Kinh nói: “Chữa bệnh không thể nhất định, do trí khéo thi hành, thuốc không cố chấp toa, tùy nghi sử dụng.” Hòa thượng Tuệ Đăng hiển bày tâm tông của Phật, chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật.
Bởi vì pháp giới vốn không chúng sanh, chúng sanh duyên nơi vọng kiến. Đạo Phật vốn không ngôn thuyết, ngôn thuyết là vì hữu tình. Đến như chân như là bình đẳng, vốn không chư Phật và chúng sanh, há có văn tự và ngôn thuyết? Cho nên ngôn thuyết đều là đối với vọng tưởng của chúng sanh, việc bất đắc dĩ mà có ngôn thuyết. Do chúng sanh có các thứ vọng tưởng, nếu chẳng tùy cơ đặt giáo pháp thì không có giáo pháp. Không Pháp thì không Phật, không Phật thì không Tăng. Tam bảo đều không thì ai vì nói pháp, nói pháp cho ai? Thế là không có người nói pháp, không có chúng nghe pháp. Song sau này có pháp để nói, tức là giáo pháp từ duyên mà dựng lập, đều là nắm lá vàng dỗ con nít khóc, thì có thật sao? Người ngu còn có thể nhiều kinh nhiều thuyết, người trí thì chưa dứt tiếng hét tiếng cười đã chống ngộ tự tánh. Kệ rằng:
Hữu thuyết giai thành báng
Vô ngôn diệc bất dung.
Vị quân thông nhất tuyến,
Nhật xuất lĩnh đông hồng.
Dịch:
Có thuyết thành nhạo báng,
Không lời cũng chẳng xong
Vì anh vạch một lối,
Trời lên núi đông hồng.
Trong kinh Lăng-già quyển hai, Phật bảo Bồ -tát Đại Huệ: “Chẳng phải tất cả cõi nước có ngôn thuyết. Ngôn thuyết là tạo tác. Hoặc có cõi Phật nhìn xem mà hiển bày pháp, hoặc có cõi tạo hình tướng, hoặc có cõi nhướng mày, hoặc có cõi chớp mắt, hoặc cười, hoặc ngáp, hoặc tằng hắng, hoặc nghĩ cõi nước, hoặc dao động. Đại Huệ! Như thế giới Chiêm Thị và Hương Tích, cõi nước Phổ Hiền Như Lai chỉ do nhìn xem khiến các Bồ-tát được vô sanh pháp nhẫn và các tam-muội thù thắng. Thế nên chẳng phải ngôn thuyết có tánh, có tất cả tánh.” Phật lại bảo Bồ-tát Đại Huệ: “Thấy thế giới này có các loài ruồi muỗi trùng kiến, chúng nó không có ngôn thuyết mà mỗi loài đều làm xong việc.” Cho nên Thế Tôn dùng những căn cơ này mà thay cho thuyết pháp. Thế là sáu căn đều có thể thuyết pháp, đâu hẳn mượn miệng lưỡi thốt ra âm thanh mới là thuyết pháp. Vì thế, hằng ngày nơi cửa sáu căn của chúng sanh đều là nơi nhập lý. Do đó ba đời chư Phật “bốn mắt nhìn nhau”, sáu đời tổ sư “thối thân có phần”. Tuy nhiên như thế, Niết-bàn không hai đường, phương tiện có nhiều cửa. Vì vậy, Phật nói Đại thừa, Tiểu thừa, kinh có Đốn giáo, Tiệm giáo. Chẳng nhờ ngón tay chỉ thì đâu thể thấy mặt trăng, chỉ được cá mới có thể quên nơm. Lời nói này đặc biệt vì kẻ sơ cơ. Nếu bậc mắt sáng nào ngại một tiếng cười, không truyền mà truyền, không được mà được, lấy cái không chỗ được ấn chứng Bồ-đề. Thế Tôn đưa cành hoa, tổ Ca-diếp mỉm cười, học giả cần phải biết đồng một tánh vậy.
NIỆM TÂM HOA KỆ
Thích-ca xuất thế đại nhân duyên,
Ca-diếp đầu cơ đắc ấn truyền.
Niêm hoa vi tiếu nghiễm nhiên tại,
Dịch diệp phân phương biến đại thiên.
Niêm hoa vi tiếu chỉ truyền lại,
Chánh pháp tùng tư xứ xứ khai.
Điện quyện phong trì hưu nghĩ nghị,
Đức Sơn Lâm Tế hát như lôi.
Linh Sơn hội thượng niêm hoa nhật,
Ca-diếp thân truyền hướng thượng ky (cơ).
Tùng thử tuệ đăng quang hiển hách,
Phổ thiên đại địa mãn trường huy.
Dịch:
KỆ ĐƯA HOA TÂM
Thế Tôn xuất hiện đại nhân duyên,
Ca-diếp hợp cơ được ấn truyền.
Đưa hoa cười mỉm vẫn còn đấy,
Hương ngát đời đời khắp đại thiên.
Đưa hoa cười mỉm chỉ truyền đây,
Chánh pháp từ nay chốn chốn bày.
Điện cuốn gió đùa thôi nghĩ tính,
Đức Sơn Lâm Tế hét vang tai.
Trên hội Linh Sơn giở cành hoa,
Thân truyền Ca-diếp nhằm thượng cơ.
Đèn tuệ từ đây càng rực rỡ,
Đất trời đầy khắp mãi sáng lòa.
*
MẬT THỌ TÂM ĐĂNG
Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sinh,
Tương truyền tứ mục cố phân minh.
Liên phương tục điệm quang vô tận,
Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình.
Dịch:
THẦM TRAO ĐÈN TÂM
Một ngọn đèn tâm mắt Phật sinh,
Đồn rằng bốn mắt ngó phân minh.
Tiếp hương nối lửa sáng không dứt,
Trao khắp rừng thiền chúng hữu tình.
*
TỰ TÁNH ỨNG DỤNG
Hiển hách phân minh thập nhị thì,
Thử chi tự tánh nhậm thi vị.
Lục căn vận dụng chân thường kiến,
Vạn pháp tung hoành chánh biến tri.
Cùng kim cắng cổ bản như như,
Pháp tánh viên đồng thước thái hư.
Ứng xuất lục căn năng vận dụng,
Tinh thông vạn pháp triệt vô đư.
Dịch:
ỨNG DỤNG TÁNH MÌNH
Rực rỡ rõ ràng suốt cả ngày,
Đây là tự tánh mặc hiện bày.
Sáu căn vận dụng chân thường thấy,
Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay.
Tột cùng kim cổ vốn như như,
Pháp tánh tròn đồng khắp thái hư.
Ứng hiện sáu căn hay vận dụng,
Rõ rành muôn pháp tột không thừa.
*
TỰ TÁNH ỨNG HIỆN
Pháp tánh chân không vô tứ đại,
Sắc tướng hình dung hữu lục căn.
Hải để kim ô thiên thượng nhật,
Nhãn trung đồng tử diện tiền nhân.
Dịch:
TỰ TÁNH ỨNG HIỆN
Pháp tánh chân không chẳng tứ đại,
Hình dung sắc tướng có sáu căn.
Đáy biển quạ vàng trên mặt nhật,
Con ngươi trong mắt nơi mặt người.
*
THẦN CƠ HIỂN HÓA
Phật pháp điệu lý vô đa tự,
Tổ đạo huyền cơ hát nhất thanh.
Bất thị xuân lôi âm nhất chấn,
Tranh giao hàm giáp tận khai manh.
Nhất hát đương dương tuyệt điểm ai,
Vạn trùng quan tỏa hoát nhiên khai.
Minh minh đại đạo bình như chưởng,
Cập đệ tâm không quy khứ lai.
Dịch:
CƠ THẦN BÀY LỘ
Lý mầu Phật pháp không nhiều chữ,
Đạo Tổ cơ huyền tiếng hét to.
Nếu chẳng sấm xuân vang một tiếng,
Làm sao trong vỏ mầm nở tung.
Một hét đang thời bặt điểm nhơ,
Muôn vòng cổng khóa bỗng tung ra.
Đại đạo sáng ngời như tay mở,
Tâm không thi đậu thảnh thơi về.
*
LIỄU VÔ SỞ LIỄU
Liễu liễu liễu kiến vô nhất vật,
Diệc vô nhân hề điệc vô Phật.
Đại thiên sa giới hải trung âu,
Nhất thiết thánh hiền như điện phất.
Dịch:
RÕ KHÔNG CHỖ RÕ
Rõ rõ rõ thấy không một vật,
Cũng không người chừ cũng không Phật.
Thế giới đại thiên bọt trong biển,
Tất cả thánh hiền như điện chớp.
*
XẢ HUYỄN CHỨNG CHÂN
Pháp tánh viên minh thước thái hư,
Chỉ nhân vọng động kết thành khu.
Nhược năng tịnh tọa trừng thanh chiếu,
Thường tịch quang trung nhất vật vô.
Dịch:
XẢ HUYỄN CHỨNG CHÂN
Pháp tánh sáng tròn khắp thái hư,
Bởi vì vọng động kết thành thân.
Nếu hay tịnh tọa lóng trong sáng,
Trong thường tịch quang một vật không.
*
CHÂN NGUYÊN TRẠM TỊCH
Thiên địa phụ mẫu vị sanh tiền,
Tịch quang viên trạm thị chân nguyên.
Tự giác giác tha danh viết Phật,
Từ bi thuyết pháp lợi nhân thiên.
Vạn pháp không hoa giai bất thật,
Vị độ quần sanh giả lập quyền.
Liễu liễu bản lai vô nhất vật,
Chân nguyên trạm tịch phục hoàn nguyên.
Dich:
CHÂN NGUYÊN LẶNG LẼ
Trời đất mẹ cha khi chưa sanh,
Tịch quang tròn lặng là chân nguyên.
Tự giác giác tha gọi rằng Phật,
Từ bi thuyết pháp lợi trời người.
Muôn pháp không hoa đều chẳng thật,
Vì độ quần sanh tạm lập quyền.
Rõ rõ xưa nay không một vật,
Chân nguyên lặng lẽ lại hoàn nguyên.
Nam-mô pháp thân trạm tịch viên đồng thái hư chân không vô tướng Phật.
Dịch:
Nam-mô Phật pháp thân lặng lẽ tròn đồng thái hư chân không không tướng.