Nội dung:
Kỳ thỉnh nguyện này thấy toàn chúng đều thanh tịnh, đó là điều đáng mừng. Nhờ trong mùa an cư, toàn chúng đều cố gắng giữ gìn nề nếp tu hành, đạo hạnh tăng trưởng nên mới được thanh tịnh như vậy. Kết thúc buổi thỉnh nguyện, tôi có ít lời nhắc nhở thêm đại chúng.
Trong bản Thanh quy của Thiền viện, đáng lý phần giới luật phải để trước, nhưng tôi lại để phần Lục hòa trước Mười giới. Toàn chúng tự gẫm xem, tại sao như vậy? Điều này cho thấy rằng, cái nhìn của tôi về Lục hòa hết sức quan trọng. Bởi vì, Tăng-già hay Tăng đoàn, có nghĩa là Hòa hợp chúng. Nhằm chỉ cho một đoàn thể tăng tu hành, cùng sống chung hòa hợp với nhau như nước hòa với sữa. Hòa hợp tức là không thấy có cái riêng, không thấy ranh giới, đó mới gọi là hòa. Tôi nhận thấy ở phần giới luật, đối với những giới trọng thì chúng ta gắng giữ, còn với những giới nhỏ nếu không phù hợp hoàn cảnh thì chúng ta có thể thiếu sót, nhưng về phần Lục hòa thì người tu trong thiền viện cần phải sống trọn vẹn. Nhất là ba điều hòa hợp đầu tiên.
Một là Thân hòa đồng trụ. Chúng ta từ người lớn cho đến kẻ nhỏ, tất cả cùng ở chung, cùng sống một nếp sống như nhau, hòa hợp vui vẻ không chống đối, không so bì hơn thua. Nếu sống chung mà người làm ít, người làm nhiều, người được nghỉ, người phải làm công tác… không đồng đều nhau thì cuộc sống sẽ có những đối chọi, không vui. Cho nên trước là thân hòa.
Hai là Khẩu hòa vô tranh. Miệng phải nói năng nhẹ nhàng, hòa thuận, không được lớn tiếng, không nói những lời móc méo, cũng không được nói lời thô bạo. Như vậy sống trong chúng, mình mới có niềm vui và thuận thảo với nhau. Nếu người này nói nặng người kia, người kia nói móc người nọ, tranh đấu hơn thua thì không bao giờ an ổn, mà không an ổn thì không tu hành được. Vì vậy tôi thấy khẩu hòa rất thiết yếu.
Ba là Ý hòa đồng duyệt. Chữ duyệt có nghĩa là vui. Sống trong chúng mà ý hòa với nhau thì cuộc sống vui tươi tu hành an ổn, còn ý chống đối thù ghét nhau thì tu hành không tới đâu hết. Xử sự với mọi người, trong từng ý niệm mình đều vui vẻ hòa thuận, tốt đẹp, không oán hờn, không thù ghét, không đố kỵ, cùng chung sống vui hòa với nhau. Tu hành như vậy cuộc sống mới an vui thanh tịnh, còn nếu ý người này chọi với người kia, ý người kia không ưa người nọ… Đối chọi, không ưa là tâm đố kỵ hoặc tâm hờn ghét; từ đó, sanh ra bực bội, không an ổn trong sự tu hành. Cho nên ý hòa là vấn đề then chốt của cuộc sống.
Tất cả chư tăng ở đây, trong thời gian cùng ở chung tu học đều phải sống Lục hòa, mà nhất là phải ráng thực hành cho được ba điều hòa mà tôi vừa nói. Sống hòa hợp với nhau đó là biết tu, còn chưa làm được thì sẽ sanh ra lôi thôi, cuộc sống tu hành khó yên ổn được. Sở dĩ tôi thấy Lục hòa thiết yếu là vì tôi đã từng ở Phật học đường, đã từng dạy chúng các nơi rồi, cho nên tôi thấy rất rõ. Bởi tu mà tâm không hòa nên mới chỉ trích lẫn nhau, người này nói tật xấu của người kia, người kia vạch điều lỗi của người nọ… Người tu mà sống không hòa thuận với nhau thì sự tu hành không có giá trị gì hết, như vậy càng tu càng tạo nghiệp chứ không đi đến giải thoát. Thế nên toàn chúng phải ráng tập sống hòa.
Muốn làm Phật sự lớn thì không thể nào một cá nhân mà có thể làm được, phải nhiều người chung góp công sức. Mỗi người mỗi phần, mỗi trách nhiệm, cùng hòa hợp với nhau chung lo thì mọi việc mới thành công. Nếu người này chọi người kia, người kia chống người nọ thì không bao giờ làm được việc gì, dù ở mấy trăm người cũng không làm được trò gì hết. Người tu trước tiên phải nghĩ đến việc giải thoát cho mình, kế đến là phải có lòng từ bi thương độ cho người cùng tu. Vì vậy, mỗi người tu ở trong chúng phải gắng giữ được nếp sống Lục hòa.
Hòa thứ tư là Kiến hòa đồng giải, mọi người cùng nhau bàn luận những hiểu biết trong Phật pháp, hay kinh nghiệm trong khi tu để thông cảm, học hỏi nhau. Hòa thứ năm là Giới hòa đồng tu, ở đây lấy Mười giới làm luật chung, tất cả đại chúng cùng giữ gìn giới luật như nhau. Thứ sáu là Lợi hòa đồng quân, cùng chia sớt tứ sự đồng đều nhau, việc ấy cũng không khó.
Ba hòa sau cùng này, thấy vậy mà dễ. Tôi chỉ sợ nhất là Ý hòa đồng duyệt. Đại chúng có thấy rõ tâm mình không ưa người này, không thích người kia, thù ghét người nọ không? Đó là những tâm niệm phá hoại sự tu hành của mình. Vì còn thù còn nghịch, còn ghét là không an, khi ngồi thiền cũng không an. Vậy nên cần phải khéo xả bỏ hết những ý niệm thương ghét riêng tư để cùng sống hòa vui với nhau.
Ngày nào chúng ta còn ở đây là còn chung lo, cùng gánh vác theo khả năng của mình. Mình được phân công tác gì thì ráng làm cho vuông tròn. Đối với huynh đệ đều hòa hợp, đều vui thì cuộc sống ở thiền viện mới có ý nghĩa, mới có giá trị. Nếu bên ngoài tỏ ra bình thường nhưng bên trong thì cứ không ưa người này, nói xấu người kia… làm cho nội bộ của mình trở nên rắc rối, bực bội, buồn phiền; như vậy chẳng những mình không tu được, mà còn làm cho những người chung quanh khó tu. Đó là tự làm tổn phước tổn đức. Trong bài kệ Vô Tướng, Lục Tổ dạy: Nếu thấy lỗi người khác thì lỗi mình đã ở bên cạnh rồi. Cho nên mình phải phản quan tự chiếu, soi rọi lại những ý niệm, tâm tư nào không hợp đạo lý thì phải bỏ. Chẳng những dẹp bỏ lỗi lầm sai trái, mà còn phải bỏ luôn tất cả vọng niệm của mình, huống là nuôi dưỡng tâm ưa ghét thù địch.
Ngày xưa tôi đi giảng dạy, thấy có trường hợp chùa này không thích chùa kia, chùa kia không ưa chùa nọ… rồi cùng chỉ trích qua lại. Động cơ không gì lạ, chỉ vì chùa này Phật tử tới ít còn chùa kia Phật tử tới đông, từ đó đâm ra đố kỵ chống chọi nhau. Tại các Phật học đường cũng vậy, mỗi người làm theo mỗi cách. Người giàu thì sống theo giàu, nghèo sống theo nghèo, không cảm thông nhau. Hai người nằm hai đơn gần sát nhau, mà người này thì được thầy tổ khá giả cho tiền đi mua cái này sắm cái nọ dư dả, còn người kia thì nghèo túng không có tiền. Lâu lâu người này có việc đi vắng, người kia lén giở đơn người này, không nói mượn nữa mà là chia sớt. Người không có thì chia sớt một tí của người có dư, nhưng chia lén chứ không dám chia công khai. Do đó khi lập Thiền viện, tôi bắt phải sống Lục hòa. Sống được Lục hòa rồi thì sự hòa hợp chung lo việc Tam bảo dễ hơn. Tăng là hòa hợp chúng, mà không hòa hợp với nhau thì sao được gọi là Tăng! Những hình ảnh này, thật hổ thẹn vô cùng! Chúng ta khuyên Phật tử không được trộm cắp, mà người tu còn phạm thì nói sao đây? Tình cảnh một người dư một người thiếu nằm gần nhau, sự bất công chênh lệch thấy quá rõ ràng thì làm sao họ dằn tâm muốn được chia đó. Không dằn được thì chia lén, chứ đừng nói ăn cắp nghe kỳ quá! Thật sự người lén chia đó, không phải là người hoàn toàn xấu. Nếu dư dả thì họ đâu có ăn cắp. Phải không? Bởi vì họ quá thiếu!
Hồi ở trường Phật học, chính tôi chứng kiến, có một thầy tới học muốn mua cuốn tự điển mà không có tiền, thầy tổ, cha mẹ lại ở xa. Thầy cầm cây dù tới những người Phật tử quen, tương đối khá giả để xin tiền mua tự điển. Đi từ sáng tới chiều về cũng không có tiền, Thầy nói: “Bây giờ tao là học tăng nghèo, xin tiền mua tự điển không cho. Sau này làm pháp sư mà tới cúng, lúc đó tao hất, tao quăng..” Tại sao Thầy thốt ra những lời bất mãn như vậy? Tại vì Thầy khổ quá! Học mà không có tự điển làm sao học được? Muốn có tự điển thì phải có tiền mua, người thân lại không ở gần, huynh đệ không ai chia sớt, chỉ còn cách đi xin mà xin không được nên nổi quạu, tức giận nói bậy bạ.
Sự thiếu thốn cũng dễ làm cho người ta mất đạo đức, đó là kinh nghiệm sống mà tôi đã thấy trong thời gian học ở trường. Do đó mà sau này lập Thiền viện, tôi cố gắng tạo điều kiện cho cuộc sống người tu được hòa vui. Muốn vậy thì phải làm sao từ tiền bạc, ăn uống… cho đến các thứ vật dụng, mỗi người đều có được như nhau. Thế nên ở đây, tiền bạc thì có Thủ bổn giữ, vật dụng thì có Tri sự, ngoài ra không ai được giữ tiền bạc và vật dụng riêng, trong chúng nếu có nhu cầu cần thiết thì đến xin. Tất cả chúng sống ở đây, có bao nhiêu thì cùng ăn, cùng chia sớt với nhau công bằng. Không có gì bực bội hoặc phàn nàn người dư người thiếu. Nhờ vậy mình tránh được lỗi chia lén đó.
Tôi tạo điều kiện sống theo nếp Lục hòa là bước đầu để tu cho xứng đáng một vị Tăng. Tăng là hòa hợp chúng thì phải sống hòa hợp, đồng chia sẻ cực khổ, sướng vui cùng nhau, như vậy mới có tình đạo. Tình đạo có thì lúc chung làm Phật sự mới vui vẻ, nếu làm Phật sự mà không ai ưa ai thì làm sao làm chung, mà không cộng tác với nhau được thì trên con đường hoằng hóa mình cũng không làm được việc gì. Cho nên tôi nhắc lại một lần nữa, chúng ta phải sống hòa hợp, cùng chia sớt với nhau những gì mình có. Đem tất cả khả năng của mình để chung lo Phật sự, làm lợi ích cho chúng sanh, như vậy mới gọi là người có tâm đạo chân chính. Nếu mỗi người cứ lo tư riêng, ai cũng nghĩ phần mình mà không nghĩ cho người khác thì hòa không được, như vậy gọi là Tăng nhưng không đúng ý nghĩa Tăng, mà chỉ là người tu đơn lẻ thôi.
Tôi mong tất cả chư tăng ở đây, đem hết tâm sức của mình mà thương yêu giúp đỡ nhau, để cùng chung lo gánh vác Phật sự chung hoặc những công việc được giao phó tại Thiền viện. Chúng ta chia sớt công việc với nhau để cùng sống hòa vui mà tu hành, đừng để kẻ phải gánh quá nặng, người nhẹ nhàng thảnh thơi, kẻ làm nhiều người làm ít. Cho nên, tôi để phần Lục hòa lên trước rồi mới tới phần Giới luật. Vì Lục hòa là đạo đức đầu tiên, nếu không có thì những phần sau không thể nào giữ được. Bởi lẽ, người ta sanh tâm ăn cắp là do tiền bạc, vật dụng chênh lệch không đồng nhau. Bây giờ mọi thứ được chia đều, ai cũng có hết thì đi ăn cắp làm chi! Nhờ vậy, phần giới ở sau tự nhiên giữ được. Lợi hòa như vậy, những hòa khác cũng tương tự thế.
Tất cả quý vị có mặt ở đây đã quyết tâm tu hành giải thoát và thương chúng sanh muốn độ họ, mỗi người phải ráng phá cái ngã riêng của mình để hòa chung với huynh đệ cùng gánh vác Phật sự, cùng lo lắng cho đạo. Như vậy mới đúng là tâm của người tu hạnh giải thoát, cứu độ chúng sanh. Muốn thế thì ngay bây giờ, trong cuộc sống cùng làm công tác chung nhau phải tập hòa cho quen, để mai kia ra ngoài gánh vác Phật sự mới không có tâm ganh ghét hay đố kỵ nhau. Như vậy mới có thể làm được việc lớn. Mong tất cả phải nhớ Lục hòa là bản chất, là nền tảng, là cốt tủy của người tu. Đó là điều tôi mong mỏi.
Hôm nay toàn chúng thỉnh nguyện đều được thanh tịnh, đó là một duyên phúc lớn. Tất cả phải nhớ, chúng ta hiện giờ đang ở trong đời mạt pháp, nên sự tu hành khó tiến. Trong kinh Phật có chia ra ba thời kỳ: Chánh pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Những người không hiểu cho rằng đời Mạt pháp khó tu, vì Chánh pháp gần hết rồi nên tu không được. Đó là hiểu lầm. Bây giờ tôi sẽ giải thích rõ về ba thời kỳ này.
Thời Chánh pháp là chỉ cho thời đức Phật hiện tiền. Sao gọi là Chánh pháp? Vì vào thời này đức Phật giáo hóa chúng sanh, một trăm người thì ngộ đạo đến tám chín mươi người. Tại sao những người Phật dạy đều ngộ? Bởi vì sau khi thành đạo đức Phật có đủ Tam minh Lục thông… cho nên khi có người đến học đạo hoặc hóa độ ai, ngài đều thấy biết được trình độ, căn cơ của họ. Do biết được chủng duyên từ thủy chí chung của mỗi người, nên Phật dạy đâu đúng đó. Phật biết bệnh cho thuốc, người uống vô là hết bệnh liền, chứ không phải như chúng ta bây giờ. Thế nên những người được Phật giáo hóa thảy đều đạt đạo, tùy theo trình độ cao thấp mà quả vị có khác nhau. Vì vậy thời kỳ đầu được gọi là thời Chánh pháp.
Kế đó là thời Tượng pháp. Tượng là tương tự, tức là tương tự như thời Chánh pháp nhưng không bằng. Sau đức Phật nhập Niết-bàn, những đệ tử của Phật đa số đã chứng quả A-la-hán, hoặc quả Bồ-tát. Các vị ấy tuy cũng đạt đạo nhưng không phải là Phật, nên hiểu được tâm bệnh của chúng sanh, chỉ đúng bệnh, cho đúng thuốc, giúp chúng sanh mau lành bệnh nhưng không trọn vẹn đầy đủ như Phật. Vì vậy, trong số người được giáo hóa có khoảng bốn năm chục phần trăm (40-50%) được ngộ đạo, tức một trăm người được khoảng bốn năm mươi người. Như vậy, do số người được các vị đệ tử Phật giáo hóa, ngộ đạo chỉ bằng phân nửa thời đức Phật nên gọi thời kỳ này là thời Tượng pháp.
Hiện nay, tất cả chúng ta là người xuất gia tu hành, cũng đi giáo hóa chúng sanh, nhưng tự bản thân chỉ là phàm tăng vì chưa chứng A-la-hán, chưa được quả Bồ-tát. Phàm tăng thì có khi được phần giác ngộ nhưng chưa có thần thông, không biết được trình độ, căn cơ của chúng sanh, cho nên người tới học đạo trăm người, ngàn người mà chỉ một vài người ngộ được thôi. Có người cả đời giáo hóa còn chẳng có ai ngộ. Vì sao vậy? Vì ông thầy chưa ngộ mà muốn học trò ngộ làm sao được. Càng ngày Phật pháp càng suy đồi, người tu nhiều mà người đạt đạo không bao nhiêu, nên gọi là thời Mạt pháp.
Tóm lại, Chánh pháp là thời Phật còn tại thế. Tượng pháp là thời sau Phật Niết-bàn năm trăm năm. Những đệ tử của Phật, tuy rằng truyền bá rộng rãi nhiều nơi nhưng người hiểu đạo, đạt đạo thì không nhiều. Do đó sự giáo hóa có giới hạn, khiến cho đạo lý ngày càng thấp xuống cho tới ngày nay.
Tôi thí dụ, như một vị lương y. Thời Chánh pháp, đức Phật là một vị đại lương y giỏi toàn vẹn, bắt mạch cho thuốc đúng một trăm phần trăm nên bệnh lành gần trăm phần trăm. Thời Tượng pháp, tuy rằng những vị lương y đó cũng giỏi, nhưng không bì được với đức Phật, nên bắt mạch xem bệnh đúng năm chục phần trăm, thành ra trị lành bệnh được năm chục phần trăm. Thời Mạt pháp, lương y xem bệnh không đúng, bắt mạch chẩn đoán không chính xác mà chỉ phỏng đoán thôi. Phỏng đoán thì ít đúng bệnh, mà không đúng bệnh, không đúng thuốc thì làm sao bệnh nhân lành được. Nên thời này, là thời chúng ta truyền bá, người hiểu đạo thì nhiều mà người thực hành đến nơi đến chốn, đạt đạo viên mãn thì rất ít.
Phật nói đời Mạt pháp trải qua bao nhiêu năm? Một muôn năm. Bây giờ mới được hơn hai ngàn năm, chưa được phân nửa. Vì vậy đừng nghĩ thời này Mạt pháp là Phật pháp sắp hết, sắp tàn; chỉ là số người được đúng bệnh, đúng thuốc không nhiều, người học đạo thấu hiểu tường tận cũng ít đi. Thế nên người tu ngộ đạo, chứng đạo thì ít, nhưng người có lòng tin đạo thì không phải là ít.
Thời đức Phật giáo hóa, theo sử kể lại, chỉ có vùng xung quanh lưu vực sông Hằng, cao lắm chừng năm mười triệu, hoặc một hai chục triệu người. Còn bây giờ, tín đồ của Phật giáo trên toàn thế giới rất nhiều, nên nói thời mạt pháp là thời Phật pháp suy vi, tàn lụn và không có người tu Phật thì không đúng. Mà là thời Phật pháp đang lan rộng thêm, người tu theo Phật đông hơn, nhưng người đạt đạo thì ít hơn.
Chúng ta đừng cho rằng, thời Mạt pháp không mong gì đạt đến chỗ viên mãn, cho nên tu dối dối cũng được. Hoặc có nhiều người bi quan nghĩ rằng, đời mạt pháp dù có ráng tu cũng không được gì, nên tu gieo duyên thôi. Đừng hiểu lầm như vậy! Thời Mạt pháp mà mình tu tinh tấn, có đầy đủ giới định tuệ, được kết quả viên mãn thì vẫn là thời Chánh pháp.
Hiểu rồi chúng ta mới thấy, chúng ta đang ở trong giai đoạn đầu thời Mạt pháp. Giai đoạn đầu nên cơ hội tu hành học đạo, hiểu đạo thì dễ, nhưng sống đúng theo đạo lý, hoàn toàn thanh tịnh thì rất khó. Tôi nói điều gần nhất là giới Tỳ-kheo quy định, không được xúc chạm với người nữ. Nhưng hiện nay, chúng ta đi ra chỗ này chỗ kia, các cô đưa tay bắt tay mình, mình phải làm sao cho đúng? Nếu bắt tay người nữ là có xúc chạm rồi, là rơi vào giới Tăng tàn. Vậy thì nếu theo y trong giới này, mình có phạm không?
Tôi gặp phải tình huống này, đó là lần đầu tiên vào năm 1965, khi tôi sang Nhật. Ở Việt Nam, gặp nhau thì xá chào, quen rồi. Lúc qua Nhật, khi mua giấy xong, mấy cô bắt tay mấy người kia mà mình đứng trơ ra coi kỳ, nên theo phép lịch sự tôi cũng bắt tay họ. Bắt tay xong, tôi tự hổ thẹn, thấy kỳ quá! Bây giờ trong thời hiện đại, khi đi sang các nước phương Tây, gặp nhau phái nữ cũng thường bắt tay mình, mình lại kẹt nữa! Thế nên, giữ giới luật trọn vẹn như thuở xưa là thật khó!
Duyên bên ngoài gây đủ thứ trở ngại, khiến cho khó giữ. Như hồi xưa, nếu muốn nghe ca kịch, hát xướng… thì phải đi tới rạp nên người tu dễ giữ giới này, bây giờ thì chùa ở gần khu dân cư nên họ mở nhạc mình cũng nghe, vì vậy tâm dễ loạn khó thiền định. Đây là tôi nói một vài thí dụ nhỏ thôi, còn nhiều thứ khác nữa không thể kể hết. Do đó, thời của chúng ta tu khó thanh tịnh, khó được an ổn là vậy. Giờ đây, chư tăng được ở trong nội viện Thiền viện, được khép mình theo nội quy để cùng sống, cùng tu với nhau là có phước duyên lớn chứ không phải ngẫu nhiên mà được.
Người xuất gia có hai trường hợp không được hay: Thứ nhất là không có duyên ở trong chúng, mà ở riêng lẻ một mình nơi am thất. Thứ hai là ở trong tập thể, nhưng tập thể đó không thanh tịnh. Như vậy, tu mà không rõ đường lối lại bị những thứ chướng bên ngoài lôi kéo, không thoát ra được thì cũng không tốt. Ngày nay Tăng chúng được ở trong tập thể thanh tịnh như vầy là quá tốt, đây là duyên lành nhiều đời chứ không phải việc thường. Vì vậy, được ở chúng cùng hòa hợp tu hành tinh tấn, vui vẻ với nhau là điều hết sức quý.
Mong tất cả chư tăng ở đây, tự kiểm điểm, xét lại coi có phải duyên phúc của mình sâu dày hay không? Nếu cảm nhận được duyên phúc mình sâu dày thì ráng cố gắng tinh tấn tu, không để thời giờ trôi qua vô ích. Cố gắng tu để hiểu đạo, thấy được lẽ thật mà Phật tổ đã chỉ dạy, thấy biết rõ để chỉ dạy lại cho người sau. Nếu không cố gắng tu, khi nghe kinh luận tuy cũng hiểu nhưng chưa chứng nghiệm được thì hiểu đó cũng chỉ ở trên văn tự mà thôi. Vậy toàn chúng phải cố gắng, trước hết vừa học hiểu, vừa ứng dụng tu để chứng nghiệm được lời dạy của Phật tổ, không còn nghi ngờ. Rồi sau mới đem kinh nghiệm đó chỉ dạy cho người nhận hiểu, người nghe cũng dễ ứng dụng tu. Nếu mình tu lơ là, không thấy rõ lối đi thì làm sao dạy người! Đó là chính mình không có lợi, mà cũng không làm lợi ích gì cho người.
Mong tất cả cố gắng học, cố gắng tinh tấn tu. Làm sao trong thời gian năm, bảy năm ở Thiền viện, khi ra ngoài mình đủ tư cách làm người chỉ đường, hướng dẫn cho người khác cùng tu. Đó là điều thiết yếu.
Qua buổi thỉnh nguyện hôm nay, tôi rất mừng vì nhận thấy trong chúng chỉ có một ít lỗi nhỏ, không đáng kể. Toàn chúng sáu bảy chục người mà một tháng qua không có lỗi lầm gì, đó là điều rất tốt. Kết thúc buổi thỉnh nguyện, tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng.
Vừa rồi, tôi đọc lại kinh Viên Giác. Bồ-tát Di-lặc hỏi Phật, nguyên nhân nào làm cho chúng sanh phải luân hồi sanh tử mãi mãi không ra khỏi? Đức Phật dạy, sở dĩ người tu không ra khỏi sanh tử là vì bệnh ái dục. Chúng sanh ở cõi Dục, bệnh ái dục là bệnh trầm trọng nhất. Chúng tu ở đây đa số là người trẻ, mà người trẻ thì bệnh ái dục còn nặng, dễ làm cho sự tu hành trở thành khó khăn chướng ngại. Cho nên tôi nhắc kỹ về điều này.
Phật dạy, ái dục có hai thứ: một là ái dục, hai là ái mạng. Nhân ái dục sanh ra ái mạng, nghĩa là từ ái dục mà có ra những sự tiếp nối. Những chúng sanh tiếp nối đó, khi có mặt lại yêu mến quý trọng thân mạng của mình. Cứ như vậy mà ái dục đi trước, ái mạng theo sau. Hoặc ngược lại, ái mạng có trước, rồi sanh ra ái dục.
Chúng ta có mặt ở đây, là do ái dục dẫn dắt. Ái dục là nghiệp để chúng sanh truyền nối đời đời. Sanh mạng mọi loài đều do ái dục mà có, như chúng ta đây, có người nào không từ ái dục của người trước mà sanh ra mình không? Như vậy cho thấy, ái dục là bệnh rất trầm trọng. Nếu không dùng trí tuệ quán chiếu thì bệnh ái dục không thể trừ được.
Trong kinh Phật dạy rất nhiều cách quán chiếu. Nếu ái dục nặng quá thì đức Phật dạy quán bất tịnh. Nghĩa là phải luôn luôn nhìn lại mình, quán sát thân nhớp nhúa, không ra gì này. Quán đi quán lại cho sâu xa, để mình chán thân mình rồi mới chán thân người khác. Đó là trừ bệnh ái dục của thân.
Nếu áp dụng quán như vậy mà bệnh ái dục thuyên giảm thì tốt, còn không thuyên giảm thì phải quán năm uẩn không thật, như Phật dạy trong kinh Bát-nhã. Mình đã không thật thì có cái gì mà ái, cái gì là dục? Bệnh ái dục là trầm trọng số một, bởi vì ái dục là nghiệp truyền giống. Thế nên chúng sanh nào cũng mang nghiệp đó, để tiếp tục nòi giống, để có mặt trên thế gian này.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Trong các thứ ái dục, không gì đáng sợ bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có bệnh thứ hai bằng bệnh ái dục như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu đạo được.” Như vậy, chỉ có ái dục là nặng hơn hết, còn các thứ bệnh kia nhẹ hơn, nên chúng ta mới có thể tu. Nếu các bệnh khác nặng bằng ái dục thì chắc khó tu được. Do đó, Phật dạy người tu khi đi khất thực, chỉ nhìn xuống đất không quá ba thước, tức là nhìn vừa tầm để thấy đường đi mà thôi, chứ không được ngó qua ngó lại, để không thấy người này người kia rồi sanh nhiễm ô.
Tôi nhắc cho toàn chúng biết, để dè dặt tránh xa. Chúng ta đã biết ái dục là bệnh trầm trọng thì đừng nên xem thường. Đối với phái nữ, phải nên ít tiếp xúc. Tránh tiếp xúc với người khác phái để khỏi sanh ra bệnh trầm trọng làm trở ngại sự tu hành. Nhất là tư tưởng đừng nghĩ, đừng nhớ, chỉ chăm chỉ vào sự tu hành dứt niệm. Bởi có nghĩ tưởng thì ái dục phát sanh, nếu không khởi nghĩ thì ái dục sẽ hết.
Trong kinh Phật nói thí dụ, có một người bị tội tử hình, nhà vua bảo nếu ngươi bưng một đĩa dầu đầy, đi từ đầu đường đến cuối đường không nhỏ một giọt nào thì ta sẽ tha tội chết cho ngươi. Đi sau ngươi, có một đao phủ cầm đao bén, nếu ngươi làm nghiêng đĩa dầu, nhỏ xuống một giọt thì bị chặt đầu liền. Vua tuyên bố như vậy, đồng thời ra lệnh bày hai bên đường nào là nữ sắc, rượu chè, cờ bạc…đủ thứ trò vui. Nếu anh chàng đó muốn khỏi bị chặt đầu thì phải chăm chăm nhìn đĩa dầu, từ đầu đến cuối không dám ngó lơ thì mới thoát chết. Toàn chúng nghĩ xem, nếu mình là anh chàng tử tội đó thì có dám lơ là, ngó qua ngó lại, nghe cái này nhìn cái kia không, hay chăm chăm vào đĩa dầu, qua khỏi mọi cạm bẫy, đến vạch cuối đường để thoát chết? Chắc chắn không ai can đảm buông lung!
Tất cả chúng ta sanh ra trên cõi đời này thảy đều bị án tử, không ai thoát khỏi quỷ vô thường, giống như anh chàng tử tội kia. Chẳng sớm thì muộn, không trẻ thì già… ai cũng phải chết. Bị án tử rồi mà muốn thoát khỏi, tức là muốn giải thoát sanh tử thì phải chú tâm vào một pháp tu. Đĩa dầu dụ cho pháp tu. Làm sao đi đứng nằm ngồi vẫn không lơi lỏng, đó là không để đổ dầu. Tên lính cầm đao dụ cho quỷ vô thường. Quỷ vô thường lúc nào cũng chực bên mình, sơ hở một chút là nó giết ngay. Nếu chúng ta không chăm chú vào pháp tu để qua khỏi đoạn đường sanh tử mà cứ chạy theo ngũ dục, mê những trò vui trên đường để mình bị giết chết, rồi phải lăn lộn kiếp này đến kiếp khác; đó là mình ngu xuẩn, không xứng đáng là người phát nguyện cầu giải thoát sanh tử.
Vì vậy, chúng ta tu muốn giải thoát sanh tử thì phải chăm chỉ đem hết tâm trí, đặt hết tinh thần, chuyên tâm vào đường lối tu của mình. Ngày đêm miệt mài như vậy thì mới có đủ sức tỉnh giác, mới thoát ly sanh tử được. Nếu hờ hững lôi thôi qua ngày thì sẽ bị chìm đắm trong sanh tử mãi mãi, không thể ra khỏi được.
Tôi mong rằng, trên con đường sanh tử quý vị đã có duyên tốt phát tâm tu hành thì phải ráng tinh tấn, chuyên chú vào đường lối tu, đừng nên lơi lỏng bê trễ. Như vậy mới không phụ ý chí quyết tâm, liều chết đi trên đường giải thoát. Nếu nghĩ tưởng xằng bậy thì ái dục càng tăng trưởng, còn tâm không lơi lỏng, tư tưởng không nghĩ nhớ việc xằng bậy thì tất cả ái dục theo đó từ từ suy giảm tiêu mòn. Vậy mong tất cả trong chúng nhìn kỹ, nhớ kỹ để thực hành cho được, tránh khỏi đường luân hồi sanh tử lâu dài.
Hôm nay là buổi thỉnh nguyện cuối năm, chuẩn bị sang năm mới. Tôi có ít lời nhắc nhở trong chúng, gồm hai phần:
1- Phần thứ nhất là nhắc nhở ở trong chúng, những người đã tu lâu hoặc mới tu, nhưng trên đường tu thấy mình bị trì trệ không tiến nên có khi buồn, hơi thối tâm. Tôi nhắc cho các vị biết, chúng ta đi tu là một duyên phước lớn chứ không phải nhỏ. Bởi vì trên đời này, người ta chạy đua theo danh lợi tài sắc… còn mình không thích những thứ đó trói buộc nên phát tâm xuất gia. Đây là một tâm nguyện rất cao thượng, rất siêu thoát. Tuy nhiên, nghiệp chướng của mình đâu phải chỉ mới có trong đời này, mà đã huân tập từ nhiều đời. Do đó bên cạnh tâm trong sáng sẵn có, lại còn những nghiệp cũ sâu dày. Cho nên tuy phát tâm tu nhưng sự tu chậm lụt không suôn sẻ, không được kết quả như ý, thua sút huynh đệ. Điều này đáng buồn, nhưng không nên vì thua sút mà chúng ta thối tâm lùi bước.
Đối với sự tu hành, chúng ta phải quyết tâm. Nếu dụng công mười lần mà không tiến thì phải tăng lên mười hai, mười bốn lần. Cố gắng tăng lên hoài thì có ngày cũng tiến, chứ đừng vì lẽ thấy mình cũng tu như huynh đệ mà sao huynh đệ tiến còn mình lại không tiến, rồi nghĩ chắc là nghiệp mình nặng khó tu nên muốn bỏ cuộc. Không nên nghĩ như vậy, quan niệm đó là sai lầm! Phải biết, do nghiệp trước gây chướng ngại đường tu, mình sẽ vượt qua được nghiệp đó và sẽ thắng nó. Vì vậy phải quyết tâm tinh tấn hơn nữa để đường tu không bị lui sụt, chứ đừng vì thấy sự tu trì trệ rồi thối tâm, làm cho những duyên tốt trong đời tu của mình bị tiêu mòn, còn nghiệp chướng lại càng tăng trưởng. Tôi nhắc nhở trong chúng, ai có những bệnh như vậy thì phải mạnh mẽ, phải tiến lên chứ đừng để lui sụt.
2- Phần thứ hai là nhắc những vị trong chúng, khi tu thấy mình có tiến bộ, có kết quả tốt rồi tưởng mình đã sáng, ngang đó thỏa mãn, hài lòng, cho là đã thắng rồi, thành công rồi. Đó là một sự hiểu lầm rất nguy hiểm! Phải nhớ rằng tuy việc tu có tiến, có kết quả tốt nhưng chưa có gì là bảo đảm ngang đây mình hoàn toàn thanh tịnh mãi. Việc này đừng xem thường.
Từ kinh nghiệm thời gian qua cho tôi biết, có những người tu thấy tiến bộ nhưng khi gặp duyên cũng ngã dùng chứ không thắng nổi. Vì vậy tôi nhắc nhở, những huynh đệ đang tu thấy mình có tiến, nắm vững đường lối tu rõ ràng không còn nghi ngờ gì. Dù vậy cũng phải dè dặt, đừng có xông pha, đừng gần gũi người khác phái mà lâu ngày sanh bệnh không hay, vì đó là tập khí muôn đời của con người. Thế nên người khéo tu thì phải biết, trên đường tu mình tiến được là nhờ phước duyên nhiều đời, được gặp chánh pháp phù hợp với mình, nên sự tu hành tiến nhanh. Đừng tự mãn, đừng xem thường. Tự mãn, xem thường là bệnh.
Đây là điều mà tôi thấy cần phải dè dặt. Nhiều khi thấy mình được như vậy, lầm tưởng là tốt lắm, hay lắm, rồi xông pha. Về sau gặp họa thối tâm hồi nào không hay, tới chừng biết được thì đã sanh tâm nhiễm trước, đi quá xa rồi, khiến cho sự tu bị trì trệ trở lại, làm mất thời gian quý báu. Hơn nữa, sự ngăn trở đó làm mất uy tín của mình, làm mất lòng tin của huynh đệ. Họ nghĩ, mình đã tu được như vậy mà còn lui sụt thì những huynh đệ đi sau sẽ thế nào? Khiến cho họ càng hồi hộp, càng lo âu. Bởi thế nên, người nào tiến được thì ráng giữ cho mình tiến mãi mãi chứ đừng để lùi.
Tôi hay nói, khi tu có những cái sáng, thấy được lẽ đạo, muốn chứng thật công quả tu của mình thì lấy gì khảo chứng? Đó là tám gió thổi không động. Đừng nghĩ mình thấy vậy, đạt được vậy là hay là tốt rồi xem thường, đến khi gặp tám gió thì ngã nghiêng ngã ngửa. Cho nên các huynh đệ tu phải ráng cẩn thận, chừng nào tám gió thổi không động thì mới tin rằng, đường tu mình bảo đảm không lui sụt. Còn mới lóe sáng hoặc thấy rõ ràng nhưng chưa gặp gió thử thách thì đừng chủ quan, tin chắc cho rằng mình đã thắng hết.
Mong tất cả các vị có chút ít kinh nghiệm trong sự tu, phải ráng cẩn thận dè dặt. Vì tôi chuẩn bị phân bổ nhân sự, sắp xếp người đi chỗ này, người đến chỗ kia. Nếu quý vị đã có lòng tin, có hiểu đạo mà lại khinh suất, để một ngày nào đó tụt xuống khiến những người xung quanh thấy vậy thối tâm. Đừng để những điều tốt xấu, hay dở làm mình xao xuyến, được như vậy thì trên đường tu mới vững vàng và lãnh công tác Phật sự mới được lâu bền.
Càng gần ngày tôi nghỉ thì tôi càng lo, cho nên phải nhắc nhở các vị nhớ cẩn thận, đừng xem thường. Nhiều vị khi tu, tâm được thanh tịnh, trí rất sáng, rồi xem thường mà mặc tình xông pha, tới ngày nào đó đụng việc thối tâm, chừng đó người ta cười, tưởng Thầy lựa người tu hay ngờ đâu rốt cuộc không ra gì! Đó là điều không tốt.
Sau thời thỉnh nguyện, tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng. Trong ba điều căn bản của Thanh quy, điều thứ ba là sống một cuộc sống đạm bạc, các huynh đệ thấy ở đây mình sống đạm bạc hay sung túc? Sung túc chứ không đạm bạc. Điều này tôi nhắc nhở để toàn chúng biết. Bởi vì chúng ta ở đây tu hành đàng hoàng chân chánh, được lòng tin của quý Phật tử, nên họ sẵn sàng giúp đỡ về mọi mặt, từ xây dựng đến ăn uống. Đó là một điểm tốt.
Nếu xét kỹ thì hoàn cảnh ở đây toàn chúng tu hành rất dễ dàng, những khi bệnh hoạn hoặc lúc cần mua sắm những vật dụng thiết yếu… chúng ta cũng không phải bận tâm về tiền bạc. Như vậy toàn chúng không có gì để bận tâm lo lắng hết. Mỗi buổi sáng, Tri sự phân công tác gì thì làm tròn công tác đó. Tới giờ ngồi thiền, sám hối thì lên Thiền đường theo thời khóa tu hành. Thế nên cuộc sống vừa bình an mà cũng vừa thuận lợi cho việc tu. Những vị tăng ở chùa khác và các Phật tử tới Trúc Lâm, đều tán thán khí hậu ở đây mát mẻ, tu Thiền rất tốt, không như những nơi khác nóng bức quá. Như vậy, điều kiện tu hành của mình tương đối tốt đẹp, chỉ mong toàn chúng mỗi người phải cố gắng tu.
Trên đường tu chúng ta phải biết bổn phận, phải biết trách nhiệm của mình. Trong kinh thường nhắc nhở, người tu là trên đền đáp bốn ơn, dưới cứu giúp ba cõi. Ở đây tôi chỉ nói gần nhất là ơn thầy tổ và ơn cha mẹ, đây là những ơn lớn mà nhiều khi mình cũng không nhớ. Chúng ta cứ nghĩ tu là tu thôi, chứ không biết phải tu thế nào cho ngộ đạo, thấy đạo. Nên nhớ, chúng ta tu làm sao đạt được kết quả tốt để cứu độ cha mẹ và cứu độ tất cả chúng sanh, chứ không phải tu lừng chừng, tới đâu hay tới đó.
Người biết tu lúc nào cũng phải đem hết tâm lực mà tu, đem cả chí nguyện cao siêu đặt vào trọng trách của mình, phải thực hiện cho được chí nguyện ấy. Trọng trách lớn nhất đó chính là tu hành đạt đạo. Nếu tu mà không đạt đạo thì làm sao cứu độ cha mẹ, cứu độ chúng sanh. Đó là điều hết sức thiết yếu, cho nên tôi ráng tạo điều kiện tốt để ai đến đây tu đều phải thấy đạo, phải đạt được chỗ cao siêu ấy.
Nhiều người tu thời này cứ đổ thừa thời Mạt pháp, tu hành có chừng thôi chứ không đạt được gì! Cho nên cứ nghĩ, giờ tu rồi mai kia ra làm việc thiện là đủ bổn phận của người tu. Đó là suy nghĩ sai lầm! Thời nào cũng vậy, nếu chúng ta quyết tâm tu thì đều đạt được kết quả tốt, chứ không phải thời Mạt pháp tu không được. Bởi vì quan niệm sai lầm của mình mà cứ thả trôi, không cố gắng tu. Thật uổng phí một đời. Đó là điều tôi nhắc nhở toàn chúng cần phải nhớ, phải thực hành. Nhất là đối với của Tam bảo, mỗi người trong chúng đều phải có trách nhiệm gìn giữ. Các huynh đệ thấy, ở đây chúng ta được Phật tử thương giúp đỡ nhiều, nên trong chúng tiêu xài ít nghĩ tới việc tiết kiệm, không biết rằng nhận vật của thí chủ nặng như núi.
Vừa rồi, Diệu Phương đi xuống Đồng Tháp giúp đỡ đồng bào bị thiên tai. Sau lũ lụt họ trở về nhà thì nhà cửa đã hư sập, không có tiền cất lại. Diệu Phương nói, chỉ cần có một trăm dollar (100USD) là cất được căn nhà tương đối ấm cúng. Hôm đó, Diệu Phương đem hình những căn nhà mới được cất lại, đưa cho tôi xem. Toàn chúng thấy, có những người chỉ cần vài triệu bạc để cất một căn nhà, vậy mà cũng không có tiền. Nếu chúng ta ở đây đủ phước, có dư dả chút ít thì phải nhín ra để giúp những người khốn khó. Được như vậy thì tốt lành hơn chứ đừng xài phung phí, không nên thấy Phật tử cúng dường nhiều rồi tha hồ xài. Nếu sử dụng không đúng cách thì tổn phước. Thế nên tôi muốn nhắc nhở, tất cả từ trên đến dưới, nhất là những người có trách nhiệm, cần phải cẩn thận khi dùng đồng tiền. Nếu khi nào có dư dả thì khi gặp những việc cần thiết nên chia sớt giúp cho người, còn những kẻ phung phí một là tập thói quen không biết tiết kiệm phước đức, hai là không làm lợi ích cho nhiều người. Vậy nên mong tất cả chúng phải cẩn thận điều đó.
Chúng ta tu phải làm sao cứu độ được cha mẹ mình. Tôi đọc trong kinh thấy Phật thường dạy điều này, rồi nhìn sang chư tổ cũng thấy rõ, người xưa tu một khi ngộ đạo là cứu rỗi được cha mẹ mình. Như đức Phật, ngài là vị Bồ-tát tái thế có đầy đủ phước duyên, nên mẹ ngài khi chết liền được sanh lên cõi trời Đao-lợi.
Thiền sư Hoàng Bá, đời Đường ở Trung Hoa. Sau khi xuất gia ngài chuyên tâm tu hành, ít về thăm mẹ. Lần đó có dịp đi ngang quán trà của bà, ngài ghé lại thăm và tùy duyên khuyến hóa mẹ. Mẹ ngài bị mù không nhận ra ngài, ngài cũng không cho mẹ biết. Đến lúc mẹ mất, ngài về lo hậu sự cho bà. Khi làm lễ hỏa táng thân mẫu, ngài ngửa mặt lên trời, nói:
Được nghe chư Phật dạy, một đứa con đắc đạo chín họ được thăng thiên. Nếu không như vậy là chư Phật nói dối.
Rồi ngài nói bài kệ:
Mẹ tôi suốt kiếp tự mê lầm,
Hôm nay Bồ–đề nở hoa tâm.
Sau này tam hội nếu gặp lại,
Quy mạng Đại bi Quán Thế Âm.
Thiền sư Hoàng Bá nói kệ xong, mọi người trông thấy mẹ ngài từ ngọn lửa thăng lên hư không.
Gần chúng ta hơn, ở tại Việt Nam vào đời Lê có thiền sư Tông Diễn, mọi người thường gọi là Hòa thượng Cua. Tương truyền thuở nhỏ, do ngài thả giỏ cua nên bị mẹ đánh mắng, sợ quá ngài bỏ nhà chạy đi mất biệt.
Khoảng hơn ba mươi năm sau, lúc đó ngài đã là trụ trì, nghĩ nhớ đến mẹ nên trở về quê tìm. Thấy một bà lão đầu tóc bạc phơ đang châm trà bán cho khách, ngài vào quán uống trà và hỏi thăm gia cảnh. Nghe bà lão nói có một đứa con trai đã bỏ nhà đi từ nhỏ, ngài biết bà lão ấy chính là mẹ mình. Không để bà lão biết mình là đứa con trai đó, ngài nhã ý mời bà về chùa nương bóng từ bi trong những ngày cuối đời. Bà lão cô quả nhận lời ngài, quyết định gửi thân nơi cửa Phật. Thời gian bà ở chùa, ngài cũng không để cho chúng biết đó là mẹ mình, vì sợ chúng ưu đãi bà khiến bà bị tổn phước. Vì vậy mọi người trong chùa đều xem bà là một người già không nơi nương tựa, được ngài từ bi mang về chùa ở.
Ngài an trí bà ở trong một cái thất lá, mỗi ngày phân công tác cho bà quét sân hay nhổ cỏ quanh chùa. Một hôm, có việc quan trọng phải đi vắng vài hôm, biết bà bệnh sắp mất nên ngài dặn chư tăng ở chùa, nếu bà cụ mất thì để vào quan tài nhưng đừng đóng nắp, đợi ngài về. Ngài đi được bốn, năm hôm thì bà mất, chư tăng làm y theo theo lời ngài dặn. Lúc về chùa, ngài đến bên quan tài nhìn mặt bà lần cuối, nói:
– Như lời Phật dạy, một người con tu ngộ đạo thì cha mẹ được sanh thiên. Nếu quả thật lời ấy không ngoa, xin cho quan tài bay lên hư không để chứng minh.
Nói xong, ngài cầm tích trượng gõ lên nắp quan tài ba cái, quan tài liền bay bổng lên hư không rồi hạ xuống. Lúc đó mọi người mới biết bà lão là mẹ của ngài.
Khi tôi ra ngoài Bắc nghe nói, dường như nắp quan tài đó còn được lưu giữ lại ở viện Viễn Đông Bác Cổ, nhưng vì tôi chưa đến chỗ ấy nên không biết thế nào. Tôi đọc trong bài tán thán công đức của ngài có câu “chỉ tích mẫu quan phi”, là nói về việc ngài gõ cây tích trượng lên nắp quan tài, quan tài liền bay lên không. Như vậy để chứng minh rằng, người con tu hành ngộ đạo thì có thể cứu rỗi được cha mẹ. Đó là lẽ thật mà trong sử đã ghi lại.
Thế nên chúng ta tu phải nhớ: Không phải chỉ tu cho mình, mà tu để còn cứu độ cha mẹ và cứu giúp chúng sanh, vì vậy trách nhiệm của mình rất lớn. Chúng ta không nên tu lừng chừng để thời gian trôi qua suông, để có hình thức nhà tu, mà không làm tròn bổn phận người tu, đó là điều rất đáng tiếc! Tôi mong chư tăng phải ý thức được trách nhiệm của mình, tu vì để đền đáp bốn ơn và cứu giúp ba cõi, chứ không phải tu cho qua ngày qua tháng. Mong rằng mỗi người phải cố gắng.
Thiền viện tạo điều kiện cho tăng ni tu mà không chịu tu thì đó là lỗi ở quý vị, còn bổn phận của tôi, tôi đã cố gắng tối đa để làm tròn. Mong rằng trong chúng, mỗi người ý thức công tác của mình, trách nhiệm của mình, cũng ráng mà làm cho tròn. Bởi vì mấy năm qua, do công tác của thiền viện có những việc làm chưa xong phải tiếp tục làm, nên đôi khi làm mất nhiều thời gian tu của chúng. Kể từ đây về sau, mọi công tác đã tạm xong nên chúng chỉ làm việc bình thường, còn lại tất cả thời gian đều dành cho sự tu học.
Ở đây, tôi có chia sự tu ra hai phần. Một phần tu là ngồi thiền, sám hối. Một phần tu là trong hoạt động và các công tác. Làm sao trong lúc ngồi thiền yên tĩnh tâm mình được yên, trong hoạt động công tác tâm vẫn yên mới là thật yên, chứ ở trong cảnh tịnh thì yên mà khi ra cảnh động tâm liền động theo là chưa thật yên, công phu tu hành chưa đến đâu. Cho nên có những giờ công tác là để tập sống trong cảnh động, trong động đó mà sống an vui được thì sự tu hành mới kết quả chắc chắn. Giờ làm công tác cũng là giờ tu chứ không phải là giờ bỏ phí, cho nên tất cả chúng, mỗi vị khi làm công tác phải tiết kiệm thời gian quý báu của mình, vừa làm vừa tu. Như vậy trên đường tu, chắc chắn sẽ đạt được kết quả tốt, không nghi ngờ. Nếu chúng ta lơ là, chỉ tu cho có chừng thì thật là uổng đi một đời tu, không lợi ích gì cho ai.
Đó là sự mong mỏi, nhắc nhở của tôi. Mong toàn chúng cố gắng để thực hiện cho được bản hoài cao cả của mình.
Hôm nay tôi có một vấn đề quan trọng cần nhắc nhở, chỉ dạy cho chúng. Quý vị phải ráng tỉnh táo sáng suốt ghi nhận, để biết đường mà tu.
Tất cả chúng ta, từ người thế gian cho đến người tu trong đạo Phật, nếu không thấy tột được cái gì là chân thật, là quý báu thì sẽ bị những thứ rất tầm thường, rất tạm bợ dẫn dắt lôi kéo, che đậy bản tâm mình, khiến cho cả đời sống trong mê lầm không biết được hướng đi. Đó là điều nhà Phật gọi là vô minh, là si mê. Thật là đáng thương! Người đời si mê như vậy thì đã đành, nhưng với người tu mà cũng không biết thì thật đáng trách! Nếu chúng ta tu mà không nhận ra cái chân thật, lại cứ bị những thứ tạm bợ giả dối chi phối thì uổng một đời tu! Tôi nhắc toàn chúng, phải ráng chú tâm nhận ra cái gì là thật mình, cái gì là tạm bợ, cái gì là tầm thường, đừng bị lệ thuộc nó.
Một là đối với thân này, có người nào không quý nó không? Trăm người như một, đều quý thân này. Bởi quý thân này nên tất cả các nhu cầu của nó mình cũng quý, vì quý nên muốn ăn ngon, ngủ nhiều… bị lệ thuộc vào các nhu cầu của thân, phải tìm kiếm đủ thứ để thỏa mãn nó. Chúng ta cho thân này nó là quý, song thử xét kỹ, nếu mình được thụ hưởng mọi nhu cầu của thân, làm cho nó được thỏa mãn như ý, nhưng cuối cùng thân này thành cái gì? Thành một khối vàng, một khối ngọc hay chỉ là một thây thúi! Thân mà chúng ta đang quý trọng, đang lo lắng, tìm kiếm theo thị hiếu của nó, rốt cuộc cũng chỉ là một thây thúi. Vậy mà tất cả người thế gian cứ chấp vào nó và sống theo cách như thế. Chúng ta là người tu, cần phải thấy được lẽ thật đó để tự mình thoát ly. Nếu biết thân này cuối cùng chỉ là một thây thúi, không có giá trị gì thì khi đang mang nó, mình phải sử dụng như thế nào để hữu ích cho đời và đạo chứ không nên cưng dưỡng, đừng vì nó mà đuổi theo vật chất hưởng thụ để rốt cuộc không ra gì. Có một sai lầm lớn mà mọi người đang mắc phải, kể cả người tu cũng không ngoại lệ. Đó là tuy biết thân này cuối cùng sẽ như vậy nhưng cũng lơ là, bỏ qua, chẳng quan tâm, chỉ biết sống hưởng thụ mà thôi!
Hai là đối với tâm mình, chúng ta luôn quý trọng bảo vệ nó. Tất cả mọi người đều cho rằng những điều mình nghĩ ngợi, suy tính, phân biệt, nhận định… là đúng, là hay. Cho nên ai khác với chỗ thấy hiểu, phân biệt của mình là mình phản đối, không chấp nhận. Vì vậy, cả đời cứ buồn phiền những người chung quanh, trách họ sao không giống như mình nghĩ, rồi đâm ra bực bội… Từ đó, cảm thấy sống trong cuộc đời không được toại ý, nên luôn luôn buồn khổ.
Do chấp lầm những suy nghĩ phân biệt, nhận định đúng sai phải quấy ấy, cho đó là tâm của mình nên có sanh tử khổ đau. Thân của mình khi chết chỉ là một thây thúi, còn tâm lăng xăng lộn xộn đó rốt cuộc thành cái gì? Chỉ là những niệm dấy động sanh diệt, hư dối không thật. Vừa dấy niệm khởi nghĩ đó, quan sát lại thì mất, vậy làm sao thật được! Thứ giả dối tạm bợ mà cho là tâm mình, chấp là mình, là mê lầm trầm trọng. Tinh thần là tâm sanh diệt, thể xác là thân nhớp nhúa bại hoại, mà lầm cho đó là mình, làm sao không sanh tử được!
Người thế gian sống chỉ vì hai việc: đó là lo cho thân và bảo vệ suy nghĩ của mình. Một thứ thì nhớp nhúa bẩn thỉu, một thứ chỉ là bóng dáng không thật, mà cả đời mãi đuổi theo rồi cho đó là gốc của cuộc sống. Không biết rằng, ngoài hai thứ tạm bợ giả dối ấy còn cái chân thật miên viễn luôn luôn hằng tri hằng giác nơi mình, mà mình đã bỏ quên, chưa từng nhớ nghĩ tìm kiếm. Cứ chạy theo tâm thô phù sanh diệt liên miên, rồi chấp chặt vào đó, cho nó là mình nên bị che đậy mãi.
Tôi chỉ thẳng cho quý vị thấy. Như hiện giờ quý vị đang ngồi yên lắng nghe, không suy nghĩ tính toán, không luận bàn phân biệt gì cả, lúc này có biết không? Vẫn biết. Vậy nên, tổ Lâm Tế nói: “Ai là người đang nghe pháp!” Lúc đang nghe pháp, không khởi niệm, không nghĩ suy, vậy ai biết lắng nghe? Ngay nơi mình có một tâm chân thật mà quên hoài, cứ nhớ những thứ hơn thua phải quấy tốt xấu, không chịu buông, nên không nhận ra mình đang có cái hằng tri hằng giác hiện tiền không vắng thiếu một phút giây nào.
Những nghĩ suy phân biệt là động, vì nó sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, còn tâm hằng tri hằng giác thì không từng sanh diệt. Chúng ta luôn sống với tâm sanh diệt, tâm sanh diệt này lặng, tâm sanh diệt khác tiếp tục khởi, chứ không chịu xoay lại nhận tâm chân thật của mình. Do tâm sanh diệt dấy lên che khuất tâm xưa nay, mà chúng ta cứ liên tục sống trong trầm luân sanh tử. Bởi vậy Phật mới thương xót nhắc nhở chúng ta rằng, mỗi người đều có viên ngọc quý vô giá. Viên ngọc quý giá mà không chịu nhận, lại mê lầm đuổi theo những thứ sỏi đá tầm thường tạm bợ. Thế nên tôi dạy quý vị ngồi thiền, chính là để dẹp bỏ những vọng niệm lăng xăng, quay lại sống với cái chân thật của mình.
Những phút giây không nghĩ, không suy mà vẫn tỉnh vẫn sáng, ấy là ai? Ai tỉnh, ai sáng? Đó chính là con người thật của mình. Tâm chân thật đó bàng bạc, không sanh không diệt, không động mà mình không biết, không chịu nhận, cứ nhận cái sanh diệt biến động lăng xăng làm mình. Chư Phật ra đời nhắc nhở, chỉ cho của báu mà chúng ta mê lầm quay lưng không chịu thừa nhận. Tôi thấy đó là điều rất đáng buồn đáng thương cho mình! Tại sao mình mê muội đến thế? Thứ tạm bợ giả dối thì quý nhận cho đó là mình, còn tâm chân thật hiện tiền không thiếu vắng lại bỏ qua. Có phải đại si mê không? Cho nên tu Phật là phải được định, để trí tuệ sáng. Định là gì? Lặng tâm lăng xăng đuổi theo dính mắc ngoại cảnh, gọi đó là định. Tâm an định thì cái chân thật hiện tiền là trí tuệ, chứ không có gì khác. Tuệ là trí tuệ sẵn có, nên được gọi là Trí vô sư. Vậy nên chúng ta không cần tìm kiếm Phật ở đâu xa, mà chỉ buông xả hết niệm điên đảo ngay nơi mình, chứ không phải tìm bên ngoài. Chính tâm trong sáng thanh tịnh hiện tiền đó, là tâm Phật.
Tôi rất thích bài kệ của thiền sư Úc sơn chủ ở Trà Lăng. Khi ngài đang cưỡi ngựa qua cây cầu ván thì tấm ván thủng, quăng ngài rớt xuống sông. Ngài ngộ, nói bài kệ:
Ngã hữu minh châu nhất khỏa,
Cửu bị trần lao quan tỏa.
Kim triều trần tận quang sanh,
Chiếu phá sơn hà vạn đóa.
Dịch:
Ta có một viên minh châu,
Đã lâu vùi tại trần lao.
Hôm nay trần sạch sáng chiếu,
Soi tột núi sông muôn thử.
Mỗi người đều sẵn có một viên ngọc minh châu, mà bị trần lao che phủ. Trần lao là gì? Là nghĩ suy phân biệt tốt xấu, hơn thua, phải quấy… Những vọng niệm ấy cứ liên tục dấy khởi nên che phủ tâm chân thật là viên ngọc báu của mỗi người. Ngày nay nhân bị té ngã, ngài tỉnh ngộ. Ngay lúc đó các trần cấu sạch hết, ánh sáng viên ngọc hiện ra chiếu soi khắp cả sơn hà đại địa, không sót một chỗ nào. Như vậy, thiền sư ngộ đạo chính là nhận thấy rõ ràng viên ngọc báu đó.
Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói thí dụ: Một anh chàng nghèo khổ đến nhà bạn chơi, uống rượu say không biết gì, người bạn thương lấy một viên ngọc quý cột trong chéo áo. Người này có viên ngọc mà không biết lấy ra xài, nên vẫn nghèo cùng đi xin ăn. Đến khi gặp lại người bạn, bạn chỉ rõ chỗ để hạt châu, người này nhận ra rồi chừng đó mới hết đời lang thang khổ sở. Cũng vậy, nơi mình đã có cái chân thật mà cứ đuổi theo những thứ tạm bợ hư dối, do đó trôi lăn trong sáu đường.
Khi rơi vào cõi địa ngục, Phật tánh có theo mình xuống địa ngục không? Địa ngục là do nghiệp tạo, mà nghiệp là do tâm lăng xăng sanh diệt tạo nên. Đã tạo rồi phải xuống địa ngục, nhưng lúc xuống địa ngục thì Phật tánh bị hình phạt hay cái gì bị hình phạt? Chỉ là thân giả hiện trong địa ngục chịu khổ chứ Phật tánh không có chịu khổ. Phật tánh tuy cùng theo nghiệp mà không chịu khổ.
Sống ở thế gian, có những người sang cả sung sướng, cũng có những người nghèo khổ đói khát. Người sang cả sung sướng, Phật tánh có sung sướng không? Người nghèo khổ đói khát, Phật tánh có nghèo khổ đói khát không? Chẳng qua chỉ là thân mang nghiệp này, nó sung sướng hay chịu khổ mà thôi. Thân là tạm bợ, còn Phật tánh là cái chân tâm luôn hiện tiền. Nhưng vì quên mất tâm chân thật, chạy theo cái hư giả nên phải chịu đủ thứ khổ đau. Những người tu hành, không riêng tu thiền mà tu theo bất cứ pháp nào của Phật, rốt cuộc cũng phải tìm ra cái thật đó, chứ không tìm cái nào khác. Cho nên tôi nói thẳng chỉ thẳng cho tất cả nghe, biết để đừng có lầm.
Có những người sống vì thân, mà thân có bảo đảm đâu? Ngày nay còn đi đứng vui cười, ngày mai đứt một mạch máu thì đã nằm dài, rồi một ngày nào đó thành thây thúi, không có gì bảo đảm. Thứ không bảo đảm mà dồn hết tâm lực lo cho nó, chạy theo sự đòi hỏi của nó, bị lệ thuộc vào nó thì có đáng thương không? Chúng ta là người tìm viên ngọc quý trong sọt rác, phải tỉnh sáng để nhận chân được cái gì là thật, cái gì là không thật, được như vậy thì mới xứng đáng là người tu cầu giải thoát sanh tử. Cầu giải thoát không cần phải đi đâu, không cần tìm kiếm nơi nào, mà chỉ cần phá tan đám mây mờ trần lao, để sống được với tâm chân thật là giải thoát.
Cho nên tôi nhắc tới nhắc lui, khuyên quý vị phải ngồi thiền. Không phải chúng ta ngồi thiền để có hào quang hay được thần thông, mà ngồi để phá tan trần lao, cho tâm rối loạn lóng lặng lại. Tâm lặng rồi thì cái chân thật hiện tiền. Thí dụ có một cái lu, nếu đem nước đục đổ vô thì nhìn vào không thấy gì hết, nhưng nếu để yên một thời gian những cặn bã bụi đất lắng trong nước xuống thì nước thành trong, nhìn vào thấy trời đất, mặt mũi mình hiện rõ trong lu nước. Lúc nước đục nhìn vô thấy tối, tại sao? Vì bụi đất cặn bã hòa tan trong nước. Khi biết rồi chỉ cần để yên cho cặn bã lắng xuống thì nước trong hiện tiền, không phải tìm kiếm ở đâu.
Nếu cho rằng bỏ nước đục để tìm nước trong thì chỉ nhọc công vô ích. Ngay nước đục mà biết lắng xuống thì thành nước trong. Cũng vậy, tại mình mê lầm nên chạy theo những thứ lăng xăng điên đảo, nếu tỉnh ngộ biết những lăng xăng điên đảo đó chỉ là hư dối, tâm lăng xăng lặng rồi thì tâm trong sáng hiện tiền, chứ không đâu xa. Thế nên nói, tâm chân thật đó không rời tâm lăng xăng. Vì chấp nhận lăng xăng là mình nên tâm chân thật bị ẩn đi, nay biết niệm lăng xăng là hư giả, buông xả nó thì tâm chân thật liền hiện ra ngay. Bởi tâm chân thật đã sẵn có, còn tâm lăng xăng là sanh diệt mới nhiễm ô. Giờ đây, những tạp nhạp sanh diệt lặng xuống rồi thì cái sẵn có hiện ra, không từ đâu được cũng không phải do ai đem đến.
Người tu Phật, nhất là người tu thiền, làm một công việc quá chân thật, quá cụ thể. Có những giây phút chúng ta không suy nghĩ gì hết, lúc ấy chúng ta có biết không? Tuy không nghĩ suy nhưng rõ ràng chúng ta vẫn thấy, vẫn nghe, vẫn biết. Biết đó không phải là cái biết động, do nghĩ suy phân biệt hơn thua phải quấy… mới biết. Biết do phân biệt nghĩ suy là cái biết sanh diệt, tạm bợ theo duyên. Thật tình mà nói, chúng ta rất ngu dại. Vì cái biết do phân biệt quá mạnh nên chúng ta cứ theo nó hoài, còn cái biết chân thật thì mình lại bỏ quên. Nên nói tu là bỏ thứ hư giả tạm bợ để cái chân thật hiện tiền, đây là một việc làm rất chân thật, thực tế chứ không phải huyền bí mầu nhiệm.
Ngày nay người tu hay tìm sự mầu nhiệm, tìm những thứ huyền bí xa vời, cho đó là hay. Thật ra, những thứ đó đối với nhà thiền là trò chơi, không có giá trị gì. Điều quan trọng là mình phải thấy, phải sống với cái chân thật, mới có thể cứu mình không rơi rớt trong cõi khổ. Hiểu như vậy, tu như vậy, mới là người hiểu đạo, ngộ đạo; còn không thì muôn đời đi trong trầm luân sanh tử.
Trong bản Thanh quy của Thiền viện, về phần giới luật trước là đọc lại Mười giới căn bản, sau là lời dạy của ngài Pháp Loa. Trong chúng có nhiều người mới vào chưa hiểu hết ý nghĩa, nên hôm nay tôi sẽ giải thích cho toàn chúng được rõ thêm.
Ở đây đa số là Tỳ-kheo, nhưng sao mỗi tháng chúng ta chỉ tụng lại Mười giới căn bản của Sa-di, mà không tụng giới Tỳ-kheo? Bởi vì, giới Sa-di là giới thấp nhất trong hàng xuất gia mà đôi khi người tu lâu cũng giữ chưa tròn, huống là đối với những phần nhỏ nhặt của giới Tỳ-kheo thì làm sao có thể giữ được. Chúng ta không nói những điều cao siêu không làm được, mà nói những gì chúng ta làm được. Nếu nói rộng hoặc nói nhiều chi tiết quá, mà không giữ hết thì không tốt. Do đó mỗi tháng tôi cho đọc lại Mười giới căn bản, để nhắc cho toàn chúng nhớ mà ứng dụng tu tròn đủ. Tất cả phải giữ cho được, Mười giới này là căn bản cho tất cả giới khác.
Kế đến là lời dạy của ngài Pháp Loa, ngài nói: Giới thượng thừa: Tịnh giới là trong mười hai thời, ngoài dứt các duyên, trong tâm không dấy động.
Ngoài dứt các duyên là đối với sáu trần chúng ta không đuổi theo, không để dính mắc. Sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sở dĩ phạm giới luật là do bị dính mắc, nếu không dính mắc sáu trần là đã giữ giới rất cẩn thận. Nếu ở ngoài không dính mắc, ở trong tâm không dấy động thì đó là định. Không dính với sáu trần, nội tâm an định, đó là gốc của sự tu hành, cũng là gốc của giữ giới.
Trong tâm không dấy động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì sở duyên thức ra, thức không vì sở duyên cảnh vào. Ra vào không giao thiệp gọi là ngăn dừng, tuy gọi ngăn dừng mà chẳng phải ngăn dừng. Nên biết tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế.
Trong tâm không dấy động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Bởi tâm không dấy động, nên tài sắc danh lợi có đến cũng vẫn thảnh thơi nhẹ nhàng, không bị lôi cuốn không bị dính mắc. Đó là tinh thần giữ giới tuyệt vời, chứ không phải tầm thường.
Mắt không vì sở duyên thức ra, thức không vì sở duyên cảnh vào. Sở duyên của mắt là sắc, tức là mắt không đuổi theo sắc nên thức không dấy khởi. Ra vào không giao thiệp gọi là ngăn dừng, tuy gọi ngăn dừng mà chẳng phải ngăn dừng. Nên biết tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như thế. Các căn kia cũng vậy. Nếu sáu thức không chạy theo sáu trần, thì sáu trần không thể tự chui vào trong tâm thức được. Nói một cách đơn giản hơn, chúng ta tu là giữ sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không giao thiệp, tức tâm không chạy theo. Không bị ở trong chạy ra ở ngoài chui vào tức là không dính mắc bên nào hết. Sáu căn không nhiễm, không dính sáu trần thì tâm tự yên định, nên nói đâu có gì gọi là ngăn dừng.
Đây gọi là giới Đại thừa, gọi là giới Vô thượng, cũng gọi là giới Vô đẳng đẳng. Tịnh giới này dù Tiểu tăng cho đến Đại tăng đều phải gìn giữ.
Tâm không nhiễm mới được thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì giới mới thanh tịnh. Người tu lâu hay mới tu đều phải gìn giữ, không để sáu căn dính mắc sáu trần. Gìn giữ được như vậy là tu cẩn mật, là giữ giới thanh tịnh. Nên gọi giới này là giới thượng thừa, tất cả Tiểu tăng hay Đại tăng cũng đều phải gìn giữ.
Nếu để tâm mình phóng loạn chạy theo sáu trần thì dù nói giữ giới cũng không giữ được. Thế nên người tu phải luôn gìn giữ nội tâm, đừng đuổi theo ngoại trần. Sáu căn đối với sáu trần không dính kẹt, đó là thiền. Tâm không chạy theo cảnh, đó là định. Cảnh không dính vào tâm nên tâm rất an nhàn, hay nói cách khác là đã có trí tuệ nên không bị ngoại trần lôi cuốn. Do đó tâm được sáng suốt. Vì vậy người tu ráng giữ căn trần đừng cho dính mắc với nhau, đó là gốc tu mà cũng là giới đức cao siêu thanh tịnh của chính mình.
Tôi nói tóm lược để cho toàn chúng ý thức gìn giữ tâm mình, đừng để chỉ tu cho có hình thức, còn nội tâm không thanh tịnh thì không tốt. Mong tất cả trong chúng tu hành thanh tịnh, được như lời dạy của ngài Pháp Loa.
Hôm nay tôi lặp lại bài thuyết pháp của tổ Bồ-đề-đạt-ma, mà tôi gọi là Bài thuyết pháp kỳ diệu, dù đã trải qua hơn ngàn năm mà âm ba vẫn còn vang dội.
Tổ Bồ-đề-đạt-ma từ Tây Trúc sang Trung Hoa, đến ở chùa Thiếu Lâm, ngồi xoay mặt vào vách. Lúc đó ngài Thần Quang đủ lễ nghi đến hỏi đạo mà Tổ không nhìn. Ngài Thần Quang vì muốn Tổ thấy tâm tha thiết cầu đạo của mình, nên chắp tay đứng ngoài tuyết suốt một đêm. Trong sử sách nói, tuyết ngập lên khỏi đầu gối mà ngài vẫn tươi tỉnh không có một chút gì tỏ vẻ khó chịu.
Tổ Đạt-ma thương tình, xoay ra hỏi:
– Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?
Thần Quang thưa:
– Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ cho con.
– Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa?
Thần Quang nghe Tổ nói như vậy, bèn lén lấy đạo chặt cánh tay trái đặt trước Tổ để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Tổ biết đây là pháp khí bèn dạy:
– Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.
Giá trị của sự cầu đạo là ở chỗ quên mình, quên mình thì mới có thể đạt được đạo viên mãn. Nếu cầu đạo với tâm lơ là, không thích hay gượng gạo thì tu không đến đâu hết. Cho nên hình ảnh đó chính là để đánh thức tất cả chúng ta, người nào muốn tu đạt đến chỗ cứu cánh, phải có tâm liều chết cầu đạo thì mới thành công. Đó là nói về tinh thần cầu đạo quên thân, đến đây mới là phần trọng tâm của bài thuyết pháp.
Ngài Huệ Khả thưa:
– Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?
– Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.
– Tâm con chưa an, xin thầy dạy pháp an tâm.
– Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.
– Con tìm tâm không thể được.
– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Thần Quang nhân đây được khế ngộ, Tổ bèn đổi tên ngài là Huệ Khả.
Khi nghe tổ Đạt-ma bảo “Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho”, trong lúc đột ngột đó, ngài Huệ Khả liền soi lại xem tâm bất an của mình ở đâu. Khi tìm lại nó thì nó mất tăm mất dạng, nên ngài thưa: Con tìm tâm không thể được. Tổ Bồ-đề-đạt-ma liền bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngay đó, ngài Huệ Khả khế ngộ liền biết được đường vào, tức là đã nắm vững được đường lối tu.
Như vậy, lời nói của tổ Đạt-ma qua hai lần chỉ dạy: lần thứ nhất, Tổ bảo “Đem tâm ra ta an cho”, sáu chữ; lần thứ hai là khi ngài Huệ Khả thưa tìm tâm không được, Tổ bảo “Ta đã an tâm cho ngươi rồi”, bảy chữ; tổng cộng hai lần là mười ba chữ. Như vậy, vỏn vẹn chỉ có mười ba chữ thôi mà ngài Huệ Khả ngộ đạo, cho nên tôi gọi là Bài pháp kỳ diệu.
Tại sao tôi nói, đến ngày nay âm ba kia vẫn còn vang dội? Bởi chủ trương và đường lối tu của Thiền tông không lệ thuộc vào kinh giáo, cũng không đi theo thứ lớp văn tự mà là “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Cho nên bài kệ của tổ Đạt-ma nói:
Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền,
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật.
Ngài Huệ Khả do tâm bất an nên đến Tổ cầu xin pháp an tâm, ngay khi thưa: Tâm con bất an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm, là ngài đang chờ nghe Tổ dạy một phương pháp tu cho tâm được an. Đang trông đợi như vậy, bất thần Tổ bảo: Đem tâm ra ta an cho, sửng sốt quá, ngài liền tìm lại xem tâm bất an ở đâu để đem ra. Quay lại tìm thì tâm bất an biến mất, không thấy hình bóng, ngài thật thà thưa: Con tìm tâm không được. Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Như vậy, ngài Huệ Khả làm sao được an tâm và làm sao biết được đường vào? Tôi chỉ cho quý vị thấy chỗ kỳ đặc đó.
Khi tìm tâm thì nó mất không còn bóng dáng, chỗ này về sau Lục tổ Huệ Năng gọi là “vô niệm”. Không còn tăm dạng, không chút suy nghĩ dấy động, ngay đó là vô niệm. Như vậy, điểm chủ yếu tổ Đạt-ma chỉ, không phải là dùng một pháp gì để đàn áp cho tâm an, mà chỉ nhìn lại tìm tâm bất an đó thì nó tự mất. Tâm vọng động lặng, tức là an.
Quay lại tìm tâm bất an, có hai ý nghĩa: thứ nhất là phản quan, tức là nhìn lại; thứ hai là biết nó không thật. Vì khi phản quan nhìn lại thì tâm bất an ấy lặng, không còn tăm dạng. Biết không thật thì ngay đó tâm tự an. Như vậy, chính tâm phản quan thấu suốt được chỗ bất an, biết niệm lăng xăng vốn là vọng thì không cần dùng một pháp nào để trị tâm. Dấy lên, loạn động là hữu niệm. Nhìn lại, lặng mất là vô niệm. Như vậy tâm an hay bất an chỉ ở chỗ vô niệm hay hữu niệm mà thôi.
Khi nghe Tổ dạy, ngài Huệ Khả đã đi sâu vào tâm mình, thấy rõ được những vọng động, mà trước nay lầm chấp là mình cho nên bị nó quấy phá khiến tâm bất an. Thấy được chỗ đó rồi, ngài ứng dụng tu. Ngài Huệ Khả được Tổ chỉ cho con đường tu, tức có hướng để ứng dụng, nên nói được đường vào. Như vậy, Thiền tông có pháp để tu, để vì người không? Sau này, thiền sư Đức Sơn cũng nói “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người”. Bởi chỉ thẳng tâm người chứ không có một pháp gì cả, nên nói không một pháp cho người.
Chỉ cần nhìn lại tâm mình thì vọng liền tan biến mất. Phản quan là một lối nói để mình ứng dụng tu tập. Chỉ dùng trí nhìn thẳng lại tâm bất an đó thì nó tự tan mất. Vọng mất tâm tự an, không nhờ một phương tiện hay cách thức gì để đối trị. Đây không phải là một pháp tu, mà chính là một con đường thẳng để chúng ta trừ dẹp hết những vọng tưởng lăng xăng. Trong khi đi đứng nằm ngồi, bất cứ lúc nào vọng hiện ra thì liền nhìn lại, lập tức vọng lặng. Vậy có tu, có dẹp gì không? Không có phương tiện gì cả.
Tự nhìn lại liền biết rõ chân vọng nơi mình, điều này đã nói lên được ý nghĩa “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Ngay tâm không một niệm, lặng lẽ mà biết, đó là tâm chân thật của mình. Chỉ thẳng nơi tâm chân thật ở mỗi người, tâm ấy không sanh không diệt. Đó gọi là tánh, là Phật tánh của mình, là kiến tánh thành Phật. Như vậy, đi sâu trong chỗ chân thật đó, sống được với nó, gọi là kiến tánh. Kiến tánh là Phật nhân, thấy được Phật nhân rồi thì khi nào công phu viên mãn sẽ đạt được Phật quả, không có gì xa xôi hết. Tinh thần của nhà thiền là như thế.
Khi nhận biết được đường tu, từ đó về sau ngài Huệ Khả luôn ứng dụng tu hành. Một hôm, ngài bạch với tổ Đạt-ma:
– Bạch Hòa thượng, hiện giờ con đã dứt sạch các duyên.
Tổ bảo:
– Coi chừng rơi vào Không!
Ngài thưa:
– Rõ ràng thường biết làm sao Không được.
Ngay đó tổ Đạt-ma liền chấp nhận, ấn chứng:
– Ông được như thế, ta cũng như thế, chư Phật cũng như thế.
Nhờ phản quan lại, nên tất cả tâm lăng xăng mà ngày xưa ngài Huệ Khả lầm tưởng là tâm mình, nay tan biến hết. Cho đến khi dứt hết các duyên, tức là đối với ngoại cảnh trong tâm không còn dính mắc một duyên nào nữa. Tâm không dính mắc thì không dấy niệm, không động. Đó gọi là chỗ chân thật của chính mình, nên ngài nói đã dứt sạch các duyên, tức là không còn dính các duyên. Nghe ngài Huệ Khả nói vậy, tổ Đạt-ma e rằng ngài có thể lầm, có thể rơi vào không. Vì có những trường hợp, người tu khi không còn vọng tưởng thì ngồi khán tịnh hoặc là khán không. Tổ sợ ngài Huệ Khả nói hết duyên là trở thành không, tức không có gì, nên nói coi chừng rơi vào không. Ngài Huệ Khả liền thưa, rõ ràng thường biết làm sao không được. Khi phản quan thì không còn vọng nữa, chỉ còn cái rõ ràng thường biết của mình, đó chính là chân tâm, là Phật tánh nơi mỗi người.
Như vậy, chỉ có mười ba từ của tổ Đạt-ma đã trở thành bài thuyết pháp kỳ diệu. Bài thuyết pháp đó truyền tới đâu? Truyền tới tổ thứ hai là ngài Huệ Khả, rồi tới tổ Tăng Xán, ngài là vị tổ thứ hai người Trung Hoa, nếu tính từ Sơ tổ Đạt-ma thì ngài Tăng Xán là tổ thứ ba ở Trung Hoa.
Trước khi gặp tổ Huệ Khả, ngài Tăng Xán là một người bị bệnh hủi, sống lang thang khổ sở, trong lòng đầy mặc cảm nghĩ mình là kẻ tội lỗi nên mang thân nhiều bệnh tật khổ đau. Thế nên khi gặp Tổ, ngài liền bạch:
– Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình, xin Thầy từ bi vì đệ tử sám tội.
Tổ bảo:
– Đem tội ra đây, ta sẽ vì ngươi sám hối.
Nghe Tổ bảo đem tội ra để Tổ sám cho, ngài nhìn lại xem tội ở đâu. Tìm đáo để, mà vẫn không thấy, ngài thưa:
– Đệ tử tìm tội không được.
Tổ bảo:
– Ta đã vì ngươi sám hối rồi.
Nhìn qua chúng ta thấy hai lối dạy khác nhau, nhưng trọng tâm phản quan thì không hai. Trước đây tổ Đat-ma dạy: Đem tâm ra ta an cho. Bây giờ đệ tử bảo: Đem tội ra ta sám cho. Tìm thử xem tội ra sao, nằm ở chỗ nào để đem ra Tổ sám cho, nhưng tìm lại thì mất tiêu. Vậy nên trong thời kinh sám hối có đọc bài kệ:
Dịch:
Tội tánh bổn không, do tâm tạo,
Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong.
Tội vong, tâm diệt, lưỡng câu không,
Thị tắc danh vi chân sám hối.
(Tánh tội vốn không, do tâm tạo,
Tâm nếu diệt rồi, tội sạch trong.
Tội không, tâm diệt, cả đều không,
Thế ấy mới là chân sám hối.)
Tội tánh bổn không, tánh tội vốn không nhưng do đâu có? Do tâm tạo. Tâm tánh vốn không nên tội tánh cũng không. Chúng ta thấy, trước sau có hệ thống rõ ràng. Trước là thấy tâm không thật, sau là thấy tội không thật.
Ngài Huệ Khả tìm đến tổ Đạt-ma vì cho rằng tâm bất an là thật, khi nghe bảo đem tâm ra ta an cho, ngài quay nhìn lại thì tâm bất an biến mất, ngay đó liền an. Đến ngài Tăng Xán, bởi cứ nghĩ tội là thật, là cụ thể nên mới đến nhờ Tổ sám hối giùm cho hết tội. Tổ Huệ Khả muốn đánh thức cho biết tội không có thật, nên bảo tìm tội đem ra nhưng tìm lại thì tội đâu không thấy. Bởi tâm bất an là do vọng tâm khuấy động, tội thành hình là do vọng tâm xấu ác. Như vậy bất an và tội là từ vọng tâm mà ra, mà vọng tâm vốn không thật nên tâm bất an và tội cũng không có thật. Trước kia, ngài Huệ Khả nhìn thấy được chỗ tổ Đạt-ma chỉ dạy, vọng tâm không thật. Ngay đó tâm lặng lẽ, liền ngộ. Đến ngài Tăng Xán, khi quay nhìn lại thì liền rõ tội cũng không thật, vì vọng tâm không thật thì tội cũng không có thật, tức là sám hối tội xong.
Chúng ta thấy kỳ đặc ở chỗ, nếu tâm là gốc tạo tội, mà tâm vốn không thật thì tội cũng không. Đến chặng thứ hai, khi tìm tội không có thì nói “sám hối cho ngươi rồi”. Ngay đó, ngài Tăng Xán thức tỉnh, được Tổ ấn chứng. Tổ Tăng Xán ngộ cái gì? Chính là nhận ra tội vốn không thật, không có gì để sám nên được giải thoát.
Đến ngài Đạo Tín, vị tổ thứ tư của Thiền tông Trung Hoa. Ngài xuất gia lúc còn để chóp. Năm mười bốn tuổi ngài đến tham vấn tổ Tăng Xán, thưa:
– Xin Hòa thượng từ bi ban cho con pháp môn giải thoát.
Tổ hỏi:
– Ai trói buộc ngươi?
Ngài tìm một hồi, thưa:
– Bạch Hoà thượng, không ai trói buộc.
Tổ bảo:
– Đã không trói buộc, đâu cần cầu giải thoát!
Ngay đó ngài Đạo Tín liền đại ngộ. Bởi thấy nghiệp không thật có, do lầm nên bị trói buộc thành khổ đau. Thấy nghiệp không thật thì liền giải thoát.
Như vậy, chỉ qua ba vị tổ đủ cho chúng ta thấy chỗ lầm chấp. Trước đây lầm cho tâm suy nghĩ là mình thật, nay thấy tánh nó là không. Cho tội là thật có, quán chiếu lại thấy tánh nó là không. Thấy có nghiệp thật, bị nghiệp trói buộc nên luân hồi sanh tử, khi nhìn tường tận thì rõ tánh nghiệp là không. Tất cả mê lầm đó, gốc từ lầm chấp tâm là mình. Do lầm chấp tâm là mình nên theo nó tạo tội, rồi bị nghiệp trói buộc đi trong sanh tử. Phá được chấp tâm rồi thì tội và nghiệp cũng theo đó mà sạch.
Như vậy, từ một bài thuyết pháp của tổ Đạt-ma cho tới đời thứ hai, đời thứ ba, thứ tư cũng theo một hệ thống đó. Chung quy đều dạy phải phản quan. Quay lại tìm xem tâm thật không, tội thật không, nghiệp thật không? Tìm lại thì tâm, tội, nghiệp cũng theo đó mà lặng mất.
Tất cả chúng ta đang sống trên thế gian này, chịu bao nhiêu phiền lụy, gốc từ đâu ra? Từ chấp tâm thật mà ra. Do chấp tâm thật, nên có thiện ác, tốt xấu v.v… rồi tạo bao nhiêu tội lỗi. Bây giờ biết rõ tâm không thật thì tội cũng không thật, tội không thật thì nghiệp cũng không thật. Như vậy là giải thoát. Chỉ có mấy lời thôi mà Tổ đã chỉ ra cho thấy một con đường đi rất thấu đáo, cho nên tôi nói Bài pháp tuyệt diệu là vậy.
Bây giờ tôi đối chứng lời Tổ với Mười bức tranh chăn trâu của Thiền tông, để minh họa ý của Tổ dạy và làm cho rõ nghĩa hơn.
Tranh thứ nhất là Tìm trâu. Chữ “tìm trâu” này, tôi thấy hay đáo để. Tìm trâu là tìm tâm. Tổ Đạt-ma nói: Đem tâm ra ta an cho, là bảo quay lại tìm coi tâm ở đâu? Quay lại tìm tâm là tìm trâu. Có tìm trâu thì mới biết trâu. Cho nên bước đầu trên con đường tu là phản quan, là xoay lại tìm. Tìm cái gì? Tìm con trâu của mình. Thấy nó, gặp được nó, rồi giằng co với nó. Hiện giờ mấy chú đang làm gì? Chăn trâu. Chăn nhẹ nhàng thảnh thơi hay đang giằng co vất vả? Chắc là chăn hơi vất vả. Nghĩa là không chỉ lôi đầu lôi cổ nó lại, mà còn phải một tay dùng roi quất một tay kéo dây vàm mới lôi nổi nó.
Đây là diễn tả giai đoạn đầu phản quan, mới tìm ra dấu tích trâu. Tìm gặp trâu rồi tới chăn giữ trâu, đánh đập trừng phạt dài dài nó mới thuần phục. Cho nên tới mục thứ sáu trở lên, mục đồng mới thảnh thơi ngồi thổi sáo. Đó là minh họa đầy đủ bằng hình ảnh cho mình nhớ mà tu.
Khi tìm lại trâu, nắm được nó rồi điều phục dần đến mục thứ bảy là trâu mất chỉ còn một thằng chăn, đây là chỗ đặc biệt. Có nhiều người nói vọng bị mình biết là sở, mình hay biết vọng là năng. Như vậy tu biết vọng là còn đối đãi năng sở, mà còn đối đãi năng sở thì làm sao tới chỗ tột cùng được?
Căn cứ Mười bức tranh chăn trâu thì ban đầu thằng chăn cốt tìm trâu, được trâu, chăn trâu… Tới chỗ trâu mất rồi thì thằng chăn một mình thảnh thơi. Rồi kế đó thì thằng chăn cũng mất luôn, vì đâu có gì để làm nữa. Đối tượng tức là sở đã mất thì thằng chăn là năng cũng không còn, vậy có gì phải lo. Trước tiên là vọng tưởng không còn chỉ còn cái biết vọng tức là còn năng, rồi từ từ năng cũng mất. Bởi khi có vọng mới biết vọng, hết vọng rồi thì đâu còn vọng nào để biết nữa, nên cái biết đó cũng tự lặng luôn. Năng sở lặng rồi thì đâu có gì là hai, là đối đãi. Vậy mà nhiều người không hiểu, lại nói rằng dạy tu như vậy là còn hai, chưa tới nơi tới chốn. Những bước đầu trên con đường tu hành đã xong rồi, bước qua mục thứ tám là vòng tròn. Đến mục này thì thằng chăn và con trâu đều lặng, tức là chỗ vô niệm của Lục Tổ nói. Như vậy tới đây mới hoàn toàn vô niệm.
Vô niệm rồi thì sao? Nếu tới đây lặng hết không còn gì nữa thì vô vị quá. Cho nên vô niệm không phải là chấm hết. Khi được vô niệm, tức tất cả những vọng thức lặng sạch rồi thì thức chuyển thành trí. Vì vậy, đến đây trâu và chăn không còn, tức là không còn niệm. Mà không còn niệm cần gì phản quan, cần gì biết niệm. Vô niệm rồi thì tánh Phật hiện tiền. Cho nên tới đây phải qua bước khác nữa, đó là mục thứ chín Trở về nguồn cội. Chim bay về tổ, lá rụng về cội là trở về nguồn gốc của chính mình. Nguồn gốc ấy là Phật tánh hay chân tâm. Trở về Phật tánh, chân tâm rồi thì chừng đó diệu dụng không lường được.
Trong đạo Phật thường nói ba thân: Một là Pháp thân, khi trở về nguồn là nhập Pháp thân, là trở về bản thể Phật tánh. Hai là Báo thân, là thân hiển hiện theo hạnh nguyện, tích chứa các hạnh để thành Phật, có đầy đủ công đức. Ba là Ứng thân hay Hóa thân, là thân hóa hiện ứng theo căn cơ, nguyện vọng của chúng sanh.
Tới bức tranh thứ mười là Thống tay vào chợ, minh họa bằng hình ảnh một ông già bụng phệ xách cá chép, quảy bầu rượu. Tại sao lạ vậy? Bởi vì, khi nhập Pháp thân rồi thì phần tự lợi đã vuông tròn nhưng chưa có lợi tha, tức là mới được phần tự giác chứ chưa có giác tha viên mãn, mà không lợi tha thì đâu thành Phật được. Cho nên tới chặng này phải đi vào thế gian giáo hóa chúng sanh, đó là phần giác tha.
Vào thế gian giáo hóa chúng sanh thì phải như chúng sanh, chúng sanh thích uống rượu, ăn cá thì mình cũng phải có cá có rượu. Đây nhằm nói lên ý nghĩa nhập thế để giáo hóa chúng sanh, nếu mình cách biệt lạ lùng quá thì không bao giờ giáo hóa chúng sanh được. Đức Phật ra đời liền bước đi bảy bước trên hoa sen, là ở trong bùn mà không tanh mùi bùn. Hình ảnh này chúng ta phải hiểu theo ý nghĩa thoát tục, chứ đừng nhìn trên sự linh thiêng mà cho rằng ai ra đời cũng khóc oa oa, có người nào sanh ra đi trên hoa sen như vậy đâu, rồi thấy đức Phật cách biệt với mình quá, mình không thể làm được như Phật. Thấy như vậy thì chuyện Phật tu hành, giáo hóa không dính dáng gì tới mình.
Muốn ứng thân ra đời giáo hóa chúng sanh thì phải như chúng sanh. Bởi thế cho nên, tranh này vẽ rất rõ, người đi vô trong thế gian thì phải có cá, có rượu. Vô thế gian là một ông thầy đoan nghiêm khác thường thì người trần tục thế gian đâu dám gần. Như vậy làm sao giáo hóa họ được? Nhập pháp thân rồi mới hiện ứng thân vào trong tam giới, mà ứng thân ở đâu thì phải như chúng sanh ở đó, như vậy chúng sanh mới gần mình. Chúng sanh có thông cảm với mình thì mình mới giáo hóa chúng sanh được. Ứng thân Bồ-tát vào thế gian thường không khác với những chúng sanh khác. Nếu đức Phật ra đời đi bảy bước trên hoa sen, tay chỉ trời chỉ đất như vậy thì làm sao gọi là ứng thân giáo hóa chúng sanh. Đó là điều chúng ta thấy không hợp lý.
Lịch sử người xưa ghi lại, có đạo lý chân thật ngầm ở trong đó mà chúng ta không biết, nên đôi khi chúng ta thấy dường như trái với đạo lý. Ngày xưa người ta quý trọng những gì mầu nhiệm linh thiêng, nếu thấy phàm tình như mình thì mọi người coi thường không phục, vì vậy phải có chút linh thiêng thần thánh. Nhưng thời nay thì khác, cái gì phải đúng với lẽ thật, phù hợp với thực tế thì cái đó mới có giá trị. Cho nên tùy vào hoàn cảnh mà ứng dụng cho thích hợp, phải hiểu ý nghĩa thâm sâu trong đó. Vậy mà chúng ta không tìm, không phăn tận cùng nguồn gốc nên không biết ngọn nguồn.
Mười mục chăn trâu diễn đạt đầy đủ tinh thần Thiền tông, bắt đầu là Phản quan. Suốt cả chiều dài lịch sử hơn một ngàn năm của Thiền tông, từ đường lối chỉ dạy của tổ Bồ-đề-đạt-ma ở Trung Quốc, chủ đích là Phản quan. Các vị thiền sư Việt Nam cũng lấy đó làm tiêu chuẩn, rõ ràng không sai lệch chút nào. Như ngài Tuệ Trung thượng sĩ, là một vị cư sĩ tu hành đắc đạo, cũng nói: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” Nghĩa là phải phản quan lại chính mình, chứ không phải tìm bên ngoài cũng không phải từ ngoài đến.
Tại sao gần đây có một số người tu thiền lại tu thoại đầu? Thậm chí khi nói tới Thiền tông thì người ta nghĩ là phải tu theo thoại đầu. Vậy thoại đầu có đúng với tinh thần của Thiền tông từ buổi đầu truyền vào Trung Quốc không? Tôi đặt câu hỏi này cho quý vị lưu tâm một chút.
Thoại đầu là gì? Thoại là lời nói, đầu là trước lời nói. Trước lời nói là gì? Là vô niệm. Như vậy, tu thoại đầu rốt cuộc cũng phải tới vô niệm.
Lối “trực chỉ” của Thiền tông có từ trước đời Đường ở Trung Hoa, sang đời Tống thì người tu phần nhiều thấy thiền dễ hiểu dễ biết quá, nên cứ ngồi bàn thiền luận đạo với nhau, chỉ nói lý mà không chịu tu hành. Cho nên các vị tổ, từ tổ Hoàng Bá về sau, phương tiện thành thoại đầu để phải tu, chứ không cho lý giải nữa.
Như có vị tăng hỏi Động Sơn Thủ Sơ:
– Thế nào là Phật?
Động Sơn đáp:
– Ba cân gai.
Nói mà không cho hiểu, chỉ bắt tu, bắt phải chết sống với câu “Phật là gì? Ba cân gai”, rồi tự đặt câu hỏi “Tại sao Phật là ba cân gai?” Cứ như vậy mà chết trong câu thoại đầu đó, đến khi tâm trở thành một khối, tức là không còn một niệm nào hết ngoài nghi tình. Như vậy, chư tổ phương tiện dạy tu bằng cách không cho hiểu, không cần hiểu mà chỉ gợi cho nghi. Nghi đến khi nào tâm nghi trùm hết, đập chết mọi vọng tưởng. Tất cả vọng tưởng chết rồi, tâm hết còn lăng xăng, chừng nào khối nghi tan vỡ thì chừng đó ngộ đạo.
Thuật dùng thoại đầu này, trong nhà thiền gọi là “lấy độc trị độc” nên khi tu phải hiểu cho thấu đáo. Niệm vọng tưởng là độc, câu thoại đầu là niệm, cũng là độc. Dùng niệm thoại đầu để đập cho niệm vọng tưởng chết. Đó là lấy độc này trừ độc kia. Như vậy, khán thoại đầu là đang ở trong độc, chừng nào nó thành khối rồi tan vỡ ra, tâm hoàn toàn thanh tịnh chừng đó mới xong việc.
Như pháp tu Tịnh độ là dùng danh hiệu Phật Di-đà để niệm, phải tin triệt để có cõi Cực lạc, khi chết đức Phật Di-đà sẽ đón mình về Cực lạc. Lòng tin đó chính là sức mạnh. Nếu tu niệm Phật mà không tin có cõi Cực lạc, không tin đức Phật Di-đà thì niệm Phật không thành công. Cho nên trước nhất phải có lòng tin, có lòng tin rồi mới nhất tâm niệm “Nam-mô A-di-đà Phật”. Cứ vậy niệm hoài, niệm cho tới vô niệm thì Phật hiện trước mắt mình. Lối tu niệm Phật được dụ như đạp gai thì lấy gai lể. Chúng ta có nhiều vọng tưởng, dụ như đang đạp gai. Giờ muốn lấy cây gai đó ra thì phải lấy cây gai khác để lể nó. Dùng gai mới để lể gai cũ ra, nếu lể ra rồi để cây gai mới trong đó luôn không lấy ra thì có được không? Cây gai cũ đã được lể ra rồi, phải bỏ luôn cây gai mới thì mới tới cõi Phật.
Nhà thiền dùng trí để quán chiếu tức là phản quan. Thấy rõ, biết rõ hư giả không theo thì mọi hư giả từ từ tan biến, cái chân thật hiện ra. Đó là chăn trâu, chừng nào trâu mất chừng đó không còn chăn, con trâu và thằng chăn không còn thì trở về nguồn, đó là nhập pháp thân. Khi nhập pháp thân rồi thì có đầy đủ ứng thân diệu dụng để giáo hóa. Chúng ta bây giờ cũng dùng cách phản quan này, tức là nhìn thẳng nhận ra thấy được lẽ thật. Khi nhìn thẳng thấy rõ niệm là hư dối thì vọng tan mất, như vậy là dùng cái gì để trị? Nên nói, lối tu này không có phương tiện.
Niệm Phật bặt hết vọng tưởng tới chỗ vô niệm, khán thoại đầu đến khối nghi tan vỡ tức vô niệm, còn với lối phản quan thì thấy tất cả tâm niệm không thật nên không còn niệm. Như vậy chúng ta thấy ba lối tu khác nhau, hai lối kia là phương tiện vì có dùng một pháp để tu, còn Phản quan là trực chỉ vì không dùng phương tiện. Nhưng chỗ gặp nhau thì không khác, đó là vô niệm. Do đó chúng ta phải biết, vì trình độ căn cơ khác nên mỗi lối tu có khác, nhưng đích đến cuối cùng thì không khác, vậy nên không có gì phải chống đối lẫn nhau.
Như vậy chúng ta thấy đường đi từ đầu tới cuối rất rõ ràng, không có gì dị thường khác lạ, cũng không có những lối tẻ lạ đời, nay nghĩ cái này mai nghĩ tưởng cái kia, trở thành lộn xộn. Người tu nếu không đủ lòng tin hoặc không thấy được lối đi, nên cứ hướng ngoại cầu xin, hoặc nay đi đường này, mai đi lối kia thì sẽ không tới đâu. Thế nên khi tu phải hiểu đường lối tu cho thật rõ, đã chọn một con đường nào thì phải đi cho tới nơi tới chốn chứ không nên lưng chừng. Nếu đi đúng đường thì chắc chắn sẽ gặp nhau ở chỗ cuối cùng.
Như có bốn người cùng leo lên một ngọn núi. Ở bốn phía của ngọn núi đều có đường đi lên tới đỉnh, người đi hướng đông, người đi hướng tây, người đi hướng bắc, người đi hướng nam, mỗi đường mỗi phương khác nhau nhưng khi lên đến đỉnh thì đều gặp nhau. Như vậy, lúc ở dưới chân núi thì không ai biết ai, nhưng khi lên tới đỉnh núi gặp nhau thì như anh em trong một nhà, không có gì khác biệt.
Cũng vậy, đường lối tu của đạo Phật tuy khác nhau nhưng điểm đến cuối cùng không khác. Thế nên, nếu tất cả chúng ta tu cho đến nơi đến chốn thì kết quả sẽ giống như nhau. Còn các đạo khác, vì mục tiêu lý tưởng khác nhau nên lối chỉ dạy cũng khác nhau, do đó cuối cùng không gặp nhau.
Đường lối tu theo tinh thần của tổ Đạt-ma dạy: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, là lối dạy tu thẳng tắt nhất. Đi thẳng, không quanh co, không nhờ phương tiện. Cho nên tôi thường ví dụ, tu theo Thiền tông như người đi qua cầu độc mộc, chỉ có một cây cau hoặc cây dừa bắc ngang sông rạch, không có tay vịn. Người đi qua được thì hay, không đi được thì té nhào, chứ không nương nhờ một phương tiện nào khác. Tu theo các phương pháp có dùng phương tiện thì thấy dễ tu hơn, nhưng để đạt đến cứu cánh thì cũng không phải dễ. Còn tu theo lối trực chỉ này thì khi mới tu thấy dường như khó, nhưng nếu quyết tâm miên mật thì có kết quả thiết thực không sai chạy, bởi ngay hiện tại tâm an lạc giải thoát chứ không phải chờ đến lúc nào đó mới giải thoát được.
Đường lối tu này khó đi, bởi tuy biết được, rõ được lý rồi, tức là đã biết con đường đi rồi nhưng vì không có phương tiện, nên nhiều người sợ không dám đi. Hoặc nghe nói “kiến tánh thành Phật”, tưởng như dễ thành thánh thành Phật lắm. Nếu chỉ nghe nói thôi mà không chịu tu, cứ đi uống trà, nói dóc với nhau hoài thì không thể nào thành tựu được. Để khắc phục điểm yếu đó người tu phải ngồi thiền, công phu miên mật thì việc tu sẽ mau có kết quả. Còn nghe, hiểu, biết rõ mà không chịu tu, cứ thả trôi, nói suông tán gẫu hoài thì chỉ thành bệnh nói dóc, rốt cuộc chỉ có hại chứ tu không tiến được. Xưa kia chư tổ thấy vậy, sợ đời sau chỉ theo kiến giải chứ không thật tu thật ngộ, nên bảo phải chết với câu thoại đầu để không cho nghĩ gì khác nữa, đó là một phương tiện bắt buộc phải tu.
Từ tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền đến tổ Huệ Năng, lời các ngài dạy khiến người học dễ ngộ như trở bàn tay. Chỉ thẳng, không giấu giếm chút nào hết. Như trường hợp tổ Đạt-ma bảo tổ Huệ Khả “đem tâm ra ta an cho”, hoặc như tổ Huệ Năng nói với ngài Huệ Minh “không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh?”… Những lời nói này đều là chỉ thẳng, lối chỉ thẳng đó gọi là “Trực chỉ nhân tâm”. Tăng ni phải hiểu rõ đường lối, chủ trương tu của mình. Nếu tới Thiền viện tu mà không hiểu rõ rồi sanh ra ngờ vực, đó là điểm yếu. Vì vậy tôi nói cho tất cả biết tường tận con đường đi của mình. Rõ được mới thấy mình thật đại phúc đại duyên, vì không những được gặp Phật pháp mà còn được hiểu lý sâu xa để tu hành.
Tôi nhắc thêm một điều quan trọng, chúng ta đã được gặp Phật pháp là có phước, lại thêm hiểu Phật pháp nữa đó là phước rất lớn, vậy thì phải hành được Phật pháp nữa mới là trọn vẹn. Nếu chỉ hiểu để bàn nói suông thì không đi đến đâu, tu hành sẽ không có kết quả tốt. Mong tất cả chúng, ai hiểu rồi thì cố gắng hành được đến nơi đến chốn. Như vậy không phí một đời tu, xứng đáng xuất gia học đạo, tu hành giải thoát.
Bài pháp của tổ Huệ Năng dạy ngài Huệ Minh “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” rất là sâu xa. Chỉ cần rõ được tinh túy trong đó thì việc tu hành không có gì khó.
Nghĩ thiện nghĩ ác là còn tạo nghiệp. Tạo nghiệp lành thì sanh cõi lành, tạo nghiệp dữ thì sanh cõi dữ. Ở cõi lành hết phước cũng bị rơi xuống, ở cõi dữ hết tội thì trồi lên. Cứ như vậy mà trồi lên tuột xuống, không biết bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp, không biết chừng nào ra khỏi. Luân hồi là đau khổ. Đức Phật thương xót chúng ta là ở chỗ đó. Cho nên dù tạo nghiệp lành được sanh lên thiên đường cũng không nên mừng, vì vẫn còn đi trong luân hồi sanh tử.
Không nghĩ thiện, tức không còn niệm thiện. Không nghĩ ác, tức không còn nghiệp ác. Không có thiện ác, tức là vô niệm. Tâm còn dính hai bên là còn tạo nghiệp sanh tử. Tâm không còn dính hai bên tức không còn tạo nghiệp, ngay đó là giải thoát, không còn nghi ngờ. Hiện tại, nơi mỗi người chúng ta đều có đầy đủ khả năng vượt ra khỏi luân hồi sanh tử đó.
Bởi người thế gian thấy cuộc đời là thật, là khổ, nên thích tạo nghiệp lành để được quả giàu sang vui sướng. Thế nên Phật dạy tu Thập thiện hoặc Ngũ giới là để an ủi chúng sanh, muốn cho chúng sanh được bớt khổ, chứ không phải cầu sanh về cõi lành là điểm chủ yếu rốt ráo của Phật. Cứu cánh của đạo Phật là giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử thì phải không còn dính hai bên. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác chính là dẹp hai bên, cứu cánh giải thoát sanh tử.
Bài thuyết pháp tuyệt diệu của tổ Bồ-đề-đạt-ma, chỉ có mười mấy chữ mà giờ chúng ta học tu theo cả đời chưa xong. Như vậy mới thấy, người xưa không cần nói nhiều mà chỉ thẳng. Tuy nhiên chỉ thẳng đó là chỉ thẳng với hạng người có trí, chứ còn gặp ai cũng chỉ thẳng thì người ta không thể hiểu nổi. Cho nên người đi giáo hóa phải biết trình độ chúng sanh để tùy duyên độ họ, làm sao đưa họ đi từng bước tiến đúng mục đích nhắm.
Người hướng dẫn phải hướng dẫn đúng và có con đường đi rõ ràng. Không thể nay chỉ đường này, mai chỉ đường kia, mốt chỉ đường nọ. Người đang ở hướng tây thì bảo họ đi thẳng đường hướng mãi sẽ tới chóp núi, người ở hướng đông thì bảo đi đường hướng đông thẳng lên tới đỉnh thì sẽ gặp nhau… Đừng một lúc mà chỉ dẫn đi hai ba đường, làm cho người đi bán tín bán nghi, không biết lối nào mới tới đỉnh. Nếu cứ đi loanh quanh hoài thì tới chừng nào mới lên tới chóp núi.
Phật dạy đường lối tu nào cũng đều có điểm chủ yếu, chúng ta tu cần phải nắm cho rõ. Tu theo Thiền tông thì dùng trí phản quan của chính mình. Tu thiền công án hay thoại đầu thì dùng nghi. Tu về Tịnh thì tín hạnh nguyện phải đầy đủ… Tóm lại, tu pháp nào cũng phải thiết tha, đặt hết tâm mình vào đó. Tin phải tin cho thiết tha, nghi phải nghi cho thật đáo để, còn phản quan thì phải thật thấy tới nơi. Tu như vậy mới có kết quả.
Thời đại ngày nay khoa học phát triển, con người mở mang hiểu biết nhiều, cho nên đa phần thích dùng trí hơn dùng lòng tin. Chính vì vậy mà ngày nay Phật tử hưởng ứng tu thiền nhiều. Ngày xưa ông bà mình tin đủ thứ, tin có Phật, có quỷ thần v.v…, do lòng tin nhiều nên dạy những gì về lòng tin thì người ta dễ làm, còn dạy về trí thì khó làm. Ngày nay con người ít nghiêng về lòng tin mà dùng trí nhiều, cho nên chúng ta bắt đầu khơi mào để hướng mọi người đi vào con đường khai mở trí tuệ. Hướng đi này nói lên lẽ thật, ai thích dùng trí tuệ để thấy được lẽ thật thì theo đó mà tu, một khi đã thấy được lẽ thật rồi thì tiến mãi không lùi. Nếu bảo tin thôi mà không chỉ ra sự thật, cũng không cho biết đường hướng rõ ràng thì làm sao người ta tin được; không tin thì họ không chịu tu. Thế nên ở mỗi thời đại có mỗi cái hay riêng, không thể nói đâu là ưu, đâu là liệt.
Thỉnh nguyện kỳ này tôi thấy toàn chúng rất có tinh thần tự giác, ai có lỗi thì ra sám hối. Điều đó đáng mừng, vì cứ mỗi lần thỉnh nguyện là mỗi lần chúng ta biết chừa bỏ những lỗi lầm và cố gắng tinh tấn tu để được trong sạch hơn. Hôm nay tôi có vài việc nói với toàn chúng.
Trước hết tôi nhắc nhở để toàn chúng ý thức, điều này rất nhỏ nhưng cũng phải dạy. Đó là trong buổi thỉnh nguyện, trên là người chủ thỉnh nguyện, dưới là đại chúng, cho nên khi thỉnh nguyện đúng pháp thì phải nói: “Thưa Thầy” hay “Thưa Hòa thượng và toàn thể đại chúng”. Còn nói: “Thưa Thầy, thưa quý thầy…”, nói thế là sai sót. Hoặc có thể nói: “Bạch Hòa thượng, thưa quý thầy…”, chứ không thể nói chung là “Bạch quý thầy”, nói như vậy là coi như ngang nhau, không ai lớn hơn ai. Ngôn ngữ tuy là chỉ tạm dùng, nhưng chúng ta là người tu phải nói năng cho có tôn ty trật tự đâu ra đó. Nếu chúng ta nói năng không đàng hoàng, có khách tới nghe mình thưa trình như thế người ta đánh giá không hay. Đây là chuyện nhỏ thôi, với tôi thì không quan trọng, nhưng với người nhỏ nếu để vậy thì sẽ thành thói quen không tốt.
Tôi có một điều vui, nói cho đại chúng biết. Thật ra từ khi tu cho tới sau này, tôi cứ mặc cảm thầm nghĩ mình đang ở thời mạt pháp. Phật đã nói, thời mạt pháp thì một muôn người tu, không có bao nhiêu người ngộ hay tu chứng. Cho nên tôi thấy rằng, thời nay tu khó có được tỉnh giác, hoặc khó nhận được cái chân thật như người xưa nên tôi rất ngại. Nhưng khi quyết tâm tu rồi, tôi thấy có được kết quả nên rất vui, nghĩ đây cũng là túc duyên nhiều đời của mình. Thường trong nhà Thiền thường nói “kiến tánh” hay “ngộ đạo”, nhưng ở đây tôi chỉ dám nói là “sáng được chân lý” hay “rõ lẽ thật nơi mình” mà thôi. Có được niềm vui như thế, tuy nhiên tôi vẫn còn chút ngại, không biết hết đời tôi còn ai có khả năng, có đủ phước duyên nhận ra lẽ thật, kế tiếp việc này hay không? Ngày xưa tôi mơ ước, chỉ cần được vài ba người thấy được lẽ thật là đủ rồi. Nhưng bây giờ, dưới tôi có đến vài mươi vị đủ niềm tin vào đường lối tu. Như vậy là tôi mãn nguyện rồi. Từ giờ đến lúc tôi nghỉ, còn hơn một năm nữa, tôi tin chắc sẽ còn nhiều người được sáng tỏ. Tôi nghĩ, cho dù là thời mạt pháp nếu chúng ta quyết tâm tu thì vẫn có kết quả tốt.
Lúc trước tôi thường nói, thời mạt pháp hay thời chánh pháp là tùy theo sức tu hành tinh tấn của mình. Bởi ở thời chánh pháp được gặp Phật mà cũng có nhiều người thối Bồ-đề tâm, tu không nổi phải trở về nhà. Đa số hay có quan niệm, thời này là thời mạt pháp nên chỉ tu gieo duyên để đời sau tiếp tục, đợi khi nào gặp Phật ra đời thì chừng đó mới giác ngộ được. Nghĩ thế nên tu thì cứ tu thôi, còn ra sao thì ra, tới đâu thì tới. Chỉ cần bước vào Tam bảo để có duyên lành, rồi từ từ tiến lần lên chứ không quyết tâm tu cho sáng đạo. Thời mạt pháp mà chúng ta quyết chí, cố gắng tu hành thì cũng có thể chuyển như thời chánh pháp. Nếu việc tu cứ thả trôi hoài thì dù là thời chánh pháp cũng không thể tiến được. Đó là lẽ thật.
Khi tôi giảng ở Hà Nội, có người hỏi: “Khi Thầy nghỉ hoặc Thầy tịch, dưới Thầy còn ai có đủ khả năng thay thế Thầy không?” Tôi nói thẳng: “Phật tử đừng lo điều đó. Nếu tôi mất thì sẽ có nhiều người thay thế tôi. Hiện giờ, môn hạ tôi có hơn năm trăm tăng ni đang tu học, chỉ cần hai mươi phần trăm trong số đó, tức có khoảng một trăm người đáng tin cậy. Nếu mất một người mà còn một trăm người thì đâu thiệt thòi gì.” Nói thì nói vậy, nhưng tôi không biết có thể được như vậy không? Tuy nhiên tôi có cái nhìn rất lạc quan. Sau khi tôi mất, dưới tôi có những huynh đệ nỗ lực tu theo đường hướng này được kết quả tốt, các vị này sẽ dìu dắt những người sau. Rồi người sau cũng cố gắng tu, họ sẽ lại tiếp tục hướng dẫn hậu bối, hết lớp này đến lớp khác. Được như vậy thì qua một đời tôi, chắc chắn không dưới trăm người kế tiếp. Cứ thế, những đời sau nữa cũng sẽ có được một số người kế tục.
Sở dĩ tôi có cái nhìn lạc quan như vậy, là vì gần đây tôi nhận thấy cả hai chúng tăng ni, trong thời gian tu đều có kết quả tốt. Có nhiều vị rõ được lẽ thật, tôi rất mừng. Vì thấy rằng, ngọn đèn thiền tông vẫn sẽ còn tiếp tục cháy sáng. Qua những lần nhập thất ra, tăng ni trình bày việc tu của mình, có người đã thấy rõ ràng, có người lóe thấy. Dù chưa tới đâu nhưng cũng có đủ lòng tin, từ đó tu từ từ tiến lên đến chỗ thật thấy. Tôi rất hoan hỷ, tin rằng sau này sẽ còn có nhiều người tiếp nối, chứ không đến nỗi tận diệt như nhiều người nghĩ.
Trong chúng có những huynh đệ tu tiến đáng mừng, tôi nói lên đây để toàn chúng biết mà tất cả cùng cố gắng, người ta tu được thì mình cũng phải tu được. Như trong Quy Sơn Cảnh Sách, tổ Quy Sơn nói: “Bỉ ký trượng phu, ngã diệc nhĩ; bất ưng tự khinh nhi thối khuất”. Người ta là trượng phu thì mình cũng vậy, đừng nên tự khinh mà thành lui sụt. Cho nên toàn chúng phải cố gắng, tin rằng việc tu này ai cũng có thể tu được, đừng mặc cảm tự ty rồi nghĩ rằng huynh đệ kia giỏi, có phước đức nhiều, còn mình kém phước nên không giỏi, tu không tiến. Nếu ai nỗ lực tu, quyết tâm tu cũng đều có kết quả tốt, hoặc nhiều hoặc ít, đừng có nghi ngờ, đừng e dè mà thối bước, cho rằng mình không có phần. Mong toàn chúng cố gắng cùng tu hành tinh tấn.
Hôm nay có nhiều việc cần phải sắp đặt trong chúng, nên tôi chỉ nhắc chung một vài điều.
Chúng ta ở đây là Thiền viện, vì vậy tất cả các thiền sinh, từ lớn đến nhỏ, đều phải sống đúng nề nếp, đúng tư cách của một thiền sinh ở tại thiền viện. Không nên sống tự do phóng túng, ưng làm gì thì làm, không có nề nếp gì hết. Nề nếp không phải là bó buộc, cũng không phải làm phiền hà, mà tập cho mình có đủ tư cách của một vị tăng. Các vị đang tu ở Thiền viện, cần phải có nhận thức đúng đắn, biết rõ việc gì nên làm thì phải tuân theo, việc gì không đúng thì phải tránh ngay. Một người sống như vậy, nhiều người cũng sống được vậy thì Thiền viện mới tốt đẹp, chúng mới có nề nếp. Nếu không có nề nếp thì sự tu hành không tiến, cũng không làm mẫu mực cho đời sau được.
Ở trong chúng, dù việc nhỏ việc lớn gì cũng phải sống theo nề nếp, để tự bản thân mình khép vô khuôn phép không tự do phóng túng, đồng thời các huynh đệ sống chung thấy mình không chướng ngại. Giờ chúng làm việc này mà mình đi làm việc khác thì tự nhiên người ta thấy mình là chướng ngại. Một người như vậy, rồi nhiều người cũng như vậy thì Thiền viện sẽ không thành Thiền viện nữa. Cho nên toàn chúng đều phải sống theo căn bản nề nếp của Thanh quy. Không làm điều gì trái thì nếp sống tốt, sự tu hành sẽ tiến. Mình tiến được thì huynh đệ cũng tiến được, còn thiếu trật tự thiếu nề nếp thì tu rất khó tiến, chẳng những khó tiến mà sau này sẽ bị người chê cười mình, đi tu lâu mà không có tư cách, không có quy củ. Như vậy không làm lợi cho mình, cũng không lợi cho người. Mong tất cả chúng đều phải cố gắng, sống cho có tư cách, có nề nếp, đừng để có những sơ sót không tốt. Đó là phần nhắc nhở, kế đây là phần sắp đặt công việc, lẽ ra tổ chức một buổi họp để bàn bạc công tác chung. Nhưng để đơn giản, tôi cho ngay trong buổi thỉnh nguyện sắp đặt luôn, khỏi phải mất thời gian thêm.
Hôm nay tôi cho hai vị là Tuệ Giác và Tuệ Tĩnh đi ra nước ngoài làm Phật sự, thời gian không nhất định, từ ba tháng trở lên, tùy duyên. Nhân vì bên Mỹ có một số Phật tử tu thiền cùng phát tâm thành lập Thiền viện cúng dường, tôi nhận và để tên là Đại Đăng. Thiền viện Đại Đăng sẽ khánh thành vào ngày 15, 16 tháng 9 dương lịch (2001). Quý Phật tử mời tôi sang đó, chứng minh lễ khánh thành và đồng thời cho người ở lại chỉ dạy Phật tử tu Thiền. Do đó hôm nay tôi cử hai vị Tuệ Giác, Tuệ Tĩnh sang Mỹ chịu trách nhiệm Trụ trì. Tôi có dự tính như vậy, nhưng không biết các vị có trụ được không, có ở lại được lâu để hướng dẫn Phật tử tu học hay không? Trước khi đi, hai vị thỉnh cầu tôi chỉ dạy thêm. Do thời gian ít, nên tôi chỉ nhắc vài điểm then chốt để khi qua bên Mỹ, các vị biết đường lối tu hành và hướng dẫn Phật tử không đi lệch với chủ trương của Thiền viện.
Phật tử ở nước ngoài tin tưởng tăng ni tu hành tại Trúc Lâm là những người mẫu mực, hiểu đạo, có thể dạy tu học tốt, cho nên mới lập Thiền viện thỉnh qua cúng dường. Với lòng tin tưởng đó, các vị đi qua làm Phật sự phải đem những điều hay mà mình đã học được, hướng dẫn cho Phật tử cùng tu tập đúng theo tinh thần Thiền viện. Ở đâu cũng vậy, có cái hay có cái dở, phải biết gom nhặt những điều hay để ứng dụng tu và dạy người cùng tu. Những việc làm nào không hay thì cố gắng tránh, những việc không cần thiết thì không nên làm. Muốn được như thế phải lấy Thanh quy làm nền tảng, sống đúng theo tinh thần của các Thiền viện trong nước. Dù năm, ba người cũng phải thực hành theo Thanh quy, không đi lệch lạc. Sống ở nước ngoài tự do, cuộc sống vật chất tiện nghi đầy đủ, có rất nhiều duyên cám dỗ. Các vị qua đó làm phải cố gắng sống tỉnh giác, làm sao giữ được nguyên vẹn tâm ban đầu của mình, không gì có thể cám dỗ được, như vậy thì Phật sự mới thành công. Hôm nay tôi chỉ nhắc những điều căn bản, còn những việc chi tiết khác thì khi nào cần tôi sẽ dạy riêng.
Do có sự phân công mới, nên phải cử người thay thế. Trước đây vì Thủ bổn xin nghỉ, nên Tuệ Giác làm Phó quản chúng kiêm luôn Thủ bổn, nay tôi cử lại hai vị khác thay thế. Toàn chúng phải hiểu, khi sắp xếp chỉ định ai làm việc gì là thầy đã biết khả năng của đệ tử, nên các vị phải hoan hỷ nhận lãnh và làm tròn trách nhiệm được giao phó. Phó quản chúng thì làm trách nhiệm của Phó quản chúng, Thủ bổn làm trách nhiệm của Thủ bổn, mỗi vị phụ trách công việc riêng, người được cử thì phải cố gắng làm đúng với trách nhiệm của mình.
Phó quản chúng chịu trách nhiệm phân chia đồ dùng cho chúng. Những nhu cầu cần thiết trong chúng, nếu tại Thiền viện không có sẵn thì xin mua sắm thêm để chia huynh đệ dùng. Nhưng phải thưa qua Quản chúng, Quản chúng cho phép thì mới được mua, không nên tự ý muốn làm gì thì làm. Chúng làm sai điều gì thì Phó quản chúng trình với Quản chúng, để Quản chúng xử phạt chứ Phó quản chúng không có quyền xử phạt. Đây là điều thiết yếu. Bởi vì ở Thiền viện là cuộc sống của một tập thể cùng tu học, nên khi làm việc chung đừng làm theo ý riêng tư của mình, mà phải với tinh thần huynh đệ cùng hợp tác, từ người trên đến kẻ dưới có sự thông cảm nhau. Tôi nhắc nhở như thế, sau này các vị có trách nhiệm đều phải làm cho tròn, cho đúng.
Thủ bổn là người giữ gìn tiền bạc của thiền viện, để chỉ ra cho người có nhiệm vụ mua sắm chi tiêu. Cho nên phải cần kiệm và biết sử dụng đồng tiền đúng lúc đúng chỗ, những gì đáng xài thì xài, không đáng xài thì không xài, tránh chi tiêu thái quá. Số tiền được xuất ra chi dụng thường ngày hoặc chi cho Tri khố thì chỉ cần ghi sổ, còn khi nào có việc bất thường phải xuất tiền nhiều thì phải trình với Quản chúng, được sự đồng thuận mới xuất chứ không được tự ý. Nếu tự ý xuất, đôi khi chủ quan không cân nhắc thì số tiền thu nhập không đủ để chi phí cho chúng.
Do sự đặc thù của các Thiền viện là chúng không được giữ tiền riêng, nên khi Phật tử cúng trai tăng chúng ta không có chia tiền riêng cho mỗi người, vì vậy Phật tử chỉ cúng bữa cơm cho chúng. Nếu số tiền trai phạn đó, Tri khố sử dụng không hết thì giữ lại để khi khác có xài. Ở dưới Thường Chiếu, Trụ trì rất kỹ, có Phật tử cúng trai tăng hay giỗ chạp gì đó thì giao cho Tri khố, làm cho tươm tất một chút. Tiền cúng trai phạn còn dư thì Tri khố phải để dành, chi tiêu cho những bữa ăn khác trong năm chứ Trụ trì không xuất tiền thêm. Tại đây có hơi dễ hơn, nếu ai cúng trai phạn thì Thủ bổn đưa tiền cho Tri khố làm, qua đám rồi cần thì cũng xuất bình thường để Tri khố dễ làm việc. Do đó, ở đây Thủ bổn quan trọng là vì gìn giữ của chung, nhưng việc làm thì không nhiều.
Tôi phân công, sắp đặt và nhắc nhở như vậy. Toàn chúng trên dưới đều hoan hỷ vâng làm, đó là điều rất tốt. Mong toàn chúng luôn giữ được tinh thần hòa hợp như thế.
Thỉnh nguyện xong, tôi có ít lời nhắc nhở toàn chúng. Chúng ta sống trong thời mạt pháp, sự tu hành có nhiều chướng ngại, mà chúng tăng ở Thiền viện đông đảo nhưng sự tu hành luôn được yên ổn, bệnh thì có thuốc uống, ăn mặc cũng được đầy đủ, mọi nhu cầu đều không thiếu thốn, đó là phước đức rất lớn của chúng ta. Do đó, điều quan trọng hơn hết là toàn chúng phải nỗ lực tu. Vì đây là chỗ chuyên tu, nên phải dồn hết tâm lực trong sự tu hành của mình. Không phải chỉ có danh từ chuyên tu, rồi sống lơ thơ lửng thửng qua ngày không chịu tu hành. Người nào ở đây không cố gắng hết sức tu thì chẳng những không xứng đáng, mà cũng là trái với chủ trương của tôi. Toàn chúng nên nhớ, làm sao ở đây một năm xứng đáng một năm, hai năm xứng đáng hai năm. Mỗi ngày qua sự tu học của mỗi vị đều có tiến bộ, không dừng cũng không lui sụt, như vậy đời tu của mình mới không uổng phí. Phật tử đối với tăng ni rất tốt, lúc nào cũng hết lòng hết dạ lo cho mình tu, thế nên nếu lơ là không chịu tu ắt là mắc nợ tín thí, tự chuốc họa vào mình.
Tôi nhớ kinh trong A-hàm có kể câu chuyện tôn giả A-nan thấy bảy điềm mộng, trong đó điềm mộng thứ ba ngài thấy các Tỳ-kheo xuất gia thì rớt xuống vũng bùn ô uế, còn cư sĩ tại gia thì ngoi đầu vượt lên trên. Ngài đến thưa với Phật, đức Phật bảo: Giấc mộng đó là điềm báo đời mạt pháp sau này, người xuất gia thọ của đàn-na thí chủ mà không chịu nỗ lực tu hành, còn ôm lòng ganh ghét sát hại lẫn nhau. Bởi thọ càng nhiều thì tội càng nặng nên khi chết đọa ba cõi dưới, còn thí chủ do tín tâm cúng dường nên được phước sanh lên các cõi lành sung sướng, thảnh thơi.
Chúng ta ngày nay, Phật tử hỗ trợ đầy đủ, từ thuốc men cho tới cơm nước, áo quần… Cho nên tăng chúng phải ráng tu, để tự độ mình rồi sau độ người. Xứng đáng là bậc đi trước dẫn đường, cứu giúp chúng sanh. Đừng để mình trở thành người rớt xuống hầm sâu địa ngục, còn những người cúng dường thì đi lên các cõi lành. Điều này thật là tủi nhục, vì đi tu không tiến lên mà còn tuột xuống thấp.
Mong rằng tất cả ý thức trân trọng duyên lành của mình mà nỗ lực tiến tu. Đối với những chuyện vinh nhục ở ngoài đời đừng lưu tâm tới, cũng không bận lòng đến danh lợi trong đạo. Đừng mong cầu chức này, chức nọ cho có tiếng tăm, quyền lợi. Xem tất cả danh lợi, nhục vinh… chỉ là những thứ tầm thường, không cần quan tâm. Chỉ nên quan tâm việc tu của chính mình, xét xem hôm nay tu có tiến hơn ngày hôm qua hay không. Nếu thấy có tiến thì vui, không tiến thì cố gắng tu nhiều hơn nữa. Chúng ta đã vì sự tu mà cạo đầu ở chùa thì phải cố gắng tu hành, chỉ một bề nhìn thẳng tâm mình để nỗ lực nhiều hơn, để giải thoát sanh tử. Không nên so bì với người khác. Nếu cứ nay nhìn người này, mai ngó địa vị người kia… rồi mơ ước mình cũng được vậy, thật là uổng công xuất gia tu hành, mà đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo. Mong tất cả cố gắng!
Hôm nay thỉnh nguyện, có vài người phạm lỗi đã tự giác ra sám hối, đó là điều rất tốt. Mong rằng trong chúng, mỗi người đều có tinh thần tự giác cao như thế. Chúng ta ráng gìn giữ sự tu hành, những gì yếu dở thì liền biết sám hối cho tiêu nghiệp, đừng vì sợ sệt mà không dám phát lồ, dù là lỗi nhỏ cũng quyết không để tái phạm. Được như vậy trong chúng mới thật sự thanh tịnh.
Tôi nhắc lại, chúng ta tu trong thời mạt pháp, người tu đông mà người đạt đạo rất ít, vì có nhiều thứ chướng ngại cho việc tu hành. Ngày xưa đức Phật đã giác ngộ viên mãn, nên khi muốn độ ai hoặc cần đến nơi nào để giáo hóa thì ngài dùng trí tuệ sáng suốt quán chiếu. Nếu thấy người nào có duyên, nơi nào phù hợp thì Phật đến đó. Giáo hóa trăm người thì trăm người tu hành đều có kết quả, nên thời Phật được gọi là Chánh pháp. Kế đó là thời tượng pháp, tượng là tương tự, giống giống như vậy. Thời này đệ tử Phật tu chứng A-la-hán rất đông, khi giáo hóa các ngài cũng biết căn cơ của người nhưng không bằng đức Phật, nên giáo hóa một trăm người thì ngộ đạo chừng năm chục người. Đến thời chúng ta là thời mạt pháp hơi xa, những bậc thầy giáo hóa đa phần chưa chứng A-la-hán, do chưa giác ngộ nên không nắm vững trình độ căn cơ của người, do đó một muôn người tu chỉ có một số ít người ngộ mà thôi.
Khi xưa nghe tới chỗ này tôi rất là buồn, tôi nghĩ rằng thời mình tu được mấy người ngộ, nên từ khi khởi lập các Thiền viện tới giờ, tôi không dám mơ ước nhiều. Chỉ mong trăm người tu được một hai người tỉnh, chỉ tỉnh thôi chứ chưa dám nói ngộ, vậy là tôi cũng đủ vui rồi. Thế nhưng từ ngày có Thiền viện Trúc Lâm đến giờ, số chúng tuy chưa tới trăm người mà cũng được năm ba người tỉnh. Đây là điều rất đáng mừng. Vì trong thời mạt pháp mà chúng ta có cơ duyên tốt, biết rõ được tâm tư cùng nghiệp chướng của mình mà thức tỉnh tu hành. Phân minh chân vọng rõ ràng, không còn lầm lẫn. Một khi có được vài người tu hành có kết quả tốt thì các huynh đệ khác cũng đủ niềm tin, mà cố gắng tu hành để cùng tỉnh như nhau. Tỉnh tức là qua được cơn mê, là dừng được nghiệp, có thể thấy được con đường giải thoát rõ ràng không nghi ngờ. Nếu còn mê thì còn tạo nghiệp, là tiếp tục đi trong luân hồi sanh tử.
Tất cả chúng ta có phước duyên lớn, nên mới được tụ hội về một nơi yên ở tu hành. Tôi tin rằng, trong chúng nếu ai cố gắng tu rồi cũng sẽ được thành tựu như nhau, không phí uổng đời tu của mình. Có những người tu thật đáng thương, cả đời chỉ đi cúng tụng cho người, còn tự mình không biết được con đường giải thoát là gì, nên đôi khi còn phạm phải điều lầm lỗi, khiến chịu trầm luân. Tuy thấy đáng thương, nhưng không biết làm sao để cảnh tỉnh.
Thế nên đã có phước duyên tốt rồi thì cố gắng tu hành, đừng chần chừ cũng đừng hẹn. Ngày nào tu cố gắng trôi tròn ngày đó, đừng nói ngày nay mệt nghỉ để ngày mai tu. Chúng ta không thể bảo đảm mạng sống của mình tới lúc nào, cũng không chắc chắn sẽ mạnh khỏe bao lâu, nên ngày nào còn mạnh khỏe an ổn thì ráng tu, đừng suy nghĩ sai lầm mà bỏ mất thời gian quý báu của mình.
Chúng ta tu, ai cũng có lúc sơ suất, có lỗi lầm. Biết tỉnh giác sám hối, đó là điều tốt. Nhờ người lớn nhắc nhở khuyên răn mà sự tu hành ngày càng tinh tấn, tất cả lỗi lầm ngày càng tiêu mòn. Cho nên tinh thần thỉnh nguyện chính là để giúp chúng ta trong sạch, có sức tiến lên.
Hôm nay tôi phân công việc cho quý thầy đi xây dựng thiền viện Trúc Lâm Yên Tử ở miền Bắc. Sở dĩ phải xây dựng thiền viện Trúc Lâm Yên Tử là vì Trúc Lâm Yên Tử là chỗ tôi đã quy hướng lâu rồi. Chúng ta muốn Phật giáo Việt Nam có nền tảng thật sự thì phải tìm cái mốc nào có đủ điều kiện, để lập thành nền móng vững chắc cho Phật giáo Việt Nam. Kiểm lại lịch sử, tôi thấy chỉ có Phật giáo đời Trần là đầy đủ tính chất của Phật giáo Việt Nam.
Sơ tổ của phái thiền Trúc Lâm Yên Tử là vua Trần Nhân Tông, một vị vua Việt Nam thời nhà Trần. Sau khi nhường ngôi lại cho con, nhà vua đi tu giác ngộ và trở thành Tổ sư của hệ phái này. Từ phái Trúc Lâm Yên Tử phân bủa trải dài mấy thế kỷ sau và thầm lặng cho đến bây giờ. Như vậy, hệ phái Trúc Lâm là từ một vị tổ người Việt Nam đi tu, mở ra một dòng Thiền hoàn toàn mang bản sắc Việt Nam. Đồng thời, núi Yên Tử cũng là chỗ các vị tổ sư tu Thiền, từ ngài Hiện Quang cuối đời Lý cho đến những vị sau này như ngài Đạo Viên, Viên Chứng, Đại Đăng, Huệ Tuệ v.v… Chúng ta muốn cho nền tảng Phật giáo Việt Nam vững bền thì tự nhiên phải có một chỗ tựa thật bền vững. Đây là lý do mà tôi chọn lựa để khôi phục Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Hệ thống tu thiền ở Yên Tử rất được người miền Bắc quý trọng. Theo thống kê của Ban quản lý di tích, vào năm 1992, số người hành hương lên Yên Tử khoảng hai vạn người. Nhưng hiện nay, năm 2001 con số đó đã lên tới hai mươi vạn người. Con số này cho thấy, Yên Tử là nơi quy hướng của tất cả Phật tử trong nước. Ngày nay với chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần, tôi để tên là Trúc Lâm Yên Tử. Trước kia, khi xây Thiền viện ở Đà Lạt, tôi để tên là Thiền viện Trúc Lâm. Do lúc ấy ngọn núi này chưa có tên, tôi tự đặt là núi Phụng Hoàng, thế nên mọi người gọi ở đây là Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng. Đó là bởi tôi đặt tên Trúc Lâm, chứ không phải Trúc Lâm Yên Tử, vì ở đây là Lâm Đồng còn ở ngoài Bắc mới thật sự là Trúc Lâm Yên Tử.
Với chủ trương tu tập và khôi phục thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, mà ở ngay cội gốc mình không lập được Thiền viện thì thật thiếu sót. Cho nên vừa rồi, Ban di tích và các vị có thẩm quyền tại đó vào đây mời tôi hợp tác để xây dựng tái thiết lại Trúc Lâm Yên Tử. Do tôi tuổi già sức yếu không thể leo lên núi cao nổi, nên họ cho tôi tùy chọn một địa điểm thuận tiện ở dưới thấp, nằm trong quần thể các di tích của Yên Tử. Cuối cùng chọn chùa Lân, tức chùa Long Động, cho tôi trùng tu lại và đồng thời thành lập Thiền viện ở tại đó. Bởi thế, chúng ta có bổn phận phải ra Bắc xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Như vậy, Thiền viện Trúc Lâm ở đây tuy có trước nhưng là số hai, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử mới là cái gốc.
Sở dĩ tôi phải nói tường tận như vậy là để cho tất cả hiểu, tại sao chúng ta phải ra miền Bắc xây dựng Thiền viện. Mặc dù còn một năm nữa tôi sẽ nghỉ, nhưng trong khoảng thời gian này, tôi quyết định tới cuối năm phải làm cho xong. Ngày 19 tháng giêng đặt đá rồi khởi công, tới tháng 11 âm lịch thì khánh thành.
Công trình này rất nhiều hạng mục, bước đầu gồm có: Chánh điện, Thiền đường, Tổ đường, Tăng đường, Trai đường, Thư viện, Nhà khách, Nhà trưng bày, Nhà bếp, Nhà khách ni. Công chuyện không đơn giản, phải tích cực làm mới có thể kịp. Nhận lời xây Thiền viện ở đây thì mình phải tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kinh phí xây dựng. Do tôi yêu cầu phải làm cho kịp, nên chi phí rất đáng kể.
Đó là nói về phần xây dựng, còn về nhân sự thì vừa rồi các vị đại diện vô thăm, họ tán thán Thiền viện mình, từ nếp sống tu hành cho đến đối ngoại, mỗi mỗi đều tốt. Do đó họ xin tôi cử những người có đức hạnh, thật tu hành, có nền tảng tốt ra ở, để Phật tử ngoài đó nương theo tu học. Vì vậy, hôm nay tôi sắp đặt các vị có trách nhiệm ra miền Bắc giáo hóa, mong rằng các vị phải giữ gìn đạo đức nghiêm chỉnh đừng có lôi thôi, từ cung cách xử sự cho đến nói năng đều phải cẩn trọng đàng hoàng, để tạo niềm tin cho người tu tập, khôi phục dòng Thiền Việt Nam được sáng đẹp.
Tất cả chúng đều là những người dốc chí tu hành, quyết tâm cầu giải thoát sanh tử, nên mới vào đây xin tu. Tôi nhắc để các vị nhớ, đã quyết tâm rồi thì từ đây mãi về sau đừng bao giờ để cho thối chuyển. Những vị lớn tuổi nhận thức đã chín chắn, đã biết rõ việc mình làm thì làm việc gì cũng cần phải đến nơi đến chốn, chứ không nên khi vui thì tu, khi buồn chán không muốn tu, hoặc lúc siêng thì tu, lười không tu. Đó là điều không tốt.
Vì vậy trong chúng, khi đã quyết tu rồi thì phải một mực tiến lên chứ không nên lúc này lúc nọ, làm cho những người ở chung với mình không vui. Hơn nữa, mình tu là để bản thân ngày càng có đạo đức, chứ không phải tu lâu ngày rồi thành xấu dở. Mỗi người phải tự biết trách nhiệm của mình mà luôn luôn cố gắng không ngừng, dù ở hoàn cảnh nào cũng không thối tâm lùi bước. Được như vậy thì sự tu mới xứng đáng, không uổng một đời. Nếu không khéo thì ở đời đã không tới đâu, vào đạo lại cũng không ra gì. Như vậy thật là một đời bỏ suông vô ích. Mong tất cả quý vị cố gắng tu, đừng chậm trễ, đừng vì biếng lười mà bỏ thời khóa tu hành của mình.
Thời gian gần đây trong chúng có nhiều xáo trộn, một là vì quý thầy lớn được phân công đi nơi này nơi nọ làm Phật sự, hai là vì nghe tôi sắp nghỉ nên lo lắng sự tu học của mình không đến nơi. Vì hai lý do này nên khiến cho trong chúng bị xáo trộn, bất an.
Tôi nhắc cho toàn chúng hiểu, đây là giai đoạn chúng ta có đủ cơ duyên để làm Phật sự. Khi xưa muốn mở mang, hoặc muốn làm Phật sự gì cũng đều rất khó, vậy mà chúng ta còn kiên nhẫn, kiên trì tu hành, phát triển Thiền tông. Ngày nay có cơ duyên thuận lợi chúng ta làm được Phật sự, đó là nhân duyên rất tốt. Làm Phật sự thì tự nhiên phải phân công để làm việc, còn sự tu hành tại viện thì cũng vẫn tiếp tục, ổn định. Thông Phương được đưa ra Bắc thì các huynh đệ lớn còn lại sẽ hướng dẫn chỉ dạy cho chúng tu. Tôi tuy nghỉ nhưng cũng vẫn ở nơi này, nên đại chúng cứ yên tâm mà tu hành. Bởi vì tôi tuổi cao, đã đến lúc cần phải nghỉ ngơi để chuyên tu. Tôi muốn tự làm chủ trọn vẹn, để sau này tăng ni thấy đó mà tinh tấn tu hành theo. Cho nên khi nào trong Thiền viện có điều gì cần thì tôi cũng sẽ chỉ bảo, nhắc nhở. Toàn chúng yên tâm, đừng lo lắng! Đừng sợ tôi nghỉ rồi, các vị không còn chỗ nương tựa.
Trên đường tu các vị xét kỹ, có một nơi yên tĩnh cho mình tu hành, đó là phước lớn. Ở đây tăng ni có đủ điều kiện để tu học, các buổi trong tuần các thầy lớn luân phiên dạy cho chúng học, buổi nào không có giờ dạy thì toàn chúng nghe lại những bài giảng của tôi. Trước học qua, giờ nghe lại, sẽ hiểu thấu đáo hơn. Hiểu biết ngày càng tăng thì sự tu hành cũng sẽ tiến bộ.
Trong việc tu học cần phải quân bình nhau, đừng để lệch. Nếu học tập, nghe pháp mà không tu thì cũng chỉ là học hiểu mà thôi. Sự tu chính là đi tới, đạt được mục đích. Những gì đã học thì phải thực hành cho được, đó mới là giá trị của người tu. Hiểu mà không hành, chỉ là hiểu suông nói suông vô ích. Ở đây tôi đặt nặng sự thực hành. Không phải học nhiều mới là tu, mà có thực hành theo lời Phật tổ chỉ dạy, đó mới là thật tu. Thực hành là gốc khiến mình tu tiến, chứ không phải hiểu thật nhiều mà tu tiến được.
Hiện nay đối với sự học, kinh sách băng giảng đầy đủ không thiếu. Mỗi tuần nghe giảng chừng hai ba buổi để thấm đạo lý. Thời giờ còn lại, huynh đệ theo nề nếp tu hành thì sự tu rất dễ tiến. Ở Thiền viện học hiểu tới đâu thực hành tới đó, nếu ra trường ngoài học thì tuy học được nhiều mà không có phương tiện thực hành, lâu dần chạy theo danh lợi, rốt cuộc uổng đi một đời tu!
Thời gian này tôi phải phân chia nhân sự đi nhiều nơi, tuy nhiên cũng sắp đặt cho những người ở lại có duyên tốt để chuyên tu. Nhìn với con mắt thường của thế gian thì ai học giỏi là quý, còn theo cái nhìn của tôi, học ít tu nhiều thì giá trị càng quý, chứ không thiệt thòi gì. Quý là quý ở chỗ thực hành được, sống đúng đạo lý được, chứ không phải quý ở tài văn hay, lý luận giỏi.
Tôi nói cho tất cả hiểu mà cố gắng tinh tấn tu, xưa giờ tôi không ép ai ở đây tu. Thế nên ai muốn ở thì ở ai ưng lui thì cứ lui, tôi không giữ. Bổn phận tôi là tạo duyên cho tăng ni tu, tôi không lợi dụng cũng không cần nhiều người để làm gì cho tôi. Do đó, tôi nói rõ cho toàn chúng biết chủ trương của tôi, tất cả chúng hãy cố gắng tinh tấn tu hành.