Nội dung:
Không ai biết quê quán và gốc gác Sư thế nào. Chỉ biết Sư với hình thức cư sĩ mắc bệnh ghẻ lở đến lễ tổ Huệ Khả xin sám tội. Nhân đó được ngộ đạo. Được Tổ cho thọ giới Cụ túc tại chùa Quang Phước, nhằm niên hiệu Thiên Bình thứ hai (535 TL) nhà Đông Ngụy ngày mười tám tháng ba. Sư theo hầu hạ Tổ được hai năm, Tổ truyền kệ và y bát bảo phải đi phương xa ẩn tránh kẻo có nạn. Sư đến ở ẩn nơi núi Hoàn Công thuộc Thư Châu.
Đời Chu Võ Đế ra lệnh diệt Phật pháp (574 TL), Sư sang ở núi Tư Không huyện Thái Hồ. Sư thường đổi dời ít khi ở lâu một chỗ, nên hơn mười năm mà không ai biết tông tích.
Ngài Tăng Xán ra đời nhằm thời Phật giáo Trung Hoa bị ách nạn, tức là bị phế giáo. Đời Chu Võ Đế ở Trung Hoa có nạn gọi là “Tam Võ nhất Tông chi ách”, nghĩa là ách nạn ba đời vua Võ, một đời vua Tông. Chu Võ Đế ra lệnh diệt Phật pháp là một trong ba đời đó, nên ngài phải đi ẩn ở vùng núi Tư Không huyện Thái Hồ, nhưng không ở một chỗ, không ai biết tông tích, hơn mười năm như vậy. Phật giáo Thiền tông Trung Hoa liên hệ tới Thiền tông Việt Nam sâu đậm là ở giai đoạn này.
Thời gian Sư ở núi Tư Không có một vị sư người Ấn tên Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Trung Hoa cầu pháp. Gặp Sư, Lưu-chi hết lòng kính mộ xin làm đệ tử, Sư truyền tâm ấn cho và khuyên qua phương Nam tiếp độ chúng sanh.
Đó là nguyên nhân mà ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Việt Nam, và là vị Tổ đầu tiên truyền Thiền tông ở Việt Nam. Khi học tới Thiền sư Việt Nam, chúng ta sẽ thấy rõ hơn. Như vậy, phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi là một chi nhánh dưới tổ Tăng Xán.
Đời nhà Tùy, khoảng niên hiệu Khai Hoàng có Sa-di hiệu Đạo Tín được mười bốn tuổi đến lễ Sư thưa:
– Xin Hòa thượng từ bi ban cho con pháp môn giải thoát.
Sự hỏi:
– Ai trói buộc ngươi?
– Không ai trói buộc.
– Đã không trói buộc, đâu cần cầu giải thoát.
Đạo Tín nghe liền đại ngộ.
Từ đây, Đạo Tín theo hầu hạ Sư suốt chín năm.
Đa số chúng ta hay nói, phiền não tham sân si trói buộc mình. Nhưng thử hỏi phiền não là cái gì mà trói buộc? Nhìn lại chẳng thấy chú nào, có trói buộc gì đâu. Nhưng khi có ai làm trái tai gai mắt, mình thấy dường như bị trói buộc. Nếu ai làm trái tai gai mắt mà mình vẫn thản nhiên, thì không có gì trói buộc cả. Như vậy trói buộc hay không là tại mình. Chúng ta lâu nay cứ tưởng như mình đang bị trói buộc, nên than khổ. Than khổ là tại mình tưởng, sự thật không ai trói buộc hết.
Trường hợp Sa-di này cũng vậy, khi ngài xoay lại tìm không thấy có ai trói buộc, nên trả lời không ai trói buộc. Tổ Tăng Xán mới bảo: Đã không trói buộc, thì đâu cần cầu giải thoát. Nghĩa là có ai trói mới kêu mở, bây giờ không ai trói kêu mở làm chi. Thử hỏi ai có thể mở cho người không bị trói? Chuyện đó không bao giờ có. Bị trói mới mở, không bị trói lấy gì để mở.
Nói như vậy chúng ta ắt nghi, không trói buộc tại sao Phật dạy tu để giải thoát, mà giải thoát cái gì? Tất cả những sự trói buộc ở thế gian này, không phải ai mà chính mình tự trói, nhưng không biết tự mở rồi đi cầu người khác mở trói cho mình, thật không có lý chút nào!
Những thứ trói buộc chúng ta là nghiệp, mà nghiệp là thói quen, vậy thói quen đó ai tạo cho mình? Ví dụ một người khi chưa biết đạo ghiền rượu ghiền thuốc, ghiền cà-phê, cờ bạc, hát xướng… nhưng khi phát tâm tu, bỏ những thứ ghiền đó, là ai bỏ cho mình hay mình phải tự bỏ? Tự mình tập lâu thành ghiền, bây giờ muốn hết ghiền chỉ bỏ là hết, không ai có tài ba gì bỏ giúp mình được. Chúng ta thấy rõ ràng, tất cả nghiệp không thật, tự mình tạo ra rồi nó ràng buộc khổ sở. Muốn hết những khổ sở đó thì đừng huân tập nữa, lỡ tập thì gan dạ bỏ tự nhiên hết khổ. Ngài Đạo Tín nghe câu này nhận ra sự trói buộc không thật, mà lâu nay lầm tưởng là thật. Do đó khi nghe Tổ khai thị liền ngộ.
Chúng ta thấy, tổ Huệ Khả, tổ Tăng Xán và ngài Đạo Tín. Ba vị nghe thầy khai thị đều xoay lại tìm nơi mình, thấy được lẽ thật gọi đó là ngộ đạo. Vậy đạo là gì? Là lẽ thật nơi chính mình. Tất cả pháp tu Phật dạy pháp nào cũng xoay lại nơi chính mình, chứ không phải tìm kiếm bên ngoài, đó là gốc của đạo Phật.
Hiểu như vậy mới thấy cội gốc của sự tu hành, nếu không hiểu thì tưởng đạo là cái gì cao siêu ở đâu đó, nên khổ công đi cầu đạo chỗ này, học đạo chỗ kia. Đạo chính là lẽ thật ở nơi mình, nhận ra tâm chân thật của chính mình, gọi đó là thấy đạo.
Sau Đạo Tín đến Kiết Châu thọ giới, rồi trở lại hầu thầy rất cần mẫn. Sư thường dùng lý huyền diệu gạn hỏi, biết Đạo Tín cơ duyên đã thuần thục, bèn truyền y pháp cho ông. Sư bảo:
– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát. Ngươi gắng mà gìn giữ. Nghe ta nói kệ:
Hoa chủng tuy nhân địa,
Tùng địa chủng hoa sanh.
Nhược vô nhân hạ chủng,
Hoa địa tận vô sanh.
Dịch:
Giống hoa tuy nhân đất,
Từ đất giống hoa sanh.
Nếu không người gieo giống,
Hoa đất trọn không sanh.
Sư dạy tiếp:
Xưa tổ Huệ Khả trao pháp cho ta rồi, ngài đến xứ Nghiệp Đô hoằng hóa hơn ba chục năm mới thị tịch. Nay đã có người thừa kế cho ta thì việc của ta đã xong, còn ở đây làm gì!
Khi ngộ rồi ngài Đạo Tín ở hầu hạ thầy suốt chín năm. Bởi vì mới mười bốn tuổi trẻ quá, cho nên ở lại hầu thầy chín năm. Năm hai mươi ba tuổi Đạo Tín tới Kiết Châu thọ giới Tỳ-kheo, rồi trở về hầu thầy rất cần mẫn. Tổ thường dùng lý huyền diệu gạn hỏi, biết Đạo Tín cơ duyên đã thuần thục, bèn nói bài kệ truyền pháp.
Giống hoa tuy nhân đất,
Từ đất giống hoa sanh.
Nếu không người gieo giống,
Hoa đất trọn không sanh.
Nghĩa là có hạt giống hoa và có đất thì hoa sanh, nhưng không có người gieo giống thì hoa không sanh. Cũng như tất cả chúng ta đều có tánh giác, nhưng bị phiền não phủ che, nếu không có ai chỉ thì không biết. Nhờ học đạo, nghe lời Phật tổ dạy qua sự truyền đạt của quý thầy mới biết mình có tánh giác. Khi biết có tánh giác, đủ duyên tu hành, mà không ai hướng dẫn thì không có kết quả. Sở dĩ sự tu hành có tiến bộ, đạt đến kết quả là nhờ có người giúp đỡ chỉ bày cho mình.
Có đất, có hoa, có người gieo giống thì hoa tăng trưởng. Nhưng nếu không hoa không đất, không ai gieo giống thì đất là đất, hoa là hoa, không làm sao phát triển được.
Sư đến núi La Phù ngao du hai năm, lại trở về Châu Thư, ngụ tại chùa Sơn Cốc. Dân chúng ở đây nghe Sư đến đều vui mừng, tấp nập kéo đến thừa sự cúng dường.
Sư thăng tòa thuyết pháp cho tứ chúng nghe. Thuyết xong, Sư đứng ngay thẳng dưới cây đại thọ chắp tay thị tịch. Nhằm ngày rằm tháng mười năm Bính Dần, niên hiệu Đại Nghiệp thứ hai (606 TL) đời Tùy.
Sư có trước tác bài “Tín Tâm Minh” là một tác phẩm trọng yếu của thiền tông hiện còn lưu hành.
Vua Huyền Tông đời Đường truy phong hiệu là Giám Trí thiền sư.
Đời Đường niên hiệu Thiên Bảo thứ năm (746 TL) có quan doãn huyện Hà Nam tên Lý Thường đến khai mộ Sư, thỉnh thi hài làm lễ trà-tỳ. Ông lượm xá-lợi xây tháp thờ, một phần tặng sư Thần Hội ở chùa Hà Trạch, một phần mang luôn theo mình.
Sau khi truyền pháp và dặn dò ngài Đạo Tín, là đã có người kế thừa, việc truyền bá ngang đó coi như xong, tổ Tăng Xán từ giã đi ngao du. Đăng tòa thuyết pháp cho tứ chúng nghe xong, Tổ đứng ngay thẳng dưới cây đại thọ, chắp tay thị tịch. Đây là điểm đặc biệt của Tổ. Ngài tịch nhẹ nhàng sung sướng quá, chúng ta có thích không? Muốn được như vậy thì mỗi người phải ráng tu, đạo lực kiên cố thì chết tùy ý.
Ngài có trước tác bài Tín Tâm Minh, là một tác phẩm trọng yếu của Thiền tông hiện còn lưu hành. Tín tâm là tin tâm của mình, minh là ghi lại. Bài minh này hơi dài. Tôi dẫn hai câu đầu: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch.” Nghĩa là chỗ tột của đạo không khó, chỉ tại mình suy nghĩ chọn lựa. Nếu suy nghĩ chọn lựa thì không đạt đến chỗ chí đạo.
Hai câu cuối: “Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm.” Người tin tâm mình thì không có hai, còn có hai là chưa tin tâm mình. Tại sao? Bởi vì thấy có tốt xấu hay dở phải quấy v.v… là thấy hai, thấy như thế là thấy theo tâm phân biệt, mà phân biệt là vọng tưởng. Nếu không vọng tưởng phân biệt thì tâm chân thật hiện tiền.
Tâm chân thật không mắc kẹt hai bên, người nào hay nói phải quấy là quên mất tâm mình và không tin có tâm. Tâm có sẵn đủ tất cả nên nói tròn đồng thái hư, không thiếu không dư. Khi tâm lặng lẽ thì mọi việc đều tròn đầy. Bao nhiêu pháp tu của Phật dạy, chủ yếu đưa chúng ta tới chỗ tâm được an vui thanh tịnh.
Tóm lại, bài Tín Tâm Minh tổ Tăng Xán dạy, nếu tin tâm chân thật của mình thì không mắc kẹt hai bên, nếu kẹt hai bên là chúng ta không tin tâm, nếu không tin tâm thì phiền não bất an. Đó là trọng tâm của sự tu hành.