Nội dung:
Hôm nay tôi nhắc nhở toàn chúng.
Khi xưa, lúc còn ở trường Phật học tôi rất thích tu thiền, nên hỏi các vị lớn cách tu, được quý vị nhắc “tu thiền coi chừng điên”, vì vậy lúc tu tôi rất dè dặt. Đến khi tu được, nắm vững vấn đề, không còn sợ điên nữa thì tôi bắt đầu dạy tu thiền.
Tôi có nghiên cứu về thiền thoại đầu, thấy phải đề khởi nghi tình. Nếu hành giả không khéo, đề khởi lâu dần bị căng đầu. Có mấy vị tu thoại đầu căng quá nên bị bệnh. Biết nguy hại như vậy, tôi không dạy tu thoại đầu mà chỉ dạy tu phản quan lại mình. Tu phản quan thì dùng trí quan sát, không trụ, không kìm đè, nên không căng đầu là điều thứ nhất. Thứ hai, tìm xem các tâm niệm từ đâu ra, khi tìm cũng không trụ trên đầu nên đầu không nóng, không bị căng, do đó không bị điên cuồng.
Tu như vậy, mỗi ngày vọng niệm giảm bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu, không gây nguy hiểm cho người. Cho nên ai đến đây tu, phải tu đúng như sự chỉ dạy của tôi, không được làm khác. Toàn chúng phải ý thức được trách nhiệm việc tu của mình và của huynh đệ, giữ làm sao trên dưới một hướng đi. Để khi quý vị tiến hay lùi, tôi biết mà nhắc nhở. Nếu làm khác đi, quý vị tu bị trục trặc tôi cũng chịu thua, không làm sao sửa được.
Nói đến trách nhiệm hướng dẫn tu hành thì rất khó. Chúng ta giảng đạo, người ta hiểu bao nhiêu thì hiểu, không hiểu thì thôi, không hại gì hết. Còn dạy tu ở một thiền viện, trách nhiệm hết sức nặng nề. Bởi trách nhiệm nặng nề, nên tôi y cứ theo kinh luận giảng dạy, để huynh đệ ứng dụng tu cho đúng. Càng tu càng có lợi, không thể có hại, mới đúng với chánh pháp. Tu mà thành điên thì đó là trái với đạo giác ngộ, vì giác ngộ là sáng suốt, càng tu càng sáng. Nếu việc tu có trở ngại phải tự sửa ngay, hoặc trình bày cho người lớn biết để giúp đỡ, đừng tu sai lệch không tốt. Điều này quan trọng cả đời tu, không thể xem thường.
Nên mai kia quý huynh đệ chỉ dạy cho người khác tu cũng phải cẩn thận, đừng coi thường. Người trước chịu trách nhiệm hướng dẫn cho người sau. Tôi nghe nói trong chúng có nhiều vị hăng hái tu quá, đến quên ngủ. Như vậy không được. Phải điều hòa việc tu của mình chừng mực, theo thời khóa thiền viện sắp xếp, bảo đảm không có chuyện lôi thôi. Tinh tấn quá mức mà sức khỏe không đủ sẽ sanh bệnh hoạn, đó cũng là chướng.
Ngược lại, có những người lười trễ, giờ tu không chịu tu, giờ học cũng không chịu học. Các vị thủ liêu phải kiểm soát chúng, nếu giờ tu giờ học mà huynh đệ không chịu tu học thì phải nhắc. Bởi vì học là để sáng tỏ con đường tu, tu là thâm nhập được những điều mình đã học, hai cái không tách rời nhau được. Đừng nghĩ học là mất tu, thật ra học để sáng tỏ đường lối tu của mình, chứ không trở ngại gì. Chư tổ thường nói kinh làm rõ thiền, thiền để thâm hiểu lý kinh, hai việc hỗ tương nhau.
Người có tu có học, khi cần dẫn chứng kinh sử, nương lời dạy của Phật tổ, chứng minh cho điều mình nói. Đường đi của chúng ta rõ ràng, không có gì mờ mịt. Đừng nghĩ chỉ tu không học, mai kia ra làm Phật sự, trong bụng có gì nói nấy. Người ta đem kinh sử hỏi xuất phát từ đâu, mình không biết thì không được. Vì thời này người học đạo tin kinh Phật, mình nói sai với kinh họ không chấp nhận. Vậy nên huynh đệ phải học kỹ kinh Phật, hiểu rõ lời thiền sư dạy, nói cho phù hợp không sai chạy, người ta mới đủ lòng tin mà tu tập.
Mong tất cả đại chúng đừng xem thường việc học mà phải luôn cố gắng. Nên nhớ trong khi học, nếu chúng ta khéo ứng dụng tu thì sẽ càng vững vàng, sáng tỏ hơn đường lối hành thiền. Việc học không phải vô ích, cũng không trở ngại sự tu. Cố gắng học, cố gắng tu cho đều thì sau này Phật tử hỏi gì mình biết mà dạy, có đường hướng chủ trương đàng hoàng. Như tôi thấy các vị lớn ở Quảng Nam đa số tu theo hệ Chúc Thánh, dòng dõi Lâm Tế. Nói đến dòng thiền Chúc Thánh ở miền Trung, chúng ta cũng có liên quan. Theo lịch sử Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, sư ông tôi Hòa thượng Khánh Anh nối pháp đời 40 dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh, thầy của tôi Hòa thượng Thiện Hoa nối pháp đời 41.
Bây giờ chúng ta tu theo Thiền phái Trúc Lâm thì phải hiểu Tam Tổ tu như thế nào, nắm vững những bài kệ, lời dạy của quý ngài, đem ra giảng dạy người ta mới không nghi. Chịu khó nghiên cứu lời chư Tổ đã dạy, nghiền ngẫm cho thấu đáo mới thấy cái hay của quý ngài. Đó là việc cần thiết. Đường tu của mình còn dài, muốn được bền, có căn bản thì phải học. Học và nghiền ngẫm kỹ lời Phật tổ dạy, thấu đáo được nghĩa lý trong ấy thì sự tu hành nhẹ nhàng, không có gì khó khăn. Đó là lời khuyên của tôi, mong toàn chúng cố gắng.
Hôm nay tôi có ít điều nhắc nhở trong chúng:
Điều thứ nhất, đại chúng ở thiền viện có đủ ba miền Nam Trung Bắc. Sở dĩ tôi tiếp nhận hết, vì nghĩ rằng mình nên độ tất cả chúng sanh phát tâm Bồ-đề. Huống gì Nam, Trung, Bắc đều là người Việt Nam, đã quyết tâm tu thì không ai là không thân thuộc. Chúng ta nên nhớ làm Phật sự là làm cho tất cả, không riêng một nhóm, một cá nhân nào. Khi tôi nghỉ, tăng ni ở các thiền viện phải giữ tâm niệm này, chung lo Phật sự không để tâm riêng tư.
Tất cả chúng trong thiền viện có được ba cái đồng: 1- Đồng chủng tộc Việt Nam. 2- Đồng đạo, cùng thờ Phật, cùng tu hạnh giải thoát. 3- Đồng một thầy hướng dẫn chỉ dạy tu hành.
Ở thế gian, người cùng chủng tộc dù ở trong nước hay ra nước ngoài mọi người đều quý, đều thương. Huống nữa chúng ta là người tu, có tâm từ bi rộng lớn, chẳng lẽ cùng một chủng tộc mà không thương, lại chia rẽ. Nên huynh đệ phải biết thương yêu, bảo bọc, giúp đỡ nhau cho sự tu hành tăng tiến. Không nên có ý niệm riêng tư, nhìn nhau bằng tâm phân biệt người này là Nam, kia là Trung, nọ là Bắc. Tất cả đều là anh em đồng đạo, cùng tu hành giải thoát, phải xả bỏ tâm niệm riêng tư để làm được việc lớn. Muốn làm việc lớn thì tâm phải rộng lớn, tâm hẹp hòi không bao giờ làm được.
Tôi già rồi, tuy phải nghỉ nhưng vẫn nắm giềng mối để mấy chú tu hành tốt, mai kia có khả năng làm lợi ích cho đạo, như vậy bổn phận tôi mới tròn. Tôi nghỉ để bớt duyên bên ngoài, lo chuyên tu và giám sát đại chúng. Quý vị có điều hay điều dở chi, tôi sẽ nhắc nhở, chứ không phải buông xuôi, vì tôi muốn gầy dựng cho tăng ni sau này có thể làm rường cột Phật pháp, lợi ích chúng sanh.
Điều thứ hai, Phật tử nước ngoài rất hâm mộ tăng ni tại các thiền viện thuộc thiền phái Trúc Lâm. Đó là nhờ sự tu hành miên mật, tư cách đạo đức thuần hậu của mình. Nếu quý vị tu lơ là, tu không ra tu, không có đức hạnh thì ai mà quý, mà thích. Vì vậy tăng ni các thiền viện phải cẩn mật, nói năng từ tốn nhu hòa. Dù việc lớn việc nhỏ, cứ từ từ giải quyết với nhau, không nên lớn tiếng thô hạnh, làm mất tín tâm Phật tử. Tôi khẳng định ở đây ai chửi thề hoặc hăm he đánh nhau, tôi sẽ họp chúng đuổi đi liền. Thiền viện là nơi tu hành trang nghiêm thanh tịnh, tuyệt đối không có những chuyện như vậy. Đó là hành động lỗ mãng của người thế gian, không phải của người tu chân chính.
Tất cả tài sản trong thiền viện là của chung. Đã là của chung thì mọi người phải hạn chế, việc gì làm tổn phí nhiều, vô ích thì nên tránh. Tăng ni biết tiết kiệm, bảo vệ gìn giữ tài sản chung thì tốt, ai làm tổn hại của Tam bảo thì không tốt. Chúng ta không tự làm ra tiền, tài vật do Phật tử cúng dường, người tu phải biết quý trọng, gìn giữ chứ không có quyền xâm phạm hay làm mất mát. Việc gì cần dùng nhiều tiền quý vị phải xét kỹ, đúng chỗ, đúng việc mới làm. Nếu dùng tài vật của Tam bảo bừa bãi, hao tốn mà rốt cuộc không có lợi cho Phật pháp. Đó là tự làm mình tổn phước tổn đức.
Tôi thường nói, tôi là người nhận tiền mà không biết xài tiền. Nhận rồi đưa ban này, ngành nọ chi tiêu cho Tam bảo, không giữ đồng xu nào trong tay. Tôi không xài tiền một cách vô lý, vô nghĩa nên mới có phước, được Phật tử tin tưởng giúp đỡ, hô đâu được đó. Nếu xài cẩu thả Phật tử không tin nữa, sau này làm Phật sự rất khó. Vậy nên chư tăng phải cẩn thận tiền bạc, thu chi đâu đó đàng hoàng. Một là huynh đệ tin mình làm việc chính đáng, hai là được Phật tử quý kính ủng hộ.
Quý vị có trách nhiệm trong chúng phải có cái nhìn xa trông rộng, sống tế nhị. Lúc nào cũng đàng hoàng chín chắn, đừng làm mất lòng tin huynh đệ và tín đồ. Làm sao cho cuộc sống đại chúng được ấm no, mọi người vui vẻ hòa hợp tu tập, Phật tử hướng về đều tin tưởng. Được vậy quý vị làm Phật sự mới bền lâu.
Tôi ở chừng tuổi này mà làm việc suốt một tuần lễ không có ngày nghỉ. Sáng thứ bảy từ Thường Chiếu xuống Bà Rịa giảng, xong rồi chiều chạy qua Vũng Tàu, xế về lại Thường Chiếu. Chủ nhật giảng ở Thường Chiếu từ sáng tới chiều. Kỳ trước Phật tử quy y khoảng 500 người, kỳ này 700 người. Tôi ngồi cho pháp danh xong là đơ xương sống. Vậy mà bây giờ đã có mặt ở Đà Lạt, ngồi đây nói chuyện với mấy chú. Nên biết người lớn phải hy sinh lo cho chúng, cho những người phát tâm tu.
Vừa rồi khoảng 400 bệnh nhân trong bệnh viện ung bướu về thiền viện quy y. Họ đặt mấy câu hỏi:
1- Không biết kiếp trước làm nghiệp gì mà bây giờ bị bệnh ung bướu?
2- Bị bệnh rồi, làm sao cho giảm bớt?
3- Con bị bệnh như vậy phải tu thế nào?
Thấy họ rất đáng thương, tôi cũng tìm lời an ủi, nhắc nhở họ ráng tu cho bớt khổ.
Phật tử tin tưởng vì thấy mình sẵn sàng lo cho họ, không bỏ ai hết nên mới hướng tâm về tu tập. Vì vậy tôi mong tất cả tăng ni phải có tâm rộng lớn, thương người, làm việc gì nên chu toàn việc đó. Như hôm nay tôi bị đau bên hông, ngồi lâu rất đau, nhưng vẫn họp chúng, nhắc nhở quý vị mọi việc, không vì chút nhọc nhằn mà bỏ hết công việc.
Tăng ni nhớ, khi tu mình làm được Phật sự gì thì phải hoan hỷ, mạnh mẽ, vui vẻ làm. Thật ra sức của tôi đâu đủ để làm nhiều việc như vậy. Nhờ quên mình tôi ráng làm, riết rồi cũng quen. Quên bệnh, quên đau, mấy chú thấy như tôi khỏe mạnh, cả năm không đau. Thật ra, không phải không đau mà vì tôi không quan tâm, thấy có Phật sự cần thì làm thôi.
Tôi nói để trong chúng hiểu, khi gần người lớn mình học được điều hay, mai kia cố gắng làm tròn bổn phận. Không nên thả trôi, không nên nghĩ tới mình nhiều hơn nghĩ tới người, đó là yếu dở. Phàm xuất gia phải có tinh thần quên mình vì đạo, vì đại chúng và chúng sanh, đừng ích kỷ nhỏ mọn, sau này không được phước đức. Đâu phải ai bỗng dưng có phước đức; đều là do ra công ra sức làm nhiều việc cho đạo, lợi ích mọi người.
Chúng ta làm Phật sự không phải luôn được suôn sẻ, mọi người đều tin đều thương hết đâu. Có người công kích, chửi thẳng mặt tôi cũng cười thôi, không giận hờn gì hết. Tôi biết mình không thật, lời chửi mắng chỉ là trò chơi. Chúng ta thật tâm lo cho đạo, thật tâm thương mọi người thì ai chửi mình cũng vui, hơi đâu mà buồn mà giận. Chính những lúc bị chửi mắng mà mình không hờn không giận, giá trị tu hành càng tăng hơn.
Nhớ lần tôi qua Mỹ, phóng viên đài truyền hình tới phỏng vấn, hỏi: “Thầy nghĩ sao về những người nói xấu hay phá Thầy?” Tôi trả lời: “Trước mắt tôi không có kẻ thù, chỉ có những người bạn đã thông cảm và chưa thông cảm mà thôi.” Những người chưa chấp nhận là bạn chưa thông cảm. Mình nói như vậy không ai giận hờn, cũng không gây thù chuốc oán với ai. Nếu nói “Mấy người phá tôi là ngu si”, tất nhiên sẽ tăng thêm oán thù, không ích gì. Lời nói xuất phát từ đáy lòng, thâm tâm hiền hòa thì không ai phản bác cả, ngược lại còn giúp mình vượt qua những khó khăn trở ngại.
Tôi mong rằng, tăng ni nên có tâm rộng rãi hiền lành, dù gặp người phản đối chống cự, vẫn giữ thái độ đạo đức nhu hòa, không giận không hờn. Có vậy, chúng ta mới hướng dẫn Phật tử tu được. Nếu mình nóng nảy, bực tức nói lung tung sẽ khiến người mất lòng tin không tu được, còn tạo thêm nghiệp xấu cho mình. Cho nên tất cả hãy cố gắng tu trước thật tốt, mới dạy người sau tu theo.
Tôi thường khuyên Phật tử tu hạnh nhẫn nhục. Họ nghe ai mắng chửi thì nhịn. Lần thứ nhất cho qua, người kia còn làm tới nữa thì nhịn lần thứ hai. Sang lần thứ ba nhịn hết nổi, bung ra. Vì nhịn trong giới hạn, cố đè nén để không trả đũa lại, đó là nhẫn nhục mà thiếu trí tuệ. Cho nên nhẫn nhục ấy chỉ trong sức chịu đựng nào thôi, quá nữa thì chịu không nổi.
Tăng ni ở đây tu học bằng trí tuệ. Mỗi ngày chúng ta đều đọc chiếu kiến ngũ uẩn giai không rất nhiều lần. Thấy năm uẩn không thật thì lời khen chê chửi bởi thật sao? Thân không thật, tâm không thật thì lời chửi bới cũng không thật. Biết nó không thật nên cười thôi, có nhận gì đâu mà đè nén, thành ra không nhẫn mà nhẫn. Bằng con mắt trí tuệ thấy rõ bản chất muôn pháp không thật, cái gì đến mình đều bỏ qua một cách nhẹ nhàng, thì còn khổ ách nào phải chịu! Đây là lời vàng ngọc của Phật, không phải lời thường. Chúng ta tụng mà không thấm, không hiểu nên xem thường, lâu ngày sống y như người thế tục.
Tôi nhắc cho toàn chúng ý thức những điều quan trọng, để trên đường tu không bị thối chuyển. Chúng ta phải tu tiến cho đến khi sáng đạo, giáo hóa chúng sanh. Nếu không như thế thì đời tu trở thành vô nghĩa.
Hôm nay tôi nhắc nhở toàn chúng việc tu hành.
Tôi là người rất quyết tâm, không làm thì thôi, làm thì phải đến nơi đến chốn, không thích làm nửa chừng hay làm lấy có. Vậy nên, khi làm việc gì tôi đều chịu đựng khó khăn trở ngại từ trong đến ngoài, mọi việc cứ âm thầm tiến tới. Nhờ vậy những việc tôi làm đều được kết quả tốt.
Đa số tăng ni hiểu đạo tu hành nhưng chưa đến nơi đến chốn. Tôi thường dành thời gian chuyên làm một việc cho mình, cố gắng hoàn thành viên mãn khi còn sống, để chỉ dạy thêm cho tăng ni. Thật ra tôi chưa hài lòng những gì mình biết mình thấy rồi nói cho mọi người nghe. Tôi chỉ làm được đôi ba phần hoặc phân nửa, quá phân nửa, chứ chưa vuông tròn. Vậy nên tôi phải có thời gian dành cho mình nhiều hơn. Tôi mong chúng ở thiền viện, ai cũng quyết chí tu đến nơi đến chốn, đừng để các chướng duyên làm trở ngại. Chúng ta nên dành nhiều thời gian để tu, để nghiền ngẫm những lời Phật tổ dạy mà thấy đạo, tiến đạo.
Ngày xưa tôi tu Tịnh độ mười năm, từ khi xuất gia cho tới lúc ra trường An Quang, mỗi ngày niệm Phật, tụng kinh hai thời. Nhưng khi đi sâu trong việc học hỏi, nghiền ngẫm tôi thấy rõ ràng không hợp với tôi, không đúng với mục đích của Phật. Vì đức Phật ngồi thiền ngộ đạo, bây giờ mình không ngồi thiền làm sao ngộ đạo, nên tôi quyết tâm tu thiền.
Khi dạy học ở Huệ Nghiêm ba năm, tôi tập tu thiền, nhưng không có thầy hướng dẫn. Lúc đó, Hòa thượng Viện trưởng là thầy tôi trao cho cuốn Lục Diệu Pháp Môn của tổ Trí Khải tông Thiên Thai. Tôi nghiên cứu thấy cũng hay, nên lấy đó làm chuẩn để tu.
Tôi nghĩ mình đã có đường lối tu thiền, như vậy là hài lòng lắm rồi, nhưng không ngờ khi tu vẫn có những bế tắc. Vì tu theo Lục diệu pháp môn nên dùng pháp quán, quán sổ tức, tùy tức, rồi chỉ, quán, hoàn, tịnh. Tôi tu tới chỉ thì bị kẹt. Tu chỉ là để tâm lặng yên, một hồi thì ngủ miên man. Mình tu mà ngủ hoài sao được! Buồn quá tôi khóc. Chỉ không xong tôi chuyển qua quán. Trong đó dạy quán hơi thở, khi quán thấy yếu quá nên tôi bỏ, quay qua quán bất tịnh, thấy thân nhơ nhớp rợn người.
Tôi đọc kinh A-hàm, thấy các thầy Tỳ-kheo quán bất tịnh gớm thân này quá, các thầy mượn người cắt cổ giùm, rồi trả công bằng y áo. Mười mấy vị cùng tu, hôm sau đức Phật lại thăm chỉ còn năm ba vị. Ngài hỏi lý do thì được biết, chư tăng do quán bất tịnh gớm thân quá nên nhờ người cắt cổ chết rồi. Ngài quở quán bất tịnh là để trị bệnh tham dục, chứ không phải để tự tử. Tu như vậy là sai lầm.
Trong kinh dạy khi quán bất tịnh thấy ghê gớm thân quá thì phải dừng, chuyển qua quán tịnh. Vì vậy tôi quay sang quán tịnh. Quán tịnh cũng không thành công. Tu tới đâu trở ngại tới đó nên tôi rất buồn, không biết làm sao, chỉ khóc và lạy Phật sám hối. Thời gian sau, nghiên cứu sách thiền của ngài Hư Vân dạy tu thoại đầu, tôi chuyển qua tu thoại đầu. Khi dụng công, đề khởi: “Trước khi cha mẹ chưa sanh mình là cái gì?” Tôi cứ đề câu đó, đề riết thì không nghĩ gì bậy, nhưng một hôm đề không lên, êm ru, lặng hết. Tôi không biết làm gì nữa nên đành dừng lại.
Tôi nghiên cứu trở lại lối tu của các thiền sư thuở xưa, nhưng không theo Ngũ gia tông phái, mà bắt nguồn ngay từ chỗ tổ Bồ-đề-đạt-ma chỉ dạy tổ Huệ Khả. Theo đó ứng dụng tu thì thấy có tiến bộ rõ ràng. Tôi thấy từ không biết tu thiền là gì, mò mẫm lần lần tìm ra được một hướng đi. Bây giờ đọc lại lời của ngài Thần Hội, tôi thấy rõ ràng thấu đáo làm sao! Nên biết khi mình cố gắng tìm cho đến tột cùng lời của Phật tổ dạy, sẽ thấy cái hay của đạo. Dù tu pháp nào trong đạo Phật, cũng đến chỗ nhất niệm, nhất tâm hoặc là vô tâm. Bao nhiêu phương tiện của Phật dạy đều đưa tới chỗ cứu cánh.
Chúng ta bây giờ không qua tu chứng từ Sơ thiền Nhị thiền cho tới Tứ thiền, cũng không qua tu chứng của hàng Thanh văn từ Tu-đà-hoàn tới A-la-hán, mà đi thẳng đến chỗ vô sanh, tức là Niết-bàn. Đơn giản và thẳng tắt nhất. Tôi càng nghiên cứu sâu càng thấy hay, đúng như chỗ đức Phật đã thấy. Nó quá đơn giản, nên khi Phật thành đạo rồi ngài không muốn nói.
Ngày xưa tôi hay thắc mắc đức Phật tu để độ chúng sanh, sao khi ngộ đạo lại không muốn nói pháp, đợi chư thiên mấy phen nài nỉ ngài mới nói? Rõ ràng chỗ chân thật đó nói không được, nói ra thấy gần quá người ta sẽ coi thường. Đến khi chư thiên cầu thỉnh, buộc lòng ngài dùng phương tiện để hóa độ. Trước tiên đức Phật nói pháp Tứ đế, đó là phương tiện nhưng lâu nay mình nghĩ là chân lý. Cuối cùng, ở hội Linh Sơn Phật đưa cành hoa, rồi nhìn khắp đại chúng, đến chỗ Ca-diếp tôn giả mỉm cười, Phật liền ấn khả. Như vậy, chỗ Phật thấy thật đơn giản, không quanh co nhưng phải nói quanh co cho chúng sanh nhận ra.
Chúng sanh nói tu thì phải có chứng quả này quả nọ họ mới ham; còn nói tu là trở về cái chân thật cứu cánh của mình, họ không biết. Không biết nên không chịu tu. Vì vậy đức Phật phải lập bày phương tiện. Chỉ có ngài Ca-diếp lãnh hội được chỗ Phật chỉ dạy là không lời. Ngài nhận ra cái thật sẵn có nơi mình nên cười. Chỗ này ngài Thần Hội chỉ ra rất tường tận.
Nên biết tu đến chỗ cứu cánh cùng tột hết sức đơn giản. Thấy thân thật, tâm suy nghĩ lăng xăng thật, như vậy là mê; thấy thân giả, tâm suy nghĩ vọng tưởng hư dối không thật là giác. Từ thấy thân thật, tâm thật chuyển qua thấy thân giả, tâm giả, khó khăn bao nhiêu, cách bao xa, nghĩ kỹ coi? Tôi nói dễ như trở bàn tay, để vầy là ngửa, lật qua là úp, không có gì khó hết. Tại vì chúng ta mê nhiều đời nên không thấy được thôi.
Nếu thân thật thì phải còn hoài, nhưng nó không bền, tan nát bất cứ lúc nào. Tâm lăng xăng cũng hư dối chợt sanh chợt diệt, sao thật được? Thế thì có gì đâu mà bám vào hai cái giả, cho là mình. Giả mà chấp cho là thật đó là si mê. Giả biết là giả, khẳng định như vậy là trí tuệ. Dùng trí tuệ biết thân này giả, vọng tưởng hư dối là giả, thì có gì mà khổ?
Con người dành tất cả của cải vật chất để nuôi dưỡng thân, bảo bọc cho thân, thân này không thật thì vật chất có quan trọng không? Vật chất không quan trọng thì được mất chỉ là trò chơi. Như vậy mình không còn tâm tranh danh trục lợi, giành giật mọi thứ của cải thế gian, do đó được giải thoát.
Nói tới chấp tâm, mình suy nghĩ cái gì cho là hay mà người khác nói dở thì nổi nóng. Mình có lập trường này người kia có lập trường khác thì chống nhau. Thế gian đau khổ vì nhóm này phái kia đấu tranh, suốt đời làm khổ cho nhau. Nếu thấy tâm không thật thì tất cả lập trường này nọ cũng không thật nên hết kình chống, hết đau khổ. Không chấp thân thì mọi đau khổ về vật chất không còn; không chấp tâm thì mọi đau khổ về tâm cố chấp, chủ trương, chủ thuyết không còn nên được giải thoát. Không chấp hai thứ đó thì tâm không còn dính mắc vọng động nên tự thanh tịnh. Tâm thanh tịnh thì chân thật hiện tiền.
Bây giờ mấy chú ngồi chơi không nghĩ gì hết, mà rõ ràng mình đang biết, cái biết nó ra sao? Nó thanh tịnh không có bóng dáng nào hết. Cái biết nghĩ suy thì có bóng; bóng của người, của vật hoặc của ngôn ngữ… Đức Phật chỉ thẳng cho mình cái vô sanh sẵn đủ mà ngài ngộ được, cái đó đầy đủ tất cả diệu dụng, nên nói chân không mà diệu hữu.
Chúng ta lâu nay chạy theo giả tướng, giả tâm thành ra cứ tạo nghiệp luân hồi, trầm luân muôn kiếp. Thấy tột chỗ đó rồi, rõ ràng không còn con đường nào ngắn gọn, gần gũi hơn đường này, nên nói Hồi đầu thị ngạn. Quay đầu là bờ, bờ giác. Lâu nay mình đi loanh quanh hoài, bây giờ thấy được con đường là điều tôi không ngờ. Tôi nhờ tâm huyết tu hành, làm gì cũng phải tìm cho tận gốc tận nguồn, nên mới ngộ ra được chỗ chân thật.
Tuy tôi thấy được, biết rõ như vậy, nhưng công việc cứ dồn dập, làm sao có thời gian để hoàn toàn sống được với cái đó, nên phải nghỉ ngơi là vậy. Nếu tôi biết nhưng làm chưa tròn, đem dạy tăng ni thì làm sao quý vị làm tròn? Vì vậy tôi phải làm tròn việc bổn phận của mình, sau này tôi nói ít, mấy chú cũng làm được. Đó là trách nhiệm cả một đời tu, không phải chuyện thường. Tôi đi chưa tới nơi mà bảo mấy chú đi tới nơi, làm sao được. Cho nên tôi phải làm gương, nói được phải làm được. Do vậy tôi chuẩn bị nghỉ, mục đích là để làm việc của mình đến nơi đến chốn, sau tôi dạy gì mấy chú cũng làm được. Bây giờ cứ nói hoài mà đứng một chỗ, thì người sau không thể tiến được.
Tôi không mong mỏi gì khác hơn là mình tu được, hướng dẫn huynh đệ tu được. Vậy mong tất cả đại chúng hiểu, cố gắng tự mình tu được và tạo duyên cho huynh đệ cùng tu, để ngày mai khi nhắm mắt không hổ thẹn về đời tu của mình.
Hôm nay tôi nói cho mấy chú biết bổn phận của người lớn là phải sắp đặt cho người nhỏ an ổn tu hành, không để cho chúng chỉ chơi hoặc chỉ làm thôi.
Nếu ngoài Bắc xây dựng thiền viện xong, những vị có trách nhiệm ra ngoài đó làm việc, cũng phải tổ chức lớp học như ở đây, tu hành như ở đây, không để thua kém. Người còn ở lại đây tôi cũng tạo điều kiện có tu, có học đều đặn. Bởi vì tôi quý duyên lành xuất gia của mấy huynh đệ, có cả một tâm nguyện lớn lao nên mới bỏ cha mẹ, thân quyến đến chùa tu hành. Cho nên phải làm sao cho xứng đáng với tâm nguyện ấy, không để tổn phí thời gian quý báu của mình. Ở trong đạo, người đi trước chỉ dẫn người đi sau. Điều gì hay quý, tất cả huynh đệ đều làm được, để đời tu của mình không hổ thẹn, không vô nghĩa.
Từ khi thành lập các thiền viện, nhất là ở Trúc Lâm điều kiện tu đầy đủ hơn các nơi khác, lại có khí hậu tốt. Trong chúng nhiều người ngoài xã hội có địa vị, đời sống sung túc mà dám bỏ tất cả vào chùa tu. Quý vị phát tâm mạnh mẽ như thế, nên tôi phải tạo duyên tốt cho đại chúng tu tiến, không để ai bị lui sụt. Chúng ta biết sự tu hành rất quý, những gì mình được đừng để mất, sau tìm lại không có. Tôi hướng dẫn tăng ni tu hành chỉ mong đạt kết quả tốt, sau này chư tăng chư ni mỗi người gánh vác một Phật sự, chứ không phải ở yên một chỗ mãi được.
Bây giờ duyên ai thích hợp ở đâu, tôi cho đến đó làm Phật sự. Đại chúng thấy tôi nghỉ là sự thiệt thòi nhưng không phải, tôi nghỉ một mà có mười hay hơn nữa sẽ tỏa ra khắp nơi. Ngọn đèn chánh pháp được thắp lên ở những nơi chưa có Phật pháp, điều này thật tốt. Vì vậy, những vị có trách nhiệm phải biết rõ mình đi làm lợi ích cho chúng sanh, không phải để thụ hưởng. Tăng ni đi từ trong nước ra nước ngoài, đều với một tâm niệm là vì mở mang Phật pháp, vì đạo, không vì điều gì khác. Mai kia, nếu huynh đệ được tụ hội về sẽ đem những điều hay điều tốt, những Phật sự mình đã làm được kể lại cho huynh đệ nghe, cùng chia sẻ kinh nghiệm để hướng tiến. Tất cả đều vì Phật pháp, không hề có tâm tư riêng.
Làm Phật sự chẳng dễ chút nào. Ở đâu cũng có cái khó của nó. Chỗ xa lạ thì khó là vì mình chưa có kinh nghiệm. Chỗ quen biết thì khó vì mình làm được việc cũng có người ganh tỵ. Vì vậy phải khéo uyển chuyển linh động. Sở dĩ lâu nay tôi làm được chút ít Phật sự là vì không chống đối ai, mà lại dung hòa nhu nhuyến. Ai chưa hiểu, chưa thông cảm thì từ từ người ta hiểu mình. Nếu mình cương quá, ai nói một ta mắng lại hai thì chắc không làm được gì. Đó là điều thiết yếu tôi nhắc nhở đại chúng.
Hôm trước tôi có nhắc, nghe tiếng trống thì toàn chúng bên tăng cũng như bên ni, phải dừng hết mọi thứ để lắng nghe bài kệ, vì hồi trống đó như tiếng báo động. Tại sao gọi là báo động? Lâu nay chúng ta có bệnh giải đãi tức là lười trễ. Giải đãi làm cho đời tu mình không tiến, không vươn lên được, nên Phật dạy phải lấy tinh tấn trị giải đãi. Tinh tấn là pháp thiết yếu đánh thức mình cố gắng vươn lên. Muốn tinh tấn thì lấy thuốc gì để trị, để nhắc? Chỉ có bài thuốc vô thường mà hai hình ảnh trong bài kệ diễn tả rất hay.
Hình ảnh thứ nhất là như cá ở dưới ao hồ, tới mùa khô, mỗi ngày nắng qua là nước thấp xuống một phần. Nước thấp xuống dần thì sự khô cạn của cá gần kề, cái chết cũng sắp tới. Nhớ như vậy, để thấy một ngày qua tuổi thọ của chúng ta giảm đi một phần. Giống như cá dưới ao, nắng qua một ngày thì cạn nước một phần, dần dần nó sẽ chết khô. Đó là hình ảnh rất cụ thể cho thấy sự vô thường.
Hình ảnh thứ hai là nhớ vô thường đến gấp, cần cứu như lửa cháy đầu. Nếu có một tàn lửa rớt xuống đầu, người ta phải lia lịa không chút chần chừ. Tại sao? Tại sợ cháy đầu. Cũng vậy, chúng ta tu mà chần chừ, ngày nay mệt quá để ngày mai hãy tu, như vậy không bao giờ tiến được. Phải nhớ cái chết đuổi gấp không còn bao lâu, cần cấp bách vận dụng hết sức tu chứ không lôi thôi. Nhà Phật mượn vô thường để đánh thức sự tinh tấn của chúng ta. Cuối bài kệ là đọc danh hiệu Bồ-tát Thường Tinh Tấn, để nhắc mình luôn nhớ cố gắng.
Như tôi đã tám mươi tuổi. Nếu cuối năm nay chết thì còn sống được bao nhiêu ngày? 365 ngày mà bây giờ qua hết 30 ngày rồi, còn có 335 ngày thôi. Rõ ràng qua một ngày là cái chết kề một bên, nên chúng ta phải quý tiếc từng chút thời gian, không thả trôi được. Nhờ quý tiếc mà mình cố gắng tu, nhờ cố gắng tu mới thoát khổ trầm luân sanh tử. Nhiều người không hiểu, nghĩ rằng cố gắng tu là tới giờ đi tụng kinh, lễ Phật, ngồi thiền vậy thôi, ngoài ra không biết ứng dụng làm sao nữa.
Thật hết sức rõ ràng! Phật đã chỉ thân này là vô thường, không ai giữ được hết, nhưng nơi nội tâm có hai phần. Một phần nội tâm sanh diệt và một phần nội tâm không sanh diệt. Nội tâm sanh diệt là tham, sân, si, mạn, nghi… nói theo thế gian là buồn thương giận ghét, phải quấy, tốt xấu, hơn thua… Tâm sanh diệt mạnh thì nó sẽ dẫn mình đi trong luân hồi không dừng. Vì vậy Phật thường dạy chúng ta nên dè dặt cận tử nghiệp. Cận tử nghiệp là nghiệp giờ phút cuối, khi sắp tắt thở mà mình chợt nhớ thương ai hoặc giận ai thì nó dẫn mình đi tới đó để thọ nghiệp. Nên biết tâm buồn thương giận ghét sẽ chủ động dẫn mình đi luân hồi, rất nguy hiểm.
Cho nên chúng ta phải dẹp tâm sanh diệt bằng cách tụng kinh, ngồi thiền. Ngồi nghiêm trang tề chỉnh, dồn hết tâm lực nhìn thấy những niệm thương ghét dấy lên, bỏ đi để làm chủ nó. Làm chủ niệm sanh diệt rồi là làm chủ sanh tử. Nên ngồi thiền là giờ phút tối quan trọng để giữ quyền làm chủ cho mình. Nếu gần tắt thở, mình vẫn thản nhiên tự tại thì được thảnh thơi. Ngược lại, lúc ấy còn nhớ thương buồn giận thì đi trong luân hồi không dứt.
Trên đời này ai không khỏi chết? Cái chết đã chực sẵn, chỉ có mình khéo tu giành lại quyền làm chủ. Giành với ai? Cũng giành với mình. Ngồi yên lặng thấy từng tâm niệm tốt xấu dấy lên, buông bỏ cho nó tan mất để được yên tịnh, đó là giành quyền làm chủ.
Việc tu hành gốc là để giải thoát sanh tử. Người đi trên đường giải thoát sanh tử là người siêu thoát. Siêu thoát ở chỗ người đời cứ lầm lũi đi trong sanh tử mà không hay, còn chúng ta biết được gốc của sanh tử, dẹp nó, vượt lên nó thì giải thoát sanh tử.
Người tu là người siêu xuất thế gian, siêu xuất ở chỗ mình làm chủ được tâm sanh diệt của chính mình, chứ không phải chỗ ăn chay hay tụng kinh giỏi. Muốn làm chủ thì phải ngồi thiền cho vững vàng, tỉnh sáng, chứ còn mơ mơ màng màng, làm sao làm chủ được. Hiểu vậy, quý vị mới thấy quý sự tu. Chúng ta biết mình trầm luân sanh tử liên tục không dừng, giờ đây muốn ra khỏi vòng lẩn quẩn đó nên mới tu. Cho nên giờ tu là giây phút tối quan trọng, phải đem hết sức lực để yên tu. Nếu không hiểu rõ bảo tu thì cứ bắt chân ngồi thiền, mà không biết ngồi để làm gì, kết quả ra sao.
Tôi nhắc nhở người lớn tuổi tu theo người lớn tuổi, người trẻ tuổi tu theo người trẻ tuổi. Người trẻ tu cho có đạo lực rồi độ người, các vị lớn tuổi tu để làm chủ được mình, để thoát nghiệp sanh tử. Muốn được an ổn lâu dài ai cũng phải tiến tu, không được lơ là. Mong toàn chúng cố gắng tu hành, đừng bỏ sót ngày giờ nào.
Hôm nay tôi ngồi trong thất nghe bên chùa tụng sám hối, mấy chú đánh mõ nhanh quá, nghe không kịp. Tôi thí dụ thế này. Như những đứa con phạm lỗi, chúng quỳ trước cha sám hối xin tha thứ lỗi lầm. Cha hỏi con phạm lỗi gì? Khi đó nó phải kể từng điều rõ ràng, mới gọi là sám hối. Đàng này mở đầu đọc vài câu chậm chậm, sau đó đọc nghe không kịp. Phải nhớ sám hối là thành tâm tha thiết sám hối lỗi cũ, nhờ Tam bảo gia hộ cho tiêu mòn, cho nên phải đọc rõ ràng từng câu chữ.
Những lỗi lầm mình phạm kể rõ ra để không dám tái phạm. Như vậy phải có tâm tha thiết thành khẩn kể ra. Đánh mõ tụng theo không kịp, nghe không hiểu, giống đứa con kia quỳ thưa với cha cho sám hối mà nói líu lo, ông già nghe không được. Như vậy sám cái gì, làm sao tha, làm sao hết tội? Thời sám hối chí ít cũng khoảng bốn mươi hay bốn lăm phút, tụng đâu đó đàng hoàng. Huynh đệ phải ý thức tụng sám hối là để xét lại xem mình có phạm lỗi chi thì sửa đổi cho tiêu tội. Đọc vừa phải, tụng cho rõ ràng, lời lẽ đầy đủ. Nếu ai yếu quá quỳ lâu không nổi thì có thể ngồi, mấy ông già ngồi cũng được. Phật tử tới chùa sám hối mà quý thầy tụng nhanh kiểu đó, thấy như tụng trả nợ chứ đâu phải tu. Thật là xấu hổ!
Đến chuyện nhập thất. Huynh đệ được nhập thất thì ở trong thất kín tu, đi kinh hành ngoài hành lang thất thôi, chứ không nên đi xa. Như vậy sự tu mới miên mật. Mấy thầy đừng so sánh với tôi. Tôi nhập thất rất thong thả, đi chơi ngoài vườn, nằm võng, ngồi ngó thông… Chư tăng nên biết trong Mười mục chăn trâu, từ mục một hai ba, chú mục đồng nhọc lắm, vận dụng hết sức mình để gìn giữ con trâu hoang. Nhưng từ mục năm sáu về sau mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo hoặc ngồi chơi thảnh thơi. Cũng là chăn trâu mà giai đoạn đầu rất nhọc nhằn, còn giai đoạn sau mục đồng không dùng sức nhiều nhưng cũng không rời trâu. Như vậy, không thể nói chăn trâu thì lúc nào cũng phải cầm roi, dây vàm, làm dữ mới chăn được. Tùy theo chặng đường mà sử dụng cho hợp lý.
Tu thiền có những điều kỳ lạ, người ngoài nhìn vô không hiểu nổi. Thiên hạ nói tu thiền là phải ngồi thiền liên miên, nếu thấy mình ngồi chơi ngoài vườn hoặc đi thong thả trên đường… họ tưởng như ít tu. Vì vậy chúng ta cần biết rõ cách dụng công trong mỗi giai đoạn, để không bị lầm lẫn trong khi tu. Như tôi đã nói, nguồn gốc sanh tử luân hồi nằm ở nghiệp. Nghiệp dẫn chúng sanh đi luân hồi trong lục đạo. Nhưng cái gì sanh ra nghiệp?
Như mình vừa dấy niệm giận ai thì miệng liền nói dữ, hành động dữ, như vậy là tạo nghiệp rồi. Gốc từ niệm bên trong, niệm khởi giận nên nói dữ, làm dữ thành nghiệp dữ. Vừa thấy ai, khởi niệm thương mến thì lời nói nhẹ nhàng, hành động dễ thương thành nghiệp lành. Nên biết nghiệp lành nghiệp dữ xuất phát từ niệm lành niệm dữ. Hiểu như vậy thì thấy tất cả pháp tu của đạo Phật, trọng tâm đều nhắm thẳng vào niệm. Cho nên niệm Phật để làm gì? Người ta nói niệm Phật để cầu vãng sanh, sự thật niệm Phật là để dừng niệm lăng xăng, bởi vì còn niệm lăng xăng đối đãi là còn đi trong sanh tử.
Niệm sáu chữ Nam-mô A-di-đà Phật thì không khởi nghĩ, nhưng dừng chuỗi lại không niệm nữa thì sao? Thì tâm chạy lăng xăng. Câu niệm Phật là để dập đi những niệm tưởng lăng xăng, không có gì lạ. Niệm Phật để đè các niệm khác, đến khi dừng niệm Phật thì các niệm khác cũng khởi lên. Vậy nên dụ như lấy đá đè cỏ, đá nặng nên cỏ không lên, nhưng dời đá đi chỗ khác thì cỏ tiếp tục mọc.
Tu thiền như bứng gốc cỏ đi luôn. Tại sao? Thiền ở đây, nói thẳng là Thiền tông. Vì niệm dấy lên, hành giả không dùng câu gì để diệt niệm mà biết gốc niệm là hư dối, bản chất của niệm không thật, buông bỏ đi thì tâm được lặng lẽ. Như vậy không đè mà bứng tận gốc. Hiểu cho thật kỹ mới thấy ý nghĩa đường lối tu của Thiền tông.
Ngày xưa, khi tổ Huệ Khả hỏi tổ Bồ-đề-đạt-ma: “Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Tổ bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Lúc đó tổ Huệ Khả hoảng hốt, không biết tâm mình ở đâu, quay lại tìm cái tâm bất an đó thì nó mất tiêu. Ngài tìm không thấy, bèn thưa: “Con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Tìm lại coi bản chất tâm bất an đó ở đâu, ra sao thì nó biến mất, có phải dẹp tận gốc không?
Lục Tổ nói vô niệm vi tông, vô niệm là nền tảng, lấy vô niệm làm tông. Vô tướng vi thể tức là cái thể không tướng. Vì còn niệm là còn tướng, hết niệm rồi thì còn tướng mạo gì. Vô trụ vi bổn là không vướng mắc vào thứ nào, không vướng mắc hai bên thì còn trụ cái gì. Đó là gốc, nên nói vô trụ vi bổn. Như vậy gốc của tu thiền là dùng trí nhổ cho sạch niệm.
Người trì chú đến tam mật, thì câu thần chú là trọng tâm để trở về chỗ dứt niệm. Niệm Phật cũng trở về chỗ dứt niệm. Tu thiền đến chỗ vô niệm. Bao nhiêu pháp Phật dạy tu, cuối cùng đều trở về chỗ dứt niệm. Dứt niệm là nhân giải thoát sanh tử. Đạo Phật là đạo giải thoát, dứt hết mầm sanh tử tức là giải thoát. Mầm sanh tử là gì? Là niệm khởi. Mà niệm khởi từ đâu? Từ những đối đãi hai bên thương ghét, giận buồn… Vừa có niệm hai bên liền đi trong sanh tử, dứt niệm là thoát ly sanh tử.
Khi Lục Tổ nói với thượng tọa Minh: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?” Huệ Minh ngộ ngay. Ngộ cái gì? Ngộ mặt mũi xưa nay lìa hai bên. Bản lai diện mục chính là tâm chân thật sẵn có, lìa hai bên của mình. Vừa dấy niệm hai bên thì đi trong sanh tử. Hiểu cho thật sâu, thấy cho thật rõ thì chuyện tu hành không còn gì nghi ngờ hết. Sở dĩ ngồi thiền mình cố gắng dẹp vọng là để nó yếu đi, lúc vọng đã yếu thì công phu dẹp vọng cũng giảm dần. Khi đó mình thong thả đi đứng hoặc ngồi chơi thấy cảnh, thấy người đều không dấy niệm, giai đoạn này tu rất nhẹ nhàng.
Ngài Trần Nhân Tông nói Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền. Đi đứng nằm ngồi không khởi niệm chạy theo cảnh là thiền. Thiền trong bốn oai nghi chứ không chỉ trong giờ ngồi thiền. Hiểu vậy mới biết sự tu từ thấp lên cao như thế nào. Lục Tổ đâu có ngồi thiền nhiều, chẳng lẽ như vậy là tu dở sao? Tới trình độ của ngài thì trong bốn thời hay bốn oai nghi đều là thiền, không cần dụng công hay kìm như người sơ cơ mới vào đạo.
Tu càng cao phong thái càng thoải mái, người mới tu bắt buộc phải kìm chế điều phục. Trọng tâm đặt ở chỗ vô niệm, nếu còn những niệm lăng xăng sanh diệt thì phải kìm, đến khi vừa dấy niệm liền mất thì không cần kìm. Hiểu thật rõ, huynh đệ tu không bị lầm. Nhiều khi tôi đi bộ hoặc ngồi hóng gió, ai hỏi ngồi làm gì? Tôi nói chỉ thấy rừng thông, nghe chim kêu và hóng gió mát thôi, không làm gì hết. Ngồi chơi mà vô tâm, đó là thiền.
Tâm sanh diệt là gì? Là niệm, niệm là gốc của sanh diệt. Lâu nay người ta lầm tưởng tâm sanh diệt là tâm chân thật. Niệm là nhân sanh tử, muốn ra khỏi vòng sanh tử thì phải diệt hết nhân sanh tử. Mình tu cốt đến vô niệm, muốn vô niệm phải dẹp các niệm. Ban đầu hơi khó khăn nhọc nhằn, càng về sau càng nhẹ nhàng.
Nói vậy có người mới nghe đâm hoảng, nhất là Phật tử, bắt vô niệm làm sao làm được? Bởi vậy nên Phật mới có phương tiện, người nào muốn tu mà còn gia đình, còn bề bộn thì dạy giữ năm giới, ráng tu nhân lành tránh quả dữ, đời sau trở lại làm người tốt. Ai khá hơn thì tu thập thiện, đời sau sanh cõi trời. Người giỏi hơn nữa thì tu từ Sơ thiền trở lên. Đó là những phương tiện để Phật tử từng bước tiến lên mục đích chính của đạo Phật là đi tới vô niệm.
Gốc của đạo Phật tu là giải thoát sanh tử. Chính niệm là nhân đưa đi luân hồi sanh tử. Niệm sạch rồi thì hết luân hồi sanh tử. Nói vậy có người nghi, tu rồi nhập Niết-bàn không độ ai hết, để chúng sanh chịu khổ? Không phải vậy. Các vị Bồ-tát làm chủ được niệm, không còn bị sanh tử nên các ngài phát nguyện đi trong sanh tử để độ chúng sanh, chứ không phải nhập Niết-bàn hết. Người tu thanh tịnh rồi, thấy chúng sanh mê chịu khổ nên nguyện đời sau sanh ra để độ họ. Đó là nguyện lực, còn chúng sanh là nghiệp lực. Lực là sức mạnh, nghiệp lực là sức mạnh của nghiệp dẫn đi thọ sanh, nếu hết nghiệp rồi thì nguyện lực là sức mạnh dẫn đi độ sanh. Người tu phải phát nguyện độ chúng sanh, có đức Phật nào mà không phát nguyện độ chúng sanh đâu. Không độ chúng sanh thì làm sao thành Phật! Hiểu vậy thì rõ con đường tu, không còn gì nghi ngờ hay sợ sệt.
Người mới tu điều cực khổ nhất là ngồi thiền hai tiếng đồng hồ. Người chưa quen thì coi như bị hành hình. Thật ra đó là sức mạnh của mình, trước phải cố gắng thắng được cái đau của thân rồi mới thắng được vọng niệm của tâm. Thân đau nhức thô dễ thấy, nếu thắng được nó thì từ từ sẽ thắng được tâm. Tâm tế nhị nên khó điều phục hơn, không thắng được thân thì khó thắng nổi tâm. Giai đoạn đầu thiền sinh đặt nặng thắng về thân, ngồi từ từ ráng thêm mười, hai mươi phút cũng đáng mừng. Thân yên rồi chừng đó mới đặt nặng về tâm. Hiểu sự tu thứ tự như vậy nên không có gì phải ngại hết.
Lý do chúng ta luân hồi sanh tử là bị nghiệp dẫn, nghiệp lành nghiệp dữ dẫn chúng ta đi đến chỗ lành chỗ dữ, luân hồi trong lục đạo. Vậy nghiệp từ đâu ra? Nên biết nghiệp là do niệm tham, sân, si tạo thành nghiệp ác, còn niệm từ bi tạo thành nghiệp lành. Niệm xấu dẫn đi đường ác, niệm lành dẫn đi đường thiện. Cho nên còn có niệm thiện ác là còn sanh tử luân hồi trong lục đạo.
Lục Tổ nói với ngài Đạo Minh, nếu còn nghĩ thiện nghĩ ác là còn đi trong sanh tử. Muốn thấy được bản lai diện mục thì không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Điều này làm nhiều người hoang mang, tu rồi đi đến chỗ không suy nghĩ gì, như vậy có việc cần suy nghĩ phải làm sao? Cũng có người thắc mắc, nếu thầy dạy lớp trẻ tu mà không nghĩ thiện nghĩ ác thì làm sao học hành. Bởi vì học thì phải phân tích cái này hay, cái kia dở để tiến lên. Bây giờ không nghĩ thiện, không nghĩ ác thì làm sao học? Đó là những vấn đề tôi cần nói cho huynh đệ hiểu, mai kia có ai tới chất vấn thì mình chỉ cho họ thấy rõ.
Người tu Phật không phải chỉ có một hạng, mà nhiều thứ bậc khác nhau. Như dạy người mới tu thiền thì tôi thường dạy đếm hơi thở, theo dõi hơi thở, để hạn chế tâm lăng xăng của họ. Do nhớ hơi thở nên không khởi niệm tạp, nhờ vậy mà làm chủ được. Tuy nhiên còn có chỗ trụ là hơi thở thì chưa phải cứu cánh. Đó là phương tiện cho người mới tu, tập làm chủ được tâm của mình phần nào. Người thế gian không làm chủ được tâm, khi nổi sân si làm nhiều điều thất đức, không giữ tư cách con người. Bây giờ tu, tập làm chủ, vừa có niệm sân si dấy động liền nhớ tới hơi thở, trụ vào hơi thở thì niệm đó tan đi. Nhờ thắng được tâm cuồng loạn nên làm chủ được phần nào. Đó là giai đoạn đầu.
Tu khá hơn nữa thì làm chủ được tâm mình, không bị vọng tưởng hoành hành. Điều cần nghĩ thì nghĩ, không cần nghĩ thì không nghĩ. Có những đứa học trò đang học bài mà nhớ chuyện đâu đâu, tâm không chuyên chú nên học khó thuộc. Giai đoạn hai, mình làm chủ được tâm niệm, hướng nó đi theo con đường tốt đường lành, nhưng ngang đó vẫn chưa hết niệm. Nên biết hai chặng đầu là của người tu từ sơ cơ đến trung bình.
Tu Phật là tu tâm. Chúng ta gạn lọc nội tâm, dẹp bỏ những thứ thô thiển, để đi đến làm chủ nó. Làm chủ được rồi tâm càng sáng hơn, việc làm kết quả tốt hơn. Cuối cùng bỏ hết hai bên tiến lên bậc Thánh. Vì khi bỏ hai bên thì Vô sư trí xuất hiện, như đức Phật thấy biết tất cả không gì không biết. Cái thấy biết đó trước sau như thật, không giống cái thấy biết phàm tình, lúc này phải mà lúc khác không phải. Như vậy tu thiền là phương pháp hướng dẫn làm chủ nội tâm.
Đến giai đoạn thứ hai, hành giả đếm không lầm, không sai nữa thì chuyển qua tùy tức. Theo hơi thở vô ra tới đâu biết rõ, chú ý hơi thở vô ra, vừa nghĩ bậy liền nhớ đến hơi thở thì những suy nghĩ bậy qua mất. Như vậy dùng hơi thở để kìm chế không cho tâm chạy bậy. Giai đoạn này hơi lâu, tu đến chừng nào thuần thục mới chuyển qua giai đoạn kế tiếp. Đó là biết vọng không theo.
Đến đây chúng ta không cần chú ý đến hơi thở nữa. Chỉ cần vừa dấy niệm liền biết, biết rồi buông, tập làm chủ. Làm chủ được tâm rồi mới có quyền cho nó nghĩ hay không nghĩ. Chúng ta chưa làm chủ được, vừa dấy niệm liền chạy theo nó. Nên giai đoạn thứ ba này công phu khá vất vả. Qua giai đoạn thứ ba tới giai đoạn thứ tư là buông hết không còn hai bên. Như vậy sự tu đâu phải đi một mạch là thẳng tới điểm cuối. Nhiều người không hiểu, đọc sách thấy dạy bỏ hết mới tới chỗ cứu cánh, nên tưởng dễ làm.
Có một điều quan trọng tôi cần nói rõ cho tăng ni hiểu. Lâu nay có một số người cho rằng Thiền tông là mật truyền tâm ấn. Mật là thầm kín, nghĩa là thầy truyền riêng cho trò. Như Phật đưa cành hoa sen lên, ngài Ca-diếp cười, Phật truyền tâm ấn cho. Cứ thế, mãi về sau đệ tử được thầy truyền tâm ấn, tu theo mới đúng tinh thần Thiền tông. Tới thời chúng ta không có ai truyền thì sao? Thiền tông ngang đây đành phải dừng lại à? Nên việc làm của tôi có thể nói là hơi cả gan.
Ngày xưa trong pháp hội của Lục Tổ có ngài Thần Hội. Một hôm Lục Tổ nói giữa đại chúng:
– Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?
Ngài Thần Hội đứng ra thưa:
– Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.
Tổ quở:
– Đã nói với ngươi là không tên không họ, ngươi lại kêu là bản nguyên, Phật tánh. Ngươi lại đi lấy tranh che đầu, cũng chỉ thành tông đồ của hàng trị giải.
Câu đó thật kỳ diệu! Tại sao nói bản nguyên, Phật tánh mà lại là lấy cỏ tranh che đầu? Bởi vì, có một số người tu nghe Tổ nói một câu, tuy không hiểu nhưng tin tưởng thầy là người được truyền tâm ấn, nên chết sống với câu đó. Tới khi bùng vỡ, tỏ sáng rồi nhận được mặt thật, cái đó không có tên họ. Ngài Thần Hội chủ trương lấy những lời trong kinh, giảng cho người ta hiểu để tu. Nếu chờ bùng vỡ thì biết chừng nào. Chính nhờ ngài dùng Phật pháp, những từ Phật tánh, chân tâm… về phương Bắc giảng thiền, người ta mới lãnh hội được, nếu chỉ truyền tâm ấn như trước giờ thì thiền ngang đó đứt đoạn.
Lục Tổ quở: “Ông là tông đồ của hàng trị giải.” Tri giải là thuộc về hiểu biết, là thiền thuộc về hiểu biết. Thiền mật truyền là thầy nói một câu, lấy câu đó mà chết sống, gặm nhấm hoài đến lúc vỡ tung, trò tự nhận ra thấu suốt chỗ thầy chỉ, ngay đó được truyền tâm ấn. Hệ mật truyền mãi tới sau này mỗi thời còn một hai vị Tổ, bây giờ tìm không thấy người nào. Như vậy chúng ta muốn tu thiền phải làm sao?
Có người đặt câu hỏi ai truyền tâm ấn cho tôi mà dám giảng về Thiền tông. Đó là tôi nhắm thẳng chỗ truyền thiền của ngài Thần Hội, nhất là khi giảng Thần Hội ngữ lục tôi càng chắc chắn. Ngày xưa Lục Tổ nói ngài Thần Hội là môn đồ của hàng trị giải, bây giờ chủ trương đường lối tu thiền của mình cũng thuộc về lý giải. Chúng ta tu thiền là do nhận được lý thiền của chư Tổ, rồi mới ứng dụng tu. Con đường lý giải thì không có người truyền, nếu mật truyền tâm ấn thì phải thầy trò truyền nhau. Hệ đó đến nay gần như đứt đoạn, kể cả Trung Hoa, Nhật Bản tìm cũng không ra.
Như vậy Thiền lý giải có thể phù hợp với hoàn cảnh của xã hội, của nhân loại hiện tại. Nền văn minh của xã hội đang tiến, con người làm gì phải biết rồi mới làm. Biết rồi mới làm, nghĩa là phải hiểu được lý rồi sau mới hành. Thiền lý giải cũng vậy, trước phải hiểu lý sau mới thực hành.
Trong thiền sử có giai thoại Tăng hỏi ngài Lâm Tế:
– Thế nào là Vô vị chân nhân?
Sư xuống thiền sàng nắm đứng lại, bảo:
– Nói! Nói!
Tăng toan nói, Sư buông ra và nói:
– Vô vị chân nhân là gì? Cục cứt khô!
Nói xong Sư liền trở về phương trượng. Hôm sau lại nói về sự pháp giới, lý pháp giới, đến lý sự vô ngại pháp giới, Sư lại hỏi:
– Đây đáng gọi là thiền chưa?
Vô Tận đáp:
– Chính là nói thiền.
Sư cười bảo:
– Chẳng phải, chính là còn trong lượng pháp giới, bởi lượng pháp giới chưa diệt, nếu đến sự sự vô ngại pháp giới thì lượng pháp giới diệt, mới là nói thiền.
Thế nào là Phật? Cục cứt khô. Thế nào là Phật? Ba cân gai. Không ai chịu nổi câu nói này, mấy vị dịch giả nghĩ cục cứt khô thô quá, nên dịch que cứt khô. Thật ra câu nói đó cốt đập tan hết tất cả kiến giải. Ai dám nghĩ Phật là cục cứt khô? Như vậy, Tổ đã chỉ Phật là tâm vô niệm, không thể nghĩ bàn, vừa nghĩ bàn thì đã mất Phật rồi. Cho nên ngài nói một câu khiến người ta bặt dứt mọi nghĩ suy. Lời của người xưa nói cốt đập chết ý thức lăng xăng của mình. Ngay trong lúc bị hỏi mà dùng ý nghĩ suy để đáp là sai. Đó là chỗ đặc biệt.
Như Tăng hỏi Động Sơn Thủ Sơ: Thế nào là Phật? Động Sơn đáp: Ba cân gai. Làm sao mà hiểu! Chính chỗ không hiểu đó là Phật, khởi niệm là mất Phật rồi, không nghĩ thiện không nghĩ ác là bản lai diện mục, còn khởi niệm là không đúng. Nói cho người dứt hết nghĩ suy, chỉ ngài Lâm Tế là thô nhất bạo nhất. Có khi người hỏi: “Thế nào là Phật?” Ngài đánh cho một gậy.
Hòa thượng Đả Địa nhận được ý chỉ nơi Mã Tổ, Sư thường ẩn danh. Mỗi khi có người tham học đến hỏi đạo, Sư liền lấy gậy đập xuống đất, chỉ đó, nên gọi là Hòa thượng Đả Địa. Một hôm, bị vị tăng giấu cây gậy rồi hỏi Sư, Sư quơ không có gậy nên há miệng, chứ không nói gì. Không ai hiểu hành động ấy là gì. Đó là chỗ không suy nghĩ được, vừa khởi suy nghĩ là mất Phật. Chỗ này không có lời để nói! Vì nói là hai bên, không phải chỗ chân thật.
Tổ Tăng Xán nói trong Tín Tâm Minh: “Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm” nghĩa là tin tâm mình thì không còn hai bên, không hai bên là tin tâm mình. Đó là chỉ thẳng tâm chân thật không còn hai bên. Chúng ta ngồi thiền để lặng hết tâm niệm lăng xăng, tâm lặng lẽ không nghĩ gì thì đâu có dính hai bên. Đó là đã đạt tới chỗ rốt ráo mà các Tổ đã chỉ.
Xét từ đầu tới cuối, thấy rõ chư Tổ không giấu mình. Trong những thủ thuật của các ngài, nếu chúng ta thâm nhập được thì ngay đó sáng ra lẽ thật, không qua lý giải. Bây giờ mình không có thầy trực tiếp chỉ ra những cái kỳ đặc, thì phải đi theo đường lý giải. Người Tây phương không chịu làm gì khó hiểu, nói tỏ rõ để họ biết mà ứng dụng tu hành. Tuy lối này tu chậm hơn nhưng không lầm. Như vậy muốn cho Thiền tông bủa khắp các nơi, mọi người tu được, chúng ta phải dùng Thiền lý giải. Lý giải tức là đạt được lý, giải bày cho người ta hiểu, rồi mới tu. Đó là chủ trương của mình.
Như vậy tu Thiền lý giải phải đi từng chặng. Những chặng đầu mượn hơi thở để tu, từ từ tâm lăng xăng giảm dần, cho tới lúc nào đó bặt dứt thì tới chỗ cứu cánh. Thiền lý giải, mọi người có thể học hoặc nghiên cứu để hiểu lý thì thực hành được, ứng dụng được.
Hôm nay tôi nói đề tài “Con trâu hoang”.
Trong Mười mục chăn trâu, đầu tiên mục đồng đi đâu? Đi tìm trâu. Khi tìm thấy trâu rồi có bắt được nó liền không? Không dễ bắt được nên phải dùng đủ phương tiện nào là dây vàm, roi, rồi nhử từ từ nó mới chịu tới với mình. Xỏ mũi trâu được rồi cũng phải luôn luôn dùng roi đánh, như vậy mới kìm chế nổi nó. Từ con trâu hoang dần dần trở thành thuần hòa, hiền lương, mình ngồi trên lưng cưỡi đi hoặc thả cho nó ăn thong thả, trải qua rất nhiều công phu.
Trâu hoang là chỉ cái gì? Chỉ tâm lăng xăng lộn xộn của chúng ta. Quý vị kiểm tra lại tâm, thấy nó lương thiện hiền hòa hay có đủ thứ? Có kẻ mặc áo cà-sa mà cũng nghĩ bậy, đừng nói người thế gian. Tâm được minh họa như con trâu hoang là hình ảnh dễ biết nhưng chưa hết ý. Tại sao? Vì khi mục đồng nắm mũi trâu hoang rồi thì có nó, có mình giằng co. Đằng này, con trâu hoang của mình không biết trốn chỗ nào. Muốn điều phục, không biết nó ở đâu mà điều phục.
Trong kinh Pháp Cú, đức Phật nói “tâm dẫn đầu”, tâm dẫn đầu là tâm nào? Tâm sanh diệt dẫn đầu, vì khởi niệm rồi mới nói ra lời, tạo ra hành động. Như vậy khởi niệm là đầu mối trở thành nghiệp lành hay nghiệp dữ. Nếu khởi niệm lành, sẽ nói lành làm lành, khởi niệm dữ sẽ nói dữ làm dữ. Kiểm lại, hàng ngày tâm chúng ta có khi nghĩ lành, khi nghĩ dữ, đủ hết. Chúng ta không biết nó ở đâu mà lâu lâu chợt dấy lên, mình cố tình loại bỏ cũng không biết làm sao loại cho hết. Vì vậy bước đầu vào đạo, Phật dạy mình phải giữ giới, người xuất gia tối thiểu phải giữ mười giới.
Mười giới đó là gì? Là sợi dây mũi, là dây roi để đánh con trâu hoang của mình. Người tu hạnh giải thoát trước phải lấy giới cột các tạp niệm. Khi dấy niệm muốn phạm giới thì phải quở trách: “Phạm giới là đọa địa ngục, muốn đọa địa ngục hả?” Nạt mắng nó, la rầy nó, đó là roi. Như vậy dần dần nó mới sợ. Nếu khởi lên mà mình theo nó thì sẽ điên loạn, thành người phạm giới.
Tâm vọng động là manh mối dấy động đủ thứ tốt xấu, lành dữ… Nên khi bắt đầu tu tập, Phật dạy người cư sĩ phải lấy năm giới làm căn bản, người xuất gia ít ra cũng giữ mười giới làm căn bản. Đó là xiềng xích cột con trâu hoang. Người chăn trâu kỹ giữ tròn mười giới, có ác không? Không ác, đó là kìm cho mình đi đúng đường. Nó ngoái cổ qua lúa mạ người thì phải đánh, nạt nộ, quở trách. Bước đầu vì trâu chưa thuần hòa, chưa xỏ mũi được thì phải dùng mọi phương tiện kìm chế nó. Khi xỏ mũi được rồi phải nắm chặt dây mũi trong tay. Chư tăng ni, ai giữ được mười giới là đã nắm dây mũi rồi. Có sẵn roi để chúng ta đánh nhắc cho tâm đừng dấy niệm sai, thẳng trên đường mà đi, không được vào lúa mạ nhà người.
Đó là phương pháp đầu đức Phật dạy tu điều phục tâm. Vì tâm rất quan trọng, nếu không điều phục thì nó dẫn mình đi vào đường xấu, không lường trước nổi. Nhiều khi ngay lúc này nó tốt, giờ sau nó xấu. Bởi vậy chúng ta phải điều phục cho được tâm mình. Mình khéo gìn giữ, kìm chế lâu ngày dài tháng con trâu hiền hòa rồi, sau đó sẽ thảnh thơi.
Không ai mới bước vào đạo mà tâm hoàn toàn hiền lành, phải khéo điều hòa lâu ngày mới được. Khi trâu hiền lành rồi, cứ để nó thong thả ăn cỏ, thằng chăn nằm ngủ trên tảng đá hay dưới gốc cây. Đức Phật dạy tu cốt là trị tâm ngoan cố cho được thuần, trở thành hiền lương, đức hạnh. Như vậy tu chuyển xấu thành tốt.
Chư tăng xuất gia trẻ, Phật cấm không có các niệm nhiễm ô đối với nữ sắc, nếu quý vị lỡ nhiễm thì sao?
– Dạ, nhìn nó.
Phải lấy roi đánh nó thật mạnh, nạt nó, nếu chỉ nhìn thì nhẹ quá. Con trâu đang dữ mà nhìn nhẹ là không được. Khi niệm dở xấu dấy lên thì nạt: Xuất gia mà nhiễm nữ sắc là phạm giới, đọa địa ngục! Nạt như vậy cho nó sợ, dừng lại. Tự mình nhắc đi nhắc lại để tránh không phạm lỗi lầm. Ngoài ra còn bao nhiêu điều khác cũng vậy, luôn kiểm soát tâm mình, đừng để niệm xấu ẩn náu.
Nếu không có niệm xấu, chỉ toàn niệm lành thì đã ra khỏi sanh tử chưa? Vẫn còn đi trong sanh tử, nhưng ở cõi lành, không rơi vào cõi ác. Nếu tốt xấu lẫn lộn thì khi nhắm mắt cái nào mạnh sẽ theo cái đó. Việc tu hành không đơn giản, chúng ta phải cẩn thận dè dặt từng chút một, cố gắng siêng năng chăn con trâu tâm không ngừng, không lơ là, cho tới khi nó thuần thục. Khi nó hiền lành thì mình khỏe một chút, nhưng đến cuối cùng không còn trâu để chăn nữa mới giải thoát sanh tử.
Không còn trâu không còn chăn là hết sanh tử. Người tu thiền, nhất là Thiền tông phải bước qua giai đoạn đối đãi đó. Vượt qua chỗ này đến bức tranh thứ chín là thể nhập pháp thân, chim bay về tổ, lá rụng về cội. Thể nhập pháp thân là chỗ cứu cánh. Vậy pháp thân ở đâu mà thể nhập? Trên trời, trên mây hay chỗ nào? Thật ra cũng là cái sẵn có nơi mình, mà vì những niệm xấu tốt liên tục phủ che, nên chúng ta không thấy. Bây giờ dọn dẹp niệm xấu trước, sau đó niệm thiện cũng bỏ luôn. Xấu tốt không còn tức dứt sạch hai bên, thì cái chân thật hiện tiền.
Người xưa thường nói: “Đừng nói vô tâm là đạo, vô tâm còn cách một lớp rào”, vô tâm là không còn trâu không còn chăn. Đối với người tu thiền đó là chỗ không còn đối đãi, nhưng phải thể nhập tâm chân thật hiện tiền. Nhận ra được cái đó mới là chỗ cứu cánh của người tu. Người nào nhận được cái thật rồi, đó có thể xuống địa ngục độ chúng sanh khổ đau nơi ấy. Cho nên mục thứ mười là quảy bầu rượu, xách cá chép vô xóm làng, đến những nơi ngày xưa mình sợ mình tránh, bây giờ mình xông vào đó độ họ.
Tại sao ngày xưa mình sợ mà bây giờ xông vào? Vì ngày xưa mình còn yếu chưa đủ đạo lực nên phải tránh. Bây giờ đủ sức rồi, thể nhập pháp thân thì đầy đủ ứng thân, hóa thân để độ sanh. Đó mới gọi là nguyện lực độ tận chúng sanh của bậc giác ngộ giải thoát. Chúng ta từ khi phát tâm tu, nhất định phải đạt đến giải thoát mới thôi. Không phải nói cho hay mà làm không được hoặc không tới nơi. Phải kiểm lại, nói miệng không bằng có cái nhìn thấu. Điều quan trọng là hàng phục tâm tốt xấu, không còn sót một mảnh nhỏ mới được. Đi từng bước, từng bước tới cuối cùng vượt qua hết để thể nhập pháp thân. Thể nhập pháp thân, ngang đó không phải là xong, là tròn bổn phận, mà còn phải tùy duyên ứng hóa độ chúng sanh.
Như vậy, muốn thành Phật phải trải qua ba vô số kiếp, thời gian dài vô kể. Nghe vậy đừng ngán, bây giờ mình chỉ cần biết rõ hướng đi và cứ đi tới cùng. Bởi vì khi đã nhập pháp thân rồi, thì sanh tử đối với mình không còn là vấn đề nữa. Lúc đó cứ tùy duyên ứng hóa độ sanh. Con đường tu từ ban sơ cho tới cuối cùng, lúc nào mình cũng phải xem chừng, biết tới đâu để cố gắng vươn lên, đừng để bị lôi vào những hướng không tốt đẹp.
Tu không phải chỉ có hình thức ở chùa ăn chay, tụng kinh, tọa thiền là đủ mà phải luôn trị tâm loạn, tâm tạo nghiệp của mình sao cho trong sạch, thanh tịnh, đó là chủ yếu. Như vậy mới không uổng phí một đời tu. Chúng ta ra đời được gặp duyên tốt, được tu hành mà không tạo duyên cho mạnh, cho đủ để đời sau tiếp tục tu nữa, thì mất thân này rồi không biết có được trở lại làm người, tiến tu hay không. Một khi tuột xuống thì sẽ tuột hoài. Như lỡ làm thân mèo đã khổ, vậy mà mỗi ngày cứ xơi một hai con chuột. Giết hoài như vậy thì khi mất thân mèo sẽ thành con gì? Thành những con thấp hơn nữa. Cứ như vậy sát hại nhau để sống, chỉ toàn tạo nghiệp đi xuống, biết bao giờ mới được trở lên? Thật là khổ!
Chúng ta đang được làm người tỉnh giác, ở trong đạo tràng nên cố gắng tu, vận dụng hết khả năng và trí tuệ của mình để tiêu trừ vô minh, những nghiệp xấu ác còn tích lũy. Khó nhất là muốn bỏ cái xấu, mà không biết nó ở đâu để bỏ. Nếu biết chỗ nơi mới bới mới đào được, đằng này không biết chỗ, cũng không biết có bao nhiêu thứ đang ẩn nấp, chỉ gặp duyên nó trồi lên, mình không kìm nổi. Vì vậy chúng ta phải cẩn thận dè dặt. Duyên xấu trồi lên, phải biết mình còn chủng tử xấu, nên ráng tu để dẹp nó. Như vậy mới tiến.
Người tu Phật phải xét lại mình nhiều hơn, không cầu ở bên ngoài, không xin ai cho mình thứ gì. Tự nhìn lại biết mình còn bao nhiêu thứ nghiệp xấu, sẽ lôi vào con đường trầm luân thì cố gắng dẹp bỏ. Dẹp được rồi mới hy vọng giải thoát. Cho nên chúng ta phải quý tiếc thời gian. Khi đủ duyên tu được mà không chịu tu, tới chừng hết duyên muốn tu cũng không sao tu được.
Mong tất cả trong chúng nhớ tu là tu tâm. Tâm tốt thì ngôn ngữ hành động sẽ tốt, tâm xấu thì ngôn ngữ hành động cũng xấu. Quý vị kiểm lại thấy ngôn ngữ của mình bất thường, hành động bất thường, đó là tâm không tốt. Cố gắng dẹp bỏ nó để trở thành người tu hành chân chánh, xứng đáng đứng trong hàng ngũ tăng sĩ. Được vậy mai này có mất đi, chúng ta cũng không hổ thẹn, không uổng một đời tu. Quý vị nói tu để cứu mình, cứu gia đình, độ chúng sanh… Nói nghe to quá mà tự cứu chưa được thì độ ai? Vì vậy tăng ni nỗ lực xoay lại, quán sát cho tường tận, cho thấu đáo, dẹp bỏ những thứ còn ẩn khuất mà chúng ta chưa thấy. Dẹp sạch rồi mới an ổn trên đường giải thoát.
Riêng phần tôi, bao nhiêu năm rồi cũng cố gắng tối đa. Vừa nghiên cứu, vừa học, vừa tu, vừa dạy nên thời gian nhớ mình không trọn vẹn. Bởi vì hết khách này đến khách nọ rồi còn lo coi kinh sách, đến tối ngồi thiền có hôm còn phải nhớ mai giảng gì, rốt cuộc mình nhớ cái ngoài mà quên mất mình.
Từ hôm chuẩn bị nhập thất tới nay, tôi buông hết mọi sách vở, khách khứa, chỉ còn mấy tin tức này kia của các thiền viện thì tôi chưa buông hết. Một ngày thay vì sống trọn mười hai tiếng thì tôi cũng kiếm được năm sáu tiếng nhớ lại mình. So với thời gian trước, bị mất mình quá nhiều, giờ mới trở lại được phần nào. Làm việc gì cũng vậy, lúc đầu cũng gặp những chướng ngại, bốn tháng có bốn việc phải bận tâm vì những người ở ngoài không giải quyết nổi, nhưng rồi cũng qua.
Trên đường tu mình quyết tâm nhưng cũng có chướng, tuy vậy đều vượt qua hết. Nếu tôi được khỏe trong ba năm như vầy thì đỡ lắm, hy vọng sẽ chỉ nhớ trên đầu một chữ Như. Rõ ràng nếu đi đứng nằm ngồi không có chuyện gì bận tâm thì dễ nhớ mình hơn. Ngược lại, nhiều chuyện tới thì dễ rối, dễ mất mình.
Trên đường tu nếu chúng ta khéo thì có thể tạo duyên để tu tiến. Muốn tiến phải đủ duyên, thiếu duyên thì khó tiến, hoặc tiến được mặt này nhưng không tiến mặt khác. Bao nhiêu năm rồi, tôi tiến về mặt nghiên cứu Phật pháp, hướng dẫn tăng ni tu hành, giảng dạy cho Phật tử mà chưa tiến nhiều về cái nhớ mình. Giờ đây được an ổn một chút, có thời gian nhớ mình.
Khi trong tâm không có gì lo lắng thì không chi sung sướng bằng. Tại sao? Vì không lo không nghĩ thì nội tâm khỏe, thảnh thơi. Ở bên ngoài không lo đói không lo rách, không lo thiếu thốn bất cứ thứ gì. Ngoài không lo, trong không lo thì còn gì sung sướng hơn. Các vị quan, thủ tướng hay tổng thống có thể không lo vật chất, nhưng trong tâm phải lo việc này việc kia, việc được việc mất… nên đâu có thảnh thơi.
Người biết tu, lại có thời gian tu nữa thì luôn được thanh nhàn. Có khi một hai tiếng đồng hồ thảnh thơi, không lo nghĩ, tự nhiên tâm an. Tâm an thì thấy vui. Niềm vui của người tâm an khác niềm vui của người thế gian. Vui thế gian là vui của sự được mất. Điều mình mong mỏi mà đạt được thì thấy vui. Người tâm lặng lẽ, gương mặt lúc nào cũng tươi vui, không lệ thuộc vào các duyên bên ngoài. Vì vậy, có tu mới thấy không lo buồn phiền não thì khỏe khoắn an vui.
Tăng ni thử đặt câu hỏi, mình tu rồi còn lo gì nữa? Mai mốt theo Phật, chùa không phải của mình, mọi thứ đều không phải của mình. Vậy nên không có gì phải lo, người nào còn có mặt thì giao cho họ. Bây giờ tôi chỉ có một việc là “Luôn nhớ mình”. Tôi nghĩ quý vị còn trẻ vừa tu vừa học, vừa làm Phật sự, tới chừng lớn lên đủ duyên đủ phước, làm được bao nhiêu điều theo sở nguyện của mình, nhưng phải dành thời gian yên tu. Lúc đó thảnh thơi nhất, không có gì phải hổ thẹn cả.
Tôi bây giờ không hổ thẹn với ai, bổn phận đã làm tròn, chỉ còn có một việc là lo cho mình. Sống an nhàn kiểu chú mục đồng ngồi trên lưng trâu, thảnh thơi như chơi. Đi cũng chơi, ngồi cũng chơi, nằm cũng chơi, không có gì phải làm, không có niệm nào sanh, rất thanh nhàn. Không trừng phạt cũng không đánh đuổi thứ gì, tự an nhàn.
Tôi đi bộ nhiều, ngày nào dù mưa gió gì cũng đi sáng bảy vòng, chiều bảy vòng. Một ngày mười bốn vòng, tính ra là ba cây số lên xuống dốc, ngày nào cũng đi đều, nhờ vậy mà khỏe. Ăn uống điều độ, ngủ có chừng mực, không lo không nghĩ, rất dễ ngủ. Đâu có chuyện gì gác tay lên trán mà ngủ không được, nên buông ra là ngủ. Ngoài giờ tu ra, đến giờ ngủ là ngủ, ngoài giờ ngủ ra thì chơi. Nói tu mà tu chơi, chứ có việc gì phải làm đâu.
Mong trong chúng cố gắng, còn trẻ phải làm xong bổn phận của mình. Người mới vào đạo thì ráng học, ráng tu theo thời khóa của thiền viện. Lớn hơn chút nữa thì làm điều lợi ích cho đạo. Đến già như tôi, chỉ còn một việc là nhớ mình thôi. Sống không hối hận tý nào, thảnh thơi nhẹ nhàng.
Khi thành lập thiền viện Trúc Lâm, tôi có tuyên bố: Thiền viện Trúc Lâm là nơi lý tưởng tối hậu của đời tôi. Lý do gì mà tôi nói như thế? Vì tôi từng sống ở các trường Phật học, đi giảng các chùa, các đạo tràng. Tôi thấy các chùa cũng như các trường có người giàu, người nghèo. Từ có giàu nghèo sanh ra bệnh trộm cắp trong chùa, trong trường. Đó thật là sự nhục nhã trong đạo, mình dạy cư sĩ giữ năm giới mà người tu lại không giữ!
Hai người đơn gần nhau, một người có thầy tổ khá giả cho tiền mua sắm sách vở đủ hết, còn có tiền để trong cặp. Người kia cần tiền quá mà không có, nên khi người này đi khỏi thì người kia lén lấy. Vì biết xin không cho, nên họ tự xin. Do tình trạng dư thiếu không công bằng mới nảy sanh cái dở xấu đó.
Hồi đó, có thầy bên Cao Miên về học. Nhà trường bắt mỗi tháng đóng hai trăm tiền cơm, ngoài ra sách vở giấy mực đều phải tự lo hết. Ông túng tiền quá, xách dù đi chỗ này chỗ kia kiếm Phật tử xin mà không ai giúp. Về liêu, ông tức quá nói: “Bây giờ tao làm sinh viên xin tụi bây không cho, sau tao làm pháp sư, tụi bây cúng tao quăng chứ không nhận!” Như vậy mới thấy nỗi khó khăn của người thiếu thốn, nhu cầu tiền bạc cần mà không có.
Ngày xưa tôi đã chứng kiến cảnh này ở trường Phật học và các chùa nên rất buồn, nhưng không có phương tiện gì để khắc phục. Sau này, tôi suy tìm tận gốc sự việc, phát hiện ra từ người giàu kẻ nghèo mà sanh ra bệnh đó. Cho nên khi thành lập thiền viện, tôi nghĩ trong thiền viện mọi người đều không giữ tiền. Có một ban chức sự lo sắm đủ hết, ai cần gì có nấy. Chúng ta không giữ tiền riêng nên ai cũng như ai, không có chuyện giàu nghèo, nên không sanh ra các tệ nạn đáng tiếc như nói ở trên.
Tuy nhiên, khi lập thiền viện từ Chơn Không lần đến Thường Chiếu, tôi chưa thực hiện nổi việc này. Vì khi chư tăng bệnh, ít thì mình ráng lo nổi, bệnh nhiều cũng phải nhờ cha mẹ lo phụ. Như vậy bổn phận mình làm chưa tròn, tôi chưa được vui. Tới khi lên Trúc Lâm, tôi thấy Phật tử cúng dường khá đầy đủ, cho nên có điều kiện lo cho tăng ni về tứ sự.
Một là ăn. Chúng ta có thiếu ăn không? Nhiều khi trong kho còn dư nữa.
Hai là mặc. Trong chúng có ai thiếu đồ mặc không? Cũng không.
Ba là giường chõng. Tăng ni đều có đơn giường đàng hoàng.
Bốn là thuốc men. Có ai bệnh đi bác sĩ mà không được cho tiền mua thuốc không?
Như vậy tứ sự cúng dường tôi lo hết, để tăng ni không ai bận tâm về tiền bạc. Không bận tâm về tiền bạc thì làm gì có chuyện ăn cắp, tự nhiên cuộc sống tốt đẹp, không còn xấu dở nữa. Làm được điều này tôi rất hài lòng. Ngay cả tôi và Ban lãnh chúng đều không có tiền riêng. Tôi chưa bao giờ để tiền trong tủ khóa lại, đi đâu giữ chìa khóa kè kè. Có bao nhiêu tiền đều giao thủ bổn giữ hết, khi cần thì lo cho chúng. Phật tử cúng cho bất kỳ vị nào trong thiền viện đều bỏ vào quỹ chung, tất cả tiền đều của Tam bảo, cùng lo cuộc sống với nhau, không ai được giữ riêng. Vì vậy, tăng chúng sống đúng tinh thần Lục hòa, không sợ người này dư người kia thiếu, rồi buồn tủi về sự chênh lệch. Đó là điều thứ nhất.
Điều thứ hai là khí hậu. Khí hậu ở đây so với các nơi rất tốt. Ở Chơn Không khí hậu tương đối tốt nhưng vẫn không bằng ở đây, vì có khi cũng nóng. Người tu thiền thì cần khí hậu mát mẻ. Ngày xưa, đức Phật thành đạo vào mùa đông, viên mãn lúc sao mai mọc. Quý vị nghiệm lại xem nóng nực quá, ngồi tu có yên không? Ở đây (Đà Lạt) bữa nào hơi nóng thì tối ngồi không tốt, buổi khuya ngồi rất tốt. Nhờ khí hậu mát mẻ mình ngồi thiền được nhẹ nhàng, thanh thản, dễ định sáng. Cho nên thiền viện Trúc Lâm có khí hậu lý tưởng nhất, tăng ni dễ tu tiến.
Nhiều buổi khuya tọa thiền, tôi không cần mặc thêm áo lạnh vẫn không sao hết. Bởi vì khi ngồi hơi nóng xông lên tự làm ấm người. Ai hơi cảm cảm mà không chịu ngồi thiền là không biết tu. Chính tôi khi nào bị nhảy mũi, ngồi thiền một hồi nó tự khô, khỏe ra. Biết tu thì khi bệnh chút chút mình tự trị được, người không biết tu lấy cớ bệnh rồi nằm ỳ, không chịu tọa thiền gì hết, như vậy sẽ uổng phí thời gian.
Ở đây, tôi sắp đặt công tác buổi sáng, còn buổi chiều, buổi tối và khuya chỉ lo tu. Như vậy thời gian lao động ít, thời gian tu nhiều. Sở dĩ công tác buổi sáng, vì buổi sáng ngồi thiền dễ ngủ. Hơn nữa, ban mai ra ngoài vận động cho có ánh nắng, hít thở không khí trong lành tốt cho cơ thể, như vậy rất hay. Tôi lúc nào cũng muốn chu toàn cho tăng ni về sinh hoạt ăn ở và tu học, không vì tiếng tăm hay danh lợi. Cốt làm sao cho sự tu hành của huynh đệ không thiếu thốn. Vậy mà thỉnh thoảng cũng có vài người bỏ cuộc rút lui, chứ không phải ai cũng hài lòng.
Ngày xưa đức Phật thiền định dưới cội Bồ-đề được ngộ đạo. Đến sự truyền bá của chư Tổ từ Ân Độ, Trung Hoa sang Việt Nam cũng là tu thiền. Vậy nên mình cũng tu thiền. Tôi mò mẫm tu, không người hướng dẫn mà được kết quả tốt, còn quý vị bây giờ có sách vở, có người hướng dẫn mà làm không được thì đó là dở, chưa đủ nghị lực. Người quyết tâm tu nhất định có kết quả, nhưng phải đầy đủ nghị lực mới được.
Chúng ta có bổn phận hoằng pháp lợi sanh, giúp tăng ni Phật tử tu tiến được, đó là phước lớn. Người trước dạy cho người sau tu, đem hết khả năng giúp đỡ huynh đệ, đó là chí nguyện của người xuất gia đệ tử Phật. Vì vậy, dần dần tôi sẽ chuyển trách nhiệm cho quý vị lớn, tập chủ trì thỉnh nguyện luôn. Tôi chỉ lâu lâu nghe việc gì không tốt thì nhắc Quản chúng, Quản chúng có nhiệm vụ thay tôi nhắc nhở chúng. Chúng ta không ai sống đời mãi, có ngày phải già yếu, nếu bây giờ không giao cho người sau, tới chừng mình tắt thở thì làm sao?
Sở dĩ tôi không đặt thời gian nhập thất cố định là vì muốn được yên. Như bữa nay thỉnh nguyện tôi phải ôn những gì cần nhắc nhở, thành ra tâm cũng có chút lăng xăng. Tôi muốn làm sao cả tháng không có gì lộn xộn, khi nào thấy cần nói sẽ nói. Như vậy ít rối loạn ở trong lòng, đỡ mất thời gian tu hành.
Dù Phật học đường, Phật học viện hay thiền viện đều phải luôn luôn theo luật vô thường thay đổi. Người trước lập thành, người sau kế thừa cho được lâu dài, bền vững. Cho nên trách nhiệm người trước qua thì người sau phải tiếp nối. Ngày xưa một mình tôi sắp xếp hết mọi việc, bây giờ tôi yếu rồi nên giao lại cho quý huynh đệ. Không phải giao một người, mà nhiều người có trách nhiệm cùng chung lo, sắp đặt với nhau, làm sao cho thiền viện càng ngày càng vững, càng tốt đẹp. Đừng để tôi già bệnh nghỉ ngơi, thiền viện cũng tàn lụi theo thì không tốt, đó là có thủy mà không chung. Cho nên quý vị có trách nhiệm phải nỗ lực, cố gắng làm cho được vuông tròn, giải quyết tốt mọi việc, đừng dẫn lên tôi. Như vậy tôi rất mừng vì có thời gian lo việc của mình.
Hồi năm 1964, tôi có tháp tùng theo phái đoàn đi dự đại hội Phật giáo thế giới tại Ấn Độ. Qua bên đó, có thầy Thiện Châu, thầy Huyền Vi đang học tại Na-lan-đà. Tôi tò mò hỏi hiện giờ ở Ấn Độ có bao nhiêu tăng. Quý vị trả lời là cả nước Ấn Độ chỉ có năm vị tăng thôi. Tìm hiểu lý do thì được nghe kể lại: Vào thế kỷ thứ XIII, Hồi giáo kéo quân đánh Ấn Độ, khi ấy chư tăng giữ giới, không tham dự vào các cuộc chiến, họ chạy qua Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện… Chư tăng đi rồi, quân Hồi giáo kéo tới, những người chạy muộn bị họ giết, cái tháp đó bây giờ cũng còn. Các thầy Tỳ-kheo chạy hết rồi, đâu có ai giáo hóa nên như rắn không đầu, lần lần họ bỏ đạo, trở lại theo Bà-la-môn hoặc Hồi giáo. Vì vậy ở Ấn Độ từ thế kỷ XIII tới nay Phật giáo bị suy, vì không có tăng. Bây giờ hồi phục chút ít thôi, không đáng kể.
Qua xứ Phật thấy vậy, mình rất buồn. Ở Việt Nam thì ngược lại, có giặc đánh giặc, giặc tan rồi lại tiếp tục tu hành. Đó là những vấn đề mình phải thấy, phải hiểu cho thấu đáo. Khi gặp người hỏi chúng ta biết trả lời. Bởi vì đạo Phật dạy từ thấp lên cao. Đầu tiên Phật nói kinh A- hàm hơn hai trăm quyển, sự tu hành lấy giới luật làm trọng, dạy rõ nhân quả báo ứng cũng như luân hồi sanh tử. Qua thời Bát-nhã chỉ theo hướng khác. Hệ A-hàm tạm gọi là hệ CÓ, còn hệ Bát-nhã là hệ KHÔNG.
Có một điều lạ là hệ Bát-nhã không sợ những lỗi lầm trước của mình, chỉ sợ ta không ngộ đạo thôi. Nếu ngộ được thì tất cả các chướng đều tiêu tan. Bài Chứng Đạo Ca của thiền sư Huyền Giác nói:
Chứng thật tướng vô nhân pháp
Sát-na diệt khước A-tỳ nghiệp
Nhược tương vọng ngữ cuống chúng sanh
Tự chiêu Bạt Thiệt trần sa kiếp.
Nếu ai chứng được thật tướng thì không còn ngã và pháp. Không ngã pháp thì trong một sát-na, tức trong chớp mắt đã diệt được nghiệp đọa địa ngục A-tỳ. Ngài còn bảo, nếu nói gạt chúng sanh thì sẽ đọa vào địa ngục cắt lưỡi vô số kiếp.
Như vậy là sao? Chỉ cần chứng thật tướng thì tất cả nghiệp theo đó tiêu tan. Bên kia tu phải giữ giới luật, từ từ đi đến đạt đạo, bên này tu cốt chứng thật tướng. Chứng thật tướng là chứng đạo. Thật tướng là tướng gì? Là vô tướng, tức tướng không. Nhận được tướng không, sẽ vượt qua hết tội lỗi, chướng ngại trong vô số kiếp. Tại sao vậy? Từ trước đến giờ mình không dám nói, vì nghĩ sao lạ quá, nhất là đọc bài kệ của thiền sư Tư Nghiệp ở Văn Thù.
Gia đình ngài nhiều đời làm nghề đồ tể. Ngày nọ đang mổ heo, bỗng nhiên ngài thấu suốt nguồn tâm, bèn bỏ nghề nghiệp, xuất gia thọ giới làm Tỳ-kheo. Ngài làm kệ tụng rằng:
Tạc nhật dạ xoa tâm,
Kim triệu Bồ-tát điện,
Bồ-tát dữ dạ xoa,
Bất cách nhất điều tuyến.
Dịch:
Hôm qua tâm Dạ-xoa,
Sáng nay mặt Bồ-tát,
Bồ-tát và Dạ-xoa
Chẳng cách một đường tơ.
Hôm qua là tâm dạ xoa, ngày nay đổi lại mặt Bồ-tát. Vậy thì Bồ-tát và dạ xoa cách nhau không quá một đường tơ. Sao dễ quá vậy? Điều này thấy như có gì mâu thuẫn. Nhưng bây giờ tôi thấy rõ, đó là một lẽ thật.
Nhà Phật nói có hai đường rất rõ, một là Có, hai là Không. Như hỏi thân này thật không? Nếu thấy thân thật thì tạo nghiệp, phải đền trả không thể chạy trốn. Thấy thân thật là thấy sai lầm, đi trong đường Có nên khi chết thấy mình có linh hồn, đi thọ sanh chịu tội nơi này nơi kia.
Những vị tu thiền ngộ đạo thấy ngũ uẩn phù vân không khứ lai, năm uẩn như mây nổi, bay qua bay lại trong hư không, không thật. Bởi thấy thân không thật, nên khi nhắm mắt các ngài không theo nghiệp mà trở về pháp thân. Pháp thân có tướng không? Pháp thân giác liễu vô nhất vật, pháp thân không có một vật, tức là không tướng. Không tướng thì nghiệp nào dẫn được. Nhà thiền gọi là đi đường chim. Thấy rõ con đường giải thoát theo bên Có thì phải tu tới Diệt tận định mới giải thoát. Đi bên Không, chứng được lý thật tướng, lý không thì ngay đó không còn trở lại sanh tử nữa.
Trong Mười mục chăn trâu, mục thứ tám là không trâu không chăn, tới đó không ngã không pháp tức là không còn nhân, không còn pháp. Từ đó nhập pháp thân, lá rụng về cội, chim bay về tổ. Nhập được pháp thân rồi thì có ứng hóa thân, nên mới có hình ảnh ông già xách cá chép, bầu rượu vô xóm làng.
Như vậy hai đường đi này khác xa nhau, một bên có tướng đi vào tướng. Vì thấy thân thật, nên Phật dạy quán thân bất tịnh, tâm vô thường, thân duyên hợp hư giả để phá chấp lầm. Thấy không là chỉ thẳng ngũ uẩn duyên hợp không thật, ngũ uẩn không thật thì nhắm mắt đi thẳng tới chỗ cứu cánh giải thoát. Tinh thần Thiền tông được chư vị Tổ sư thể hiện trong các việc làm rất tự tại. Như ông hàng thịt khi chứng được thật tướng thì có tâm Bồ-tát liền. Chúng ta cứ đi trong mê lầm, thấy thân thật cảnh thật, không chứng thật tướng nên làm việc gì cũng vướng mắc, phiền não.
Tôi thường nghe các thầy dạy: Thà chấp có bằng núi Tu-di, hơn chấp không bằng hạt cải. Vậy nên chấp không rất đáng sợ. Đi sâu trong Bát-nhã, trong sự tu mới thấy rõ, nếu thấy mình thật người thật, cái gì cũng thật thì nằm trong đối đãi, làm sao giải thoát được. Phải nhìn khác những cái thấy sai lầm đó mới ra khỏi mê lầm.
Đầu tiên của Mười hai nhân duyên là vô minh. Thế nào là vô minh? Không sáng là vô minh. Sự thật đâu có gì lạ, chấp thân này thật, đó là vô minh. Ai nhìn thân mình thật, người đó đang vô minh, vì không thấy đúng lẽ thật. Từ thấy thân thật rồi cảnh thật, người thật, thấy xung quanh cái gì cũng thật hết, như vậy lòng tham khởi lên. Tham khởi lên thì cái gì mình thích, muốn giữ, muốn được mà bị ngăn trở thì nổi sân. Từ vô minh dẫn chúng ta đi tạo nghiệp, nên nói vô minh duyên hành. Hành đó là nghiệp.
Chúng ta do vô minh theo nghiệp dẫn đi thọ sanh. Khi có thân rồi thì có lục nhập tức sáu căn. Có sáu căn thì có thọ, tức cảm giác. Từ đó có ái là ưa thích, rồi thủ là nắm giữ, bảo vệ thân hay của cải của mình. Thủ rồi hữu, tức là nghiệp đời thứ hai. Cứ thế, thân này mất nghiệp dẫn đi thọ thân sau. Sanh rồi lão tử, cứ đi lên đi xuống không có ngày cùng. Gốc từ vô minh, thấy thân thật.
Như vậy trên đường tu, muốn giải thoát trước phải thấy được lẽ thật, thấy lẽ thật là có trí tuệ. Vì có trí tuệ nên phá được vô minh. Phá được vô minh rồi thì phá luôn mấy thứ kế tiếp. Hành giả đi đường Có thì khó dừng tâm, khó yên định. Tại sao? Vì do vô minh thấy thân thật cảnh thật, thấy cái gì cũng thật nên tích lũy hoài. Tích lũy thì ngồi lại thấy cái này, cái kia, cái nọ trồi ra hoài, đuổi không đi, đi hoài trong đó không ra khỏi. Bây giờ muốn ra khỏi những niệm chấp ấy thì phải thiền định thật sâu, diệt được tất cả dính mắc. Tức là tu đến chỗ Diệt tận định, diệt hết mọi mầm mống bên trong mới giải thoát được.
Chư Tổ tu rất nhẹ, dùng trí Bát-nhã đi thẳng vào tánh không, thấy tột lẽ thật. Như lâu nay chúng ta cứ nghĩ cái nhà, cái bàn, cái ghế… là có, còn hư không trống rỗng là không. Bây giờ xét xem cái Không với cái Có, cái nào quan trọng hơn? Nếu không có Không, thì cái Có có không? Như vậy mới thấy cái Không rất hệ trọng. Có là có sắc chất, Không là không tướng, không sắc chất. Tướng có sắc chất là tướng vô thường sanh diệt, tướng không sắc chất là tướng vô sanh.
Vậy thì ngay trước mắt mình có vô sanh, nhưng chúng ta không nhận, lại nhận các tướng sanh diệt. Trong con người mình cũng có sẵn tánh không, cái Có chỉ bao quanh cho thấy hình thức vậy thôi, chứ thật ra cái Không mới quan trọng. Hiểu thấu suốt như vậy rồi mới thấy lý Bát-nhã cho chúng ta cái nhìn tường tận, nên khi giác ngộ pháp thân rồi không có một vật. Từ cái Không, nhận ra tâm như như nữa, mới nhập pháp thân, chứ không phải tới Không là hết. Phải đi như vậy mới tới nơi tới chốn. Đó là đường chim, nhà thiền gọi là điểu đạo.
Chúng ta tu Thiền tông, chính là đi đường chim. Hai đường rõ ràng, nếu đi đường Có thì tu ba vô số kiếp mới thành Phật. Đi đường Không thì trong chớp mắt là thành. Nhưng đường này phải anh dũng lắm mới nhảy qua được, thường thường qua không nổi. Vì thấy được lý đó mà các vua đời Trần dám làm những chuyện cần làm, dù các ngài phải chịu tội. Nếu chấp vào giới tướng thì không sao làm được.