Sơ tổ tụng:
Chân như vượt ba cõi,
Nhơ sạch xưa nay không,
Đức Phật khởi phương tiện,
Thuyết tế cùng nói thô.
“Không giới” không pháp có,
Thị hiện rõ một vầng,
Xưa nay không một vật,
Hà huống lập hai bên.
Giảng:
“Chân như vượt ba cõi,
Dơ sạch xưa nay không.”
Chân như vượt ba cõi: như đã phân tích ở đoạn trước, tự tánh thanh tịnh của mỗi người vốn siêu việt, vượt ra ngoài ba cõi. Chân như không hề bị trói buộc trong tam giới; nếu có sự trói buộc, đó chẳng qua là do chúng sanh tự mình trói buộc lấy mình mà thôi. Bản thể của chân như trùm khắp, không hề có sự ràng buộc nào. Vì vậy, xét về mặt bản thể, về tự tánh, thì nó hoàn toàn vượt thoát ba cõi.
Dơ sạch xưa nay không: Cái dơ và cái sạch thực chất chỉ là những khái niệm đối đãi được con người lập ra. Bản tánh của nó vốn rỗng lặng, không hề có khái niệm dơ hay sạch. Chính chúng ta là người tự đặt để, gán ghép vào cho nó những nhãn dán đó.
Ví dụ đối với con chó, phân không phải là thứ dơ bẩn; nhưng với con người, chúng ta định nghĩa phân là dơ. Ngược lại, chúng ta cho rằng nước hoa là sạch, là thơm, nhưng với con chó, nước hoa hoàn toàn vô nghĩa vì nó không thể sử dụng hay thụ hưởng được. Có thể những gì ta cho là dơ, với một số loài vật khác lại là món ăn ngon.
Từ đó có thể thấy, “dơ” hay “sạch” là do nghiệp thức của chúng sanh tự quy định, dựa trên những gì có lợi hoặc ưa thích cho bản thân mà thôi. Cái gì mang lại lợi ích và khoái lạc, ta gọi là “sạch”; cái gì không lợi ích, không ưa thích, ta gọi là “dơ”. Ví dụ, khi ta nằm trên tấm nệm êm ái và thấy thoải mái, ta cho đó là điều tốt. Nhưng nếu đặt con mối lên đó, thì đối với nó, tấm nệm kia lại trở thành thức ăn hoặc nơi cư ngụ. Như vậy, pháp chẳng dơ chẳng sạch, bản chất các pháp vốn rỗng lặng, “như thị”. Nhân duyên hòa hợp thì hiện ra như thế, nghiệp tập chúng sanh cảm chiêu thì hiện ra như thế.
Thậm chí, có những điều ta thấy ghê sợ, chẳng hạn như phân, nhưng với loài dòi bọ, đó lại là mỹ vị. Điều này cho thấy dơ hay sạch đều là do nghiệp của chúng sanh chiêu cảm mà thành. Hoặc như việc con người ăn thịt chúng sanh, chúng ta coi đó là chuyện bình thường trên bàn tiệc. Nhưng nếu Chư Thiên nhìn xuống, các Ngài sẽ thấy kinh sợ vì cho rằng chúng ta đang ăn xác chết của động vật. Các Ngài nhìn chúng ta giống như cách chúng ta nhìn con chó ăn phân vậy. Các Ngài vì lòng từ bi, bảo hộ chúng sanh nên mới phải hiện thân ở cõi này, chứ thực tình các Ngài rất sợ việc ăn uống đó.
Tóm lại, thông qua những ví dụ trên, chúng ta thấy rõ ràng dơ hay sạch chỉ là những quy ước do nghiệp tập của chúng sanh tạo ra. Bản chất các pháp xưa nay vẫn rỗng lặng, thanh tịnh, không hề dơ hay sạch. Tâm thanh tịnh của chúng ta cũng vậy, nó siêu việt, không bị trói buộc. Chỉ vì nghiệp tập và sự si mê của chúng sanh mà chúng ta tạo ra sự phân biệt, để rồi tự chuốc lấy khổ não.
“Đức Phật khởi phương tiện,
Thuyết tế cùng nói thô.”
Vì chúng ta quá chấp vào các pháp đối đãi, nên Đức Phật buộc phải dùng phương tiện để chỉ dạy, phân chia ra “thô” và “tế”. Thô và tế ở đây chính là nói về hai bên: thiện – ác, khổ – vui, thường – vô thường, tịnh – bất tịnh v.v… Ngài dùng phương tiện này trước hết để giúp chúng ta phá bỏ những cái sai lệch; khi đã phá được rồi, Ngài mới chỉ ra rằng cả hai bên đều rỗng lặng.
Ví dụ như khi Đức Phật dạy các tỳ-kheo quán bất tịnh, mục đích là để thấy thân này đầy những điều bất tịnh mà không quá luyến ái. Thế nhưng, nếu vị tỳ-kheo quá chấp vào đó đến mức sinh tâm chán ghét thân này, thậm chí muốn hủy hoại nó, thì Đức Phật lại dạy quán “Tịnh” trong cái bất tịnh. Thân này tuy bất tịnh, nhưng cái tánh thấy nghe v.v… của mình thì chẳng hề dơ chẳng hề sạch, thậm chí còn là thanh tịnh. Do đó, Đức Phật phải linh hoạt dùng phương tiện “dơ” và “sạch” để giúp chúng ta vượt qua khổ não. Cho đến khi căn cơ của hành giả chín muồi, Ngài mới tuyên thuyết chân lý rốt ráo: “Chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch”. Nếu bản thể còn có dơ có sạch, thì nó không thể trùm khắp. Chính nhờ trùm khắp nên nó mới biết được thế nào là dơ, thế nào là sạch.
Như với con người, vàng là quý; nhưng với con chó, vàng chẳng là gì cả. Cả hai quan điểm đều đúng theo nghiệp của mỗi loài, còn vàng thì vẫn chỉ là vàng, tự nó không nói nó quý hay tiện. Điều đó chứng tỏ các pháp xưa nay vốn rỗng lặng, không tự sinh tâm phân biệt. Chính chúng sanh tự gán ghép phân biệt rồi tự chuốc lấy khổ não. Đức Phật vì lòng từ bi, đành phải “nói hai bên” để chúng ta dễ nắm bắt. Nếu không nói thương – ghét, thiện – ác v.v…, chúng ta sẽ khó lòng hiểu được vấn đề.
Trong Kinh Lăng Nghiêm, khi Đức Phật hỏi Ngài A-nan lấy gì để thấy, A-nan cho rằng tâm suy nghĩ là mình. Đức Phật liền phủ nhận điều đó. A-nan bàng hoàng vì từ xưa đến nay, ông luôn lầm tưởng tâm suy nghĩ (vốn luôn thay đổi, khi thương khi ghét, khi sanh khi diệt v.v…) chính là mình. Nhưng làm sao cái sanh diệt lại có thể là chân tánh bất sanh bất diệt được? Vì vậy, Đức Phật đành phải dùng phương tiện để chỉ ra: đây là thiện, đây là ác, đây là vô thường, đây là khổ v.v… để chúng ta dễ tiếp nhận.
Như ví dụ người cha giàu có trong Kinh Pháp Hoa, vì muốn gần gũi đứa con đang còn mang tâm lý thấp hèn, ông đã phải từ bỏ tướng mạo Trưởng giả, khoác lên người bộ quần áo của người làm công để cùng làm nghề hốt phân với con. Đức Phật cũng vậy, vì chúng ta không dám nhận tánh thanh tịnh trùm khắp, mà chỉ quen chấp vào thiện – ác, thương – ghét v.v…, nên Ngài đành “hạ mình” xuống để nói những ngôn ngữ đối đãi đó. Ngài nói thương chúng sanh như con, hay nói chán ghét thân ngũ uẩn này như kẻ thù v.v…, cốt là để chuyển dần tâm ý chúng ta, dẫn dụ chúng ta đi từ thấp lên cao. Khi tâm ý đã thuần thục, không còn sợ hãi những điều cao quý, Ngài mới chỉ ra rằng: “Con và ta không khác”.
Trong điển tích “Niêm hoa vi tiếu”, khi Đức Phật đưa cành hoa lên, Ngài Ca Diếp mỉm cười. Nếu không có ông chủ (tự tánh) bên trong, thì thân ngũ uẩn sao có thể đưa hoa hay mỉm cười được? Ngài đã chỉ chỗ chân thật đó, nhưng trước hết vẫn phải nói “thô”, nói “tế” để chúng ta từng bước bước vào đạo. Nếu giảng cho người sơ cơ rằng vàng với phân là một, hay không có dơ sạch v.v…, họ sẽ sợ hãi mà chạy mất. Với họ, ta phải nói theo nghiệp của họ: vàng là quý, bố thí là tốt, ăn cắp là xấu v.v… Đó là phương tiện thiện xảo trong nhân quả.
Tóm lại, thiện ác tuy ở trong nhân quả, nhưng đó chỉ là những phương tiện tạm thời. Chân như thực sự thì trùm khắp, vượt qua mọi sự đối đãi. Vì vậy, câu “không dơ, không sạch” chính là để diễn tả cái bản thể chân thật ấy.
“Không giới, không pháp có,
Thị hiện rõ một vầng.”
Không giới, không pháp có: Đức Phật dạy rằng vạn pháp trong vũ trụ đều không ngoài 18 giới. Trên thân chúng sanh có 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Tùy vào phước báo của chúng sanh mà 6 căn này có sự khác biệt: cõi trời thì vi diệu hơn, cõi người ở mức trung bình, còn cõi súc sanh thì hạn chế hơn, nhưng tựu trung đều nằm trong 6 căn này. Bên ngoài có 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), và khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần thì sanh ra 6 thức phân biệt. Tổng cộng gọi là 18 giới.
18 giới này có thật không? Thân ngũ uẩn vốn không thật, vậy 6 căn trên thân ấy làm sao thật được? Cảnh giới bên ngoài do nhân duyên hòa hợp mà thành, vốn cũng không thật. Khi hai thứ không thật gặp nhau sanh ra sự phân biệt, thì sự phân biệt ấy cũng không thật. Vì vậy, “không” ở đây không phải là không có, mà là không thật có; nó chỉ tồn tại như một giấc mộng. Khi đang mơ, ta ngỡ là có, nhưng khi tỉnh dậy mới biết đó là hư dối. Các pháp hữu vi vốn mỏng manh, sanh rồi diệt, chỉ là tạm bợ.
Đức Phật thường dùng phương tiện “Huyễn” để hóa hiện các pháp. Ví dụ, Ngài hóa ra một thiếu nữ rồi làm cho cô gái ấy già đi và chết trong chốc lát để độ người. Nếu là chúng sanh thật thì không thể làm vậy được, nhưng vì là người hóa hiện bằng thần lực, không có ông chủ bên trong, nên Đức Phật mới làm chủ được sự sanh diệt của nó. Ngay cả thân ngũ uẩn của chúng ta, tuy không do huyễn thuật làm cho biến dịch, nhưng nó vẫn chịu sự chi phối của nhân duyên và thời gian mà thay đổi từ nhỏ đến lớn, từ già đến chết v.v… Đó chẳng phải là sự hư dối không thật hay sao? Trong khi đó, cái tự tánh chân thật bên trong – cái “biết thấy”, “biết nghe”… – thì từ nhỏ tới già vẫn như thế, không hề thay đổi, không hề mất đi.
Thị hiện rõ một vầng: Đó là lúc tự tánh thanh tịnh tự mình hiển lộ. Khi nhận ra cái biết đang hiện hữu rõ ràng ngay trước mắt – như mặt trăng, mặt trời chiếu sáng – ta sẽ thấy cái thân ngũ uẩn chỉ là công cụ để tánh ấy vận dụng.
Ngài Huệ Khả xin thầy (Sơ tổ) dạy cho pháp an tâm vì tâm trí cứ suy nghĩ lăng xăng, Tổ bảo hãy đem cái tâm suy nghĩ đó ra đây, Ngài sẽ an cho. Huệ Khả tìm không ra cái tâm đó, Tổ nói: “Ta đã an tâm cho ông rồi”. Ngài Huệ Khả liền tỉnh ngộ, không còn quan tâm, chạy theo những vọng tưởng lăng xăng nữa. Sau này, khi Ngài trình với Tổ rằng con đã bặt hết các duyên, Tổ sợ Ngài rơi vào chấp “không” (trở thành vô tình), Ngài liền thưa: “Con rõ ràng thường biết, làm sao rơi vào không được?”.
Đó chính là “thị hiện rõ một vầng”. Dù không còn khởi niệm phân biệt đẹp xấu, của ta – không phải của ta v.v…, nhưng mắt thấy sắc vẫn biết rõ là sắc, tai nghe tiếng vẫn biết rõ là tiếng v.v… Tánh giác ấy vẫn vận hành rạng rỡ, rõ ràng. Đó mới là sự thị hiện vô cùng thú vị và vi diệu của tự tánh mà mỗi hành giả cần trực nhận.
“Xưa nay không một vật,
Hà huống lập hai bên.”
Xưa nay không một vật: Như Lục Tổ nói: “Bản lai vô nhất vật” – xưa nay vốn chẳng có một vật nào. Tâm tánh thanh tịnh của chúng ta xưa nay vốn rỗng lặng, không chứa đựng bất cứ vật gì, cũng chẳng dính mắc vào bất cứ tướng nào. Nếu có một vật, ta mới có thể nói nó bị dính bụi; đằng này xưa nay không một vật, thì lấy cái gì để dính? Tâm ta cũng như hư không, trùm khắp tất cả các pháp nhưng tự nó không là bất cứ vật gì, làm sao có thể bị bụi trần hay sự đối đãi làm vấy bẩn?
Vì lẽ đó, việc chúng ta lập ra “hai bên” (như dơ – sạch, thiện – ác v.v…) thực chất chỉ là lập trên các pháp sanh diệt, chứ không thể nào lập trên tánh thấy, tánh nghe v.v… hay nói cách khác là không thể nào lập trên bản tâm mình. Chúng ta muốn lập cũng không được, muốn bắt trói cũng không xong. Chẳng hạn, dù ta chỉ muốn nhìn sắc đẹp, hay chỉ muốn ngửi mùi thơm v.v…, nhưng khi có sắc xấu hay mùi hôi v.v… xuất hiện, tánh thấy và tánh ngửi vẫn cứ hoạt động một cách bình đẳng, khách quan. Pháp vốn là như vậy, nó không vì ý thích của ta mà thay đổi, cũng không bị sự đối đãi của ta chi phối.
Do đó, muốn lập hai bên trên cái thể tánh trùm khắp ấy là điều bất khả thi. Tâm thanh tịnh không dơ không sạch, không sanh không diệt, không tăng không giảm v.v… Việc ta lập ra hai bên chỉ là giới hạn trên pháp tướng, hoàn toàn không dính dáng gì tới chân tâm.
Người hành giả cần thấu hiểu điều này: Nhờ có tự tánh chiếu soi, ta mới biết được các pháp đang đối đãi hai bên, chứ bản thân ta không hề biến thành hai bên đó. Biết thiện biết ác, nhưng không vì thiện mà đắm, không vì ác mà sợ, cũng không bị chúng dẫn dắt – đó mới thực sự là vị “Chủ nhân ông” làm chủ được chính mình. Những ai còn để tâm chạy theo sự hơn thua, phải quấy v.v… của các pháp đối đãi, ấy là vì chưa chịu nhận ra quyền làm chủ của tự tánh, để cho những “đầy tớ” vọng tưởng điều khiển.
Tóm lại, tự tánh của chúng ta xưa nay không một vật, mà lại hiện hữu rõ ràng, trùm khắp như vầng trăng, vầng mặt trời chiếu sáng. Đó chính là ý nghĩa rốt ráo của “Bất cấu bất tịnh”.