Phụng Hoàng Sách Tấn

Câu Chuyện Buổi Chiều (III)



Nhìn chung cuộc đời con người thấy đáng buồn: Lớn lên, lo tính đủ thứ chuyện. Cuối cùng điều mình không chuẩn bị, không chờ đón lại xảy đến. Ít ai nhớ rằng cái chết luôn chực sẵn, hay nói cách khác: cái quan tài luôn mở nắp chờ sẵn. Còn sống thì cứ tranh giành, phải quấy, hơn thua. Ngày nào chui vô quan tài, đậy nắp lại rồi thì còn phải quấy, hơn thua được nữa không? Vậy mà còn chút hơi thở thì ai chê một câu cũng không chịu nổi.

Người tỉnh táo phải thấy xa biết rộng, đợi đến giờ chót mới biết thì quá muộn màng. Người thấy xa là phải chuẩn bị, tới lúc cuối đó phải làm gì để đối phó. Không phải chỉ biết ngày nay đang sống khỏe mạnh vui vẻ, việc gì vừa lòng thì cười, không vừa lòng thì khóc. Tất cả những gì đến dù tốt hay xấu rồi sẽ qua. Khi cuộc đời đã qua, kết thúc thì mình vui vẻ ra đi. Tức là tới lúc quan tài mở nắp thì vui vẻ chun vô, chứ không e dè sợ sệt. Đi một cách nhẹ nhàng, đó mới tốt. Nhiều người tới lúc đó, thấy quan tài mở nắp sợ quá hoảng hốt. Hoảng hốt thì khổ! Lúc đó biết chạy đi đâu!

Bởi vậy ở đây, mỗi ngày mỗi nhắc: Ngày nay đã qua… Nhưng nghe riết rồi tụi con có quen tai không, hay vẫn còn có cảm giác tỉnh? Thật ra, con người cứ ngỡ mình sẽ sống bảy tám mươi tuổi, nên khi cái chết đến đột ngột thì hoảng hốt. Bây giờ ai cũng nên chuẩn bị, biết mình sẽ chết một ngày nào đó, không biết bao giờ, lúc bao nhiêu tuổi, khi bệnh hoạn hoặc tuổi già, nó không tha thì chết. Nên cái chết đến mình vẫn thản nhiên không sợ nó. Sợ chỉ làm mình thêm khổ, chẳng có lợi ích gì cả. Ở đây có ai không sợ chết không?

– Bạch Thầy, không phải là sợ chết, mà là sợ khi chết đến tụi con chưa đủ đạo lực để ra đi tự tại.

Chỉ sợ ngày nay mình tu lơ mơ, chứ đừng sợ khi chết mình không đủ đạo lực. Mỗi ngày mình cứ nỗ lực thì tới đó tự nhiên sẽ đủ sức, chứ còn cứ sợ suông mà tu không tiến chút nào thì chừng đó làm sao có đủ đạo lực?

Tụi con ở tại thiền viện, được nhắc tới nhắc lui, vậy mà còn chưa tỉnh, huống là ở chùa riêng rồi tha hồ lo chuyện này, bận việc kia, quên cả giờ tu hành của mình, tới lúc nhắm mắt không biết đi đâu. Vì ai cũng sẽ tới ngày cuối cùng đó. Nếu không chuẩn bị trước, chừng đó khổ đau dồn tới thì ai cứu mình? Anh em, cha mẹ, thân bằng quyến thuộc thương mình, nhưng tới giờ phút đó, có ai giúp được gì cho mình không? Cũng phải tự mình giải quyết lấy. Người biết tu là người thật sự thức tỉnh, biết trước việc sắp tới thì hiện tại phải làm gì?

Vậy nên thương mình là lo làm sao để lúc ra đi mình có thể biết trước, rồi vui vẻ đi là tốt. Tu như vậy mới có đạo lực. Muốn được vậy thì ngay hiện tại phải lo, chứ bây giờ không chịu lo, cứ thả trôi, phút cuối cùng muốn được tự tại, đó là hão huyền.

Tu cho ra tu, đây là người tỉnh. Còn người thế gian, khi còn trẻ thì lo cho có gia đình, sự nghiệp, lo cho con cái được thành tài, đến già hài lòng với chút công danh, lợi lộc. Ngày ngày uống trà nói dóc chơi, rồi lăn đùng ra chết, không biết đi về đâu! Như vậy, dường như thương mình mà không có thương gì hết, đến giờ phút chót ra đi một mình đau khổ, sợ hãi. Con cái có thương lắm thì làm giỗ này giỗ kia rình rang, an ủi người mất, thể diện người sống, chứ đâu thể cứu được mình.

Người biết tu phải thấy viễn cảnh trước mắt, để chuẩn bị từ bây giờ. Tu tích cực chứ đừng lơ mơ. Có ai bảo đảm sống tới bao nhiêu tuổi chết không? Cứ tưởng bảy tám mươi mới chết nhưng lỡ bốn mươi chết thì sao? Sống chết đâu có nhất định! Vậy nên cứ chuẩn bị sẵn sàng, chừng nào nó đến thì đến. Đừng nghĩ là mình thích sống đến sáu mươi tuổi… thì sẽ được vậy. Lỡ mới năm mươi tuổi vô thường đến, mình có thể cầu xin “Tôi tu chưa kịp, hãy tha cho tôi được ở lại thêm mười năm nữa, tu cho khá khá rồi tôi đi!” Có xin vậy được không?

Tụi con đi ra ngoài mới thấy cái chết đến bất ngờ, không lường trước được, sơ sảy là chết. Nhất là thời này xe cộ chạy ào ào, lái xe sảy tay một cái là rồi. Lên máy bay cũng sợ rớt máy bay. Xuống tàu sợ chìm tàu. Đi tàu hỏa thì sợ đụng. Cái chết không tha ai, luôn chực sẵn. Đã biết nó chực sẵn thì phải ráng tu.

Bởi vậy, tụi con phải luôn nhớ chuyện anh chàng bưng bát dầu, hễ ngó lơ làm đổ bát dầu là rồi đời. Tụi con ngó lơ nhiều hay ít? Phải luôn tỉnh táo sáng suốt. Tu cho có kết quả là tự cứu mình và cứu người, chứ tu lơ mơ chỉ phí đi một đời. Sau muốn trở lại thì muộn quá rồi, không biết có duyên thuận để trở lại không? Mà trở lại cũng không biết có gặp thầy bạn tốt không? Không phải lúc nào cũng có cơ hội tốt cho mình tu.

Nghe nói đến cái chết tụi con thấy buồn quá, phải không? Nói chuyện buồn vậy mới nhớ tu, còn nói chuyện vui thì dễ quên tu. Tụi con có khi nào vui quá rồi nói chuyện tào lao không? Vậy là không giữ chánh niệm.

Mấy cô lớn tuổi thấy ở đây tu có khó lắm không? Thật ra, ở nhà quý cô là bậc trưởng bối, tác oai tác quái với con cháu. Nay tới đây, nói, làm điều gì cũng hơi dè dặt, vì không biết mình có làm gì sai, bị cô Tri khách rầy không. Nhờ vậy, các cô mới thấy, có được cơ hội tốt, ở chung nhiều người mà có luật lệ, quy củ thì mình mới sửa bỏ được các tập quán, thói quen cũ. Chứ không thì cứ theo lối cũ, giận ai liền la lối quát nạt, buồn ai là bỏ ăn cơm, đợi năn nỉ mới ăn. Ở đây không có chuyện đó, tới bữa, hành đường đánh kẻng thì lo tập trung đến thọ trai, không chờ ai năn nỉ, đó là cơ hội tốt để quý cô tu tập.

Còn mấy đứa nhỏ mới xuất gia, ở nhà hơi buồn buồn là nhõng nhẽo với ba má, vô đây có dám nhõng nhẽo với thầy không? Như vậy để thấy tụi con biết tu rồi thì tuy tuổi nhỏ mà thành người lớn. Biết tại sao vậy không? Bởi người lớn mà ở trần tục thì họ vẫn sống trong mê lầm, từ mê lầm này đến mê lầm khác. Còn tụi con tuy nhỏ mà đã thức tỉnh, biết trần tục không đáng lưu luyến, không đáng quý, mình đi tu để mai kia tự độ, độ người. Như vậy là người lớn rồi, chứ đâu còn nhỏ nữa.

Đứng về phần tuổi tác thế gian thì không lớn, nhưng đứng về phần giác thì mình lớn. Nhưng lớn về tuổi tác đâu có giá trị. Tụi con thấy ở ngoài đời, nhiều người già không được học hành, thấy những người trẻ có bằng cử nhân, tiến sĩ họ cũng nể kính. Người tu cũng vậy, nếu mình nhỏ mà tu đàng hoàng, đúng đạo lý thì người lớn tự nhiên nể trọng. Nếu ba má tụi con biết Phật pháp, thì khi tụi con về thăm, sẽ không dám gọi là con nữa, mà gọi là cô. Vậy tức là thấy tụi con lớn rồi. Còn tóc, còn si mê nên gọi con, nay cạo tóc là đã tỉnh rồi, nên ba má nể trọng, đâu còn coi thường nữa. Vậy nên đi tu là làm người lớn.

– Bạch Thầy, kỳ này Thầy về dưới kia, bao lâu mới trở lên?

– Kỳ này, mười sáu Thầy xuống Thường Chiếu, mười bảy đi Vĩnh Long, mười tám qua Cần Thơ, mười chín xuống Trà Ôn, hai mươi trở về Thường Chiếu, sáng hai mốt giảng ở Bà Rịa, chiều giảng ở Vùng Tàu, hai mươi hai giảng ở Thường Chiếu, hai mươi ba Thầy trở lên Trúc Lâm. Chạy vù vù, bởi vậy về tới đây là đuối, gần hết hơi!

Bây giờ Thầy hỏi, tụi con chuẩn bị nghe rồi trả lời. Hồi sáng này Thầy giảng, câu kết thúc của Thầy là câu gì, tụi con nhớ không?

– Thưa Thầy, câu kết thúc là Thầy muốn cho mọi người nhận được vô vị chân nhân nơi mình.

– Không phải.

– Thưa Sư ông, câu kết thúc là: Quý vị làm gì cả ngày mà không chịu tu, tôi không hiểu nổi.

– Gần đó chứ chưa phải. Dở quá! Mới nói hồi sáng này mà bây giờ đã quên rồi. Không ai thuộc sao? Thầy nói câu đắc ý nhất của Thầy mà mấy đứa quên.

– Thưa Sư ông, con nhớ Sư ông dạy là: Người ta làm vua, bận rộn trăm công ngàn việc mà còn tu được, thấy được đạo lý rõ ràng. Còn tụi con ở trong thiền viện của Sư ông, tối ngày chỉ có một việc tu mà cũng không xong.

– Ừ, tụi con nghĩ xem làm vua thì phải lo việc nước, việc dân bề bộn, vậy mà còn hiểu thấu đạo lý, còn tu được. Còn tụi con, cả ngày chỉ có một chuyện tu thôi, mà tu không ra gì, thì sao?

– Dạ, đánh đòn.

– Ừ, đánh ba roi, nhớ chưa!

– Thưa Sư ông, bố con gọi điện hỏi cách thức tu như thế nào và muốn thưa Sư ông là bố con có đúc một tượng Phật và muốn xin hỏi ý kiến mấy việc liên quan.

– Con nhớ Sư ông có nói, người phàm không khai quang điểm nhãn Phật được. Bây giờ nhiều người làm nhiều chuyện vô lý. Muốn khai quang điểm nhãn, cần phải người có đức cao.

– Con có bảo bố con là “Bố làm chuyện mê tín”, mà bố con không chịu tin con. Bố con nói là “Phải đi hỏi Sư tổ thì bố mới tin”.

– Hồi nãy bố con có hỏi rồi, có xin tên cho một đứa nhỏ nữa. Thầy làm đủ thứ: đặt tên con, rồi gì gì cũng có…, bá nghệ.

Sáng nay, có một đoàn ở Đài Loan tới thăm. Trong đoàn có một Hòa thượng, một Thượng tọa, một ông cư sĩ cùng đi với một trăm người nữa. Họ phát nguyện đi các chùa cúng dường cho một ngàn tăng ni trong mùa Hạ.

– Hồi sáng không dẫn họ qua đây hả Thầy?

– Vì họ ngại mùa an cư đi đông quá ồn ào, làm động chúng, tổn phước. Người ta quý sự tu hành thanh tịnh vậy đó. Còn tụi con ở đây mà ồn ào thì không biết nói sao.

Họ có hỏi Thầy một câu, là họ đi thăm các chùa Việt Nam, thấy chùa nào cũng thờ tổ Đạt-ma. Tại sao tất cả chùa chỉ thờ có một Tổ đó thôi? Vì ở bên Đài Loan, hệ phái nào thì thờ các Tổ đó. Thí dụ tông Lâm Tế thờ tổ Lâm Tế, tông Tào Động thờ tổ Tào Động. Thầy trả lời rằng: Tổ Đạt-ma sang Trung Hoa truyền thiền, ngài Huệ Khả lãnh hội được làm tổ thứ hai, lần lần chư tổ Trung Hoa truyền sang Việt Nam. Bây giờ xét lại, các tổ Trung Hoa nhiều quá, không biết thờ ngài nào. Tổ Đạt-ma là vị tổ đầu tiên truyền thiền ở Trung Hoa nên thờ ngài là trọn hết, vậy nên ở Việt Nam thờ tổ Đạt-ma.

Nói cho mấy đứa nghe thì Thầy nói ngắn vậy, chứ nói với họ thì Thầy nói chuyện tới nửa giờ, vì họ muốn nghe. Họ nói mấy bữa nay đi cúng dường các chùa, tới đâu cũng chỉ mời uống trà thôi, không nói gì hết. Hôm nay họ tới đây, được nghe Thầy nói chuyện, họ vui lắm.

Người Hoa ở Đài Loan thích cúng dường lắm, bởi vậy họ giàu. Các chùa Tàu ở các nước khác, chùa nào cũng giàu. Qua bên Đài Loan thấy các chùa đều to. Chùa mình ở đây chỉ bằng chi nhánh nhỏ xíu của họ thôi.

– Vì ở bên đó đất rộng.

– Nói trật lất. Con chưa qua đó mà biết bên đó đất rộng? Đài Loan đất hẹp hơn mình. Ở đó núi nhiều. Trung Quốc đất mới rộng, Đài Loan chỉ là đảo, Trung Quốc khác Đài Loan, hiểu lầm, phát biểu lầm rồi chú ơi.

– Thưa Thầy, ở Đài Loan muốn trồng cây, họ đổ đất vô bao trồng.

– Ở bên đó thiếu đất, nên họ qua đây thuê mướn đất của mình để trồng rau. Như ở dưới Cần Thơ, có mấy chỗ người Đài Loan họ trồng rau. Vậy tụi con mới thấy, mình tu đàng hoàng thì những người cùng đạo Phật với mình, dù ở xứ nào, đều có cảm tình. Mình ở đây mà được người từ bên Đài Loan qua cúng dường. Do họ rất chú trọng mùa an cư, vì mùa đó tăng ni tu nhiều, nên họ thích cúng dường. Vậy chỉ e mình không tu thôi, không tu thì ít ai biết tới, chứ tu thì nhiều người thương quý, họ ủng hộ.

Mấy đứa nhỏ sắp xuất gia chuẩn bị xong hết chưa? Có y có hậu đàng hoàng rồi hả? Đã thuộc kệ chưa? Ráng chuẩn bị cho xong, kỳ này mấy đứa trẻ xuất gia đông hơn kỳ trước, già ít trẻ nhiều. Ở đây, cả thảy có mấy đứa hiện có mặt?

– Dạ, có tám người.

– Được tám người à? Kỳ này, bên tụi con tre già thì măng mọc nên ráng tu cho giỏi.

– Mấy người già chờ chuyến chót thưa Thầy.

– Chờ chuyến chót hả? Ờ thôi, chuyến chót xong là Thầy nghỉ luôn, đã đề huề rồi.

– Thưa Thầy, Thầy nghỉ rồi, sau Thầy có ra làm việc lại không?

– Già rồi làm gì nữa! Hồi xưa, Thầy nghỉ, nhập thất tu để hiểu đạo sâu, rồi ra đi dạy. Giờ, già rồi dạy đâu nổi nữa, càng ngày càng đi tới chỗ kiệt quệ. Bây giờ Thầy vô thất, cũng không ở hẳn trong thất hoài, mà đi vòng khắp khu rừng quanh thất. Chỉ đi trong khu thất Thầy, chứ không phải quanh thiền viện này. Thầy nhập thất không khổ như tụi con đâu, ngồi thiền xong đi loanh quanh thất chơi, thảnh thơi! Tụi con nhập thất trong bốn chín ngày, lo tu quyết liệt. Sanh tử sự đại mà! Còn Thầy thảnh thơi làm người vô sự. Tết năm nay chắc có nhiều người bi lụy. Điều gì nghe hơi bi lụy, chắc được nhiều người hưởng ứng lắm nha

– Thưa Thầy, hôm trước đi học, có đoàn Phật tử Thái Tuệ tác bạch với Thầy, nghe cũng cảm động lắm.

– Năm nay, gần tết đủ thứ chuyện. Cần sắp xếp các thiền viện để giao lại. Bây giờ thiền viện nào Thầy cũng chịu trách nhiệm, nên phải lo hết. Sau này, mỗi viện thiếu gì, tùy ý tự giải quyết lấy, tăng ni hay dở gì thì tự chịu, chứ Thầy không dạy dỗ cũng không bận tâm nữa, Thầy thảnh thơi.

– Thưa Thầy, vậy thiền viện Yên Tử đâu có khánh thành kịp lúc Thầy còn ở ngoài?

– Hôm qua quý vị nói là kịp.

– Thưa Thầy, có Thầy làm lễ khánh thành mới vui, chứ Thầy vô thất rồi khánh thành đâu có gì vui.

– Thầy chỉ e khánh thành đông quá không đủ chỗ.

– Thưa Thầy, chuyến chót cho đông mới vui.

– Tụi con nghĩ đông người thì vui, nhưng đông quá cũng mệt nữa.

– Mệt mà vui.

– Ban làm bếp, khách đông chừng nào khổ chừng nấy, làm ứ hự.

– Thưa Thầy, người ta muốn kết duyên với Phật pháp nên tụi con mừng, dù mệt cũng thấy vui.

– Thất của Thầy ở ngoài đó, hôm nay đã xong phần chính, còn vài chỗ nữa là xong.

– Thưa Thầy, còn giấy phép thì sao ạ?

– Chưa ký nhưng làm được. Ngày hôm nay họ có họp. Sau khi họp tại chùa, nói chuyện thấy họ có cảm tình lắm. Họ nói sẽ tạo điều kiện cho mình làm, để kịp cuối năm nay khánh thành.

– Thưa Sư ông, đội mũ kẻo lạnh.

– Mấy đứa lo xa quá.

– Mấy đứa nhỏ bây giờ yếu lắm thưa Thầy. Sao Thầy già mà mạnh, còn trẻ lại yếu?

– Tại Thầy nội lực thâm hậu.

– Tụi con thấy Thầy có quạu với tụi con không? Còn tụi con quạu với nhau hoài nên yếu là phải rồi. Quạu rồi buồn, buồn rồi giận hờn đủ thứ, cơ thể chịu ảnh hưởng nên dễ sanh bệnh. Nếu vui vẻ, tươi cười với huynh đệ hoài thì đâu có yếu. Tu là hết khổ mà có người tu lại càng khổ thêm, có không? Mấy đứa nói thật xem nào? Tu mà chấp quá thì khổ thêm, nghe huynh này huynh nọ khen chê nên buồn phiền khổ não. Chuyện khen chê nên biết không có gì quan trọng, vì mỗi người có mỗi cái nhìn khác nhau. Có gì đâu mà nghe chê thì phiền não, quên ăn quên ngủ, khổ vậy!

Phật dạy do si mê nên khổ, khổ là từ gốc si mê mà ra. Người giải trừ được si mê thì hết khổ. Còn than khổ là biết người đó còn si mê nhiều. Bây giờ Thầy xử kiện dễ lắm. Có ai thưa huynh đó nói xấu con, bắt nạt con, vậy Thầy xử làm sao, đố tụi con? Thầy xử bởi si mê nên mới thấy người ta ăn hiếp, mới thấy người ta khen chê. Người trí thì thấy mọi thứ chỉ là trò chơi, có gì thật, có gì giả. Thân này được mất còn không quan trọng, huống là hơn thua, phải quấy.

Hồi sáng, Thầy đọc một bài của Phật tử trong đạo tràng Tuệ Giải ở Hà Tiên viết gửi về đăng kỷ yếu. Cô đó tên Nguyễn Tuyết Mai, năm nay cũng hơn bốn mươi hay năm mươi tuổi gì đó. Trong bài kể cô theo đạo Thiên chúa, chưa từng biết gì về đạo Phật. Cô làm ăn khá giả, sau phát giác ra mình bị bệnh ung thư. Khi biết bị ung thư, cô từ Hà Tiên chạy lên Rạch Giá chữa trị một thời gian, khoảng mấy tháng. Những người thầy thuốc bằng cách này cách nọ đều làm hết khả năng của mình để chữa bệnh. Sau đó, cô thấy bớt nên về nhà, ba bốn tháng sau nó tái phát. Khi bệnh trở lại, cô xuống bệnh viện, bác sĩ lắc đầu, không thể cứu nổi. Cô buồn lắm, vì con cái cô còn nhỏ, cô chết rồi ai chăm lo chúng. Trong khi bế tắc, chờ ngày chết, bỗng dưng có người quen, đem quyển kinh Kim Cang giảng giải của Thầy tặng cho cô, bảo cô ấy đọc cho đỡ buồn. Ban đầu cô không thèm đọc, chỉ nể tình nhận thôi. Một bữa nọ, đau nhức quá chịu không nổi, cô lấy kinh xuống đọc thử. Đọc hai ba lượt, cô sáng ra, thấy thân này là huyễn hóa, mình còn có cái thật. Thân còn mất không quan trọng, cái thật của mình mới quan trọng. Nghĩ như vậy, cô tỉnh ra, hết khổ, một thời gian sau bệnh hết luôn. Cô ấy chưa gặp Thầy mà gửi thư lên cho Thầy, cô xưng là đệ tử. Đọc câu chuyện của cô này, Thầy ngạc nhiên quá.

Sau này, cô đi vô chùa Tam Bảo, gặp đạo tràng tu thiền rồi tập tu thiền luôn. Sở dĩ hết bệnh là thế này: Cô thấy trong kinh Phật và sách của Thầy đều dạy tu thiền nên cô quyết định tu thiền. Cô nói ngồi thiền đau nhức cũng không sao, vì không nhức bằng bệnh ung thư hành. Lần đầu ngồi một giờ, đau rân cả người mà cô cũng ráng, ráng riết tới lúc ngồi được hai giờ và bây giờ có khi cô ngồi bốn giờ. Sau đó, cô khỏe luôn và ngồi viết bài đăng kỷ yếu. Tụi con thấy cô này có ý chí rất vững vàng, phải không? Bệnh tái phát, hết cách cứu rồi mà cũng qua được một cách lạ thường.

Vậy mới thấy, ngồi thiền đau chân, nhưng nhờ ngồi thiền đúng pháp, mình có bị cảm nó cũng dễ qua. Mấy năm Thầy ở trên Núi Lớn – Vũng Tàu, Thầy nói không cần bác sĩ nữa, cho bác sĩ thanh tịnh nghiệp. Khi nào hơi khó chịu, hắt hơi nhảy mũi thì vô ngồi thiền. Vì hồi đó tự do, không làm việc gì chỉ tu thôi, nên nhuốm bệnh thì vô ngồi thiền cho ra mồ hôi, rồi lau khô, hết bệnh liền, không tốn thuốc.

Tu khéo thì trị được nhiều bệnh lắm. Tại tụi con không đủ can đảm, không tin tưởng mạnh nên không thấy hiệu quả, cô kia tới đường cùng rồi nên tin, cố gắng tu liền hết bệnh. Như vậy thuốc của mình rất hay. Không phải chỉ một người đó, còn vài ba người nữa đã kể cho Thầy nghe, nhờ họ bắt chước tu theo mình mà hết bệnh. Những người khác tu, họ trị lành được bệnh, còn tụi con tu lâu lại lờn, quá quen rồi, không cố gắng nỗ lực nên không thoát được bệnh.

Khi trong tâm mấy đứa có chuyện không vui, có những nỗi buồn, những chuyện phiền não gì đó, thì thấy nhuốm bệnh tới nơi rồi. Còn khi trong lòng thảnh thơi nhẹ nhàng thì không có bệnh. Do bệnh đó gốc từ tâm mà ra, tập cho tâm vững vàng, an ổn vui tươi thì bệnh dễ hết. Vậy mới thấy tu là quan trọng.

Hồi xưa, Thầy bệnh gì tụi con biết không? Bệnh phổi. Nên phải nằm bệnh viện Đồn Đất ba tháng, sau này bị bệnh tim, mà bây giờ Thầy thấy mình mạnh hơn xưa. Đó là nhờ sống không có phiền muộn, hễ có việc gì cần thì mình làm hết bổn phận, được hay không là còn tùy vào duyên, cười thôi. Nếu Thầy hay lo thì mấy hôm nay ở ngoài Yên Tử giấy tờ đang trục trặc, chắc Thầy nằm gác tay lên trán suy nghĩ dữ lắm, nhưng Thầy chỉ cười thôi, không có gì quan trọng. Làm Phật sự là tùy duyên, duyên thuận thì làm, duyên nghịch thì thôi, ai bắt buộc mình làm mà mình phải khổ. Nhờ vậy mà tâm an. Khỏe! Tụi con tập được như vậy thì khỏe, tám mươi tuổi cũng khỏe. Không biết tập như vậy thì sầu não hoài, bệnh hoạn hoài.

– Con có đọc được một câu là: “Một Hòa thượng gánh nước, hai Hòa thượng khiêng nước, ba Hòa thượng không có nước uống.” Xin Sư ông giải thích giùm.

– Ai nói câu đó thì giải, chứ Sư ông đâu có nói mà bắt giải. Họ nói này nói nọ tụi con lại muốn Sư ông giải.

Điều gì trong sách, trong kinh dạy thì Sư ông giải. Còn họ đặt ý nói gì đó mà bảo giải, nhiều khi không trúng đâu vào đâu hết. Muốn hỏi ý trong kinh trong sử thì khả dĩ Sư ông giải cho.

– Ở đây, thỉnh thoảng tụi con có ai chau mày lại không?

– Thưa Thầy, Thầy thấy ai trán nhăn nhăn là có đó.

Ai hay chau mày lại mau già lắm đó. Biết tại sao không? Mình tu thiền là buông xả. Giả sử bây giờ tụi con đang giận hầm hầm mà buông xả, mặt cũng hết đỏ. Vậy mới gọi là tu hạnh buông xả. Còn nếu chau mày hoài là chưa buông xả được. Chưa buông xả là còn tích lũy, tu hành vậy là còn trầy trật lắm, khó tiến.

Tụi con tập không giữ những thứ vui buồn thương ghét ở trong lòng thì thảnh thơi, mặt mày tươi sáng. Người giữ phiền não ở trong lòng thì mặt mày sầu héo, dòm qua thấy buồn. Vậy nên tụi con biết tu rồi, làm sao cho người khác nhìn thấy mặt mình, họ nói “Nhìn thấy các cô tươi vui, đủ tin rằng các cô này tu hành giỏi”. Không phải mình giả bộ, mà chính khi trong lòng yên ổn thì tự ở ngoài mặt tươi sáng.

Khách tới đây, nhìn qua các cô ni là biết ở đây tu giỏi hay dở liền. Chứ không cần phải trình bày này nọ người ta mới biết mình tu giỏi hay dở. Cũng như khi nghe đánh tiếng chuông, mình biết người đó tu lâu hay mới tu. Tụi con biết tại sao không? Người đánh chuông nhẹ nhàng, nghe tiếng chuông êm và vang lâu, mình biết họ tu lâu, tâm thuần thục. Còn người đánh chuông nghe chát chúa, điếc tai, mình biết người này mới vô chùa, tâm còn thô. Người đánh mõ hay khánh cũng vậy.

Nên tụi con phải tu hành, có tư cách, thái độ đàng hoàng. Lâu ngày tụi con thấm nhuần, đi tới đâu người ta cũng quý cũng thương. Nếu tụi con đi tới đâu, mà mặt mày cứ nhăn nhó hoài thì người ta hết dám nói chuyện. Sở dĩ Sư ông được nhiều người mến là vì Sư ông cười hoài, không có giận hờn ai. Khi rầy tụi con, Sư ông cũng cười thôi; cười mà ngán không?

– Dạ ngán.

– Vì đâu có gì để giận hờn tụi con, nhưng điều gì không hợp đạo lý thì phải rầy, bắt buộc tụi con phải nghe, nghe rồi thôi, chứ Sư ông đâu có oán hờn. Mấy con chó Sư ông còn thương, không lẽ tụi con Sư ông bỏ, nhưng phải cho mấy đòn hơi đau đau để chấn chỉnh lại. Chứ điều gì dễ ngươi quá thì hỏng, nên Sư ông dễ mà khó, phải không?

– Dạ, Thầy nghiêm mà từ. Thầy nghiêm tụi con sợ quá!

Ở ngoài thì vui vẻ, khi vô thỉnh nguyện thì không vậy. Bởi vì người lớn là người có trách nhiệm hướng dẫn, khi thấy điều tốt, điều hay, chỉ cho bảo phải làm mà không chịu nghe, vậy dạy được không? Dạy không được thì dùng được không? Ai dạy không được thì dùng không được, dùng không được thì như bỏ đi rồi. Bởi vậy nên rất dễ mà cũng rất khó.

Thời xưa, các vị tổ vô rừng sâu ở, tu hành cực khổ, khi hiểu được đạo rồi, các ngài phải ra làm Phật sự bao nhiêu năm. Còn tụi con bây giờ không đến nỗi vô rừng sâu, vẫn được cảnh yên tĩnh. Trên có quý thầy, dưới có huynh đệ cùng tu với nhau. Như vậy năm bảy năm tu hành, nếu tu tốt, có đức hạnh thì sai đâu phải làm đó, vui vẻ sẵn sàng nhận trách nhiệm. Chứ tăng sai mà cúi mặt không chịu, còn khóc lóc nữa. Hỏi như vậy còn trông chờ cái gì!

Bởi vậy, tụi con hiểu rồi, biết trách nhiệm của mình là vậy, mình vui vẻ, tăng sai gì làm nấy. Như có ai sai Thầy qua Pháp, Mỹ làm gì đâu, nhưng nhân duyên thấy Phật tử cần mình, thì phải đi qua đó làm Phật sự. Khi nào Phật sự xong, tạm đủ rồi thì mình nghỉ, nhưng trước khi nghỉ phải có người thay thế. Nuôi hàng trăm chúng mà nay Thầy nghỉ, ai cũng rụt cổ không chịu thế hết, rồi làm sao đây? Người đi trước là người đương đầu với bao khó khăn, dọn dẹp đường sá để có hướng cho người sau đi. Người sau phải tiếp tục đi, chứ ngồi hoài một chỗ thì đoàn người đó ù kỳ không thể tiến.

Hiểu như vậy, tụi con mới thấy bổn phận của mình. Không phải người sắp xếp mình làm một công việc Phật sự là ghét mình, mà chính là muốn nâng mình lên, để mình đem hết khả năng ra phụng sự, cho có phước đức. Tụi con học hơn mười năm, hai mươi năm, không lẽ những điều tụi con nhận hiểu được, chôn vùi ở đó luôn, không có cơ hội giảng giải, nói cho người khác nghe thì có uổng phí không? Mình học, tu rồi hướng dẫn cho người khác cùng tu, ngọn đèn này sắp tắt thì phải có ngọn đèn khác mồi. Cứ như vậy liên tục thì thế gian mới sáng. Thế gian mù tối, mà ai tu cũng để đèn trong lòng, không cho người khác mồi thì có xấu không?

– Thưa Thầy, hồi xưa các vị thiền sư khi nhận ra được rồi, lên núi ba bốn chục năm, khi nào xong việc mới xuống núi.

– Đó là tụi con quên, khi đó có các vị Tổ, các vị lớn còn đang truyền bá. Thí dụ như ngài Huệ Trung ngộ, khi đó tổ Huệ Năng còn dạy. Như vậy, thầy còn đang dạy thì trò phải lo tu. Còn bây giờ, thầy nghỉ trò cũng nghỉ, thì ngọn đèn chánh pháp tắt ngủm luôn. Phải hiểu chứ! Nhiều khi tụi con hiểu mà quên hoàn cảnh hiện tại của mình. Hiểu như vậy là hiểu lầm.

Bây giờ giả sử có một lớp học, chúng đang học, rồi Thầy nghỉ, các cô lớn nghỉ, tụi con nghỉ luôn. Không ai chịu trách nhiệm hướng dẫn, dạy dỗ thì chắc mấy vị đó phải để tóc về nhà. Bởi vậy, người lớn nghỉ thì người kế phải tiếp nối. Như vậy mới có người kế thừa mồi đèn nối đuốc, chứ không thì làm sao!

Thí dụ, hồi xưa thầy của Thầy tịch rồi, Thầy phải cố gắng bươn chải. Chứ lúc thầy của Thầy còn thì Thầy cũng chỉ là giảng sư bình thường thôi. Mình là người sau, người lớn chuẩn bị nghỉ thì người sau phải chuẩn bị làm thế, chứ không phải người lớn chuẩn bị nghỉ thì người sau xách gói trốn. Người lớn biết ai có khả năng mới cử đi làm, nếu không có khả năng thì đâu ai cử.

– Thưa Thầy, con nhớ Sư ông nói Thầy là cục sắt, Sư ông làm thành cây kim, vậy mà bảo làm cái gì, Thầy cũng không làm. Sau khi Sư ông tịch rồi thì Thầy cũng phải làm.

– Lúc Thầy còn đang học đâu thể nói không làm. Từ năm 1955, Thầy bắt đầu đi giảng cho tới bây giờ.

Sư ông bắt đi giảng thì đi, bảo dạy học thì phải dạy, chứ đâu dám không làm, có điều vừa học vừa làm. Làm Phật sự từ năm 1955 đến giờ, tính coi bao nhiêu năm? Gần nửa thế kỷ. Giờ nghỉ là hợp lý quá rồi!

Có mấy người ở bên Canada, bên Mỹ, họ chưa từng biết Thầy, chỉ nghe tên thôi. Họ đến thăm Thầy và hỏi: “Thưa Thầy, tụi con tánh nóng quá, Thầy dạy tụi con làm sao cho bớt nóng.”

Thầy rầy họ liền: “Nóng không phải là tánh, chẳng qua là một thói quen chấp ngã thôi. Tánh là không đổi thay, còn nóng giận thì đổi thay theo hoàn cảnh. Nếu người nào ngang hoặc thấp hơn mình làm trái ý thì mình nổi nóng lên. Như con cháu làm nghịch ý là mình sẽ hét toáng lên. Còn nếu người nào có địa vị cao hơn mình nhiều mà nói trái thì mình không dám nổi nóng. Thí dụ cảnh sát có chuyện gì đó mời mình lại, họ nói nặng nhẹ mình, mình có nổi nóng không? Tại sao những người lớn nói những điều trái ý mà mình không dám cãi, không dám nóng, còn con cháu nói mình lại nóng?

Như vậy, nóng giận là tùy duyên chứ không phải tánh thật. Vậy nóng là tánh hay không tánh? Bởi vậy, Thầy nói nóng là coi mặt. Nóng giận không phải thật mà coi là thật, còn khoe với thiên hạ: “Tánh tôi nóng lắm nghe, đừng có chọc tôi!” Đó là muốn bảo vệ tật xấu của mình, nên không tốt.” Nghe Thầy nói vậy, họ mới giật mình.

Tụi con có nóng không?

– Dạ có.

– Sao mà có? Nóng với ai?

– Dạ, nóng với mấy em nhỏ. Bằng mình hoặc nhỏ hơn mình.

– Tới Sư ông, tụi con có dám nổi nóng không? Chắc là không rồi. Nóng không phải là thật mà do tưởng, do chấp ngã nặng mà có. Biết như vậy, khi nào gặp việc không vừa lòng, chỉ cười thôi, không thấy có gì quan trọng. Cho nên, khi mình đã từng làm hại ai đó mà không nhớ, bây giờ bất ngờ người đó lại trước mặt mắng nhiếc mình, lúc đó nên cự lộn hay làm sao? Lúc đó mình nên hỏi: “Thưa chị, lúc trước không biết em có làm lỗi quấy gì, khiến chị gặp nhiều phiền não, giờ em đã quên rồi, chị nói cho em biết để em xin lỗi.” Người đó sẽ nói lý do khiến họ tức tối cho mình nghe. Chứ người ta đã giận ghét mình mà mình còn la cự lại nữa, thì người ta càng ghét mình hơn. Trước mình đã làm lỗi, không biết, mà nay còn la lại họ, thành ra chồng thêm một lớp lỗi nữa. Có khi nào người không động phạm tới tụi con chút nào, mà gặp họ, tụi con la mắng được không? Người ta la mình, mình không tìm rõ nguyên nhân; thấy người ta la, mình vội la lại; cứ chồng chất lớp oán này thù kia, chồng chồng lớp lớp, không bao giờ hết.

Cho nên người tu Phật là lấy nhân quả để soi sáng lại. Mình từng làm điều gì khiến người buồn, người mới la mắng mình. Nên mình hỏi để xin lỗi cho tiêu tội. Người xưa nói “oan gia ưng giải bất ưng kết”, mà tụi con cứ kết. Người mắng mình, mình mắng lại, mà quên tìm lỗi của mình. Tìm lỗi mình thì hết chuyện rồi, không còn thêm gì nữa, tu như vậy mới được. Còn tu mà ai động tới, la chói lói lên, như vậy không hay chút nào.

Nay có một vấn đề tuyên bố cho tất cả tụi con được biết. Vừa rồi có vài đứa nhỏ xin đi về thăm nhà. Vì trước kia, Thầy nói rằng ở đây đủ ba năm, Thầy cho tụi con về thăm nhà một tuần, hai tuần. Đợt trước, có những người ở đủ ba năm đã đi về rồi, đợt này cũng có những người ở hơn ba năm, vậy năm nay là năm thứ sáu rồi đó. Đợt này đã quá ba năm, nhiều người lóng nhóng muốn xin đi về thăm gia đình.

Nhưng bây giờ, Thầy tuyên bố rằng Thầy chỉ dạy ba năm nữa là nghỉ, phải không? Ba mươi sáu tháng mà nay gần được một tháng rồi, chỉ còn hơn ba mươi lăm tháng nữa thôi. Trong thời gian còn lại này, Thầy trông đợi tụi con từng ngày, để làm gì? Tụi con tu cho hay, tu tiến để mãn ba năm Thầy nghỉ, đứa nào cũng vững vàng. Tự bản thân mình tu có kết quả và ra giảng dạy hướng dẫn người khác được, như vậy mới xứng đáng.

Cho nên Thầy nói, nếu đợt này tụi con không về thì trước ba năm Thầy nghỉ, Thầy dành một tháng cho tụi con du lịch miền Trung hoặc miền Tây. Miền Tây du lịch tới Hà Tiên, rồi được đi xuống chùa Phước Hậu, chùa Phật Quang, quê hương của Thầy. Còn miền Trung, từ Nha Trang trở ra, chưa biết tới đâu. Nếu ai đi bây giờ thì sau khỏi đi, còn ai không đi bây giờ thì sau được đi, tụi con liệu, cho tụi con có quyền lựa chọn. Đi có người trước kẻ sau, chứ nếu đi một lượt thì đâu có người giữ chùa.

Thầy từng nói cho tụi con nghe nhiều lần, ba việc Thầy làm ở đây:

Việc thứ nhất là kiến thiết xây dựng chỗ nơi, bây giờ cũng tạm đủ rồi.

Việc thứ hai là in kinh sách của nhà thiền – thiền Việt Nam, bây giờ cũng xong rồi.

Thứ ba là tăng ni ở đây tu cho đến khi Thầy nghỉ dạy, người nào cũng có đủ lòng tin và đủ khả năng giáo hóa. Phần này được hay chưa được thì cũng không phải việc của Thầy nữa. Vậy của ai? Tụi con phải quyết chí thêm ba năm nữa để củng cố sự tu hành của mình, rồi đi dạy người. Như vậy mới tròn bản nguyện. Còn tụi con cứ lừng chừng, dù ở đây sáu, bảy năm mà rốt cuộc chẳng được gì, cũng uổng đi một đời tu. Như vậy tụi con tính sao? Thôi cho suy nghĩ ba ngày rồi trả lời sau.

Giấy tờ xin phép xây dựng chùa Lân chỉ còn vài bước nữa là xong, rồi bắt đầu xây dựng. Dự tính làm đến tết sẽ khánh thành. Không biết có xong sớm hơn không? Tết năm này cập rập dữ à.

Hổm rày mình đã làm được hai hạng mục: thất của Thầy và nhà khách ni, xong xuôi rồi. Nhà khách ni có hai tầng, tầng trên có một gian thờ Phật. Giờ chuẩn bị thỉnh tượng Phật chùa cũ xuống đó thờ, để dỡ chùa cũ.

Chỉ mới làm bấy nhiêu mà đã tốn khá nhiều tiền. Chi phí xây dựng ngoài đó nặng hơn trong đây. Vì nhà khách ni mình muốn lợp tôn, họ không chịu, yêu cầu phải đổ mái rồi dán ngói lên, nên tốn nhiều tiền, thất Thầy cũng vậy. Công thợ thì rẻ, nhưng thiết kế chi ly quá nên mất nhiều công. Trong này làm cái gì cũng đơn giản, nhưng ở ngoài đó họ làm kỹ quá. Còn tượng Phật đúc bằng đồng nên cũng tốn nhiều tiền. Tụi con thấy mình là ăn mày, mà nghe nói nhiều tiền vậy mệt quá, phải không?

Còn mấy tháng mà công việc dồn dập. Khởi công xây dựng thì Thầy phải chạy ra ngoài đó ít nhất một tuần. Rồi về Thầy lo đi ngoại quốc, tối thiểu là hai tháng. Vậy là tới tết rồi. Đi nước ngoài về, rồi lo sắp đặt các thiền viện, thôi thì đủ thứ việc, rồi chuẩn bị khánh thành nữa.

Phần chánh điện thì kiến trúc sư tính với Thầy, tiền xây dựng tương đương nhà khách ni, chứ không hơn. Nhưng nhà khách ni có hai tầng, có nhiều phòng, còn chánh điện chỉ như một phòng lớn, nhưng nặng tiền là do phần mái và các cửa làm bằng gỗ tốt. Đội ngũ thi công đang cố gắng cho kịp thời gian. Tụi con nghe công việc sắp tới mệt không? Tụi con nghĩ công việc như vậy, Thầy lo nhiều hay ít? Thầy đâu có lo gì. Ở ngoài đó ai làm cứ làm, ở trong này ai kêu ký giấy tờ gì thì Thầy ký thôi, không có gì khó.

Làm nhiều việc vậy tiền ở đâu mà làm? Do thí chủ họ thấy Thầy xây chùa nên họ lo phụ Thầy. Bởi vì, Thầy nghĩ làm gì cũng do phước duyên của mình, mà phước duyên thì không ai lường trước được. Như khi xây dựng, Thầy phỏng là ba năm, mà đây tới tết có tám tháng, họ hứa là xong. Trước, Thầy nghĩ ba năm làm kịp hay không kịp cũng tùy, nhiều khi thợ có đủ nhưng không có tiền thì cũng không thi công được. Nhưng khi mình xây tới đâu thì lại có tới đó, làm hết cái này tới cái khác.

Bởi vậy, người tu phải tin ở phước đức, chứ mưu mô tính cách này cách nọ làm ra tiền là không đúng. Tụi con thấy Thầy có tính làm gì ra tiền không? Không có tính gì, chỉ làm tới đâu hay tới đó, nhưng thấy không thiếu. Như vậy, tụi con ráng tu, đừng lo thiếu, đừng lo nghèo, mà chỉ lo mình tu không ra gì thôi. Giá trị của người tu là ở chỗ đó. Ráng tu, tu cho xứng đáng với mình, tu không hổ thẹn với người, tu càng ngày càng sáng, càng thanh tịnh thì phước sẽ tới, muốn gì có nấy. Không chịu tu mà tính quá thì không được gì hết.

Vậy nên giá trị của người tu là ở chỗ thật tu. Như ở đây, Thầy tạo điều kiện cho tụi con tu, nhiều người hỏi Thầy lấy tiền ở đâu nuôi chúng hơn trăm người. Tiền ở đâu có? Mình không có xin ai, cũng không có đặt ban bệ nào hết, vậy mà có tiền nuôi chúng hoài. Đến bây giờ tụi con có đói, có rách ngày nào không? Mới thấy do tu hành mới được.

Bên tăng trồng hồng, bên ni cũng trồng hồng, nói tự túc chứ tự túc được bao nhiêu. Đó mới thấy sức hộ trì của Tam bảo, không lường trước được. Nhiều người không biết, họ ỷ vào sức mình, tin vào mưu kế của mình mà không tin vào Tam bảo. Nếu mình tu chân chính, thật tình lo cho đạo, không cần mưu tính gì mà mọi việc đều tốt đẹp là nhờ ơn Tam bảo. Còn tu lơ mơ, đòi cái này tính cái kia thì chỉ khổ mà thôi, chẳng đi tới đâu.

Vậy nên không có lo gì, có bao nhiêu dùng bấy nhiêu, chứ lập ban này ban kia mệt lắm. Lập Ban hộ trì, ít bữa hội họp họ nói này bày nọ cũng mệt. Tụi con thấy các thiền viện không có ban gì hết. Chỉ Phật tử cúng dường để nuôi chúng, thiếu hụt thì ráng tiết kiệm.

Như Tuệ Tĩnh đường ở Linh Chiếu, từ lúc lập tới giờ, hai ba năm nay mỗi tháng Thầy phải bù vô bảy triệu (đồng), bảy triệu đó là do mấy người nghèo không có tiền mua thuốc thành phẩm, mình phải cho. Phật tử cúng không đủ, thành ra mình phải bù. Bây giờ, nghe tin Thầy sắp nghỉ, hai ba chỗ họ phát nguyện thay Thầy lo. Bởi vậy, Tuệ Tĩnh đường bây giờ càng ngày càng phát triển. Tụi con tính coi, từ ngày khởi công làm đến giờ, cũng bảy tám năm rồi, đáng kể lắm! Mỗi ngày bệnh nhân không dưới hai trăm người. Mình làm không công, không có quyền lợi gì hết.

Do đó, Thầy tin mình có lòng chân thành lo cho đạo, làm lợi cho dân thì không có thiếu. Thầy nghe L.Q kể chuyện ở Tuệ Tĩnh đường mà xót xa. Nó hốt thuốc cho một cô, uống thuốc vô, cổ ăn cơm thấy ngon, qua bữa sau hốt thang kế, cổ năn nỉ L.Q: “Cô ơi, cô hốt thuốc đừng cho con ăn ngon.” Hỏi: “Sao vậy?” Cô nói: “Con không đủ gạo ăn.” Nghe vậy đau xót làm sao, họ nghèo thiếu như vậy đó. Bệnh cần ăn được để mau khỏi bệnh, mà không dám ăn, vì không đủ gạo. Cho nên, Thầy nghĩ giúp được gì cho chúng sanh, Thầy ráng giúp.

Tụi con mới thấy, ở đây tụi con đâu có làm gì mà chưa ai thiếu ăn thiếu mặc. Ở ngoài đời họ lo làm đủ thứ, có khi còn thiếu hụt. Còn mình tu thì chỉ lo tu thôi, không làm gì hết, không tính toán danh lợi hay trồng tỉa gì, mà không thiếu hụt ngày nào. Vậy mới thấy công đức tu hành rất là thâm hậu.

Nếu tụi con nỗ lực tu, không nghĩ bậy nghĩ bạ, hơn thua, phải quấy gì, thì phước không lường trước được, no ấm mãi mãi. Đói thì có cơm, khát thì có nước, rách có áo mặc, nhà hư có người sửa. Vậy mà không chịu tu, còn đòi cái gì nữa! Nếu ở đây thiếu thốn thì nói tu không nổi, nhưng tất cả đều có đủ, vậy mà không cố gắng tu thì quá tệ!

Đối với Thầy, nuôi chúng đông thì phải lo, nói lo cũng không biết lo gì đây. Người ta bày mình thu tiền bãi xe, một năm cũng được nhiều lắm, lấy đó lo cho thiền viện. Nhưng Thầy không làm vậy, miễn phí tất cả, mà vẫn đầy đủ, không đến đỗi thiếu hụt.

Sắp làm Lễ Đặt đá, tụi con ra Yên Tử, trước phải lo làm công việc.

– Dạ, làm cái gì ạ?

– Làm bếp. (Toàn chúng cười.) Ưu tiên cho tụi con ra làm bếp. Thầy dặn trước, làm bếp thì ai sai gì phải làm đàng hoàng, làm cho khéo một chút để đãi khách, đừng làm vụng quá người ta chê cười. Kế nữa, sau khi làm đám xong rồi, tụi con đi đâu?

– Dạ tụi con đi tham quan.

– Ờ, đi tham quan Yên Tử, rồi đi vịnh Hạ Long, phải không?

– Dạ phải.

– Khi lên Yên Tử, tụi con phải cố gắng leo. Nhớ leo núi Yên Tử thì phải có tâm thành với Tổ mới được. Mình tu theo hệ phái Trúc Lâm Yên Tử, mà Yên Tử có Tam Tổ Trúc Lâm, giờ được lên đó phải nhớ lễ Tam Tổ nghe.

Điều thứ ba, nhớ là khi đi ra vịnh Hạ Long, tới hang động Sửng Sốt thì nhìn qua thôi, chứ đừng tới đó rồi la to hay cười lớn nhen. Người ta gọi là động Sửng Sốt, vì thấy lạ nên sửng sốt, ngạc nhiên rồi la lên. Làm vậy, người ta nói mấy cô ni mất oai nghi, rồi họ chê cười. Đi xem cho biết, vui vừa thôi, chứ không người ta nói các cô thiền viện Trúc Lâm ra đây cười giỡn quá, kỳ lắm! Thầy dặn ba điều đó, tụi con phải nhớ.

Ở ngoài Bắc, một số nhà sư không ăn chay, người đi lễ đem đồ mặn vô cúng, rồi chia cho quý sư dùng. Chư tăng ni thiền viện Trúc Lâm Yên Tử của mình ăn chay. Còn các chùa trên Yên Tử thì thấy người dân đi lễ cúng đủ thứ chay mặn. Như vậy, mai kia tụi con ra ngoài đó ở, người ta hỏi: Tại sao từ xưa đến giờ các Tổ ăn mặn mà bây giờ mấy cô ăn chay, như vậy là làm ngược lại với các Tổ? Tụi con trả lời thử coi?

Tụi con phải chú ý điều này để mai kia có ai hỏi, mình biết mà trả lời. Bởi vì, có những người thấy thiền viện có thờ Tam Tổ, bây giờ mình ăn chay thì họ thắc mắc: Hồi xưa Tam Tổ ăn chay hay mặn? Tụi con nhớ câu gì để xác định Tam Tổ Trúc Lâm ăn chay, nói to cho Sư ông nghe coi!

– Ăn rau ăn tráinghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay; 

Vận giấy vận sồi, thân căn có ngại chi đen bạc.

Ừ! Sau này tụi con học thêm một bài nữa. Bài Vịnh Vân Yên Tự Phú của thiền sư Huyền Quang, bài vịnh đó có câu: Quên ngọc thực bỏ hương giao, rồi sau đó Cắp nạnh cà một vò, tương một hũ. “Ngọc thực” nghĩa là những thức ăn mỹ vị, thơm ngon, “hương giao” là rượu thơm. Quên thức ăn ngon, bỏ rượu thơm không dùng mà xách một vò cà pháo với một hũ tương lên núi dùng, để chứng minh ngài không có ăn cá thịt mà chỉ ăn tương cà thôi.

Phải thuộc lòng, nắm chắc, chứ nếu mình không biết trước, người ta đặt câu hỏi, mình lúng túng. Vậy ăn chay là đúng ý Tổ hay ăn mặn là đúng? Mình có bằng cứ mới nói Tam Tổ ăn chay được, nếu không có bằng cứ, nói khơi khơi thì người khác nói mình bịa. Bởi vậy, tụi con phải thuộc ít bài, mấy câu đó phải gạch đít để nhớ.

Mình chủ trương khôi phục Thiền đời Trần, lấy Tổ Trúc Lâm làm gương mẫu, mà nói Tổ Trúc Lâm ăn mặn thì cay quá. Vậy nên, Thầy nghiên cứu kỹ lời dạy của các Tổ, nhớ thuộc lòng, để thực tế dẫn một hai câu của các ngài, không ai cãi được.

Người tu ăn chay lạt để giữ lòng từ bi, thương yêu các loài. Chứ nếu tụi con còn ăn cá ăn thịt, nghe nói làm thịt con heo con bò, mình dửng dưng không thấy xót thương chúng. Mình ăn chay thấy người ta đập cá, cắt cổ gà vịt, nó vùng vẫy mình thấy xót xa. Nếu ăn mặn, thấy cảnh đó, nhớ chút nữa mình có đồ ăn ngon thì đâu có thương, thương nó làm sao ăn được. Thí như mấy người ăn thịt chó, thấy đập đầu chó thì vui, gặp thịt chó là ăn liền, đâu có thương chúng. Còn bây giờ tụi con ăn chay, không ăn cá thịt, nên nghe hay thấy người ta giết hại chúng thì đau xót, đó là lòng từ bi. Các vị tu Nguyên thủy (Nam tông) không ăn chay, cũng có lý do của họ là đi khất thực người ta cho gì ăn nấy, nếu chỉ ăn chay thì rất khó có thức ăn.

Hôm đó, đi ngoài đường, Thầy thấy có người chở trên xe mấy con chó họ đã làm thịt, mổ bụng, nhìn thấy giống thịt của mình, không khác. Bởi vậy, ai đi tu muộn, còn nhớ lại hồi ở nhà không? Ở dưới quê, khi giết mấy con vật, họ đọc bài chú vãng sanh. Hoặc lâm râm: “Đầu thai kiếp khác làm ăn, đừng đầu thai con gà, con vịt ở dơ ở dáy…” Thương chúng thì thả chúng ra, chứ đem chúng đi cắt cổ vặt lông, vậy mà còn làm ra vẻ từ bi, đó là lừa dối, là gạt mình. Mấy đứa hồi ở nhà có làm kiểu đó không? Nếu thương chúng, muốn chúng được vãng sanh, thì phải tha chúng, chừng nào chúng hết duyên thì ra đi. Đàng này cắt cổ chúng mà đọc chú vãng sanh.

Bây giờ Thầy đặt câu hỏi lại, giả sử bây giờ có ai đó đè cắt cổ mình, nói cắt cổ cho cô, cho chị được về cõi Phật sớm, có ai chịu không? Thật vô lý làm sao, cắt cổ chúng, rồi tụng chú vãng sanh, nghe thì có vẻ rất từ bi, nhưng thật là vì miếng ăn mà đoạt mạng chúng sanh, không biết thương hay xót xa.

Người đời thấy người tu ăn chay lạt, họ thấy thương mình sao sống kham khổ vậy. Họ đâu biết người tu phải từ bi, thương vật nên tình nguyện ăn chay, chứ không ai ép. Có lòng từ bi thì đối với đồng loại mình thương, với đồng đạo cũng thương. Còn với người đồng chí hướng càng phải thương hơn nữa. Tụi con có mấy cái đồng? Trước là cùng tình đồng loại, kế là đồng chủng tộc, đã thấy thương rồi. Giờ thêm tình đồng đạo càng thương hơn, rồi thêm tình đồng sư nữa lại càng quý. Nhưng khi phiền não nổi lên thì có thương không? Có phiền não liền hết thương, ôm ấp phiền não thì không có từ bi, dẹp được phiền não thì mới có lòng thương.

Tại sao mình bị phiền não? Là do thấy gì cũng thật nên phiền não. Nếu thấy giả hoài thì đâu có chuyện gì để bực bội, phân bua. Không phải đợi mất đi mới thấy mình giả; lúc vẫn còn ăn nói, vẫn còn hoạt động nhưng thấy rõ nó không chắc thật. Phật nói giả mình phải luôn nhớ; chứ không phải ngồi trong lớp học thì nhớ, ra rồi thì tính ngày nào, tháng nào, giờ nào đó ai đã xúc phạm mình, coi thường mình… rồi khởi tâm giận hờn, thù địch. Biết nó giả, ai làm gì cũng cười thôi.

Sơ tổ Trúc Lâm khi bỏ mọi vinh hoa phú quý, vào trong núi sâu tu hành đắc đạo, nên làm bài ca Được Thú Lâm Tuyền Thành Đạo. Trong đó có mấy câu, ngài ngồi ngẫm lại trong lòng rất thích rất vui, rồi cười ha hả một mình. Như vậy, ngài vui thích cái gì mà cười? Ngài thích chỗ “không trọng công danh, không màng phú quý”. Tại sao ngài không trọng công danh, không màng phú quý? Vì ngài thấy ở địa vị một ông vua, như vua nước Tàu đời Tần đời Hán, dù địa vị cao sang tột bậc, rồi cũng như bao người khác, cũng vinh nhục thăng trầm, cũng chịu sanh già bệnh chết, rốt cuộc có được gì! Làm vua cả một cường quốc hay đại quốc rồi cũng chết, chết rồi cũng chỉ có hai bàn tay trắng, đâu có mang theo gì. Vì ngài thấy vậy, nên đang làm vua mà nhường ngôi lại cho con để đi tu, không màng công danh phú quý, đó là chỗ đắc ý của ngài. Nên ngài ở yên chỗ vắng vẻ lặng lẽ đó mà an ổn cười vui.

Thầy lên Yên Tử cất thiền viện, để là thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Ở đây cũng là thiền viện Trúc Lâm, tu theo thiền Trúc Lâm Yên Tử, nhưng đây là núi Phụng Hoàng, nên để là thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng. Còn ngoài kia thì đúng là ở dưới chân Yên Tử, nên để thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.

Tại sao mình phải khôi phục lại Thiền tông đời Trần? Bởi vì, Sơ tổ Trúc Lâm xuất thân là một ông vua, đã từng chiến thắng giặc ngoại xâm là một cường quốc lớn, từng có công danh hiển hách, oai hùng. Như vậy mà ngài còn dám bỏ hết, giao lại cho con rồi lên non lên núi ở tu. Đó là điểm rất đặc biệt, không những ở Việt Nam mà cả các nước trên thế giới cũng không có bao nhiêu người được như thế. Vậy mà thiền đời Trần, công đức của Tổ lại bị bỏ quên mấy trăm năm nay, không ai biết tới. Bởi vậy, Thầy xét kỹ cần phải khôi phục lại, để làm tấm gương sáng cho người tu Phật, phải mạnh mẽ, tinh tấn trên con đường giác ngộ giải thoát.

Một ông vua đang ở địa vị sang quý, danh vọng như vậy mà không màng, dám bỏ hết đi tu, sống đời khổ hạnh. Còn mình là một người dân đen, có gì đâu, vậy mà khi chuyên tu, ở yên một chỗ, còn sợ buồn sợ khổ. Ở đây có khổ bằng trên Ngọa Vân am không? Chúng ta có nhà cửa để ở, có cơm ăn không sợ đói thiếu, không có gì trở ngại. Vậy còn mong cầu gì nữa mà không ráng lo tu hành!

Có những Phật tử không biết tại sao có người tu ăn chay, lại có người ăn mặn? Cùng tu theo Phật mà người ăn chay, người ăn mặn, vậy thì ai đúng? Thầy sẽ giải thích cho quý Phật tử hiểu.

Thời Phật còn tại thế, ngài chủ trương đi khất thực. Tám, chín giờ sáng đi khất thực, đến nhà thí chủ họ cúng gì mình nhận cái ấy về ăn, thành ra không thể đòi hỏi là đồ chay hay mặn. Nhưng về sau này, khi Phật giáo truyền sang những nước như Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản, vì văn hóa bản xứ, các ông vua không chấp nhận việc quý Sư đi khất thực như một người ăn xin. Những vị vua kính trọng Phật pháp, kính quý các đại sư đạo đức, tôn các ngài là Quốc sư. Một vị quốc sư mà đi khất thực, coi như ăn mày thì đâu có được, thành ra họ không chấp nhận thể chế khất thực, nên họ cúng đất, xây chùa. Phật tử cúng dường tứ sự, quý Sư không phải đi khất thực.

Không đi khất thực mà ăn mặn thì phải mua con này con kia về làm thịt, tức là phải ra tay giết, là phạm tội sát sanh, cho nên quý Sư chủ trương ăn chay, để tránh tội sát đó. Chùa Bắc tông, hầu hết là không đi khất thực, không đi khất thực mà ăn mặn sao được, cho nên phải ăn chay để tránh tội sát sanh. Đó là ý nghĩa ăn chay và ăn mặn.

Nhưng với thời này, người ta thấy ăn chay là thích hợp hơn, bởi vì ăn chay là ăn các thứ thực vật thì các bệnh đều giảm. Nên xét ra ăn chay là tốt, vừa nhẹ nhàng vừa đơn giản nên ít tốn. Nếu ăn kiểu người giàu có, sang trọng thì hơi phiền; còn ăn rau luộc chấm nước tương, không tốn bao nhiêu. Vậy ăn chay làm cho cuộc sống đơn giản hơn. Do đó các vị tổ sư chọn pháp ăn chay cho tốt, hoàn toàn tránh được chuyện sát sanh cho mình và cho Phật tử.

Còn quý Sư bên Nam tông thì ăn mặn lẫn chay, vì chùa không có nấu ăn. Các vị đi khất thực hoặc Phật tử đem tới cúng dâng tại chùa, cho nên họ dâng gì thì nhận cái ấy, cho gì thì dùng cái ấy. Vì vậy nên không thể chọn ăn chay hay ăn mặn. Do các Sư không từ chối đồ mặn nên Phật tử quen dần cúng mặn luôn nên thành truyền thống, vì vậy bên Nam tông ăn mặn, bên Bắc tông ăn chay là lý do như vậy. Đó là ý nghĩa tại sao Phật giáo có bên ăn chay, có bên ăn mặn.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.