Nội dung:
Trong đời tu của Thầy, Thầy có nguyện vọng làm sao cho những người chung quanh mình hiểu đạo, tu hành được kết quả tốt. Cho nên ai cạo tóc vào chùa tu, Thầy nghĩ người đó không bao giờ lừa dối Thầy. Thế mà Thầy bị lừa dối, đến nỗi phải thốt ra câu “Tôi biết tin ai!” Đó là điều đáng buồn, không phải buồn cho Thầy mà buồn cho những vị ấy.
Nhiều người cứ nghĩ sát sanh, trộm cắp… là tội, còn nói dối không hại ai nên không có tội. Nghĩ vậy là nhầm lẫn lớn. Gần đây giới tu sĩ dùng phương tiện nhiều quá, có những điều không đáng dối cũng dối, miễn sao được việc, lấy được cảm tình của người khác, mà không biết dè dặt ngôn ngữ của mình. Người xuất gia phải chân thật, đừng bao giờ dối gạt người. Vì dối gạt là một trong bốn trọng tội, mà Phật bảo khi phạm như người bị chặt đứt đầu, như cây dừa cây cau bị chặt đứt đọt thì không sống được nữa.
Ngày xưa, khi Thầy đi giảng ở Cai Lậy, có một Phật tử đã quy y năm giới thường đến nghe. Buổi chiều đó ông đi nghe giảng, ngang qua cái bót của Tây, gặp anh lính quen mời vô bót chơi. Vào trong gặp tiệc rượu, vị sếp đã uống say cầm ly mời ông uống cho vui. Ông xá xá, nói: “Tôi không dám uống.” Sếp hỏi: “Sao vậy?” Ông bảo: “Tôi thọ năm giới không được phép uống rượu, nên không dám uống.” Sếp bảo: “Uống đi, tội tôi chịu cho.” Ông này vẫn không uống. Sếp nói: “Ông không uống tôi bắn à!” Nói xong sếp chạy vô lấy súng. Thấy vậy, người lính đứng bên cạnh nói: “Thằng này không dùng được gì hết!” Rồi xô ông ra, bảo: “Thôi đi đi!”
Ông đi thẳng vô chùa kể cho Thầy nghe và nói: “Giả sử lúc đó nó có bắn, con cũng không uống!” Chúng ta thấy vị cư sĩ kia quyết giữ giới thứ năm. Giới cấm uống rượu còn có một chút du di, vậy mà cư sĩ thà chết không phạm. Huống là người tu sĩ đối với giới luật, phải ráng giữ cho thanh bạch.
Ở trong chúng, người lớn kẻ nhỏ nên ăn nói thật thà, đúng lẽ thật, làm cho mọi người tin tưởng. Nếu tụi con cứ linh động phương tiện sao cho được việc, khi người biết được rồi sẽ mất hết lòng tin. Đã đánh mất lòng tin, còn nói gì được nữa? Gặp mặt khó nói chuyện, vì còn tin tưởng nữa đâu mà nói.
Ngày nay trong giới tu sĩ nhiều người nói hay, nói giỏi nhưng thiếu chân thật. Tụi con muốn tu có kết quả tốt, phải ráng giữ giới không nói dối. Giới này không phải nhẹ đâu, nếu nhẹ thì Phật không đặt là giới trọng. Giới này nặng hơn giới uống rượu. Chúng ta tin ai là từ lời nói chân thật, nếu biết họ nói dối, mình đâu còn tin nữa. Đã không tin tưởng thì không thể gần gũi, không sắp đặt công việc cho họ được.
Giới nói dối tuy không sát hại ai, nhưng nó làm mất hết lòng tin của người lớn kẻ nhỏ, bạn bè. Trong xã hội, người ta không tin mình, thì ta là kẻ lạc loài. Như vậy sống với ai, giáo hóa được ai! Hơn nữa, mình là người tu, lời nói phải chân chánh, có đạo lý, được người quý trọng mới thể hiện đạo đức của mình. Nói dối gạt thì lời nói không có có giá trị, lại khiến người khác khinh chê.
Tăng ni phải nói lời chân thật, dù có bị cười chê mình quê dốt, nhưng lòng không hổ thẹn. Nếu nói dối, nói gạt người thì trong lòng luôn bất an. Ngay bây giờ, tụi con không tập nói lời chân thật, có giá trị, sau này ra giảng dạy cho Phật tử, mình quen thói muốn nói gì thì nói, không cần biết đúng sai. Đến chừng người ta biết mình hay nói dối, tự nhiên công phu giáo hóa trôi sông trôi biển, đời tu cũng không có giá trị gì.
Mỗi vị nên nhìn lại, xét cho tường tận ngôn ngữ của mình. Đừng xem thường, cho là phương tiện nên cứ nói, không sợ gì. Lâu dần tự mình làm mất uy tín, mất đức hạnh, mất niềm tin của mọi người chung quanh.
Mỗi khi chúng ta tụng kinh, thường khai kinh có bài kệ tán thán: Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, Bá thiên vạn kiếp nạn tao ngộ… Đọc câu đó, nếu không hiểu mình tưởng quá đáng, nếu hiểu thấu mới thấy sự vi diệu sâu xa.
Bài kệ này, năm xưa sau khi dịch xong tám mươi quyển kinh Hoa Nghiêm, Ban phiên dịch dâng lên cho hoàng đế Võ Tắc Thiên xem. Bà lãnh hội được sự huyền diệu thâm sâu hiếm có của kinh điển Phật dạy, lấy làm vui mừng, cảm hứng viết ra bài Khai Kinh Kệ này.
Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,
Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.
Đây là ca ngợi giáo lý thâm sâu vô thượng của Phật. Vô thượng ở đây là không gì có thể sánh được, sâu xa vi diệu khôn lường. Kinh Phật thường nói nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn, tức là thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Kiếp này mình may mắn được thân người, không biết kiếp sau có được làm người nữa không. Hay phải trôi lăn chìm đắm, loay hoay tìm kiếm thân người, như con rùa mù trăm năm trồi đầu lên một lần để tìm bộng cây nổi.
Hôm nay được gặp kinh Phật, thọ trì là điều hết sức quý báu. Nhưng sự thật bây giờ chúng ta thấy kinh Phật và những hội giảng kinh rất nhiều, đâu đến nỗi trăm ngàn muôn kiếp không gặp? Quý vị nghĩ sao, câu tán thán đó có đúng không?
Chúng ta nhìn lại người đời sanh ra, lớn lên đến già chết, họ không bao giờ ý thức mình sanh ra để làm gì. Tại sao tất cả đều phải trải qua già, bệnh, rồi tiếp tục chờ đến ngày chết? Đó là những điều thế gian không ý thức được. Chúng ta có phước, đủ duyên lành khi ra đời được thức tỉnh hướng về Tam bảo, được nghe những lời giảng dạy trong kinh điển, còn ghi chép lại để tu hành. Chuyện đó rất hy hữu, trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp không phải thường.
Chúng ta xem số người trên thế gian bao nhiêu? Số người biết tu bao nhiêu? Số biết tu không có bao nhiêu, số thức tỉnh đi tu lại càng ít hơn, không đáng kể so với số người trên thế giới. Chúng ta gặp Phật pháp, cùng huynh đệ tu hành, được thầy tổ hướng dẫn. Lời Phật dạy chân thật, sâu xa, thấu đáo lẽ thật, trên đời khó kiếm được.
Ở đời, người ta luôn tô điểm, bày vẽ điều này việc nọ để tạm vui, để cùng sống với nhau cho qua ngày tháng. Vui trong sự tạm bợ giả dối, lấy đó làm chỗ tựa để sống. Ngày nay chúng ta được nghe lời Phật dạy, chỉ rõ nhân nào dẫn mình đi vào luân hồi sanh tử và làm sao giải thoát nó. Chuyện đó trên thế gian ít ai biết tới. Chỉ có Phật mới thấy tường tận, chỉ dạy chúng ta học, hiểu và ứng dụng tu. Nếu học hiểu rồi mà không ứng dụng tu thì rất đáng buồn.
Tại sao? Vì hiểu là phần lý giải, chưa phải thực hành. Có thực hành mới thấy giá trị của đạo. Như mình thấy một mâm cơm, nhìn qua cũng biết cơm ngon hay dở. Nhưng muốn cho thấm vào máu thịt, phải ăn mới được. Nếu nhìn qua mà nói ngon dở thì nói để nói thôi, không thấm trong máu thịt, cũng không đúng.
Nghe hiểu mà không chịu ứng dụng tu, tha thiết tu thì cũng chỉ là hiểu bên ngoài, qua rồi mất, không chuyển được nghiệp của mình. Cho nên toàn chúng khi học kinh, hiểu được lời Phật dạy, ráng ứng dụng tu, thấm vào máu thịt của mình. Một ngày kia mình thoát khỏi nghiệp sanh tử. Nghe hiểu chỉ để nói suông mà không hành thì chẳng đi tới đâu. Chư Tổ thường nói: Hạnh giải tương ưng gọi đó là Tổ. Hạnh là sự tu hành, giải là sự lãnh hội. Hiểu và hành hợp nhau gọi là Tổ, nếu hiểu mà không hành thì chỉ là người học ngôn ngữ thôi, chưa tới đâu.
Chúng ta học để tu không phải học để nói. Vì vậy, ai cũng phải siêng năng học, tinh tấn tu. Đừng để một đời trôi qua mà không thấy lối đi, không có định hướng đúng. Sau này lang thang trong vòng luân hồi, không biết bao giờ mới ra khỏi. Mong tất cả trong chúng ráng học cho hiểu đạo lý, hiểu rồi ứng dụng tu cho có lợi ích thiết thực, chứ không phải nói suông.
Giá trị của người tu là sự chân thật, chúng ta tu để tìm cái thật của chính mình. Thân bèo bọt này là giả, tâm lăng xăng cũng hư dối. Mình biết rõ thân tâm hư giả rồi thì tìm cho ra cái chân thật. Trong nhà Phật nói lấy viên ngọc báu của chính mình ra sử dụng. Đó là trọng tâm của người tu giác ngộ, giải thoát sanh tử.
Muốn được vậy, trước phải tập trong nếp sống hằng ngày với huynh đệ. Làm sao những gì mình thấy, nghe, nói đều là lẽ thật. Nói ra câu nào huynh đệ cũng tin, chỉ dạy cho ai điều gì cũng là thật. Đã biết thân giả, ý niệm sanh diệt là giả, mà còn nói chuyện điên đảo nữa thì không biết giả đến bậc nào. Chúng ta dẹp bỏ hết mọi quyền lợi, không thiên vị ai, không lấy cảm tình của mọi người, cứ thật thà thấy sao nói vậy, biết sao chỉ vậy, không thêm không bớt. Từ chỗ chân thật đó mà dễ tu, dễ đạt được bản nguyện của mình. Nếu sống trong chúng mà kẻ này lừa người kia, người kia gạt kẻ nọ, như vậy điên đảo với nhau hoài thì làm sao tìm ra cái chân thật được.
Người làm việc lớn thường bắt đầu từ những việc nhỏ. Người này gạt người kia một ít, người kia dối người nọ một ít, cứ cho là việc nhỏ, không chịu bỏ, không biết đó là nhân bất tín. Sống như vậy thì ở trong chúng mọi người đều dè dặt với nhau: Không biết người đó nói thật hay không? Nghi ngờ nhau như thế, cuộc sống làm sao yên ổn, đường tu làm sao tiến.
Chúng ta do tôn trọng lẽ thật, mới quay lại tìm lẽ thật nơi mình. Nếu sống lừa bịp, dối trá thì không thể tìm được lẽ thật nơi chính mình. Vì vậy trong đạo rất quý trọng lẽ thật. Những người ham tu, quyết tu phải dẹp bỏ mọi thứ hư ảo, dối trá. Không nên giữ những ý niệm dối gạt nhau, còn ý niệm đó thì sự tu không tiến được. Tôi mong trong chúng biết thân này giả, tâm này hư dối thì phải buông bỏ, để tìm ra viên ngọc báu chân thật của mình. Được vậy chúng ta mới an ổn, vui hòa, cùng nhau tinh tấn tu hành.
Thiền viện tạo đủ duyên cho tất cả chúng yên tu, vì vậy tăng ni ở đây phải dồn hết tâm lực tu hành, không nên phí thời gian đọc sách báo bên ngoài, vì những thứ đó hiện tại không cần thiết. Chừng nào quý vị ra làm Phật sự, cái gì cần biết hãy đọc. Bây giờ đọc những thứ sách báo ấy dễ làm tán tâm động niệm, khó tu.
Chủ trương của tôi là dồn hết sức để tu. Người lớn tuổi đã gần theo Phật rồi, phải quý tiếc thời gian của mình. Người nhỏ tuổi cũng đem hết tâm lực tu học, làm sao khi rời khỏi thiền viện, mình trở thành người có tài có đức để làm Phật sự. Như vậy mới không cô phụ chí nguyện xuất gia ban đầu.
Người đời tranh hơn tranh thua, tranh phải tranh quấy là chuyện của họ, không phải chuyện của mình. Chuyện của mình là chỉ một bề đem hết tâm tư để tu học thôi. Vì muốn dồn hết thời gian tu học nên không cho đọc báo chí, sách vở bên ngoài. Chỉ nên tiếp thu những kinh sách chuyên tu theo đường lối chủ trương ở đây, đem ra ứng dụng thực hành.
Trong tâm chúng ta còn chứa đầy những thứ suy nghĩ hơn thua, phải quấy, được mất… Bây giờ muốn phủi bỏ cho sạch thì đừng thấy, đừng nghe, đừng thêm gì nữa. Được như vậy tâm dễ yên. Tâm yên thì tu hành mới có kết quả, nếu tâm không yên sự tu sẽ không đi tới đâu. Tất cả thời gian dồn vào việc tu học thì dù ở thiền viện ba năm, năm năm vẫn có giá trị. Ngược lại, người không dồn hết tâm sức vào việc tu học, dù ở thiền viện mười năm, hai mươi năm cũng không ra gì, uổng phí thời gian quý báu của tuổi trẻ trôi qua, không lấy lại được cũng không có chút lợi lạc nào.
Cho nên mỗi người phải có trách nhiệm với mình, đừng ngồi tu ở đây mà tính chuyện đâu đâu. Những chuyện đó đâu có cứu được mình. Phải hiểu thời gian tu của chúng ta là vàng ngọc, chứ không phải thường. Những vị tìm báo mới, báo cũ đem ra đọc tin tức rồi bàn tán, chẳng những uổng phí thời gian quý của mình, mà còn làm trong chúng lộn xộn không yên.
Chúng ta chuyên tu, chuyện quan trọng là giải quyết việc lớn sanh tử, cố gắng tu cho tiến, cho thấy đạo. Nếu một lúc làm năm bảy việc thì không bao giờ có kết quả. Từ đây về sau, nếu Thầy bắt gặp hoặc trong chúng có người bắt gặp vị nào đọc sách báo bên ngoài, Thầy sẽ xử phạt nặng vì không có tâm quyết tu, có thể những vị ấy hoặc được ở, hoặc không được ở tùy theo mức độ nặng nhẹ. Đó là điều thứ nhất Thầy nhắc toàn chúng.
Điều thứ hai, trong chúng có những vị tu tiến, đó là điều đáng mừng. Nhưng phải nhớ, thấy biết những gì hay lạ, chỉ nên trình với người hướng dẫn mình thôi, không nên nói ra ngoài nhiều. Nói ra ngoài nhiều là có ý khoe khoang, như vậy phạm lỗi lớn. Trong quyển Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán kể: Có vị tăng tên Pháp Tế, tự khoe mình được thiền định, tình cờ gặp đại sư Trí Khải, tăng nằm dựa ghế hỏi:
– Có một người ở trong định, nghe đất núi rúng động, biết có vị tăng đang quán lý vô thường. Đây là định gì vậy?
Đại sư đáp:
– Là biên định chưa sâu, là tà chứng ám nhập, hoặc chấp hoặc nói, định mất không nghi.
Pháp Tế kinh hãi đứng dậy thưa với Sư:
– Tôi thường được định mà vì nói cho người khác nghe, định này liền mất.
Vị tăng này tu quán vô thường, nhập định thấy cả quả địa cầu đều rung rinh. Thấy quán vô thường của mình đã thành công tốt đẹp, vị tăng đem việc ấy khoe với người này người kia. Từ đó về sau, khi quán không còn hiệu quả như lúc trước nữa. Vị tăng này ngạc nhiên, không hiểu lý do. Sau gặp đại sư Trí Khải chỉ dạy, do cái lỗi khoe với người nên mất công phu.
Những vị nhập thất tu, nếu có thấy cái gì hay hoặc dở, chỉ nên trình với người hướng dẫn, người có trách nhiệm, nhờ quyết nghi đúng hay sai để mình biết tiến hoặc lùi, không nên nói với người này người kia. Nói ra nhiều, bàn tán nhiều thì công phu mất đi, đó là điều cần phải dè dặt trong công phu.
Ở đây, Thầy không chấp nhận việc mở khiếu huyệt. Tu như vậy là theo ngoại đạo. Chúng ta phải tu một cách chân chánh, đúng như đường hướng của Phật tổ chỉ dạy, không nên học lóm của ai rồi tu sai lệch. Nếu có chuyện gì xảy ra, ai chịu trách nhiệm? Cho nên quý vị khéo suy nghĩ kỹ, sự tu hành cần phải chín chắn, nghiêm túc.
Những điều mình học từ lời Phật dạy, được quý thầy hướng dẫn ứng dụng tu. Nếu hiện tại chưa có kết quả thì cũng không có lỗi gì, còn có kết quả thì đúng với đạo lý. Nếu mình lượm lặt của người này kẻ nọ, tu có kết quả thì kết quả đó cũng của ngoại đạo. Tu sai lầm có thể bị điên cuồng. Đó là tai họa lớn. Vậy quý vị phải cẩn thận, tu thì đi đúng đường, đúng chánh pháp Phật dạy để sau này lợi mình lợi người. Đó là điều thiết yếu, tôi nhắc nhở toàn chúng ghi nhớ, đừng làm sai về sau hối hận không kịp.
Tự tứ là ngày rất quan trọng, rất có ý nghĩa bởi tinh thần cầu xin chỉ lỗi. Ngày thường người lớn thấy lỗi thì rầy nhắc cho mình biết mà sửa đổi, còn tự tứ là tinh thần cầu xin chỉ lỗi, quý ở chỗ đó. Bởi vậy nên mỗi vị phải ba lần thưa để cầu xin được chỉ lỗi.
Người tu là muốn làm sao mỗi ngày ở trong đạo đều tốt, xứng đáng là người xuất gia. Nhưng vì tập khí, nhiều khi mình lỡ làm lỡ tạo mà không hay. Nên mỗi nửa tháng ở các chùa bố-tát, còn thiền viện thì làm lễ Thỉnh nguyện, đại chúng cầu xin những vị lớn hoặc huynh đệ thấy lỗi chỉ cho mình, đó là tinh thần cầu tiến. Vì muốn tiến nên mình cố gắng sống trong sạch, đạo đức, không để tâm phóng túng buông lung, như vậy uổng đi một đời tu.
Với lòng thành ấy, chúng ta luôn nhắc nhở nhau tiến lên là điều rất hay rất quý. Vậy mà tiếc thay, ngày nay đa số người thấy huynh đệ có lỗi lại che giấu, không chịu chỉ. Đó là điều dở xấu, mình không thật lòng giúp đỡ nhau, không thật lòng hướng dẫn cùng tiến trên đường tu để càng ngày càng tốt đẹp hơn.
Mỗi năm, đến ngày tự tứ chư tăng chư ni đã qua ba tháng an cư. Nhờ quý vị nỗ lực tu tập, tâm được trong sạch nên tất cả Phật tử đều quý kính. Họ thành tâm cúng dường mong mình cầu nguyện cho thân nhân, gia quyến, người mất siêu thăng nơi cõi lành, người sống được phước báu bình an. Vì tin tưởng như vậy, nên gần tới rằm tháng bảy, Phật tử khắp nơi đều trở về chùa cúng dường. Đức Phật tán thán chư tăng chư ni tu tập trong ba tháng an cư có đầy đủ phúc đức, nên dạy ngài Mục-kiền-liên thiết lễ cúng dường, xin chư tăng hồi hướng phước cho thân mẫu của ngài thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.
Theo truyền thống đã có từ xưa, ngày nay chúng ta cũng phải giữ tâm chân thành. Sống trong chúng, muốn tu tiến phải xoay lại nhận ra những cái dở tệ của mình để sửa đổi. Nếu không tự thấy thì phải nhờ quý vị lớn chỉ dạy, mình nguyện chừa bỏ để trở thành người tu sĩ tốt đẹp trong sạch. Đó là tinh thần tự tứ, cũng là tinh thần thỉnh nguyện của các thiền viện.
Cho nên ngày tự tứ không phải chúng ta làm lễ rình rang mới gọi là có phước. Lễ Tự tứ với lòng chân thành, chúng ta cầu xin đại chúng chỉ dạy những lỗi lầm của mình, nguyện sửa đổi sạch hết những điều xấu dở. Khi được chỉ lỗi, thành tâm sám hối chứ không chống cự, không phản đối gì hết. Ngày thường phạm lỗi, được người nhắc nhở có lúc chúng ta không vui. Nhưng ngày này mình sẵn sàng vui vẻ nhận hết lỗi lầm để chỉnh đốn lại. Tinh thần đó rất cao thượng, rất quý báu. Đức Phật đã từng khen như vậy.
Thay vì tự tứ, thì ở thiền viện chúng ta có lễ thỉnh nguyện. Thỉnh tức là cầu xin người lớn hoặc ngang với mình, thấy những gì xấu dở thì chỉ giúp cho. Khi được chỉ mình nguyện sẽ chừa bỏ, thành tâm sám hối. Chúng ta tu với tâm thành, phải luôn cầu xin nhắc nhở chỉ lỗi để mình biết mà sửa. Được chỉ dạy, nhắc nhở thì không nên giận dữ la lối um sùm. Đó không phải là người tu thật mà là tu giả, mượn áo nhà Phật để được người cung kính, cúng dường. Hiểu vậy, tăng ni mới thấy tôi muốn trong thiền viện từ trên xuống dưới, lúc nào đại chúng cũng có tinh thần biết nhận lỗi, sửa lỗi. Để từ một con người tầm thường phàm tục, chúng ta dần tiến lên thành người đạo đức, đi trên đường thánh đạo, không còn tầm thường phàm tục nữa.
Từ kẻ phàm tục trở thành cao cả, được mọi người quý trọng không phải là chuyện dễ. Tăng ni cần can đảm, quyết tâm sửa đổi những gì hư dở, để trở thành con người xứng đáng. Như vậy mới không hổ thẹn khi Phật tử cúng dường kính lễ. Mình ngồi cho người ta lễ mà thói hư tật xấu còn nguyên vẹn, đó là tội lỗi. Đã không có phước ban cho người, mà còn tổn giảm nữa thì đời tu sẽ ra sao? Hiểu được tinh thần ấy, tăng ni cố gắng tu tập chuyển hóa ba nghiệp. Nếu tội cứ làm, lỗi cứ gây, không sửa đổi thì hỏi tu chừng nào cho hết xấu dở? Chưa hết xấu dở mà ít năm được đăng đàn thọ giới, làm Thượng tọa, Ni sư… rồi tưởng mình tu hay, tu cao. Đó là hiếu danh, chỉ chuốc lấy tội chứ không có phước gì hết.
Chúng ta không cầu mong ai tôn trọng mình, mà phải thành tâm trong sự tu hành, chân thật trong mỗi ý nghĩ, hành động, lời nói của mình. Như vậy mới xứng đáng là người con Phật, xứng đáng là người xuất gia.
Đây là buổi thỉnh nguyện quan trọng, nhắc cho chúng biết thời gian thỉnh nguyện của Thầy với chúng ở đây không còn nhiều. Cho nên những gì Thầy nhớ sẽ nói cho chúng nghe để hiểu mà tu.
Tất cả chúng ở thiền viện đều là những người quyết tâm tu, quyết tâm cầu giác ngộ, giải thoát sanh tử. Như vậy, không ai tới đây vì việc nào khác ngoài mục tiêu giác ngộ giải thoát. Muốn được giác ngộ giải thoát thì quý vị phải làm những việc sau:
Việc thứ nhất là cố gắng học lời Phật dạy, vì những lời dạy đó từ tâm giác ngộ, tâm sáng suốt của ngài nói ra. Chúng ta dù còn mê muội nhưng khi học hiểu rồi, sẽ giải được một phần mê muội của mình.
Việc thứ hai là ứng dụng tu. Học là học lời Phật dạy để biết cách tu, đây vẫn là việc bên ngoài. Tâm mình chưa sáng vì tư tưởng không yên, còn nhiều rối loạn nên phải tu. Tu thiền là để tâm yên định, tâm yên định trí tuệ mới phát sáng. Cho nên chúng ta phải ngồi thiền để kiềm chế tâm xao động của mình, từ từ nó yên định mới thấm nhuần lời Phật dạy. Nếu tâm xao xuyến quá thì khó thấm nhuần Phật pháp.
Việc thứ ba là phải có hạnh kiểm tốt hay đức hạnh. Muốn có đức hạnh chúng ta phải giữ giới luật của Phật, ngừa đón những sai lầm phát ra từ ba nghiệp thân khẩu ý. Biết giữ gìn giới luật thì tất nhiên giảm thiểu lỗi lầm, giảm lỗi lầm thì loạn tưởng theo đó giảm. Do đó giữ giới luật rất cần thiết đối với người tu.
Từ mười giới trở lên, tăng ni phải luôn luôn thận trọng, đừng để thiếu sót. Bởi vì đó là việc mình phải làm, phải sống, chứ không phải chỉ học, cũng không phải hứa giữ giới cho có, mà không chịu giữ. Như vậy việc thứ ba đòi hỏi chúng ta có giới đức.
Ở thiền viện tăng ni giữ mười giới căn bản làm nền tảng, tối thiểu là mười giới, còn những giới cao hơn nữa là phần thêm. Giữ giới rồi cần học các oai nghi, giữ tư cách người xuất gia, vừa hiền hòa vừa đức hạnh. Làm việc gì cũng phải điềm tĩnh, không nóng vội cũng không bướng bỉnh làm lấy có, không cẩn thận, không khiêm tốn. Nên nhớ đức hạnh của người tu từ giới mà ra.
Khi thọ giới Tỳ-kheo, Phật có dạy Tứ chủng pháp tức bốn điều:
1- Từ đây cho đến suốt đời, bị người mắng không nên mắng lại.
2- Từ đây cho đến suốt đời, bị người giận không nên giận lại.
3- Từ đây cho đến suốt đời, bị người giễu cợt không nên giễu cợt lại.
4- Từ đây cho đến suốt đời, bị người đánh không nên đánh lại.
Đó là thái độ tư cách của người tu, không vì bị những thứ bên ngoài xâm phạm về danh dự hay điều gì khác, mà nổi xung làm dữ với người ta. Như vậy thì mình không khác gì với họ.
Người tu phải cẩn thận từ tư cách đối xử với nhau, cho đến những lời nói qua lại luôn chân thành, đúng lẽ thật. Nếu chúng ta thấm nhuần giáo lý của Phật, tu hành được an định, trí tuệ sáng, đầy đủ đức hạnh thì rất xứng đáng. Mai kia có thể ra làm Phật sự, lãnh đạo một số chúng, hướng dẫn họ tu. Trong ba điều đó nếu khuyết một điều thì không đủ tư cách hướng dẫn người. Học là để hiểu mà tu. Tu là để tâm an định, trí tuệ phát sáng. Giữ giới luật, tuân thủ nội quy của thiền viện để có đầy đủ đức hạnh, sau này ra giáo hóa người.
Khi xuất gia chúng ta đã nguyện tự giác giác tha, nên giác được phần nào mà không dạy người khác thì bản nguyện chưa tròn. Tôi nhắc lại cho toàn chúng ba điều cần phải thực hành: nhớ học không bao giờ bỏ sót, nhớ tu không bao giờ dừng nghỉ, nhớ giữ gìn hạnh kiểm tư cách không bao giờ lơi lỏng. Như vậy mới xứng đáng là người xuất gia, là thầy của mọi người.
Các pháp đều theo luật vô thường sanh diệt đổi thay, nhưng tu là giữ vững tâm mình, dù ở trường hợp nào cũng vẫn an ổn, đừng vì hoàn cảnh xáo động mà buồn vui, không tốt. Tăng ni tu học ở thiền viện, có được một số vốn liếng đạo lý, mai kia dù ở lại đây hay đi nơi khác làm Phật sự, chúng ta vừa tu để tăng trưởng đạo hạnh, vừa làm lợi ích cho mọi người. Ai cũng vậy, học rồi phải ra trường. Huynh đệ tu năm mười năm rồi cũng phải ra làm Phật sự, không ai ở một chỗ học hoài học mãi. Khi không việc thì mình ngồi yên tu, khi có nhu cầu của Phật pháp, quý vị vâng lời thầy tổ đi làm Phật sự.
Tăng ni phải ra gánh vác trọng trách hoặc về làm Phật sự giúp thầy tổ, nên nhớ rằng: Mình tu ở thiền viện Trúc Lâm, nhất là trong giai đoạn này Trúc Lâm đang có uy tín. Các Phật tử ở nước ngoài nghe nói tăng ni ở thiền viện Trúc Lâm thì họ quý mến. Sở dĩ người ta mến quý là vì mình có nội quy nghiêm chỉnh, tu hành thanh tịnh.
Được Phật tử quý mến, chúng ta phải biết trách nhiệm của mình càng nặng hơn, phải gìn giữ bảo vệ lòng tin của họ, đừng để mất. Chưa tới thì người ta tin quý, tới rồi lại chán chường, thấy những gì họ tưởng tượng là đẹp, bây giờ bày ra xấu quá. Đó là điều không hay. Nên tăng ni là những người có trách nhiệm làm tốt thêm cho thiền viện, không được làm điều xấu dở, mất uy tín thầy tổ và thiền viện.
Ngày xưa, Thầy cố gắng gầy dựng niềm tin cho Phật tử, để họ không mất niềm tin đối với tăng ni, nên mới tạo ra khung cảnh này, sắp đặt đường lối tu hành vững vàng. Nhờ đó mà gây được lòng tin với Phật tử, lòng tin với các nơi. Bây giờ, nếu tăng ni ra làm Phật sự, lãnh trách nhiệm hoằng dương chánh pháp ở xứ khác, nhiều người đang trông chờ để thấy cái hay của mình, chứ không muốn thấy cái dở. Cho nên sau này khi trở về trú xứ hay ra nước ngoài chúng ta đều phải rất cẩn thận, rất chu đáo, rất nghiêm trang, đừng để mất uy tín. Uy tín cá nhân của quý vị mất thì uy tín của thiền viện cũng bị ảnh hưởng. Như vậy vô tình mình làm không được việc, mà còn gây thương tổn cho người sau, trách nhiệm này rất nặng. Cho nên tăng ni đừng nghĩ ra khỏi thiền viện là hết trách nhiệm.
Hiện giờ có một số người phải về miền Trung làm Phật sự, ngoài đó chưa có mấy vị thông cảm đường lối tu ở đây. Về đó quý vị phải có tư cách mẫu mực, tu hành tiến bộ, mới gây được lòng tin với quý thầy lớn. Tăng ni làm sao để mọi người quý mến thiền viện Trúc Lâm trước sau như một, đừng để trước thì quý kính sau lại coi thường, đó là lỗi lớn.
Tất cả phải nỗ lực, cố gắng gìn giữ giềng mối cũng như uy tín của thiền viện. Như vậy là thương Thầy, làm cho Thầy được an lòng. Đây là lời nhắc nhở của Thầy trước khi quý vị ra làm Phật sự.
Hôm nay là buổi thỉnh nguyện cuối cùng Thầy có mặt ở đây (Trúc Lâm Ni), đáng lý còn một buổi nữa, nhưng gần Tết công việc bề bộn, khách khứa đông vầy không thỉnh nguyện được. Nên hôm nay là ngày cuối, từ đây về sau Thầy không còn trách nhiệm hướng dẫn nữa, mà phải nghỉ ngơi. Do đó, tất cả tụi con kiểm điểm lại thời gian tu tại thiền viện bao nhiêu năm, hoặc dài hoặc ngắn. Mỗi đứa có tiến bộ thế nào, ai gặp những chướng nạn gì hay tu hành trì trệ không tiến v.v… cứ đem ra trình bày cho Thầy biết. Thầy sẽ chỉ dạy để tụi con diệt trừ những chướng ngại đó. Những người còn ở lại thì Quản chúng, Phó quản chúng sẽ chịu trách nhiệm sắp đặt mọi việc, cũng như chịu trách nhiệm thỉnh nguyện, nhắc nhở cho tụi con biết những gì sai lầm mà chuyển đổi, để sự tu hành được tốt đẹp.
Sau khi Thầy nghỉ dạy, trong chúng có hai thành phần:
1- Quý vị tu một thời gian rồi trở về bản tự phụ với Thầy tổ, hoặc đến nơi nào trước kia đã hứa hẹn về làm Phật sự.
2- Những người ở lại đây tiếp tục tu học.
Tất cả những vị có duyên sự trở về bản xứ thì ra trước Thầy trình bạch. Người nào còn ở lại thì ngồi tại chỗ, để Thầy biết số đi bao nhiêu, số ở bao nhiêu. Những vị đi Thầy sẽ có ít lời nhắc nhở.
(Sư cô Hạnh Dũng đại diện 24 người ra tác bạch xong, Hòa thượng dạy tiếp.)
Tụi con ở đây duyên đã mãn, giờ phải rời thiền viện về bản tự hoặc về nơi nào tùy theo chỗ tụi con đã sắp đặt trước. Điều đó Thầy không lấy gì làm lạ, vì tất cả tụi con đều đã lớn khôn rồi. Thời gian ở đây, Thầy đã hướng dẫn chỉ dạy tất cả, còn thực hành được hay không thì tùy mỗi người. Sắp tới là giai đoạn tụi con phải làm Phật sự, nên trách nhiệm nặng hơn lúc ở thiền viện. Ở thiền viện mọi giao tiếp bên ngoài, việc ăn uống, học hành đều do quý thầy bảo bọc. Bây giờ ra làm Phật sự, tụi con phải tự đương đầu với nhiều thứ khó khăn, còn hướng dẫn chỉ dạy cho đàn em nữa. Những việc đó trách nhiệm rất nặng.
Trước khi tụi con rời đi, Thầy nhắc máy điều thiết yếu:
1- Phải nhớ sở nguyện của mình tu là vì giải thoát sanh tử, chứ không phải để được no cơm ấm áo, được sung sướng bản thân. Vì vậy ở đâu, hoàn cảnh nào cũng đừng lơ là, đừng quên mục đích ban đầu.
2- Những gì đã học hiểu thì nhớ ứng dụng tu. Đó là con đường chân thật, nên làm gì ở đâu tụi con cũng phải trung thực với đường lối mình đã được học, tiếp tục ứng dụng tu và đem ra hướng dẫn huynh đệ cùng tu. Thầy đã chịu cực tìm ra một lối tu vừa cụ thể, vừa lợi ích cho hiện tại, mà tụi con không ứng dụng được, không chỉ dạy cho ai được, đó là lỗi lầm lớn.
3- Là người lớn thì phải gương mẫu. Muốn gương mẫu thì đức hạnh phải tốt, trang nghiêm, không nên cẩu thả, xem thường. Ở đây tụi con là chúng nên có thể cười giỡn, sai phạm chút ít cũng không sao. Nhưng khi chịu trách nhiệm hướng dẫn huynh đệ, tụi con lúc nào cũng phải nghiêm chỉnh với tư cách là người chị, người Thầy, để cho đàn hậu tấn có chỗ nương tựa. Đừng nên khinh suất như lúc mình còn ở trong chúng, dễ làm cho lớp trẻ mất lòng tin. Điều đó không tốt.
4- Ở đây, trên có Thầy dưới có huynh đệ, muốn nói muốn làm gì đều trình thưa đàng hoàng. Mai kia về với thầy tổ cũng phải nhớ nghiêm chỉnh, làm chuyện gì phải thưa với những bậc trên trước, xin ý kiến rồi hãy làm, nếu không được phép thì đừng làm. Như vậy mới không bị lỗi đi học đạo về ngang ngược, muốn làm gì thì làm, không kể người lớn kẻ nhỏ. Như vậy sẽ mang tiếng Thầy không biết dạy tụi con.
5- Ở đây, Thầy không bao giờ đặt kinh tế trên đạo đức, mà phải đặt đạo đức lên trên tất cả. Cho nên làm việc gì Thầy cũng không xin tiền bạc của ai hết. Tăng ni Phật tử phát tâm cho hoặc cúng thì Thầy nhận, chứ không nài nỉ cầu xin hay chiều chuộng lấy lòng. Thầy lấy tâm làm đạo, ai mến đạo thì đến với mình, còn không thì thôi. Không vì muốn được việc mà chiều chuộng người, riết rồi mất mình.
Tụi con nhớ đừng thấy người này khá giả mình chiều, thấy ai rộng rãi mình đòi hỏi quá nhiều, thấy người kia nghèo mình khinh khi, mà lúc nào cũng phải giữ tâm công bằng. Ai phát tâm cúng, nếu đó là việc đạo đức, hợp pháp thì nhận, còn không thì thôi. Tụi con cần nghiêm chỉnh đối với tiền bạc, đồ đạc. Tất cả phẩm vật đều phải rõ ràng, dựa trên tinh thần đạo đức, chứ không vì tình cảm đòi hỏi ép uổng người khác cúng dường. Điều đó không nên.
Năm điều Thầy dạy đó, tụi con nhớ ứng dụng thì các việc Phật sự dễ thành tựu, lợi mình lợi người tốt đẹp.
Đạo Phật là đạo cứu khổ ban vui cho chúng sanh. Cứu khổ là cứu khổ nào? Ban vui là ban vui gì? Biết rõ điều đó tụi con sẽ thấy trách nhiệm của mình cụ thể hơn. Người ta bệnh hoạn mình cứu cho họ được lành, người ta đói thiếu mình cứu cho họ được no ấm, người ta tật nguyền mình cứu cho họ hết tật nguyền, phải vậy không? Nhà Phật dạy, người tu phải có lòng từ bi cứu giúp chúng sanh nên hành hạnh bố thí. Bố thí gồm có: một là bố thí tài, hai là bố thí pháp, ba là bố thí vô úy.
Bố thí tài thì có nội tài và ngoại tài. Đức Phật đặt bố thí tài ra trước, tức là cứu khổ. Bố thí ngoại tài là đem tiền bạc của cải giúp đỡ người nghèo khó, như những vị làm từ thiện. Người đói mình giúp cho qua cơn đói, người khổ mình giúp cho qua cơn khổ, đó là bố thí ngoại tài. Nếu vậy người không có tiền của, làm sao bố thí? Cho nên có bố thí nội tài, tức là đem sức lực của mình giúp cho người. Như người gặp cơn bệnh hoạn mà đơn độc không có người thân, mình chở họ tới bệnh viện, tức là không có của mà có công giúp họ. Hoặc coi mạch cho thuốc để người ta bớt bệnh, đó cũng thuộc về bố thí nội tài.
Bố thí tài không chưa đủ, phải hành hạnh thứ hai là bố thí pháp. Bố thí pháp bằng cách nào? Bố thí tài thì cứu được khổ đói rét, khổ bệnh hoạn, khổ gặp tai nạn… Bố thí pháp cứu được cái khổ mê lầm. Bố thí tài là cứu cái khổ về thân. Bố thí pháp là cứu sự mê lầm của con người. Trong Phật pháp, bố thí pháp là một việc lớn, vì cứu khổ vĩnh viễn cho chúng sanh. Bố thí tài là phương tiện, bố thí pháp là cứu cánh, là gốc của người tu.
Kế bố thí pháp là bố thí vô úy. Bố thí vô úy có một phần là công sức, một phần là pháp, nhờ pháp mà không sợ sệt. Khi người lo âu sợ hãi vì một điều gì đó, mình giúp đỡ cho họ vượt qua nỗi lo sợ. Hoặc dùng Phật pháp an ủi, chỉ cho họ lẽ thật để họ tự thoát sợ hãi.
Chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa cứu khổ chúng sanh trong đạo. Phật dạy sáu đường luân hồi, trong đó có ba đường lành và ba đường dữ. Ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là ba đường tội lỗi luôn chịu khổ cảnh. Ba đường lành là người, trời, a-tu-la. Người bố thí nội tài, ngoại tài sẽ được các quả lành. Trong ba đường lành, gần thì làm người được khá giả giàu sang, khá hơn nữa thì tiến lên thành a-tu-la, cao hơn nữa là sanh lên cõi trời hưởng phước.
Với người cư sĩ, Phật dạy quy y Tam bảo, giữ năm giới làm nhiều thiện nghiệp để ra khỏi đường ác, đi đường lành như cõi người, cõi trời. Bố thí pháp là dạy họ phải tu để giác ngộ, không phải tu để được hưởng phước lành, rồi chìm xuống nổi lên mãi trong lục đạo luân hồi. Như vậy bố thí pháp mới cứu người ra khỏi sanh tử.
Người xuất gia phải biết rõ lập trường của mình, không nên chạy theo phước sanh diệt thế gian, hãnh diện cho đó là đủ. Thật sự chúng ta tu là để giải thoát sanh tử, muốn giải thoát sanh tử thì phải giác ngộ, không giác ngộ thì không bao giờ giải thoát sanh tử. Người đời muốn cuộc sống đời này tốt, đời sau tốt hơn nên Phật dạy quy y Tam bảo, giữ Ngũ giới, hành thiện tích phước. Người xuất gia, Phật dạy lấy Tam vô lậu học làm nền tảng tu hành. Tu hành phải có giới định tuệ. Có tuệ mới giải thoát sanh tử, mà không có giới, định thì không có tuệ nên giới định tuệ phải đầy đủ. Nhờ giữ giới tâm bớt chao đảo, nhờ tu thiền tâm được an định, nhờ an định mới có trí tuệ giác ngộ, ra khỏi sanh tử. Đó là gốc tu hành. Cho nên người mới tu phải học nhiều, bây giờ mới chập chững chứ chưa chuyên ròng. Tu tập lâu dần, gác hết mọi việc không lo lắng vướng bận gì, việc học cũng không còn, một tâm chuyên nhất mới được an định, rồi đi tới trí tuệ giác ngộ giải thoát.
Ngày nay, tụi con sắp rời khỏi thiền viện để gánh vác những việc mới, Thầy dạy cho biết rõ mục đích cứu khổ chúng sanh là cứu khổ mê lầm của họ. Trong kinh A-hàm, Phật dạy: “Cái khổ bị thiêu đốt ở địa ngục chưa phải là khổ, cái khổ bị đói khát của ngạ quỷ chưa phải là khổ, cái khổ bị kéo xe kéo cày của súc sanh chưa phải là khổ, chỉ si mê không biết lối đi mới là khổ.” Phật xác định rất rõ ràng, cứu khổ chúng sanh không phải chỉ dạy cho người ta biết làm lành lánh dữ, tuy việc đó cũng tốt nhưng chưa phải cứu cánh, làm sao cho người hết mê lầm mới là cứu cánh.
Muốn hết mê lầm phải làm sao? Phải giác ngộ. Người tu luôn luôn tỉnh giác, không để mê lầm. Tỉnh giác bằng cách nào? Mỗi tối chúng ta tụng Bát-nhã, tới câu chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách, phải thấy thân sắc uẩn này do tứ đại hòa hợp mà thành, không thật. Sắc uẩn do tứ đại hợp thành vốn không thật, thọ là những cảm giác, tưởng tức là suy tưởng, hành là suy tư nghĩ tính, thức là phân biệt. Tất cả do duyên mà khởi nên đều không thật.
Trong năm uẩn chỉ có một uẩn đầu là thể xác, bản chất nó là không, duyên hợp tạm có, không bền lâu. Tuy có đó nhưng hết duyên nó trở về không. Thấy thân sắc uẩn không thật, duyên hợp tạm có như huyễn như hóa, là thấy đúng lẽ thật. Thấy đúng lẽ thật là giác ngộ, là trí tuệ. Có ai dám nghĩ thân mình trăm năm sau mới rã không? Không ai biết nó rã lúc nào. Ngày nay còn thở, còn đi đứng, ăn uống thì biết ngày nay còn sống, không biết ngày mai ra sao. Rõ ràng thân tạm bợ mà nghĩ thật, có phải si mê không? Thật là si mê.
Từ si mê chấp thân giả, lầm cho là thật rồi sanh ra tham: tham tài, tham sắc, tham danh, tham thực, tham thùy… đủ thứ tham. Do si dẫn tới tham, mà tham không được thì nổi sân. Chúng ta tu là phá tham, sân, si; nói đúng hơn là phá si, tham và sân. Muốn phá tan si mê phải dùng trí tuệ Bát-nhã, có trí tuệ Bát-nhã thì phá được si. Phá được si thì tham sân theo đó hết. Người chấm dứt ba thứ đó gọi là gì? Là thánh vậy. Nên biết phá được một phần sắc ấm là sắp thành thánh rồi.
Bốn thứ còn lại thuộc về tâm: thọ là cảm giác, tưởng là tưởng tượng, hành là suy tư, thức là phân biệt. Như chúng ta ăn món gì đó, ở lưỡi có cảm giác ngon hoặc dở, đó là xúc giác ở lưỡi. Nó chỉ được tý xíu, nuốt ọt xuống là hết trơn. Cảm giác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều tạm bợ vô thường, duyên hợp mới có nên nó cũng tánh không. Trước nó là không, đợi duyên hợp mới có, có rồi qua mất, cũng trở thành không. Như vậy thọ không thật có.
Tưởng là tưởng tượng thế này thế kia, nó có thật không? Cũng không thật. Tưởng tượng của mình ít khi nào đúng lắm. Có những nơi mình chưa tới, chỉ nghe qua địa danh, rồi tưởng tượng trong đầu cảnh này cảnh nọ. Nhưng khi tới nơi đụng sự thật, có giống như những gì mình tưởng không? Không giống, hoặc tưởng quá nhiều hoặc tưởng chưa tới. Tưởng chỉ là tưởng tượng thôi, nhưng người ta đặt tên là lý tưởng. Lý tưởng là sao? Tưởng mà cho là hợp lý, là đúng, gọi là lý tưởng.
Lý tưởng do mình đặt ra, phô trương ra rồi dạy bảo mọi người. Những người hợp ý thì bằng lòng nghe theo mình, làm đúng như lý tưởng của mình, từ đó lập thành một chi phái. Người lý tưởng ngược lại với mình, lúc đó bằng lòng không? Chắc là không. Mình cho cái đó là chân lý, là đúng, mà người khác nói sai thì làm sao chịu nổi. Trong gia đình anh có lý tưởng này, em có lý tưởng khác thì có đấu tranh. Nếu lý tưởng một cá nhân thì chống cự với một cá nhân, lý tưởng cho số đông thì chống cự với số đông. Con người vì chấp lý tưởng, chấp tâm mình thật mà tạo khổ cho nhau. Cho nên lý tưởng là nguyên nhân khiến thế gian này chịu không biết bao nhiêu đau khổ.
Những suy tư của mình là một dòng sanh diệt, nên gọi là hành. Hành giống như đi, đi thì không dừng, từng bước từng bước đi tới. Hành là dòng suy nghĩ, suy nghĩ mãi không dừng. Như sáng mai đi chợ mình suy nghĩ phải mua cái gì, món A món B, mua thứ này thứ kia… đủ thứ hết. Nó không ở yên một chỗ mà luôn chuyển biến, chuyển biến thì làm sao cố định? Nên biết hành là những suy tư thành dòng sanh diệt liên tục nên không thật.
Thức là những phân biệt khi sáu căn tiếp xúc sáu trần. Khen cái này đẹp, chê cái kia xấu là do thức phân biệt của con mắt. Đẹp thì thích, xấu thì không ưa nên khởi niệm thương ghét. Các căn còn lại cũng vậy. Tiếng này hay, tiếng kia dở là phân biệt âm thanh qua lỗ tai. Cái này thơm, cái kia hội là do phân biệt của lỗ mũi… Thức là những phân biệt cái này cái nọ, đủ duyên thì có, không duyên thì mất nên cũng không thật.
Như vậy sáu căn tiếp xúc sáu trần mà có thức phân biệt đó là cơ duyên đưa mình đi tạo nghiệp. Vì có phân biệt người đó nói nặng mình, mình mới giận họ, do giận nên gây nghiệp với người ta rồi thọ khổ. Hoặc phân biệt người đó mến thương mình, rồi sanh ra nghiệp ái cũng thọ khổ v.v… Do thức mà chúng ta tạo biết bao nhiêu thứ nghiệp.
Tóm lại, nội tâm là thọ, tưởng, hành, thức đều sanh diệt biến đổi vốn không thật. Biết nội tâm không thật thì có cố chấp, có thích những cảm giác ngon miệng, êm tai, đẹp mắt… không? Có cho những cảm giác tạm bợ, những tưởng tượng không thật của mình là chân lý không? Chúng ta tu làm sao mới đúng? Phải bịt mắt, bịt tai lại hay làm gì? Không cần phải làm vậy, chỉ cần đối cảnh vô tâm, tức là sáu căn tiếp xúc sáu trần không có niệm dính mắc.
Trong Thanh quy, phần Thỉnh nguyện có nói Giới thượng thừa của thiền sư Pháp Loa. Khi chúng ta thấy cảnh thấy hoa là cảnh là hoa, chứ thức không chạy theo hoa cảnh để phân biệt, hoa không dính với thức. Ra vào không có giao thiệp, đó là ngăn dừng. Nói ngăn dừng chứ không ngăn dừng gì hết. Chỉ là trong không chạy theo cảnh, ngoài không dính các duyên, gọi là ngăn dừng. Như vậy, tu thiền cốt là không để thức phân biệt dính mắc với sáu trần.
Ngài Pháp Loa phân tích kỹ hơn một chút là mắt không vì sở duyên thức ra, thức không vì sở duyên cảnh vào. Hai cái không ra vào là chỉ cho không vướng mắc. Chúng ta tu cốt làm sao đối với năm uẩn này, từ sắc uẩn cho đến thọ, tưởng, hành, thức uẩn đều làm chủ, không để vướng mắc với tất cả cảnh bên ngoài, đó là ra khỏi đường sanh tử. Nếu bị vướng mắc sáu trần thì bị cột trói trong sanh tử.
Như con mắt nhìn sắc, trước khi thức phân biệt, lúc đó có lỗi lầm gì không? Không. Chỉ sau khi phân biệt rồi đánh giá đẹp xấu mới sanh lỗi lầm. Tai nghe tiếng, có tiếng gì thì cứ nghe tiếng đó, không dấy niệm phân biệt khen chê… thì đâu có lỗi. Các lỗi lầm do thức phân biệt chứ cái thấy cái nghe không có lỗi. Như vậy sáu căn là cánh cửa tạo thành tội lỗi, mà cũng là cánh cửa để đi đến Niết-bàn.
Cứu khổ chúng sanh như đói, khát… chỉ là tạm bợ; cứu khổ tinh thần như buồn, thương, giận, ghét… cũng là tạm bợ. Muốn rốt ráo thì phải cứu cái khổ đừng chấp thân, chấp tâm. Muốn không mắc kẹt hai thứ đó phải thấy đúng như thật thân tâm hư dối không thật. Biết vậy rồi chúng ta ngồi thiền có gì khó khăn đâu. Nhớ tới người, đó là hình bóng hư dối, nhớ tới cảnh, cảnh cũng hư dối thì tâm dễ an. Có khi chỉ ngồi chơi nhìn trời nhìn mây, những gì thấy là thấy, nghe là nghe, không khởi phân biệt đẹp xấu hay dở… thì cái nhìn cái nghe của mình không có lỗi lầm gì.
Chúng ta tu cốt làm sao dừng hết những sai lầm về thân, về tâm. Thấy đúng như thật hai thứ đó tạm bợ giả dối thì cái thứ ba hiện ra, tức là cái chân thật hiện tiền. Cái chân thật hiện tiền ở đâu? Trên hội Linh Sơn, khi đức Phật đưa cành hoa sen lên, rồi nhìn khắp đại chúng thấy ngài Ca-diếp mỉm cười. Đó là ngài đã nhận được chỗ Phật dạy nên được Thế Tôn ấn chứng. Đó là từ cái thấy nhận được.
Đến cái nghe, như ngài A-nan hỏi tổ Ca-diếp:
– Khi Thế Tôn phó chúc và truyền y bát, còn truyền pháp gì riêng cho sư huynh nữa không?
Tổ Ca-diếp gọi: – A-nan!
A-nan ứng thanh: – Dạ!
Tổ bảo: – Cây cột phướn trước chùa ngã.
Ngài A-nan nhân đây tỏ ngộ. Câu sau là nói đùa, chỗ “kêu, dạ” đó mới là chỗ Phật truyền. Cũng như khi ông Bùi Hưu hỏi tổ Hoàng Bá:
Hình cao tăng ở đây mà cao tăng ở đâu?
Tổ gọi: – Bùi Hưu!
Bùi Hưu ứng thanh: – Dạ!
Tổ hỏi: – Ở đâu?
Ngay đó Bùi Hưu ngộ được ý chỉ.
Rõ ràng cái thật của mình hiện tiền ở mắt, ở tai, ở thân… đủ hết. Nơi cái biết thấy, biết nghe, biết ngửi, biết nếm… mà không khởi niệm phân biệt ngon dở tốt xấu… thì đó là cái biết. Cái biết chân thật này không có hình tướng, nếu mình thêm niệm phân biệt vào thì có hình tướng. Chúng ta đã sẵn có cái biết chân thật hiện tiền mà quên, cứ chạy theo cái biết sanh diệt cho là tâm, nhận thân tạm bợ, giả dối cho là thân. Bám vào hai cái tạm bợ đó cho là mình rồi tạo nghiệp luân hồi. Đó là mê lầm.
Bây giờ biết rõ thân không thật, duyên hợp giả dối và tâm sanh diệt cũng là duyên hợp giả dối. Không bị hai thứ đó chi phối thì lúc đó cái chân thật hiện tiền đầy đủ, không hình tướng, không dấy động. Cái thấy, cái nghe đó ra làm sao? Nó hiện tiền mà không có hình dáng. Như vừa nhớ cành hoa, mình đã thấy có cái bóng của cành hoa hiện ra. Nhớ người có bóng người, nhớ cảnh có bóng cảnh; còn cái biết hiện tiền mình thấy, nghe, xúc chạm mà không có niệm nào. Đó là cái biết tròn đầy viên mãn nơi mỗi người.
Con người chấp tâm là nặng nhất. Cho nên bao nhiêu phương tiện tu là để dừng, để lặng tâm sanh diệt đang chạy theo trần cảnh. Nói cứu khổ chúng sanh là giúp cho chúng được giác ngộ. Có giác ngộ rồi thì cái chân thật hiện tiền. Cái chân thật đó không sanh không diệt nên giải thoát sanh tử. Cứu giúp như vậy mới là cứu cánh giải thoát viên mãn.
Muốn dứt mê lầm cho người mà mình còn mê lầm thì được không? Cho nên trước hết mình phải giác ngộ, sau mới dạy người dứt mê lầm được. Dứt mê lầm mới là gốc cứu khổ của đạo Phật. Hết mê lầm rồi thì không còn khổ nữa, nên nói cứu khổ ban vui. Đem niềm vui lại cho người là niềm vui hết mê lầm, giải thoát sanh tử. Đó là mục đích của đạo Phật, cũng là mục đích của người xuất gia. Người tu không tìm kiếm những thứ tạm bợ bên ngoài, mà phải đi sâu vào cội gốc bên trong.
Nói giải thoát sanh tử là nói đến trí tuệ giác ngộ. Kinh Bát-nhã đã chỉ rõ, dùng trí tuệ thấy đúng như thật về thân về tâm để không bị lôi cuốn theo cảnh theo trần bên ngoài. Đó là đi trên con đường giải thoát sanh tử. Nếu chúng ta vướng bận vào những lời khen chê thương ghét đó là đi trong luân hồi.
Người tu xứng đáng phải là một chiến sĩ vượt ra ngoài tất cả những bủa vây của trần tục, chứ không phải nằm trong đống nhiễm ô đó. Hiểu vậy, chúng ta mới thấy giá trị cao siêu của người tu, nếu không thì tu lừng chừng chẳng tới đâu hết, rồi nguyện đời sau tiếp tục tu nữa, nhưng không biết đời sau có đủ duyên tiếp tục hay không. Cho nên phải ngay đời này cương quyết khẳng định vững vàng trên lối đi của mình.
Giả như người có con mắt sáng, thấy được nghiệp của chúng sanh. Họ thấy có người tạo nghiệp rồi chết bị làm thú, làm thú vài ba năm chết, trở lại làm con này con kia năm lần bảy lượt. Thấy tất cả cảnh người đó sanh ra rồi chết, chết rồi sanh ra như vậy hoài, có đáng thương không? Cũng thế, Phật thương chúng sanh là vì cứ ngu mê lẩn quẩn trong sanh tử khổ đau. Muốn hết khổ chỉ khi nào họ ra khỏi luân hồi sanh tử, nghĩa là dừng tất cả loạn tưởng, chỉ còn một tâm thanh tịnh thôi.
Thầy nghĩ tới khi từ giã mọi người, mình chỉ cần đọc bài kệ:
Kinh điển lưu truyền tám vạn tư,
Học hành không thiếu cũng không dư.
Đến nay ngẫm lại chừng quên hết,
Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.
Làm sao ngày mai chỉ nhớ trong đầu một chữ Như, không còn nhớ gì nữa hết. Nói theo thế gian thì vô tình quá, phải không? Đúng là vô tình, vì không có tình thức mà chỉ có trí tuệ Bát-nhã siêu thoát. Mục đích của người tu là phải tới chỗ tột đó, chứ không phải tu lừng chừng cho có, rồi hẹn kiếp khác tu tiếp. Liệu kiếp khác có đủ duyên để tu nữa không? Đời này huân sâu cho đến nơi đến chốn thì đời sau mới hy vọng sanh ra tu nữa. Làm Phật sự cũng nhiệt tình, nhưng tu cũng phải tha thiết, mới xứng đáng là người xuất gia cầu giải thoát sanh tử.
Buổi họp này rất quan trọng vì là buổi họp cuối năm, đồng thời chuẩn bị cho đầu năm, cũng là buổi họp Thầy tạm biệt đại chúng để nhập thất. Sau khi Thầy nghỉ, có một số chúng lớn đi về trụ xứ của mình. Trước lúc tạm biệt nơi đây, tụi con có những thắc mắc chưa toại nguyện thì cứ nói rõ trong buổi họp này.
Bây giờ Thầy sắp đặt công việc cho đại chúng ở đây trước. Tới mùng bảy là hết Tết, phải vô chương trình học. Ở đây có hai lớp: lớp lớn và lớp nhỏ. Bắt đầu học lại, có chia ra hai bậc: một bậc là người mới, một bậc là người cũ. Những người cũ thì học theo người cũ, người mới học theo người mới, cho có kết quả tốt.
Sau khi nghỉ Tết rồi, những lớp giảng ở tại Trúc Lâm cũng như các nơi bắt đầu mời giảng lại, vì vậy Thầy chuẩn bị nhân sự làm việc cho thích hợp. Trước hết nói về phân lớp học. Những người nào thuộc người cũ còn ở lại lập thành một lớp. Những người thuộc lớp khá đó, được học bằng cách nghe băng, như học trực tiếp với Thầy, nên là buổi học chứ không phải nghe băng thường. Bên tăng Thầy cũng khẳng định như vậy, nên bữa đó ngồi học nghiêm chỉnh, theo dõi từng câu từng lời trong sách, nghiền ngẫm hiểu cho thấu đáo. Quý vị ở lại thuộc lớp lớn, chỉ học băng của Thầy, mấy cô khỏi dạy. Học theo thứ tự, những kinh sách nào, luận sử nào chưa học thì cứ học từ từ, từ thấp lên cao, cho tới bao giờ xong hết mới thôi. Lớp lớn học một tuần chỉ ba buổi, còn những buổi khác ngồi thiền. Lớp nhỏ, ngoài ba buổi học chung với người lớn sẽ có ba buổi học riêng. Hôm nào không học thì ngồi thiền.
Bây giờ đến phần nhân sự làm Phật sự. Năm này Quản chúng bệnh, Phó quản chúng cũng phải đi chỗ này chỗ kia thường, nên phần thị giả thì có H.T lên phụ. H.T có thêm trách nhiệm là khi nào Quản chúng đi khỏi thì cũng coi chừng huynh đệ ngồi thiền, tụng kinh. Ai vắng mặt thì H.T ghi rõ, Quản chúng về thì trình để nhắc nhở chúng tu hành đàng hoàng, không được lôi thôi bê trễ.
Vị nào đang ghi lại băng Thầy nói lúc Thỉnh nguyện hoặc dạy chúng, thì tiếp tục ghi để làm thành bộ Phụng Hoàng Cảnh Sách. T.T còn ở lại đây phải phụ với H.D chịu trách nhiệm làm cho hoàn thành đầy đủ. Bộ sách này giờ chỉ mới xong một chặng thôi, chưa thể kết thúc vì mỗi tháng Thầy vẫn còn cảnh sách bên Tăng, nên tháng nào cũng có một bài. Khi có sự việc bất ngờ xảy ra Thầy cũng nói chuyện nên vẫn có bài.
Bộ sách này nhiều người thích đọc lắm, vì những lời dạy trong đó thực tế hơn những bộ luận. Luận thì nhắm vào người xưa mà nói, còn ở đây thực tế, ai có bệnh gì trị ngay bệnh đó nên người đọc dễ thấm hơn. Vì vậy tụi con ghi lại cẩn thận. Nếu Thầy nghỉ, không trình được thì ghi xong H.D với T.T sửa, cần thì nhờ Quản chúng nghe để chỉnh lại, chứ Thầy không rảnh nghe lại nữa.
Ngoài việc đó ra thì H.D và T.T phụ giảng ở Tham vấn đường tại Trúc Lâm vào mười bốn hoặc hai mươi chín. Một tháng chư tăng giảng, một tháng chư ni giảng. Nếu H.D đi vắng thì thêm một người phụ giảng nữa. Dưới đạo tràng Sen Hồng thì một tháng đi giảng một lần. Tháng nào H.D đi không được thì T.T với T.H hoặc người nào đó, theo sự sắp đặt của Quản chúng đi giảng.
Tóm lại về mặt học thì từ đây về sau, những vị lớn còn ở lại được nghe băng giảng của Thầy một tuần ba buổi. Phải học nghiêm chỉnh đàng hoàng, đem kinh sách theo dò, chứ không phải nghe không. Đừng nghĩ là nghe băng giảng rồi người ngồi góc kia, đứa ở góc này, như vậy thành ra nghe cho có thôi, chứ không có tinh thần học. Phải vô lớp học hẳn hoi, ghi lại những gì cần thiết để nhớ và ứng dụng tu cho tốt.
Ngày hôm qua có hai vợ chồng người Canada, nghe băng giảng của Thầy do người nào đó dịch. Họ thích quá, vượt đại dương qua đây tìm gặp Thầy. Người nước ngoài không được nghe trực tiếp, phải thông qua phiên dịch, vậy mà họ rất thích, nên từ bên kia chạy về đây tìm Thầy. Huống chi đệ tử tại đây, phải tu học cẩn thận không nên lơ là lôi thôi.
Kế đó là tới phần các vị sắp rời đây đi nơi khác hoặc về trụ xứ của mình, Thầy nhắc nhở thêm. Thực ra, dưới con mắt một số người thấy sống ở Trúc Lâm khó quá! Thầy nghĩ cũng phải. Vì các thiền viện khác ai cho tiền thì bỏ túi riêng, muốn mua gì ăn thì mua, không ai rầy rà, ở đây thì không được. Các nơi đi đâu có thể xin phép rồi đi năm ba ngày không sao, ở đây xin đi bị rầy rà đủ thứ… Bởi khó nên Phật tử lại thích Trúc Lâm. Tại sao? Vì chỗ khó là nơi rèn luyện kỹ, đủ uy tín ra làm Phật sự.
Thiền viện Trúc Lâm là lý tưởng tối hậu của đời Thầy, vì ở đây những gì Thầy muốn làm, đều thực hiện được hết, nhất là về sự ăn mặc ở, Thầy đều lo tròn. Tăng ni không thiếu ăn thiếu mặc vì có Phật tử cúng. Nếu thiếu chút chút thì mua thêm rồi phân chia đều đủ, chia một cách công bằng, ai cũng như ai. Mọi nhu cầu cuộc sống ở đây khỏi lo gì hết, cha mẹ quý vị cũng khỏi bận tâm. Vì vậy cuộc sống của tăng ni hòa hợp, không có sự cách biệt, không có mặc cảm giữa người khá giả và người nghèo. Đó là cơ hội tốt để chúng ta sống trong tình Lục hòa, không có tư riêng cách biệt. Nhờ đó mà tăng ni được thuần tốt. Cái tốt thì người ta lại nói khó. Khó mà nên hay hư? Muốn nên thì phải chịu khó sống đúng với đạo lý, đúng với tinh thần người xuất gia.
Thầy muốn gầy dựng một thiền viện mẫu mực. Mai sau tăng ni ở đâu, làm Phật sự gì, cũng nhớ những hình ảnh này, nhớ cách thức tổ chức của Thầy. Làm sao khi trở về chùa, quý vị tạo thành một khung cảnh tu hành trang nghiêm tốt đẹp. Được vậy thì công phu hướng dẫn của Thầy thành công. Nếu ra khỏi đây, trở về trụ xứ mặc ai nấy tung hoành theo ý muốn riêng, không nhớ đường lối tu, không giữ khuôn phép trong thiền viện; đó là không trung thành với đường lối chủ trương của Thầy, không biết lòng chân thành của Thầy đối với đại chúng.
Đời của Thầy từ thủy chí chung sống trong tập thể, nếu có rời tập thể thì chỉ nhập thất thôi, chứ không đi lang thang nơi này nơi khác. Vì vậy nếp sống của tập thể đẹp thế nào, chỗ ưu chỗ khuyết Thầy đều kinh nghiệm, để sắp đặt thành một thiền viện có nề nếp quy củ. Nếp sống ở đây, mới nhìn qua thấy khó, những lỗi nhỏ cũng bị rầy. Nhưng ở lâu tăng ni mới thấy nếp sống này tìm ở nơi khác không có. Nó giúp cho mọi người sau một thời gian tu sẽ tiến bộ. Nếu ở được mười năm hay nhiều hơn nữa, quý vị sẽ thấy đạo lý được vững vàng, tu hành có kết quả. Về sau đem sự hiểu biết của mình nói cho người nghe, người ta sẽ thông cảm dễ dàng.
Vì vậy, thời gian ở đây tăng ni phải nhiệt tâm tu học, cả hai việc tu học không thể thiếu. Có học mà không tu là đãy đựng sách. Có tu mà không học là tu mù. Học và tu phải cân xứng nhau, buổi nào học ra học, buổi nào tu thì ra tu, không nên làm cầm chừng lấy có. Cuộc sống vô thường, nếu biết đời mình không dài, ngày nào được ở chùa tu học thì phải tha thiết tu học cho có căn bản. Vậy mới không buồn, không tủi thân mình tu hành bấy lâu mà chẳng được lợi ích gì.
Thầy lúc nào cũng đặt việc lớn việc chung lên trên, chứ không đặt tình cảm cá nhân lên trên. Như vậy mới duy trì thiền viện được lâu dài. Nếu không thẳng thắn dứt khoát thì sau một thời gian, thiền viện trở thành nơi nuôi dưỡng những người không có tâm cương quyết tiến tới giác ngộ. Thầy làm gì thì dứt khoát việc ấy, tu thì hẳn ra tu chứ không phải nửa tu, nửa lo gia đình. Học thì ra học, học cho hiểu thấu đáo chứ không phải học cầm chừng lấy có. Được như vậy, sự tu học có kết quả rõ ràng, không phải chỉ nói ở miệng. Vì vậy tăng ni phải khéo sống cho đúng với tinh thần của người vì lý tưởng giác ngộ giải thoát mà đến tu, chứ không vì cái gì khác.
Người trẻ mà cạo tóc vào chùa thì đó là phi thường, ý chí mãnh liệt lắm mới làm được. Phật tử luôn xem mình là những người có ý chí quả cảm, vậy mà bây giờ chúng ta sống yếu đuối buông lung, thì hỏi có xứng đáng với sự mong chờ của mọi người không? Thật uổng cơm đàn-na tín thí, tội nghiệp cha mẹ ở nhà thương nhớ, trong khi mình tu không ra trò trống gì, lại trở thành người vô ích đối với gia đình, xã hội, là gánh nặng cho đàn-na thí chủ, không xứng đáng chút nào hết.
Khi Thầy đóng cửa, bên ni ở gần bên mà dứt khoát không cho qua, không cho gặp, chỉ thị giả đem cơm đem cháo thì được quyền gặp buổi sáng, buổi trưa. Buổi chiều giao cho thị giả tăng qua lấy sữa thôi, thành ra thời gian của Thầy được nghỉ ngơi, thảnh thơi hoàn toàn. Đại chúng phải tập mình quyết làm gì thì phải làm cho được. Thầy bao nhiêu năm nay đã làm được những điều muốn làm, còn hơn những điều muốn nữa. Bây giờ chỉ lo cho phút chót làm sao ra đi tự tại, không bị chướng bệnh làm khổ sở. Cho nên thời gian này để giành quyền làm chủ trọn vẹn cho mình.
Ni sư Quản chúng thưa:
– Ngưỡng bạch Thầy, hôm nay là ngày cuối Thầy nhắc nhở chúng con trước khi Thầy nhập thất nghỉ ngơi, để lo việc của Thầy. Chúng con mừng mà cũng buồn, biết rằng Thầy vẫn ở đây nhưng chúng con vắng Thầy. Chúng con nguyện trước Thầy sẽ ghi nhớ những lời Thầy dạy để thực hành, làm theo bản nguyện của Thầy.
Chúng con cũng xin Thầy hộ niệm cho chúng con được yên ổn tu hành, sống đúng tinh thần Lục hòa. Nhờ sức gia hộ của Thầy mà chị em chúng con sẽ sống hòa vui và tinh tấn tu hành. Tuy vắng Thầy, nhưng lúc nào chúng con cũng noi gương của Thầy nguyện tinh tấn tu hành, chứ không dám bê trễ. Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh cho lòng thành chúng con.
Nam mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.