Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

31. Tứ Tổ Đạo Tín (580 - 651) 



Sư họ Tư Mã, tổ tiên quê ở Hà Nội, thân phụ Sư dời về Kỳ Châu huyện Quảng Tế, mới sanh Sư. 

Sư xuất gia khi còn để chóp. Tuy tuổi ấu thơ, mà Sư có ý chí siêu việt, ngưỡng mộ Không tông và các môn giải thoát. 

Năm mười bốn tuổi là một Sa-di, Sư gặp tổ Tăng Xán cầu xin pháp môn giải thoát, được Tổ khai ngộ cho. Sư theo hầu Tổ suốt chín năm, mới được truyền pháp. Sau khi được pháp, Sư một bề tinh tấn trọn ngày đêm không nằm. 

Niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười ba (617 TL) đời Tùy, Sư thống lãnh đồ chúng sang Kiết Châu. Đến đây bị bọn giặc Tào Võ Vệ vây thành suốt bảy tuần. Dân chúng trong thành kinh hoàng. Sư dạy họ chí tâm niệm Ma-ha Bát-nhã. Toàn dân trong thành đều thành kính tụng niệm. Quả nhiên bọn giặc nhìn trên thành có thần binh trùng điệp, chúng sợ hãi rút quân. 

Niên hiệu Võ Đức thứ hai (619 TL) đời Đường, Sư sang đất Loa Xuyên. Ở đây, Sư giáo hóa ngót bảy năm. 

Sau Sư trở về an trụ tại Kỳ Xuân trên núi Phá Đầu. Ở đây, tăng chúng bốn phương đua nhau tìm đến tham vấn rất đông. 

Đây là vị Tổ thứ tư của Trung Hoa, ngài có những điểm đặc biệt: Thứ nhất, ngài mới mười bốn tuổi, xuất gia làm Sa-di gặp tổ Tăng Xán, được Tổ khai thị liền ngộ đạo. Thứ hai, ngài ngộ đạo rồi mà ngày đêm vẫn tinh tấn tọa thiền, chứ không nằm nghỉ.

Ngài ngộ từ năm mười bốn tuổi, vì tuổi còn nhỏ nên ngài theo hầu tổ Tăng Xán tới chín năm mới được truyền pháp. Sau khi được truyền pháp, ngài một bề tinh tấn trọn ngày đêm không nằm. Người xưa ý chí phi thường, là tấm gương sáng xứng đáng cho chúng ta kính lễ noi theo. Ngày nay có người nói thiền nói đạo hay lắm, nhưng cứ uống trà nói dóc không chịu cố gắng tu. Thấy những điều đó chúng ta phải dè dặt không nên bắt chước.

Đến cuối đời Tùy, ngài thống lãnh đồ chúng sang Kiết Châu để hoằng hóa, bị bọn giặc Tào Võ Vệ vây hãm thành suốt bảy tuần. Dân chúng trong thành hoảng sợ. Ngài khuyên dân chúng tụng Ma-ha Bát-nhã, bọn giặc nhìn lên trên thành thấy có thần binh trùng điệp, chúng sợ hãi rút quân, dân chúng khỏi tai họa. Sau đó ngài sang đất Loa Xuyên giáo hóa bảy năm, rồi trở về an trụ tại Kỳ Xuân trên núi Phá Đầu. Tăng chúng bốn phương đua nhau tìm đến tham vấn rất đông.

Đời Đường niên hiệu Trinh Quán thứ tư (630 TL), Sư đang ở trên núi Phá Đầu nhìn xem khí tượng, biết trên núi Ngưu Đầu có bậc dị nhân. Sư đích thân tìm đến núi này, vào chùa U Thê hỏi thăm những vị tăng rằng: 

– Ở đây có đạo nhân chăng? 

Có vị tăng đáp: 

– Phàm là người xuất gia ai chẳng phải đạo nhân? 

Sự hỏi: 

– Cái gì là đạo nhân? 

Tăng im lặng không đáp được. Có vị tăng khác thưa: 

 Cách đây chừng mười dặm bên kia núi, có một vị sư tên Pháp Dung, lười biếng đến thấy người chẳng đứng dậy chào cũng không chắp tay, phải là đạo nhân chăng? 

Sư liền trèo núi tìm đến thấy Pháp Dung đang ngồi thiền trên tảng đá, dường như chẳng để ý đến ai. 

Người đem hết tâm lực lo tu hành, không có thời giờ rảnh để chào hỏi ai, lại bị thiên hạ kết tội là lười biếng. Nhưng đối với Tổ thì biết đó là bậc pháp khí, nên liền trèo núi tìm đến. Thấy Pháp Dung đang ngồi thiền trên tảng đá, dường như chẳng để ý đến ai.

Ngày nay chúng ta cũng có bệnh như thế, nếu tới chùa được thầy trụ trì niềm nở rót nước trà mời uống, nói chuyện đủ thứ thì nói thầy đó tốt. Nếu tới chùa thấy thầy ngồi tu không thèm ngó ngàng gì tới mình thì nói thầy đó không biết điều, kém xã giao. Chúng ta đến chùa học đạo mà gặp người chuyên tu là việc đáng mừng, nếu gặp người tiếp khách giỏi thì giỏi về xã giao, chứ không giỏi về tu hành thì chúng ta học hỏi được gì? Cho nên phải nhìn cho chính xác, không nên nhìn theo tình cảm, ai tiếp đón niềm nở thì cho người đó là tốt, ai lơ là chỉ lo tu thì nói người đó không biết điều, đó là cái nhìn sai lầm.

Sư hỏi: 

– Ở đây làm gì? 

Pháp Dung đáp: 

– Quán tâm. 

– Quán là người nào, tâm là vật gì? 

Pháp Dung không đáp được, bèn đứng dậy làm lễ, thưa: 

– Đại đức an trụ nơi nào? 

Sư đáp: 

Bần tăng không có chỗ ở nhất định, hoặc đông hoặc tây. 

Tâm là tâm của mình, mà nói quán tâm vậy ai quán? Nếu mình dùng tâm quán tâm là hai cái tâm. Cho nên Tổ đặt câu hỏi: Quán là người nào, tâm là vật gì? Pháp Dung không đáp được. Khi Tổ mới đến Pháp Dung xem thường, cứ ngồi nói chuyện không đứng dậy làm lễ, sau khi nghe Tổ hỏi câu trên, mới đứng dậy làm lễ thưa hỏi.

– Ngài biết thiền sư Đạo Tín chăng? 

– Vì sao hỏi ông ấy? 

– Vì nghe danh đức đã lâu, khao khát muốn đến lễ yết. 

– Thiền sư Đạo Tín là bần đạo đây. 

– Vì sao Ngài quang lâm đến đây? 

– Vì tìm đến thăm hỏi ngươi, lại có chỗ nào nghỉ ngơi chăng? 

Pháp Dung chỉ phía sau thưa: 

– Riêng có cái am nhỏ. 

Pháp Dung liền dẫn Sư đến am. Chung quanh am toàn loài cọp sói nằm đứng lăng xăng, Sư giơ hai tay lên làm thế sợ. Pháp Dung hỏi: 

– Ngài vẫn còn cái đó sao? 

Sự hỏi: 

– Cái đó là cái gì? 

Pháp Dung không đáp được. Giây lát, Sư lại phiến đá của Pháp Dung ngồi vẽ một chữ “Phật”. Pháp Dung nhìn thấy giật mình. 

Sư bảo: 

– Vẫn còn cái đó sao? 

Pháp Dung không hiểu, bèn đảnh lễ cầu xin Sư chỉ dạy chỗ chân yếu. 

Pháp Dung dẫn Tổ về am, chung quanh toàn loài cọp sói, nằm đứng lăng xăng. Tổ thấy vậy liền đưa hai tay lên như hoảng sợ. Pháp Dung hỏi: Ngài vẫn còn cái đó sao? Ý muốn nói hoảng sợ là còn chấp ngã. Cái đó là cái chấp ngã vậy. Tổ liền hỏi: Cái đó là cái gì? Pháp Dung không đáp được. Giây lát Tổ đến phiến đá của Pháp Dung ngồi vẽ một chữ Phật, Pháp Dung nhìn thấy giật mình. Tổ bảo: Vẫn còn cái đó sao? 

Thấy cọp sói hoảng lên và thấy vẽ chữ Phật chỗ mình ngồi hoảng lên, cái nào hợp lý? Nghĩa là tổ Đạo Tín nhìn thấy cọp sói đưa hai tay lên như hoảng sợ, thì Pháp Dung nghĩ rằng ngài còn chấp ngã nên sợ. Nhưng khi Tổ tới chỗ ông ngồi vẽ một chữ Phật to tướng, ông liền hoảng lên là tại sao? Vì sợ tội. Như vậy cọp sói là tai họa cụ thể, còn chữ Phật là tai họa linh thiêng phải không? Nhưng chữ Phật là do phấn vẽ thành, không thật mà hoảng sợ, như vậy ai chấp ngã nặng hơn? Cho nên khi Tổ hỏi vẫn còn cái đó sao thì Pháp Dung không hiểu, nên không đáp được, bèn xin Tổ chỉ dạy chỗ chân yếu. 

Sư bảo: 

– Phàm trăm ngàn pháp môn đồng về một tấc vuông. Diệu đức như hà sa thảy ở nơi nguồn tâm. Tất cả môn giới định tuệ, thần thông biến hóa, thảy đều đầy đủ nơi tâm ngươi. Tất cả phiền não xưa nay đều không lặng. Tất cả nhân quả đều như mộng huyễn, không có tam giới có thể ra, không có Bồ-đề có thể cầu. Người cùng phi nhân tánh tướng bình đẳng. Đại đạo thênh thang rộng lớn bặt suy dứt nghĩ. Pháp như thế, nay ngươi đã được không thiếu khuyết, cùng Phật không khác, lại không có pháp gì lạ. 

Tấc vuông là chỉ trái tim của mình, ngày xưa một tấc chỉ bằng bốn phân bây giờ. Ý muốn nói tất cả pháp môn từ nơi tâm, muôn ngàn diệu đức cũng ở nơi tâm mà ra. Tổ chỉ thẳng tâm là gốc của muôn đức, tâm là nguồn của tất cả pháp, tất cả môn giới định tuệ, thần thông biến hóa, thảy đều đầy đủ nơi tâm.

Chúng ta có thấy điểm trọng yếu của tâm chưa? Không gì ngoài tâm mình mà có, nó đầy đủ diệu dụng muôn đức; bởi vì chúng ta chạy theo phiền não tham sân si, nên mất hết tất cả những công đức nhiệm mầu đó. Nếu chịu khó buông bỏ những phiền não thì sẽ đầy đủ công đức.

Chỉ tâm ngươi tự tại, chớ khởi quán hạnh, cũng chớ lóng tâm, chớ khởi tham sân, chớ ôm lòng lo buồn, rỗng rang không ngại, mặc tình tung hoành, chẳng làm các việc thiện, chẳng làm các việc ác, đi đứng ngồi nằm, mắt thấy gặp duyên thảy đều là diệu dụng của Phật. Vì vui vẻ không lo buồn nên gọi là Phật. 

Ai vui vẻ không lo buồn đó là Phật tại tiền. Nếu lo buồn dù lạy Phật bao nhiêu cũng không thấy Phật. Ở đây Tổ chỉ tột cái gốc cho chúng ta tu hành, chỉ tâm ngươi tự tại, chớ khởi quán hạnh. Chỉ cần tâm tự tại, không dính mắc các duyên thì khỏi quán hạnh.

Lục Tổ nói: Phật dạy tất cả pháp để trị tất cả tâm, ta không có tất cả tâm, thì đâu cần tất cả pháp. Như chúng ta có bệnh nóng giận, nên Phật dạy phải khởi quán từ bi để trị bệnh nóng giận, nếu bây giờ không nóng giận thì không cần quán từ bi. Như vậy bao nhiêu pháp của Phật dạy là để trị bệnh của chúng sanh, nếu không bệnh thì không cần trị, chỉ cần không ôm lòng giận ghét thù oán ai, nếu có buồn giận ai phải buông bỏ hết, thì khỏi quán gì cả, đó là chỗ thảnh thơi nhất.

Ở đây ngài dạy, cũng chớ lóng tâm. Lóng tâm là kìm, nếu tâm yên ổn không phiền giận, không suy nghĩ tính toán thì kìm làm chi. Chớ khởi tham sân, chớ ôm lòng lo buồn thì sẽ được rỗng rang không ngại, mặc tình tung hoành. Điều này chúng ta nghe qua thì dễ nhưng làm thì rất khó! Tại sao? Bởi có tham sân là từ chấp thân mà ra. Nhưng xét lại xem, tham sân do mình mà ra, đâu phải ở trên trời rớt xuống hay ai đó áp đặt bắt mình phải tham sân. Bây giờ Phật dạy nếu biết tham sân là không tốt, thì bỏ đi khỏe ru chứ gì, tại sao nói khó? Vì bám vào thân này chấp là mình, nên tham muốn đủ thứ, tham không được thì nổi sân. Nếu đừng cho thân này là quan trọng thì sẽ bớt tham sân.

Như người có lòng lương thiện, thương người thương vật, tu hành đàng hoàng mà có ai nói là tu giả dối lừa gạt người ta, nghe như vậy buồn liền. Nhưng buồn làm chi vì họ không biết nên nói bậy có gì đâu mà buồn, nếu thật tu thì tự mình biết rõ hơn hết, còn người khác không biết họ chê khen gì cũng mặc kệ, miễn mình không giả tu là được rồi. Tu như vậy mới là thứ thiệt, nếu bị người ta chê mà chán nản bực bội thì không phải.

Chẳng làm các việc thiện, chẳng làm các việc ác. Nghe câu này chúng ta dễ nghi quá, vì quý thầy thường dạy Phật tử bỏ ác làm thiện, nhưng tại sao ở đây Tổ lại nói chẳng làm thiện chẳng làm ác? Bởi vì chúng ta còn nghĩ ác nhiều, nên quý thầy khuyên làm thiện để giảm bớt nghiệp ác. Khi chúng ta thuần thục làm thiện rồi thì khỏi khuyên làm thiện.

Ví dụ thấy người già cả bị vấp té, chúng ta không nghĩ suy gì hết tự nhiên chạy lại đỡ, không phải đợi nghĩ thiện mới giúp đỡ mà có sẵn ở trong lòng mình. Nhà Phật gọi là vô duyên từ, lòng từ bi không duyên cớ, thấy người khổ thì giúp liền, đó là do trong lòng chúng ta đã thuần thiện nên khi gặp duyên tự nó hiện ra. Nếu còn cố gắng làm thiện thì còn kẹt ở hai bên. Thứ nhất vì mình còn ác cho nên cố gắng làm thiện, đó là còn trong giới hạn. Thứ hai làm thiện cho có phước để về sau hưởng sung sướng, đó là làm thiện vì bản ngã.

Nếu thật tình tâm chúng ta không chấp thiện không làm ác thì khi gặp duyên thảy đều là diệu dụng của Phật. Nghĩa là khi không có niệm ghét thương oán hờn, đối duyên xúc cảnh đều từ bị giống như Phật. Phật từ bi cho nên gặp ai khổ cũng sẵn sàng cứu giúp không phân biệt người nào. Còn chúng ta bởi có thương ghét nên người thương thì giúp, người ghét thì bỏ. Dù họ có bị ai ăn hiếp đánh đập mình cũng làm lơ, không tội nghiệp không cứu giúp. Chúng ta muốn giống Phật thì ráng làm điều đó, cả ngày không buồn giận thương ghét, tâm thản nhiên tự tại, là giống Phật rồi, đó mới thật là con của Phật.

Pháp Dung thưa: 

– Tâm đã đầy đủ, cái gì là Phật, cái gì là tâm? 

Sư đáp: 

 Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, hỏi Phật thì chính là tâm. 

Pháp Dung thưa: 

– Đã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm làm sao đối trị? 

Sư đáp: 

– Cảnh duyên không có tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm, nếu tâm chẳng theo danh (tên), vọng tình từ đâu khởi? Vọng tình đã chẳng khởi, chân tâm mặc tình biết khắp. Ngươi chỉ tùy tâm tự tại, chẳng cầu đối trị, tức gọi là Pháp thân thường trụ, không có đổi thay. Ta thọ pháp môn đốn giáo của tổ Tăng Xán, nay trao lại cho ngươi. Nay ngươi nhận kỹ lời ta, chỉ ở núi này sau có năm vị đại nhân đến nối tiếp giáo hóa. 

Ngài Pháp Dung chưa nhận ra lý tức tâm tức Phật, nên mới hỏi: Tâm đã đầy đủ, cái gì là Phật, cái gì là tâm? Tổ đáp: Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, hỏi Phật thì chính là tâm. Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, nghĩa là ông hỏi đó chính là tâm ông, nếu không có tâm thì cái gì biết hỏi. Khi hỏi Phật chính là tâm, ngay đó chứ không có đâu xa.

Pháp Dung thưa: Đã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm làm sao đối trị? Câu hỏi này gần với chúng ta. Tổ dạy: Cảnh duyên không tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm, nếu tâm chẳng theo danh để phân biệt thì vọng tình từ đâu mà khởi. Ví dụ tâm mình duyên theo người A, người B rồi phân biệt người A tốt, người B xấu. Tại tâm phân biệt cho nên cảnh mới thành sai khác, nếu tâm không chấp vào danh để phân biệt thì vọng tình từ đâu mà khởi.

Vọng tình không khởi thì cái biết khắp đó là cái biết của chân tâm. Chỉ tùy tâm tự tại chẳng cần đối trị. Không phân biệt là đủ rồi đối trị làm gì! Tâm tự tại như như đó là pháp thân thường trụ, không bao giờ đổi thay.

Tổ dạy, nhận hiểu được pháp rồi y đó mà tu, về sau sẽ có năm vị đại nhân đến để tiếp nối giáo hóa.

Phái thiền Ngưu Đầu phát xuất từ đây.

Trong sử có ghi lại, trước lúc ngài Pháp Dung gặp Tứ tổ Đạo Tín, ngài ngồi thiền được chim hái trái bẻ hoa đến cúng dường, nhưng sau khi lãnh thọ pháp nơi Tổ rồi, chim không còn đến cúng dường nữa. Đây là điều nghi vấn của người sau. Tại sao hiểu pháp tu thì chim không cúng dường nữa, có phải ngài tu hành lui sụt không? Bởi vì trước kia ngài còn quán tâm, nên chim thấy được tâm ngài mà cảm mến cúng dường. Bây giờ ngài đã tự tại, không còn thấy có năng sở, vì thế chim không thấy tâm ngài đâu để cúng dường nữa. Đó là chỗ sâu xa đáo để của người tu. Cho nên khi chúng ta tu, dù được một hai điều linh nghiệm bên ngoài, cũng không lấy đó làm hãnh diện cho là mình tu khá. Bởi vì đó vẫn chưa phải là chỗ cứu cánh.

Một hôm Sư đến huyện Hoàng Mai, giữa đường gặp một đứa bé dáng vẻ khôi ngô, độ chừng bảy tuổi. Sư để tâm nơi đứa bé, bèn hỏi: 

– Ngươi họ gì? 

Đứa bé đáp: 

– Họ thì có, mà không phải họ thường. 

 Là họ gì? 

– Là họ Phật. 

– Ngươi không họ à? 

– Vì họ ấy là không. 

Sư nhìn những người thị tùng bảo: 

– Đứa bé này không phải hạng phàm, sau này sẽ làm Phật pháp hưng thịnh. 

Sư cùng thị tùng tìm đến nhà đứa bé, thuật những lời đối đáp lạ thường của nó và xin cha mẹ cho nó xuất gia. Cha mẹ đứa bé đồng ý cho nó xuất gia. Thế là, Sư nhận đứa bé làm đệ tử xuất gia, đặt tên là Hoằng Nhẫn. 

Một hôm Sư gọi Hoằng Nhẫn đến bảo: 

 Xưa Như Lai truyền Chánh pháp nhãn tạng truyền đến đời ta, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát. Ngươi phải giữ gìn, cố gắng truyền trao không cho dứt bặt. Nghe ta nói kệ: 

Hoa chủng hữu sanh tánh, 

Nhân địa hoa sanh sanh. 

Đại duyên dữ tín hợp, 

Đương sanh sanh bất sanh. 

Dịch: 

Giống hoa có tánh sống, 

Nhân đất hoa nảy mầm. 

Duyên lớn cùng tín hợp, 

Chính sanh, sanh chẳng sanh. 

Sư lại bảo Hoằng Nhẫn: 

– Trước, trong thời Võ Đức ta có viếng Lê Sơn, lên tột trên đảnh nhìn về núi Phá Đầu thấy một vầng mây màu tía giống như cái lọng, dưới phát ra lằn hơi trắng chia ra sáu đường, ngươi cho là điềm gì? 

Hoằng Nhẫn thưa:

– Đó là điềm sau Hòa thượng con cháu sẽ chia thêm một nhánh Phật pháp. 

Sư khen: 

– Hay thay, ngươi khéo biết đó. 

Một hôm Tổ đến huyện Hoàng Mai, giữa đường gặp đứa bé dáng vẻ khôi ngô độ chừng bảy tuổi. Ngài hỏi đứa bé: Ngươi họ gì? Họ thì nhưng không phải họ thường. Mới có bảy tuổi mà đáp kiểu này thì thật là phi thường. họ gì? Là họ Phật. Nói là họ Phật ngài không chịu, nên hỏi: Ngươi không họ à? Đứa bé đáp: Vì họ ấy là không. Họ là giả danh không thật, nên trả lời họ ấy là không. Ngài nhìn những người thị tùng bảo: Đứa bé này không phải hạng phàm, sau này sẽ làm Phật pháp hưng thịnh. Thật đúng như vậy!

Tổ đi tới nhà đứa bé thuật lại những lời đối đáp lạ thường rồi xin cho nó xuất gia và đặt tên là Hoằng Nhẫn. Sau đó Tổ truyền pháp cho Hoằng Nhẫn qua bài kệ:

Giống hoa có tánh sống,

Nhân đất hoa nảy mầm,

Duyên lớn cùng tín hợp,

Chính sanh, sanh chẳng sanh.

Giống hoa có tánh sống, nhân đất hoa nảy mầm. Giống hoa biểu trưng cho Phật tánh hằng giác không phải vật vô tri như cây cỏ, tánh sống của giống hoa tự nó không phát triển được mà phải nhờ đất mới nảy mầm sanh trưởng. Cũng như chúng ta có sẵn Phật tánh, nếu không được Phật tổ chỉ dạy cho thì không phát triển được.

Duyên lớn cùng tín hợp, chính sanh, sanh chẳng sanh. Duyên lớn cùng lòng tin hợp nhau, nghĩa là tin nhận nơi mình có Phật tánh thì chính sanh, sanh chẳng sanh. Khi ta nhận ra Phật tánh thì như nó sanh ra, nhưng sự thật nó không sanh vì đã có sẵn từ bao giờ. Tâm thể hằng giác vì bị phiền não vô minh che đậy, khi thoát ra khỏi phiền não vô minh tạm gọi là sanh, nhưng không có gì sanh hết, nên nói sanh mà chẳng sanh.

Niên hiệu Trinh Quán thứ mười tám (644 TL) nhà Đường, vua Thái Tông ngưỡng mộ đạo hạnh của Sư sai sứ mang chiếu thỉnh Sư về kinh đô để tham vấn đạo lý. Sứ đi đến ba phen mà thỉnh không được. Sư cứ từ chối là già bệnh. 

Lần thứ tư, vua hạ lệnh nếu Sư không chịu đi thì lấy thủ cấp đem về, vì Sư phạm tội trái lệnh. 

Sứ giả đọc chiếu chỉ xong, Sư ngửa cổ cho sứ chém, mà thần sắc vẫn thản nhiên. 

Sứ giả thấy thế không dám hạ thủ, trở về tâu lại nhà vua. Vua nghe việc này càng thêm kính phục, gửi đồ lụa gấm đến cúng dường. 

Đến niên hiệu Vĩnh Huy năm thứ hai (651 TL) đời Đường, ngày mùng bốn tháng chín nhuần năm Tân Hợi, Sư gọi môn nhân vào dặn: 

– Tất cả các pháp thảy đều là giải thoát, các ngươi phải tự gìn giữ và giáo hóa đời sau. 

Nói xong, Sư ngồi an nhiên thị tịch, thọ bảy mươi hai tuổi. Môn nhân xây tháp thờ tại núi Phá Đầu. 

Sư từ khi ngộ đạo cho đến lúc thị tịch gần sáu chục năm mà vẫn tinh tấn tu hành không khi nào nằm nghỉ. Thật là một gương sáng về hạnh giải đều tuyệt đỉnh. 

Ngày mùng tám tháng tư năm sau, tự nhiên cửa tháp mở ra, nghi dung của Sư xinh tươi như lúc sống. Từ đây về sau môn nhân không đóng cửa tháp. 

Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779) vua Đường Đại Tông truy phong Sư hiệu Đại Y thiền sư. 

Chỗ này cho chúng ta thấy lời nói và việc làm của Tổ đi đôi, nói được là làm được, vì không còn chấp ngã nên khi gặp những cảnh đó ngài hết sức tự tại! Nhất là khi nghe mời lần thứ tư, nếu từ chối thì sẽ lấy thủ cấp đem về, nếu chúng ta thì chắc chắn là run sợ. Sở dĩ sợ là vì còn bản ngã, các ngài hết chấp ngã nên không có gì quan trọng. Tu hành như vậy mới đạt đến chỗ cứu cánh. Chúng ta bây giờ vì còn chấp ngã nên còn nhát nhúa sợ sệt đủ thứ! Phải cố gắng mới xứng đáng là người tu.

Đến niên hiệu Vĩnh Huy, năm thứ hai nhằm 651 Tây lịch đời Đường, ngày mùng bốn tháng chín nhuần năm Tân Hợi, Sư gọi môn nhân vào dặn: Tất cả các pháp thảy đều là giải thoát, các ngươi phải biết tự gìn giữ và giáo hóa đời sau. Lời dặn này ý nghĩa như thế nào? Chúng ta thấy tất cả pháp đều sanh diệt. Sanh diệt tức là luân hồi, ngược lại Tổ thấy tất cả pháp đều là giải thoát. Câu này ngài ngộ ở tổ Tăng Xán, trong đời ngài không bao giờ quên được, nên khi sắp từ biệt đồ đệ ngài đem câu này dặn đồ đệ phải gìn giữ để giáo hóa đời sau.

Dặn rồi Tổ ngồi an nhiên thị tịch, thọ bảy mươi hai tuổi. Tổ nói chuyện rồi ra đi an lành tự tại. Chúng ta muốn thế thì phải cố gắng tu. Tổ từ khi ngộ đạo cho đến lúc thị tịch, gần sáu chục năm mà vẫn tinh tấn tu hành không khi nào nằm nghỉ. Thật là một tấm gương sáng về hạnh giải cho chúng ta noi theo.

Ngày mùng tám tháng tư năm sau, tự nhiên cửa tháp mở ra, nghi dung của Tổ xinh tươi như lúc sống. Từ đây về sau môn nhân không đóng cửa tháp để cho mọi người chiêm ngưỡng lễ bái. Đến đời vua Đường Đại Tông truy phong Tổ hiệu là Đại Y thiền sư.

1. TÀI TÒNG ĐẠO GIẢ 

PHẦN PHỤ

Một hôm, tổ Đạo Tín đi viếng núi Song Phong gặp một vị sư già trồng tùng, thời nhân gọi là Tài Tòng đạo giả. Vị sư ấy hỏi Tổ rằng: 

– Đạo pháp của Như Lai có thể cho tôi nghe được chăng? 

Tổ đáp: 

– Tuổi ông đã già, dù có nghe được cũng không hoằng hóa kịp. Nếu có tái sanh được thì ta cũng nán chờ. 

Đạo giả nghe dạy rồi từ tạ đi xuống núi. Đến huyện Hoàng Mai, thấy một cô gái đang giặt áo ở bờ sông, ông chào và hỏi: 

– Nhà cô ở gần xa, cô vui lòng cho tôi nghỉ nhờ được chăng? 

Cô đáp: 

– Tôi còn cha mẹ không dám tự quyền, mời Sư vào nhà hỏi cha mẹ tôi là hơn. 

Ông bảo: 

– Vậy cô có bằng lòng không, cho tôi biết? 

Cô đáp: 

– Riêng tôi bằng lòng. 

Đạo giả nghe cô hứa chịu, bèn trở về núi ngồi ngay thẳng viên tịch. 

Cô gái kia là con út của nhà họ Châu, sau khi hứa lời với Đạo giả rồi, không bao lâu có thai. Cha mẹ thấy cô chưa chồng mà có thai, là làm ô nhục gia phong, quyết định đuổi cô đi. 

Cô đang tuổi trẻ mà mang phải cái nợ giữa đường, sống bơ vơ không chỗ nương đỡ, phải đi kéo chỉ mướn nuôi miệng qua ngày. 

Đến ngày, cô sanh ra một đứa con trai xinh xắn, nhưng vì sự kỳ dị không chồng có con, nên cô đành đem thả xuống sông. Sáng ngày, cô thấy đứa bé ngồi xếp bằng trên mặt nước, khí sắc tươi tỉnh lạ thường. Cô vừa lấy làm lạ vừa xót thương nên bồng về nuôi dưỡng. 

Đến bảy tuổi, đứa bé gặp tổ Đạo Tín đối đáp một cách phi thường, được Tổ xin về cho xuất gia đặt tên là Hoằng Nhẫn. 

Hoằng Nhẫn có nghĩa là mẹ nhẫn nhục nuôi con, cũng có nghĩa tổ Đạo Tín nhẫn chờ đứa bé khôn lớn truyền pháp. 

Theo truyện này, tổ Hoằng Nhẫn là thân sau của Tài Tòng đạo giả. 

Qua câu chuyện này, chúng ta biết ngài Hoằng Nhẫn là thân sau của Tài Tòng đạo giả, nên mới bảy tuổi mà có những đối đáp phi thường. Tài Tòng tuy chưa ngộ đạo viên mãn nhưng sanh tử thật là tự tại. Ưng chết thì chết, ưng sanh thì chọn lựa nơi sanh. Đó là điểm đặc biệt, cũng do câu chuyện này mà Tứ tổ Đạo Tín đặt tên ngài là Hoằng Nhẫn.

Sau Tứ Tổ dòng thiền chia hai nhánh: thiền Ngưu Đầu và thiền của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Nhánh của Ngũ Tổ gọi là chánh truyền, nhánh của ngài Pháp Dung gọi là phụ truyền.

2. THIỀN SƯ PHÁP DUNG ở núi Ngưu Đầu (594-657 TL) 

Sư họ Vi quê ở Diên Lăng, Nhuận Châu. Năm mười chín tuổi, Sư đã học thông kinh sử, tìm xem bộ Đại Bát-nhã hiểu thấu lý chân không. 

Một hôm, Sư tự than: 

– Đạo Nho sách đời, không phải pháp cứu cánh. Bát-nhã chánh quán là thuyền bè xuất thế. Sư bèn vào ở ẩn Mao Sơn theo Thầy xuất gia học đạo. 

Sau, Sư đến núi Ngưu Đầu ở trong thất đá trên ngọn núi phía bắc chùa U Thê. Lúc đó, có các loài chim tha bông đến cúng dường. Các loài thú dữ quanh quẩn bên Sư không ngớt. 

Khoảng niên hiệu Trinh Quán nhà Đường (627-650 TL) tổ Đạo Tín nhân thấy khí tượng lạ tìm đến gặp Sư. Nhân đó, Sư được đại ngộ. 

Từ khi đắc pháp về sau, nơi pháp tịch của Sư đại thạnh. Khoảng niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường (650-655 TL) đồ chúng thiếu lương thực, Sư phải sang Đơn Dương hóa duyên. Đơn Dương cách núi Ngưu Đầu đến tám mươi dặm, Sư đích thân mang một thạch tám đấu, sáng đi chiều về để cúng dường ba trăm tăng. Như vậy, mà ngót ba năm Sư cung cấp không thiếu. 

Sư họ Vi quê ở Diên Lăng, Nhuận Châu. Khi còn tại gia ngài đã học thông kinh sử, tìm xem bộ Đại Bát-nhã hiểu thấu lý chân không, ngài cho rằng Đạo và Nho sách đời không phải pháp cứu cánh, Bát-nhã chánh quán mới là thuyền bè xuất thế. Ngài mới theo Thầy xuất gia học đạo. Ngài lên núi Ngưu Đầu ở trong thất đá phía Bắc chùa U Thê. Các loài chim tha bông trái đến cúng dường, các loài thú quanh quẩn một bên không ngớt.

Tổ Đạo Tín tìm đến gặp ngài. Sau khi đắc pháp, ngài mở mang giáo hóa, pháp tịch của ngài rất thạnh hành. Khi ấy chúng tăng ở đó đến ba trăm vị, trên núi không đủ gạo ăn, ngài phải sang Đơn Dương hóa duyên. Đơn Dương cách núi Ngưu Đầu đến tám mươi dặm, bằng năm mươi cây số bây giờ. Sư đích thân mang một thạch tám đấu bằng với một tạ gạo, sáng đi chiều về bữa nào cũng vậy. Ngài làm việc thật phi thường, một lần mang một tạ gạo, chúng ta tưởng tượng sức mạnh của ngài cỡ nào. Ngót ba năm trời như vậy chứ chẳng phải một hai tháng!

Quan ấp tể tên Tiêu Nguyên Thiện thỉnh Sư giảng kinh Bát-nhã tại chùa Kiến Sơ. Thính giả vân tập, Sư giảng đến phẩm Diệt Tĩnh, đất chấn động. 

Bác Lăng Vương hỏi Sư: 

Khi cảnh duyên sắc phát

Không nói duyên sắc khởi,

Làm sao biết được duyên

Muốn dứt cái khởi ấy? 

Sư đáp: 

Cảnh sắc khi mới khởi,

Sắc cảnh tánh vẫn không; 

Vốn không người biết duyên,

Tâm lượng cùng tri đồng; 

Soi gốc phát chẳng phát, 

Khi ấy khởi tự dứt. 

Ôm tối sanh hiểu duyên, 

Khi duyên, tâm chẳng theo; 

Chí như trước khi sanh,

Sắc tâm không nuôi dưỡng;

Từ không vốn vô niệm, 

Tưởng thọ ngôn niệm sanh;

Khởi pháp chưa từng khởi,

Đâu cầu Phật chỉ dạy. 

Hỏi: 

Nhắm mắt không thấy sắc

Cảnh lự lại thêm phiền

Sắc đã chẳng quan tâm

Cảnh từ chỗ nào phát? 

Sư đáp: 

Nhắm mắt không thấy sắc,

Trong tâm động lự nhiều,

Huyễn thức giả thành dụng,

Há gọi trọn không lỗi.

Biết sắc chẳng quan tâm,

Tâm cũng chẳng quan người, 

Tùy đi có tướng chuyển, 

Thật chim bay trong không. 

Hỏi: 

Cảnh phát không chỗ nơi,

Duyên đó hiểu biết sanh,

Cảnh mất hiểu lại chuyển,

Hiểu bèn biến làm cảnh. 

Nếu dùng tâm kéo tâm,

Lại thành biết bị biết,

Theo đó cùng nhau đi,

Chẳng lìa mé sanh diệt? 

Sư đáp: 

Tâm sắc, trước sau giữa

Thật không cảnh duyên khởi

Một niệm tự ngừng mất 

Ai hay tính động tịnh. 

Đây biết tự không biết

Biết, biết duyên chẳng hợp 

Nên tự kiểm bản hình 

Đâu cần tìm ngoại cảnh.

Cảnh trước không biến mất 

Niệm sau chẳng hiện ra 

Tìm trăng chấp bóng huyền 

Bàn dấu đuổi chim bay. 

Muốn biết tâm bản tánh 

Lại như xem trong mộng 

Ví đó băng tháng sáu

Nơi nơi đều giống nhau.

Trốn không trọn chẳng khỏi

Tìm không lại chẳng thành

Thử hỏi bóng trong gương 

Tâm từ chỗ nào sanh? 

Hỏi: 

Khi đều đặn dụng tâm, 

Nếu là an ổn tốt? 

Sư đáp: 

Khi đều đặn dụng tâm

Đều đặn không tâm dụng

Bàn quanh danh tướng nhọc

Nói thẳng không mệt phiền.

Không tâm đều đặn dụng

Thường dụng đều đặn không

Nay nói chỗ không tâm

Chẳng cùng có tâm khác. 

Hỏi: 

Người trí dẫn lời diệu 

Cùng tâm phù hợp nhau 

Lời cùng tâm đường khác 

Hợp thì trái vô cùng? 

Sư đáp: 

Phương tiện nói lời diệu 

Phá bệnh đạo Đại thừa

Bàn chẳng quan bản tánh 

Lại từ không hóa tạo. 

Vô niệm là chân thường

Trọn phải bặt đường tâm

Lìa niệm tánh chẳng động

Sanh diệt chẳng trái lầm

Cốc hưởng đã có tiếng 

Bóng gương hay ngó lại. 

Quan ấp tể thỉnh ngài giảng kinh Bát-nhã, đồ chúng đến học rất đông, tông phong của ngài từ đây về sau phát huy mạnh. Khi giảng Bát-nhã đến phẩm Diệt Tĩnh thì đất chấn động. Trong nhà thiền phần nhiều các thiền sư đều thông về lý Bát-nhã.

Sau đây là đoạn Bác Lăng Vương hỏi đạo ngài. Bác Lăng Vương là nhà văn cho nên hỏi Sư toàn dùng văn chương:

Khi cảnh duyên sắc phát Không nói duyên sắc khởi, Làm sao biết được duyên Muốn dứt cái khởi ấy? 

Khi cảnh duyên nơi sắc phát ra, thì không nói duyên theo sắc mà khởi, vì trong nhà Phật luôn luôn nói tâm sanh các pháp sanh, chứ không nói sắc sanh tâm. Nếu không phải do sắc sanh thì làm sao biết từ đâu phát ra duyên đó, làm sao dứt được lý do dấy khởi? Nói cho dễ hiểu, do có cảnh thì tâm mới sanh, tâm sanh do duyên cảnh, sao không nói do nơi cảnh mà khởi tâm, làm sao biết và dứt được tâm năng duyên.

Tổ đáp:

Cảnh sắc khi mới khởi, 

Sắc cảnh tánh vẫn không;

Vốn không người biết duyên, 

Tâm lượng cùng tri đồng.

Cảnh và sắc bên ngoài tự tánh vốn là không. Nếu biết rõ cảnh sắc tánh không thì vốn không có người biết duyên, người năng duyên không thật thì tâm lượng mới đồng với tánh chân thật.

Soi gốc phát chẳng phát 

Khi ấy khởi tự dứt.

Ôm tối sanh hiểu duyên, 

Khi duyên tâm chẳng theo.

Soi lại cái gốc duyên theo cảnh phát, biết không thật vì nó là vọng, khi ấy cái khởi tự dứt. Nếu ôm vô minh để hiểu về duyên thì tâm duyên không thể dứt được.

Chí như trước khi sanh,

Sắc tâm không nuôi dưỡng,

Từ không vốn vô niệm,

Tưởng thọ ngôn niệm sanh, 

Khởi pháp chưa từng khởi,

Đâu cầu Phật chỉ dạy.

Trước khi sanh, sắc tâm chưa khởi thì không có gì nuôi dưỡng nhau, vì từ nơi không vốn là vô niệm. Sở dĩ có niệm là sau khi có thân và tâm hợp nhau. Nếu biết rõ sắc tâm không thật, thân không thật, vọng tưởng cũng không thật, hai cái đó tự tánh là không thì nghĩ về cái gì, cho nên tự nhiên vô niệm. Biết rõ nó vốn vô niệm, tại sao lại có niệm sanh khởi? Do có thọ tưởng hành thức mà niệm sanh khởi.

Niệm dấy khởi là hư giả, nên thấy sanh mà chưa từng sanh, khởi mà chưa từng khởi. Nếu hiểu được vậy rồi thì không cần nhờ Phật chỉ dạy mà tự nhận ra cái chân thật.

Hỏi: Nhắm mắt không thấy sắc 

Cảnh tự lại thêm phiền 

Sắc đã chẳng quan tâm 

Cảnh từ chỗ nào phát? 

Khi ngồi thiền hay ngồi yên nhắm mắt, lúc đó không đối duyên đối cảnh, lý đáng không nghĩ gì, nhưng ngược lại thì lăng xăng nghĩ nhiều hơn lúc nào hết. Vậy nhắm mắt không thấy sắc tại sao duyên lự lại nhiều? Đã chẳng quan tâm đến sắc thì cảnh từ chỗ nào mà phát, ở đâu mà nó cứ phát lăng xăng ở trong tâm mình hoài vậy? Đó là hỏi lý do khi năm căn không tiếp xúc với năm trần, lý đáng lúc đó niệm phải vắng bặt, tại sao lại dấy khởi.

Đáp: Nhắm mắt không thấy sắc,

Trong tâm động lự nhiều, 

Huyễn thức giả thành dụng, 

Há gọi trọn không lỗi.

Nhắm mắt không thấy sắc nhưng tại tâm động nên duyên lự nhiều. Duyên lự là do huyễn thức biến hiện, đó là hư vọng lỗi lầm.

Biết sắc chẳng quan tâm,

Tâm cũng chẳng quan người,

Tùy đi có tướng chuyển, 

Thật chim bay trong không.

Nếu thấy sắc, biết sắc mà tâm không liên hệ gì với sắc, tâm không dính với sắc cũng chẳng liên quan với người. Tâm không phân biệt nhân, không phân biệt pháp thì khi chúng ta tùy duyên mà chuyển động, nhưng tâm thể vẫn như như, cũng như chim bay trong hư không, bay qua rồi không để lại dấu vết.

Chúng ta có hoạt động, đối duyên xúc cảnh mà không lưu lại bóng dáng nào trong tâm, đó là điểm đặc biệt. Nếu đối sắc sanh tâm là bệnh, hoặc nhắm mắt mà tâm cứ dấy động hoài, đó cũng là lỗi. Những câu trả lời này thật hay, nếu chúng ta biết rõ ứng dụng tu thì công phu nhẹ nhàng mà có kết quả tốt.

Hỏi: Cảnh phát không chỗ nơi,

Duyên đó hiểu biết sanh,

Cảnh mất hiểu lại chuyển, 

Hiểu bèn biến làm cảnh.

Cảnh phát ra không chỗ nơi vì nó không có tự tánh. Nếu cảnh phát mà không tâm phân biệt thì cảnh không thành cảnh. Duyên theo cảnh, tâm hiểu biết phân biệt liền sanh. Khi cảnh qua mất rồi hiểu biết cũng chuyển theo, lúc đó hiểu biết bèn biến thành cảnh.

Tại sao? Như chúng ta đang nói chuyện với người quen, người quen là cảnh mà mình duyên theo nên khởi tâm phân biệt. Khi người đó đi rồi mình ngồi yên một chỗ, câu chuyện nói với họ hồi nãy và hình ảnh người đó cứ lảng vảng trong đầu mình. Hình ảnh lảng vảng ấy từ đâu?

Ý hỏi thứ nhất nêu lên cảnh ở ngoài là cảnh, còn hiểu biết thì ở trong đầu, tại sao khi tiếp xúc với cảnh, khi cảnh qua rồi hiểu biết lại biến thành cảnh?

Nếu dùng tâm kéo tâm,

Lại thành biết bị biết,

Theo đó cùng nhau đi, 

Chẳng lìa mé sanh diệt? 

Nếu dùng tâm kéo tâm nghĩa là dùng tâm mà trị tâm vọng. Ví dụ khi ngồi thiền vừa khởi nghĩ thì cảnh hiện ra, cảnh ấy cũng từ tâm biến ra, rồi tâm duyên theo. Khi ấy dùng tâm trị vọng, tức là dùng cái biết trị cái vọng. Như vậy lấy tâm này trị tâm kia, cùng là tâm mà một cái thành hay biết và một cái bị biết, hai cái hay biết và bị biết cùng đi chung với nhau. Khi cái bị biết diệt thì cái hay biết cũng diệt, cái bị biết sanh thì cái hay biết cũng sanh. Hai cái sanh sanh diệt diệt thì đâu lìa được mé sanh diệt.

Ý hỏi thứ hai là tâm đã vọng, biết vọng cũng là vọng, hai cái vọng biết nhau, dẹp nhau như vậy thì cũng nằm trong sanh diệt, đâu phải là vô sanh.

Đáp: Tâm sắc, trước sau giữa 

Thật không cảnh duyên khởi 

Một niệm tự ngừng mất 

Ai hay tính động tịnh.

Trong ba thời, tâm quá khứ tâm hiện tại tâm vị lai đều không thể được. Cảnh cũng vậy, quá khứ hiện tại vị lai đều không thật, thì không có cảnh để tâm duyên. Tâm và cảnh đều dừng, tức là một niệm dừng bặt không chạy theo tâm cảnh, thì cái gì là động, cái gì là tịnh. Như vậy là tâm thể nhất như.

Đây biết tự không biết

Biết, biết duyên chẳng hợp

Nên tự kiểm bản hình 

Đâu cần tìm ngoại cảnh.

Vọng niệm không chạy theo ngoại cảnh thì dứt tâm động tịnh. Khi dứt tâm động tịnh, đây là cái biết tự không biết. Biết mà không biết vì cái biết đó không chạy theo cảnh, gọi là tịch diệt thường tri, chứ không phải là cái biết do động tâm duyên cảnh. Cái biết này cùng với cái biết duyên theo cảnh không hợp nhau. Cái biết trước là cái biết chân thật, nó không hợp với cái biết giả dối kia, như vậy cái biết thật và cái biết duyên theo cảnh không phải là một, nên không hợp nhau. Nhìn lại bản hình sẵn có nơi chính mình, bản hình là chỉ cho cái biết chân thật ban đầu, thì tự nhiên trở lại với bản tánh linh tri chứ không chạy theo ngoại cảnh.

Cảnh trước không biến mất 

Niệm sau chẳng hiện ra 

Tìm trăng chấp bóng huyền 

Bàn dấu đuổi chim bay.

Cảnh trước mắt không biến mất, niệm sau chẳng hiện ra, nói cho dễ hiểu nghĩa là khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, sáu trần hiện có trước mặt nhưng tâm không dấy động thì đối cảnh mà không sanh tâm, đó là tâm chân thật. Nếu đối cảnh sanh tâm chẳng khác nào tìm trăng trong đáy nước. Vì trăng trong đáy nước không thật thì có gì mà tìm. Chẳng khác nào tìm dấu chim bay trong hư không. Chim bay trong hư không chẳng có dấu vết mà chúng ta cứ bàn tán là đường bay của chim có dấu vết này kia trong hư không, nếu như vậy thì chỉ là chuyện đùa vô ích.

Muốn biết tâm bản tánh 

Lại như xem trong mộng 

Vi đó băng tháng sáu 

Nơi nơi đều giống nhau.

Nếu muốn biết bản tánh của tâm thì giống như xem trong giấc mộng. Ví đó là băng tháng sáu, vì tháng sáu là mùa hè làm gì có băng!

Trốn không trọn chẳng khỏi 

Tìm không lại chẳng thành 

Thử hỏi bóng trong gương 

Tâm từ chỗ nào sanh? 

Đây là lối diễn tả đẹp làm sao! Thử hỏi chúng ta có trốn hư không được không? Không thể trốn được! Có người sợ hư không cứ chạy hoài, chạy đến chừng nào mới ra khỏi hư không? Hư không là dụ cho bản thể chân tâm bất sanh bất diệt, nó trùm khắp cũng như hư không. Bây giờ giả sử chúng ta muốn đừng có chân tâm cũng không được, nhưng mà khởi tâm tìm nó thì cũng không thành.

Tìm hư không thì chẳng thành, hư không không thể nắm bắt thì tìm nó cũng là thừa. Cũng như khởi tâm mà tìm chân tâm sai. Hãy chịu khó hỏi bóng ở trong gương xem là tâm từ chỗ nào sanh, nó sẽ đáp cho các ông! “Này anh, tâm của tôi từ chỗ nào sanh?” Chừng nào cái bóng nó đáp cho mình? Như vậy, nếu chúng ta thấy rõ các pháp là hư huyễn thì mới nhận ra bản tâm trùm khắp và không còn nói là sanh là diệt, nếu nói sanh diệt là chuyện hỏi bóng trong gương vô ích.

Hỏi: Khi đều đặn dụng tâm 

Nếu là an ổn tốt? 

Khi dụng tâm tu, làm sao được an ổn?

Đáp: Khi đều đặn dụng tâm,

Đều đặn không tâm dụng.

Bàn quanh danh tướng nhọc 

Nói thẳng không mệt phiền.

Nghĩa là người biết tu khi dụng tâm thì phải biết không có tâm dụng. Nếu còn tâm dụng tức là còn sanh diệt, mà phải ngay đó không có tâm dụng. Cứ nói quanh co dụng tâm thế này dụng tâm thế kia, chạy theo danh theo tướng chỉ thêm nhọc nhằn, thẳng nơi đó thấy tâm là hư vọng không thật, khỏi nhọc nhằn gì hết.

Không tâm đều đặn dụng,

Thường dụng đều đặn không

Nay nói chỗ không tâm,

Chẳng cùng có tâm khác.

Hằng ngày cứ không tâm mãi như vậy, ngay đó dụng không tâm. Cả hai câu này đều chỉ cho chúng ta hằng dùng cái tâm không. Nay nói chỗ không tâm, cái không tâm đó không khác với cái có tâm. Tại sao? Vì chính cái không tâm mới hiển hiện được tâm chân thật.

Hỏi: Người trí dẫn lời diệu 

Cùng tâm phù hợp nhau 

Lời cùng tâm đường khác,

Hợp thì trái vô cùng?

Chúng ta hiểu câu hỏi này không? Thường thường người trí lời nói và tâm nghĩ, hai cái tương ưng nên nói người trí dẫn lời diệu, cùng tâm phù hợp nhau. Nhưng theo nhận xét của ông thì tâm và lời nói hai cái khác nhau. Lời nói là cái động phô diễn ra bên ngoài, tâm là cái nghĩ ở bên trong, hai đường khác nhau làm sao hợp được. Nếu nói hai cái hợp nhau thì hoàn toàn vô lý.

Đáp: Phương tiện nói lời điệu 

Phá bệnh đạo Đại thừa 

Bàn chẳng quan bản tánh 

Lại từ không hóa tạo.

Người trí phương tiện đem những lời diệu nói ra, cốt phá bệnh chấp của chúng sanh để nhận được thâm ý của Đại thừa. Như vậy khi nói không dính gì với bản tánh, đó là phương tiện khéo léo của các ngài từ không mà tạo ra, chứ không nên cho lời nói đó là chân thật, nếu chấp ngôn ngữ là chân thật đó là lầm.

Vô niệm là chân thường

Trọn phải bặt đường tâm

Lìa niệm tánh chẳng động 

Sanh diệt chẳng trái lầm.

Khi vô niệm thì đó là tánh chân thường hiển lộ, phải dứt bặt suy nghĩ, lìa vọng niệm rồi thì mới thấy tánh là chẳng sanh chẳng diệt, không còn trái lầm. Nghĩa là lúc hết vọng niệm thì không còn nói trái nói phải nữa.

Cốc hưởng đã có tiếng 

Bóng gương hay ngó lại.

Chúng ta đứng trước hang, vừa phát ra tiếng nói thì trong hang liền đáp lại. Gương đặt trước mặt, chúng ta nhìn vào gương thì bóng trong gương nhìn lại. Bóng trong gương, tiếng vang của hang là hư giả, tùy bản chất động tịnh liền theo đó mà hiện ra. Tiếng và vang, hai cái khác nhau mà vẫn phù hợp, bóng và hình khác nhau nhưng hình làm gì thì bóng theo đó.

Ngài dùng hai hình ảnh tiếng và vang, hình và bóng để đáp rằng một bên là thật một bên là giả, tuy hai bên khác đường mà hợp nhau. Ông cho rằng tâm và lời nói không hợp, nếu hợp thì phi lý là không đúng.

Ngài đã trả lời rõ ràng những câu hỏi của Bác Lăng Vương, vì ông dùng thơ để hỏi nên hơi cô đọng, người đọc nghe khó hiểu, nhưng ngài trả lời rất hay.

Niên hiệu Hiển Khánh năm đầu (656 TL) nhà Đường, ấp tể Tiêu Nguyên Thiện thỉnh Sư xuống núi trụ trì chùa Kiến Sơ. Sư hết lời từ chối mà không được. Bất đắc dĩ, Sư gọi đệ tử thượng thủ là Trí Nham truyền trao pháp ấn và dặn dò tiếp nối truyền dạy tại núi này.  

Sư sắp xuống núi bảo chúng: 

– Ta không còn bước chân lại núi này. 

Lúc đó chim thú kêu buồn gần suốt tháng không dừng. Trước am có bốn cây ngô đồng, giữa tháng hè bỗng nhiên rụng lá. 

Năm sau (657 TL) ngày hai mươi ba tháng giêng, Sư thị tịch tại chùa Kiến Sơ, thọ sáu mươi tư tuổi, tuổi hạ được bốn mươi mốt. Ngày hai mươi bảy đưa quan tài lên núi Kê Lung an táng, số người tiễn đưa hơn vạn. 

Phái thiền của Sư truyền, sau này gọi là Ngưu Đầu Thiền, vì lấy tên núi mà đặt tên. Số môn đồ khá đông, lưu truyền thạnh hành đến sáu đời mới dứt. 

Sau này quan ấp tể Tiêu Nguyên Thiện thỉnh ngài xuống núi trụ trì chùa Kiến Sơ, ngài hết lời từ chối mà không được. Có lẽ quan ấp tể là người tri thức, phụ ngài trong lúc hoằng hóa, vì muốn hỗ trợ nhau nên ngài không thể từ chối, bất đắc dĩ ngài nhận lời xuống núi.

Trước khi xuống núi ngài gọi đệ tử thượng thủ là Trí Nham truyền trao pháp ấn, dặn dò tiếp nối truyền dạy tại núi này và nói rằng: Ta không còn bước chân lại núi này nữa.

Ngài rời núi là năm 656 TL, lúc ngài tịch là năm 657 TL. Như vậy là ngài biết trước một năm trước khi tịch. Sự cảm ứng của ngài đối với các loài chim thú cây cối chung quanh rất nhiều, cho nên ngài ra đi chim thú kêu buồn gần suốt tháng, trước am có bốn cây ngô đồng giữa tháng hè cũng rụng lá. Khi ngài tịch môn đồ tứ chúng đưa quan tài lên núi Kê Lung an táng, có hơn vạn người.

Ngài tu hành đắc lực như vậy mà không được truyền y pháp chính thức, chỉ là một dòng phụ thôi, nhưng chúng ta thấy ngài rất xứng đáng, vì phái thiền của ngài truyền rất thạnh hành đến sáu đời mới dứt. Số môn đồ tu theo khá đông, sau này gọi là Ngưu Đầu Thiền vì lấy tên núi mà đặt.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.