(Giảng tại Đại học Văn hóa Hà Nội ngày 10-04-1996)
Thưa quý vị giáo sư, cùng tất cả các em sinh viên. Hôm nay chúng tôi được nhà trường mời đến đây, có một buổi nói chuyện với quý vị đề tài Phật giáo Việt Nam. Nhưng tôi nghĩ rằng đề tài này quá rộng, thời gian không đủ để chúng tôi có thể nói hết được. Bởi khi nói tới Phật giáo Việt Nam là bao gồm các mặt: lịch sử du nhập và truyền bá, tinh thần Phật giáo ảnh hưởng trong văn hóa dân tộc như thế nào… Vì đây là một trường văn hóa, nên tôi sẽ thu gọn vào đề tài Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa dân tộc Việt Nam.
Phật giáo Việt Nam có liên hệ tới văn hóa dân tộc Việt Nam như thế nào? Những điểm đó chúng tôi sẽ nêu lên, giải thích rõ ràng qua hai mặt: văn học và kiến trúc. Về kiến trúc, tôi có thể nói tiêu biểu qua một ít hình tượng trong các ngôi chùa. Về văn học thì có chia ra văn học bình dân và văn học trí thức, phần này tôi chỉ nói đơn giản về văn học bình dân, để quý vị có cái nhìn chung và thấy được ảnh hưởng của Phật giáo, với người dân Việt Nam sâu đậm như thế nào.
I- Tinh thần Phật giáo trong đời sống văn hóa
Phật giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam trước thế kỷ thứ III, mãi đến ngày nay đã hơn mười bảy thế kỷ. Sự sinh tồn của Phật giáo cùng với sự sinh tồn của đất nước dân tộc có mối liên hệ rất chặt chẽ. Sự liên hệ ấy có nhiều mặt, từ trong văn hóa, đạo đức và cả ở sự tu hành. Ở đây chúng ta chỉ nghiêng về mặt văn hóa, nên tôi sẽ nói thẳng vào ảnh hưởng của Phật giáo qua ca dao, tục ngữ, cũng như thơ truyện cổ tích trong văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đầu tiên tôi nêu lên một từ rất quen thuộc với quý vị, đó là chữ Nghiệp. Thí dụ khi nghe một người gặp nạn hoặc bị đau khổ chúng ta hay nói tội nghiệp, vậy chữ nghiệp ấy có nguồn gốc từ đâu? Từ trong Phật giáo. Đạo Phật thường nói về nghiệp, để chỉ cho những việc làm do chính mình tạo ra. Làm điều xấu dở đưa tới quả đau khổ, làm việc tốt đẹp sẽ dẫn đến quả an vui. Quả đau khổ mà con người tự tạo ra đó thật là đáng thương, nên khi thấy người bị khổ thì chúng ta tỏ lòng thương bằng câu nói “Tội nghiệp quá!” Như vậy, từ ngữ tội nghiệp phát xuất từ đạo Phật, lâu dần tự nhiên trở thành câu nói chung của toàn dân Việt Nam. Những từ ngữ đại loại như thế rất nhiều không thể kể hết, nên tôi chỉ tạm nói đôi chút.
Trong ca dao tục ngữ Việt Nam đã nói lên những nét đặc thù của người dân Việt, đó là: thứ nhất bất khuất, thứ hai đoàn kết, thứ ba là bao dung, thứ tư hiếu kính cha mẹ, thứ năm tin nhân quả luân hồi.
1- Tinh thần bất khuất
Về mặt này tôi tạm dẫn ra vài câu ca dao tục ngữ của hai miền Nam và Bắc, để quý vị có thể thấy được ý chí đại hùng đại lực của đạo Phật, có ảnh hưởng đến tinh thần bất khuất của người dân Việt Nam ra sao. Bất cứ một người dân nào, dù là Phật tử hay người tu, mỗi khi có giặc ngoại xâm đến cai trị xứ sở, tất cả đều đồng một lòng đứng lên chống lại giặc ngoại xâm.
Miền Nam có câu tục ngữ:
Giặc Tây đánh tới Cần Giờ,
Biểu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công.
Khi tàu của giặc Pháp vô tới cửa Cần Giờ ở Sài Gòn, tất cả thanh niên Việt Nam một lòng đứng lên chống giặc, nhắn nhủ cho gia đình biết rằng mình đã hy sinh cho đất nước, ở nhà đừng lo lắng trông đợi. Đó là tinh thần hết sức hùng dũng và bất khuất.
Hoặc câu nói rất Việt Nam như:
Có vất vả mới thanh nhàn,
Không dưng ai dễ cầm tàng che cho.
Nếu muốn được thảnh thơi, sung sướng thì trước hết chúng ta phải biết chấp nhận những khó khăn, vất vả trong cuộc sống. Có thế mới thành công, mới được an vui tự do tự tại. Hay như câu ca dao mà chúng ta thường nghe:
Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Dù xứ sở mình còn nghèo còn dở, nhưng chúng ta vẫn tự hào đó là quê hương của mình, hơn là lệ thuộc vào người ngoài, sống nhờ nước khác. Những câu nói này cho thấy tinh thần bất khuất của người dân Việt Nam, tinh thần này trong đạo Phật gọi là sức mạnh của đại hùng đại lực.
Quý vị có biết đại hùng đại lực là thế nào không? Trong các chùa, nơi chánh điện thờ Phật có ghi bốn chữ Đại Hùng Bửu Điện, nghĩa là điện thờ bậc đại hùng. Đại hùng là chỉ cho đức Phật, tức bậc có sức mạnh lớn. Phật đâu có chống chọi với ai, cũng không cầm quân hay đánh trận gì, mà sao gọi ngài là bậc đại hùng? Trong kinh Pháp Cú, Phật dạy:
Thắng một vạn quân không bằng chiến thắng chính mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.
Người có khả năng tài giỏi, dù cho chiến thắng đối phương ở ngoài mặt trận, nhưng chưa chắc thắng được tật nóng giận, tham lam, si mê của chính mình. Vừa thắng bên ngoài vừa thắng chính mình, mới xứng gọi bậc Đại hùng.
Hiện giờ chúng ta cũng có lắm kẻ anh hùng, nhưng chỉ anh hùng ở bên ngoài chứ chưa anh hùng bên trong. Nếu thắng được bên ngoài lẫn bên trong, người đó mới thực sự là anh hùng muôn thuở. Còn ngược lại thì anh hùng đó chỉ là nhất thời mà thôi. Như vậy, nếu chúng ta vừa hiểu Phật vừa thích ứng với xã hội, làm sao cho tinh thần của đạo Phật và tinh thần của dân tộc hòa quyện với nhau thì rõ ràng đó là một sức mạnh rất lớn và rất hay.
2- Tinh thần đoàn kết
Kế tiếp là tôi nói về tinh thần đoàn kết giữa Phật giáo và đất nước. Đoàn kết là sức mạnh, quan điểm ấy được ảnh hưởng từ tinh thần Lục hòa của đạo Phật. Tính đoàn kết của dân tộc Việt Nam được nhắc đến rất nhiều trong ca dao tục ngữ, như:
Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Chống là chống người ngoài, còn cùng dòng giống, đồng một chủng tộc thì không nên chống đối làm khổ cho nhau. Hoặc câu:
Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Một cây là một cây, ba cây là ba cây; ba cây chụm lại thì thành một chùm cây, chứ sao lại thành núi cao? Câu nói nghe trái lý, nhưng cho thấy tinh thần đoàn kết của người dân Việt Nam rất là mạnh mẽ. Nếu mỗi cây đứng riêng rẽ thì gặp gió bão sẽ bị gãy cành trốc gốc, còn chụm lại sẽ tạo nên sức mạnh vững vàng, những tai nạn họa ương không thể làm hư hoại được.
3- Tinh thần bao dung
Người Việt Nam không những bất khuất, đoàn kết mà còn bao dung, trong đạo Phật gọi là từ bi hỷ xả. Điều này được thể hiện rõ nét qua nhiều câu ca dao khác nhau, như người dân quê có câu:
Bầu ơi thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Nghe tha thiết làm sao! Mặc dù xứ sở chúng ta có nhiều chủng tộc, nhưng tổ tiên chúng ta luôn có tinh thần bao dung rộng rãi, không phân biệt. Người xưa quan niệm rằng đã cùng chung một đất nước thì phải có bổn phận bảo bọc che chở cho nhau. Cũng như bầu và bí bò chung một giàn, nếu giàn sập thì bầu bí đều hư hết. Hoặc những câu hết sức quen thuộc như:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Hay câu:
Tuy rằng xứ Bắc xứ Đông,
Khắp trong bờ cõi cũng dòng anh em.
Không phân biệt là người Bắc, người Trung hay người Nam, mà đã ở cùng một đất nước thì đồng như anh em, cùng là dòng họ chứ không ai xa lạ cả.
Một câu ca dao khác:
Đường xa xin chớ ngại ngùng,
Trèo non xuống biển ta cùng đỡ nhau.
Dù có đi xa ngàn dặm, gặp muôn điều khó khăn, nhưng chúng ta luôn luôn giúp đỡ bảo bọc nhau, chứ không để mặc tình ai khổ thì khổ. Nếu gặp người khổ chẳng thèm ngó ngàng, không thương xót thì không đúng tinh thần của dân tộc Việt Nam.
Tinh thần bao dung chính là tâm từ bi hỷ xả của đạo Phật. Phật dạy làm người phải thương yêu tha thứ nhau, chẳng những con người mà đến loài vật cũng vậy. Nếu có người lỡ phạm lỗi lầm hoặc có những điều phiền hà đến mình, chúng ta đều nên tha thứ cho họ. Tinh thần bao dung của dân tộc cùng với tâm từ bi hỷ xả của đạo Phật, hòa nhịp và khắn khít với nhau không thể tách rời. Đó là những điều rất hay và cao quý của dân tộc chúng ta.
4- Tinh thần hiếu kính
Đạo Phật dạy con người phải hiếu thảo, như trong các kinh Báo Phụ Mẫu Ân, kinh Hiếu Tử v.v… toàn dạy về lòng hiếu. Tinh thần hiếu kính ấy được thấm nhuần vào dân gian, vì vậy người Việt Nam ở miền quê thường thuộc lòng câu ca dao:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…
Hoặc: Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp một như đường mía lau…
Những câu ca dao này diễn tả tình cảm ngọt ngào, đáng yêu đáng quý của con cái đối với cha mẹ. Cha mẹ lo cho con cái nhưng không phải lo bằng cách trừng phạt rầy mắng, mà lúc nào cũng đem lại sự ngọt ngào, những lời khuyên dạy rất tha thiết. Do đó con trân quý cha mẹ, thấy mẹ già như chuối ba hương, như xôi nếp một, như đường mía lau. Đầm ấm ngọt ngào là vậy.
Lại có câu:
Đói lòng ăn đọt chà là,
Để cơm nuôi mẹ mẹ già yếu răng.
Giả sử có nghèo đói cũng đi tìm kiếm đọt cây ăn đỡ lòng, còn cơm và thức ăn mềm tốt thì để dành nuôi mẹ, vì mẹ già răng yếu không nhai được. Tình con đối với mẹ quả thật rất thắm thiết.
Hoặc có câu:
Bao giờ cá lý hóa long,
Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.
Đây là trường hợp các sinh viên đang đi học, muốn đền ơn cha mẹ phải gắng học giỏi thi đậu, chứ không phải một bề ngồi bên cạnh cha mẹ hầu lo cơm áo mà thôi. Con học hành giỏi, trở thành người có tài giúp ích cho quê hương xứ sở, đó mới là đền ơn cha mẹ đúng nghĩa nhất.
Phật dạy: Điều ác không gì bằng bất hiếu, điều thiện không gì bằng có hiếu. Chúng ta cứ nghĩ làm điều lành với mọi người là tốt rồi, nhưng Phật dạy tuy làm điều lành tốt với mọi người, cũng chưa bằng có hiếu với cha mẹ. Trong kinh có kể câu chuyện: Một thầy Tỳ-kheo cùng đi với Phật tới một vùng kia, gặp lúc thất mùa người dân trong vùng đói không có cơm ăn. Thầy Tỳ-kheo bèn lấy chiếc y, tức cái áo của mình, đổi được một bát cơm đem dâng cúng Phật. Phật hỏi:
– Ngươi còn cha mẹ không?
– Con còn một bà mẹ.
– Mẹ ngươi có cơm ăn không?
Thầy Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con đổi chiếc y chỉ được một bát cơm đem dâng cúng Thế Tôn, mẹ con không có cơm ăn.
Phật bảo:
– Ta không dám nhận bát cơm này, người đáng nhận chính là mẹ của ông, ông nên đem về dâng cho mẹ.
Phật dạy đệ tử hiếu thảo với cha mẹ là trên hết, đừng chỉ biết Phật mà quên cha mẹ. Thế nên ở Việt Nam chúng ta có câu: “Phật trong nhà không thờ, đi thờ Thích-ca ngoài đường.” Phật trong nhà chính là cha mẹ, cho nên phải hiếu thảo với cha mẹ trước, rồi mới tới thờ Phật sau. Thế nhưng nhiều Phật tử ngược lại, thờ Phật mà quên cha mẹ, đó là lỗi lầm rất lớn, không đúng tinh thần đạo Phật.
5- Tin nhân quả luân hồi
Người dân Việt Nam chúng ta rất tin nhân quả, nên có rất nhiều câu ca dao tục ngữ mà chắc hẳn quý vị đều thuộc lòng. Như “gieo gió gặt bão”, là chỉ cho nhân quả. Gieo nhân xấu ác thì phải bị quả xấu ác. Khi có kẻ làm điều tội lỗi bị pháp luật trừng trị, có người bảo sao phải chịu khổ vậy thì chúng ta thường nói, tại gieo gió nên gặp bão.
Người dân chúng ta chẳng những tin nhân quả đời này mà còn tin cả ở đời sau, như câu ca dao:
Ai ơi hãy ở cho lành,
Kiếp này chẳng được để dành kiếp sau.
Chúng ta đã gieo nhân tốt, tất nhiên quả tốt không mất. Mình ăn ở hiền lành, giả sử đời này chưa hưởng quả tốt thì mai sau vẫn được hưởng. Đó là ý nghĩa nhân ngày nay làm, mai kia sẽ hưởng quả.
Nói về quả bây giờ thế nào là do nhân trước kia đã gây tạo, có câu:
Bởi chưng kiếp trước khéo tu,
Ngày nay con cháu võng dù nghênh ngang.
Thấy người khác giàu mình nghèo, liền nghĩ họ giàu vì kiếp trước khéo tu nên ngày nay được sang cả, còn mình nghèo tại kiếp trước chưa biết tu nên bây giờ phải khổ. Nghĩa là người kia gieo nhân tốt nên quả tốt đến với họ, riêng mình gieo nhân không tốt nên gặp quả không tốt. Đó là cái nhìn của người hiểu đạo lý Phật dạy, nên khi gặp khổ không oán trách hoàn cảnh, thấy người giàu sang địa vị hơn cũng không tật đố. Lại có câu:
Người trồng cây hạnh người chơi,
Ta trồng cây đức để đời mai sau.
Thế gian trồng cây hạnh đẹp để ngắm chơi, nhưng người có tâm đạo đức thì lo gieo trồng hạnh nết tốt để sau này con cháu noi theo, nên nói để dành đời sau.
Qua những điểm mà tôi vừa nêu trên, vài câu ca dao tục ngữ, có thể thấy được tính đặc thù của người Việt Nam. Tinh thần đạo đức đó đa phần đều ảnh hưởng từ Phật giáo, mà người xưa đã học hiểu và ứng dụng Phật pháp vào trong cuộc sống của mình. Đó là nói về ảnh hưởng Phật giáo sâu đậm trong ca dao tục ngữ, bây giờ nói qua truyện cổ tích Việt Nam.
6- Tinh thần Phật giáo trong truyện tích dân gian
Truyện cổ Phật giáo rất nhiều, tôi chỉ lược qua vài truyện. Xa xưa thì có truyện Tấm Cám, nói lên đạo lý làm người. Mình sống tốt thì dù ai xử sự xấu với mình, nhưng rốt cuộc luôn có Bụt thương cứu giúp. Kế đến là truyện Người mù rờ voi, thuở nhỏ tôi được nghe kể cứ ngỡ rằng đó là truyện dân gian Việt Nam, đến khi đi tu được đọc qua kinh điển, tôi mới biết câu chuyện này xuất phát từ kinh Trường A-hàm và Đại Bát-niết-bàn, hóa ra là được lấy từ trong kinh Phật.
Truyện người mù rờ voi là một triết lý rất sâu của đạo Phật. Trong kinh kể rằng, có một nhà vua nọ muốn thử xem người mù cảm nhận và diễn tả của họ có đúng hay không. Hôm đó vua sai quần thần mời một số người mù đến trước sân triều, vua ra lệnh cho quản tượng dẫn voi ra bảo họ rờ vào con voi, rồi diễn tả xem con voi như thế nào, nếu diễn tả đúng thì được trọng thưởng. Họ rờ vào từng bộ phận của con voi, mỗi người diễn tả mỗi cách. Người này nói con voi giống cây cột, người kia nói giống cái trống, người nọ nói giống cái chổi v.v… Những người mù tưởng rằng nắm được một bộ phận là nắm cả con voi, nên họ khẳng định tin mình nói đúng, dẫn đến tranh cãi ẩu đả lẫn nhau.
Nhà vua là người sáng mắt, biết sự thật họ chỉ rờ trúng một bộ phận chứ không phải toàn thể con voi. Thế nên khi nhìn thấy cảnh tượng đó, vua chỉ cười mà không bênh ai. Bởi người nào cũng trúng mà người nào cũng trật. Trúng là trúng một bộ phận, trật là trật toàn bộ con voi.
Thời đức Phật có nhiều hệ phái, người chủ trương cái này, người chủ trương cái kia… Với những triết lý riêng của mình, họ tranh cãi nhau. Ngược lại, đức Phật thì chủ trương mình tu giác ngộ hoàn toàn rồi mới nói. Giác ngộ hoàn toàn dụ như người mắt sáng thấy rõ ràng nên không tranh cãi, những người mù do không thấy được toàn bộ con voi, chỉ nắm được một bộ phận mới có cãi nhau. Cũng vậy, khi chúng ta chưa giác ngộ hoàn toàn, mỗi người đề ra chủ thuyết khác nhau dẫn đến tranh cãi, rốt cuộc rồi cũng không tới đâu. Đạo lý của câu chuyện người mù rờ voi rất cao siêu, tổ tiên chúng ta thường lấy đó để nhắc nhở răn dạy con cháu.
Kế đến là truyện Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Diệu Thiện, những câu chuyện này đã có trong văn học cổ Việt Nam rất lâu. Lúc tôi còn tu ở các ngôi chùa quê, mỗi khi tới ngày vía Bồ-tát Quán Thế Âm, thường nghe trong chùa xướng lạy câu “Nam-mô Nam hải Phổ Đà sơn, đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát”. Tôi không biết Nam hải là nơi nào, Phổ Đà sơn ở đâu nhưng vẫn cứ hướng về đó mà lạy. Đến năm 1993 tôi có dịp sang Trung Quốc và tìm tới Phổ Đà sơn, đó là một dãy núi nằm ở ngoài biển phía nam Trung Quốc, nhưng là phía bắc của Việt Nam. Nhìn vào trong động thấy có đề ba chữ Hán: Bất Khẳng Khứ, dịch ra chữ Việt là “không chịu đi”. Tôi thắc mắc hỏi, một người dân địa phương bèn kể cho tôi nghe câu chuyện này.
Vào thời Tống ở Trung Quốc, có một người Nhật Bản đi tới Ngũ Đài sơn lễ bái, thấy pho tượng Bồ-tát Quán Thế Âm bằng đá rất đẹp, ông liền xin thỉnh đem về. Khi thuyền sửa soạn nhổ neo trở lại Nhật, bất ngờ có một trận bão ập đến, sóng to gió lớn kéo dài cả tuần khiến thuyền không thể đi được. Không biết làm sao, khổ sở quá ông bèn khấn nguyện Bồ-tát: “Nếu Bồ-tát không ưng về Nhật thì xin cho sóng yên gió lặng, con sẽ thỉnh tượng Ngài trở lên núi này thờ.” Khấn xong, vài giờ sau gió im sóng lặng. Tin rằng Bồ-tát Quán Thế Âm không chịu về Nhật, ông ghé lại núi Phổ Đà tìm một hang động đẹp thỉnh Bồ-tát lên thờ, rồi báo cho dân địa phương biết. Do nguyên nhân ấy, ngoài cửa động ông ghi ba chữ Bất Khẳng Khứ, nghĩa là không chịu đi. Từ đó, người Trung Quốc cho rằng núi Phổ Đà là chỗ ở của Bồ-tát Quán Thế Âm.
Nghe xong tôi thấy buồn, chỉ qua một câu chuyện nhỏ của Trung Quốc, rồi mình ở tận đâu xa xôi cũng cứ hướng về đó mà lạy. Trong khi văn thơ ở Việt Nam còn ghi rõ, chùa Hương là nơi Bồ-tát Quán Thế Âm tu theo Phật, có di tích và hình tượng thờ cúng hẳn hoi, tại sao mình không hướng về đó lạy mà phải hướng sang Trung Quốc để lạy? Việc này có đau lòng không, có đáng buồn không?
Về sau có dịp đi tới chùa Hương viếng những thánh tích ở đó rồi, tôi nghĩ bây giờ mỗi khi tới ngày vía Quán Thế Âm, người Việt Nam chúng ta nên hướng về Hương Tích kính lạy: “Nam-mô Hương Tích động, đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ-tát.” Như vậy sẽ hợp lý hơn. Bởi cái gì hay tốt của xứ sở chúng ta thì chúng ta phải quý trọng, chứ quên chỗ của mình mà đi quý trọng chỗ khác là không hợp lý. Chính vì vậy mà tôi thường nói, tôi có bệnh tự ái dân tộc.
Trở lại câu chuyện Bồ-tát Quán Thế Âm, tôi nói đại khái qua hai hiện thân của ngài: Một là Quan Âm Diệu Thiện tu ở Hương Tích, Việt Nam. Hai là Quan Âm Thị Kính ở Phổ Đà sơn, Trung Quốc.
Trước hết là nói về Quan Âm Diệu Thiện ở động Hương Tích tại Việt Nam. Truyện thơ Quan Âm Diệu Thiện thì chắc hẳn đa số người lớn tuổi đều có đọc. Thuở tôi còn nhỏ, thấy các cụ lúc rảnh nằm tréo chân đọc thơ kể về những tích truyện, như là Lục Vân Tiên, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Diệu Thiện v.v… Đọc thơ là niềm vui, là nét đẹp của người Việt xưa, đồng thời còn thể hiện được tinh thần văn hóa trong đạo Phật.
Nếu người nào đã đi đến chùa Hương tại động Hương Tích thì chắc hẳn có nghe và thấy những hình ảnh thơ kệ về Bồ-tát Quan Âm Diệu Thiện được khắc ghi nơi đó. Ở đây tôi xin đọc thẳng trong quyển truyện thơ Quan Âm Diệu Thiện:
Chân như đạo Phật rất mầu,
Tâm trung chữ hiếu niệm đầu chữ nhân.
Hiếu là độ được đấng thân,
Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài.
Chỉ hai câu mở đầu cũng đủ thấy nhắc đến Quan Âm Diệu Thiện là nói tới chữ hiếu. Tại sao? Bởi vì ngài tu chẳng những độ được cha mẹ, mà còn cứu vớt những người trầm luân. Khi đi qua mười tám cửa ngục ngài đều phát tâm, nguyện cho mọi người trọn được siêu thoát.
Trong truyện kể rằng: Xa tận Thiên Trúc (Ấn Độ) có một ông vua cai trị một đất nước nọ. Do không có con trai chỉ có ba cô công chúa, nên nhà vua muốn chọn một vị phò mã tài giỏi để nối ngôi vua. Hai phò mã trước nhà vua đều không hài lòng, hy vọng vị phò mã cuối cùng sẽ xứng đáng để truyền ngôi vua. Thế nhưng cô công chúa thứ ba lại không chịu lập gia đình mà nằng nặc đòi đi tu. Không thể ngăn cản công chúa đi tu, nhà vua bèn sai người đến báo với thầy Trụ trì, yêu cầu bằng mọi cách phải đày đọa công chúa cho thật cực khổ, để công chúa chịu không nổi sẽ trở về cung. Thầy Trụ trì làm theo y như lời vua dặn, bắt công chúa làm đủ mọi thứ, nào là gánh nước, bửa củi v.v… Trải qua thời gian dài, dù khó khăn gian khổ đến đâu cô cũng vui vẻ làm, không nản không chán, quyết chí không lui về. Thấy công chúa không thối lui, nhà vua tưởng thầy Trụ trì không tuân lệnh, nên nổi giận ra lệnh đốt chùa. Chùa cháy tăng chúng chết, còn công chúa thì được một con cọp cứu, mang đến động Hương Tích ở Việt Nam. Công chúa ở đây tu hành và được đắc đạo.
Đốt chùa làm cho tăng chúng chết tức đã phạm tội rất ác, nên không lâu sau đó nhà vua phải trả quả báo đã làm. Vua mắc bệnh nan y, toàn thân đau đớn khổ sở vô cùng, chạy mời thầy thuốc khắp nơi vẫn không chữa khỏi. Cuối cùng có người mách bảo, nếu vua mời được vị thầy thuốc ở động Hương Tích đến điều trị thì bệnh sẽ hết. Nhà vua cho người sang tận Hương Tích mời, bà nhận lời về cung trị bệnh cho vua. Nhân đó bà khéo léo dùng lời lẽ nhắc nhở cho vua cha thức tỉnh, sám hối tội lỗi của mình. Nhà vua được lành bệnh, phát tâm quy kính Tam bảo. Mẹ và hai người chị của bà, thấy được sự mầu nhiệm của người tu hành, nên rủ nhau cùng sang động Hương Tích rồi ở đó tu luôn.
Qua truyện Quan Âm Diệu Thiện, đạo Phật muốn nhắc nhở người đời phải sống hiếu kính cha mẹ và nhân từ với mọi người. Dù cha mẹ có đối xử với mình như thế nào đi nữa cũng vẫn kính thương, lúc cha mẹ gặp cảnh bệnh hoạn khổ sở thì luôn sẵn sàng hy sinh, không oán trách. Ở thế gian nhiều người sống trái đạo nghĩa, có bệnh thương người ngoài mà quên thương cha mẹ của mình. Đối người ngoài thì tốt lắm nhưng với cha mẹ lại bất hiếu. Vì thế đạo Phật dạy chúng ta thương tất cả mọi người, cho dù họ không tốt với mình. Người khác mà chúng ta còn thương thì cha mẹ mình làm sao lại không thương được. Nếu quý vị đọc suốt hết bài thơ dài ấy, sẽ thấy tinh thần từ bi của đạo Phật thể hiện rất rõ trong câu chuyện này.
Tiếp đến là chuyện Quan Âm Thị Kính, được kể theo thể truyện thơ, đây tôi chỉ nói tóm lược. Thị Kính là một phụ nữ Trung Hoa, sinh ra trong một gia đình trâm anh, lớn lên được gả cho một nho sĩ. Bấy giờ sắp đến kỳ ứng thí nho sĩ cố gắng học hành, miệt mài ôn luyện để chuẩn bị thi. Một buổi trưa nọ quá mệt mỏi, ông vừa nằm xuống liền ngủ quên. Bà Thị Kính ngồi may gần đó, nhìn thấy dưới cằm ông có một sợi râu mọc ngược trông xấu quá, bà bèn cầm lấy cây kéo định cắt sợi râu, không may cây kéo đụng vào da làm ông giật mình thức giấc. Vừa mở mắt thấy bà cầm cây kéo, tưởng bà định ám sát mình, ông liền chụp tay la lên. Nghe tiếng kêu cứu, cha mẹ và người trong gia đình ông đổ xô ra, thấy bà còn cầm cây kéo họ đều kết án bà giết chồng và đuổi đi. Quả là nỗi oan thấu trời xanh! Bà trở về nhà cha mẹ rồi tự suy nghĩ, mình là thân gái có chồng mà không ra gì để mang tiếng xấu cho gia đình. Càng ngẫm sự đời càng chua xót, bà quyết chí đi tu. Thời đó việc người nữ đi tu là rất khó khăn, nên bà trốn gia đình rồi giả trang thành người nam vô chùa tu, được thầy cho pháp hiệu Kính Tâm. Tưởng vậy là yên, nhưng nào ngờ do nhan sắc mặn mà, nên tuy giả trai vào chùa vẫn chưa yên, vì gặp Thị Mầu. Thị Mầu là con quan mà tính tình lẳng lơ, tới chùa thấy ông đạo Kính Tâm có diện mạo dễ thương, bèn đem lòng thương nhưng không được đáp lại. Không như ý của mình, Thị Mầu lại lôi thôi với người đầy tớ trong nhà có thai. Bị cha mẹ tra khảo, bà khai có thai với ông đạo Kính Tâm ở trong chùa. Làng bắt ra điều tra, chỉ cần nói tôi là người nữ không phải người nam, lập tức bao oan ức đều được giải hết, nhưng bà làm thinh không minh oan, cắn răng chịu đựng đòn roi đánh đập.
Nếu bây giờ quý vị gặp trường hợp như vậy thì sẽ xử trí thế nào? Chắc chúng ta sẽ minh oan, còn bà tại sao lại không minh oan? Vì ngày xưa không có chùa ni, muốn tu thì phải là người nam mới vào chùa tu được. Nếu bà nói tôi là người nữ thì giải oan cho mình nhưng chùa sẽ không cho tu, bà vì muốn tu nên làm thinh không nói. Thầy Trụ trì thương, xin chịu phạt tiền với làng rồi đem bà về chùa. Vài tháng sau, Thị Mầu khai hoa nở nhụy được một đứa con trai, cô bồng đứa bé tới giao cho ông đạo Kỉnh Tâm, lúc đó đang bị đày ở ngoài hành lang chùa. Không đành lòng nhìn đứa bé khóc thét giữa trời lạnh, bà ôm đứa bé đi từng nhà trong xóm xin sữa về nuôi. Thiên hạ xầm xì, ông đạo xấu xa đã lôi thôi bây giờ còn phải xin sữa nuôi con. Bị người mắng chửi đủ điều, bà vẫn cam tâm nuôi đứa bé không nói lời nào.
Đến đây tôi nhớ đoạn thơ khi thầy Trụ trì ra thấy cảnh đó, có vẻ hơi trách thì bà thưa:
Sá thù chi đứa dâm ô,
Nước tùy duyên rửa đi cho kẻo mà!
Chữ rằng: “Nhẫn nhục nhiệm hòa,
Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu.”
Thầy Trụ trì quở, nếu không phải con ông thì tại sao ông lại nuôi? Bà thưa:
Bạch rằng: “Muôn đội Thầy thương,
Xưa nay Thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dầu xây chín đợt phù-đồ,
Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều.”
Phù-đồ là tiếng Phạn, Việt Nam gọi là tháp. Dù cho đổ tiền xây chín ngôi tháp, không bằng có lòng thương cứu một sinh mạng, bởi sinh mạng cao quý hơn tất cả. Qua những câu thơ đối đáp giữa hai thầy trò, chúng ta thấy tinh thần từ bi của đạo Phật thấm sâu trong đó. Người Việt Nam thấm nhuần tinh thần từ bi của đạo Phật, lấy nhân đức mà xử sự với mọi người. Quan niệm dù xây chùa to Phật lớn mà thiếu nhân đức với mọi người thì cũng chưa xứng đáng là người biết tu hành. Với hạnh nhẫn nhục như vậy bà đắc đạo được thành Phật, dân gian tôn xưng bà là Bồ-tát Quán Thế Âm, hay Phật bà Quan Âm.
Bồ-tát Quán Thế Âm qua hiện thân người nữ là Quan Âm Thị Kính, đức cao cả nhất của bà là nhẫn nhục và từ bi. Lần thứ nhất là khi bị vu cáo giết chồng, bà vẫn sống chấp nhận oan khiên nhục nhã và đi tu, chứ không như người thường tìm đến cái chết. Lần thứ hai là lúc đang tu, bị vu tiếng xấu là phạm hạnh nhơ, bà vẫn không minh oan mà cam chịu đòn roi để được ở chùa tu. Lần thứ ba là lúc Thị Mầu đem đến giao đứa bé. Tuy không phải con mình, nhưng nếu không bồng đứa bé vào nuôi thì nó chết. Biết rằng bồng vào nuôi là nhục nhã, nhưng bà vẫn làm vì cứu mạng người. Nhẫn nhục hành lòng từ bi, đó là trọng tâm của đạo Phật. Người làm được như vậy, việc tu hành nhất định sẽ thành công, chứng quả thành Phật không nghi.
Nhằm để tất cả quý vị nhận định kỹ càng về ý nghĩa của câu chuyện này, tôi nói xa hơn một chút. Hôm nọ có một vị hỏi: “Trong kinh có nói về Bồ-tát Quán Thế Âm, nhưng sao ở Ấn Độ thờ Bồ-tát là hình tượng người nam, còn ở Việt Nam thì thờ Bồ-tát với hiện thân là người nữ?” Đây là điều mà rất nhiều người thắc mắc, chứ không phải chỉ riêng một vị này.
Quý vị có nhớ phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, nói hạnh của Bồ-tát Quán Thế Âm như thế nào không? Trong kinh nói, nếu người nào cần thân Sa-môn độ thì hiện thân Sa-môn để độ, cần hiện thân người nữ độ thì hiện thân người nữ để độ, cần hiện thân người nam độ thì hiện thân người nam để độ, cần hiện thân tể quan độ thì hiện thân tể quan để độ v.v… Quý vị thấy, trong kinh nói như thế là có cố định Bồ-tát Quán Thế Âm mang thân gì không? Không cố định là nam hay nữ, nhưng sao ở Việt Nam chúng ta lại thờ Bồ-tát Quán Thế Âm với thân người nữ?
Việt Nam mượn hình tượng Bồ-tát Quán Thế Âm qua thân người nữ, nhằm nói lên những đức tính cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Một là hiếu kính với cha mẹ của mình, lẫn cha mẹ bên chồng. Hai là có lòng nhân từ biết thương con cái và thương mọi người. Bằng lối kể của truyện cổ tích, tổ tiên chúng ta từ xưa đã xây dựng lên những hình ảnh đẹp, để chỉ dạy con cháu cho tới ngày nay. Tinh thần từ bi và nhẫn nhục đó, được chứa đựng đầy đủ trong đức tính của bà mẹ Việt Nam. Hiếu kính, nhân ái, nhẫn nhục và từ bi. Như vậy, thờ hình tượng Bồ-tát mang thân nữ đó là thể hiện sự quý trọng rất đặc biệt của người dân Việt Nam.
II- Hồn dân tộc trong nghệ thuật Phật giáo
Đến đây tôi nói qua đôi nét về kiến trúc và điêu khắc các hình tượng được thờ trong chùa, cho thấy nghệ nhân Việt Nam có cái nhìn đặc biệt chứ không phải tầm thường. Như trong điêu khắc hình tượng, ai cũng biết đức Phật Thích-ca là người Ấn Độ, nhưng nếu quý vị để ý sẽ thấy, tượng Phật được thờ ở chùa đa phần đều là người Việt Nam. Xưa khi tôi mới vào chùa thường đặt vấn đề, phải chăng các nghệ nhân điêu khắc sai, hay họ không biết đức Phật gốc người Ấn Độ, sao tạc tượng hình người Việt Nam?
Trước kia nếu có vị nào đi qua Nhật Bản thì thấy tượng Phật thấp, vì người Nhật ngày xưa thấp, bây giờ thì họ đã cao rồi. Còn như ở Việt Nam chúng ta, quý vị vào chùa Tây Phương nhìn tượng các vị tổ thờ ở phía sau được tạc bằng gỗ rất sắc sảo, hoàn toàn mang nét Việt Nam, mà là người miền Bắc Việt Nam chứ không phải ở các nơi khác. Phật là người Ấn Độ mà sang Việt Nam thì thành người Việt Nam, sang Trung Quốc thành người Trung Quốc, sang Nhật Bản thành người Nhật Bản. Tại sao lại tạc như vậy, điều này có kỳ lạ không?
Trong đạo Phật có chia ra hai hệ là Nam tông và Bắc tông. Nam tông là hệ Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang phương Nam. Bắc tông là hệ Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang phương Bắc như: Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam… Do vì Nam tông chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, nên tạc tượng Phật giống hệt người Ân. Bắc tông nhìn đức Phật khác hơn Nam tông, như hệ Bắc tông ở Việt Nam thì chịu ảnh hưởng của Thiền tông, với ý nghĩa “tức tâm tức Phật”. Tâm mình là Phật và tâm Phật này ai cũng có, vì thế nếu chúng ta khéo tu thì đều thành Phật như nhau.
Quan niệm của Bắc tông nhìn Phật là giác, người nào giác ngộ thì người đó được gọi là Phật. Giác lại có chia ra hai phần: Toàn giác và Phần giác. Toàn giác là giác ngộ hoàn toàn, còn Phần giác là giác ngộ từng phần. Giác từng phần thì gọi Bồ-tát, giác hoàn toàn thì gọi là Phật. Chỗ này tôi tạm thí dụ cho quý vị dễ hiểu. Như các sinh viên đang theo học ở đây, mai kia thi đậu được cấp bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ hay phó tiến sĩ. Thử hỏi, những bằng cấp đó là từ đâu mà được? Đương nhiên là tùy theo sự học hỏi và trí tuệ của mỗi người, ngang bậc nào thì được cấp bằng của bậc nấy. Bằng cấp đó tương xứng với khả năng cùng trí tuệ học hỏi của mỗi người. Cử nhân, thạc sĩ, phó tiến sĩ, tiến sĩ khác nhau là ở trí tuệ, do trí tuệ có khác nên cấp bằng có khác.
Cũng vậy, gọi Phật hay Bồ-tát có khác là vì tùy vào sự giác ngộ và trí tuệ, chứ không phải căn cứ trên hình thức thông thường. Phật và Bồ-tát đều lấy giác làm gốc, thế thì cái giác đó ở đâu? Ở ngay trong tâm chúng ta. Từ tâm phát ra trí tuệ, cũng từ tâm mà có giác ngộ. Đức Thích-ca là người Ấn Độ tu hành giác ngộ, chúng ta là người Việt Nam nếu khéo tu hành cũng được giác ngộ. Ấn Độ hay Việt Nam đều có khả năng giác ngộ thành Phật như nhau. Người ở Ấn Độ giác ngộ được gọi là Phật thì người Việt Nam giác ngộ cũng được gọi là Phật không khác, vậy thì tại sao chúng ta phải tạc hình người Ấn mà không tạc hình người Việt?
Người Việt Nam cũng có khả năng giác ngộ, đâu cần phải lệ thuộc bên ngoài. Không phải người Ấn Độ đem giác ngộ đến trao cho chúng ta, mà chính chúng ta đã có sẵn tâm giác đó. Chỉ cần khéo tu theo đường lối đức Phật chỉ dạy thì mình cũng sẽ giác ngộ như Phật. Thế nên đạo Phật lấy giác ngộ làm trọng tâm trong việc tu hành, còn hình tượng Phật hay Bồ-tát thì tùy theo địa phương mà có khác biệt. Những pho tượng Bồ-tát thờ trong chùa Tây Phương, đã cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa này.
Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa không chịu lệ thuộc, từ tôn giáo cho tới xã hội bên ngoài cũng đều như thế. Chúng tôi thường hay nói, người Việt Nam tu theo đạo Phật là Việt Nam hóa đạo Phật, chứ không phải đạo Phật hóa Việt Nam. Tại sao? Bởi vì trong kinh Phật thường dạy, pháp của Phật giống như những phương thuốc trị bệnh, nếu biết bệnh rõ ràng và biết uống thuốc đúng liều lượng thì kết quả tốt.
Chúng ta không nên lệ thuộc nơi hình tướng bên ngoài. Thí dụ người bị bệnh cần uống thuốc tây, chẳng lẽ trước khi uống bảo họ phải kéo lỗ mũi cao, tô mặt trắng cho giống người Tây thì uống thuốc tây mới có hiệu nghiệm. Chỉ cần biết đúng bệnh, dùng đúng thuốc thì điều trị có kết quả, chứ đâu cần phải làm bộ mặt cho giống người Tây. Giáo lý của Phật đến đất nước Việt Nam thì người Việt Nam phải sử dụng được nền văn hóa hay đẹp đó, tại sao chúng ta lại cứ lệ thuộc vào hình thức Ấn Độ. Nếu thấy theo cái bên ngoài tức là chúng ta bị nô lệ hóa, đánh mất tinh thần tự chủ của chính mình.
Đề tài văn hóa trong Phật giáo Việt Nam còn rất nhiều điều để nói, nhưng vì thời gian có hạn nên chúng tôi không thể trình bày hết được. Thiết nghĩ người học Phật hay những nhà nghiên cứu về đạo Phật, cần phải thấy rõ tinh thần này để chúng ta không nhận định sai lầm. Nếu chúng ta không nghiên cứu tường tận, sẽ khiến người cười chê dân Việt Nam mà không hiểu văn hóa Việt Nam.