Sơ Tổ tụng:
Nói “Xá” luận thân tướng,
“Lợi” chỉ hạt giống tâm,
Bồ-tát sức trí tuệ,
Bốn tướng chẳng cho xâm.
Đạt đạo lìa chấp nhân,
Thấy tánh pháp không lời,
Các lậu thảy đều đoạn,
Toàn thể là vàng ròng.
Giảng:
Cụm từ “Xá Lợi Tử” ở trên đã xuất hiện một lần và Tổ đã giải thích rồi. Ngài không giải theo nghĩa ngài Xá Lợi Phất, mà giải về tự tâm của chính mình. Chữ “Xá Lợi Tử” thứ hai này, chúng ta hãy xem Tổ giải như thế nào.
“Nói “Xá” luận thân tướng,
“Lợi” chỉ hạt giống tâm.”
Ở đây, khi nói “Xá” là luận về thân tướng, ý Tổ là nói về cái thân của mình. Trong đạo Phật, từ khi Đức Phật giác ngộ, Ngài đã gọi cái thân này là một căn nhà. Chữ “xá” trong tiếng Trung Hoa khi dịch qua tiếng Việt cũng có nghĩa là nhà; ví dụ như “ký túc xá” là nhà ở chung, hay “tệ xá” là cách nói khiêm tốn về căn nhà của mình. Vậy, “xá” chính là nói về cái thân ngũ uẩn duyên hợp này.
Còn “Lợi” chỉ cho hạt giống tâm – tức là cái tâm chân thật, cái tâm “tức tâm tức Phật” mà chúng ta vẫn thường học. Đó không phải là cái tâm lăn xăn, suy nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia. Cái tâm suy nghĩ kia chỉ là bóng dáng của tiền trần, nó sinh và diệt theo bóng dáng của pháp trần, nên đó không phải là tâm thật của mình. Nó chỉ là sản phẩm đẻ ra bởi sự hư vọng của chính mình mà thôi. Tâm chân thật là cái tâm mà thể của nó trùm khắp như hư không, còn dụng của nó thì chiếu soi không chỗ nào sót; đó mới chính là tâm thật của mình, chứ không phải cái tâm lúc vui lúc buồn, lúc nghĩ phải nghĩ trái kia.
“Bồ-tát sức trí tuệ,
Bốn tướng chẳng cho xâm.”
Ở đây, Tổ muốn nói đến việc Bồ-tát dùng sức trí tuệ của mình để thấu hiểu thật sâu sắc rằng cái thân này chỉ là tướng duyên hợp giả dối, chỉ là căn nhà tạm bợ để cái tâm chủ của mình ở trong đó thôi, chứ nó không có thật. Cái tâm cũng vậy, cái tâm nào hay bao trùm tất cả, hay chiếu soi tất cả và bình đẳng với tất cả pháp, thì đó mới là cái tâm thật. Còn những thứ tâm lăn xăn, suy nghĩ phải trái kia thì cũng chỉ là tướng hư dối, không thật. Sức trí tuệ của Bồ-tát chính là lực, là khả năng nhìn ra được sự thật đó, phân biệt được đâu là thật, đâu là giả. Nhờ có sức trí tuệ ấy, bốn tướng không thể xâm phạm mình được.
Bốn tướng này là gì? Là tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng sinh, tướng Thọ giả mà ta thường nghe trong kinh Kim Cang. Trong kinh Viên Giác, Đức Phật cũng đã phá bốn tướng này rất rõ ràng. Thực ra, bốn tướng này không dễ phá đâu, bởi nó được kết tinh từ sự ngu mê của mình suốt nhiều đời nhiều kiếp.
Đó là sự lầm lẫn của mình: lầm cho thân ngũ uẩn của mình, của người khác, của chúng sinh là thật, cho sự sống là thật nên mới đắm, mới kẹt. Mình bị nó xâm phạm là tại mình mê, tự mình trói mình, rồi lại nói tại nó xâm phạm mình. Giống như người ta chửi mình, mình nổi sân lên. Người ta chửi mình thì kệ người ta, sao cái câu chửi đó người bên cạnh không giận mà mình giận? Là vì mình “hữu tình” bám vào câu chửi “vô tình” đó. Nếu tại câu chửi đó làm mình đau khổ, thì tất cả ai nghe tiếng đó, con chó con mèo cũng phải đau khổ hết chứ. Đâu phải tại câu chửi, câu chửi đâu có làm gì đâu.
Ngài Đạo Tín đến xin Tổ Tăng Xán dạy cho Pháp môn giải thoát, Tổ hỏi: “Ai trói ngươi?”. Tự mình trói mình thì tự mình mở, ai mở cho mình? Đừng chấp nữa, buông đi. Chỉ một cái buông thôi, đơn giản lắm. Như đứa nhỏ thọc tay vô lọ bóc nắm kẹo, không chịu buông kẹo thì không rút tay ra được. Cha mẹ kêu buông đi, nó không chịu buông. Không buông mà muốn hết khổ thì cha mẹ cũng chịu thua. Đức Phật cũng vậy, Ngài thương muốn cứu mình, nhưng mình nhất định không chịu buông, thì Ngài cũng đành chịu thôi.
“Đạt đạo lìa chấp nhân,
Thấy tánh pháp không lời.”
Khi nói “Đạt đạo”, Tổ muốn nói đến việc nhận ra chân lý, nhận lại được tự tánh thanh tịnh và hiểu rõ sự vận hành nhân duyên, biến dịch của các pháp. Đạt đạo không phải là hướng tới một cái đạo bên ngoài, mà là nhận lại tự tâm mình. Khi đã đạt đạo thì “lìa chấp nhân”, đây không phải là lìa bỏ tướng nhân bên ngoài, mà là lìa bỏ những nhân duyên chấp trước tạo nên sự sinh tử.
Sở dĩ mình đau khổ, bị người ta chửi mà sinh sân hận là vì mình quá ái chấp, mình cho rằng thân ngũ uẩn này là thật. Muốn hết khổ, mình phải buông cái chấp ấy đi. Giống như người lớn không còn đắm vào mấy món đồ chơi lấp lánh của con nít, vì họ biết rõ đó là đồ giả, vài bữa là cũ nát. Nếu mình thấy được các pháp bên ngoài cũng chỉ là nhân duyên hòa hợp giả dối như vậy, tự nhiên sẽ không còn đắm nhiễm. Đó là lý do Đức Phật tán thán Bát Chánh Đạo, bắt đầu bằng “Chánh kiến” – cái thấy đúng đắn về chân lý. Khi có Chánh kiến, mình tin vào luật nhân quả, tin vào chân lý, biết điều gì làm mình an lạc, điều gì dẫn đến đau khổ, tự khắc mình sẽ biết chọn cái tốt để làm, như người đi xin việc sẽ chọn nơi lương cao để có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Khi mình nhận ra chân lý rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, mình sẽ không còn khinh mạn bất cứ ai. Chính cái thấy đó giúp mình lìa bỏ các chấp trước sai lầm.
Thấy tánh pháp không lời: nghĩa là một khi đã thấy được tự tánh rồi thì thực sự không còn lời nào để nói nữa. Tại sao vậy? Bởi vì mở lời ra là rơi vào đối đãi (đúng-sai, phải-quấy, sáng-tối v.v…), mà đối đãi thì không phải là chân thật. Tự tánh của mình trùm khắp, vượt ra ngoài mọi đối đãi. Ngôn ngữ được con người quy định trong thế giới thế tục này, nếu vượt ra ngoài đối đãi thì người ta sẽ không hiểu.
Như tâm mình trùm cả phải và trái. Nếu cho “phải” là tâm, thì khi “trái” tâm ở đâu? Cả phải và trái đều nằm trong tâm, nếu mình dính vào một bên thì bên kia mình không nhận biết được. Giống như hư không trùm khắp cả mặt trời, mặt trăng, trái đất… Nếu nó chỉ thuộc về trái đất thì không thể trùm được mặt trời, mặt trăng.
Tự tâm mình cũng như vậy, nó trùm khắp các pháp nên nó lìa đối đãi, lìa cả ngôn ngữ. Đến chỗ này: “Ngôn ngữ đạo đoạn; Tâm hành xứ diệt.” – đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành (suy nghĩ) cũng diệt. Trong kinh Duy Ma Cật, các vị Bồ-tát lần lượt định nghĩa pháp môn không hai là những pháp vượt hai bên, đến ngài Văn Thù bảo rằng phải rời bỏ tất cả pháp đối đãi mới là pháp không hai, cuối cùng, ngài Duy Ma Cật lặng thinh không nói. Chính cái lặng thinh đó mới là chỗ rốt ráo, không còn gì để nói, vì nói ra là đã thu hẹp sự bao trùm vô hạn ấy rồi. Tự tánh của mình giống như hư không, không thể chỉ ra, không thể tả, chỉ có thể tự mình thể nhập mà thôi.
“Các lậu thảy đều đoạn,
Toàn thể là vàng ròng.”
Các lậu thảy đều đoạn: Lúc này, tất cả các “lậu” đều đoạn dứt. “Lậu” là cách gọi khác của phiền não, của chấp trước; theo nghĩa đen trong Phật học, “lậu” là sự rơi rớt lại trong dòng sinh tử luân hồi. Khi đã nhận được chân lý và thấy được tánh, mình không còn chấp nê, không còn lầm lẫn cho các pháp sinh diệt kia là “Ta” nữa, thì tự nhiên các lậu đó đoạn dứt. Khi đã thấy tánh, việc đoạn trừ rất dễ dàng vì mình đã nhận ra chúng không hề có thật.
Như Lục Tổ Huệ Năng khi ngộ đạo đã thốt lên: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”. Những thứ không thanh tịnh như tham, sân, tật đố, ngã mạn… vốn không phải là tự tánh mình. “Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động”, những buồn vui, giận dữ… vốn là cái dao động, không phải là mình. “Đâu ngờ tự tánh vốn không sinh diệt”, những thứ sinh diệt biến dịch bên ngoài vốn là pháp tướng, không phải mình. “Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ”, nó đầy đủ đến mức không thiếu thứ gì, có thể dung chứa tất cả các pháp như hư không dung chứa muôn vật. Chính vì tánh mình tự đầy đủ nên mình không cần phải cầu tìm điều gì cả, thần thông hay giải thoát cũng đều sẵn đủ ở đó rồi.
Vậy tại sao mình phải “đoạn vọng tưởng”? Nếu biết nó là vọng, là dối, thì không cần đoạn, nó tự diệt thôi. Bản chất của pháp là sinh diệt, cứ để nó vận hành theo dòng nhân duyên, đừng can thiệp vào. Giống như người lớn xem phim, biết khủng long hay quái vật chỉ là hình ảnh trên tivi, không thật nên không hãi sợ, thản nhiên nhìn nó tác quái. Còn đứa trẻ tưởng thật nên sợ hãi. Nếu thấy được tính giả dối của các pháp, mình sẽ “mặc kệ” nó, không để tâm mình bị lôi cuốn theo những biến chuyển của thế gian.
Khi đã đạt đến chỗ này, mình sẽ thấy “Toàn thể là vàng ròng”. Trong ngoài đều thanh tịnh, mọi sự vật, hiện tượng đều bình đẳng, không còn phân biệt pháp này hay, pháp kia dở. Tâm mình lúc này như một khán giả xem phim, thấy cảnh đời “lên voi xuống chó”, thăng trầm biến đổi v.v…, chỉ thấy rất thú vị và tự tại. Bởi mình biết rằng, dù là vị đại gia giàu có hay người tù nhân khổ sở, tất cả chỉ là vai diễn trên nền của một tự tánh vốn chưa từng thay đổi.
Đức Phật khi thị hiện mang thân ngũ uẩn, ngài cũng sinh, cũng già, cũng chết như bao người, nhưng chỉ khác là ngài đã nhận được cái tâm chân thật không sinh diệt ấy nên lúc nào cũng an nhiên tự tại. Chúng ta cũng có tâm đó, chỉ là chưa nhận ra, chưa sống được với nó. Nhờ học Phật, mình nhận ra sự giả tạm của “cái Tôi” và các pháp bên ngoài, từ đó buông bỏ dần phiền não. Đến khi tâm mình bình đẳng, nhìn đâu cũng thấy Phật tánh, nhìn đâu cũng thấy thanh tịnh, thì khi đó, tất cả đều là vàng ròng. Đó chính là ý nghĩa của việc quay trở lại với tự tâm thanh tịnh, biến mọi pháp vốn đang trói buộc mình thành sự tự tại của bậc giác ngộ.