Phụng Hoàng Sách Tấn

Thỉnh Nguyện Ni (IV)



Ngày 28-05 Canh Thìn (29-6-2000) 

Thời đức Phật còn tại thế, ngày thường chư tăng ni tu tập hoặc phân tán đi giáo hóa khắp nơi nên không có thời gian ở chung một chỗ để cùng nhau sách tấn tu hành. Do đó Phật dạy vào mùa mưa chư tăng ni tụ hội về an cư ở một nơi, để được những vị lớn hoặc các bậc trưởng thượng chỉ dạy việc tu hành thiền định, răn nhắc thúc liễm trong giới luật và học hỏi giáo lý sâu xa. Đây là thời gian các tu sĩ tụ họp về một trú xứ cùng sách tấn, nhắc nhở nhau những điểm còn khiếm khuyết, những gì người sau chưa biết thì người đi trước chỉ dạy cho. Như vậy, đối với đức Phật mùa an cư là tối quan trọng.

Ngày nay hoàn cảnh đã khác, chúng ta không phải đi giáo hóa bốn phương mà ở một chỗ, người trước nhắc nhở người sau. Tuy nhiên hàng đệ tử Phật vẫn y theo lời dạy của Phật, giữ ba tháng an cư ở yên một chỗ tinh tấn tu hành. Bởi vì nếu không phải là mùa an cư, khi gặp những chuyện không thật sự cần thiết lắm, chư tăng ni cũng đi nơi này nơi kia làm mất nhiều thời gian tu hành. Vì vậy ba tháng an cư bắt buộc phải ở yên một chỗ để thúc liễm thân tâm. Ngoài việc ở một chỗ tinh tấn tu hành, tăng ni còn phải học hỏi, tìm hiểu cho sáng tỏ những điều Phật tổ dạy để tu. Cho nên, nếu y lời Phật dạy mà tu hành thì sau mùa an cư là được thêm một tuổi đạo, tức là tuổi đạo đức.

Vì tầm quan trọng đó, cho nên trong ba tháng, Thầy nhắc nhở ni chúng phải siêng năng, cần mẫn tu hành để tăng trưởng đức hạnh, tăng trưởng trí tuệ. Được vậy mới xứng đáng thêm một tuổi hạ hay là tuổi đạo. Nếu trong một năm, ngày tháng nào cũng bình thường, không có sự cố gắng miên mật, không tăng tiến thêm một chút nào thì chưa xứng đáng thêm một tuổi đạo. Vì vậy trong mùa an cư, mong tất cả ni chúng đều phải thúc liễm thân tâm, cố gắng tu hành. Làm sao qua một mùa an cư, trí tuệ được mở mang sáng suốt, đức hạnh càng thêm tăng trưởng, giới luật được trang nghiêm thanh tịnh hơn. Chính nhờ đó mà mỗi vị đều được tiến bộ, có kết quả tốt. Được như vậy thì một năm chúng ta có thêm một tuổi đạo mới thật xứng đáng, còn cứ tu bình thường không tăng không tiến, mà nói được một tuổi đạo thì chỉ thêm hổ thẹn mà thôi. Cho nên mong ni chúng phải có tâm quyết chí tu hành và cố gắng thúc liễm, tỉnh giác đúng như lời Phật dạy. Để sau mùa an cư sự tu hành tăng trưởng, xứng đáng thêm một tuổi đạo đức, xứng đáng là con của đức Phật.

Trong kinh Di Giáo, Phật nói phiền não rất đáng sợ, như ba con rắn độc. Ba con rắn độc đó là gì? Tham, sân, si. Rắn độc phiền não ngủ trong tâm các ông, thí như rắn hổ mang ngủ trong nhà các ông, phải sớm dùng móc sắt trì giới đuổi trừ nó, chừng nào rắn độc ra rồi mới có thể an giấc. Nếu nó chưa ra mà các ông ham ngủ, ấy là người không biết hổ thẹn.

Độc phiền não trong tâm đáng sợ, Phật thí dụ như rắn hổ mang đang ngủ ở trong nhà, khi nó thức dậy thì sẽ hại mình. Nếu nội tâm còn tham sân si, đó là còn nuôi ba con rắn độc trong nhà. Rắn độc này còn nguy hiểm hơn rắn độc ở ngoài, vì rắn độc bên ngoài cắn chỉ chết một thân này, còn rắn độc tham sân si thì phá hại mọi người, khiến phải chịu khổ luân hồi từ đời này và vô số đời sau nữa. Cho nên ba độc tham sân si còn độc hơn các loại rắn độc bên ngoài. Vì đó là thứ nguy hiểm, nó lôi kéo mình đi trong sanh tử không cùng.

Vậy nên mỗi người phải kiểm lại nội tâm mình, xem tham sân si còn nhiều hay ít? Nếu còn nhiều thì phải chịu trầm luân hoài, nên Phật nói “độc hơn rắn độc”. Tất cả ni chúng mai kia sẽ làm thầy người, khi đem lời Phật dạy ra hướng dẫn cho người ta tu, bảo họ phải dẹp bỏ tham sân si mà bản thân mình chưa dẹp được thì sao? Nếu Phật tử dẹp được ba độc mà tăng ni không dẹp được thì tăng ni đứng sau Phật tử một bước rồi! Nên nhớ, mình là người dẫn đường chứ không phải là người nối gót theo sau. Chúng ta đã là người dẫn đường thì những gì xấu dở phải dẹp bỏ trước, rồi mới chỉ dạy cho người sau bỏ được. Mình còn nguyên tham sân si mà bảo người sau bỏ, hoặc chỉ cách cho người khác dẹp bỏ, ấy là vô lý, không ai tin nổi!

Thiền viện Trúc Lâm là nơi chuyên tu, nếu các vị tu ở đây được ba năm hay năm năm, về sau có chùa ra làm trụ trì mà khi gặp việc gì không hài lòng cũng la hét, sân si… thì sao? Người ta sẽ nói, ở nơi đó tu không hơn gì những nơi khác, rốt cuộc cũng tham sân si. Vậy nên mỗi người cần phải biết rõ ba độc để tiêu diệt, cho nó chết dần chết mòn, đến khi nào ba con rắn độc ra khỏi nhà chừng đó ngủ mới yên. Không riêng một người nào, mà tất cả phải tự kiểm điểm. Xét lại mình, thấy còn một thứ là đã không tốt huống là còn đủ cả ba thứ. Nếu còn đủ ba thứ thì chắc chắn không bao giờ giải thoát được.

Người tu chứng quả Tu-đà-hoàn, tham sân si tuy chưa sạch nhưng cũng dần hết, dần sạch. Qua bảy lần trở lại tu hành, đến chừng sạch hết tham sân si thì mới vào được quả thứ tư. Thế nên, muốn chứng đắc thánh quả mà gốc tham sân si không dẹp thì khó đạt được sở nguyện của mình. Do đó, hôm nay Thầy nhắc cho tất cả ni chúng nhớ, còn một chú rắn độc nào nằm ở trong thất thì đều bất an, ngủ không yên. Nếu một chú rắn độc tham sân si nào còn trong nội tâm thì mình còn khổ, chưa giải thoát được. Cho nên phải cố gắng tận lực tiêu diệt ba độc, chừng nào ba thứ đó chết sạch thì sự tu mới tiến lên được, còn ba độc thì tu bao lâu cũng không thành công.

Ngày 28-06 Canh Thìn (29-07-2000) 

Ni chúng tại Thiền viện nhờ ở yên, lại thường xuyên được Thầy nhắc nhở cho hiểu tu đúng với chánh pháp, vì vậy ít có lỗi lầm, sự tu hành được tốt. Còn chúng ở ngoài, thường đi nơi này nơi khác, ở chỗ này chỗ kia nên dễ phạm lỗi.

Vừa rồi báo Giác Ngộ có đăng bài Thầy giảng, “Thiền là nguồn gốc của Phật pháp”. Trong đó, Thầy nói Phật giáo Việt Nam có hai cái mất gốc:

Thứ nhất: Thời đức Phật, Phật Thích-ca do tu thiền mà giác ngộ thành đạo. Hàng đệ tử Phật tu tập, từ Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni… cho đến Bồ-tát, chứng quả đều do tu thiền. Thế mà bây giờ, Phật giáo Việt Nam không ai biết tu thiền là gì. Vậy có mất gốc không?

Thứ hai: Phật giáo Việt Nam đã mặt có từ thế kỷ thứ II, thứ III, thời đó người tu Phật đều tu thiền theo giáo lý trong kinh điển Phật dạy. Từ thế kỷ thứ V, thứ VI về sau thì tu thiền theo Thiền tông. Đến thế kỷ XIX, khi đất nước bị Pháp thuộc thì Thiền tông bị mất dạng. Như thế, tính từ thế kỷ thứ III cho đến thế kỷ XIX, trải qua bao thế kỷ người tu theo Phật ở Việt Nam đều tu Thiền, chỉ có thế kỷ gần đây là tu Tịnh độ. Ngay như hiện tại, khi các bậc tôn túc viên tịch cũng đều để “từ Lâm Tế chánh tông”. Vậy mà bây giờ hỏi Thiền không ai biết, tông Lâm Tế là tông nào cũng không biết. Chẳng những không biết mà lại còn chống đối nữa!

Từ đức Phật và chư vị thánh tăng thuở trước đều tu thiền, cho đến nền tảng tu của Phật giáo ngay trên đất nước Việt Nam mình, cũng là thiền. Vậy mà người tu không biết thiền, thử hỏi không mất gốc là gì? Nhìn lại lịch sử thấy có những điều không hợp đạo lý nên Thầy nói, dù nói ra không có mấy ai thừa nhận, nhưng chủ trương của Thầy là điều gì mình biết mà không chịu nói ra là không có trách nhiệm, không vì sợ mích lòng mà không dám nói. Thầy đã dám nói, tức là dám chấp nhận nghe.

Lời Thầy nói trong những buổi giảng, cũng là lời dặn dò lại cho tăng ni. Mai kia nếu Thầy ra đi mà không kịp nhắc, không nói rõ ràng thì trong chúng sẽ không biết Thầy dặn điều gì. Cho nên Thầy có viết mấy quyển sách, để khi đọc lại tăng ni biết những điều Thầy muốn nói. Người nào thật tu, trung thành với đường lối giáo hóa của Thầy thì phải ráng đọc những quyển sách đó. Đây là đường lối và chủ trương của Thầy, toàn chúng phải hiểu, phải nhớ.

Hôm rồi, sau buổi quy y ở Thường Chiếu, thư ký báo cáo với Thầy, hiện giờ theo số liệu được ghi trong sổ quy y, số Phật tử đã quy y tại các Thiền viện là:

– Thiền viện Thường Chiếu: 27.000 người.

– Thiền viện Trúc Lâm: 2.600 người.

– Thiền viện Chơn Không và các nơi khác trong nước, khoảng 2.000 người.

– Ở nước ngoài: Mỹ, Pháp, Canada, Úc… số Phật tử quy y có hơn 1.500 người.

Từ con số không mà bây giờ có bao nhiêu Thiền viện và Phật tử tu theo, rồi từ đây đến lúc Thầy tịch còn thêm bao nhiêu nữa. Ở trong Nam, mỗi tháng Lễ quy y tại Thường Chiếu đều trên 150 người. Ở ngoài Bắc, vừa rồi có hai buổi quy y trên 1.000 người. Rồi ở tại Chơn Không và các Thiền viện khác cũng đều có lễ quy y thường kỳ. Con số này minh chứng sự tin tưởng của Phật tử đối với đường hướng của Thầy. Việc làm có kết quả thật sự tốt đẹp đó, là vì mở mang đúng thời chứ không phải mơ hồ.

Nói sơ qua như vậy để thấy, số Phật tử quy y với Thầy rất đông. Nhìn lại các Thiền viện thì từ năm 1970 đến nay, chỉ có Thiền viện Chơn Không là đơn sơ, còn lại các Thiền viện về sau đều khang trang tốt đẹp. Như vậy, đứng về mặt cơ sở vật chất thì các Thiền viện đều mở mang rộng rãi, về mặt giáo hóa Phật tử cũng rất thuận lợi.

Về phần phát triển cơ sở thì không phải là khó, nhưng trên phương diện giáo hóa, nếu việc làm của Thầy không hợp thời, hợp lý thì không thể nào phát triển được. Chính nhờ hợp thời, hợp đạo lý nên mọi người mới ủng hộ, giúp đỡ mình. Con đường Thầy đi đang tiến, nhưng nếu đến lúc sức mệt mỏi Thầy nghỉ thì tăng ni phải gánh vác, không được để cho suy tàn. Bổn phận của tăng ni là hoằng dương Phật pháp, làm sao cho Phật giáo ngày càng được xương minh. Phật giáo là giáo pháp giác ngộ chân lý, cho nên tu theo Phật là tu giác ngộ. Vì vậy, nói đến Phật, Bồ-tát là nói đến con người giác ngộ.

Phật, tiếng Phạn là Buddha, Trung Hoa dịch là Giác giả, tức là người giác ngộ. Xưa ở Việt Nam, dịch âm là Bụt, người dân gọi nôm na là ông Bụt. Bồ-tát là Hữu tình giác hay Giác hữu tình. Hữu tình giác là một chúng sanh được giác ngộ. Giác ngộ rồi làm cho người khác được giác ngộ, nên được gọi là Giác hữu tình.

Phật và Bồ-tát đều là một chúng sanh được giác ngộ, nhưng Bồ-tát khác Phật ở chỗ nào? Phật là bậc Toàn giác, tức giác ngộ viên mãn, tự giác và giác tha đầy đủ, tức là giác ngộ cho mình cùng giác ngộ cho người tròn đầy. Bồ-tát là Phần giác, tức giác ngộ từng phần.

Nói đến Phật Bồ-tát là nói đến giác ngộ, vậy hàng Thanh văn Duyên giác có giác ngộ không? Thanh là tiếng, văn là nghe. Bởi nhân nghe đức Phật giảng lý Tứ đế mà giác ngộ, nên được gọi là Thanh văn. Còn hàng Duyên giác thì do quán pháp Mười hai nhân duyên hoặc pháp Duyên khởi mà được giác ngộ. Như vậy trên từ Phật xuống tới hàng Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác đều là những người giác ngộ. Thế nên chúng ta, những người tu Phật và hướng dẫn Phật tử tu hành phải đi trên con đường giác ngộ. Dạy người tu phải nhận chân lý vô thường, rõ lý nhân quả hoặc biết các pháp duyên sanh… Đó là chỉ cho người ta thấy lẽ thật, cũng là giác ngộ chân lý.

Về lý duyên khởi, trong kinh Trung A-hàm, Phật nói: “Nếu ai thấy duyên khởi tức thấy pháp, nếu thấy pháp tức thấy duyên khởi.” Nghĩa là thấy được lý nhân duyên là đạt được pháp của Phật, mà đạt được pháp của Phật là thấy đạo.

Phật tử đi chùa được nghe giảng, biết từ Phật Bồ-tát và hàng Thanh văn Duyên giác đều là bậc giác ngộ, nên tin theo mà tu tập. Vậy mà bây giờ mình tu không đặt nặng giác ngộ, là có đi đúng đường Phật dạy không? Từ thủy đến chung, mình giác ngộ cái gì? Nếu dạy Phật tử đi chùa chỉ tin Phật, cầu phước, xin Phật ban cho cái này cái nọ. thì có giác ngộ không?

Đạo Phật lấy trí tuệ làm đầu, còn các đạo khác thì đặt niềm tin là trên hết. Thế nhưng hiện nay, phần đông người tu hành chúng ta chỉ cầu phước rồi dạy Phật tử cũng như vậy. Cúng chùa có phước, làm từ thiện là có phước, bớt lòng tham tiền của thì tăng trưởng phước báo… Phật tử nghe dạy, đối với tiền bạc bớt tham nên đem tiền của đi cúng dường. Nhưng do chỉ tin rồi làm, nên bỏ ra ít mà mong được phước nhiều, rốt rồi vẫn tăng trưởng lòng tham. Nhìn chung, từ sự tu hành của riêng mình đến hướng dẫn Phật tử, cũng đều đặt vào bản ngã. Do đó tu nhiều mà kết quả rất ít. Nếu đạo Phật như vậy thì có còn là đạo Phật không?

Nói thế ắt sẽ có người thắc mắc, trong kinh Hoa Nghiêm đức Phật nói: “Tín vi đạo nguyên công đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn.” Tín là nguồn của đạo, là mẹ của công đức, hay làm tăng trưởng tất cả các căn lành, nuôi dưỡng tất cả đạo tâm. Chỗ này cần phải hiểu cho rõ.

Chữ “tín” trong kinh Phật nói có hai nghĩa: một là Tự tín, hai là Tha tín. Tự tín là tin mình có khả năng giác ngộ thành Phật. Tha tín là tin Phật, tin Tam bảo chỉ hướng cho mình tu. Nếu tu mà không tin Phật cũng không tin mình thì làm sao tu được. Bởi tin mình có đủ khả năng giác ngộ thì mới gắng tiến lên. Tin Tam bảo, tức là tin Phật Pháp Tăng. Tin Phật là bậc thầy giác ngộ dẫn đường, tin Pháp của Phật nói là lẽ thật, là chân lý. Tin Tăng-già là đoàn thể tu hành có đức hạnh thanh tịnh, đó là những người đi trước xứng đáng cho ta bước theo. Tin Tam bảo cũng là tin chính mình có đủ khả năng giác ngộ như Phật. Như vậy, tin này là từ trí tuệ mà tin, chứ không phải tin cúng Phật có phước, hay tin Phật vì để cầu xin cho mình được cái này cái nọ.

Những gì Thầy nói và làm bây giờ, đều do Thầy ôm ấp từ lâu. Thầy không an tâm khi thấy như thế, Thầy lo lắng Phật giáo Việt Nam bị mất gốc, nên ngày nay Thầy nói rõ để cho toàn chúng hiểu. Thầy mong Phật giáo Việt Nam được soi sáng, đúng theo tinh thần giác ngộ Phật dạy. Cho nên Thầy muốn tất cả tụi con phải biết được ý nghĩa, thấy rõ đường lối đi. Biết như vậy rồi, nếu không làm ngọn đuốc sáng thì ít ra mình cũng phải là ngọn đèn dầu, hay đốm lửa của con đom đóm, chứ không thể mù mịt tối tăm được.

Kế đây Thầy nhắc nhở thêm. Tại sao trong Thanh quy của Thiền viện, Thầy lại đặt nặng Lục hòa? Bởi hai lý do:

– Thứ nhất: Vì tinh thần Lục hòa là bản chất của Tăng. Chữ Tăng nói đủ là Tăng-già, chỉ chung cho cả tăng và ni, có nghĩa là hòa hợp chúng. Sống trong một tập thể phải luôn hòa hợp, luôn sống trong tình đạo vị, không có niệm chia rẽ hay oán ghét giận hờn nhau. Như vậy mới gọi là đoàn thể của Tăng, nếu không hòa hợp thì không phải là Tăng.

Bản chất của người tu Phật là hòa hợp, nhưng gần đây Thầy thấy người tu thiếu hòa thuận. Có những trường hợp, cùng sống chung trong một chùa mà hay gây gổ, chia năm xẻ bảy. Hoặc cùng sống và làm việc chung trong một đoàn thể, cùng lo Phật sự mà mỗi người mỗi ý, không ai hòa được với ai. Như thế thì nếp sống hòa hợp của người tu bị kém thiếu, chưa xứng đáng là một Tăng-già. Muốn thành một đoàn thể Tăng, đúng ý nghĩa trong tinh thần hòa hợp thì phải lấy Lục hòa làm trên. Nếu người tu mà thiếu Lục hòa, tức là bản chất hòa thuận không có thì dù cho có hình thức là người tu cũng chưa xứng đáng. Do đó ở Thiền viện, Thầy đặt Lục hòa làm trọng tâm.

– Thứ hai: Người tu căn bản là phải sống hòa đồng, tức không có gì là tư riêng của mình. Thế mà hiện nay chư tăng chư ni sống trong tự viện nhưng vẫn còn tâm riêng tư, thiếu tinh thần hòa thuận. Đôi khi bên ngoài giữ vẻ như hòa, nhưng ý bên trong thì rất khó hòa. Nếu muốn hòa thì phải xả. Nghĩa là phải xả bớt ý niệm của mình, để hòa đồng với đại chúng. Thí dụ, tâm của người này mười phần đen, tâm của người kia mười phần trắng, muốn hòa thì người trắng phải giảm xuống năm phần, người đen tăng lên năm phần thì mới hòa được.

Trong chúng thường có bệnh, giữ cứng chắc vọng tâm của mình. Do không chịu buông xả nên mỗi người là mỗi góc trời, không ai hợp ai hết. Đó là bệnh. Thế nên, sống chung trong tập thể phải xả bỏ cái riêng tư, để hòa cùng huynh đệ. Nhất là phải xả bỏ niệm thương ghét, giận hờn. Thương ghét giận hờn là không hợp đạo lý. Nếu còn thương người này thì đương nhiên sẽ ghét người kia, có ghét người kia thì có thương người này, cứ như vậy mà thương và ghét không thể tách rời được. Buồn giận cũng thế, phải nên xả bỏ. Nếu thấy ai làm trái ý mình là không vui nổi sân lên liền thì làm sao sống hòa hợp được.

Trong tâm còn thương ghét còn giận hờn thì ngồi thiền làm sao tiến bộ được. Hình thức ngồi thiền nghiêm chỉnh mà ở trong tâm thì rối loạn, nhớ tới người thương kẻ ghét, giận hờn… Những hình bóng đó cứ lảng vảng trong tâm hoài thì làm sao yên được. Bởi vậy, người tu muốn được yên ổn thì tất cả thương ghét giận hờn phải xả bỏ qua một bên. Vì đó là những thứ điên đảo, không tốt, không phải thật.

Người biết tu là phải để cho tâm mình luôn trong sáng, nếu tu mà ôm ấp những phiền não thì uổng đi một đời, không đi tới đâu, tất cả phải luôn nhớ tới điều đó. Càng ôm ấp thì càng thấp, càng xấu, sẽ dẫn đi vào vòng trầm luân sanh tử, không vượt ra được. Do đó người tu phải sống hòa thuận, xả bỏ chấp trước riêng tư, xa lìa tất cả thương ghét.

Nếu ở trong chúng mà có tâm thương ghét riêng tư thì rất khó tu. Thí dụ, nếu thương người nào đó, khi thấy họ làm công tác hơi nặng thì xót ruột, thấy họ bị rầy mình cũng đau lòng. Ngược lại, nếu ghét người nào, thấy họ thảnh thơi thì bực mình, thấy ai khen họ mình nổi tức. Thương ghét làm cho tâm rối loạn bất an làm sao tu, làm sao hòa được. Thế nên huynh đệ cùng ở chung với nhau, phải khéo buông xả niệm riêng tư, đừng chấp mê lầm. Trong chúng, có nhiều vị tu hay lắm nhưng còn chấp rất nặng. Tu thì siêng năng cần mẫn mà chấp cứng ngắc không xả được, đó là bệnh. Có vị học giỏi, nghe đâu hiểu đó nhưng thương nhiều, ghét nhiều cũng không tốt. Nên nhớ, chấp nào cũng là bệnh. Người biết tu thì phải làm sao cho tâm mình ngày càng thanh tịnh, ngày càng trong sáng, chứ không phải càng tu càng dính mắc, càng u tối.

Toàn chúng phải tập sống đúng tinh thần Lục hòa. Nếu không Lục hòa thì thành có kẻ ghét người thương. Đối với người mình thương thì luôn ưu ái, còn người mình ghét thì bạc đãi. Giả sử hôm đó hành đường, thấy đĩa đồ ăn này ngon hơn đĩa đồ ăn kia, liền lấy đĩa ngon để vào chỗ người mình thương, còn đĩa đồ ăn hơi dở thì để chỗ người mình không thích. Sở dĩ đối xử với người thương kẻ ghét khác biệt là vì thiếu tinh thần Lục hòa. Tập xả bỏ niệm thương ghét riêng tư đó, mới sống hòa với chúng được.

Đối với Thầy, ai Thầy cũng thương, thậm chí ngay cả với mấy con chó, chó ở nhà khách, hay ở Nội viện Tăng, Nội viện Ni… Thầy đều thương như nhau không khác. Nếu trong tâm chúng ta còn thương người này, không thương người kia, tức là còn đối xử phân biệt nhiều. Như vậy, tuy sống trong đạo mà không có đạo. Vì vậy, Lục hòa là nhân quan trọng để hòa hợp nhau.

Lục hòa là chất keo gắn chặt người này với người nọ, liên kết với nhau không có trở ngại. Nếu trong chúng sống thiếu Lục hòa thì tập thể tự rã rời. Dù không ai phá phách gì cũng tan nát, không bền, không nguyên vẹn. Thầy rất sợ sự chia rẽ nội bộ, cho nên trong chúng phải khéo giữ Lục hòa. Nếu không giữ hết được, nhất thiết cần giữ được ba cái hòa đầu, đó là Thân hòa, Khẩu hòa và Ý hòa. Giữ được ba cái hòa này cũng là tốt rồi. Bởi vì thân hòa mà khẩu không hòa thì nói ra như sét đánh ngang tai, nghe không êm ái chút nào. Vậy nên, phải xả những niệm riêng tư để hòa hợp nhau. Sống trong chúng, nếu người nào nói năng không hòa, không nhẹ nhàng thì ráng sửa. Còn người thân hòa, khẩu hòa mà ý chưa hòa thì cũng phải tập buông xả để vui hòa.

Trong kinh thường nói: “Hòa hợp như nước với sữa”. Nước với sữa hòa lẫn vào nhau không có khoảng riêng, người tu chúng ta cũng vậy. Ở trong Thiền viện, chúng có đủ ba miền Bắc Trung Nam, nên tánh tình của mỗi người mỗi khác. Vì vậy, muốn sống hòa thuận theo Thanh quy thì phải xả cái khác của riêng mình để hòa chung với huynh đệ. Mọi người sống chung phải thương mến, kính quý nhau. Đừng nhìn riêng tư, huynh đệ này là người mình thương nên vui vẻ, huynh đệ kia là người mình ghét nên không thèm ngó mặt. Người tu mà sống như vậy, gọi là thân ở trong đạo mà mang tâm ngoài đời.

Thầy mong toàn chúng sống đúng tinh thần Lục hòa, theo như lời Phật dạy, để xứng đáng là tăng ni trong Phật giáo, là thiền sinh ở thiền viện. Mai kia ra làm Phật sự không hổ thẹn với người, được như vậy là điều tốt.

Ngày 28-07 Canh Thìn (27-08-2000) 

Hôm nay lễ Tự tứ xong, Ni chúng ở thiền viện xin Thầy dạy bảo thêm. Vì vậy Thầy có ít lời nhắc nhở tất cả.

Theo pháp Tự tứ, tất cả tăng ni đều yêu cầu các vị trưởng lão, nếu có thấy, nghe hoặc nghi ngờ lỗi lầm gì thì xin hoan hỷ chỉ dạy thêm để mình tiến tu. Khi được yêu cầu, các vị trưởng lão tùy theo chỗ thấy, nghe hoặc nghi, tức không tự thấy nghe mà do ai đó thưa lại những lỗi lầm hay khuyết điểm gì thì các ngài sẽ chỉ dạy, để người phạm sám hối cho hết tội lỗi. Đó là ý nghĩa rất quan trọng của tự tứ.

Trong ba tháng tăng ni cấm túc an cư, đến ngày viên mãn ra giữa chúng xin chỉ những sai sót lỗi lầm của mình. Nếu có tội được chỉ dạy thì nhận để sám hối, không trốn tránh. Trên đường tu, tâm cầu tiến bộ đó rất cao thượng, nên ngày này cũng được gọi là ngày chư Phật hoan hỷ. Chúng ta tu, làm những điều Phật vui thì mới có phước. Nếu làm những điều trái lời Phật dạy, trái luật Phật chế, làm Phật không vui thì bị tổn phước. Người tu hành đôi khi phạm lỗi mà không biết, để lâu ngày lỗi sẽ càng nặng thêm. Thế nên tinh thần cầu xin vì mình chỉ lỗi cho, để sám hối cho tâm thanh tịnh, tu hành được tăng tiến. Đây là một truyền thống rất đẹp, rất cao thượng trong Phật giáo.

Thầy nhắc lại cho tất cả thấy. Đa số người tu cho rằng ở đâu ít bị rầy thì khỏe dễ tu, còn chỗ nào thường bị rầy quở thì than thở ở đó khó tu. Quan niệm như vậy là không có tinh thần cao thượng. Nếu không làm trái Thanh quy của Thiền viện, không phạm sai lầm gì mà vô cớ bị rầy thì buồn tủi than thở là phải. Còn căn cứ trên Thanh quy có sai phạm, hoặc làm điều gì sai trái thì phải rầy nhắc sửa đổi. Đó là cơ hội tốt để cho mình sống theo đúng quy củ của đạo. Mỗi ngày mỗi loại trừ tật xấu, trở thành người tốt. Đó là duyên lành tu tiến, chứ không phải là cái cớ làm mình thối lui. Như vậy, càng được chỉ dạy thì càng phải mang ơn, vì nhờ đó mà tu tiến được. Nếu cứ thả lỏng muốn làm gì mặc tình thì dù có ở chùa mười năm, hai mươi năm… cũng không tiến được bước nào.

Ngày tự tứ các bậc trưởng lão chỉ lỗi cho mình, đó là do lòng tha thiết cầu xin của mình chứ không phải là bị bươi móc, chỉ trích. Lòng tha thiết cầu xin chỉ lỗi là vì muốn sạch phiền não, muốn dẹp hết những tật xấu. Đây là hạnh tốt, trong sạch, cao quý của những người muốn cầu tiến lên. Bởi người tu nào thường được chỉ dạy, sẽ tiêu mòn lần những lỗi lầm của mình. Nếu lỗi lầm giảm thì sự tu của mình sẽ tiến. Hết lỗi lầm mới xứng đáng để mai kia đứng ra lãnh đạo, hướng dẫn mọi người tu. Mình còn bê bối, còn nhiều thứ xấu thì mai kia làm sao chỉ dạy cho ai được.

Trên đường tu, mỗi năm có một mùa an cư là cơ hội để học những điều hay, đồng thời thấy cái gì dở thì nhắc nhở nhau, không nuôi dưỡng những thói dở xấu mà luôn tăng tiến những điều hay tốt.

Ngày 27-08 Canh Thìn (25-09-2000) 

Hôm nay Thầy không dạy gì về giáo lý, mà chỉ nhắc về chuyện xưa và chuyện nay. Tất cả tụi con nghe rồi rút kinh nghiệm để sau này làm Phật sự biết được sở nguyện và tâm ý của Thầy thế nào mà cố gắng làm cho được.

Lúc mới đi tu, Thầy vô công quả ở chùa Phật Quang, với tâm nguyện thiết tha xuất gia cầu giải thoát sanh tử. Vào chùa, Thầy được Hòa thượng Thiện Hoa nhận làm đệ tử và ở lại đó tu một thời gian. Trong chùa có chia ra Đông đường và Tây đường, lớn nhỏ ở chung. Tây đường với nhà bếp dành cho quý cô, Đông đường là chỗ của quý thầy. Sư ông của Thầy rất nghiêm khắc, có gì sơ hở là bắt quỳ hương quá đường, cho nên trong chúng tu học rất nghiêm chỉnh.

Sư ông nghiêm như vậy, nhưng do thời đó còn xay lúa bằng cối, giã gạo bằng chày, chứ không có nhà máy xay lúa như bây giờ. Quý thầy phụ trách phần xay lúa giã gạo, còn quý cô thì sàng gạo… Bởi làm việc chung qua lại như vậy, nên thời gian sau hai bên nảy sinh cảm tình với nhau. Một hôm, Sư ông bắt được cái thư, liền đưa cho Hòa thượng xem. Thấy cảnh đó, Thầy buồn. Nghĩ mình đi tu là tránh những tình cảm trói buộc phiền hà, để chấm dứt các nghiệp chướng. Với chí nguyện tu hành là phải đạt đạo mà vô chùa thấy người tu còn tình cảm dạt dào quá, như vậy làm sao tu? Thầy rất là buồn!

Thầy đắp y lên đảnh lễ Hòa thượng, thưa: “Bạch Thầy, Thầy cho phép con lên núi tu.” Hòa thượng hỏi: “Tại sao?” Thầy thưa: “Con thấy huynh đệ tu mà còn tình cảm qua lại như vậy, con buồn chán quá! Con nghĩ, mình tu phải làm sao để giải thoát sanh tử mới được. Cho nên con xin phép Thầy, cho con lên núi tu.” Hòa thượng hỏi: “Thanh Từ lên núi tu cách nào, làm sao tu?” Thầy không trả lời được, vì lúc ấy Thầy mới học Phật pháp được một năm, biết cách tu đâu mà trả lời. Hòa thượng dạy: “Phàm người tu Phật, trước phải học hiểu sâu kinh điển, thấy được lý đạo rồi, chừng đó ra ở riêng tu mới tiến, mới đúng đường lối Phật tổ dạy. Còn không biết gì hết, lên núi tu thì tu cái gì? Không khéo tu sai lệch, đi theo tà ma.” Được nghe Hòa thượng quở dạy, Thầy sám hối rồi rút lui luôn, không dám khởi niệm đi nữa. Thầy phát nguyện phải học cho tới nơi, hiểu cho thấu đáo để sau này việc tu được thành tựu. Nhờ sự dạy dỗ của Sư ông mà Thầy hiểu biết rõ ràng và phát tâm mạnh mẽ được như vậy. Đó là kinh nghiệm đầu tiên của Thầy.

Kinh nghiệm lần thứ hai cũng là kinh nghiệm đau lòng của Thầy. Sau năm 1975, bên cạnh Tu viện Chơn Không là Tu viện Bát-nhã. Chơn Không là viện Tăng, Bát-nhã là viện Ni. Thời gian ấy kinh tế rất khó khăn, tăng ni phải tự túc để có phương tiện mà tiếp tục tu hành, nên phải bày ra tổ hợp tương. Tăng ni ở hai tu viện cùng làm tương, rồi gánh xuống chợ bán. Lúc đó Thầy đồng ý cho tăng ni làm chung, vì Tu viện Chơn Không ở trên núi nên công việc làm tương khá vất vả, nhất là khâu vận chuyển lên xuống, cần phải có người mạnh hợp tác với người yếu thì mới làm được. Khi làm chỉ nghĩ là để có phương tiện sinh sống mà tu, chứ không nghĩ đến bất cứ việc nào khác. Thế nhưng khi hợp tác lâu ngày, tăng ni gần gũi nên cũng phát sinh việc không hay.

Thầy thấy mình cố tình tạo việc làm để tăng ni có kế sinh nhai mà tiếp tục đường tu, nhưng vô tình lại tạo duyên cho những người sức tu còn yếu tu không được. Điều này làm Thầy đau lòng lắm! Thầy nghĩ, vị lãnh đạo là người chịu trách nhiệm tất cả những chuyện hay dở của Thiền viện, mà Thầy không sắp xếp được việc sinh nhai trong chúng, để tăng ni nảy sanh duyên xấu khiến cho việc tu bị dở dang. Tự thấy mình không tròn bổn phận, Thầy rất buồn.

Qua các kinh nghiệm đó, khi xuống khu Thường Chiếu, lập các Thiền viện, Thầy chủ trương ở đâu lo ở đó, không cho làm chung nữa. Tuy nhiên, mấy năm đầu kinh tế thiếu hụt, tăng ni cũng phải qua lại để giúp đỡ những việc khó khăn nặng nhọc, nên Thầy vẫn chưa được toại nguyện. Sau này lập Thiền viện Trúc Lâm trên đây, Thầy quyết tâm tạo điều kiện tốt cho tăng ni tu, không để xảy ra việc xấu dở nữa. Cho nên, ở tại Thiền viện Trúc Lâm cũng có bên tăng bên ni, nhưng bên nào sinh hoạt theo bên đó hẳn hoi, để giữ uy tín. Ngày trước vì hoàn cảnh quá khó khăn nên không làm được như ý nguyện, bây giờ hoàn cảnh tương đối dễ dàng, phương tiện sống đầy đủ, mọi công tác trong chúng đều ổn định rồi. Thầy tin rằng, Thầy đã tạo điều kiện tốt cho tăng ni tu, nếu trong chúng quyết tâm tu thì chắc chắn không xảy ra chuyện dở. Đó là sở nguyện, là tâm tư của Thầy.

Thầy luôn nghĩ mình là người đi trước, tăng ni là người đi sau, nên Thầy có bổn phận hướng dẫn tăng ni tu tới nơi tới chốn. Vì vậy Thầy quyết tâm làm sao cho tăng ni tu được tốt, không để xảy ra những chuyện làm trở ngại việc tu của mình. Thầy thường nói, chỉ còn hai năm nữa là Thầy nghỉ rồi, tăng ni cũng phải cố gắng, đem hết tâm nguyện và sức lực của mình mà dồn vào sự tu hành. Làm sao đến khi Thầy nằm xuống, tăng ni có thể thay thế Thầy, gánh vác trách nhiệm của Thầy, làm cho Phật pháp tốt đẹp không bị lu mờ. Mỗi người đều đủ tư cách, xứng đáng làm Thầy cho những lớp sau. Đó là niềm hy vọng và trông đợi từng ngày, từng tháng của Thầy. Bởi lòng mong muốn tha thiết như thế, nên Thầy trông đợi ở tăng ni rất nhiều. Nếu được như vậy là tròn bản nguyện của Thầy.

Tất cả tụi con phải hiểu, lúc nào Thầy cũng đem hết tâm tư và sức lực để lo cho tăng ni. Làm sao cho tăng ni có chỗ ở, đủ phương tiện sống để yên tu. Vì tâm nguyện đó, nên mỗi khi trong chúng có gì trục trặc, trở ngại sự tu là Thầy không vui, Thầy không muốn điều đó xảy ra. Tại sao? Bởi vì Thầy nghĩ, người dưới xấu dở là tại người trên không khéo dạy, không khéo sắp đặt. Thầy tự thấy trách nhiệm của mình quá nặng, nên Thầy mong tụi con yên tu, phải luôn luôn trong sáng thanh tịnh để mai kia giúp Thầy làm những Phật sự lớn. Vì lo như vậy, trông đợi như vậy, nên những gì Thầy sắp đặt đều nhắm vào điểm trọng yếu là giúp cho tăng ni tu tiến, không để phải lui sụt.

Trong cuộc sống tu học, Thầy ráng lo đủ phương tiện yên ổn cho tăng ni tu tiến. Nếu Thầy đã lo cho đủ điều kiện tốt mà tăng ni không giữ tâm tu, để những việc không tốt xảy ra khiến phải thối lùi thì Thầy đau lòng lắm! Tất cả phải hiểu, phải thấy cho rõ. Mình đến đây tu là chuẩn bị vươn lên, đang vươn lên chứ không phải dừng lại. Đã vươn lên thì những gì lợi cho sự tu hành, chuyện gì có ích cho huynh đệ thì đều phải toàn tâm làm cho trọn vẹn, đừng để có chỗ hở cho điều dở len lỏi vào. Nếu làm gì mà để huynh đệ thối tâm, bản thân mình cũng không tu được thì đó là lỗi lớn. Vì vậy, Thầy mong tất cả phải cố gắng tu hành nhiều hơn.

Đối với công việc của Thiền viện, ở tại viện Ni cũng phải tự lực, đừng ỷ lại nhờ vả bên tăng qua làm. Việc gì bên ni làm được thì làm, nếu không được thì nhờ thợ làm. Thiếu tiền không đủ trả công thợ, Thầy sẽ cho. Không nên mỗi việc lớn nhỏ gì cũng đều kêu chư tăng qua giúp. Thầy không đồng ý. Vì nhờ nhiều quá, giúp nhiều quá thì ơn nghĩa cột trói mình, từ đó sanh ra lôi thôi. Không những ở Nội viện Trúc Lâm Ni, mà dưới nhà khách nữ Hương Vân cũng phải như vậy. Tất cả nên nhớ, phải giữ làm sao cho giá trị của Thiền viện Trúc Lâm càng ngày càng tốt đẹp hơn.

Có những Phật tử Việt Nam ở Mỹ, họ rất tin tưởng và trông đợi Thiền viện Trúc Lâm có những người xứng đáng, để Thầy cho ra nước ngoài làm Phật sự. Phật tử ở ngoài Bắc cũng vậy, đều trông mong kỳ vọng, tin tưởng chư tăng ni ở tại Trúc Lâm. Thấy các Phật tử quý kính và trông đợi như vậy khiến Thầy càng lo. Phải dạy dỗ làm sao cho tăng ni tu tốt, để khi Thầy không làm nữa thì tăng ni sẽ lãnh trách nhiệm nơi này nơi kia. Cho nên trong chúng phải hiểu, dù làm bất cứ điều gì cũng vì sự tu, đừng làm những điều tai tiếng không tốt. Nếu để có chút sai sót, chút tai tiếng gì làm cho uy tín của Trúc Lâm mất đi, đó là Thầy không tròn bổn phận.

Thế nên nếu thương Thầy thì phải biết, Thầy chăm lo cho đời tu của tăng ni được tốt đẹp là để sau này truyền bá đạo đức lâu dài. Mỗi người trong chúng đều phải cố gắng giữ gìn và nỗ lực hơn, đừng để những sơ sót xảy ra làm cho uy tín của mình suy giảm. Nếu uy tín suy giảm rồi thì một là công lao của Thầy thành vô ích, hai là phụ lòng trông đợi của Phật tử. Đó là tội lớn. Vì vậy trong chúng, từ nhỏ tới lớn đều phải cẩn thận dè dặt, lo gìn giữ để sự tu lúc nào cũng cao quý và tốt đẹp. Người lớn phải làm gương cho người nhỏ, tất cả cùng một hướng, cùng nhau cố gắng tu tiến lên, đừng để lui sụt.

Ở đây, mình làm gì đều có người giúp đỡ đầy đủ, hộ đâu có đó. Thiếu gạo thì có gạo, thiếu tiền thì có tiền, thiếu áo thì có áo… Phật tử dành tình cảm cho mình quá tốt. Tại sao Phật tử thương Thầy? Vì thấy Thầy đem hết tâm tư lo cho đạo, trải lòng lo cho tăng ni từ sự tu học cho đến tất cả mọi thứ, đều được yên ổn để tu học. Bởi thấy Phật tử tin tưởng như thế nên Thầy rất lo, vì lo mà Thầy thường rầy nhắc. Thầy khó với tăng ni là do như vậy, chứ không phải để lo cho Thầy hay làm cho Thầy có danh tiếng. Nếu người nào thương Thầy, thương đạo, thương cho duyên phúc của mình được xuất gia tu học thì phải nỗ lực cố gắng lên, đừng thả trôi. Nếu trong chúng để xảy ra những việc không hay thì sẽ làm cho Phật tử thất vọng vô cùng, thế nên toàn chúng phải ráng giữ mình. Thầy nghỉ rồi mỗi người phải xứng đáng tiếp nối bổn phận Thầy giao phó, chứ đừng để tan nát không ra gì hết thì thật là uổng công của Thầy và phụ lòng của đàn-na thí chủ.

Mỗi khi đến ngày giỗ của Sư ông, Thầy vừa cầm hương lên là xúc động. Tại sao Thầy xúc động? Thầy nghĩ, nếu không có Thầy mình thì ngày nay mình là cái gì, không biết sẽ ra sao? Chính nhờ Thầy mà ngày nay mình biết được đường tu, nhờ Thầy mà ngày nay mình làm được nhiều Phật sự, cũng chính nhờ Thầy mà mình từ người không ra gì, ngày nay trở thành người có ích cho đời, cho đạo. Nếu Thầy mình không thương không lo thì mình sẽ như thế nào? Bởi nghĩ như thế nên mỗi khi cầm hương lên nguyện là Thầy nghẹn ngào.

Thầy nhớ người trước có công lớn với mình chừng nào thì Thầy càng có trách nhiệm với người sau nhiều chừng ấy. Do đó đối với tăng ni, Thầy đem hết sức lực, tâm tư chỉ dạy dìu dắt đường tu. Thầy mong tất cả hiểu thấu đáo điều đó. Những ngày Thầy còn ở đây dạy bảo thì phải đem hết tâm tư lo học hành, nhớ hiểu và ứng dụng tu cho có kết quả. Khi nào Thầy nghỉ, tăng ni có đủ khả năng để tiếp tục giáo hóa thì đó là biết đền ơn Thầy. Nếu ngày nay Thầy còn, mà không cố gắng tu học thì sau này Thầy nghỉ sẽ như thế nào? Thầy mong tất cả hiểu rõ những gì Thầy trông đợi, mỗi người đều phải cố gắng. Đừng chần chừ, đừng lôi thôi, đừng để mất thời gian quý báu. Nếu cứ thả trôi thì chẳng những uổng công nhắc nhở của Thầy, mà cũng là uổng đi đời tu của mỗi người.

Ở tại Thiền viện, mỗi chiều hô trống đều đọc bài kệ:

Ngày nay đã qua, 

Mạng sống giảm dần,

Như cá cạn nước,

Có gì là vui.

Đại chúng! 

Phải siêng tinh tấn, 

Cứu lửa cháy đầu, 

Chỉ nhớ vô thường,

Chớ có buông lung! 

Đọc bài kệ này là để nhắc nhở tăng ni đừng lơ là. Một đời người mấy chục năm, sự tu hành chưa chắc đã xong mà còn bỏ phí nữa thì quá uổng quá tiếc. Cho nên toàn chúng phải cố gắng, tinh tấn tu hành.

Sau đây Thầy có ít lời nhắc riêng cho những người mới xuất gia. Hiện tại mới cạo tóc xuất gia tuy tu chưa tới đâu, nhưng đã đến đây nhập chúng tu học là đã nói lên ý chí dứt khoát, muốn tu hành để tâm thảnh thơi, tức là ngang đây đã có một hướng đi thật rõ ràng rồi. Lúc chưa cạo tóc là chưa có hướng đi nhất định, ai rủ đâu thì theo đó. Bây giờ có hướng đi rồi thì chỉ quyết tiến trên con đường này cho tới cùng, không nghĩ gì khác hơn nữa. Thế nên khi bắt đầu cạo tóc, là cuộc đời đã chuyển hướng, tức mình phải sống theo một hướng mới. Lúc đầu hơi ngỡ ngàng một chút, nhưng lâu ngày sẽ quen. Ai ban đầu cũng vậy thôi, có ai bỗng dưng mà trở thành người tu thuần thục được.

Người xuất gia phải tập có một cái nhìn tích cực. Khi làm điều gì không hợp lý, bị rầy thì sửa đổi. Lòng thầm mang ơn người rầy nhắc, đừng buồn. Người làm sai, bị rầy mà buồn là không muốn sửa. Muốn tiến tu thì phải chịu khó sửa đổi từ từ những thói xấu. Sửa được rồi, mới thấy giá trị của người tu. Trước đây vui đâu nói đó không cần dè dặt gì hết, nhưng bây giờ ăn nói phải lựa lời. Nhờ vậy mai kia mới làm thầy dạy người được.

Từ một người thường mà tu hành hoàn thiện bản thân để một ngày kia làm thầy thiên hạ, thật không dễ chút nào. Nếu thích la lối, giỡn cười, không có chút tư cách thì mai kia chắc chắn không được ai quý trọng. Cho nên ngay bây giờ phải cố gắng tập sửa từ từ, khi quên được nhắc nhở thì phải ráng sửa đổi. Làm sao để mình có một lối sống hay, một tư cách tốt thì sau này mới được mọi người kính mến. Phải nhớ, đi tu là làm việc lớn, nên cố gắng làm tốt việc bổn phận của mình.

Ngày 28-12 Canh Thìn (22-01-2001) 

Hôm nay đã cuối năm, sắp qua năm mới, Thầy nói về đề tài Hạnh Phúc, với ý mong mỏi toàn chúng sẽ sống trong hạnh phúc. Bởi vì con người thường sống trong hạnh phúc mà không biết mình đang hạnh phúc, cứ đuổi tìm ở phương trời nào đó nên mãi mãi không có hạnh phúc.

Xưa có câu chuyện “Lưu Thần Nguyễn Triệu nhập Thiên Thai”. Vào đời nhà Hán có Lưu Thần và Nguyễn Triệu, nhân tiết Đoan Dương (Đoan Ngọ mùng năm tháng năm âm lịch), vào núi Thiên Thai hái thuốc. Do mải mê hái nên đi lần vào dòng suối đầy hoa thơm cỏ lạ mà không hay. Hai vị gặp hai nàng tiên, kết làm vợ chồng. Sống vui vẻ, hạnh phúc được nửa năm thì hai chàng nhớ quê muốn về thăm. Các tiên nữ cho biết đây là cõi tiên, một khi về cõi trần rồi thì không thể trở lại cõi tiên được nữa. Song vì lòng nhớ quê hương quá mãnh liệt, cho nên người đẹp, cảnh tiên vẫn không giữ chân được. Lưu Thần, Nguyễn Triệu về đến làng quê, thấy từ quang cảnh cho tới con người đều đổi khác, tìm không thấy nhà cửa của mình ở đâu, trong làng cũng không còn ai biết hai vị. Hỏi thăm trong họ tộc thì có một cụ già cho biết, ông tổ bảy đời của cụ vào núi hái thuốc rồi không trở về. Buồn bã, hai vị đành quay trở lại Thiên Thai, nhưng chỉ thấy mịt mù, không tìm đường lên cõi tiên được nữa.

Người đời mơ ước được lên cảnh tiên, nhưng khi tới được Thiên Thai rồi, lâu lâu cũng muốn trở lại phàm trần. Như thế cho thấy, tâm của con người sống trong hạnh phúc mà không biết hạnh phúc, bởi vậy nên cứ lao đao lận đận hoài. Chê nơi này chạy đến nơi kia, trách nơi kia chạy qua nơi nọ. Cứ thế không bao giờ được bình an, được hạnh phúc. Tìm hạnh phúc mà không bao giờ được hạnh phúc là vì không bằng lòng với thứ mình hiện có.

Ni chúng xét coi, mình có hạnh phúc hay không? Có những hạnh phúc rất đơn giản mà không phải ai cũng được. Thầy thí dụ, như những người mù, họ ước mơ một ngày nào đó sáng mắt, được thấy sự vật chung quanh và người thân của mình thì hạnh phúc biết mấy, nhưng họ không thể thấy được. Chúng ta hiện tại được thấy rõ ràng tất cả mọi thứ, vậy là mình đang hạnh phúc.

Những người điếc, thấy miệng người ta nói chuyện, muốn nghe mà nghe không được, họ buồn tức và rất tủi khổ. Còn chúng ta hiện nghe cùng khắp, vậy mình có hạnh phúc không? Người bệnh mũi, bị nghẹt cứng khó thở. Hạnh phúc của họ là chỉ mong mình được thở thông, thở thông là sung sướng rồi. Lỗ mũi của chúng ta thở ra vô đều đều thông suốt, tức là mình đang hạnh phúc. Người bị bại liệt, tự thân không di chuyển được, thấy người này đi qua, người kia đi lại, họ ao ước được đi ra tới sân cũng là hạnh phúc lắm rồi. Chúng ta bây giờ được tự do đi lại khắp nơi, có cảm thấy mình hạnh phúc không?

Những người nghèo đói không có cơm ăn, họ chỉ mong có được một bữa cơm no bụng. Người ở chỗ lạnh, áo không có đủ ấm, ngủ không có đủ mền đắp, run rẩy lập cập. Họ ước mơ có áo ấm, mền dày để bớt lạnh. Chỉ cầu được như vậy là hạnh phúc lắm rồi! Còn chúng ta bây giờ có áo ấm, có mền dày để đắp, nhìn lại mình quá hạnh phúc rồi.

Lại thêm, ở ngoài đời người nữ lớn lên thì lập gia đình, mang nặng đẻ đau thập tử nhất sanh. Quá khổ! Vừa rồi, Thầy nhận được lá thư của một cô ni ở Cao Lãnh. Trong thư kể, năm mười sáu tuổi, cô đưa người chị đi sanh. Thấy cảnh sanh khổ quá, nên cô phát nguyện “đời này quyết không chịu cảnh khổ như thế”. Về nhà, ít hôm sau cô trốn đi tu. Một đứa bé mới mười sáu tuổi mà chứng kiến cảnh sanh khổ thì sợ hãi, thấm được sự khổ ở đời. Bây giờ chư ni đã qua được cái khổ này, tức là hạnh phúc vô cùng. Người đời sanh con đã khổ, chịu cực nuôi con khôn lớn cũng khổ, nếu lớn lên nó làm những điều trái ý thì lúc đó càng khổ hơn.

Lúc Thầy về chùa Huỳnh Võ, nay là thiền viện Tuệ Quang, có một cô Phật tử tới thăm Thầy, thưa: “Mai kia con chết, con nguyện đời sau sẽ làm cây cỏ, không muốn làm người nữa.” Thầy hỏi: “Được làm thân người có tri giác, còn cây cỏ thì vô tri vô giác. Tại sao lại đòi làm thứ vô tri vô giác?” Cô nói: “Tại có tri giác nên con khổ quá, con chịu hết nổi rồi.” Cô kể, cô có hai đứa con trai mười bảy, mười tám tuổi. Cả hai bị ghiền ma túy. Nhà cô trước cũng có tiền, không đến nỗi gì. Nhưng chúng cứ khảo tiền, nếu không đưa tiền, chúng không có thuốc, bị lên cơn thì nhào lộn la hét, cô chịu không nổi nên phải đưa, lâu ngày thành cạn kiệt. Cô đã cố gắng cho chúng đi cai nghiện, nhưng về ít tháng chúng cũng bị lại. Cô nói: “Bây giờ con phải làm sao? Thấy cảnh chúng nó khổ thì con chịu không nổi, còn chạy tiền cho chúng thì không biết chạy đâu cho ra.” Cho nên cô muốn làm cây cỏ cho đừng khổ, còn làm người sao khổ quá!

Một vị Phật tử khác, cũng mới điện thoại lên Thầy. Cô kể cô có hai đứa con trai đang đi học thì bị ghiền ma túy, được đưa đi cai. Cai ít tháng trở về rồi cũng ghiền nữa. Cô hỏi: “Thưa Thầy, con phải làm sao?” Thầy cũng không biết nói sao để giúp cô ấy. Thầy kể bấy nhiêu cho chúng thấy, thế gian là khổ. Nỗi khổ của người đời thật quá sức tưởng tượng. Cứ nghĩ rằng, lớn lên lập gia đình được hạnh phúc, nhưng không ngờ quá khổ. Có gia đình khổ mặt này, có gia đình khổ mặt nọ…

Đó là nói chuyện thế gian, giờ nói chuyện hiện tại. Người đời đa phần ước mơ trông đợi đều không toại nguyện, cho nên họ thấy đời quá đau khổ. Khi đến Thiền viện, họ nhìn chỗ mấy cô ở tu như là cảnh tiên. Như vậy, ni chúng hiện tại đang ở thiên đường mà quên, nên rồi cũng lục đục bị buồn phiền. Nếu thấy rõ mình đang sống trong hạnh phúc thật sự thì không có buồn nản, đâu còn trông chờ gì nữa. Vì không thấy được mình đang sống trong hạnh phúc, nên chưa bằng lòng, ở núi này lại trông núi nọ. Thật là quá dại khờ!

Ni chúng thử xét kỹ lại xem, đời này mình sanh ra được làm người, lại không bị tật nguyền cũng không nghèo khổ… Vậy có phải đang hạnh phúc quá không? Không phải hạnh phúc tầm thường mà là đại hạnh phúc, vì còn trẻ mà đã sớm thức tỉnh đi tu. Như vậy tất cả cái tốt, cái vui của thế gian đều có đủ, lại có đủ duyên phúc ở trong cảnh thanh tịnh mát mẻ, huynh đệ hòa hợp cùng tu hành. Do đó, phải nhớ những gì tốt đẹp mình đang hưởng là quá đầy đủ rồi, không có gì đáng buồn đáng trách.

Nếu chỉ một bề an ổn tu thì không những hạnh phúc ở đời này, mà còn hạnh phúc trong vô số đời sau. Còn hiện tại không biết trân quý hạnh phúc, cứ lôi thôi qua ngày, không vững bước tiến tu thì sau này khổ lụy càng nhiều. Như khi Lưu Thần, Nguyễn Triệu bỏ cảnh tiên trở về trần tục tìm bà con, tới nơi không ai chào đón, những người thân thì đã chết hết rồi, chỉ còn lại toàn người xa lạ. Lúc ấy bơ vơ, khổ sở, muốn trở lại cảnh tiên thì cảnh tiên đã đóng cửa, vì quá muộn rồi!

Cho nên ở trong cảnh nào, đang được hưởng phước báu thì phải ráng giữ gìn, duy trì sự tốt đẹp cho mình và mọi người, đừng để mất đi rất uổng. Đó là người sáng suốt. Thầy mong đến ngày Thầy nghỉ, trong chúng người nào cũng xứng đáng để gánh vác Phật sự, được mọi người tin tưởng. Đó là lòng trông mong của Thầy, toàn chúng phải cố gắng.

Ngày 28-01 Tân Tỵ (20-02-2001) 

Hôm nay thỉnh nguyện, Thầy có ít lời nhắc nhở, để trong chúng ý thức được những điều quý báu của đời mình. Trong kinh, Phật nói: Thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Bây giờ chúng ta đã được mang thân người, biết rõ chánh tà, nhận được chân và giả thì phải cố gắng tu hành để thoát khổ.

Nhờ được sanh làm người nên chúng ta biết phân biệt rõ ràng, cái gì là phải trái, thiện ác, tốt xấu… Rồi cũng do được làm người mà có nhận thức, biết thân người mang nhiều đau khổ nên mới phát nguyện xuất gia, tìm đạo để tu. Còn như chó, mèo v.v.. thì không biết gì khác, chỉ biết ăn ngủ và làm theo bản năng của nó mà thôi. Cho nên làm người quý hơn các loài vật là ở chỗ đó.

Được sanh ra làm người mà không biết tu, chỉ tạo tội thì khi chết bỏ thân người sẽ theo nghiệp làm thân các con vật, đó là đi xuống tiếp tục thọ khổ. Tệ hơn nữa là rơi vào địa ngục làm các loài ngạ quỷ, đau khổ biết chừng nào. Nếu hiện đời biết tạo phước thì khi trả hết nghiệp cũ rồi sẽ được đi lên. Xuống rồi mà được lên trở lại làm người là rất lâu xa, nên nói thân người quý báu vô cùng, mất rồi rất khó kiếm.

Sở dĩ Phật nói thân người khó được, là để cho chúng ta thức tỉnh. Nếu đời này đã được thân người mà còn không biết tu, cứ sống theo thói quen chạy theo hưởng thụ dục lạc thế gian thì một đời chẳng được gì cả, chẳng những không được lợi ích mà còn tạo tội gây thêm cảnh trầm luân nữa. Vì vậy được thân rồi đừng nên bỏ trôi, phải làm gì cho xứng đáng, cho cao thượng. Chúng ta có phúc duyên được thân người lại biết nhận thức cuộc đời là đau khổ, nên phát tâm xuất gia chọn để tiến lên, trên đường tu nhờ trí tuệ sẵn có của mình mà được sáng suốt, thấy biết cái gì dẫn đến mê lầm, cái gì đưa tới giác ngộ để đi đúng hướng không bị lầm lạc. Điều này thật là hy hữu!

Thân người khó được là vậy, còn Phật pháp tại sao khó nghe? Thời bây giờ có đầy đủ kinh sách đọc không hết, băng giảng nghe không kịp, vậy khó ở chỗ nào? Câu nói Phật pháp khó nghe mang đầy đủ ý nghĩa: Một là khó có duyên lành để được nghe pháp Phật, hai là dù được nghe cũng khó thâm nhập thấu suốt được lời Phật dạy. Bởi vì Phật pháp chẳng những khó được nghe, mà nghe được cũng khó hiểu. Ngày xưa lúc Thầy ở chùa Phật Quang học kinh Lăng-nghiêm, khuya thức dậy đọc lại bài đã học, Thầy khóc sướt mướt. Thầy nghĩ mấy mươi năm ở thế gian, mình chưa bao giờ được nghe những lời cao siêu, quý báu của Phật mà bây giờ được nghe, nên xúc động. Những người ở ngoài đời, cả ngày nghe tranh danh đoạt lợi, tình cảm dục lạc v.v… đủ thứ, mà không được nghe những điều cao siêu quý báu của Phật. Nên biết, rất khó được nghe chân lý Phật tổ dạy.

Ngày nay nghe Phật pháp quá dễ, muốn nghe lúc nào cũng được, nghe hoài đến thuộc lòng. Đó là dễ nghe, nhưng hiểu được không phải dễ. Tại sao? Vì Phật pháp nói ngược lại tình đời. Như người đời, khi lớn lên nam nữ yêu thích ái mộ nhau, tìm đủ cách làm đẹp để cho đối tượng vui thích, vừa mắt. Đó là nuôi dưỡng tâm ái dục của trần gian, còn Phật pháp thì chỉ rõ ái dục là cội gốc của sanh tử luân hồi, thân này là nhớp nhúa ô uế… Hoặc như khi mình ở ngoài đời chưa hiểu sâu Phật pháp, cứ nghĩ làm sao cho được lành được tốt, mơ ước trông đợi mau thành Phật. Đến khi có học Phật pháp, nghe Phật nói những suy nghĩ mơ ước viển vông của mình cũng sai, vì đều kẹt hai bên… Thế là hoàn toàn trái với hiểu biết thông thường, ngược lại thế gian thường tình, nên nghe pháp mà hiểu thấu được là rất khó.

Chú tâm nhìn kỹ lại sẽ thấy là mình có phúc, có duyên được làm người. Nhất là những vị tuổi còn trẻ mà thức tỉnh biết đi tầm đạo, đó là điều phi thường. Trong khi ở thế gian có biết bao người, cả đời mãi lo cho cuộc sống có đủ cơm ăn áo mặc, lo giàu lo nghèo, lo cho gia đình tử tế… nên đâu biết gì là đạo. Người sớm thức tỉnh bước chân vào đạo, tức là đã có sự tích lũy từ thuở nào. Đây là điều đáng mừng cho mình, nhờ có chủng duyên lành nên thức tỉnh sớm. Nếu không có duyên lành thì mình cũng giống bao người khác, cứ thả trôi theo dòng đời, nhắm mắt buông xuôi trên đường sanh tử khổ đau, không biết gì về đạo thoát khổ. Một đời này thả trôi thì đời sau cũng chìm đắm, nhiều đời sau nữa cũng vậy, không có ngày quay đầu về lại cố hương.

Ngày nay chúng ta sớm biết đạo nên đi ngược dòng đời. Đó là do có túc duyên sâu dày mới được như vậy. Do đó, toàn chúng cần phải cố gắng, sao cho duyên lành cũ thêm tăng trưởng. Mỗi đời ta có mặt ra đây, duyên lành sẽ thêm lớn rộng thêm, đừng để cho lui sụt. Vì vậy, Thầy mong tất cả nhớ, nay được cao siêu thì phải gìn giữ, đừng để hạt giống cũ bị hư mục thì uổng cho chủng tử cao quý của mình.

Ngày 28-02 Tân Tỵ (22-03-2001) 

Thầy nhắc nhở cho toàn chúng nhớ, nhờ có duyên lành và phước lớn nên trong đời này mới được gặp Phật pháp, nhất là có cơ hội tốt được đến Thiền viện tu học. Nếu đi đến vùng sâu sẽ thấy, ở các nơi thiếu điều kiện tốt để người tu thực hiện bản nguyện cầu giải thoát sanh tử của mình. Ở đây, Thầy cố gắng tạo điều kiện cho chúng được yên tu. Làm sao trong đời này việc tu hành nhất định phải có kết quả, có lợi ích thiết thực mới được. Nếu chưa giác ngộ viên mãn thì ít ra cũng giác ngộ từng phần.

Phát tâm xuất gia là một nguyện lớn, để cứu độ cho mình và tất cả chúng sanh, chứ không phải đi tu cho vui, hay là để trốn nợ thế gian. Người xuất gia là đang làm một việc phi thường, vậy nên làm sao trong một đời mấy mươi năm tu hành xứng đáng, để không hổ thẹn với cha mẹ, thân thuộc và những người ngoài xã hội. Đó là trách nhiệm to lớn mà người tu phải luôn nhớ đừng quên. Đời tu phải là một đời đáng quý, sống có lợi ích cho tất cả mọi người, chứ không phải tu cho riêng mình. Thấy hiểu và luôn ghi nhớ được như vậy, mới xứng đáng là người đã xả bỏ hết tất cả để làm việc cao thượng. Nếu tu hành bao nhiêu năm mà không làm được gì cho mình và xã hội thì chẳng những đáng tiếc một đời, mà còn làm trò cười cho thiên hạ nữa.

Muốn tu hành được lợi ích ở hiện tại và tương lai thì phải cố gắng học tập Phật pháp, nghe hiểu cho kỹ lời Phật tổ dạy trong các kinh luận. Nghe thật kỹ, thâm nhập thật sâu để ứng dụng tu. Càng tu thì càng có trí tuệ, đầy đủ đức hạnh để không hổ thẹn với mọi người. Như vậy mới là người đi tu cầu giải thoát sanh tử, cứu độ chúng sanh. Nếu càng tu mà bản ngã càng nặng, càng sanh ra nhiều tật xấu thì sự tu đó không ích lợi gì. Thầy nhắc lại, mỗi người phải hiểu rõ trách nhiệm của mình cho đúng. Chúng ta đi tu không phải để cầu danh lợi hoặc địa vị này nọ mà là để cứu độ chúng sanh, tức có cả cha mẹ, anh chị em của mình trong đó. Nếu đi tu để mong cho gia đình quyến thuộc mình có quyền lợi thì chẳng những tu không tới đâu mà còn bị sa đọa nữa.

Phật tử cúng dường tăng ni từng bát cơm manh áo, lúc nào họ cũng trông đợi chúng ta tu tốt để cứu độ chúng sanh và làm lợi ích lâu dài cho đạo, chứ không phải cúng cho mình ăn chơi vui đùa, hưởng thụ. Vì vậy tất cả trong chúng phải ý thức trách nhiệm của người tu là rất nặng nề, nên đừng có lơ là. Nếu tu hay, tu đúng thì đời tu cao cả vô cùng; tu không đúng, không tròn trách nhiệm thì tự mình chuốc khổ lâu dài. Cho nên ni chúng phải nhận định cho chín chắn, đừng để mất thời giờ vô ích, đừng theo chuyện thị phi mà giết chết đời tu của mình.

Ngày 28-03 Tân Tỵ (21-04-2001) 

Hôm nay gần vào mùa an cư, nhân đây Thầy có ít lời nhắc nhở ni chúng. Ở đây không làm ruộng cũng không làm ra vải vóc gì, nhưng trong chúng lúc nào cũng đầy đủ cơm ăn áo mặc, không bỏ tiền ra xây dựng nhà cửa mà vẫn có nhà cửa để ở. Ngoài thế gian, muốn có đủ cơm ăn áo mặc, chỗ ở êm ấm thì mọi người phải nhọc nhằn vất vả lắm mới có được. Trong khi đó chúng ta ở đây mặc dù không làm ra được của cải vật chất gì, nhưng tất cả những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống đều hiện có đủ. Tại sao lại được như thế? Đó là nhờ vào tấm lòng mến đạo của quý Phật tử, vì thương người tu mà họ luôn sẵn sàng giúp đỡ, trợ duyên bằng mọi cách, để cho tăng ni yên ổn tu hành và cũng là gieo chút phúc duyên để mai kia được gặp Phật pháp. Như vậy khi được an ổn tu hành, phải nhớ công ơn của Phật tử đã chân thành giúp chúng ta gìn giữ mối đạo được lâu dài. Vậy nên mỗi người có phúc duyên đến đây tu, đã được đầy đủ phương tiện thì phải làm sao tu cho tiến, hiểu Phật pháp cho sâu, hầu duy trì chánh pháp không bị mai một, đồng thời cũng đền đáp công ơn Phật tử đã lo cho mình tu. Như vậy mới là người biết ơn và làm tròn trách nhiệm của mình.

Thầy nghe nói những vị tu lâu, đã thành người lớn trong chúng mà lại thiếu thời khóa, bỏ ngồi thiền. Điều này Thầy rất buồn! Bởi vì người trước có trách nhiệm dẫn người sau, nếu người đi trước lơ là thì làm sao dẫn đường cho người đi sau dũng mãnh tiến bước. Do đó những vị tu lâu năm rồi cũng phải luôn tinh tấn, để làm mẫu mực cho đàn em. Không được lấy cớ này cớ nọ mà bỏ thời khóa. Làm đàn anh đàn chị mà không xứng đáng là người đi trước, không có đủ tư cách cho đàn em học hỏi, bắt chước theo. Thật đáng hổ thẹn!

Lại nữa, những vị lớn đâu phải ở một chỗ hoài mà mai này khi Thầy nghỉ, các vị cũng đi nơi này nơi kia xương minh Phật pháp, giáo hóa Phật tử. Có làm lợi ích cho Phật pháp, lợi lạc chúng sanh được hay không là phải nương vào phước đức. Muốn có phước đức thì ngày nay phải tinh tấn tu. Thời gian không chờ đợi, qua rồi mất. Nếu chần chừ thì uổng phí một đời tu, cũng là cô phụ công ơn của Phật tử lo lắng cho mình. Vì vậy những vị tu lâu, mình đã đi trước thì phải luôn luôn mẫu mực để hướng dẫn người sau, không nên thả lỏng buông xuôi để mai kia không biết làm gì.

Người sau trông thấy người lớn tu càng lâu càng bê bối, họ sẽ sanh tâm ngã mạn khinh lờn. Vì vậy Thầy mong rằng, ni chúng đủ duyên lành vào đây tu nhiều năm thì gắng giữ gìn giới đức trang nghiêm, đủ tư cách là người đi trước. Mai này dù ở nơi nào cũng đủ tư cách là người lãnh đạo Phật pháp, giáo hóa chúng sanh. Nếu hiện tại không lo tu, thiếu phước thiếu đức thì ngày sau sẽ không làm được gì. Đó là điều đáng buồn!

Thầy nhắc lại, tất cả trong chúng phải luôn ý thức rằng, mình được ấm no an ổn tu hành một ngày là mừng một ngày, là mang ơn Phật tử một ngày. Do đó ni chúng cần cố gắng, tinh tấn tu hành sao cho xứng đáng. Mỗi người tự biết trách nhiệm của mình mà sống tích cực hơn, không được lơ là buông xuôi. Mỗi ngày mỗi tu tiến không dừng, không lùi. Đừng để tu càng lâu, tệ càng nhiều thì rất dở, rất đáng trách. Đó là lời nhắc nhở của Thầy, mong tất cả cố gắng!

Ngày 28-04 Tân Tỵ (20-05-2001) 

Lúc nãy, Thầy đứng ngoài nghe chúng ta ở đây bảy tám chục người mà tụng kinh nhỏ xíu, thấy không được chút nào! Ni chúng phải nhớ, tụng kinh là tu. Tại sao Thầy nói tụng kinh là tu? Bởi vì khi tụng kinh thì nhất tâm chánh niệm, tập trung vào lời kinh, miệng đọc âm thanh ngân vang đều đặn nhịp nhàng. Thế nên, lúc tụng kinh chẳng những tâm mình được thanh tịnh, mà quỷ thần nghe kinh cũng được an vui. Do đó sau mỗi thời tụng kinh đều đọc bài kệ hồi hướng cho âm siêu dương thới. Nghĩa là chẳng những cầu nguyện cho người sống được an ổn thong dong, mà còn cầu cho người âm được siêu thăng. Muốn họ được siêu thăng thì chúng ta phải nhất tâm tụng kinh, lúc đọc lời lẽ cần rõ ràng. Bởi có nghe được thì họ mới siêu thăng, còn nghe không được thì làm sao mà siêu thăng được.

Toàn chúng phải ráng tụng kinh cho đều, đừng quá cao cũng đừng quá thấp. Giữ cho lời kinh được liên tục, ngưng rồi phải tụng tiếp, chứ im ru chỉ còn vài người tụng thì không hay. Người này ỷ lại người kia, nên tụng vài ba câu rồi im lặng để cho người khác tụng, người kia cũng tụng ít câu rồi để cho người khác tụng. Như vậy không được. Tụng kinh chứ không phải ngồi thiền đâu mà không chịu tụng! Tới giờ tụng kinh, tự thân mình phải nghiêm trang tề chỉnh, đọc từng câu từng lời cho rõ ràng, câu nào ra câu nấy đừng để bị đứt đoạn, không được khi thì đọc to lúc lại làm thinh im lặng.

Tụng kinh là đọc lại lời Phật dạy, nên khi tụng thì miệng đọc âm thanh rõ ràng, lỗ tai lắng nghe, giữ tâm thanh tịnh. Đó chính là thiền, chứ đâu phải ngồi làm thinh mới là thiền. Ở trong động mà chuyên chú vào lời kinh đang tụng, lắng tâm thanh tịnh, được như vậy thì giờ tụng kinh mới có giá trị. Còn giờ công phu tu hành mà tiếc từng hơi không muốn đọc, để cho người khác tụng, như vậy có tốt lành gì! Thầy nhắc, từ đây về sau tất cả phải chú ý về cách tụng kinh của mình, nếu còn lôi thôi nữa thì Thầy sẽ rầy phạt.

Có nhiều người hiểu lầm, nghĩ chuyên tu là phải ngồi thiền hoài, còn đi ra lao động hay tụng kinh là không chuyên tu. Hiểu vậy là trái với đạo lý. Xưa kia trong pháp hội của Lục Tổ có những vị tăng ngồi thiền ngoài hành lang, Tổ đi ngang nắm lỗ tai thổi một cái. Tại sao vậy? Đây là Tổ muốn cảnh tỉnh, không phải ngồi thiền mới tu, mà phải tu nơi mọi hoạt động, trong các oai nghi đi đứng nằm ngồi, lúc nào cũng là giờ tu. Khi lao động, mỗi người được giao công tác gì thì cứ thầm lặng mà làm cho tròn trách nhiệm, nhưng vẫn không quên ông chủ của mình. Đó mới là khéo tu.

Đa phần thường có bệnh, lúc làm việc chung vài huynh đệ là vừa làm vừa nói chuyện, mới đầu nói chuyện đạo lý, lần hồi thì nói ra chuyện bên Đông bên Tây… Chỉ lo tán tâm tạp thoại nên không nhớ tu. Đó là làm việc mà thiếu tu. Thế nên đối với người sơ cơ, chư Tổ thường dạy trong bốn oai nghi thì ngồi là thù thắng hơn hết. Vì lẽ đó mà ở Thiền viện, chúng ta dành cả buổi chiều và buổi tối để tọa thiền, còn buổi sáng thì lao động để vừa có sức khỏe, vừa tu được trong cảnh động. Vậy là chúng ta chẳng những tu trong bốn oai nghi, mà còn tu trong tất cả hoạt động của mình. Khi ra ngoài hoạt động hoặc lúc làm công tác, chuyện gì cần thì nói, không cần thì mỗi người cứ lặng lẽ vừa làm vừa tu. Nếu có nói thì chỉ nên nói những chuyện đạo lý, những việc tu hành. Điều gì hay kể cho huynh đệ cùng nghe để sách tấn với nhau, còn chuyện thị phi thì đừng nói, không tốt, trái đạo lý. Nếu cảnh tĩnh tu mới được, ra cảnh động tu không được thì kết quả mới nửa chừng. Vì vậy trong cảnh động và cảnh tĩnh đều tu được mới là kết quả trọn vẹn.

Gần đây, trong chúng có vài vị nhập thất ra trình Thầy, thấy có tiến bộ đáng mừng, nhưng ra khỏi thất không biết còn giữ được hay không? Chỗ này phải khéo, các vị nhập thất ra tu tiến cũng đừng vì muốn giữ được công phu đó, mà khi nghe Thầy rầy người khác thị phi mất thời gian tu, rồi cứ im lìm không nói năng gì với ai, lù khù không chút linh hoạt, không biết ăn nói gì… cũng không được. Nhập thất ra cứ sinh hoạt nói năng bình thường. Nói những việc có liên quan tới công tác, hoặc trong khi nghe câu kinh hay, đem ra thảo luận với huynh đệ. Như vậy thì không có lỗi lầm, kỵ nhất là nói lỗi của người này người kia. Làm sao trong thời gian tu ở đây năm năm, bảy năm, mỗi người đều có những bước tiến xứng đáng. Đừng để sau khi tu học xong rồi, trở về trú xứ của mình mà tập khí vẫn còn y cũ, không tốt hơn chút nào. Thời gian Thầy dạy sắp hết rồi, những đứa đã vào đây tu mà còn lôi thôi, tu hành lơ mơ thì lúc Thầy nghỉ rồi làm sao có khả năng gánh vác Phật sự thay thế cho người lớn được. Cho nên tụi con phải cố tâm, hết sức quyết chí tu hành cho tiến, đừng bỏ phí thời gian. Có như thế mới xứng đáng với lòng trông cậy và mong mỏi của Thầy.

Chúng ta đâu phải ai cũng sống tới bảy tám mươi tuổi mới chết. Vừa rồi, Hạnh Thanh là Trụ trì Tịch Chiếu, mới sáu mươi tuổi đã viên tịch. Như vậy, trong chúng kiểm lại xem, mình đã sống hơn phân nửa đời người rồi mà sự tu tiến được bao nhiêu, tới bậc nào hay là còn trồi lên tụt xuống hoài? Cho nên mỗi người phải luôn nhớ, vận dụng tất cả thời gian có được trong lúc còn mạnh khỏe để lo tu hành. Những vị ở lâu chừng nào thì phải tu kỹ chừng ấy, đừng để “nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên”. Đây là căn bệnh càng tu lâu càng ỷ lại. Những đứa đã thập niên, không biết Phật ở đâu rồi? Đừng nghĩ rằng mình đã lớn, đã giỏi rồi không cần phải nỗ lực theo thời khóa nữa. Người tu lâu cũng giữ thời khóa nghiêm chỉnh để xứng đáng là mẫu mực cho đàn em, chứ không phải tu lâu rồi thả trôi. Thầy thấy có những đứa giải đãi, hôm nào bệnh một chút là trùm chăn ngủ. Hơi nhọc một chút thì rên, “bữa nay đau đầu quá!” Rồi báo bệnh ngủ luôn. Người như vậy là yếu dở! Lúc bệnh phải mạnh mẽ tinh cần hơn thì mới vượt qua được.

Thầy ở tuổi này mà không bao giờ dám bỏ thời thiền nào, trừ khi đi đâu về quá mệt thì bỏ thời đầu hôm, còn thời khuya không dám bỏ. Nếu ở yên tại chỗ thì hai thời thiền nhất định giữ đều đặn. Nhờ giữ đều đặn nên Thầy khỏe, sự tu ngày càng sáng, thấy được những điều hay nên mới phấn khởi tu. Nếu cứ thả trôi tà tà, chầm chậm hoài thì đâu thấy điều gì hay, không thấy hay thì tu hành đâu có phấn khởi. Vậy nên Thầy nhắc tất cả trong chúng, người nhỏ thì cố gắng tu theo thời khóa, còn người lớn phải giữ chừng mực đúng đắn. Tu hành sao vừa lợi mình, vừa làm mẫu mực cho người sau. Chúng nhỏ thấy quý cô lúc nào cũng tinh tấn tu thì sẽ cố gắng, thấy người lớn uể oải thả trôi thì tự nhiên cũng buông lung theo. Vậy là hỏng hết, người trước tu không được kết quả, người sau cũng không tới đâu. Do đó mong rằng toàn chúng phải ý thức được trách nhiệm của mình, ai cũng phải nỗ lực tu.

Đức Phật tu thành đạo rồi, lúc tuổi đã cao mà trưa nào sau giờ thọ trai, ngài cũng vào rừng đi kinh hành dưới tàn cây, xong rồi thì ngồi thiền. Dù tối hay khuya đức Phật cũng ngồi thiền đều đặn, các thầy Tỳ-kheo lấy làm lạ mới thưa Phật: “Bạch Thế Tôn, Ngài dạy chúng con ngồi thiền để được định, định rồi thì trí tuệ sáng mới giác ngộ. Bây giờ, đức Thế Tôn đã giác ngộ rồi, vậy Thế Tôn còn ngồi thiền làm gì nữa?” Phật dạy: “Ta ngồi thiền, một là để giữ sức khỏe cho mình, hai là làm gương cho người sau.” Đức Phật ngồi thiền vì muốn những đệ tử Phật sau này, khi tu hành mà bê tha biếng trễ thì nhớ lại, xưa kia đức Phật đã thành Phật rồi mà ngài còn ngồi thiền, huống là mình chưa chứng thánh quả mà dám bỏ trôi sao? Đức Phật đã già, sắp nhập Niết-bàn mà vẫn làm gương mẫu cho người sau, nên chúng ta phải nhớ mà cố gắng. Để mai kia đi trụ chỗ nào, làm Thầy cầm cân nảy mực cho đúng để đệ tử noi theo. Chẳng lẽ tới giờ tu, bắt đệ tử đi tụng kinh, ngồi thiền, còn mình thì ngồi uống trà hoặc nằm ngủ. Như vậy không đủ tư cách làm Thầy.

Thầy nhắc nhở dạy bảo như thế, toàn thể ni chúng ý thức, cố gắng tu hành. Lúc còn trẻ, còn khỏe mạnh không nên để mất thời gian quý báu, sau này hối hận không kịp. Thiền viện Trúc Lâm là chỗ chuyên tu được nhiều người tin tưởng, ni chúng cũng đều là những người ham tu nên mới đến đây. Vì vậy tất cả nên nhớ, phải biết tiết kiệm thời gian, không vì những chuyện khác mà xao lãng việc tu, cũng không nên có những hành động hoặc làm việc gì trái với đường lối tu hành của Thiền viện.

Ngày 28-04 nhuần Tân Tỵ (19-06-2001) 

Hôm nay, Thầy có ít lời nhắc nhở toàn chúng. Trước giờ nói lý nhiều rồi, bữa nay Thầy chỉ nhắc về sự. Chúng ta thường nghe các vị trưởng thượng hay dạy, phải kiệm phước và bòn phước. Bởi vì người xuất gia là phải làm sao trên đường tu, mỗi ngày phước càng tăng, không để bị tổn giảm, mà muốn phước tăng thì phải biết kiệm phước, bòn phước. Vậy kiệm phước là gì? Tại sao phải bòn phước?

Trước nói về kiệm phước. Thí dụ, trong cuộc sống thường nhật, về phương tiện sinh hoạt mỗi người chúng có quyền xài tới mười phần trăm, nhưng mình tiết kiệm chỉ xài tám chín phần thôi. Không sử dụng hết phần của mình, đó là kiệm phước. Người phung phí thức ăn, xài đồ đạc bừa bãi… là không biết kiệm phước. Trong Phật giáo có lưu truyền câu chuyện về Hàn Sơn và Thập Đắc ở chùa Quốc Thanh trên núi Thiên Thai. Hai ngài đi lượm cơm rơi dưới sàn nước, hoặc cơm thừa người ta đổ, rửa sạch rồi ăn. Hai vị này chính là Bồ-tát Văn- thù và Bồ-tát Phổ Hiền hiện thân, để lại một bài học đánh thức mọi người, phải tiết kiệm của Tam bảo, không được phung phí. Tiết kiệm của Tam bảo là kiệm phước, phung phí là tổn phước. Đối với Tam bảo, từ một món đồ, hạt cơm, manh áo… cái gì cũng phải quý trọng. Đó là biết kiệm phước, còn ăn xài bừa bãi thì hiện tại thấy như tốt, được ăn ngon mặc đẹp… nhưng không ngờ đó là tổn phước. Tu mà để tổn phước thì bị nghiệp lôi dẫn đi, còn biết kiệm phước thì những nghiệp chướng sẽ dần tiêu mòn. Thế nên cần phải làm sao để phước của mình luôn được tròn đủ, làm phước bao nhiêu thì nguyên vẹn bấy nhiêu, không bị hao mòn mất mát. Đó là tinh thần kiệm phước.

Tại sao phải bòn phước? Bòn tức là mót từng chút nhỏ gom lại. Như người đi bòn vàng, mót từng mảng vàng nhỏ để vào trong thau, nhiều mảng vàng nhỏ gom lại mới nấu thành cục vàng có giá trị lớn. Cũng vậy, chúng ta tu phải bòn từng chút phước, tu mà không biết bòn phước thì không được. Trường hợp nào gọi là bòn phước? Thí dụ, huynh đệ cùng trị nhật chung, thấy huynh đệ kia sức khỏe yếu làm nặng không nổi, mình mạnh hơn thì sẵn sàng gánh vác làm giúp, không đòi hỏi hoặc nề hà gì. Ngoài công tác chung, thấy các huynh đệ khác không đủ sức, không thể làm tròn được, mình cũng nhiệt tình ra tay phụ giúp. Hoặc có huynh đệ gặp lúc buồn tủi, mình tìm đủ cách để an ủi khuyên lơn họ… Đó là biết bòn từng chút phước. Như vậy, bòn phước là việc hết sức thiết yếu, để trong cuộc sống mỗi ngày phước càng tăng không giảm. Người tu là phải sẵn sàng hy sinh cho tất cả, nếu việc mình có thể làm được nhưng làm biếng không làm, thấy huynh đệ làm việc nặng nhọc ra sao mặc kệ… Đó là tổn phước.

Thầy kể cho nghe gương của Hòa thượng Giám đốc, để ni chúng biết mà học theo. Lúc đi học ở Huế, Hòa thượng luôn tận tâm với công tác được trường giao phó và hết lòng với huynh đệ, ai nhờ gì cũng giúp. Do vậy mọi người đều quý trọng, thương mến ngài. Nhờ tâm tốt mà phước đức ngày càng tăng, làm Phật sự được vuông tròn đầy đủ. Đó là lối sống bòn phước của người trước. Chúng ta ngày nay noi theo gương người xưa, đừng ích kỷ chỉ nghĩ cho riêng mình, mà phải đem hết tâm làm việc gì có lợi ích cho huynh đệ thì làm. Đó là biết kiệm phước và bòn phước.

Kế đến là người tu cần phải có đức hạnh, nhưng đức hạnh làm sao mà có? Lúc nào chúng ta cũng có tâm vị tha, thương người, giúp người. Gần là với huynh đệ trong đạo, đừng để một ai phải khổ. Nếu có người bị khổ vì lý do nào đó, hoặc bệnh hoạn hay gặp những điều bất hạnh… thì mình phải có tâm thương xót giúp đỡ, nhắc nhở an ủi để họ bớt buồn khổ. Đó là đạo đức của hàng xuất gia, cũng là hạnh tốt vì người. Người xuất gia phải có đức hạnh trang nghiêm. Bởi vì mình là người tu thì làm gì cũng phải có tư cách của người tu, không nên khi nổi giận thì bất kể, không nhớ mình đắp y Phật cũng không nhớ tới cái đầu đã cạo. Nhiều vị mới tu, lúc bình thường cũng tỉnh táo sáng suốt, hành động đều hợp đạo lý; nhưng khi bực bội, giận dữ rồi thì quên hết tư cách của mình, nói những lời như người đời, hành xử hệt thế gian. Đó là thái độ của những kẻ cuồng dại, là tự ruồng bỏ chí nguyện xuất gia tu hành và hóa độ chúng sanh của mình. Người tu thì dù có buồn giận mười phần, trăm phần, thậm chí ngàn phần cũng phải dẹp qua, không để mất tư cách. Giữ được hạnh như vậy là giữ được đức của người tu, ngược lại là tổn đức. Người tu mà phước đức đủ thì làm Phật sự được vuông tròn làm gì thuận nấy, còn phước đức không đủ thì sẽ đưa đến thất bại. Không phải ai ghét hay phá hoại gì mình, mà tại mình không đủ phước. Thầy đã nhắc bốn chữ “kiệm phước, bòn phước” rồi, giờ thêm bốn chữ nữa là “tu đức, tập hạnh”. Bốn chữ trước là giúp tăng trưởng phước đức, bốn chữ sau là để tăng trưởng đức hạnh.

Đức là do tu, gọi là tu đức. Hạnh là nhờ huân tập, nên nói tập hạnh. Như vậy, đức hạnh không phải ngẫu nhiên có, mà do tu tập. Tập làm theo, nên gọi là tu tập. Hạnh tự mình chưa có thì phải tập, phải bắt chước theo thì sau mới có được. Thế nên tất cả ni chúng phải tập, trước hết là tập theo hạnh của Phật, Bồ-tát, A-la-hán; kế đến là hạnh của sư trưởng, của huynh đệ. Học cái hay tốt của một cá nhân chưa đủ, phải gom góp những điều tốt của tất cả lại để học thì hạnh của mình mới tròn đầy. Tập lâu ngày thì hạnh càng thuần thục, đức càng tăng trưởng. Tu tập mãi như thế tự nhiên mai kia sẽ thành người đức hạnh, còn không khéo thì dù ở chùa tu nhiều năm cũng không có chút đức hạnh nào. Đức phát ra từ tâm hiền lành nhu hòa, lộ ra nơi hành động và lời nói. Thế nên khi thấy người nào đi đứng nghiêm trang, ăn nói từ tốn, từ bi độ lượng. thì biết đó là người có đức. Không phải lanh lẹ cãi hơn người là giỏi, cũng không phải làm cho người ta khổ sở bực tức là hay, mà đó là tổn đức. Vì vậy người tu phải tập nuôi dưỡng hạnh của mình, ráng sống sao cho có đức, người có đức thì ai thấy cũng quý mến.

Lúc Thầy ở Ấn Quang, một hôm học kinh xong xuống liêu cởi áo tràng cất. Thầy cùng thầy Từ Thông, thầy Huyền Vi và ba bốn huynh đệ nữa, ngồi lại bàn luận về lý vừa mới học. Nói một hồi cao hứng mạnh ai nấy nói, càng lúc càng to mà không để ý. Lúc đó, Hòa thượng Giám đốc đi ngang qua, nghe ồn Hòa thượng bước vô vỗ nhè nhẹ trên vai Thầy, bảo: “Nói khẽ khẽ!” Ngài không rầy một câu chỉ vỗ vai nhắc thôi, vậy mà tới giờ Thầy vẫn không quên. Người lớn không cần phải la quát lớn tiếng người ta mới sợ, đôi khi nhắc nhẹ nhàng mà làm cho người bị rầy ghi nhớ suốt đời. Đây là bài học mà người sau phải ráng học theo hạnh của các bậc tôn túc trước.

Những hạnh hay tốt đó, tự mình chưa có thì phải học hỏi bắt chước làm theo. Ở trong chúng chớ tự ý muốn làm gì thì làm, phải khéo học hạnh hay. Từ tâm mến đạo, thương người, vì muốn độ chúng sanh mà mình luôn luôn giữ hạnh đức của mình cho đầy đủ. Đừng nghĩ chỉ học những người trên, còn huynh đệ không có gì phải học. Mỗi người có cái hay riêng, có hạnh tốt riêng, ai hay ai tốt mình đều khéo học. Luận Ngữ của Khổng Tử có nói: “Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư yên. Trạch kỳ thiện giả, nhi tòng chi. Kỳ bất thiện giả, nhi cải chi.” Nghĩa là, ba người cùng đi đường ắt có một người làm thầy ta, chọn lựa điểm tốt của họ để học theo, nhìn thấy những điều xấu của họ mà sửa đổi mình. Trong ba người cùng đi ấy ắt có người hay, để mình học tập và hoàn thiện lấy mình. Huống nữa, ở đây bảy tám mươi người, ai cũng có một vài hạnh hay, vậy đâu thiếu người tốt để mình học tập.

Thầy nhắc nhở bấy nhiêu đó, chỉ cần toàn chúng nhớ ráng tu. Làm sao từ bây giờ cho tới thành người lớn, càng ngày càng xứng đáng là người có đầy đủ đức hạnh, ra làm Phật sự mọi việc được vuông tròn. Đó là sự mong mỏi của Thầy.

Ngày 13-07 Tân Tỵ (31-08-2001) 

Hôm nay là ngày tự tứ của ni chúng tại Thiền viện Trúc Lâm. Chư ni trước chúc khánh tuế Thầy, sau thỉnh Thầy chỉ dạy, nhân đây Thầy có vài lời nhắc nhở. Tất cả ni chúng, những vị đã tu lâu cũng như những người mới vào tu, một khi quyết tâm vào đây thì đã rõ tinh thần tu học của mình. Thật ra thì tại Thiền viện, chúng thường ở yên một chỗ chuyên tu, ít đi đâu cũng không làm việc ở bên ngoài, luôn thúc liễm thân tâm, nên ngày tháng năm nào cũng là an cư. Mặc dù thế, ba tháng an cư vẫn là thù thắng. Vì nhờ có thêm ba tháng an cư kiết hạ mà sự tu hành của chúng được miên mật hơn, đạo lực càng thêm tăng trưởng.

Việc tu tại Thiền viện tương đối thuận lợi, vì gồm đủ ba phần: Phần thứ nhất là giữ gìn giới luật của Phật, những giới gì mình đã hứa lãnh thọ thì gắng vâng giữ cho trong sạch. Phần thứ hai là tu học theo tinh thần Lục hòa cộng trụ. Huynh đệ sống chung trong đạo đều là những người đồng một lý tưởng, cùng tôn thờ một bậc Thầy, tức không có lý do gì để chống đối hay thù nghịch nhau. Vậy nên tất cả cùng tu tập hòa hợp an vui, dù ở trong chúng đông bảy tám mươi người vẫn sống an lành không chút phiền hà hay bực bội khó chịu. Phần thứ ba là yên tu. Thiền viện tạo đủ điều kiện để toàn chúng yên tu. Về mặt sinh hoạt đều có đủ phương tiện, cơ sở vật chất khang trang… không có trở ngại gì. Về mặt tu học, chúng ở đây được nghe pháp từ Thầy, học nội điển thì có các vị lớn là giáo thọ dạy. Lúc nào cũng được chỉ dạy cho hiểu chánh pháp của Phật, nhắc nhở cho biết chỗ chân thật để trở về, răn bảo về oai nghi tế hạnh. Nhờ thế nên tất cả được tu học yên ổn, không gặp khó khăn về giáo lý và sự tu hành.

Ở đây ni chúng yên ổn tu hành, không phải bận tâm lo lắng thiếu thốn đói rách… Từ thuốc men cho đến tất cả vật dụng cần thiết, đều được Phật tử phát tâm cúng dường. Thông thường trên con đường tu hành, chúng ta hay gặp nhiều khó khăn bởi ngoại cảnh hoặc do thân bệnh làm chướng ngại chuyện tu. Nhưng hiện tại, về ngoại cảnh thì tốt đẹp, về nội thân cũng yên ổn. Nếu có những bệnh thông thường thì đã có sẵn thuốc, hoặc nặng hơn thì mời thầy thuốc tới chữa trị. Như vậy không còn gì để bận tâm lo nghĩ, chỉ còn một việc tu mà thôi. Chúng ta phát tâm tu thì phải dùng trí tuệ để thấy, biết được hoàn cảnh thuận lợi rồi thì cần nắm lấy cơ hội để tu, đừng lui sụt. Người tu cần có những cảnh khó, những trường hợp thử thách để đo xem tâm nguyện, ý chí của mình mạnh hay yếu. Vì vậy đừng đòi hỏi mọi người chung quanh đều phải cung dưỡng, chiều chuộng mình. Phải sẵn sàng chấp nhận những thứ khó khổ, những lời rầy mắng quở trách, để xét lại xem mình có được cứng cỏi vững vàng chưa, hay còn khiếm khuyết điều gì cần sửa đổi. Nếu người tu nào mà có được tâm niệm này thì trên đường tu không bao giờ thối chuyển.

Trong kinh Trung Bộ, Phật dạy:

“Người xuất gia đến ở nơi nào, sống gần người nào mà những nhu cầu về tứ sự, vật dụng cần thiết tìm kiếm rất khó khăn, sự tu hành không chứng đạt, tâm mình không an trụ thì nên rời đi không cần xin phép.

Ở nơi nào, sống gần người nào mà tâm mình không an trụ, sự tu hành không chứng đạt gì, nhưng vật chất dồi dào sung túc cũng xin rời đi. Vì xuất gia là để tu hành giải thoát không vì việc cơm áo.

Ở nơi nào, sống gần người nào mà tâm mình được an trụ, những điều chưa chứng đạt được chứng đạt, được vô thượng an ổn, khỏi các triền phược. Cho dù tứ sự vật chất kiếm được khó khăn cũng kiên trì ở lại, không rời đi.

Ở nơi nào, sống gần người nào mà tâm mình được an trú, được định tĩnh, các lậu hoặc hoàn toàn được đoạn trừ, vô thượng an ổn khỏi các triền phược, pháp chưa chứng đạt được chứng đạt. Những vật dụng tứ sự cần thiết cho đời sống một người xuất gia, kiếm được một cách dễ dàng. Nơi ấy phải trọn đời ở lại, không được rời đi, dù cho có bị xua đuổi.”

Vậy nên người học đạo là phải chấp nhận cái khó để tiến lên. Không nên nghĩ rằng, ở đâu được sung sướng, dễ dàng thì vui thích. Ở đâu thỏa mãn những đòi hỏi của mình thì ở, còn chỗ nào dù có đạo lý mà hơi khó khăn một chút thì không ưng. Người xưa tu hành, khi gặp những việc xảy ra đáng buồn mà các ngài vẫn thản nhiên. Bị rầy la mắng chửi vẫn vì đạo mà ở tu, không bỏ đi. Còn thời nay, có người mỗi khi được khuyên dạy nhắc nhở nhẹ nhàng thì vui, bị rầy hơi nặng thì buồn. Người như vậy làm sao tu được? Trên đường tu không bao giờ đạt được kết quả.

Qua ba tháng an cư, toàn chúng phải kiểm điểm lại mình, xét nét kỹ càng. Nếu thấy bị phiền não vì người chung quanh, hoặc vì thân bệnh, hoặc gặp những điều trắc trở nào đó thì phải phát nguyện: “Dù khó khăn, khổ sở, bệnh hoạn v.v… miễn là được học đạo, được yên tu thì nhất định không bỏ cuộc.” Đừng vì một hai lý do gần xa rồi sanh phiền não, chán nản, tự hủy hoại tâm Bồ-đề của mình. Một đời tu không kết quả thì rất đáng tiếc! Được sanh làm người là rất khó, được gặp Phật pháp lại càng khó hơn. Ngay hiện đời được làm thân người toàn vẹn không tật nguyền, lại gặp Phật pháp, được chỗ êm ấm yên ổn tu hành mà không vừa lòng thì không biết còn muốn kiếm tìm gì nữa! Chúng ta phát tâm tu là cốt làm sao được giác ngộ, giải thoát sanh tử. Ở đâu có chỉ dạy Phật pháp thì nơi đó xứng đáng để mình nương tựa cả cuộc đời tu hành. Nếu người xuất gia mà mong mỏi thân được hưởng thụ vất chất thỏa mãn thì quả là xấu dở. Vì thân này dù có nuôi dưỡng cách mấy, nó cũng vô thường tạm bợ. Đi tu mà mải chăm lo cho cái tạm bợ, đó là dại khờ.

Tất cả trong chúng mỗi người tự xét lại lòng, kiểm xem tư cách của mình, điều gì dở thì nhất quyết chừa bỏ, điều gì hay thì cố gắng tiếp tục. Luôn gạn đục lắng trong tâm mình, làm sao trọn đời tu được kết quả tốt, để còn chỉ dạy hướng dẫn cho người sau. Như vậy mới đủ tinh thần tự giác giác tha, xứng đáng là con của Phật. Đó là sự mong mỏi của Thầy, mong tất cả ni chúng ráng cố gắng tinh tấn tu hành, đừng để thời gian trôi qua vô nghĩa.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.