Phụng Hoàng Sách Tấn

Câu Chuyện Buổi Chiều (IV)



Thầy kể câu chuyện, xem trong chúng trả lời được không. Vừa rồi có một đứa bé điện thoại xin gặp Thầy, nhờ Thầy giảng giùm ba câu hỏi. Đứa bé thưa:

– Thưa Thầy, tại sao các bác nói rằng tâm mình trùm khắp?

Thầy hỏi lại:

– Con nghĩ tâm mình thế nào?

– Dạ, tâm mình ở trong người mình. Thưa Thầy, vậy ai nói đúng?

– Cả hai đều đúng.

– Tại sao vậy?

Thầy nói:

– Nhìn trên hiện giờ thì cái biết ở nơi con người mình, nên nói tâm ở nơi mình là đúng. Nếu nhìn trên tâm thể thì cái biết đó không có hình tướng, vì không có dáng vẻ gì riêng biệt nên không bị giới hạn, do không giới hạn nên nói trùm khắp.

Đứa bé hỏi thêm:

– Thưa Thầy, trong kinh Phật nói về nhân quả, nếu đời này mình làm người ta khổ thì mình có tội, đời sau bị người trả lại. Điều đó con thấy bất ổn.

– Bất ổn thế nào?

– Thưa Thầy, nếu đời này mình làm người ta khổ thì đời sau người ta làm khổ lại mình. Đó là vì mình thiếu nợ người ta nên người ta đòi thôi, tại sao lại nói người đó cũng có tội nữa?

Thầy hỏi:

– Năm nay con bao nhiêu tuổi?

– Dạ, thưa Thầy! Năm nay con mười hai tuổi.

Một đứa bé mười hai tuổi mà biết hỏi câu đó, nghe giật mình. Trong chúng trả lời được không? Mình làm khổ người ta thì mình có tội, về sau có gặp thì mình bị họ làm khổ trở lại, vậy là huề. Nhưng sao lại nói họ cũng có tội, vậy là nhân quả không công bằng sao?

Thầy trả lời:

– Nhân quả Phật dạy không phải như chỗ con hiểu. Đời này mình tạo nhân làm cho người ta khổ trăm phần trăm thì đời sau gặp lại người ta làm mình khổ trăm phần trăm, đó gọi là trả nợ nhau. Nhưng có một điều khác là trong khi trả nợ nhau đó, lại gây tạo thêm nhiều hơn, tức là đòi nhiều hơn nợ thiếu. Thí dụ, trước kia mình chỉ chửi người ta ít câu, nhưng sau gặp lại họ đánh mình, như vậy là đòi quá số nợ thành thiếu nợ trở lại, nên nói cũng có tội. Như có người vay mình một triệu đồng, mình đòi lại đúng một triệu đồng là huề. Nhưng nếu mình đòi tới một triệu rưỡi, vậy là mình thiếu lại họ năm trăm. Cho nên cứ thế mà phải tiếp tục vay trả, trả vay. Nhân quả Phật dạy là như vậy, nên người biết tu thì đừng vay trả với nhau nữa. Đời này bị người làm khổ, mình oán hờn họ thì sau sẽ gặp lại để đền trả. Nếu không muốn gặp lại để vay trả thì bỏ qua, không oán hờn. Hiểu vậy rồi chấp nhận, hiện tại chịu khổ một chút, ngang đây dứt nợ không phải tiếp tục trả qua trả lại nữa. Thí dụ người ta mượn con một triệu đồng, sau con biết họ nghèo nên thương xóa nợ cho họ luôn. Không đòi thì đâu có gặp lại để trả, nên không tiếp tục vay trả. Do mình còn ghi nợ nên trong lòng nhớ mãi, đợi mai chiều bắt họ phải trả thành mới có vay trả. Người Phật tử biết tu phải bỏ hết oán hờn, ai làm mình khổ cho qua rồi bỏ đừng nghĩ đòi lại, vậy thì không có kết oán thù. Không kết oán thù thì chỉ trả một đời này thôi, sau không còn gặp lại nhau để trả qua trả lại nữa.

Đứa bé lại hỏi:

– Ba con nói người tu thiền phải trì chú nữa mới được, vừa tu Thiền vừa tu Mật, hai pháp đồng tu mới có kết quả. Thưa Thầy, phải vậy hay không?

Thầy nói:

– Chủ trương vừa tu Thiền vừa tu Mật là căn cứ trên kinh Lăng-nghiêm. Trong kinh Lăng-nghiêm đức Phật dạy, người tu thiền nếu trì tụng chú Lăng-nghiêm thì không bị tà ma, quỷ thần… quấy phá. Nhưng thực tế, tu thiền là xoay lại chính mình, theo dõi hơi thở ra vô, thấy rõ vọng tâm sanh diệt. Tâm sanh diệt lặng thì chân tâm hiện tiền. Phản quan như vậy, tất cả những niệm dấy khởi đều thấy là huyễn hóa nên tâm thanh tịnh. Vì vậy, chỉ tu thiền thôi không cần trì chú.

Hôm trước chú bé này cũng hỏi Thầy ba câu, nay lại hỏi tiếp ba câu nữa. Một đứa bé mới mười hai tuổi mà rất khôn ngoan, biết hỏi những câu như thế. Nếu mình tu mà không thông hiểu giáo lý, con nít hỏi trả lời đã không trôi, huống nữa là người lớn. Cho nên Thầy chủ trương tu là phải học. Vừa tu vừa học để cho có vốn liếng Phật pháp, nếu không thông Phật pháp thì không thể truyền bá Phật pháp được. Thầy thấy những việc cần làm, cái nào có lợi cái nào có hại, mới hướng dẫn chúng tu. Một số người lười biếng, cho rằng chỉ cần tu thôi không cần học. Đây là sai lầm! Chỉ ngồi tu mà không học thì làm sao biết giáo lý đầy đủ để giảng giải cho tường tận.

Ngày xưa, khi Phật đi khất thực, người ta bỏ thức ăn vô bát cúng dường, đó gọi là hóa duyên hay gieo duyên, tức là gieo duyên hóa độ. Hiện nay có nhiều người tu không hiểu hết ý nghĩa này, nên quan niệm rằng tu mà thọ của đàn-na thí chủ e mang nợ, nên ráng làm có tiền ăn để khỏi mang nợ. Nhưng theo đạo Phật, quan niệm như vậy là sai. Phật dạy, muốn sau này giáo hóa chúng sanh thì phải có duyên mới giáo hóa chúng sanh được. Chúng sanh gieo duyên với Phật, Phật nợ họ nên sau gặp lại Phật độ họ. Nhờ gieo duyên nên mới gặp lại để giáo hóa, nếu không có duyên thì không gặp lại được. Nên nói “Phật hóa hữu duyên nhân”, tức là Phật chỉ giáo hóa người có duyên với Phật. Người có duyên mới gặp Phật được, Phật dạy họ mới nghe, còn không có duyên thì dù thấy Phật cũng không đến gặp Phật.

Trong kinh Hiền Ngu có đoạn kể, đức Thế Tôn dùng đủ lời lẽ an ủi Phước Tăng, khiến dứt sạch lo buồn, tâm rất hoan hỷ, liền đi theo Phật vào đến tinh xá. Đức Phật bảo tôn giả Đại Mục-kiền-liên: “Hãy xuất gia cho người này. Vì sao? Vì chúng sanh tùy duyên mà được độ. Người có duyên với Như Lai thì người khác không thể độ, người có duyên với người khác thì Như Lai không thể độ. Người có duyên với Xá-lợi-phất hay Mục-kiền-liên, Ca-diếp, A-na-luật, Kim-tỳ-la… thì tất cả đệ tử khác cũng không ai có thể độ được. Nên biết, tùy theo người có duyên mới độ được, còn người khác không thể độ.”

Thế nên, người tu chúng ta muốn mai kia giáo hóa được nhiều người thì phải nhận của thí chủ cúng dường, gọi là gieo duyên. Nhận, đó là vay mượn, mình thiếu nợ thí chủ nên sau gặp lại để trả. Tuy nhiên, hình thức trả hoàn toàn khác hẳn. Bây giờ vay mượn bát cơm, manh áo, nhưng khi trả thì trả bằng giáo pháp. Thầy thường nói, Thầy nợ chúng sanh đầy đầu. Nhờ có nợ nên bây giờ Thầy giảng nói mới có nhiều người tới nghe. Nếu không có nợ tức không có duyên, thì dù gặp cũng không cảm, mà không cảm thì làm sao giáo hóa được.

Người nào nghĩ rằng mình ở thất tu, sống tự túc để không nợ nần ai hết, mới nghe tưởng hay nhưng đó là ích kỷ. Vì không có tâm giáo hóa chúng sanh. Chúng ta không đòi hỏi Phật tử cúng dường, nhưng nếu Phật tử phát tâm cúng thì phải nhận. Nhận đó gọi là gieo duyên, hay là hóa duyên, tức tạo duyên để hóa độ. Người ta trao cho mình món nợ, mình nhận để có nhân duyên trả nợ. Đời này tu trả chưa xong thì đời sau gặp lại tiếp tục giáo hóa để trả.

Chúng ta thường nhớ người này, nghĩ người kia. Vậy những nhớ nghĩ này từ đâu ra? Nhớ tức là nghĩ về những chuyện quá khứ lưu giữ trong ký ức của mình, những việc cũ còn chứa trong tàng thức cho nên mình nhớ lại thì nó hiện ra. Thử hỏi, ký ức đó là mình hay không phải mình?

Những chuyện cũ đã qua, có khi nhớ có khi quên. Thí dụ, bất chợt chúng ta gặp mặt một người đó, biết quen mà quên tên, suy nghĩ cả buổi không ra, lúc khác bất thần nhớ lại. Tìm không ra thì gọi quên luôn, nếu tìm ra được thì gọi là nhớ lại. Vậy ai nhớ, ai quên? Nếu ký ức là mình thì khi cần là nhớ lại liền, không quên. Nhưng khi cần thì kiếm không ra, không biết nó ở đâu mà tìm, vậy ký ức đó có phải là mình không? Nên nói, ký ức giống như cuốn sổ ghi chép chuyện này chuyện kia, muốn nhớ việc gì thì tra lại cuốn sổ. Cuốn sổ tức không phải mình. Khi ngồi nghĩ lại những chuyện đã qua hiện ra, đó chỉ là cái bóng của quá khứ, đều là vọng tưởng chứ không phải thật mình. Những việc vị lai cũng vậy. Khi vừa dấy niệm nhớ nghĩ chuyện quá khứ, tưởng tượng việc vị lai, liền biết đó là vọng tưởng giả dối không thật, không phải là mình. Mình là cái biết hiện tiền, đang thấy được những cái bóng đó. Đây là chỗ trọng tâm tu hành.

Không nhớ quá khứ, không tưởng vị lai, chỉ ngay hiện tại tâm có động hay không động, hơi thở ra hơi thở vào… thảy đều thấy biết rõ ràng. Đó là tỉnh giác. Nếu lúc ngồi thiền mà cứ nhớ những chuyện quá khứ, thấy hay hay còn ôn lại nữa, đó là bị vọng làm chủ dẫn dắt làm mất thời gian vô ích. Tu thiền mới nghe đơn giản tưởng như tầm thường, mà thật sự là tối quan trọng.

Quá khứ là cái bóng, vị lai là ảo tưởng, chỉ có cái biết hiện tại là chân thật mà thôi. Lâu nay chúng ta cứ sống với quá khứ và vị lai mà quên đi hiện tại. Người già bảy mươi, tám mươi tuổi thường hay nhớ chuyện cũ, đó là ký ức về quá khứ. Như vậy nhớ ký ức tức là nhớ lại việc cũ mình đã làm. Những điều lành dữ đó tích lũy thành nghiệp, rồi khi chết lại bị nghiệp buộc ràng. Nếu bị ký ức dẫn hoài thì lệ thuộc vào nghiệp, còn biết buông bỏ không chấp nhận vọng niệm ấy, đó là đang sống chỗ chân thật của mình. Ảo tưởng về vị lai cũng vậy, đều là hư dối không thật. Người biết tỉnh giác như vậy là người đang sống với tâm chân thật của mình. Chúng ta sống mà cứ ôm quá khứ vị lai thì có mặt cũng như không, vì quá khứ đã mất rồi, vị lai thì chưa đến. Nếu cứ chạy theo quá khứ và vị lai hoài tức là sống với ảo tưởng, mà ảo tưởng thì sẽ dẫn đi trầm luân muôn kiếp.

Hôm nay có các vị làm nhà báo ở Quảng Trị, Thanh Hóa đến thăm Thầy. Lúc từ giã ra về, có một vị xin Thầy cho vài lời khuyên. Trước giờ Thầy ít tiếp xúc với nhà báo nay đột nhiên được yêu cầu, nhờ Phật cho trí sáng suốt một chút nên ngay lúc bất thần đó, Thầy nói: “Nhà báo là tai mắt của nhân dân, vì vậy muốn viết gì thì phải biết cho rõ, thấy cho đúng rồi hãy viết. Khi viết, những gì dở xấu thì mình có lời xây dựng, nếu thấy điều nào hay tốt thì có lời tán thưởng. Công tâm, vì lợi ích cho cộng đồng và xã hội…” Bất thình lình gặp người thưa hỏi, lúc ấy không kịp suy nghĩ cũng không chuẩn bị trước, mà có thể đối đáp trôi chảy, giải quyết được sáng suốt liền. Vậy, cái sáng biết đó từ đâu chạy ra?

Nói điều này để cho thấy, chính sự tu giúp cho mình sáng. Bình thường chúng ta lo yên tu, người ngoài nhìn vào thấy dường như ngu khờ không có gì lanh lợi, nhưng thật ra không khờ mà trái lại còn rất sáng suốt, nên khi gặp việc gì thì liền giải quyết phù hợp. Vì sao được như vậy? Bởi trong sự tu tập, vừa vọng tưởng suy nghĩ điều gì thì liền buông xả, do buông nên thấy như không biết gì hết. Khi những thứ lăng xăng lặng rồi thì tâm chân thật hiện tiền, trí tuệ sáng suốt. Thầy được mời đi giảng dạy rất nhiều chỗ, Bắc Trung Nam mỗi chỗ một đề tài, vậy thời gian đâu mà Thầy chuẩn bị cho kịp. Thầy không nặn đầu bóp trán để tìm đề tài, trong đầu không suy nghĩ gì cả, chỉ là giữ một tâm rỗng rang, an định, việc tới đâu thì làm tới đó. Nếu phải soạn bài kỹ, chuẩn bị bài giảng bài bản thì Thầy làm gì đủ thời giờ mà giáo hóa khắp nơi, từ trong nước cho đến ngoài nước.

Đức Phật lúc nhỏ ở trong cung cấm, lớn lên vượt thành xuất gia tu hành thành đạo. Ngài đâu có kinh nghiệm đời bao nhiêu, vậy mà gặp người trong ngành nghề nào hỏi đạo, Phật đều trả lời được và giảng giải thành một bài pháp sống động, để lại cho chúng ta những bản kinh hay. Cho nên chúng ta đủ lòng tin, nếu tu hành đàng hoàng thì tự nhiên đầy đủ trí tuệ, chứ không phải ăn nói lăng xăng lanh lợi mà có trí tuệ. Điều quan trọng là chúng ta phải học, phải tu và sống hợp đạo lý. Chúng ta chỉ học lóm hoặc bắt chước người khác để nói thì hiểu đó không phải là trí tuệ của mình, nên một khi quên thì hồi hộp bất an, không biết tìm đâu ra manh mối để nói.

Ngày xưa lúc mới đi giảng, thấy ai đưa tay xin hỏi là Thầy hồi hộp liền. Vì lo lắng không biết người ta hỏi gì, mình trả lời được không? Bây giờ, sau thời gian buông hết để yên tu, Thầy cho hỏi tự do không còn bị hồi hộp nữa. Như khi Thầy đi qua Úc, Phật tử xin Thầy một giờ thưa hỏi Phật pháp, không phải chỉ Phật tử ở Úc thôi mà họ kết nối máy tới Mỹ, Canada, để ai muốn thưa hỏi điều thì trực tiếp thưa hỏi. Phật tử thưa hỏi liên tục, suốt một giờ Thầy tùy theo câu hỏi mà trả lời. Lúc ấy đâu biết người ta sẽ hỏi mình cái gì mà suy nghĩ, nhưng nhờ nơi mình có Vô sư trí nên gặp duyên liền phát. Ứng xử được như thế, cũng phải qua bao nhiêu năm khó khổ tu hành, chứ đâu phải bỗng dưng mà được. Cho nên trong sự tu, chúng ta phải kiện toàn đủ Văn Tư Tu. Trước hết là học để hiểu, tức là Văn và Tư, kế đến là Tu cho sáng. Như vậy Văn và Tư là bước đầu, tức là học để hiểu lời Phật dạy, chứ chưa phải trong tâm mình sáng tỏ mà phát ra, thế nên nếu chỉ ham học không tu thì chỉ trở thành nhà nghiên cứu thôi, chứ không đưa đến giác ngộ giải thoát. Học hiểu là Hữu sư trí, khai thông trí tuệ sẵn có nơi mình là Vô sư trí.

Hiện nay các vị tôn túc sợ tăng ni trẻ buông lung không chịu nghiên tầm Phật học, nên khuyến khích người tu trẻ cần phải có bằng cấp Phật học. Đây là việc rất tốt, tuy nhiên phong trào này cũng gặp phải vấn đề là ai cũng muốn học ra để có bằng Cử nhân hoặc Tiến sĩ, nhưng lại thiếu sự thực hành tu tập. Nghe giới thiệu thầy tiến sĩ hay cô cử nhân gì đó, thấy uy quá! Rồi chỉ đuổi theo việc học mà quên mục tiêu tối hậu của đời mình, đó là đạt đến giác ngộ giải thoát. Chủ trương của Thiền viện là việc tu và việc học lúc nào cũng phải cân bằng nhau, vì chỉ học để tu nên không có bằng cấp. Đây là chỗ khác nhau giữa việc học ở Thiền viện và các trường Phật học. Cho nên toàn chúng phải hiểu cho rõ, một khi đã chọn lựa con đường đi của mình, nắm được phương hướng rồi thì đặt hết tâm vào việc làm đó. Việc mình đã sáng rồi thì dù đứng ở vị trí nào cũng có chỗ khả dụng của chỗ ấy. Hòa thượng Minh Châu là Tiến sĩ học ở Ấn Độ về, nên Hòa thượng đảm nhận trách nhiệm ở trường Đại học Vạn Hạnh. Thầy thì chỉ chuyên tu thiền, không có bằng cấp gì hết. Vậy mà khi trường Đại học Tổng hợp mở lớp nghiên cứu về Thiền học Phật giáo Việt Nam thì mời Thầy giảng. Thầy nói điều này để cho chúng thấy, nếu chúng ta chuyên sâu một môn, phát huy được trí tuệ nơi chính mình thì chắc chắn được mọi người tin tưởng. Do có tu có học mà có trí tuệ, thấy được những điều người thường không thấy. Chỗ thấy sáng suốt ấy phát ra từ trí Vô sư. Trí tuệ vô sư này là nhờ tu tâm yên định mới phát ra, chứ không do học mà được.

Một nhóm nhà nghiên cứu tới gặp những người già, hỏi: “Có sợ chết không?” Có người đáp rất sợ chết, cũng có người nói không sợ chết. Sau đó, người ta thống kê lại và đưa ra kết luận: “Những người sợ chết thì chết trước bảy năm, những người không sợ chết thì sống thêm bảy năm.” Như vậy, càng sợ cái chết thì cái chết càng tới gấp. Bởi do sợ chết nên sanh lo buồn, mà lo buồn là cái nhân để chết sớm. Người không sợ chết nên cười hoài vì không lo buồn, mà không lo buồn thì khỏe mạnh sống lâu. Thế nên các vị lớn tuổi ở trong chúng chỉ lo tu thôi, chừng nào chết đến thì đến, không có gì mà phải lo sợ.

Thiền sư Huyền Giác nói “sanh tử sự đại”, tức sanh tử là việc lớn. Không phải do chưa ra khỏi sanh tử nên nói là việc lớn, mà dù ra khỏi hay chưa ra khỏi thì sanh tử cũng là việc lớn. Tại sao? Thông thường người thế gian, sanh là mừng, chết là sợ. Vì sanh ra là mừng nên kỷ niệm ngày sanh thì gọi là mừng sanh nhật, tức mùng ngày được sanh ra, còn ngày chết là đáng sợ nên gọi là ngày húy kỵ. Nếu sanh tử không phải là việc lớn thì sao lại có vui mừng, có lo sợ? Mừng vì được có mặt và sợ vì phải ra đi. Chúng ta có mặt rồi cuối cùng phải ra đi, như vậy “có mặt” và “ra đi” là hai việc lớn. Tất cả mọi người, đã có mặt thì dù già hay trẻ đều đi tới cái chết. Có sanh là có tử, nên nói sanh tử là việc lớn.

Khi mang thân này là đã sanh và cái tử cũng đang chực sẵn, mỗi giờ phút trôi qua là tiến dần đến chỗ tử. Vì vậy chúng ta phải chuẩn bị sẵn một con đường để ra đi sao cho tốt đẹp, chứ đừng chờ tới lúc chết mới hoảng hốt kinh hoàng không biết đi đâu. Nếu lúc sống chỉ biết sống mà không biết lo gì cho cái chết, tức chỉ lo sanh mà không lo tử. Sanh tử là hai việc lớn mà mình chỉ lo một việc, bỏ qua một việc thì khi nhắm mắt sẽ rất khổ sở. Thế nên, các ngài nói sanh tử là việc lớn đó chính là để nhắc nhở chúng ta hãy nhớ cố gắng tu. Hôm nay còn khỏe mạnh thì phải nỗ lực tu hành, nếu không chịu tu cứ buông trôi qua ngày thì mai kia cái chết đến, chừng đó ai cứu được mình.

Như ông trưởng giả có bốn bà vợ, cuối cùng người trung thành nhất là bà vợ thứ tư, tức là nghiệp của mình. Chúng ta sống vui vầy đây, nhưng lúc ra đi thì không mang theo được gì cũng không có ai bên cạnh, chỉ có nghiệp lực đã tạo. Thế nhưng người đời đâu biết, cứ muốn làm sao cho có nhiều tiền bạc lo cho cuộc sống được ăn mặc sung sướng mà không hay mình đang tạo nghiệp ác. Tới chừng nhắm mắt, nghiệp đó dẫn đi tới đâu không biết. Nếu lúc sống tạo nghiệp lành thì khi ra đi đến được chỗ tốt, nếu tạo nghiệp dữ thì dẫn tới chỗ xấu. Đến chỗ tốt hay xấu đều do tự mình làm ra, vì vậy nếu người có trí biết nghĩ tới cái chết thì phải cố gắng tạo nghiệp lành.

Người biết tu là người sáng suốt biết nghĩ xa, lo chuẩn bị cho mai mình đi đâu. Nếu biết rõ chỗ mình sẽ đi thì chết đến chỉ cười thôi, vì đâu có gì để sợ. Cho nên những người tu tỉnh sáng rồi thì đối với chuyện chết sống xem là trò đùa mà thôi, bởi mất thân này sẽ có cái khác thuận lợi hơn. Thí dụ hiện tại Thầy có một ngàn đệ tử, Thầy chỉ chuyên tâm tu và dạy đệ tử cùng tu, đến khi nhắm mắt mà việc tu chưa rốt ráo thì Thầy sẽ trở lại tiếp tục tu và dạy đệ tử tu đông hơn nữa. Như vậy, người không khéo tu thì tương lai rất mù mịt, còn người biết tu thì mỗi lần ra đời là tu được sâu hơn và làm Phật sự nhiều hơn. Biết mình ra đi để chuẩn bị làm một việc tốt hơn bây giờ thì lúc ra đi cười từ giã bạn bè, đâu có gì để buồn sợ. Như chiếc xe cũ hư được đổi chiếc xe mới, chào tạm biệt bạn bè rồi vui vẻ lên xe mới mà đi thôi. Chiếc xe cũ đẩy không muốn chạy thì còn tiếc cái gì! Thế nên các Thiền sư ví sanh tử như trò đùa, vì biết rõ chỗ đến rồi thì sanh tử hết quan trọng. Như thế câu này với câu trước có mâu thuẫn không?

Sắp tới đây, Thầy mới nghỉ dạy thôi mà trong chúng đã khóc rồi, huống là mai kia Thầy từ giã đi luôn thì sao? Nếu lúc Thầy nhắm mắt ra đi mà trong chúng vững vàng thì tốt, còn khóc lóc đau buồn là còn dở. Kinh Kim Cang nói: Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán. Nếu chúng ta nhìn cuộc đời không có gì thật hết, các pháp hữu vi chỉ như giấc mộng, như huyễn thuật, như bong bóng nước, như tia chớp, như sương buổi sáng… không thật, có đó rồi mất đó thì còn gì để lo buồn.

Vừa rồi nghe tin thầy Chơn Thanh mới tịch ba bốn bữa nay, Thầy giật mình! Thầy Chơn Thanh mới hơn năm mươi tuổi, là học trò cũ của Thầy lúc ở Huệ Nghiêm, bây giờ đang làm việc trong Giáo hội. Nghe nói thầy đi dạy về, vừa ăn cơm xong ra đứng trước cửa phòng hóng gió, chợt thấy đau đầu rồi tịch luôn. Thầy có ghé thăm, thấy thật là vô thường! Rõ ràng mạng sống chỉ như giấc mộng. Lúc còn nói năng đi lại tưởng như mình thật, chỉ đứt một mạch máu là hết đời rồi.

Chúng sanh cứ nghĩ thân này bền chắc, suy nghĩ đó chỉ là ảo tưởng. Do mê nên thấy cái gì cũng thật, bởi chấp thật nên khổ. Nếu biết rõ thân không thật thì chết sống cũng là lẽ thường, ở cũng tốt mà đi cũng tốt.

Người tu có học kinh Bát-nhã, hiểu và thực hành được thì việc tu nhẹ nhàng thảnh thơi. Ngược lại, không biết Bát-nhã thì việc tu khó nhọc, nặng nề. Thấu suốt được lý Bát-nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không rồi thì có ai mắng nhiếc cũng không thấy gì là quan trọng. Vì biết thân này không thật, lời nói không thật thì mắng nhiếc cũng không thật, nhẹ nhàng cho qua. Nếu chưa thấu suốt lý Bát-nhã, chưa học được hạnh nhẫn nhục ba-la-mật thì khi ai nói nặng, dù có ráng nhịn cũng chỉ được một lúc nào thôi, đến chừng nhịn hết nổi thì lúc đó sẽ nổ bung ra. Vì thấy thật nên tuy ráng nhịn bên ngoài không nói, mà bên trong thì nặng nề không vui. Nên nhớ, chúng ta tu là phải sống trong sự vui vẻ. Vui sống để tu thì việc tu mới có kết quả tốt được. Cho nên ở trong chúng tu, nếu vị nào đi mắt ngó xuống chăm chăm, nhưng gặp việc thì buồn buồn, rầu rầu không vui, đây không phải là tu giỏi mà là bệnh nhiều.

Bây giờ Thầy hỏi: Mấy đứa con tu thấy có khỏe không?

– Dạ, khỏe.

– Tại sao khỏe?

– Dạ, vì thấy thân yên tâm lặng. Nhưng thưa Thầy, chúng con lâu rồi nên ngồi thiền yên, không còn bị đau chân nữa. Còn mấy vị nhỏ mới vô tu, ngồi thiền còn đau chân. Nếu đau chân quá, Thầy có cho xả chân ra không?

– Đau quá thì cho xả, xoa bóp một chút rồi ngồi tiếp. Vô đây tu bị bắt ngồi thiền đau chân quá, mấy đứa có buồn không? Sư ông có tàn nhẫn không?

– Thưa Sư ông, không buồn. Lúc đầu mới ngồi thiền thì đau chân, nhưng ngồi quen rồi thấy trong cái đau có cái vui. Vì nhờ ngồi thiền mà chúng con tập làm chủ được thân tâm và dần dần trí tuệ sáng ra, có sáng thì mới giải thoát được, cho nên tuy ngồi thiền đau chân mà chúng con thấy Sư ông rất từ bi.

– Những người mới tập sự, ngồi thiền đau chân quá trông nghe chuông xả thiền mà đợi hoài không nghe rung chuông. Vậy có thấy khổ không? Có còn muốn xuất gia không?

– Dạ thưa Sư ông, xin cho con được xuất gia tu học.

– Đợi chừng nào hội đủ điều kiện Sư ông sẽ cho xuất gia. Nhưng con cần phải suy nghĩ cho chín chắn, bởi xuất gia không phải là chuyện dễ. Tu là điều phục thân tâm mình. Các vị tu Tịnh độ, giờ tụng kinh là để nhớ lời kinh, niệm Phật thì nhiếp tâm vào câu niệm Phật để không nghĩ lung tung, đó là điều phục tâm.

Lúc quỳ sám hối lâu, đầu gối bị đau nhức cũng ráng gắng chịu, đó là điều phục thân. Người thế gian luôn bị chi phối bởi thân và tâm. Thân đòi hỏi cái này cái nọ, vì chiều theo nó nên khổ. Tâm suy nghĩ lăng xăng lộn xộn, khiến mình không làm chủ được nên tạo nghiệp khổ. Người tu là phải điều phục thân tâm, làm chủ được hai cái này rồi mới tự tại, hết khổ.

Trên đường tu, lúc đầu thấy như có sự bắt buộc, ép phải ráng. Nhưng nhờ đó mà chiến thắng được chính mình. Chúng ta mang thân người như nhau thì đương nhiên ai ngồi lâu phải đau, nhưng đã phát nguyện tu hành rồi thì phải cố gắng, chừng nào thắng được cái đau là hết đau, chừng đó mới thấy mình làm chủ được mình. Đó là ý chí của người tu. Cho nên khi vào tu, việc đầu tiên là tập chịu đau. Lúc đang đau nhìn lại coi cái đau đó ra sao, là chân đau hay mình đau? Mình biết đau cái chân đang đau, tức là mình không đau mà chỉ là cái chân đau thôi. Vì vậy khi bị đau, mình làm chủ cái đau đó nên không nhăn mặt nhíu mày, quyết vượt qua cái đau đó. Còn người thế gian bị đau thì nhăn mặt khó chịu, bỏ cuộc, cả đời không làm chủ được chút nào hết.

Bởi trong cái đau có cái không đau, nên biết “thân này mai kia nát, mà mình thì không nát”. Nếu người không biết, rồi đồng hóa cái đau đó là mình thì mai kia khi thân rã nát không biết mình ra sao, đi đâu! Sự tu quý ở chỗ nỗ lực thắng được mình thì sẽ thắng được tất cả. Không thắng được mình thì khi gặp điều gì trắc trở là đầu hàng, thua trận. Nên nói, người tu là anh hùng. Vì quyết vượt ra tất cả những cái tầm thường của thế gian nên mới đi tu, chứ không phải vô chùa tu để được ẩn thân nơi cửa Phật, hay đi tu cho mình khỏe khoắn, nhẹ nhàng, bớt buồn bớt khổ… Mà đi tu là cả một sự quyết tâm, muốn vượt khỏi tất cả trần lao, trở thành người siêu thoát. Ý nghĩa của sự tu rất sâu rộng như thế, nên mới vào tu phải tập chịu đựng từ những cái đau nho nhỏ, bị rầy nhẹ nhẹ… rồi dần dần tiến sâu hơn trong công phu tu tập.

Người tu được thầy bạn rầy nhắc là phước lớn. Như người mặt dính lọ nghẹ mà không biết, nhờ người thấy chỉ giùm, mình mới biết để lau chùi cho mặt được sạch. Vì vậy được rầy nhắc không nên buồn, rầy là xây dựng cho mình thành con người tốt có nề nếp. Ở trong đạo tu hành có nề nếp thì ra ngoài làm Phật sự mới có tư cách. Lúc còn nhỏ mới vào tu mà không được rầy la nhắc nhở, cứ bừa bãi phóng túng thì sau này không làm được gì hết, hoặc có làm cũng không được người quý trọng. Nhờ được rầy nên biết được chỗ còn dở của mình mà chỉnh sửa, ngày xưa có những thói quen xấu dở bây giờ thúc liễm lại thành người hay tốt. Một lần bị rầy là một dịp làm đẹp cho mình, người khác làm đẹp cho mình thì cớ gì lại giận ghét. Ai giận ghét là người không biết tu!

Chúng ta đã tu thì ráng sống cho xứng đáng, cần phải thật thà và không để tâm oán ghét ai. Trước giờ tụi con có nghe Thầy thù ghét ai không? Hôm nọ có người hỏi Thầy: “Những người chống đối Thầy, họ nói năng lung tung, vậy Thầy nghĩ sao về họ?” Thầy đáp: “Trước mắt tôi không có kẻ thù, chỉ có những người bạn đã thông cảm và chưa thông cảm mà thôi.” Thầy không thù ghét oán giận ai hết, bởi vì Thầy nghĩ, có gì đâu quan trọng. Lời chửi chỉ là ngôn ngữ qua rồi mất, bản thân mình cũng không thật, có gì đâu mà buồn!

Vừa rồi có một vị linh mục đến thăm Thầy, lúc trước ông và một số vị có lên đây tìm hiểu về thiền. Linh mục tán thán Thầy: “Nghe Thầy nghỉ, chúng tôi rất mừng. Mừng vì có một bậc tôn túc đang làm việc đầy đủ uy tín, nhiều người cùng hưởng ứng theo, mà dừng lại để làm việc bổn phận của chính mình cho xong. Đây là điều rất khó! Không phải chỉ trong Phật giáo mà kể cả Thiên Chúa giáo cũng khó tìm được người dám buông bỏ để chuyên tu như thế.” Qua cuộc trao đổi với Thầy, vị linh mục bày tỏ lòng biết ơn vì đã học được những điều Thầy nói rất hợp đạo lý.

Người khác đạo với mình mà còn thấy được ý nghĩa đó, huống là người trong nhà mà lại không thấy. Cho nên nghe nói Thầy nghỉ bớt việc bên ngoài để chuyên tâm vào việc của mình thì mấy đứa con phải mừng. Chúng ta tu thiền, một khi nhận hiểu được rồi thì phải hành. Nếu chỉ hiểu mà không hành, hoặc hiểu mà hành chưa tới đâu thì cũng là nói suông vô ích. Thầy đã thấy được đường lối rõ ràng nên có thể nói là không còn lầm nữa, nhưng thời gian để hành cho rốt ráo thì quả thật quá ít. Vì ở yên tại chỗ thì có thời gian ngồi thiền, nhưng khi đi đâu thì chỉ ngồi thiền có buổi khuya, còn buổi đầu hôm bận việc không thể ngồi yên được. Làm việc thì phải lo sắp xếp các thứ, chỗ này bàn việc này, chỗ kia sắp việc nọ.

Các thiền viện ở miền Nam thì đã ổn định, còn ở xa như miền Bắc, hay Quang Chiếu, Đại Đăng… ở nước ngoài, có những chuyện cần điện thoại thưa trình, Thầy không giải quyết sao được. Thầy già rồi, thời gian yên tu không còn lâu. Nếu cứ theo việc để giải quyết hoài thì làm sao tâm yên. Ngày nay tâm không yên, ngày mai cũng không yên thì đến lúc nhắm mắt đâu thể tự chủ. Thế nên nếu không nghỉ hẳn công việc thì làm sao chuyên tâm hành trì cho xong việc của chính mình được.

Thầy chuẩn bị gác lại mọi việc, tăng ni mỗi viện phải tự lo tròn bổn phận của mình. Ai giỏi thì nhờ, ai dở thì chịu. Thầy không có trách nhiệm phải lo lắng nữa. Như người Tây phương, họ chỉ nuôi con tới mười tám tuổi thì cho tự do. Đứa nào muốn học lên nữa thì mượn tiền chính phủ để học, sau tốt nghiệp rồi đi làm trả lại từ từ. Còn không muốn học thêm nữa, thích làm nghề gì tùy ý, cha mẹ không có trách nhiệm phải lo nữa. Hiện tại tăng ni ở Thiền viện đã lớn hết rồi, Thầy nghỉ là hợp lý có gì đâu mà buồn!

Thường nhật khi được phân công làm việc gì, mỗi người phải ý thức làm tròn trách nhiệm, để sau này tự lo một mình. Thầy cưu mang hoài, tăng ni sẽ ỷ lại, nghĩ rằng cái gì cũng có Thầy, mình khỏi lo gì hết. Nếu có thời gian tập lo liệu mọi thứ, tự quyết định lấy mọi việc thành bại thì mỗi người sẽ giỏi hơn nhiều. Bây giờ tụi con giỏi chừng năm phần, sau này sẽ giỏi mười phần. Ngày xưa vì Thầy của Thầy tịch sớm, nên khi Thầy ra làm việc Thầy phải tự quyết định lấy tất cả, mọi việc thành bại đều chịu trách nhiệm, nếu có duyên phước thì làm được việc lớn, còn không thì làm việc nhỏ chứ không có ai để ỷ lại cả. Giá trị người tu không phải làm nhiều hay làm ít, làm đúng với đạo lý thì dù làm ít cũng quý, còn làm nhiều thấy quy mô mà không đúng đạo lý cũng không lợi ích gì. Điều thiết yếu là người tu phải chân thật, nói theo thế gian là thật thà, tức là lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau, nói được thì phải làm được.

Người tu là thầy của Phật tử, khi Phật tử ở nhà có những việc bất bình, nổi sân gây gổ với nhau. Họ tới chùa than, được thầy khuyên “sân là tật xấu có hại, phải chừa bỏ”. Ít bữa Phật tử lại chùa thấy thầy nổi sân ầm ầm, vậy lời khuyên kia còn giá trị không? Bảo người bớt sân mà tới phiên mình nổi sân ầm ầm, ai can cũng không được thì đạo đức tu hành thấm được bao nhiêu. Khuyên người ta bớt sân thì mình phải bớt, như vậy lời nói ra mới được người nghe kính tin. Thí dụ, thấy đứa học trò thi rớt buồn quá, mình khuyên “Danh vọng là tạm bợ, giả dối, có gì quan trọng đâu mà khổ. Đậu cũng được, rớt cũng được, cứ lo làm ăn rồi cũng sẽ có mọi thứ.” Mình khuyên người ta nghe rất hay, nhưng khi được cử làm chức vụ gì thì mừng quá chừng, tối ngủ không được. Vậy thì lời khuyên rất hay trước đó còn có giá trị nữa không? Chúng ta nói được điều hay thì cũng phải làm cho được hay, chứ đừng nói trên trời mà làm dưới đất, rốt rồi thành nhà du thuyết chứ không phải người tu. Lời nói ra để dạy bảo người là từ kinh nghiệm tu hành của chính mình, đã sống và đã làm được như vậy. Nếu chúng ta chỉ nói suông cho hay, mà bên trong rỗng tuếch thì không tốt.

Thái tử Tất-đạt-đa đi tu vì chứng kiến cảnh già bệnh chết, sau khi đi dạo qua bốn cửa thành. Thấy người già bệnh chết, ngài liền nghĩ mai kia mình cũng già bệnh chết y vậy, người đi trước thế nào thì mình đi sau cũng như thế đó, không sao tránh khỏi. Thấy cảnh ấy rồi, ngài liền quyết tìm đường thoát ly sanh tử.

Chúng ta bây giờ si mê quá đỗi! Thấy người khác chết nhưng nghĩ mình chưa chết, người khác già còn mình chưa già, người khác bệnh mình không bệnh… Quên rằng, bây giờ tuy chưa già bệnh chết nhưng ngày kia mình cũng sẽ già bệnh chết, không sao tránh được. Do đó, người trí khi thấy người khác liền biết được cái gì sẽ đến với mình, cho nên chuẩn bị cho mình con đường thoát ra cái khổ, khi vô thường đến thì chấp nhận mà không khổ đau.

– Thưa Thầy! Hôm trước Thầy dạy, những người không sợ chết thì sống thêm bảy năm, chúng con nghĩ Thầy không sợ chết nên tuổi thọ dài.

– Đâu có ai sống hoài không chết, cũng phải tới ngày ra đi, sớm hoặc muộn mà thôi.

– Thưa Sư ông, Sư ông sống một trăm hai mươi tuổi như ngài Triệu Châu.

– Không biết Sư ông có đủ phước như ngài Triệu Châu không? Để tới chừng đó thì hay! Thầy sống lâu quá e đồ đệ lớn đi mất hết, chỉ còn lại cháu chắt. Đồ đệ lớn của Thầy, người nào cũng rệu hết rồi. Những vị học cùng trường, cùng đi giảng, đồng tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn Thầy, giờ kiểm lại không còn mấy người.

Như thầy Thiền Định, cùng học một lớp với Thầy xong qua Nhật, sau sang Pháp ở, viên tịch đã hai năm. Thầy Thiện Châu, thầy Huyền Vi cũng viên tịch. Thầy Bửu Huệ lớn hơn Thầy một tuổi, thầy Huỳnh Kim cùng tuổi Thầy, Thầy Thiền Tâm nhỏ hơn Thầy một tuổi, các vị đều đã viên tịch. Ở Vũng Tàu có Thầy Tịnh Viên cùng tuổi với Thầy mà đã tịch mười mấy năm rồi… Kiểm lại người quen cùng thời với Thầy ra đi đã quá nhiều, Thầy còn sót lại đây là có phước lắm rồi!

Chết sống là lẽ thường, khi sống làm hết bổn phận, hết duyên thì đi không có gì phải đau khổ luyến tiếc. Người đời không hiểu nên khi người thân chết thì buồn, chứ thật ra bảy tám mươi tuổi là đã già yếu mà ra đi là bỏ được gánh nặng. Nhiều người lớn tuổi sống thêm một ngày khổ một ngày, nhưng do không biết chết rồi sẽ đi về đâu nên sợ, còn người biết đường đi rồi thì có gì để lo sợ.

Có nhiều Phật tử thắc mắc, người tu ở các chùa thì tụng kinh niệm Phật, còn ở Thiền viện sao chỉ ngồi thiền? Như vậy có khác nhau không? Tại sao khác? Thầy giải thích chỗ này cho Phật tử hiểu. Bởi các chùa tu theo Tịnh độ thì lấy câu niệm Phật làm gốc để nhiếp tâm, tụng kinh Di-đà để cầu nguyện khi chết được vãng sanh về Cực lạc. Còn ở Thiền viện đây thì chuyên tu theo Thiền tông, nên chú trọng việc ngồi thiền. Trên phương tiện tu có sai khác, nhưng cứu cánh thì không hai.

Tại sao ở đây Thầy chủ trương tu Thiền? Vì Thầy đọc lịch sử, thấy ngày xưa đức Phật Thích-ca ngồi thiền dưới cội Bồ-đề mà ngộ đạo, chứ không có niệm Phật cầu vãng sanh về Cực lạc. Thầy nghĩ, đức Phật do tu thiền mà đắc đạo, chúng ta cũng là đệ tử dòng họ Thích mà sao không tu thiền giống đức Phật? Thế nên, Thầy chủ trương phải tu thiền theo Phật.

Chúng ta tu thiền là tập làm chủ tâm mình, để cho tất cả tạp niệm lắng xuống, tâm được an định. Ban đầu nhiếp tâm duyên theo hơi thở vô ra, nhớ hơi thở thì không nghĩ bậy bạ. Thí dụ, khi có chuyện gì vui buồn, thay vì cứ nhớ nghĩ chuyện này chuyện kia lăng xăng hoài tâm không yên ngủ không được, liền biết tâm vừa dấy niệm đó là vọng thì buông, dần dần tâm được yên, đó là tập làm chủ tâm mình. Do chúng ta không làm chủ được tâm, nên ai nói trái ý thì nổi giận đùng đùng, không kềm chế được. Nếu làm chủ được tâm niệm rồi, khi nghe người ta nói mình liền biết rõ cái đó không thật, không quan trọng. Do biết kiểm soát ý niệm dấy khởi, nên tỉnh táo xử sự tốt.

Như vậy, từ làm chủ được tâm mà bình tĩnh sáng suốt, nếu không thì dễ bị hoàn cảnh lôi dẫn, ai khen thì vui ai chê thì quạu, tất cả mọi sự đều bị ngoại cảnh chi phối hết. Người làm chủ được tâm rồi thì tự tại, khen chê là trò chơi, không nghĩa lý gì, chỉ cần mình sống đúng đạo lý là được. Ngày nào có nhiều chuyện buồn thì tự nhiên nghe thân thể nhuốm bệnh, nếu làm chủ được tâm mình thì thảnh thơi tự tại, thân thể nhẹ nhàng an vui. Nên nói, tu thiền là một phương pháp để làm chủ tâm mình, là phương tiện thiết yếu cho người tu Phật. Đây là Thầy mới nói những điểm cạn, để Phật tử biết tại sao ở đây dạy ngồi thiền và thấy được lợi ích của việc ngồi thiền. Phật tử hiểu đại khái rồi, sau đọc thêm sách hiểu sâu hơn sẽ thấy nhiều điều kỳ diệu hơn nữa.

Người xuất gia ở trong chúng cần phải thấy được cái dở của mình để sửa đổi thành tốt, không nên giữ y nguyên tập khí cũ. Nhờ có học Phật pháp nên khi bị rầy nhắc mới thấy được cái ngu của mình. Nếu không, sẽ tưởng mình khôn hơn người khác rồi tranh cãi om sòm. Người cãi hơn cho là mình khôn, mà không ngờ rằng cãi hơn là đại ngu. Cãi ít ít là tiểu ngu, còn cãi thắng là đại ngu. Vậy mà thiên hạ cứ đòi thắng, không ngờ thắng lại lên chức đại ngu.

Trong cuộc sống tu tập, nếu vô cớ bị người mắng chửi, không nên nổi sân giận. Phải thấy người chửi cũng giống như kẻ cầm đuốc đốt trời, chỉ phí công tổn sức mà thôi, không dính dáng gì đến mình. Tập tự tại khi nghe người ta mắng chửi, nếu nổi tức giận mà ráng nín thì như cầm đuốc đốt củi tươi, bởi củi tươi nên đốt một lát cũng cháy. Người ta chửi mắng thậm tệ mà mình vẫn thản nhiên tự tại, ngược lại còn thấy thương họ đang cầm đuốc đốt trời, được vậy mới là thật tu.

Chúng ta tu, không phải làm chuyện cao siêu trên trời trên mây, mà ngay nơi thực tế hàng ngày, tu khéo hay vụng đều biểu lộ ra liền. Nghe khen thì vui, bị chê thì xụ mặt, đó là biểu lộ vụng tu. Còn khéo tu thì khen cũng tươi, mà chê cũng cười. Người xưa thường nói: “Lênh đênh qua cửa Thần Phù, khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.” Cửa Thần Phù là nơi có dòng nước xoáy rất nguy hiểm, ví như mỗi người chúng ta đều phải chèo lái con thuyền đời đầy gian nan của mình, ai khéo tu sẽ đi qua được, còn ai vụng tu thì bị chìm đắm. Cho nên, đừng đánh giá người tu trải qua thời gian nhiều hay ít, mà phải nhìn xem có bỏ tập khí được hay chưa? Nếu tu năm năm, mười năm, hai mươi năm… mà tập khí cũ chưa bỏ là chưa khéo tu. Còn người tu một năm, hai năm mà tập khí được sạch, đó là khéo tu. Vì vậy, tụi con phải ráng tu cho khéo. Đã can đảm bỏ cha mẹ anh chị em đi vào chùa tu, mà lại không can đảm diệt trừ phiền não, vậy là chưa xứng đáng!

Người xuất gia đã can đảm dẹp bỏ tình thương quyến thuộc thì cũng phải can đảm dẹp bỏ phiền não, tật xấu. Nếu một bên can đảm, một bên không can đảm thì cũng không lợi ích gì hết.

– Thưa Sư ông! Con nghe trong kinh Phật nói, được thân người là khó. Nhưng con thấy trên trái đất này, hiện có biết bao nhiêu tỷ người đang có mặt. Kính xin Sư ông giải thích thêm, cho chúng con được hiểu rõ.

Bởi vì con thấy trên trái đất này có đến hàng tỷ người, cho nên con nghĩ rằng được sanh làm người dễ quá chứ đâu khó, phải không? Trong sáu loài, ba đường trên là trời, a-tu-la và người; ba đường dưới là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Địa ngục, ngạ quỷ vì mắt mình không thấy nên tưởng ít, nhưng thật không biết bao nhiêu mà kể. Chỉ riêng loài súc sanh, con thử kiểm coi có hơn loài người không? Các con vật mà mắt chúng ta có thể thấy được, như chó, mèo, heo, bò… đã là vô số rồi. Như vậy, chỉ riêng ba cõi dưới thôi số lượng là bao nhiêu? Không thể tính kể! Nên nói, trong sáu đường chúng sanh vô số như vậy, muốn lên ba đường trên là rất khó. Thế nên không thể thấy con người đông rồi cho là dễ được sanh làm người. Như nói “đi tu là khó”, nhưng người tu ở đây đông như vầy, vậy đi tu dễ hay khó? Đi tu là khó, bởi vì chỗ này tụ họp nhiều người lại nên thấy đông, chứ có chỗ kiếm người tu rất khó.

Phật nói “Thân người khó được”, chúng ta hiện tại được mang thân người, sáu căn đầy đủ là đại hạnh phúc. Trong chúng các con xét lại coi có phải mình đang hưởng hạnh phúc không? Đang hạnh phúc mà không biết mình hạnh phúc. Sáu căn đầy đủ là hạnh phúc của con người, còn nếu thiếu một căn là thiếu hạnh phúc. Vậy mà có người sáu căn đầy đủ vẫn không thấy hạnh phúc. Tại sao? Tại vì cái gì được rồi thì không thấy quý. Người ta cứ nghĩ rằng cái gì thiếu mà tìm được mới gọi là hạnh phúc, cho nên suốt đời chỉ tìm cái mình thiếu, còn cái đã được rồi thì lãng quên đi.

Một người với sáu căn đầy đủ, lại còn biết phát tâm xuất gia tu đạo thì đã hạnh phúc lắm rồi. Vì đã được nhiều thứ, hơn người ta quá rồi, có thua kém ai đâu. Thế nên phải ráng tu, đừng biếng nhác lười trễ. Lười trễ là sao? Thí dụ, tới giờ tụng kinh, giờ ngồi thiền, giờ công tác… người ta đi trước mình từ từ đi, trễ một phút đỡ một phút. Đó là hiện tượng của kẻ lười. Cho nên người cần mẫn tinh tấn thì cái gì cũng lẹ làng sốt sắng, khi tới thời khóa luôn đi trước mọi người. Hoặc giả có người nghĩ, mình làm cực khổ mà người khác không làm gì, mình làm nhiều hơn người khác là mình khờ… Nghĩ vậy là lầm lớn. Ở trong chúng mà người siêng năng cần mẫn, làm được nhiều điều tốt hay, đó là phước lớn. Vì làm việc cho chúng, tức là làm cho số đông người hưởng nên phước báu cũng theo đó mà có. Phước lớn chực sẵn kề bên mà không chịu làm, cứ so bì hơn thua với nhau. Ở ngoài đời, có người còn nguyện vào chùa làm công quả để bòn phước, còn mình ở chùa rồi không chịu làm để cho phước bị mỏng từ từ. Thật là dại khờ!

Khi đức Phật tu giác ngộ rồi, ngài thấy biết rõ do nghiệp dẫn mình đi cõi lành hay cõi dữ, do đó phải tạo thiện nghiệp để được đến cõi lành. Bình thường mình không thấy được nghiệp của mình, nhưng khi gặp việc thì nóng nảy, tham lam… liền hiện ra, tức là nghiệp của mình luôn có mặt. Vì vậy phải luôn luôn tu tạo nghiệp lành, tăng trưởng phước báu cho chính mình. Nếu gặp công tác nặng nhọc thì tránh né để cho người khác làm, tưởng như vậy là mình khôn nhưng không ngờ đó là đại ngu. Bởi vì người ta được phước mà mình thì mất phước. Bây giờ cứ nhàn nhã như vậy thì ngày qua ngày được lợi ích gì, hay càng lúc càng u mê lú lẫn? Người lười nhác hiện tại thấy dường như khỏe, nhưng lâu dài thành thiệt thòi, đáng thương! Thấy ai đang làm công kia việc nọ nhọc nhằn mà biết hăng hái giúp đỡ, đó là gieo trồng nhân lành, được người thương quý. Đó là lối sống có đạo đức, là hạnh tu của Bồ-tát. Người hiểu đạo xả thân hy sinh làm việc cho chúng, còn người không biết tu có sẵn cơ hội mà không dám làm để bòn phước. Cho nên, Bồ-tát luôn phát nguyện làm tất cả những gì thiên hạ cần, làm không công, làm không mong cầu gì hết.

Trên thế gian, có người sống chỉ vài chục năm nhưng họ dám hy sinh làm mọi việc tốt cho người, những người này có đầy đủ phước đức, sống đời có ý nghĩa. Nếu sống trăm tuổi mà cứ lo dưỡng thân hoài thì một đời người cũng chỉ là con số không mà thôi. Chúng ta đâu phải chỉ sống có một đời này, mà liên tục nhiều đời. Nếu mình không có sự chuẩn bị, vô phước có khi làm trâu bò mang ách kéo cày để trả nợ cũ. Nhân quả không sai, mình tránh được mắt phàm của thế gian chứ không trốn được nghiệp, nghiệp tới thì phải chịu.

Ngày trước, trên báo có đăng câu chuyện. Một người đàn ông ở Mỹ Tho, bây giờ vẫn còn sống, kể lại rằng: Đời trước, ông không xuất gia nhưng có tu chút ít, khi chết ông thấy mình đi vô một chỗ gió lạnh không thể tưởng tượng. Nhìn thấy đằng xa có máng cái áo, do lạnh quá nên ông đến lấy cái áo trùm lên mình. Bất chợt nghe tiếng nói “sanh được con heo đực đen”. Ông hoảng hốt giật mình nghĩ: “Tiêu rồi, mình sanh làm con heo rồi!” Biết mình đang làm heo, nên khi heo mẹ cho bú heo con không chịu bú, mấy ngày sau thì heo con chết. Nhân đây mới thấy, khi ra đi nghiệp của mình đáng sợ như thế. Do nghiệp chiêu cảm khiến mình gặp cái gì chụp cái nấy, rồi tái sanh. Ông này nhờ nghiệp trước hiền lành, nên biết được mình sanh ra làm heo rồi nhịn đói mà chết để tìm chỗ khác thọ sanh, sau được làm người đi tu, nhớ được việc xưa nên rất kinh sợ kể lại để cảnh tỉnh mọi người. Bởi vì có những việc đáng sợ mà người thường không biết, cứ ngỡ là mình qua mắt được thế gian là hay rồi, tốt rồi. Nhưng không biết, qua mắt thế gian chứ không qua được nghiệp. Vậy nên nghiệp là cái cần phải dè dặt cẩn thận, hành động tốt có nghiệp tốt, hành động xấu có nghiệp xấu.

Thầy khuyên răn trong chúng hoài là vì thương nên nhắc để tụi con tránh những nghiệp xấu. Chẳng lẽ đi tu rồi sau trở thành con vật, vô lý quá! Mình phải tiến lên, tu không lên được các cấp cao, ít ra đời sau cũng được làm người tu, chứ đừng cho tuột xuống. Đi tu mà bị tuột xuống thì hổ thẹn lắm, chừng đó hối hận không kịp!

Khi ngồi lại tu mới thấy nội tâm mình đang chất chứa nghiệp của quá khứ. Do nghiệp quá khứ còn tích lũy nên sanh ra đời, tuy được làm người mà mỗi mỗi sai biệt nhau. Người thì hiền hòa dễ thương, người thì nóng nảy, đứa này hơi tham, đứa kia hay so kè, có người thông minh học ít biết nhiều, người học hoài không thuộc v.v.. không ai giống ai. Điều đó chứng minh rằng, khi một người phát nguyện đi tu là đã có nghiệp nhân từ trước rồi. Cho nên khi đủ duyên thì liền muốn đi tu, cha mẹ ngăn cũng không được. Thầy cô không dạy đi tu, cha mẹ không bảo cũng không ai xúi giục đi tu, mà tại sao lại đòi đi tu? Đây không phải là sự ngẫu nhiên, mà do chủng tử lành đời trước đã có, nên tới giờ phút đó nó phát ra. Hiểu rồi thì ráng tu làm sao cho duyên lành tăng thêm, đừng để lui sụt. Đó là người khôn ngoan, biết tu. Nếu đi tu mà để cho càng ngày phước đức càng tiêu mòn, qua đời này đến đời sau tuột xuống nữa không biết chừng nào ngóc đầu lên nổi thì trong lục đạo luân hồi sẽ đi mãi không ra được, càng đi càng chịu khổ.

Cố gắng làm đúng những gì Thầy dạy, sống trong đạo đức để phước đức mỗi ngày mỗi tăng. Nếu không có phước đức thì tu mấy rồi cũng bị chướng. Có người tu mà được khỏe mạnh nên họ tu tiến hoài, cũng có người tu thì gặp đau ốm nên trì trệ. Những điều đó đâu phải là ngẫu nhiên, mà do thiếu phước đức nên dù làm việc gì cũng bị trở ngại, còn có tích phước nhiều đời thì việc gì cũng hanh thông tốt đẹp.

Thầy tự lấy mình làm kinh nghiệm. Lúc còn ở ngoài đời nghèo khổ, vô đạo rồi thì gặp được Thầy lành bạn tốt, tu cứ đi lên hoài không có tuột xuống, cho tới bây giờ làm ít mà được nhiều, đó đều là nhờ duyên phước. Kiểm lại, lúc mới vô tu ở chùa Phật Quang, cùng một lớp với Thầy có khoảng hơn ba mươi người, nhưng giờ còn ba, bốn người. Sau, Thầy lên Ấn Quang học lớp trung đẳng năm thứ hai, cả thảy gần bốn mươi người, giờ chỉ còn lại năm, sáu người. Như vậy mới thấy rằng vì thiếu duyên, thiếu phước nên trên đường tu gặp chướng này chướng nọ. Còn người đủ duyên đủ phước thì tu tới đâu tiến tới đó, khi làm việc gì, dù không có mong cầu nhưng lại được kết quả.

Chúng ta tu mà được làm việc cho chúng, đó là niềm vui. Thầy hồi mới vô chùa, cực khổ trăm bề. Chùa Phật Quang ở quê, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn người ta nuôi con không nổi, nên cho chúng tới chùa để có ăn có mặc. Mỗi buổi sáng, Hòa thượng Viện trưởng giao cho Thầy hai mươi mấy đứa nhỏ. Thầy có trách nhiệm dạy học, sắp đặt công tác cho chúng. Ba giờ khuya Thầy thức dậy công phu, xong rồi xuống làm rẫy để có rau ăn, chứ đâu có tiền đi mua đồ ăn. Gánh nước tưới rau xong rồi, vô ăn ba hột cơm. Ngày đó có được một chén tương tàu, quý như là vàng. Thường ngày toàn ăn nước chấm, hôm nào có ai ở trên chợ đem nước tương xuống cúng, mừng ơi là mừng! Nước chấm Quảng Bình không có đậu nành, chỉ là nước muối thêm ít nếp rang bỏ vô nấu, để y vậy chấm rau ăn. Nước chấm này có mùi hơi khó ăn, nhưng cũng phải ráng ăn. Ăn xong ra phân công tác cho mấy đứa nhỏ nhổ cỏ, tới chín giờ rưỡi thì chúng vô học. Thầy dạy học xong thì ăn cơm trưa, nghỉ một chút. Chiều hai giờ thức dậy, Thầy với quý thầy quý cô đi học tới bốn giờ nghỉ. Vừa cởi áo tràng ra là đi tưới rẫy, vừa xong là đi sám hối hồng danh, lạy một trăm lẻ tám lạy. Sám hối xong xuống học bài, học tới khuya mới nghỉ. Ngày nào cũng vậy. Ở Phật Quang có nhiều buổi tối còn phải đi giã gạo, thầy trò cùng xuống bếp xay lúa, rồi chày ba chày tư giã tới khuya. Tới mùa lúa chín, huynh đệ đi ra ngoài đồng mót rơm để làm nấm rơm bán, chứ đâu có sẵn tiền. Làm đủ thứ công việc, cực khổ lắm. Lúc lên Ân Quang, sau giờ học phải làm đủ thứ công tác. Ngày xưa gọi vùng này là ngã ba Vườn Lài, chưa có nước máy. Gần chùa có cái giếng công cộng, ban ngày dân chúng lấy nước xài, chùa không lấy được. Chờ tới chín mười giờ tối dân chúng nghỉ rồi, mình mới ra gánh nước về xài. Còn ăn uống, buổi sáng chỉ có một đĩa rau luộc với nước tương, nhiều khi gạo ẩm mốc cũng phải ráng nuốt. Thầy lên đó học chỉ có hai năm, quý Hòa thượng bắt đi giảng, mấy năm trời vừa học vừa đi giảng nên Thầy đau phổi. Ngày nay nhìn vào thấy Thầy như khỏe lắm, nhưng thật ra Thầy cũng đã trải qua một giai đoạn khó khăn cực khổ vô cùng rồi.

Nhớ lúc xưa Sư cụ dạy học, trước khi giảng bài, Sư cụ bắt mỗi người phải tự nghiên cứu bài học. Sư cụ kêu lên đọc chữ Hán, dịch nghĩa xem đúng sai, sau Sư cụ mới giảng lại. Vậy nên phải bài vở trước, nhờ thế mà Thầy mới siêng tra khảo, đến cuốn tự điển muốn sút gáy. Ban ngày không có thời gian học, nên tối đốt đèn học đến mười một mười hai giờ đêm.

Xưa đi tu cực khổ như vậy, nhưng người quyết chí tu thì không than, chết sống gì cũng phải ráng, nhờ vậy mà vượt qua tất cả trở ngại. Hiện tại chúng tu học, cực nhiều hay ít? Ăn uống có kham khổ không? Ở đây thật sự không có gì khổ cực, không thiếu ăn, không thiếu mặc, cái gì cũng đủ. Chỉ có làm những việc như trồng ít cây trái, rau cải, thay phiên nấu ăn, chăm sóc hoa kiểng để tạo quang cảnh chung quanh chùa… Những việc làm này cũng nhằm phục vụ cho cuộc sống của chính mình mà thôi. Bây giờ chúng tu sướng hơn Thầy trăm phần. Sướng rồi có khi sanh tệ, không cảm thấy hài lòng với cuộc sống của mình. Cực chút xíu chịu đã không nổi, đó là do lập trường và ý chí tu không vững mà ra. Thầy ráng bảo bọc cho chúng có đủ điều kiện, chỉ lo tu và học không phải bận tâm việc gì. Vậy mà làm không tròn thì thật đáng trách!

– Thưa Thầy! Có người nói, pháp môn đốn giáo là vì hàng đại căn cơ mà nói, còn hàng tiểu căn tiểu trí thì sanh lòng bất tín.

Ai là đại căn, ai là tiểu căn? Người nào đủ lòng tin là đại căn, ai thiếu lòng tin là tiểu căn. Nghe mà hoan hỷ làm theo thì đó là đại căn, còn nghe mà làm không nổi là tiểu căn. Như vậy, người đã có chủng duyên bây giờ gặp được pháp môn đốn giáo thì phải cố gắng tu, nếu biết rồi mà lỡ quên thì khi có cơ hội sẽ thức tỉnh trở lại, còn người không biết thì sẽ quên tuốt. Như người đã biết trong túi mình có viên ngọc quý mà chưa lấy ra xài, tuy vậy vẫn đỡ hơn kẻ không biết. Chừng nào lấy được viên ngọc quý ra xài thì chừng đó hết khổ đau, không còn bần cùng nữa. Nên nói, tu hành là việc lớn.

Tại sao nói tu hành là việc lớn? Bởi danh vọng chỉ có một lúc nào rồi mất, giả sử được làm quan lớn thì một thời gian rồi cũng phải nghỉ, còn sự tu này là một việc lớn mà thế gian ít người biết đến. Đa phần thế gian chỉ nhìn người tu theo lẽ thường tình, qua hình thức ở chùa gõ mõ tụng kinh, vậy thôi. Người biết tu là phải nhìn thấu triệt như thật, thân này là duyên hợp hư giả, nội tâm chỉ là dòng ý tưởng sanh diệt, là bóng dáng của tiền trần. Người biết được việc này là ít có, khó làm. Làm được thì thế gian không thể xem thường. Vì cái họ không biết mà mình biết.

Người xưa nói “xuất gia là việc làm phi thường”. Tại sao? Bởi người thế gian cả đời không biết được ngay thân tứ đại này có cái siêu thoát, vượt ra ngoài vòng sanh tử. Biết được cái cao siêu này thì không còn bị vướng mắc vào những thứ tầm thường, nên nói phi thường. Đã làm việc phi thường mà còn sống tầm thường quá thì chưa xứng với chí hướng mình đi, với ý chí mình làm. Muốn làm việc phi thường thì bản thân phải siêu thoát, khác hẳn người đời. Người đời tóc chải đủ kiểu còn người tu thì cạo bỏ. Người đời nay áo này mai áo nọ, còn người tu chỉ mặc một kiểu áo lam, nâu… Bên ngoài đã phi thường rồi, còn bên trong có phi thường chưa? Mỗi người cần xét lại! Người thường thì lựa chọn đẹp xấu, còn người thật tu thì ăn mặc không quan trọng. Mặc cốt ấm thân, ăn để khỏe mạnh mà tu tập chứ không vì ngon dở. Khen chê không để dạ, không buồn cũng không vui, đó là phi thường. Gặp việc trái ý liền gây gổ, tranh cãi… tức là tầm thường. Làm sao cho cái đầu, chiếc áo và nội tâm mình phải tương hợp nhau. Nếu cái đầu, chiếc áo phi thường, mà trong nội tâm lại tầm thường thì chưa được trọn vẹn. Tất cả phải nhớ, người xuất gia đã là phi thường thì tâm tư cũng phải phi thường, chứ đừng quá kém cỏi!


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.