Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

4.Tổ Ưu Ba Cúc Đa (Cuối thế kỷ thứ I sau Phật Niết-bàn)



Upagupta

Ngài dòng Thủ-đà-la ở nước Tra-lợi, cha tên Thiện Ý. Trước khi sanh ngài, thân phụ nằm mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà. Thuở bé, ngài mặt mũi khôi ngô, tánh tình thuần hậu, trí tuệ minh mẫn. 

Khoảng mười hai tuổi, ngài được gặp tổ Thương-na-hòa-tu đến tận nhà và dạy cho ngài phương pháp buộc niệm. Nghĩa là mỗi khi khởi nghĩ ác liền bỏ một hòn sỏi đen vào hũ, khi nào khởi nghĩ lành liền bỏ một hòn sỏi trắng vào hũ. Mỗi tháng đem ra xem xét coi đen nhiều hay trắng nhiều; nếu đen nhiều phải cố gắng sửa đổi. Ngài vâng làm như vậy, ban đầu sỏi đen nhiều, dần dần bằng nhau và sau này trắng nhiều.

Ngài Ưu-ba-cúc-đa lúc còn nhỏ mới mười hai tuổi mà ham tu, gặp tổ Thương-na-hòa-tu dạy điều phục tâm bằng cách bỏ sỏi trong hũ. Tổ dạy khi khởi ý nghĩ xấu lượm hòn sỏi đen bỏ vô hũ, khởi ý nghĩ tốt lượm hòn sỏi trắng bỏ vô hũ. Thỉnh thoảng đổ hai cái hũ ra xem hòn đen nhiều hay hòn trắng nhiều. Ban đầu sỏi đen nhiều, trắng ít, về sau trắng nhiều đen ít. Chừng nào đổ hai hũ ra không có sỏi đen mà hoàn toàn sỏi trắng là tốt. Đây là lối tu kiểm soát nghiệp ác để tăng trưởng nghiệp lành.

Năm mười bảy tuổi, ngài xin tổ Thương-na- hòa-tu xuất gia. Tổ hỏi: 

– Ngươi được bao nhiêu tuổi? 

Ngài thưa: 

– Bạch Thầy, con được mười bảy tuổi. 

Thân ngươi mười bảy tuổi hay tánh ngươi mười bảy tuổi? 

Ngài hỏi lại: 

– Đầu Thầy tóc bạc, vậy tóc Thầy bạc hay tâm Thầy bạc? 

Tổ bảo: 

 Tóc ta bạc không phải tâm ta bạc. 

Con cũng thế, thân con được mười bảy tuổi, không phải tánh con mười bảy tuổi. 

Tổ bèn hoan hỷ nhận cho xuất gia làm thị giả. 

Đây là đoạn đối thoại giữa hai thầy trò. Ngài xin tổ Thương-na-hòa-tu xuất gia, Tổ hỏi: Ngươi được bao nhiêu tuổi? Ngài thưa: Bạch Thầy, con được mười bảy tuổi. Trả lời rất thật thà!

Tổ hỏi: Thân ngươi mười bảy tuổi hay tánh người mười bảy tuổi? Nếu học trò bây giờ thì ấp úng không trả lời được. Nhưng ngài liền hỏi trở lại: Đầu Thầy tóc bạc, vậy tóc Thầy bạc hay tâm Thầy bạc? 

 Tổ bảo: Tóc ta bạc không phải tâm ta bạc.

Ngài vin vào câu đáp của Tổ để trả lời:

Con cũng thế, thân con được mười bảy tuổi, không phải tánh con mười bảy tuổi.

Ngài trả lời như thế là ngay nơi thân sanh diệt nhận ra được cái bất sanh bất diệt. Thân có sanh diệt mà tánh ngài không sanh diệt. Từ khi còn nhỏ một hai tuổi đến mười bảy mười tám tuổi, rồi tới sáu bảy mươi tuổi là thân theo thời gian mà thay đổi sanh diệt. Nhưng thể tánh thì không sanh diệt. Nghe ngài nói như vậy Tổ hoan hỷ chấp nhận cho xuất gia làm đệ tử.

Đến hai mươi tuổi, ngài thọ giới Cụ túc và ngộ đạo. Tổ bảo: 

– Xưa đức Thế Tôn đem Chánh pháp Vô thượng truyền cho tổ Ca-diếp. Tổ Ca-diếp truyền lại cho Thầy của Thầy ta là đức A-nan, Thầy ta truyền cho ta và nay ta truyền lại cho ngươi Chánh pháp này. Ngươi cố gắng hộ trì đừng để đoạn dứt. Hãy nghe bài kệ đây: 

Phi pháp diệc phi tâm, 

Vô tâm diệc vô pháp.

Thuyết thị tâm pháp thời, 

Thị pháp phi tâm pháp. 

Dịch: 

Phi pháp cũng phi tâm, 

Không tâm cũng không pháp. 

Khi nói tâm pháp ấy, 

Pháp ấy phi tâm pháp.

Sau khi ngài thọ giới Cụ túc, Tổ truyền tâm pháp qua bài kệ:

Phi pháp cũng phi tâm,

Không tâm cũng không pháp. 

Khi nói tâm pháp ấy, 

Pháp ấy phi tâm pháp.

Chữ pháp là chỉ cho tâm. Tâm không phải vật cũng không phải vọng tưởng. Khi nói tâm pháp là chỉ cho tâm thể. Tâm thể này bất sanh bất diệt, nó không phải là tâm, cũng không phải là pháp. Tại sao nói tâm rồi phi tâm, pháp rồi phi pháp? Bởi vì chúng ta dùng ngôn từ nói tâm nói pháp cũng là khái niệm đặt ra. Thể chân tâm hằng tri hằng giác bất sanh bất diệt không có tên. Nếu có tên cũng là tạm đặt thôi, do đó nói phi tâm phi pháp, cũng là tâm là pháp, nói tới nói lui vậy thôi.

Khi ngài đến nước Ma-đột-la, cảm hóa rất đông dân chúng quy hướng Phật pháp, có nhiều người đã chứng đạo quả. Có những khi ngài thuyết pháp, chư thiên rải hoa, quả đất rúng động, khiến cung ma cũng bị chấn động. Vua ma Ba-tuần sợ e Phật giáo thạnh hành thì bè đảng của chúng bị tiêu diệt, nên quyết dùng hết thần lực phá hoại Phật pháp. Ma bèn hiện các ngọc nữ đến làm nhiễu loạn tâm thính chúng. Ngài bèn nhập định để quán sát nguyên do. Được cơ hội thuận tiện, Ma đem vòng chuỗi anh lạc quàng vào cổ ngài. Xuất định, ngài dùng thần lực biến ba thây chết (người, chó, rắn) thành một tràng hoa đẹp. Ngài dùng lời dịu ngọt bảo Ma: 

– Ngươi sẵn lòng tốt đem chuỗi anh lạc rất quý tặng ta, giờ ta biếu lại ngươi tràng hoa đẹp này, gọi là thù tạc nhau. 

Vua ma nghe rất mừng, đưa cổ nhận tràng hoa. Tràng hoa tròng vào cổ giây lát hóa thành thây thúi, giòi tửa ghê tởm. Vua ma kinh sợ gớm chán. Muốn cởi ra mà cởi không được, dùng hết thần lực cũng không cởi nổi. Túng thế, vua ma lên cõi trời Dục cầu cứu với vua Trời, rốt cuộc không kết quả. Lần lượt vua ma cầu cứu đến các trời cõi Phạm. Vua các trời đều bảo: 

– Pháp ấy là do đệ tử Phật biến hóa ra, chúng ta còn phàm lậu làm sao trừ được! 

Vua ma nghe phán như vậy lại hỏi: 

– Thế thì làm thế nào gỡ ra? 

Vua trời nói kệ: 

Nhược nhân địa đảo, 

Hoàn nhân địa khởi. 

Ly địa cầu khởi, 

Chung vô kỳ lý. 

Dịch: 

Nếu nhân đất ngã, 

Phải nhờ đất dậy. 

Lìa đất muốn dậy, 

Trọn không lý ấy. 

Vua ma nhận lời dạy, rời khỏi cung Trời, trở về chỗ ngài Ưu-ba-cúc-đa chí thành lễ tạ sám hối. Ngài bảo: 

Thánh trước dạy ta hàng phục ngươi. Tuy vậy, nếu ngươi biết cải thiện là được thờ phụng Phật, khỏi sa vào đường dữ. 

Vua ma nghe dạy vui vẻ thưa: 

 Tôn giả vì con làm lợi ích lớn. Cúi xin Tôn giả cởi vòng thây thúi giùm con. 

– Vậy ngươi phải quỳ gối chắp tay tự xướng ba lần quy y Tam bảo đi. 

Vua ma quỳ gối chắp tay xướng ba lần quy y Tam bảo xong, thì vòng thây thúi biến mất. Vua ma vui mừng nhảy nhót đảnh lễ ngài nói kệ: 

Khể thủ tam-muội tôn,

Thập lực đại từ túc. 

Ngã kim nguyện hồi hướng, 

Vật linh hữu liệt nhược. 

Dịch: 

Cúi lạy bậc chánh định, 

Đủ mười lực đại từ.

Nay con xin hồi hướng, 

Chớ còn tánh yếu hèn. 

Sau khi quy y Tam bảo xong, ngài bảo vua ma: 

– Xưa ngươi thường thấy Như Lai, giờ đây hiện thử cho ta xem. 

Vua ma thưa: 

 Hiện việc xưa không khó, chỉ xin Tôn giả trông thấy đừng đảnh lễ. 

Vua ma liền vào rừng ẩn mất. Chốc lát bỗng thấy Phật từ mé rừng đi ra oai nghi nghiêm chỉnh, đi sau là đoàn Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị. Ngài vừa trông thấy, bất giác cúi mình đảnh lễ. Ma hoảng kinh biến mất. 

Khi ngài hóa đạo thịnh hành nên nhiều người phát tâm tu theo, ma vương sợ cung điện bị hủy hoại nó tìm cách phá ngài. Ngài đang giảng pháp cho đại chúng, nó bèn hiện ngọc nữ tới nhiễu loạn làm tâm đại chúng xao lãng. Ngài nhập định tìm lý do. Thấy ngài nhập định, Ma đem vòng chuỗi anh lạc tròng vô cổ. Ngài xuất định dùng thần lực biến thây chết thành tràng hoa đẹp tròng vào cổ vua ma, tặng lại nó. Biết xâu chuỗi là thây ma, nó hoảng hốt chạy lên các cõi trời cầu cứu. Vua trời bảo pháp đó là do đệ tử Phật biến hóa ra, chúng ta còn phàm lậu không trừ được. Vua ma hỏi thế thì làm sao gỡ ra? Vua trời mới nói kệ:

Nếu nhân đất ngã,

Phải nhờ đất dậy.

Lìa đất muốn dậy,

Trọn không lý ấy.

Hôm nào trời mưa trơn trượt, đi sảy chân té. Khi té rồi thì chỏi đất đứng dậy; yêu cầu người khác cứu thì không thể được. Cũng thế, cái gì làm cho mình khổ thì phải từ cái đó gỡ ra. Chúng ta biết rõ do tham sân si làm cho mình khổ, bỏ tham sân si đi thì hết khổ. Nếu cầu thần thánh bỏ giùm để hết khổ thì không đúng. Khi té xuống đất thì từ đất gượng đứng dậy chứ kêu trời đất cứu thì không thể được, đó là lẽ thật.

Nghe vua trời nói kệ, vua ma cho là chí lý liền trở về chỗ ngài Ưu-ba-cúc-đa chí thành lễ tạ sám hối, xin quy y với Tổ. Ngài biết ma Ba-tuần tuổi thọ cả mấy triệu năm, nó sống thời đức Phật nên biết rành rõ sinh hoạt của đức Phật và tăng đoàn. Ngài liền nói: Xưa ngươi thấy Như Lai, giờ đây hiện thử hình ảnh Như Lai và đồ đệ thuở xưa cho ta xem. Vua ma trả lời: Con hiện việc xưa thì được, nhưng xin Tôn giả thấy đừng đảnh lễ, nếu đảnh lễ thì con tổn đức. Là một vị đắc đạo đã được vua ma dặn trước như vậy, nhưng khi ma hiện đức Phật đi trước nghiêm chỉnh, đoàn Tỳ-kheo đi sau vàng rực, ngài liền chắp tay đảnh lễ. Ma hoảng kinh biến mất.

Qua câu chuyện này để cho chúng ta biết rõ, trong khi tu nếu mong cầu thấy Phật, thấy tướng lạ thì dễ bị ma gạt. Một vị Tổ đã đắc đạo, mà khi ma hiện Phật thấy còn quên thay, huống nữa chúng ta còn phàm phu lòng khát khao muốn thấy Phật. Nhiều khi ma giả Phật, chúng ta không đủ lý trí nhận định thì dễ bị lừa, đó cũng là lý do làm cho người tu phát điên. Vì vậy trong nhà Thiền không chấp nhận một hình ảnh nào trong lúc đang tu, dù là hình ảnh Phật Bồ-tát hay hình ảnh ma.

Chúng ta cần phải xét kỹ, không bao giờ để tâm vọng tưởng mong cầu thấy Phật hay những tướng lạ bên ngoài, mà chỉ dẹp vọng tưởng là điều chính yếu. Hiểu như vậy thì trên đường tu hành không bị lầm lẫn.

Lúc hóa đạo, mỗi khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật pháp, ngài để vào thất đá một thẻ tre. Ngôi thất ấy bề dài mười tám thước tay, bề ngang mười hai thước tay. Thế mà một thời gian thẻ tre đầy ắp cả thất. 

Sau cùng, ngài độ ông Hương Chúng con một vị trưởng giả và truyền Chánh pháp lại cho ông này. Nhân thân phụ ông Hương Chúng mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà, nên ngài đổi hiệu là Đề-đa-ca. 

Có người kế thừa và nhân duyên hóa đạo đã xong, ngài từ biệt đại chúng, ngồi kiết già thị tịch. Đề-đa-ca và môn đệ mở cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu thiêu ngài. Thiêu xong, lượm xá-lợi xây tháp cúng dường. 

Khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật pháp, ngài để vào thất đá một thẻ tre. Ngôi thất ấy bề dài mười tám thước tay, bề ngang mười hai thước tay. Nhưng một thời gian thẻ tre đầy cả thất. Người sau cùng ngài độ là ông Hương Chúng và truyền chánh pháp lại cho vị này. Có người kế thừa và nhân duyên giáo hóa đã xong, ngài từ biệt đại chúng, ngồi kiết già thị tịch. Môn đệ mở cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu để thiêu ngài. Thiêu xong lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.

Đây là vị Tổ hết sức đặc biệt đã giáo hóa được vua ma.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.