phải tận lực đi từng bước ban đầu, mãi tới những bước cuối cùng. Con đường ấy dài vô kể. Nhưng không vì lẽ đó mà chúng ta nản lòng. Chúng tôi vẫn đang cố gắng làm một lúc hai việc: một là nỗ lực tu, hai là làm sao để cho người sau hiểu biết được những lời dạy của Phật qua kinh điển chữ Hán. Lại nữa, việc nghiên cứu học chữ Hán đã nhọc rồi, mà còn phải thực hành cho được những gì mình đã học để cụ thể hóa, chứ không phải chỉ nói trên ngôn ngữ. Cho nên nhọc lại càng nhọc.
Chúng tôi tự thấy mình đang ở giai đoạn giao thời giữa chữ Hán và chữ Việt, chưa lãnh hội trọn vẹn tinh ba của đạo Phật. Về kinh điển thì chỉ nắm được một phần, chưa phải toàn bộ. Trên đường tu, cũng chỉ thực hiện phần nào, chứ chưa viên mãn. Do vậy, trong công tác truyền bá Phật giáo cũng như phiên dịch kinh điển, chúng tôi thực hiện hết sức khiêm nhường, chưa có thành quả gì đáng kể.
Tôi mong rằng thế hệ sau, quý vị đầy đủ điều kiện học hành và nghiên cứu tất cả sách vở để kiến thức ngày càng sung mãn hơn. Thời chúng tôi có nhiều điều thiếu sót, nhiều điều muốn làm mà chưa thực hiện được. Chúng tôi chỉ bước những bước chập chững trên con đường phiên dịch, cũng như trên đường tu hành, chưa đến nơi đến chốn. Đó là khó khăn và khiếm khuyết của những người đi trước.
Tam tạng kinh điển trong đạo Phật có đến mấy ngàn quyển, nhưng chỉ mới phiên dịch được một số rất nhỏ. Trong số rất nhỏ đó, bên cạnh những nhà phiên dịch uy tín, vẫn còn nhiều người dịch chưa đủ uy tín. Muốn dịch kinh điển Phật phải có công phu tu hành, mà chúng ta lại chưa đủ công phu. Cho nên, còn rất nhiều điều khó nhận ra, khó thực hiện đầy đủ.
Người tu Phật đòi hỏi hai điều kiện học và hành. Học và hành phải đi đôi với nhau. Những gì mình hiểu được thì cũng phải làm được. Chính vì thế mà đôi khi chúng ta không đủ thời giờ để tâm vào một việc. Nếu chỉ chuyên dịch kinh thì mắc kẹt vào học mà không hành. Nếu chỉ lo hành trì thì không đủ thời giờ phiên dịch. Trong quá trình tu tập, chúng tôi tìm hiểu lời Phật dạy trong kinh, khi nào dịch được, viết được thì dịch và viết. Ngoài ra, chúng tôi cũng dành nhiều thời giờ để ứng dụng chuyên tu, đi sâu vào giáo lý Phật dạy. Chúng ta phải kinh nghiệm thực tế những lời Phật dạy thì việc tu mới có giá trị, chứ nói được mà thực hành chưa được thì việc tu chưa đủ giá trị.
Phật dạy học và hành phải đi đôi, không thể chỉ có lý thuyết mà thiếu thực hành, cũng không thể chỉ thực hành mà không nắm vững lý thuyết. Học và hành phải tương hợp nhau. Vì vậy, tôi nghĩ rằng nếu người tu đem hết thời giờ dịch kinh là rất tốt nhưng chưa đủ. Nếu chúng ta dịch theo hiểu biết nông cạn của mình thì rất khó để người khác có thể hiểu được. Chúng ta không thể nghiêng một bên; học tới đâu thì phải hành tới đó.
Thí dụ Phật dạy người tu phải trải qua bốn tầng thiền định: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền rồi mới vượt lên các quả vị cao hơn. Nếu bây giờ chúng ta cứ nói Sơ thiền thế này, Nhị thiền thế kia mà chính mình chưa nếm được vị ấy thì chỉ là nói rỗng thôi. Chính mình phải kinh qua Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, nếm được mùi vị ấy, mới đúng là người hiểu Phật.
Chúng ta phiên dịch được những lời dạy trong kinh là rất tốt, nhưng sự phiên dịch đó chỉ mới là cái xác, chưa có hồn. Muốn có hồn, đòi hỏi phải tu, phải thật đến chỗ đó. Vậy mới thấy đạo Phật rất khó. Muốn học và hành đầy đủ thì có khi một đời làm chưa rồi, chỉ được phần nào thôi, chưa thật viên mãn. Học và hành đi đôi mới gọi là học Phật, nếu chỉ học mà không hành là rỗng, nếu hành mà không học là dốt, không biết đường lối để chỉ dạy cho người.
Hai điều này không cho phép chúng tôi làm một bên, mà phải song đôi. Do vậy, trên phương diện học hành, giảng dạy và dịch thuật, chúng tôi thực hiện rất giới hạn, chưa đầy đủ vì thời giờ không cho phép. Chúng tôi nêu lên điểm khó khăn này để quý vị hiểu và thông cảm.
Thế hệ trước chúng tôi, chữ Việt chưa thịnh hành nên chư Sư rất thành thạo chữ Hán, nhưng chữ Việt lại lúng túng nên cũng không phiên dịch được đầy đủ. Đến thế hệ chúng tôi là giai đoạn giao thời giữa chữ Việt và chữ Hán, chúng tôi cũng chỉ dịch được chút ít, chưa thấm vào đâu so với số lượng kinh điển Hán ngữ đồ sộ. Thế hệ sau chúng tôi, chư tăng ni hiện nay có đầy đủ điều kiện, chữ Hán và chữ Việt đều sung túc, có phương tiện tra khảo dễ dàng, nên thuận lợi hơn nhiều. Cho nên, tôi hy vọng chư tăng ni cố gắng phiên dịch kinh sách Phật cho mọi người đọc hiểu và thấm nhuần Phật pháp.
Tuy nhiên, trên thực tế có một điều đáng buồn. Trong nghi thức tụng niệm của nhà Phật, quý vị đi chùa nghe tụng một thời kinh, chắc cũng không biết quý thầy cô đang tụng gì. Vì các ngài tụng bằng chữ Hán, bây giờ rất ít người biết chữ Hán nên không ai hiểu. Có khi chính người tụng cũng không hiểu nữa. Đó là khuyết điểm đáng buồn của Phật giáo Việt Nam. Lý đáng thì tất cả kinh điển đạo Phật phải dịch ra chữ Việt để người nghe đọc đến đâu, thâm nhập đến đó. Được vậy thì sự tu hành và truyền bá chánh pháp mới không gặp trở ngại. Điểm kế nữa là trong hàng ngũ xuất gia, chỉ có một phần nhỏ thông thạo chữ Hán, còn phần lớn thì không biết. Vậy tụng kinh bằng chữ Hán làm sao có thể hiểu mà thực hành lời Phật dạy? Tu theo Phật mà không hiểu, không thực hành lời Phật dạy thì sao gọi là tu Phật? Đó là điều đáng ngại. Cho nên, chúng tôi mong mỏi chư tăng ni cố gắng học chữ Hán để phiên dịch kinh điển cho người đọc tụng hiểu được ý nghĩa mà thực hành cho đúng.
Chúng ta đọc tụng kinh Phật là cốt nhắc lại lời Phật dạy để chuyển hóa tâm tư. Nhưng bây giờ đọc kinh Phật không hiểu, làm sao chuyển hóa? Phật dạy rõ từng pháp mà chúng ta không hiểu, chính mình đọc tụng mà không nắm vững ý nghĩa thì tâm tư không thể chuyển hóa, để đi tới chỗ cứu cánh thanh tịnh. Đây là điều khó khăn khiến người học Phật ngày nay gặp trở ngại, khó tiến thân, khó tu hành đạt kết quả. Đó cũng là điều chúng tôi rất lưu tâm.
Đức Phật không chỉ dạy cho chúng ta hiểu giáo pháp, mà phải ứng dụng tu cho đạt được kết quả. Đó mới là thật tu thật học. Nếu chỉ học hiểu mà không thực hành, thì cũng như người đếm của báu cho kẻ khác, không lợi ích gì cho mình. Chư tăng ni còn trẻ, có cơ hội học tập, nghiên cứu thì phải học cho vững, đồng thời thực hành cho được những điều đã học. Đó là điểm thiết yếu của người tu Phật.
Tôi mong tăng ni trẻ cũng như các Phật tử nghiên cứu đạo Phật cố gắng học chữ Hán, chữ Nôm cho vững, để nghiên cứu kinh điển. Nghiên cứu kinh điển rồi, chúng ta thực hành cho được lý thuyết ấy thì mới có được lợi ích lớn cho nền văn hóa Phật giáo Việt Nam. Trong nhà Phật cho phép chúng ta học trước rồi hành sau. Song, học hành đi theo nhau thì chúng ta sẽ dễ dàng nắm vững đường lối chỉ dạy của đức Phật.
Mỗi người học Phật chịu khó nghiên cứu kỹ kinh điển, chuyển tạng kinh chữ Hán thành chữ Việt, tôi tin rằng kho tàng văn hóa Phật giáo Việt Nam càng thêm sung túc. Bởi vì mỗi lời Phật dạy đều có giá trị thiết thực trong đời sống tâm linh của con người. Nhờ hiểu biết như vậy, sự tu cũng như cuộc sống của chúng ta mới có những bước tiến tốt đẹp. Nếu không hiểu không biết thì sự tu vô tình chỉ là cô lập một nhà, một chùa hoặc một am thất rồi chờ chết, chứ không có lợi ích gì.
Chúng tôi nêu lên cái khó của mình trong sự tu hành để quý vị cảm thông, và hiểu được tinh thần của nhà Phật không chỉ học lý thuyết mà phải thực hành. Ngược lại, cũng không nên chỉ chú trọng thực hành, mà trước phải nắm vững lý thuyết. Nhà Phật dùng từ chuyên môn là hạnh giải tương ưng. Phàm làm việc gì cũng phải nắm vững nguyên tắc, lý thuyết của việc đó. Khi nắm vững lý thuyết rồi, thực hành cho được thì mới có quyền công bố cho người khác biết. Nếu chỉ biết lý thuyết mà không thực hành, lại công bố cho người khác, đó là công bố rỗng.
Hôm nay, chúng tôi trình bày chút ít thiển kiến của mình, hy vọng những người hiếu học, muốn tìm hiểu Phật pháp thấy biết được những gì trong nhà Phật đã có, mà chưa cung ứng được cho mọi người. Quý giáo sư đã có lòng tốt nghĩ tới chúng tôi và chúng tôi cũng đem hết chân tình nói cho quý vị nghe. Mong tất cả chúng ta cùng tìm hiểu, nghiên cứu và thực hành, để mai sau thấy được lẽ thật và giá trị cao quý của đạo Phật.
Xin trân trọng cảm ơn giáo sư đã có lòng tốt cho chúng tôi chút ít thì giờ gặp gỡ quý vị. Mong quý vị cố gắng tận tâm tìm hiểu cho tường tận, học và hành thành công để mai kia gánh vác việc lớn của đời và đạo.