(Giảng tại Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam ngày 06-04-1996)
Thưa các Giáo sư cùng tất cả quý vị có mặt hôm nay. Thể theo lời mời của Hội, chúng tôi đến đây gọi là góp chút ý kiến theo nhận định riêng của mình, để chúng ta có thể cùng nhau trao đổi nhiều hơn. Buổi nói chuyện này có đề tài là Những đặc điểm của Phật giáo Việt Nam hay Thiền tông Việt Nam. Theo quan điểm của chúng tôi, nói đến Phật giáo Việt Nam tức là nói đến thiền tông Việt Nam. Bởi vì không thể tách rời thiền tông Việt Nam mà có Phật giáo Việt Nam. Chúng ta là những người nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam, tất nhiên mọi người đều thấy rõ nét chính yếu đó.
Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam có hai phần: đặc điểm chung và đặc điểm riêng. Về phần đặc điểm chung, tạm nêu ra có hai:
1- Thiền tông đóng vai trò chủ đạo truyền bá Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIX
Mặc dù Phật giáo được truyền sang Việt Nam chính xác khi nào không rõ, chỉ có thể dựa trên những bản văn kinh đã được phiên dịch mà chúng ta biết được các vị thiền sư đã có mặt từ thế kỷ thứ III. Nhưng phải đến thế kỷ thứ VI về sau, khi có mặt hai dòng thiền là Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông, rồi tới đời Lý có thêm dòng thiền Thảo Đường thì Phật giáo mới thực sự thịnh hành. Trong thời gian đất nước chuẩn bị độc lập và hoàn toàn độc lập, song song đó Phật giáo phát triển rất mạnh mà ba dòng thiền này là truyền bá chủ yếu và đắc lực nhất. Điều đó cho thấy trong giai đoạn ấy, Phật giáo Việt Nam hoàn toàn chịu ảnh hưởng bởi sự giáo hóa của các thiền sư. Nếu chúng ta có đọc qua Thiền Uyển Tập Anh thì thấy rất rõ ràng.
Từ đời Lý đến đời Trần, Phật giáo Việt Nam dường như đã thành một giáo hội hẳn hoi, mà trong đó những vị thiền sư là người đứng ra lãnh đạo Phật giáo. Vào cuối đời Trần sang đời Lê, do thế lực của các nhà nho lấn át, họ không chấp nhận cũng không đồng tình với Phật giáo, nên Phật giáo bị lu mờ và suy vi. Tuy nhiên, suy là về mặt lãnh đạo chứ về sự tu hành và truyền bá thì không ảnh hưởng gì. Những tăng sĩ Phật giáo lẫn trong thôn quê, lui về tu hành với cuộc sống của người dân.
Trong thời đó chúng ta không thấy những thiền sư nổi bật nhiều, nhưng cũng có thể điểm qua một ít vị, như: Vào đời Lê Hy Tông có thiền sư Tông Diễn, thiền sư Chân Nguyên… Đến cuối đời Lê, nhất là thời Trịnh
Nguyễn phân tranh, Phật giáo Việt Nam nói chung, hệ thống thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng đã lu mờ dần, tuy nhiên vẫn có các vị thiền sư truyền bá thiền tông. Ở miền Bắc (Đàng Ngoài) thì có hòa thượng Chuyết Chuyết là người Hoa, truyền tông Lâm Tế; hòa thượng Thủy Nguyệt là người Việt, sang Trung Hoa học thiền với thiền sư Nhất Cú Tri Giáo ở Hồ Châu, trở về truyền thiền theo tông Tào Động. Ở miền Nam (Đàng Trong) thì có thiền sư Thạch Liêm từ Trung Hoa sang truyền tông Tào Động, thiền sư Nguyên Thiều Tử Dung truyền tông Lâm Tế.
Tóm lại, sau đời Trần thì Phật giáo bị suy yếu. Sang đời Lê, Phật giáo sống thầm lặng ở thôn quê. Cuối đời Lê, bắt đầu thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Phật giáo lại thịnh hành ở triều đình miền Bắc và Phú Xuân miền Nam. Như vậy chúng ta thấy từ khởi đầu, tức trước thế kỷ thứ X, Phật giáo Việt Nam do Thiền tông lãnh đạo truyền bá khắp hết. Cho tới sau này, vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Phật giáo Việt Nam cũng được các thiền sư lãnh đạo và truyền bá ở cả hai miền.
Xem như ngót tám thế kỷ, ở đất nước Việt Nam chúng ta Phật giáo là Thiền tông, hay nói ngược lại Thiền tông là Phật giáo. Tới thời đại chúng ta, cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX thì Thiền tông bị lu mờ, còn Tịnh độ tông lại rực sáng. Có thể nói, từ chùa chiền cho đến Phật tử đa phần đều tu niệm Phật, cầu vãng sanh Cực lạc. Bấy nhiêu đó đủ biết, trong khoảng thời gian rất dài trước kia Phật giáo Việt Nam là do Thiền tông nắm vai trò chủ đạo, còn thời gian ngắn sau này thì Tịnh độ tông thay thế.
Tuy nhiên, mặc dù nói Tịnh độ tông nhưng thật sự thì Thiền tông cũng ngầm trong đó. Tại sao tôi nói như thế? Bởi vì chư tổ được thờ ở các ngôi chùa cổ Việt Nam, từ miền Bắc cho tới miền Trung và miền Nam, đều là những vị thiền sư. Chư vị hòa thượng sau này tu niệm Phật, nhưng đến lúc viên tịch thì trên bài vị đều ghi là “từ Lâm Tế…, từ Tào Động”, tức là nối dòng Lâm Tế, nối dòng Tào Động. Điều này rõ ràng cho thấy, tuy hiện đời các ngài tu theo Tịnh độ, mà tinh thần truyền thống vẫn là Thiền tông. Đó là đặc điểm khác biệt của Phật giáo Việt Nam so với các nước.
Ở Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ VIII thứ IX, Thiền tông chỉ là một trong mười tông phái của Phật giáo; như Hoa Nghiêm tông, Tam luận tông, Duy thức tông, Tịnh độ tông v.v… Ở Nhật Bản thì thấy có Thiền tông, Tịnh độ tông, Chân ngôn tông và Nhật Liên tông. Riêng tại Việt Nam, trước kia duy nhất chỉ có Thiền tông chứ không có các tông khác, gần đây mới có Tịnh độ tông. Như vậy, kể từ ngày Phật giáo có mặt và phát triển trên đất nước Việt Nam, mặc dù Thiền tông tuy có khi sáng tỏ có lúc lu mờ, nhưng vẫn luôn đóng vai trò chủ đạo trong sự truyền bá.
Điều đặc biệt này chính do ảnh hưởng của tinh thần dân tộc, trong bối cảnh của xã hội đương thời. Bởi trước thời Đinh Lê nước nhà chưa độc lập, sự truyền bá của Phật giáo chưa có truyền thống rõ ràng, nhưng sau khi nước nhà độc lập thì Thiền tông thịnh hành. Đến cuối thế kỷ XIX, bước vào thời Pháp thuộc rồi tiếp theo sau là chiến tranh liên miên, Thiền tông xuống dốc nhường chỗ lại cho Tịnh độ tông. Hiện nay đất nước hòa bình, tinh thần tự chủ của người dân cao, vì thế gần đây chúng tôi cố gắng khơi lên khôi phục Thiền tông Việt Nam.
Tại sao sự thịnh suy của Phật giáo nói chung, hay Thiền tông nói riêng, có ảnh hưởng đến tinh thần dân tộc và gắn liền với bối cảnh xã hội đương thời? Bởi vào thời kỳ đất nước độc lập đầy đủ chủ quyền thì người dân vững niềm tin, vì biết chắc chắn việc xây dựng quê hương xứ sở tốt đẹp, mọi người đều có khả năng làm được. Điều này phù hợp với tinh thần “tức tâm tức Phật” của Thiền tông, Phật ở ngay mình đừng tìm kiếm đâu xa. Nhưng vào thời Pháp thuộc, tức lúc đất nước bị bên ngoài cai trị thì con người quay sang hướng ngoại. Sự lệ thuộc vào chế độ bị trị khiến cho lòng tin vào chính mình của người dân mất dần, không còn tự tín nữa. Mất lòng tự tín thì mọi việc đều trông cậy vào bên ngoài, con người hướng đến sự mong cầu bình an từ Phật và Bồ-tát là lẽ đương nhiên. Thế nên pháp tu niệm Phật cầu tha lực của Tịnh độ tông là thích hợp và được phát triển thịnh hành, còn pháp tu tự lực của Thiền tông dần biến mất.
Tại sao vào cuối thế kỷ XX chúng tôi lại đề xướng khôi phục Thiền tông Việt Nam? Bởi xét về mặt khế thời thì đất nước Việt Nam bây giờ đã độc lập, lòng tự tín của người dân đang được hồi sinh. Chúng ta tin vào chủ quyền của dân tộc thì chúng ta cũng có quyền tin ngay tâm mình là Phật. Nếu dẹp bỏ phiền não thì giải thoát, không ai bên ngoài có thể mang lại bình an cho mình. Như vậy, chủ trương khôi phục Thiền tông là phù hợp hoàn cảnh, thích nghi với thời đại một cách rõ ràng. Đó là chỗ nhắm của chúng tôi, mà cũng là đặc điểm chung của Phật giáo Việt Nam.
2- Thiền phái Trúc Lâm, điểm son của Phật giáo Việt Nam
Điểm nổi bật của Phật giáo Việt Nam là sự dung hợp giữa ba dòng thiền: Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường thành thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Phật giáo Việt Nam trước kia chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tông phái Phật giáo bên ngoài, do các vị thiền sư người ngoại quốc đến truyền bá. Như tông Lâm Tế thì ở trong Nam có thiền sư Nguyên Thiều, Thạch Liêm; miền Bắc thì có thiền sư Chuyết Chuyết đều là người Trung Hoa. Đến thời nhà Trần ở Việt Nam, mới có vua Trần Nhân Tông (1258-1308) xuất gia tu hành ngộ được lý thiền, lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu-đà. Ngài không chấp nhận rập theo lối cũ, nên lập ra một hệ thống riêng hoàn toàn mang tính dân tộc, đó là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và ngài trở thành Sơ tổ của phái thiền này. Kế tiếp tổ thứ hai là thiền sư Pháp Loa, tổ thứ ba là thiền sư Huyền Quang và còn nhiều vị thiền sư khác nữa, nhưng do các ngài ẩn tu mà chúng ta chưa tìm ra di tích, nên trên lịch sử cũng không đủ tài liệu để ghi chép. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là dòng thiền mang đầy đủ bản sắc Việt Nam, tự làm chủ lấy vận mệnh của mình và vận mệnh ấy gắn liền với đất nước, với dân tộc. Thế nên có thể nói, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử chính là Thiền tông Việt Nam, mà Thiền tông Việt Nam cũng chính là Phật giáo Việt Nam. Bởi qua hệ thống thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, Phật giáo Việt Nam bắt đầu lập thành một giáo hội hẳn hoi, có sổ bộ tăng ni, có thi cử thọ giới rõ ràng. Đây cũng là tiền đề cho Phật giáo Việt Nam về sau.
Tôi nêu lên những điểm trên để quý vị cùng thấy rõ, người Việt Nam dù theo đạo Phật hay theo bất cứ tôn giáo nào khác, cũng luôn giữ lấy phần chủ động chứ không chịu lệ thuộc bên ngoài. Tinh thần đặc biệt này được thể hiện rõ nét qua chư tổ của thiền phái Trúc Lâm, mà trên lịch sử còn ghi đủ ba vị là Sơ tổ Trúc Lâm Đại Đầu-đà, Nhị tổ Pháp Loa, Tam tổ Huyền Quang; còn nhiều vị nữa nhưng vì các ngài ẩn tích nên chúng ta chưa tìm ra tư liệu. Do đó chúng tôi dám nói thẳng, Thiền tông Việt Nam tức là thiền Trúc Lâm Yên Tử, điều này tôi sẽ nói ở bài khác.
Đặc điểm riêng của Phật giáo Việt Nam, hay của Thiền tông Việt Nam có những nét nổi bật sau:
– Đặc điểm thứ nhất:
Đạo Phật truyền bá sang Việt Nam trải qua bao thế kỷ, song chỉ mang tính cách truyền thừa riêng lẻ. Đến đời Trần, khi thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được thành lập, mới thống nhất lại thành một khối Phật giáo Việt Nam. Điều đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam mà chúng ta hãnh diện, đó là một ông vua đi tu. Xưa kia ở Ấn Độ có một ông hoàng dẹp bỏ tất cả thú vui thế gian, vượt ngoài phàm tình tìm đường giải thoát, giác ngộ thành Phật hiệu là Thích-ca-mâu-ni. Nay đây, ngay đất nước Việt Nam chúng ta, cũng có một ông vua xem thường ngai vàng, từ bỏ danh lợi quyền vị thế gian, hướng đến Phật pháp cao siêu, xuất gia tu hành đắc đạo lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu-đà.
Vào thời kỳ Phật giáo suy đồi, phần đông người vào chùa tu được gọi là kẻ ẩn dương nương Phật. Đi tu là do thất tình, gặp hoàn cảnh khổ đau, chiến tranh, bệnh hoạn, già yếu hoặc bị người khinh miệt, do đó Phật giáo bị người xem thường. Phật giáo đời Trần thì khác hẳn, nhà vua đang ở ngôi vị quyền thế tột bậc, giàu sang sung sướng, đầy đủ ngũ dục, vậy mà buông bỏ tất cả quyết tâm tu Phật. Điều này cho thấy giá trị của đạo Phật rất cao siêu và tôn quý, không tầm thường như người đời thường nghĩ.
– Đặc điểm thứ hai:
Phật giáo Việt Nam, nhất là Phật giáo đời Trần, luôn lấy sự giác ngộ làm trọng tâm tu hành chứ không nặng về hình thức. Tuệ Trung thượng sĩ mặc dù là cư sĩ có vợ con nhưng vẫn tu hành giác ngộ, được tăng tục tôn trọng xem như bậc thầy, thường xuyên đến hỏi đạo. Điều này Trung Hoa và Nhật Bản đều không có. Ở Trung Hoa cũng có cư sĩ ngộ đạo là Bàng Uẩn, nhưng ông chỉ giáo hóa trong phạm vi gia đình của mình mà thôi.
Phật giáo Việt Nam không chú trọng vào hình tướng xuất gia hay tại gia, mà chỉ lấy giác ngộ làm chính. Bởi trọng tâm của đạo Phật là giác ngộ. Danh từ Phật là chỉ cho người đã giác ngộ, như thái tử Tất-đạt-đa ngồi thiền dưới cội Bồ-đề mà được giác ngộ, tự xưng là Phật. Đạo Phật là đạo giác ngộ, cho nên nói tới đạo Phật là nói tới giác ngộ, chứ không nhằm những hình thức riêng lẻ khác. Do đạo Phật lấy giác ngộ làm trên, nên dù xuất gia hay tại gia, nếu đã tu tập giác ngộ thì đều là người xứng đáng làm thầy truyền bá giáo pháp. Giả sử mang hình thức xuất gia mà không giác ngộ, tuy có đủ tư cách ra hoằng hóa nhưng chưa chắc xiển dương đúng theo tinh thần Phật dạy. Điều này chỉ thấy có ở Phật giáo Việt Nam, còn các nơi khác thì chưa làm được.
– Đặc điểm thứ ba:
Chủ yếu tu theo đạo Phật là được giải thoát, chứ không nặng về hình thức giới luật bên ngoài; nghĩa là giải thoát ở ngay nội tâm của chính mình. Như khi vua Trần Nhân Tông còn làm thái tử, tới hỏi Tuệ Trung thượng sĩ về việc ăn chay và trì giới nhẫn nhục. Ngài trả lời bằng bài kệ:
Trì giới kiêm nhẫn nhục,
Chiêu tội bất chiêu phúc.
Dục tri vô tội phúc,
Phi trì giới nhẫn nhục.
Như nhân thướng thọ thời,
An trung tự cầu nguy.
Như nhân bất thướng thọ,
Phong nguyệt hà sở vi.
Trì giới và nhẫn nhục,
Chuốc tội chẳng chuốc phúc.
Muốn biết không tội phúc,
Không trì giới, nhẫn nhục.
Như người leo lên cây,
Đang yên lại tìm nguy.
Nếu người không leo cây,
Trăng gió làm gì được?
Qua bài kệ chúng ta thấy dường như Tuệ Trung thượng sĩ phủ nhận lối tu trì giới và nhẫn nhục.
Có nhiều vị nói rằng, vì ngài phá chấp nên không cho việc trì giới nhẫn nhục là quan trọng. Nhưng theo cái nhìn của riêng tôi thì khác. Thử hỏi, tại sao Phật dạy Phật tử phải tu trì giới, hành nhẫn nhục? Bởi vì Phật tử còn nóng giận, tham lam quá. Muốn hạn chế nóng giận thì chúng ta phải buông xả, khi có những điều trái ý không vui đừng để cho nó có dịp phát tác tạo thành tội lỗi, đó là nhẫn nhục. Như vậy nhẫn nhục là do có nóng giận, nếu với người hết nóng giận rồi thì nhẫn nhục cũng thành vô nghĩa.
Trì giới cũng vậy, Phật dạy Phật tử tại gia phải giữ gìn năm giới cấm, đó là nói cho những kẻ có khả năng phạm giới, còn với người không phạm thì đâu cần bảo trì giới làm gì. Thí dụ người không bao giờ uống rượu, chúng ta đâu cần kêu họ phải giữ giới không uống rượu, vì đã không uống thì nói gì là phạm. Thế nên những bậc đã thanh tịnh, tuy không nói trì giới mà tự đã trì giới. Còn người ghiền rượu trở thành bệnh hoạn, gây ra tai họa cho mình và cho người thì đương nhiên phải bảo họ giữ giới để hạn chế; chẳng những không cho rượu làm chủ mình mà phải làm chủ ngược lại nó. Đó là nói về giữ giới không uống rượu, các giới khác cũng như vậy.
Tinh thần giữ giới của nhà thiền nghiêng hẳn vào bên trong, tức là giữ gìn tâm ý không để những niệm loạn tưởng mê lầm dấy khởi. Bởi do loạn tưởng mê lầm dấy lên không làm chủ được nên mới tạo tội, một khi đã làm chủ được nội tâm rồi thì giới tướng bên ngoài tự nhiên thành tựu. Như vậy giữ giới bên trong là gốc, giữ giới bên ngoài là ngọn. Gốc vững thì ngọn chắc, nếu nội tâm yên lặng thì không giới nào phải giữ. Do đó Tuệ Trung thượng sĩ nói: Dục tri vô tội phúc, phi trì giới nhẫn nhục. Muốn biết không tội phúc, chẳng trì giới nhẫn nhục. Đến chỗ vượt ngoài tội phúc thì không cần nói đến trì giới nhẫn nhục nữa, vì có phạm đâu mà cần trì, có sân hận gì mà phải nhẫn.
Như nhân thưởng thọ thời, an trung tự cầu nguy. Như người leo lên cây, đang yên lại tìm nguy. Đang đứng dưới gốc cây an ổn, bỗng dưng trèo lên cây rồi lo gió gãy cành, sợ té ngã nguy hiểm. Như nhân bất thướng thọ, phong nguyệt hà sở vi. Nếu người không leo cây, trăng gió có làm gì? Đang yên ổn không chịu, trèo lên cây rồi lo sợ ân hận, nghĩ rằng phải chi mình ngồi dưới đất cho thảnh thơi. Ở dưới đất đâu gì phải lo sợ, thong thả tự tại, gió trăng làm gì được mình. Cũng vậy, khi tâm chúng ta thanh tịnh đâu có chuyện gì phải kìm giữ, để khi nó bồng bột phát khởi lên rồi mới kìm giữ thì đã muộn rồi. Tinh thần của Thiền tông Việt Nam là như thế, Tuệ Trung thượng sĩ không phủ nhận việc trì giới nhẫn nhục, mà ngài chỉ ra cho thấy phải giữ từ trong tâm mình. Lúc niệm tưởng vừa dấy động cần làm chủ ngay, đừng để phát ra thân khẩu thành nghiệp. Giữ giới từ trong tâm tức là ngăn chặn càng sớm càng tốt, đợi hành động nói năng rồi mới hối hận là quá muộn màng.
– Đặc điểm thứ tư:
Phật giáo Việt Nam đề cao tinh thần tu trong bận rộn, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng vẫn tu được. Chúng ta ngày nay thường than phải gánh vác nhiều trách nhiệm với xã hội, Phật sự rộn ràng quá không có thời giờ tu. Do đó chuyện tu tạm gác lại, đợi lo việc xong rồi tu mới được. Nếu đợi xong việc rồi tu thì chừng nào mới xong việc, mạng sống vô thường liệu mình có còn thời giờ để tu cho kịp không?
Nhìn lại Phật giáo thời Trần, nếu ai đã đọc lời tựa Thiền Tông Chỉ Nam sẽ thấy rất rõ. Trần Thái Tông (1218-1277) là một ông vua cư sĩ, đang ở ngai vàng trị vì muôn dân mà vẫn lo tu. Một hôm xem kinh Kim Cang, đọc tới lui đôi ba phen đến đoạn “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền bừng ngộ. Những lúc rỗi rảnh việc triều chính, có chút thời gian là nhà vua đọc kinh, nghiên cứu giáo lý, viết lời tựa kinh sách nói về đạo Phật, lập ra khoa nghi lễ bái sám hối v.v… Làm vua mà tu giác ngộ, tuy bận rộn lắm việc vẫn ôn tầm nghiên cứu kinh điển, như vậy đâu phải chịu nhiều trách nhiệm là không tu được. So với nhà vua thì chúng ta chỉ là dân thường, thử hỏi vua và mình ai bận hơn ai? Chắc chắn chúng ta không bì nổi rồi. Vậy mà mình bận rộn không tu được, thật đáng hổ thẹn!
Kế tiếp là vua Trần Thánh Tông (1240-1290) cũng là một cư sĩ. Đương thời là một ông vua nhân đức mà anh hùng, vừa phải lo chống lại ngoại xâm giữ gìn độc lập cho đất nước, vừa lo cho dân chúng sống ấm êm. Vậy mà nhà vua vẫn có thời giờ để tu tập và bừng ngộ khi đọc ngữ lục của thiền sư Đại Huệ ở Trung Hoa. Trong phần đối đáp với Tuệ Trung thượng sĩ, nhà vua diễn tả đạo lý qua cái nhìn giác ngộ của mình.
Đả ngoã toản quy tam thập niên,
Kỷ hồi hãn xuất vị tham thiền,
Nhất triêu thức phá nương sanh diện,
Tỹ khổng nguyên lai một bán biên.
Nhãn tiền vô sắc nhĩ vô thanh,
Nhất phiến tâm đầu tự đả thành,
Thanh sắc bất can thần thiệt ngoại,
Nhậm tha bác báo dữ đô định.
Đập ngói xoi rùa ba chục niên,
Mấy phen xuất hạn bởi tham thiền,
Một mai thấu vỡ gương mặt thật,
Lỗ mũi xưa nay mất một bên.
Nơi tai không tiếng, mắt không hình,
Một mảnh tâm này sẵn tự thành,
Chẳng can thanh sắc ngoài môi lưỡi,
Mặc người “bác báo” với “đô định”.
Do thời gian không đủ để giải thích hết bài kệ, nên tôi chỉ trích dẫn hai câu để thấy được chỗ thật chứng của nhà vua.
Nhất triêu thức phá nương sanh diện, tỹ khổng nguyên lai một bán biên. Một mai thấu vỡ gương mặt thật, lỗ mũi xưa nay mất một bên. Nhà vua nói nghe lạ lùng khó hiểu quá! Tôi tạm giải thích để mọi người có thể hiểu. Nương sanh diện là gương mặt mẹ sanh, cũng tương tự Bản lai diện mục là mặt thật xưa nay. Đây là thuật ngữ mà các thiền sư hay dùng. Tỹ khổng, chỉ cho lỗ mũi của chính mình. Lỗ mũi là nguồn sống của mỗi người, xưa nay vốn sẵn có ở ngay trên mặt mà không thấy, nên nói mất hết một bên. Bây giờ rõ được gương mặt mẹ sanh, mới nhận thấy được trọn vẹn lỗ mũi của chính mình.
Khi vua sắp tịch Tuệ Trung thượng sĩ gửi thư thăm hỏi, nhà vua trả lời ngắn gọn nhưng đầy đủ ý thiền:
Viêm viêm thử khí hãn thông thân,
Hà tằng hoán đắc nương sanh khố.
Hơi nóng hừng hực mồ hôi đẫm,
Chiếc khố mẹ sanh vẫn ráo khô.
Giây phút gần tắt thở, thân tứ đại tan rã đau nhức, hơi nóng xông lên hừng hực, mồ hôi ướt đẫm nhưng chiếc khố mẹ sanh vẫn khô ráo, tức là chân tâm tỉnh lặng vẫn hằng sáng không bị chi phối. Tuy không để lại nhiều tác phẩm như vua Trần Thái Tông, nhưng bấy nhiêu đó cũng đủ thấy được sự tu hành và tỏ ngộ của nhà vua.
Vị thứ ba là vua Trần Nhân Tông, sau trở thành Sơ tổ thiền phái Trúc Lâm. Lúc chưa đi tu, ngài hỏi Tuệ Trung thượng sĩ về chỉ yếu thiền tông, Thượng Sĩ đáp: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc.” Đây là câu nói đặc biệt của thiền tông Việt Nam. Phản quan là xoay ngược lại chính mình. Tại sao phải xoay lại việc bổn phận của mình? Nhiều người đến Thiền viện thấy tăng ni dù bao nhiêu công việc đa đoan, mà mỗi ngày đều phải tọa thiền thì thường thắc mắc, sao không đi từ thiện hoặc làm việc gì lợi dân ích nước mà cứ ngồi lim dim như thế mất thời giờ, vậy có tiêu cực không? Điều này không chỉ người đời, kể cả Phật tử cũng không hiểu nổi. Qua câu đáp của Tuệ Trung thượng sĩ với vua Trần Nhân Tông, giúp chúng ta thấy được đường lối tu hành của Phật giáo Việt Nam hết sức rõ ràng. Chủ yếu của đạo Phật là nhằm giải quyết những vấn đề then chốt của con người, cho nên có thể nói đạo Phật là đạo tìm lại chính mình, xưa kia thái tử Tất-đạt-đa đi tu cũng vì lẽ đó. Ngài thiền định dưới cội Bồ-đề không phải để làm điều gì khác lạ, mà chính là phản quan tự kỷ, xoay lại việc của chính mình. Ở Việt Nam, chúng ta lâu nay nghe nói tu thiền, mà không biết tu thiền là tu thế nào? Có lắm vị bày ra nhiều cách tu như: tu thiền chuyển luân xa, thiền xuất hồn, hoặc mở thông các khiếu huyệt v.v…
Chỗ này tôi nói xa hơn một chút, để cho các vị dễ hiểu. Hiện nay chúng ta đang sống là thời đại của khoa học, mà mục đích của khoa học tiến bộ là gì? Đó là đáp ứng cho cuộc sống của con người. Các nhà khoa học thám hiểm khám phá vũ trụ, chinh phục thiên nhiên, nghiên cứu phát minh ngoại vật v.v… Tất cả đều nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho con người được tiện nghi trong sinh hoạt. Khoa học hướng ra ngoài, còn đạo Phật thì khám phá bên trong. Xoay lại soi sáng điều phục nội tâm, biết rõ chính mình. Việc làm này hoàn toàn trái ngược người đời, nhưng khám phá chính mình là điều tối hệ trọng, vô cùng thiết yếu.
Nếu chúng ta chỉ biết các thứ bên ngoài mà không biết mình thì có sai lầm không? Việc gì chúng ta cũng rành, chuyện xứ nào mình cũng biết, nhưng thử hỏi mình là cái gì không một ai biết cả. Tại sao chúng ta cứ phải suốt đời lo ăn mặc nghỉ ngơi, tìm kiếm tiện nghi sung túc, để rốt cuộc thân này cũng vẫn bị già bệnh chết chi phối tan hoại? Có ai tìm được câu trả lời chưa, khẳng định thông suốt mình là cái gì chưa? Rất khó!
Chúng ta luôn nói thân này là tôi, của tôi, tôi đang hoạt động… Nhưng xét lại kỹ xem, sự thật thân này có phải của mình không? Theo trí tuệ Phật nhìn thấy và phân tích, thân này là do bốn thứ đất nước gió lửa hòa hợp mà thành, gọi là thân tứ đại. Tứ đại đó lại có hai phần, tứ đại bên trong và tứ đại bên ngoài. Tứ đại bên trong hội tụ tạo thành hình hài, nhưng muốn tồn tại phải nhờ tứ đại bên ngoài phụ giúp, trong ngoài hỗ tương nhau. Mỗi ngày lỗ mũi hít thở là vay mượn gió, hít vào là mượn không khí đem dưỡng chất vô, thở ra là đưa khí ô trược thải trả ra ngoài. Một tách nước, một bát cơm… mỗi mỗi các thứ đều là mượn trả. Như vậy, rõ ràng mạng sống được tồn tại là do vay mượn. Mượn trả đều đặn là sống, nếu trả mà không mượn lại thì chết. Mạng sống đã vay mượn thì thân tứ đại này có gì là thật, chỉ là thứ vay mượn tạm bợ không có chủ tể thì cái gì là mình?
Đó là nói về thân, còn về tâm thì thế nào? Đa số người đời cho rằng, những suy nghĩ do kiến thức học được là tâm mình. Nhưng theo đạo Phật, cái suy nghĩ đó chưa phải là mình. Tại sao? Bởi vì nếu cho suy nghĩ là tâm mình thì tính từ bé cho đến già, chúng ta đã suy nghĩ bao nhiêu thứ rồi? Suy nghĩ đủ thứ, không thể tính kể. Có khi suy nghĩ hiền thiện giống như thánh hiền, có khi suy nghĩ dữ ác giống như cọp sói… Thật vô lý nếu cho rằng muôn thứ suy nghĩ đó là mình. Cũng không thể nói lúc bé khác, trưởng thành khác, rồi già khác.
Thử tìm lại xem, suy nghĩ nào là ta, mình là một hay là nhiều? Những phút giây chúng ta ngồi nhìn trời mây, lòng yên tĩnh không suy nghĩ điều gì, lúc đó có mình hay không? Nếu không có mình thì ai đang biết ngắm trời mây, ai biết cảm hứng thoải mái. Lúc không suy nghĩ vẫn luôn có cái biết thường hằng, vậy thì cái suy nghĩ chợt có chợt không kia đâu phải là ta. Đây chính là điều lâu nay chúng ta trăn trở, cố tìm mà chưa thấy.
Pháp Phật dạy cho chúng ta tu, chính là quay tìm lại cái thật nơi mình. Tìm ra được cái thật đó gọi là ngộ đạo. Ngộ đạo là nhận ra tánh giác, hay thấy được bản lai diện mục, tức là rõ biết tường tận mặt thật xưa nay của mình. Đây là vấn đề tối quan trọng của kiếp người. Như vậy, việc ngồi thiền lim dim đó có phải là công phu vô ích, tiêu cực hay không? Dù cho có bao nhiêu tiền tài vật chất mà không biết ta là cái gì, cuộc sống này cũng trở thành vô nghĩa thôi. Vì vậy, cần soi sáng lại để tìm cho ra ta là cái gì? Muốn thế thì phải chặn sáu căn không cho đuổi theo sáu trần bên ngoài. Ngồi yên tĩnh lim dim ngó xuống là cách phản quan trở lại nơi mình, để tỏ thông lẽ thật, tạm gọi đó là thiền.
Một khi tìm ra con người chân thật nơi mình rồi, tự nhiên tình thương bao trùm hết muôn loại. Vì thấy mình và người bình đẳng, tất cả đều có cái chân thật không qua hiểu biết. Hiểu biết phân biệt thuộc về kiến thức, tức là những hiểu biết do học từ bên ngoài đem vào, do huân tập mà có. Bởi huân tập nên người biết nhiều, người hiểu ít, thành ra có sai biệt. Tánh giác xưa nay sẵn có không do huân tập mà thành, vì vậy giữa mỗi người bình đẳng như nhau. Như trong kinh Pháp Hoa, Bồ-tát Thường Bất Khinh gặp ai ngài cũng bái, nói: “Tôi không dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật.”
Đức Phật sau khi ngộ được tánh giác, ngài tuyên bố: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.”
Lời tuyên bố ấy cho thấy, cốt tủy của sự tu là phần tìm con người thật của chính mình. Nhận ra được rồi mới chỉ dạy, hướng dẫn cho mọi người cùng biết mà tìm. Như vậy, ngộ đạo hay giác ngộ chính là tìm lại tánh giác của mình, chứ không phải cầu mong ở bên ngoài. Nếu cứ cầu mong nơi khác, chờ đợi được ban ân giáng phúc nơi một đấng thiêng liêng nào đó thì không phải là đạo Phật.
Trọng tâm của đạo Phật là giác ngộ, mà cội gốc của đạo Phật chính là thiền định. Ngồi thiền là quán sát tìm lại chính mình, chứ không phải chuyện tầm thường. Tìm lại mình là việc làm tối quan trọng của đời người, một khi nhận rõ ràng rồi thì tự nhiên hết tranh luận, còn cứ sống bám theo vật chất chắc chắn không bao giờ dứt tính toán giành giật hơn thua.
Ở đời thua người thì tức, hơn người thì vui. Ít thì mong nhiều, được nhiều rồi lại cầu nhiều thêm, cứ thế không có ngày cùng. Người ngộ đạo thấy được lý thật rồi, liền phát khởi tâm từ bi. Đối với vật chất bên ngoài không xem trọng nữa, mà còn thông cảm chia sẻ ban vui cho người khác. Chúng ta bây giờ cũng gắng tập từ bi, thấy ai thiếu thốn đói khát thì mở lòng cứu giúp, nhưng nếu đem tiền của tới giúp đỡ mà người nhận không thèm cám ơn là cảm thấy bực tức không vui.
Bởi chúng ta làm phước mà còn mong cầu được đền trả, chứ không phải giúp một cách tự nhiên. Các vua Trần ngộ được lẽ thật rồi, nên xem ngai vàng như dép rách. Chúng ta đọc sử đời Trần không thấy việc tranh giành ngôi báu nhiều như đời Lê, nếu có chỉ một hai trường hợp lúc suy mạt do người ngoài gây ra thôi. Đó là tôi nói điểm đặc biệt của Phật giáo đời Trần.
– Đặc điểm thứ năm:
Phật giáo đời Trần cũng chủ trương Tam giáo đồng nguyên như Phật giáo đời Tống ở Trung Hoa, nhưng Tam giáo đồng nguyên của Trung Hoa là do các vị nho sĩ nổi tiếng chủ trương, khi họ nghiên cứu Phật giáo ngộ được lý thiền; còn ở Việt Nam là do tinh thần đoàn kết mà lập nên. Bởi Việt Nam thời ấy dân số rất ít, bị giặc Nguyên sang đàn áp liên miên. Nếu Phật, Khổng và Lão đứng riêng lẻ, tức là tinh thần của dân mình bị phân hóa, làm sao chống lại giặc ngoại xâm mạnh mẽ được. Do đó chủ trương đời Trần là Tam giáo đồng nguyên, đạo Phật, đạo Khổng hay đạo Lão đồng một nguồn, đều là anh em hết. Đây là nét riêng của Thiền tông đời Trần, mà cũng là điểm đặc biệt của Phật giáo Việt Nam.
– Đặc điểm thứ sáu:
Thiền tông đời Trần không khu biệt trong một lãnh vực, không mang tính cách riêng lẻ ở một số người nào mà đi sâu vào trong quần chúng. Khác hẳn Ấn Độ và Trung Hoa, chư vị tổ sư truyền y bát cho đệ tử xong rồi vào rừng núi ẩn tu. Ở Việt Nam, Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông sau khi tu hành ngộ đạo thì đi vào dân gian, tới đâu thấy dâm từ, là những ngôi miếu thờ thần không chánh đáng, ngài cho phá bỏ và nói cho họ hiểu Phật pháp để không còn mê tín nữa. Mặc dù lấy thiền tông làm nền tảng giác ngộ, nhưng các ngài vẫn dấn thân vào đời dạy dân chúng sinh hoạt trong nếp sống đạo đức, bằng cách hướng dẫn họ giữ Ngũ giới tu Thập thiện. Nếu người dân biết giữ giới làm lành thì đạo đức được tăng trưởng, xã hội tự nhiên tốt đẹp thịnh vượng.
Như vậy, ngoài việc truyền bá giáo lý Phật dạy, ngài còn giáo hóa chư tăng tu hành giải thoát, khích lệ muôn dân hiểu biết Phật pháp giữ gìn căn bản đạo đức. Tất cả việc làm này đều vì đem lại cuộc sống an lành cho dân chúng, ổn định đất nước vững mạnh. Bởi một đất nước mà người đứng đầu vừa là vua vừa là nhà sư, nên luôn luôn mong muốn xây dựng một xã hội hướng đến chân thiện mỹ.
Điều này rất đặc biệt. Nếu như trong một xóm làng mà mọi người cùng giữ năm giới thì cuộc sống bình an biết mấy, không còn phải sống hồi hộp lo lắng sợ hãi nữa. Bởi vì không ai dám giết người thì cũng đâu sợ ai hại mạng mình, không ai dám trộm cắp thì không lo bị móc túi giật đồ, không kẻ dám nói dối đâu sợ người lường gạt v.v… Bấy nhiêu đó thôi cũng đủ đem lại sự an ổn rất lớn.
Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam được thể hiện rõ nét qua thiền tông đời Trần, tuy nhiên đây chỉ là trình bày theo cái thấy biết riêng của hành giả chúng tôi, còn các vị là những nhà nghiên cứu, các giáo sư v.v… thì mỗi người có thể nhận xét khác. Mong rằng chỗ thấy biết của chúng ta cùng bổ túc thêm cho nhau, để cùng phát huy những điểm đặc thù của nền Phật giáo nước nhà.