Thiền Tông Phật Giáo Trong Mạch Nguồn Dân Tộc

Nói Chuyện Với Tăng Ni Trường Cao Cấp Phật Học - Cơ Sở I -



(Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, 15-04-1996)

Kính thưa Hòa thượng Phó thư ký Trung ương GHPGVN, Phó giám hiệu trường Cao cấp Phật học – cơ sở I. Hôm nay tôi vinh hạnh được Hòa thượng cho phép tới đây để nói chuyện với tăng ni trường Cao cấp. Đây cũng là cơ hội tốt cho chúng tôi, vì chúng tôi ở xa ít có dịp gặp tăng ni ở ngoài này, nên khi nghe Hòa thượng dạy đến nói chuyện với tăng ni tôi rất hoan hỷ, có vài lời cảm niệm xin kính trình lên Hòa thượng.

Buổi nói chuyện này có năm đề mục:

1- Tu và học.

2- Tam tuệ học và Tam vô lậu học.

3- Kinh, khế lý và khế cơ.

4- Phần ưu việt của Phật giáo Việt Nam.

5- Xu thế người Tây phương tìm hiểu Phật giáo.

Tôi sẽ lần lượt trình bày qua từng đề mục để tăng ni và quý vị theo dõi.

1- Tu và Học 

Người xưa nói: “Tu mà không học là tu mù, học mà không tu là đấy đựng sách.” Câu này là lý trung đạo trong đời tu học của chúng ta. Tu mà không học là tu mù. Tại sao? Bởi vì có một số tăng ni nghĩ mình ham tu, biết đại khái đôi lời Phật dạy rồi cứ thế tu thì sẽ ngộ đạo. Nhưng ham tu cho có công đức mà thiếu học, đó là tu mù. Lời Phật tổ dạy gồm có kinh luật luận, nếu chúng ta không chịu học qua, chỉ lo cắm đầu tu thì tu cái gì? Chẳng qua cũng là tu càn tu bướng chứ không thấy đường đi, giống như người mù không sớm thì chầy ắt rơi xuống hố.

Nghe nói tu mà không học là tu mù, rồi cứ lo học mãi không chịu tu thì sự học đó chỉ như cái đấy đựng toàn sách vở mà thôi. Ham học giúp cho chúng ta biết nhiều về kinh luật luận, nhưng thiếu tu cũng không thể tiêu hóa được những lời Phật tổ dạy để ứng dụng tu hành. Nếu tăng ni không quyết tu và hiếu học thì không xứng đáng là một tu sĩ Phật giáo Việt Nam. Trên đường tu, tất cả chúng ta ai cũng có chí nguyện xuất trần thượng sĩ. Song khi bước vào đạo rồi cứ lầm lỳ tu mò, tu một cách mù quáng, như vậy uổng một đời tu mà không đạt được kết quả viên mãn. Cho nên chúng ta phải nhớ, tu và học luôn luôn phải song hành.

Ngày nay tăng ni có duyên được học, nhưng nếu chỉ biết học để chứa đựng nhiều kiến thức, nhiều tri giải mà không chịu ứng dụng tu, đó là khuyết điểm lớn. Thế nên người xưa cốt nhắc cho chúng ta nhớ, tu và học phải hỗ tương nhau, không thể tách rời một bên được. Mong tất cả tăng ni cần lưu tâm đủ hai việc này.

2- Tam tuệ học và Tam vô lậu học 

  1. Tam tuệ học 

Phật dạy chúng ta phải vào đạo bằng con mắt trí tuệ, mà con mắt trí tuệ được mở sáng là do Tam tuệ học: Văn, Tư, Tu. Ba môn tuệ học này không thể thiếu đối với người xuất gia học đạo. Nếu chúng ta không nghe, không hiểu thì làm sao biết mà tu. Phật dạy: “Tất cả các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp.” Cây đuốc này là chỉ cho trí tuệ của chính mình, Phật dạy mỗi người phải luôn luôn mở sáng con mắt trí tuệ ấy. Con mắt trí tuệ tuy sẵn có mà tự mình không mở sáng được, nên phải mồi với chánh pháp. Chánh pháp là những lời đức Phật chỉ dạy sau khi giác ngộ, được gọi là chân lý. Chúng ta đem cây đuốc trí tuệ của mình mồi với ngọn lửa trí tuệ của Phật, gọi là Văn tuệ. Văn tuệ là nghe học chân lý. Nhờ văn tuệ mà chúng ta mở sáng được con mắt trí tuệ, vì vậy người vào đạo mà không có văn tuệ là tu mù.

Sau khi Văn rồi phải Tư. Tư là tư duy. Phật không cho phép chúng ta chỉ một bề nghe học mà không vận dụng tư duy. Lời Phật dạy là chân lý, nhưng dù cho nghe đến thuộc lòng mà không tư duy, tức là chưa nhuần đượm vào trong tâm tư của mình, thì chân lý đó chỉ dính ở ngoài da chứ chưa thấm được vào trong xương tủy, cho nên tư duy là tối quan trọng. Thí dụ bình thường quý vị nghe Phật dạy các pháp vô thường, nghe rồi chỉ thuộc lòng các pháp vô thường mà không dính gì với tâm tư, trí tuệ của mình thì lý vô thường đó cũng không có giá trị, không giúp mình giác ngộ, giải thoát khổ đau được. Cho nên khi học về lý vô thường, chúng ta phải suy tư xem vô thường như thế nào.

Mỗi khi ngồi lặng lẽ hoặc gặp việc gì xảy đến, chúng ta nhớ lời Phật dạy về vô thường, rồi suy gẫm xem từ con người cho tới muôn vật đều bị vô thường chi phối ra sao? Phật dạy sanh già bệnh chết trong một đời người, gọi là Nhất kỳ vô thường. Sự biến chuyển thường xuyên trong cơ thể con người, từ trẻ nhỏ tăng trưởng dần thành người lớn, sanh ra rồi già bệnh chết… vô thường từng phút từng giây đó, gọi là Sát-na vô thường.

Quán sát thân mình rồi suy gẫm tới muôn vật, nhà cửa, xe cộ, cây cối v.v… xem có cái gì không phải vô thường hay không? Xét tới xét lui tường tận thấy rõ được sự vô thường của các pháp, tức lý vô thường đã đượm nhuần trong tâm tư chúng ta. Đây là trí tuệ Phật thắp sáng trí tuệ chúng ta, hay nói cách khác đuốc tuệ của mình mồi với ngọn lửa trí tuệ của Phật. Có nghiền ngẫm tư duy thì trí tuệ Phật nơi mình mới sáng lên, cho nên người học đạo cốt phải tư duy chứ không phải chỉ nghe học thuộc lòng.

Nhờ có văn rồi tư mà thấm nhuần đạo lý, mới có thể ứng dụng được ngay trong cuộc sống của mình. Giả sử khi chúng ta gặp cảnh vô thường hoặc già bệnh chết đến, do bình thường mình có nghiền ngẫm tư duy, biết rõ thân phận con người là vô thường, các pháp luôn luôn biến đổi hư hoại… lẽ thật này không ai chạy trốn được, nên vô thường là chuyện đương nhiên. Thấu suốt như vậy, nên khi gặp việc vô thường không sợ hãi cũng không đau khổ, mà gấp rút lo tu. Khéo ứng dụng tu như thế thì ngay hiện tại mình càng sống tích cực hơn, vì đã biết vô thường nên chúng ta không nhiễm ái đắm trước, mà còn đem thân vô thường này luôn làm lợi ích chúng sanh.

Kinh Hoa Nghiêm kể: Có một cư sĩ hỏi Bồ-tát, nếu chỉ thấu suốt được văn, tư mà không tu thì có lỗi gì không? Bồ-tát nói: Ví như có người đi ngang qua sa mạc, khát khô cổ lại hết nước uống, người ấy mong tìm được một cái giếng để lấy nước uống. Bỗng gặp một người đi lại liền hỏi, anh có thấy giếng nước không? Người kia chỉ, anh đến ngã ba phía trước đi theo con đường bên phải, nhìn xa xa thấy một cụm cây, dưới cụm cây có giếng nước, hãy tới đó lấy nước uống sẽ hết khát. Nghe người kia nói có giếng nước anh ta mừng quá đọc lẩm nhẩm “đi đến ngã ba quẹo phải, nhìn thấy cụm cây đằng xa, dưới cụm cây là giếng nước”. Cứ ngồi học thuộc lòng câu đó hoài mà không chịu đi, thử hỏi anh ta có hết khát nước không?

Biết rõ con đường đến chỗ có nước mà không đi tới thì làm sao hết khát được. Cũng vậy, nếu chúng ta tuy có học hiểu và suy tư đúng mà không ứng dụng để tu tập thì không lợi ích gì, kết quả không thể nào có được. Như việc học ở thế gian, trước hết cũng phải nhờ thầy cô giảng dạy các môn học, đó là Văn. Học lý thuyết xong lên cấp cao hơn, đem những điều đã học ra suy gẫm rồi nghiên cứu thí nghiệm, thí nghiệm thành công mới ứng dụng vào ngành nghề của mình.

Tinh thần văn tư tu của đạo Phật rất thực tiễn và hết sức thiết yếu, là ba điều kiện không thể thiếu của một tu sĩ Phật giáo. Cho nên bất cứ học tăng hay học ni nào, khi đã vào trường Phật học cũng đều phải ứng dụng Tam tuệ học một cách triệt để, không thể nào thiếu được.

Như vậy, Tam tuệ học là do chúng ta được học từ những bậc thầy hoặc các vị thiện hữu tri thức, rồi sử dụng trí tuệ của mình mà suy gẫm và ứng dụng tu.

  1. Tam vô lậu học 

Tam vô lậu học là ba môn học giải thoát, gồm có Giới học, Định học và Tuệ học. Vô là không, lậu là rơi rớt. Giải thoát là không còn bị rơi rớt trong vòng tam giới nữa, nên gọi là vô lậu. Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

Giới là tư cách đạo đức, nếu người không có đạo đức thì khó tu hành tới chỗ an định. Vì vậy bất cứ một tu sĩ Phật giáo nào vào đạo tu hành, cũng đều lấy giới làm nền tảng. Trong kinh thường thí dụ giới như bóng đèn, nhờ có bóng đèn giữ gìn mà ngọn đèn không bị tổn hại. Bởi do giữ giới mà tâm chúng ta được yên định, nhờ có giới bảo vệ nên không bị những ý niệm rối ren làm cho loạn động, lo sợ, nên nói nhân giới sanh định.

Định tức là thiền định. Người tu Thiền, loạn niệm lắng yên tâm được an định; hoặc người tu Tịnh, niệm Phật được nhất tâm, gọi đó là định. Nhân định sanh tuệ, do tâm định mà trí tuệ được sáng, trí tuệ này trong nhà thiền gọi là giác ngộ, còn người tu tịnh thì gọi là thấy Phật hay kiến Phật.

Giới định tuệ là ba môn học đưa chúng ta tới giải thoát sanh tử, vì vậy tuệ của Tam vô lậu học là Vô sư trí, còn tuệ của Tam tuệ học là Hữu sư trí. Hữu sư trí nên có văn, tư, tu. Vô sư trí nên nói giới, định, tuệ. Bởi tâm định thì trí tuệ nơi mình phát sáng, chứ không phải trí tuệ từ bên ngoài đem đến, cho nên gọi là Vô lậu học.

Chúng ta vào đạo trước phải lấy Tam tuệ học làm căn bản cho việc tu học, sau khi thuần thục rồi thì phải lấy Tam vô lậu học làm nền tảng để tiến tu giải thoát. Như vậy, ở mục một và mục hai là phần tu tự lợi, bây giờ nói qua mục thứ ba là phần lợi tha.

3- Kinh, khế lý và khế cơ 

Kinh là lời Phật dạy, gồm đủ hai nghĩa khế lý và khế cơ. Khế hợp chân lý, khế hợp căn cơ là hai ý nghĩa rất sâu xa, vì vậy người học đạo cần phải nắm vững vấn đề này, để giáo hóa chỉ dạy lại cho mọi người.

Khế lý tức là đúng với chân lý. Như trong kinh Phật nói các pháp do duyên sanh, lời nói đó đúng chân lý. Bởi lý duyên sanh là lẽ thật, dù muôn đời cũng không ai thay đổi được. Lời Phật dạy trong kinh là chỉ thẳng chân lý cho tất cả mọi người nghe rồi nhận chân lẽ thật, để khỏi lầm lẫn sai lạc, đó là khế lý.

Tuy nhiên, nếu chỉ khế lý mà không phù hợp căn cơ trình độ của mỗi người thì cũng không lợi ích gì, cho nên Phật dạy phải vừa khế lý vừa khế cơ mới được. Cơ là căn cơ hay trình độ. Khế cơ là phù hợp với căn cơ của người học đạo. Vị thầy phải biết được trình độ của người đến tham vấn hoặc học đạo. Vì vậy khi học hiểu rồi, chúng ta phải ứng dụng đúng lời dạy của Phật, kết hợp cái hiểu của mình để giáo hóa chỉ dạy mọi người cho phù hợp với trình độ của họ.

Khế lý và khế cơ là hai điều tối quan trọng. Bởi vì chánh pháp của Phật dạy là cả một kho tàng chân lý, nếu chúng ta không khéo biết tùy theo căn cơ mà hướng dẫn cho hiểu thì kho tàng chân lý ấy cũng sẽ để kín trong tủ, không ai biết được. Do đó bổn phận của người tu là phải có cái nhìn đúng chân lý và chỉ dạy phù hợp với căn cơ của người học, ngõ hầu đem được kho tàng của Phật truyền bá cho mọi người cùng tu cùng giác ngộ như Phật.

Trong kinh A-hàm có những bài kinh hết sức đơn giản, tôi dẫn ra đây để làm bằng chứng cụ thể cho quý vị thấy. Thời Phật còn tại thế, ngài A-nan thường theo hầu Phật nên được nhiều người kính trọng, hễ ai cần hỏi đạo lý gì thì họ hay đến gặp ngài. Lần nọ, có một người giữ nghĩa địa xin chỉ dạy pháp tu, ngài A-nan dạy dùng pháp sổ tức, tức là đếm hơi thở để tu. Lại có ông thợ rèn cũng xin chỉ cho pháp tu, ngài dạy quán bất tịnh. Hai người ứng dụng tu y như vậy, nhưng trải qua thời gian dài mà không kết quả nên tới trình bày với ngài. Ngài thắc mắc đến hỏi Phật, con học giáo lý với Thế Tôn rất kỹ, chỉ dạy cho hai người kia tu đúng như lời Thế Tôn dạy, nhưng không biết tại sao họ tu không có kết quả? Phật hỏi:

– Những người đó làm nghề gì và ông dạy họ tu thế nào?

Ngài A-nan thuật lại đầy đủ, đức Phật bảo:

– Sao ông không dạy người làm nghề thợ rèn quán sổ tức, vì ông ta thường thổi ống bễ khì khịt nên nương đó mà tu sổ tức. Còn người giữ nghĩa địa mỗi ngày đều thấy thây chết, nên dạy ông ta quán bất tịnh, như thế sẽ phù hợp hơn.

Nghe lời đức Phật nói, ngài A-nan giật mình. Hóa ra lối dạy tu của mình không phù hợp căn cơ, trình độ mỗi người, tất nhiên họ tu không có kết quả. Ngài đổi lại, dạy thợ rèn tu sổ tức, người giữ nghĩa địa tu quán bất tịnh. Một thời gian sau hai người tu tập đều có kết quả tốt.

Quán sổ tức hay quán bất tịnh cũng đều là Phật dạy, nhưng do mình không biết căn cơ để ứng dụng cho thích hợp, vì vậy tu hành vất vả mà không kết quả. Điều này cho thấy, khế lý và khế cơ hết sức trọng yếu đối với người có trách nhiệm giáo hóa lợi sanh. Khế cơ thời đức Phật dạy là thế, còn hiện tại chúng ta bây giờ là thời khoa học thì sao?

Sống ở thời đại khoa học kỹ thuật, muốn đem Phật pháp giảng dạy cho mọi người, chúng ta cũng phải có đôi chút kiến thức về khoa học kỹ thuật, chứ không thể nào không hiểu biết gì hết. Nếu không khéo vận dụng lời hay của Phật thích ứng với khoa học như thế nào, làm sao chúng ta có thể đem được Phật pháp cao siêu giảng giải cho họ hiểu. Đây là tôi nói về khế cơ chung, chứ không phải khế cơ của từng cá nhân.

Năm rồi có vị giáo sư dạy khoa học trong một trường đại học tại đây, vào thiền viện Trúc Lâm chơi và tặng cho tôi một quyển sách nói về khoa học. Khi cùng bàn luận về đạo Phật với khoa học, giáo sư nói: “Nếu hỏi tôi người nào là Tổ của các nhà khoa học thì tôi sẽ đáp rằng, đó là đức Phật Thích-ca-mâu-ni.” Quý vị thấy, vị giáo sư đó nói như thế có đúng không? Đức Phật có phải là bậc thầy, là Tổ của khoa học không?

Như chúng ta đều biết, từ thế kỷ XVIII đến nay mới có nhiều phát minh về khoa học, nhờ đó con người biết được những điều thực tế trong cuộc sống. Những điều mà ngày nay khoa học mới tìm thấy được thì đức Phật Thích-ca, đấng từ phụ của chúng ta đã thấy biết và nói ra cách đây trên hai mươi lăm thế kỷ rồi. Có thể nói, cái thấy của Phật còn cao xa hơn hẳn khoa học nữa. Tại sao tôi nói như vậy? Bởi có nhiều điều Phật nói trong kinh điển, mà đến tận bây giờ khoa học cũng chưa tìm ra. Chúng ta là đệ tử Phật, nhưng không tìm cũng không biết để khơi dậy cho người đương thời thấy được chỗ chỉ dạy của Phật, đó là khuyết điểm lớn của mình.

Vì thế, sống trong thời khoa học chúng ta cũng phải có chút hiểu biết về khoa học, rồi đem cái hay của Phật giáo phối hợp với những điều khoa học đã chứng minh trên thực tế, để giảng giải chỉ cho mọi người đồng biết. Giáo hóa được như vậy, mới gọi là khế cơ. Nếu chúng ta giảng dạy hoặc hướng dẫn Phật tử tu tập mà không khế cơ, đạo Phật sẽ không thể phát triển. Không phát triển được tức là chúng ta làm cho Phật giáo phải đi lùi, rơi vào lạc hậu. Thế nên tất cả tăng ni, các vị đều phải có bổn phận tìm hiểu cho thật rõ điều này.

4- Phần ưu việt của Phật giáo Việt Nam 

Phật giáo Việt Nam đã trải qua gần mười chín thế kỷ, tức từ thế kỷ thứ II cho tới hiện nay là thế kỷ XX. Về sự phát triển có lúc thăng lúc trầm, về phương pháp tu có khi thích hợp thời này nhưng lại không thích hợp với thời kia, hoặc thích hợp thời kia lại không thích hợp thời này. Chúng ta là người tu theo Phật, cần phải biết phần nào ưu của Phật giáo. Những phần ưu đó ứng dụng vào lúc nào, trường hợp nào là phù hợp, để chúng ta ứng dụng tu hành.

Năm 1968, tôi có dịp đi Nhật Bản. Trên chuyến tàu cùng đi có hai thầy tu bên Thiên chúa giáo, cũng là người Việt Nam. Do ở gần nhau nên chúng tôi có dịp chuyện vãn qua lại, tôi hỏi thăm và được biết lý do hai thầy đi Nhật Bản là để học tu thiền. Quý vị thấy có lạ không? Một người Việt Nam theo Thiên chúa giáo, tại sao họ không ở Việt Nam học tu thiền mà lại qua Nhật Bản? Đó là hai vị tôi gặp trong chuyến đi Nhật, sau này tôi được biết có nhiều người từ Mỹ, Anh, Pháp… họ cũng sang Nhật Bản để học tu thiền.

Từ thắc mắc đó tôi tra cứu lại xem, thiền Nhật Bản và thiền Việt Nam nơi nào có trước? Trên lịch sử Phật giáo, Thiền tông Ấn Độ được truyền sang Trung Hoa từ tổ Bồ-đề-đạt-ma, kế đến vị thứ hai là tổ Huệ Khả, thứ ba là tổ Tăng Xán. Dưới tổ Tăng Xán lại chia ra hai hệ: Một hệ do tổ thứ tư là ngài Đạo Tín, hoằng hóa ở Trung Hoa. Một hệ do ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền thiền sang Việt Nam. Thiền tông được truyền sang Nhật Bản vào đời nhà Tống, đầu tiên là tông Tào Động, về sau có thêm tông Lâm Tế. Nếu tính theo thời gian truyền thừa thì thiền tông ở Việt Nam đã có mặt cùng thời với tổ thứ tư ở Trung Hoa, như vậy thiền tông ở Việt Nam có trước thiền tông Nhật Bản rất xa, trên năm trăm năm.

Thiền tông truyền thừa ở Trung Hoa đến đời thứ sáu là tổ Huệ Năng, truyền xuống Nam Nhạc Hoài Nhượng, Thạch Đầu Hy Thiên. Sau hai vị này thì có Bá Trượng Hoài Hải, Hoàng Bá Hy Vận. Nối tiếp các ngài mới có ra tông Lâm Tế, tông Tào Động truyền thừa thiền tông ở Trung Hoa. Dần tới đời Tống mới có ngài Đạo Nguyên ở Nhật Bản sang Trung Hoa học thiền. Sau khi ngộ được lý thiền ngài trở về nước truyền bá, bấy giờ ở Nhật Bản mới có thiền. Thế mà ngày nay khi nói tới thiền tông thì người ta liền nghĩ đến Nhật Bản, không có ai nghĩ tới Việt Nam. Tại sao? Tại vì chúng ta tuy có trước mà đã bị mai một.

Ở tại Việt Nam chúng ta, miền Bắc là nơi chư tổ thiền tông đặt chân lên đầu tiên. Chùa Dâu là chỗ ở của tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi, chùa Kiến Sơ tại Phù Đổng là chỗ ở của thiền sư Vô Ngôn Thông lúc mới sang. Như vậy, nền tảng cội nguồn thiền tông Việt Nam nằm ở miền Bắc, vậy mà ngày nay chúng ta lại bỏ quên. Nhất là quý vị ở các chùa miền Bắc, chùa của mình ở là nơi phát xuất của chư tổ thiền tông mà không biết, hoặc giả có ai tới tra cứu cần hỏi mình cũng không rành thì có lỗi không? Ở chùa Tổ thờ Tổ mà không biết Tổ, đó là lỗi mất gốc, là khuyết điểm rất lớn của chúng ta.

Thiền tông là một phần giáo lý tu hành ưu việt trong hệ thống của Phật giáo Việt Nam, xa xưa từ thế kỷ thứ VI trải dài đến thế kỷ XIX, chư tổ đã khéo tùy theo xã hội đương thời mà linh động sao cho phù hợp hoàn cảnh, để tu hành và truyền bá Phật pháp giáo hóa mọi người. Vậy mà ngày nay chúng ta lãng quên, quả là đáng trách. Thế nên tăng ni và Phật tử ở miền Bắc các vị phải khéo học cho thông suốt, để sau này nếu có ai tìm tới khảo cứu chư tổ đã đến đây truyền bá lâu dài như thế nào, mình biết rõ rành mạch không mù mờ.

Trong hoàn cảnh hiện tại, xã hội ngày nay đã khác, xu hướng tìm hiểu Phật giáo trong nước cũng khác. Người ngoại quốc bây giờ thích nghiên cứu thiền, tới Việt Nam họ nghe nói thiền tông truyền bá đã mười mấy thế kỷ, hỏi ra mình không biết thì thật đáng tiếc. Vì vậy tinh thần khôi phục giáo lý thiền tông là một việc làm cấp bách. Chúng ta cần phải có cái nhìn cho tường tận, thấy được những điều cao quý hay đẹp của chư vị tổ sư, để cùng nhau khơi dậy những cái sẵn có, khai thác phần ưu việt của Phật giáo ngay nơi xứ sở của mình.

5- Xu thế người Tây phương tìm hiểu Phật giáo 

Vào năm 1994 tôi có dịp đi các nước châu Âu. Sang nước Pháp tôi tận mắt thấy được người Tây phương hướng về đạo Phật như thế nào. Tại đó có nhiều thiền đường của Nhật, Tây Tạng, Thái Lan… Những người dân ở đây, nhất là Tây Tạng, họ rất chịu khó nghiên cứu học hỏi thiền. Tôi được biết trên báo chí của Pháp, Anh, họ bầu chọn nhân vật được quý trọng nhất trong năm, người đứng số một là đức Đạt-lai-lạt-ma thứ 14, người đứng vị trí thứ hai là thầy Nhất Hạnh. Như vậy người Tây phương đã có một cái nhìn hướng về đạo Phật, trước đây họ chỉ thấy đức Giáo hoàng là trên hết, nhưng ngày nay họ chọn đức Đạt-lai-lạt-ma là số một. Đó là khuynh hướng hiện tại mà không ai có thể chối cãi được.

Năm tôi sang Làng Hồng chỗ thầy Nhất Hạnh, nhận thấy số người ngoại quốc tới học tu trong mùa an cư rất đông. Điều này thật đáng hãnh diện. Một nhà sư Việt Nam đi ra nước ngoài hoằng pháp dạy thiền cho người ngoại quốc, số lượng người theo tu học thật đáng kể. Gần nhất là năm 1995, có một số Phật tử ở Mỹ về thuật lại tôi nghe. Hòa thượng Nhất Hạnh đến Cali giảng dạy, ban tổ chức phải thuê một giảng đường lớn trong trường đại học, có sức chứa lên tới bốn ngàn người. Ban tổ chức bán vé, mỗi vé 10 đô la Mỹ, vậy mà không đủ vé bán.

Quý vị thấy không, xu hướng của người ngoại quốc muốn theo học với Phật giáo, đặc biệt là tìm hiểu về thiền, quả là rất rộng và rất nhiều. Tất cả chúng ta ngày nay ở trên đất nước Việt Nam, nhất là Phật giáo ở tại miền Bắc, nơi chư tổ thiền tông đã có mặt rất lâu, rất dài thì chúng ta cần phải làm sao? Mình đang sống trong đất nước Việt Nam, tu theo Phật giáo Việt Nam mà không biết chút gì về sự truyền bá thiền tông ở Việt Nam ra sao, thử hỏi có buồn không? Chẳng những buồn mà còn xấu hổ nữa, bởi mình là con cháu mà không biết những cái hay quý của ông cha, không xấu hổ là gì! Là tu sĩ Phật giáo Việt Nam, chúng ta phải có trách nhiệm rất lớn trong vấn đề này. Tăng ni Phật tử trong Nam vì không biết tường tận nên không đáng trách, còn tăng ni và Phật tử miền Bắc ở ngay cạnh bên tháp Tổ lý đáng quý vị phải nắm vững, nếu không biết chút gì về lịch sử chư tổ, các ngài tu hành thế nào, truyền bá ra sao… thì đó là một thiệt thòi lớn. Biết được trách nhiệm của mình rồi, chúng ta phải thực hiện cho bằng được mới hay. Nếu biết mà không gắng làm tròn trách nhiệm, đó là một khuyết điểm lớn. Vì vậy tôi nghĩ rằng, muốn cho Phật giáo Việt Nam ngày càng sáng tỏ, càng tốt đẹp thì tất cả tăng ni chúng ta đều phải có trách nhiệm. Đặc biệt là chư tăng ni đang theo học ở các trường Cao cấp Phật học, quý vị là người có học thì trách nhiệm đối với Phật giáo rất nặng nề. Những vị tu ở quê không được học nên không biết gì, gặp người ta hỏi trả lời không được cũng không sao. Quý vị là những tăng ni sinh đang theo học khóa I khóa II của trường Phật học, hoặc tốt nghiệp xong đã ra trụ trì mà bị hỏi đến mờ mịt lúng túng thì đó là một thiếu sót rất lớn.

Nếu là một tu sĩ có nhiệt huyết, biết hướng đến tương lai của Phật giáo Việt Nam, biết nghĩ tới sự truyền bá đạo lý quan trọng mà đức Phật đã giác ngộ và chỉ dạy lại thì tất cả quý vị, mỗi người cần học giáo lý cho thông, lịch sử cho rành, nắm vững căn bản tu hành, để gánh vác trọng trách đưa Phật giáo đi lên. Tôi tin rằng mai này sẽ có nhiều người ngoại quốc đến nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, khi đó quý vị có thể hướng dẫn giải thích cho họ hiểu. Đây là điều vô cùng thiết yếu trong hiện tại mà tất cả tăng ni phải nhớ mà phấn đấu nỗ lực học, cố gắng nghiên cứu tìm hiểu chứ không thể lơ là qua ngày, sống thiếu trách nhiệm được.

Giáo lý, lịch sử và sự tu hành, khi học tăng ni cần nắm cho vững. Cả ba việc này đã nắm vững rồi, khả dĩ về sau sự truyền bá mới được vững chắc rõ ràng, bằng không thì sẽ gặp nhiều khó khăn. Khó khăn đó chính là lỗi của chúng ta, do không khéo học, không khéo hiểu mà ra. Tôi nhắc lại, tất cả tăng ni đều là những người có trách nhiệm, vì vậy quý vị phải ráng tinh tấn tu, tinh tấn học, để làm sao bản thân mình được lợi ích đầy đủ và hướng dẫn Phật tử đi cho đúng với chánh pháp.

Quý vị nhận xét hiện tại ở miền Bắc này tinh thần học Phật cao hay thấp? Rất cao. Nhưng cao về mặt nào, về mặt hiểu đạo lý hay về giàu lòng tín ngưỡng? Đây là điều chúng ta phải nghiệm xét lại thật kỹ. Nếu cao về mặt thông suốt đạo lý là điều đáng mừng, còn cao về giàu lòng tín ngưỡng thì rất đáng lo ngại. Tại sao phải lo ngại? Bởi vì nếu chỉ tin mà không hiểu thì cái tin đó trở thành tin mù quáng. Trong kinh, Phật có dạy: “Tin ta mà không hiểu ta, đó là phỉ báng ta.” Tin mà không hiểu tức là phỉ báng.

Một người tin Phật mà không hiểu đúng lời Phật dạy, niềm tin này không những không lợi ích, mà vô tình họ còn làm cho đạo Phật bị suy đồi. Cho nên đã là người có trách nhiệm hướng dẫn Phật tử tu, chúng ta phải làm sao giúp cho họ không những tin Phật mà còn phải hiểu Phật, hiểu cho rõ ràng tường tận. Có như thế Phật giáo mới đủ sức để truyền bá chánh pháp đúng với tinh thần của đạo Phật, nếu không chúng ta sẽ không làm tròn việc bổn phận của mình.

Buổi nói chuyện của tôi hôm nay, thiết nghĩ cũng đã nhiều rồi. Với tâm nguyện của mình, tôi muốn nhắc nhở tất cả tăng ni, quý vị hãy cố gắng tu, cố gắng học. Tu học càng kỹ, càng đúng, đó là lợi lạc lớn cho bản thân mình, cũng là lợi lạc chung cho tất cả bản đạo, những người ở vùng này, nương nơi quý vị mà hiểu được chánh pháp. Mở rộng thêm con đường đang đi, khiến cho giáo lý Phật dạy càng ngày càng được tỏ rạng, đó là trách nhiệm của tất cả tăng ni. Tôi xin có ít lời nhắc nhở quý vị, mong tất cả cố gắng.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.