(Giảng tại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội ngày 09-04-1996)
Nói về những đặc điểm của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, tôi tạm chia ra làm năm điểm.
Điểm thứ nhất:
Khi vua Trần Nhân Tông đi xuất gia là Phật giáo được đánh giá đến chỗ cao tột. Tại sao tôi nói như vậy?
Tất cả chúng ta đều biết, đức Phật trước khi thành đạo, ngài là một hoàng thái tử ở Ấn Độ, sau khi chứng kiến cảnh già bệnh chết, ngài quyết tâm phăn tìm cho ra manh mối của con người: Từ đâu đến đây? Chết rồi sẽ đi về đâu? Làm sao để không còn sanh tử nữa? Đó là mục tiêu của thái tử Tất-đạt-đa đi tu.
Tại đất nước Việt Nam chúng ta cũng có một ông hoàng đang ở trong địa vị quyền thế tột cùng mà từ bỏ đi xuất gia, đó là vua Trần Nhân Tông. Như vậy, đi tu tìm đường giải thoát sanh tử hẳn là một vấn đề cao siêu, quý giá hơn tất cả. Thế nên các ngài mới quyết tâm từ bỏ cuộc sống giàu sang danh vọng, ngay cả ngai vàng cũng không thể trói buộc được.
Điều này chứng tỏ, nếu không thấy được chỗ cao siêu của đạo Phật thì làm sao có thể từ bỏ tất cả. Người thế gian không ở địa vị của các ngài, chỉ là bình thường đủ ăn đủ mặc, mà bảo vô chùa tu có chịu không? Chắc là không chịu. Vừa buồn vừa kỳ lạ! Làm gì mà mỗi ngày cứ gõ mõ tụng kinh, không thấy có giá trị gì. Vì thế phải thấy cái gì cao siêu lắm mới dám buông bỏ những thứ mà mình đang đủ quyền hưởng thụ. Đức Phật là hoàng thái tử sắp lên ngôi, ngài Trần Nhân Tông là một ông vua đang trị vì, đều từ bỏ ngai vàng đi tu. Bấy nhiêu đó đã tự nói lên giá trị siêu tuyệt của đạo Phật, không phải tầm thường như chúng ta thấy gần đây.
Điểm thứ hai:
Hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử lấy giác ngộ làm trọng tâm, chứ không cho hình thức là quan trọng. Điều này có đúng với trọng tâm của đạo Phật hay không?
Chúng ta đều biết, giá trị của đạo Phật là ở chỗ giác ngộ. Thái tử Tất-đạt-đa đi tu, nhưng nếu không giác ngộ thì cũng đâu được gọi là Phật. Như vậy, Phật là chỉ cho bậc đã giác ngộ, còn Bồ-tát là người phát tâm cầu giác ngộ. Quý vị thấy hình tượng Bồ-tát trong đạo Phật không? Vị nào cũng để tóc, vậy mà những người xuất gia như chúng tôi vẫn luôn kính lạy.
Do thiền tông chú trọng vào giác ngộ chứ không câu nệ trên hình thức, nên trong nhà thiền còn ghi lại nhiều giai thoại của các vị cư sĩ. Như ở Trung Hoa có cư sĩ Bàng Uẩn, Nhật Bản cũng vậy… cư sĩ vẫn có thể tu hành và ngộ được lý thiền. Tuy nhiên không giống Việt Nam, những vị cư sĩ dù ngộ được lý thiền nhưng chưa bao giờ dạy chư tăng, mà chỉ giáo hóa trong phạm vi gia đình, bạn bè của mình thôi.
Tinh thần trọng giác ngộ hơn trọng hình thức, là đặc điểm của hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Cho nên người nào giác ngộ thì người đó xứng đáng làm thầy, không luận hình thức cư sĩ hay xuất gia. Như trường hợp của Tuệ Trung thượng sĩ, tuy chưa làm tăng chưa ăn chay trường, chỉ với hình thức là cư sĩ có vợ con, mà ngài giảng đạo được chư tăng tới học, tôn kính xem như một bậc thầy.
Trong sử sách còn ghi lại, một ngày nọ thái hậu mở tiệc thịnh soạn mời ngài. Trên bàn ăn có dọn cá thịt, ngài vẫn gắp ăn bình thường. Thái hậu thấy lạ hỏi: “Anh tu thiền mà ăn cá thịt thì thành Phật sao được?” Ngài cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng chẳng cần làm anh. Thái hậu đâu không nghe cổ đức nói Văn-thù là Văn-thù, Giải Thoát là Giải Thoát đó sao?”
Như vậy, chủ yếu của hệ phái Trúc Lâm Yên Tử là giải thoát nội tâm, không chú trọng hình thức bên ngoài. Dù ở giữa thành thị mà thức tỉnh cũng có thể giải thoát, chứ không phải tu một mình, hay lên núi vào rừng trốn đi đâu để tìm giải thoát.
Lúc vua Trần Nhân Tông còn làm thái tử, cha là Thánh Tông gửi đến học đạo với Tuệ Trung thượng sĩ. Một hôm, ngài hỏi về việc ăn chay ăn mặn, trì giới nhẫn nhục… Thượng sĩ trả lời bằng tám câu kệ:
Trì giới kiêm nhẫn nhục,
Chiêu tội bất chiêu phúc.
Dục tri vô tội phúc,
Phi trì giới nhẫn nhục.
Như nhân thưởng thọ thì,
An trung tự cầu nguy.
Như nhân bất thướng thọ,
Phong nguyệt hà sở vi.
Trì giới kiêm nhẫn nhục, chiêu tội bất chiêu phúc. Ngài nói dường như trái hẳn với kinh, quý vị nghe qua chắc hơi khó hiểu. Trong kinh Phật dạy người tu phải trì giới nhẫn nhục, mà sao ngài lại bảo trì giới và nhẫn nhục là chuốc tội chứ không phải phúc? Câu này đa số học giả bị lầm, cho rằng Tuệ Trung thượng sĩ phá chấp về kinh, hoặc tưởng phá chấp là không giữ giới. Nhưng thật ra không phải thế. Đây là chỗ Thượng sĩ muốn chỉ thẳng cho thấy, chúng ta tu thiền cốt yên tĩnh nội tâm của mình đó là then chốt, chứ đừng trông cậy vào cái bên ngoài.
Như người chưa từng uống rượu thì có cần cấm họ đừng uống rượu không? Nếu bây giờ Phật tử này xin quy y thọ giới, tới giới không uống rượu không cần bắt chú phải hứa giữ, vì chú chưa từng uống rượu. Phật dạy phải giữ giới là để hạn chế việc xấu ác của con người. Người khổ sở do ghiền rượu, Phật bảo giữ giới đừng uống rượu để giảm bớt nguy hại về rượu. Kẻ tham mê nữ sắc, Phật dạy phải giữ giới không tà dâm hầu hạn chế tội lỗi về sắc. Còn đối với người đàng hoàng không gì sai phạm, đâu cần bắt họ giữ giới làm gì, có bảo giữ giới cũng là thừa. Tất cả những giới chúng ta nguyện phải giữ là tại vì mình đang kẹt, mà kẹt tức có tội chứ không có phúc.
Nhẫn nhục cũng vậy, nếu quý vị là người tâm tính bình tĩnh sáng suốt, ai nói nặng không buồn, khiêu khích mấy cũng không giận thì tập nhẫn nhục làm gì. Tâm mình đã thanh thản rồi, đâu vì người ta khiêu khích mà giận rồi gây tội lỗi, nên khỏi cần nói nhẫn nhục. Sở dĩ bây giờ chúng ta nhẫn nhục là tại mình hay nóng, động tới nổi giận đùng đùng nên phải tập nhẫn để cho cái nóng dịu xuống bớt gây tội lỗi.
Ngài không phải bác lời Phật mà chính là chỉ cho thấy, thật tâm chúng ta nếu không còn nóng giận, không còn phạm tội lỗi thì đâu cần nói giữ giới nhẫn nhục nữa. Bởi còn nói trì giới nhẫn nhục là do còn tội, mà còn tội thì chưa có phúc. Tóm lại, trì giới là nói cho người còn phạm tội, nhẫn nhục là nói cho người nhiều nóng giận. Thế nên nếu người nào còn phạm tội, còn nóng giận thì yêu cầu phải giữ giới, phải ráng nhẫn nhục.
Dục tri vô tội phúc, phi trì giới nhẫn nhục. Muốn biết không tội phúc, khỏi trì giới nhẫn nhục. Đây là chỗ trong nhà thiền thường nói, tâm bình thường là đạo. Tâm bình thường là tâm không xao động, không dính mắc với ngoại cảnh, sống thản nhiên tự tại, không còn lo lắng sợ hãi.
Như nhân thưởng thọ thì, an trung tự cầu nguy. Như người leo lên cây, đang yên ổn tự tìm nguy hiểm. Ngài nói thí dụ này giúp chúng ta thấy rõ hơn. Như người ngồi dưới đất thì đâu có gì nguy hiểm, bỗng dưng trèo lên cây cao rồi lo gió thổi, sợ ngã cây gãy nhánh… Có sanh lo sợ là tại mình leo lên cây, chứ đứng dưới đất thì không phải lo sợ.
Như nhân bất thướng thọ, phong nguyệt hà sở vi. Người không trèo lên cây thì gió trăng làm gì họ được. Nếu tâm chúng ta thản nhiên bình thường thì ngoại cảnh đâu làm gì mình được. Không phạm tội lỗi cũng không nóng giận là đủ rồi, đâu có gì phải nói trì giới và nhẫn nhục.
Bấy nhiêu đó cũng thấy được tinh thần của hệ phái Trúc Lâm là đặt sự giải thoát ở nội tâm, chứ không nặng về hình thức bên ngoài. Nếu người nào nội tâm được thanh thản rồi thì giới luật đối với họ là việc thường, không quan trọng.
Điểm thứ ba:
Hệ phái Trúc Lâm Yên Tử lấy “phản quan tự kỷ” làm yếu chỉ tu hành. Chúng ta luôn để sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý giong ruổi theo sáu trần là sắc thanh hương vị xúc pháp, thế nên chỉ sáng bên ngoài mà tối ở bên trong. Bây giờ muốn soi sáng lại bên trong thì phải chặn đứng đừng để cho sáu căn chạy theo sáu trần nữa. Chặn năm trần là bên ngoài tương đối dễ, còn pháp trần ở bên trong làm sao mà chặn? Tôi sẽ tuần tự giải thích cho quý vị dễ hiểu.
Sắc là hình sắc, thanh là âm thanh, hương là mùi thơm hôi…, vị là mặn nhạt chua cay…, xúc là những cảm giác xúc chạm, pháp là pháp trần. Pháp trần là bóng dáng của năm trần trước đã rơi rớt trong tàng thức, tới khi ngồi yên lặng hoặc nhớ lại thì nó hiện ra. Năm trần trước là đối tượng của năm căn, còn pháp trần là đối tượng của ý thức, mà ý thức thì không hình tướng nên đối tượng của nó cũng khó hiểu.
Thí dụ, quý vị buổi sáng đi ra chợ gặp một người có hình tướng rất lạ, do vậy chú ý nhìn kỹ. Về nhà rồi lúc rảnh rỗi ngồi chơi, bỗng dưng nhớ lại dáng dấp của người đó. Vừa nghĩ thì bao hình ảnh đã thấy hiện đủ trong tâm mình. Hình ảnh hiện đủ cho ý thức duyên theo, mặc dù hiện tại không có người, tức là không còn tiếp xúc với cảnh, hình bóng đó gọi là pháp trần.
Sáu trần là đối tượng để sáu căn duyên theo, quý vị nhớ lại xem có lúc nào chúng ta không chạy theo nó không? Nếu không đối diện với sắc, thanh, hương, vị, xúc thì những hình bóng cũ, chuyện năm trên năm dưới gì cũng hiện ra, giống như coi xi-nê vậy. Chúng ta thường nói mình ngồi chơi, nhưng sự thật là ngồi nghĩ đủ thứ chứ không phải ngồi chơi không. Ngồi lại thì nhớ chuyện cũ chuyện mới, đã đến hoặc chưa đến gì cũng nhớ. Nhớ những thứ đó là duyên theo bóng dáng của pháp trần, cho nên lúc ngồi thiền mắt nhìn xuống yên lặng, những bóng hình cũ trỗi dậy liền buông, đó là chặn đứng sáu trần. Chặn sáu trần tức là để cho tâm dần yên tĩnh, từ đó soi rọi lại chính mình, tìm cho ra cái thật nơi mình, đây là việc làm tối quan trọng của mỗi người tu.
Tại sao tôi nói như vậy? Bởi vì thưa quý vị, dù cho chúng ta có nhiều tiền lắm của, quyền lợi, danh vọng… đủ thứ, nhưng tất cả những thứ đó chỉ giúp cho thân mình được sung sướng mà thôi. Nói sung sướng cũng chỉ là gượng nói, quý vị xét lại xem sự sung sướng ấy được bao lâu? Nhiều khi sung túc quá lại sanh bệnh, thành hại. Ăn uống nhiều sanh bệnh, trác táng nhiều thành hại. Tưởng chừng tiền của, danh vọng giúp mình mà không dè trở thành hại. Giả sử những thứ ấy giúp chúng ta được sung sướng, nhưng thọ mạng mình nhiều lắm là bảy tám chục năm rồi cũng bại hoại. Lúc đó chúng ta chới với, tự hỏi bây giờ mình còn hay không còn, rồi sẽ ra sao? Vấn đề con người rõ ràng chúng ta chưa giải quyết được thì dù cho đầy đủ vật chất vẫn không thoát khổ.
Chúng ta tu để làm gì? Để tìm cho ra lẽ thật nơi mình mà lâu nay mình chưa biết. Chúng ta từ đâu lại đây, chết là còn hay hết, còn thì thế nào? Rõ được manh mối cái gì là mình, cái gì không thật mình, gọi đó là ngộ đạo hay giác ngộ. Thấu suốt tường tận lẽ thật nơi mình, cuộc sống của chúng ta mới có giá trị đích thực. Hiện tại chúng ta nói, mình đang sống nên phải lo cho mình, nhưng quý vị thử hỏi lại xem mình là cái gì mà lo? Nếu nói thân này là mình, giả sử khi da thịt bị ung nhọt hôi thối thì cái hôi thối đó có phải là mình không? Chắc hẳn không ai chấp nhận. Ngay cả máu huyết của mình khi ra khỏi thân, mình cũng gớm. Đó là nói lúc còn sống, đến lúc thân bại hoại tắt thở năm ba hôm, người thân nhất họ cũng không dám lại gần mình. Bấy nhiêu cũng đủ biết thân này là quả tạm bợ và quá tầm thường.
Chúng ta luôn nghĩ thân đang hoạt động là mình, nhưng Phật nói nó vô ngã, không phải là ta, không phải của ta. Nhiều người lắc đầu không chấp nhận, cho rằng đạo Phật nói lạ đời. Rõ ràng cái đang sống, đang sinh hoạt mà nói không phải ta thì là cái gì? Nhưng thưa quý vị, đạo Phật nói đúng lý thật. Thân chúng ta đang sống đây là nhờ vào bốn thứ đất nước gió lửa mà tồn tại, từ chuyên môn trong đạo Phật gọi là thân tứ đại. Chất cứng trong người là đất, chất ướt là nước, chuyển động là gió, hơi ấm là lửa, tụ họp lại thành thân người. Tuy nhiên bốn chất bên trong đó, không đủ để giữ gìn cho thân tồn tại được, mà phải nhờ bốn chất ở ngoài phụ giúp thêm.
Như hiện giờ quý vị đang ngồi đây, nếu hỏi lỗ mũi quý vị đang làm gì thì ai cũng nói mình đang thở. Như vậy, thở nghĩa là đang vay mượn không khí. Mượn gió đem vô rồi trả ra, cứ thế mà mượn trả mượn trả, đến lúc trả ra không mượn vào là chết. Đó là nói về gió, ba thứ kia cũng vậy. Lát mượn tách nước, lát mượn vài chén cơm hoặc ổ bánh mỳ… dồn vô rồi trả ra. Nếu sự sống thật là mình thì đâu cần mượn, nhờ mượn mới sống mà nói thật mình làm sao được.
Chúng ta cứ tưởng sống như vầy là thảnh thơi hạnh phúc, nhưng đâu ngờ rằng mình cứ bận rộn mượn trả cả ngày không ngơi nghỉ. Đủ điều kiện, đủ tiện nghi mượn trả đều đặn êm thấm là hạnh phúc, nếu mượn trả trục trặc thì chở đi cấp cứu, khi nào đuối quá là rồi một đời. Cả đời người sống chỉ nhờ vay mượn, quả là rất tạm bợ và không có ý nghĩa. Nếu chỉ có bấy nhiêu đó thôi thì giá trị của nó ở chỗ nào và cái mượn trả đó là mình hay sao? Đây là vấn đề mà mỗi chúng ta cần phải nghiệm xét kỹ.
Chúng ta ai cũng thừa nhận cái suy nghĩ theo hiểu biết phân biệt là tâm của mình, nhưng Phật lại bảo đó chưa phải tâm mình. Tại sao vậy? Quý vị nhớ lại xem, từ thuở còn bé cho đến lớn khôn như bây giờ, mình đã suy nghĩ bao nhiêu thứ? Nếu những suy nghĩ ấy là mình thì mình là một hay nhiều? Nói mình là nhiều thì vô lý, còn mình là một thì trong bao nhiêu suy nghĩ cái nào là mình? Tâm suy nghĩ ấy có khi nghĩ lành khi nghĩ dữ, lúc nghĩ tốt lúc nghĩ xấu… vậy suy nghĩ nào là mình?
Nếu cho suy nghĩ là tâm mình, vậy những giờ phút thảnh thơi an ổn, ngồi nhìn trời mây không suy nghĩ gì cả, lúc đó có mình hay không? Khi không suy nghĩ vẫn có mình, tức nhiên cái suy nghĩ lăng xăng kia đâu phải là mình. Lúc đó không có suy nghĩ chứ chẳng phải không có mình. Đây là những điều mà quý vị cần chú tâm một chút. Bây giờ tôi chưa nói thẳng, quý vị mỗi người tự tìm, chừng nào phát minh ra được thì chừng ấy ngộ đạo.
Tinh thần quán chiếu của đạo Phật là tìm cho thấu đáo bản chất của con người, thấu đáo tâm niệm con người. Chừng nào tìm ra được lẽ thật nơi mình, gọi là ngộ đạo hay giác ngộ. Cũng vậy, tinh thần của thiền tông là phản quan, là khám phá. Nói khám phá không phải là tìm kiếm cái gì bên ngoài, mà là tìm cho ra cái thật sẵn có nơi mình. Như các nhà khoa học muốn nghiên cứu một vấn đề mới lạ, mà vấn đề ấy người trước chưa biết, hiện tại cũng không ai dạy, vậy bây giờ muốn tìm thì phải làm sao? Đương nhiên họ phải đem hết tâm tư dồn vào vấn đề đó, bất thần một hôm bừng sáng vui mừng la lên: “Phát minh ra rồi!” Như vậy, lúc phát minh đó ai dạy, có suy nghĩ gì không? Chỉ dồn hết tâm tư vào một cảnh rồi vấn đề tự bùng vỡ, chứ không ai dạy cũng chẳng nghĩ suy gì.
Phát minh tức là khám phá ra cái mình đang tìm, tương tự giác ngộ bên đạo Phật. Một khi biết suy nghĩ không phải thật mình, để yên cho niệm lăng xăng lặng xuống, đến phút giây nào tự nhiên sáng ra gọi là ngộ đạo. Như vậy, ngộ đạo hay giác ngộ chính là tìm ra cái chân thật ngay nơi mình, việc làm này có thua kém các nhà khoa học chuyên nghiên cứu hay không? Vậy mà người thế gian không hiểu, thấy quý thầy quý cô trong thiền viện ngồi lim dim ngó xuống, cho rằng tu như vậy là tiêu cực, là quá tầm thường, nhưng không ngờ đang làm một việc thật sự phi thường.
Phản quan tự kỷ, soi sáng lại chính mình là pháp tu của Phật giáo đời Trần. Khi vua Trần Nhân Tông hỏi Thượng sĩ Tuệ Trung về yếu chỉ của thiền, ngài đáp: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự bất tùng tha đắc”, xoay lại chính mình là bổn phận gốc, việc này không phải từ bên ngoài mà được. Nếu chạy tìm cầu ở bên ngoài thì trái với tinh thần nhà thiền. Đó là chủ trương tu của thiền tông đời Trần, nhưng nếu nói xa rộng hơn thì tất cả giáo pháp của Phật đều nằm trong phản quan tự kỷ. Như hệ Nguyên thủy, giáo lý căn bản buổi đầu là pháp quán Tứ niệm xứ. Quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã, cũng là phản quan lại mình. Qua tới hệ Bát-nhã, trong Bát-nhã Tâm Kinh nói “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, nghĩa là soi lại thân năm uẩn, sắc thọ tưởng hành thức đều không, đây cũng là phản quan. Như vậy lối phản quan là nòng cốt tu hành của đạo Phật, nên chủ trương của Phật giáo nhà Trần cũng lấy phản quan làm gốc.
Điểm thứ tư:
Thiền tông đời Trần cũng chủ trương Tam giáo đồng nguyên, giống như tinh thần thiền đời Tống ở Trung Quốc. Theo quý vị, chủ trương này có trái với đạo Phật hay không?
Trước tôi đã nói, thời Trần là thời chiến tranh hiểm nạn, nước Việt Nam nhỏ bé yếu đuối mà quân Nguyên lại quá mạnh, nếu toàn dân không nhất trí một lòng thì khó mà chống nổi ngoại xâm. Vì thế đứng về Phật giáo, lấy thiền tông Yên Tử làm gốc không có hệ phái nào riêng biệt, để tạo nên một sức mạnh chung. Trước thời Trần, ở đất nước chúng ta đã có Phật, Khổng và Lão. Cho nên ít nhiều gì thì người ta cũng bị phân hóa trong lối tu hay cách nhìn của mỗi tôn giáo khác nhau. Do đó thiền tông đời Trần chủ trương Tam giáo đồng nguyên, tức Phật Khổng Lão chung một nguồn.
Đức Phật từng nói: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”, lời này đã nói lên tinh thần của đạo Phật. Bởi mỗi người đều sẵn có trí tuệ nơi mình, trong nhà thiền gọi là Vô sư trí, hay Phật tánh. Đức Phật thấy được trí tuệ sẵn có đó nên ngài ngộ đạo thành Phật, còn chúng ta chưa nhận ra nên làm chúng sanh. Như vậy, nơi mỗi chúng sanh đều sẵn có tánh giác nhưng biết tu hay không biết tu mà thôi, nếu biết tu thì trở về được.
Thái sư Khuông Việt nói “Mộc trung nguyên hữu hỏa”, trong cây sẵn có lửa. Bởi trong cây sẵn có lửa nên khi dùi mài lửa mới phát ra, nếu trong cây không lửa thì cọ xát bao lâu cũng không có. Cũng thế, do tất cả chúng ta có tánh Phật nên chịu tu thì thành Phật, còn không tánh Phật thì dù tu muôn kiếp cũng chẳng thành Phật. Rõ ràng, người tu hay không tu theo đạo Phật, ai ai cũng sẵn có tánh giác như nhau. Nói cách khác, Phật Khổng Lão đều đồng một tánh giác. Vì vậy, chủ trương Tam giáo đồng nguyên chính là đem mọi người đến chỗ hòa hợp không còn phân chia, đây là tinh thần đặc biệt của thiền tông đời Trần.
Điểm thứ năm:
Lối tu của thiền tông đời Trần là tu ngay trong mọi hoàn cảnh, chứ không phải trốn tránh tìm nơi vắng vẻ mới tu được. Các vua nhà Trần dù bận rộn việc triều chính, nhưng vẫn chuyên tâm nghiên cứu tu hành. Vua Trần Thái Tông, một hôm đọc kinh Kim Cang tới câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghiền ngẫm tới lui đôi ba phen bỗng dưng thấu suốt. Chỗ giác ngộ của vua tương tự Lục tổ Huệ Năng ngày xưa, nhưng có điểm khác là lúc ngộ Lục Tổ thốt lên: Đâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp, đâu ngờ tâm mình vốn không sanh diệt v.v… Còn vua Trần Thái Tông thì chỉ vui mừng mà thôi, sau này ngài có viết trong cuốn Thiền Tông Chỉ Nam. Như vậy, ngài Trần Thái Tông ngay trong hoàn cảnh làm vua, lo cho dân cho nước mà vẫn tu được, chứ đâu phải trốn ở nơi nào để tu. Vị vua kế tiếp là Trần Thánh Tông, nhân đọc Đại Huệ ngữ lục mà được giác ngộ. Ngài làm bài kệ, hai câu cuối là:
Nhất triêu thức phá nương sanh diện,
Tỹ khổng nguyên lai một bán biên.
Ngài nói, một sớm khám phá được gương mặt mẹ sanh, mới biết lỗ mũi xưa nay mất một bên. Sao lạ vậy? Lỗ mũi của mình luôn hiện tiền từ lúc mẹ sanh cho tới khi tắt thở, nhưng quý vị có thấy rõ nó không? Hiện ở trước mắt mà không thấy hết rõ ràng, chỉ thấy được một phần nhỏ thôi. Trong nhà thiền mượn hình ảnh lỗ mũi, để tượng trưng cho tánh chân thật của mỗi người. Tánh ấy sẵn có hiện tiền mà ai không biết, giống như lỗ mũi là nguồn sống của mình mà mình không thấy rõ. Vua Trần Thánh Tông một hôm khám phá được cái chân thật ấy, ngài gọi là gương mặt mẹ sanh, chỗ khác gọi là bản lai diện mục. Khám phá được rồi mới biết trước nay mình thấy lỗ mũi có một bên, bây giờ mới hiện thấy được đầy đủ.
Đến vua Trần Nhân Tông, sau khi trao ngôi lại cho con lên làm Thái thượng hoàng, ngài có làm bài phú Cư Trần Lạc Đạo, tức là ở ngay trong cảnh bụi trần mà vẫn vui với đạo. Bài phú gồm mười hội bằng chữ Nôm, nhưng kết thúc là bài kệ chữ Hán chỉ có bốn câu mà hay đáo để.
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miền
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, ở đời vui đạo hãy tùy duyên. Muốn ở trong chốn bụi trần mà vẫn vui với đạo thì phải làm sao? Hãy tùy duyên. Tùy duyên bằng cách nào? Cơ tắc xan hề khốn tắc miên, đói đến thì ăn mệt ngủ liền. Tùy duyên như vậy quý vị thấy dễ quá phải không? Câu này nghe dường như hết sức dễ mà chúng ta làm không được.
Có người đến hỏi một thiền sư, ở núi bao nhiêu năm làm việc gì? Thiền sư đáp, đói đến thì ăn mệt thì ngủ. Vị này ngạc nhiên, đói đến thì ăn mệt thì ngủ, chuyện đó ai làm không được. Thiền sư bảo: Tuy dễ nhưng người thế gian làm không được. Tại sao? Vì đói đến họ không chịu ăn mà đòi trăm thứ cần dùng, mệt không chịu ngủ vì suy tính trăm ngàn thứ.
Thiền sư nói như thế quý vị nghiệm lại xem, đói ăn mệt ngủ dễ hay khó? Thí dụ người quen ăn ớt hoặc uống rượu, tới bữa cơm thiếu ớt thiếu rượu thì sao? Dù đói nhưng đâu chịu ăn liền, phải kiếm ớt hoặc đòi một cốc rượu rồi mới chịu ăn. Chuyện ăn như thế, việc ngủ cũng vậy. Đi làm về mệt mà nằm xuống đâu chịu ngủ liền, còn nhớ việc này việc kia, chuyện sáng chuyện chiều, lăn qua trở lại ngủ không yên.
Sống tùy duyên là người biết làm chủ được mình, không để băn khoăn thắc mắc làm rối lòng. Gặp việc giải quyết, hết việc rồi thôi không bận tâm. Nhưng chúng ta thì chưa được như vậy, đến giờ nghỉ mà ngồi nghỉ không được, nhớ chuyện này chưa xong lại nhớ sang chuyện khác. Như quý vị, nếu tới giờ dạy học, mãn giờ về nhà, khi cần coi bài, lúc mệt thì ngủ, không bận rộn suy nghĩ lung tung, đó là quý vị biết sống tùy duyên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, trong nhà đã có của báu, tức là trong nhà mình có sẵn Phật rồi, đừng tìm ở đâu nữa. Đây là tinh thần tức tâm tức Phật trong nhà thiền. Phật đã có sẵn nhưng làm sao để phát hiện ra? Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền, đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền. Thấy sắc không dính sắc, nghe thanh không kẹt thanh, nơi hương vị xúc không dính mắc, ngay đó là thiền không cần tìm kiếm đâu xa.
Tu như vậy quý vị thấy dễ tu hay khó? Triết lý của phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần rất thực tế, không cần hỏi tìm cái gì huyền bí cao siêu đâu đâu. Ngay khi đối cảnh tâm không chấp trước dính mắc, phản quan trở lại chính mình đó là thiền. Các vua nhà Trần đang làm vua mà vẫn ngộ đạo, vậy thì chúng ta có tu được không?
Ngày nay quý vị cũng như chúng tôi, chúng ta có rất nhiều việc nhưng so với nhà vua thì sao? Làm vua việc gấp trăm ngàn lần mình mà các ngài tu được, còn chúng ta cứ than nhiều việc quá tu không được thì có phải mình quá dở không? Ít việc hơn vua mà tu không được, đó là điều yếu dở của mình.
Những đặc điểm của hệ phái Trúc Lâm Yên Tử, tôi tạm trình bày sơ lược như thế. Tuy nhiên, tôi cũng xin nhắc lại, đây chỉ theo cái nhìn và nhận xét của riêng chúng tôi, chứ không phải là tất cả. Bởi tùy theo sự nghiên cứu và nhận định của mỗi người, mà chỗ thấy sai biệt khác nhau. Vì thế quý vị có thể tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn.