Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải

IV. Phẩm Định Tuệ



Chánh văn:

T dy chúng:

Này Thin tri thc, pháp môn ca ta đây ly Định Tu làm gc, đại chúng ch lm nói định tu riêng, định tu mt th không phi là hai. Định là th ca tu, tu là dng ca định, ngay khi tu, định ti tu, ngay khi định, tu ti định, nếu biết được nghĩa này tc là cái hc định tu bình đẳng. Nhng người hc đạo ch nói trước định ri sau mi phát tu, trước tu ri sau mi phát định, mi cái riêng khác. Khi cái thy như thế y thì pháp có hai tướng. Ming nói li thin mà trong tâm không thin thì không có định tu, định tu không bình đẳng. Nếu tâm, ming đều là thin, trong ngoài mt th, định tu tc là bình đẳng. T ng tu hành không ch tranh cãi, nếu tranh trước sau tc là đồng vi người mê, không dt s hơn thua, tr li tăng ngã và pháp, không lìa bn tướng.

Này Thin tri thc, định tu ví như cái gì? Ví như ngn đèn và ánh sáng. Có ngn đèn tc có ánh sáng, không đèn tc là ti, đèn là th ca ánh sáng, ánh sáng là dng ca đèn, tên tuy có hai mà th vn đồng mt, pháp định tu này cũng li như thế.

T dy chúng:

Này Thin tri thc, Nht hnh tam-mui là đối vi tt c ch, đi đứng ngi nm thường hành mt trc tâm y vy. Kinh Tnh Danh nói: Trc tâm là đạo tràng, trc tâm là Tnh độ. Tâm ch làm nhng chuyn sim khúc, ming ch nói trc, ming nói Nht hnh tam-mui mà không hành trc tâm; còn hành trc tâm, đối vi tt c pháp ch có chp trước. Người mê chp pháp tướng, chp Nht hnh tam-mui, ch nói ngi không động, tâm vng không khi tc là Nht hnh tam-mui, người khi hiu thế này tc là đồng vi vô tình, tr li là nhân duyên chướng đạo.

Này Thin tri thc, đạo phi thông lưu, do đâu tr li ngưng tr, tâm không tr nơi pháp, đạo tc là thông lưu. Tâm nếu tr pháp gi là t phược, nếu nói thường ngi không động, y ch như ngài Xá-li-pht ngi yên trong rng li b ngài Duy-ma-ct qu trách.

Này Thin tri thc, li có người dy ngi khán tâm quán tnh, không động không khi, t đây mà lp công khóa, người mê không hiu lin chp thành ra điên cung; nhng người như thế này tht là đông, dy nhau như thế, nên biết đó là lm ln.

T dy chúng:

Này Thin tri thc, xưa nay chánh giáo không có đốn tim, tánh người t có li và độn, người mê thì ln ln khế hp, người ng thi chóng tu, t biết bn tâm, t thy bn tánh, tc là không có sai bit, do đó nên lp gi danh đốn tim.

Này Thin tri thc, pháp môn ca ta đây t trước đến nay, trước lp Vô nim làm tông, Vô tướng làm th, Vô tr làm bn. Vô tướng là đối vi tướng mà lìa tướng; vô nim là đối vi nim mà không nim; vô tr là bn tánh ca người. thế gian nào là thin ác, tt xu, cho đến nhng vic oán cùng vi thân, ngôn ng xúc chm, hư di tranh đua v.v… thy đều đem v không; không nghĩ tr thù hi li, trong mi nim không nghĩ cnh trước, nếu nim trước, nim hin ti, nim sau, trong mi nim tương tc không dt gi là h phược (trói buc). Đối trên các pháp mi nim không tr, tc là không phược, đây là ly vô tr làm gc.

Này Thin tri thc, ngoài lìa tt c tướng gi là vô tướng, hay lìa nơi tướng tc là pháp th thanh tnh, đây là ly vô tướng làm th.

Này Thin tri thc, đối trên các cnh tâm không nhim gi là vô nim. Đối trên nim thường lìa các cnh, chng trên cnh mà sanh tâm.

Nếu ch trăm vt chng nghĩ, nim phi tr hết, mt nim dt tc là chết, ri s sanh nơi khác, y là lm to. Người hc đạo suy nghĩ đó, nếu không biết cái ý ca pháp thì t lm còn có th, li dy người khác (là không nên), t mê không thy li còn chê bai kinh Pht, vì thế nên lp vô nim làm tông.

Này Thin tri thc, thế nào lp vô nim làm tông? Ch vì ming nói thy tánh, người mê trên cnh có nim, trên nim li khi tà kiến, tt c trn lao vng tưởng t đây mà sanh. T tánh vn không mt pháp có th được, nếu có s đắc, vng nói ha phước tc là trn lao tà kiến, nên pháp môn này lp vô nim làm tông. Này Thin tri thc, vô là vô vic gì? Nim là nim vt nào? Vô đó là không có hai tướng, không có các tâm trn lao; nim là nim chân như bn tánh. Chân như tc là th ca nim, nim tc là dng ca chân như, chân như t tánh khi nim, không phi mt tai mũi lưỡi hay khi nim, chân như có tánh cho nên khi nim, chân như nếu không có tánh thì mt tai sc thanh chính khi y lin hoi.

Này Thin tri thc, chân như t tánh khi nim, sáu căn tuy có thy nghe hiu biết mà không nhim muôn cnh, mà chân tánh thường t ti, nên kinh nói “hay khéo phân bit các pháp tướng mà đối vi nghĩa đệ nht không có động”.

Giảng:

T dy chúng:

Này Thin tri thc, pháp môn ca ta đây ly Định Tu làm gc, đại chúng ch lm nói định tu riêng, định tu mt th không phi là hai. Định là th ca tu, tu là dng ca định, ngay khi tu, định ti tu, ngay khi định, tu ti định, nếu biết được nghĩa này tc là cái hc định tu bình đẳng. Nhng người hc đạo ch nói trước định ri sau mi phát tu, trước tu ri sau mi phát định, mi cái riêng khác. Khi cái thy như thế y thì pháp có hai tướng. Ming nói li thin mà trong tâm không thin thì không có định tu, định tu không bình đẳng. Nếu tâm, ming đều là thin, trong ngoài mt th, định tu tc là bình đẳng. T ng tu hành không ch tranh cãi, nếu tranh trước sau tc là đồng vi người mê, không dt s hơn thua, tr li tăng ngã và pháp, không lìa bn tướng.

Này Thin tri thc, định tu ví như cái gì? Ví như ngn đèn và ánh sáng. Có ngn đèn tc có ánh sáng, không đèn tc là ti, đèn là th ca ánh sáng, ánh sáng là dng ca đèn, tên tuy có hai mà th vn đồng mt, pháp định tu này cũng li như thế.

Phẩm này là những điều chủ yếu của sự tu thiền. Thường trong các kinh hay nói do định mà được tuệ, do định phát ra tuệ, như vậy chúng ta thấy định trước, tuệ sau; nhưng trong đoạn này Tổ dạy định tuệ bình đẳng, không có trước sau, như vậy thành ra khác. Nói định trước tuệ sau là lối nói của Tiểu thừa, còn theo lời Tổ dạy thì định tuệ đồng thời. Tại sao? Điều này khi chúng ta tu rồi tự nhiên thấy. Tôi chỉ cho quý vị thấy một chút. Thí dụ như khi chúng ta ngồi thiền tâm chúng ta lặng, đó là định. Nhưng tâm chúng ta lặng mà hằng giác tri, giác tri đó là gì? Là tuệ. Như vậy tuệ đâu có rời định. Trong khi định thì có tuệ, tuệ sẵn ở trong định, định tuệ không tách rời được, nên không thể nói đợi cái này dứt mới phát cái kia, như vậy là thấy định tuệ riêng biệt, thế nên Tổ không chấp nhận. Lối dạy của Tổ là định tuệ đồng thời bình đẳng, không có trước, không có sau. Ngài dẫn ví dụ như ngọn đèn và ánh sáng. Khi chúng ta đốt ngọn đèn lên, ngay khi ngọn đèn vừa cháy là có ánh sáng phát ra. Như vậy ngọn đèn là thể, ánh sáng là dụng, thể dụng không rời nhau. Cũng thế định là thể, tuệ là dụng. Khi tâm mình lặng gọi là định, bởi lặng nên nó mới sáng, cũng như nước trong thì mới sáng, vậy cái trong là sáng; cũng như cái gương không có bụi, gương trong thì tự sáng, cái sáng không tách rời gương trong được. Định tuệ cũng thế. Khi những vọng tưởng không dấy khởi thì tâm lặng, đó gọi là định, và khi định thì tuệ đã sẵn ở trong, nên nói trí tuệ không rời chánh định mà chánh định cũng không rời trí tuệ, hai cái không hai, không khác, nếu thấy hai, thấy khác, tức nhiên không đúng lẽ thật. Như ngọn đèn và ánh sáng tuy hai tên nhưng hai cái có tách rời được không? Nếu nghe hai tên chúng ta nói cái này riêng cái kia riêng thì không bao giờ đúng; như vậy để hiểu rõ rằng ngọn đèn và ánh sáng không rời nhau được, thì định tuệ cũng không rời nhau được, đó là thí dụ để hiểu rõ pháp.

T dy chúng:

Này Thin tri thc, Nht hnh tam-mui là đối vi tt c ch, đi đứng ngi nm thường hành mt trc tâm y vy. Kinh Tnh Danh nói: Trc tâm là đạo tràng, trc tâm là Tnh độ. Tâm ch làm nhng chuyn sim khúc, ming ch nói trc, ming nói Nht hnh tam-mui mà không hành trc tâm; còn hành trc tâm, đối vi tt c pháp ch có chp trước.

Tiếp theo Tổ dạy về Nhất hạnh tam-muội. Tam-muội là chánh định. Một hạnh ở trong chánh định là thế nào? Nghĩa là trong tất cả chỗ, đi, đứng, ngồi, nằm chỉ là một trực tâm, gọi là Nhất hạnh tam-muội. Không phải chỉ ngồi thẳng mới là Nhất hạnh tam-muội. Không phải chỉ ở tại chùa, mà ở tất cả chỗ, nghĩa là ở chợ, ở xóm làng v.v… đi đứng nằm ngồi đều một trực tâm, đó là Nhất hạnh tam-muội. Ngài dẫn kinh Tịnh Danh (kinh Duy-ma-cật): Trc tâm là đạo tràng, trc tâm là Tnh độ, nghĩa là tâm mình ngay thẳng đó là đạo tràng, tâm mình ngay thẳng đó là Tịnh độ. Chữ ngay thẳng này tôi sợ nhiều người hiểu lầm, nên tôi giản trạch rõ một chút. Có nhiều người nói: Tôi không cần niệm Phật, không cần tụng kinh, không cần thọ giới, không cần tu thiền gì cả, tâm tôi ngay thẳng là được rồi! Họ cho rằng họ thấy thế nào thì nói thế ấy, đó là tâm ngay thẳng. Nói như thế đối với đạo Phật chưa phải ngay thẳng. Tại sao? Vì còn ở trong “có, không, phải, quấy” nên chưa ngay. Khi nói phải, khi nói quấy, khi nói có, khi nói không, thành ra còn ở hai bên, chứ chưa phải là ngay. Trực tâm đây là không kẹt ở hai bên. Điều này thật không đơn giản đâu.

Đừng nghĩ rằng: “tôi thấy sao nói vậy” là trực tâm, đó là trực tâm ở thế gian, còn trực tâm Tổ nói đây là tâm không kẹt hai bên. Người được như vậy thì ở chỗ nào cũng là đạo tràng, ở chỗ nào cũng là Tịnh độ.

Ngài quở: Có những người chỉ nói ở ngoài miệng là trực mà hạnh không trực, tức là không hành trực tâm; còn người hành trực tâm là đối với tất cả pháp không có chấp trước, tức là đối với tất cả pháp không dính không kẹt vào bên này hay bên kia… Như vậy đối với tất cả pháp chớ có chấp trước!

Người mê chp pháp tướng, chp Nht hnh tam-mui, ch nói ngi không động, tâm vng không khi tc là Nht hnh tam-mui, người khi hiu thế này tc là đồng vi vô tình, tr li là nhân duyên chướng đạo.

Người mê không hiểu, chấp trước Nhất hạnh tam-muội, họ cho rằng chỉ khi ngồi yên bất động, tâm vọng không khởi nữa, đó là Nhất hạnh tam-muội, hiểu như vậy Tổ cho là đồng với vô tình. Đi, đứng, nằm, ngồi, nơi nơi đều trực tâm, nơi nơi đừng dính mắc, đó mới là Nhất hạnh tam-muội, chứ không phải ngồi đè cho tâm lặng xuống không biết gì cả là Nhất hạnh tam-muội. Nếu chỉ đè cho tâm lặng xuống không biết gì thì Tổ bảo đó là đồng với cây đá, đồng với vô tình, chứ không phải là tri giác. Lặng mà hằng tri hằng giác mới đúng. Trái lại đè để tâm không biết gì đó là đồng với vô tình, là nhân duyên chướng đạo.

Này Thin tri thc, đạo phi thông lưu, do đâu tr li ngưng tr, tâm không tr nơi pháp, đạo tc là thông lưu. Tâm nếu tr pháp gi là t phược, nếu nói thường ngi không động, y ch như ngài Xá-li-pht ngi yên trong rng li b ngài Duy-ma-ct qu trách.

Đạo là phi thông lưu. Thông lưu tức là luôn luôn linh động mà không dính mắc. Đạo không phải là việc ngồi kìm đè cho tâm lặng yên rồi gọi là đạo, mà luôn luôn trong mọi động tác đi, đứng, nằm, ngồi đều không dính mắc, đó mới là đạo. Đạo là thông lưu như vậy. Hiểu như thế, chúng ta mới thấy đạo không phải do tâm chúng ta kẹt một chỗ, trái lại đối với pháp luôn luôn không dính mắc, đó là thông lưu. Cũng như một bè cây thả trôi trên sông, nếu bè cây tấp vào bờ nào thì bè cây đó không trôi suông, vì trôi suông là không bị dính, không tấp vào đâu cả. Cũng thế đạo hạnh được thông lưu là không dính, không mắc, nếu ai đối tất cả pháp không dính không mắc, đó là người thấy đạo, trái lại người nào còn dính mắc thì không thấy đạo, cả đến dính mắc vào pháp mình tu, chấp vào đó để kìm tâm cũng không thấy đạo nữa, đó là chỗ chân thật.

Nếu tâm chúng ta kẹt vào một pháp nào thì gọi là tự phược. Nếu nói ngồi yên không động là đạo thì tại sao ngài Xá-lợi-phất ngồi yên trong rừng lại bị ngài Duy-ma-cật quở trách? Như vậy việc ngồi yên chưa hẳn là đạo, đạo là thông lưu tức là không dính không chấp.

Này Thin tri thc, li có người dy ngi khán tâm quán tnh, không động không khi, t đây mà lp công khóa, người mê không hiu lin chp thành ra điên cung; nhng người như thế này tht là đông, dy nhau như thế, nên biết đó là lm ln.

Đây là Tổ muốn chỉ ngài Thần Tú. Ngài Thần Tú dạy ngồi thiền là khán tâm quán tịnh tức là nhìn tâm mình và nhìn chỗ nó lặng lẽ. Nếu nhìn chỗ lặng lẽ thì lặng lẽ là cái bị nhìn, không phải mình mà chấp là mình, đó là lầm. Số người lầm như thế rất nhiều, nếu dạy nhau như vậy là lầm lớn.

T dy chúng:

Này Thin tri thc, xưa nay chánh giáo không có đốn tim, tánh người t có li và độn, người mê thì ln ln khế hp, người ng thi chóng tu, t biết bn tâm, t thy bn tánh, tc là không có sai bit, do đó nên lp gi danh đốn tim.

Này Thin tri thc, pháp môn ca ta đây t trước đến nay, trước lp Vô nim làm tông, Vô tướng làm th, Vô tr làm bn.

Tông tức là chủ, vô tướng là cái không tướng, bản là gốc. Đây là ba điểm then chốt trong lối dạy của Lục Tổ: vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm bản.

Vô tướng là đối vi tướng mà lìa tướng; vô nim là đối vi nim mà không nim; vô tr là bn tánh ca người.

Vô tướng là thế nào? Ngay nơi tướng mà lìa tướng đó gọi là vô tướng. Thí dụ như ngay bình bông này mà lìa bình bông là thế nào? Chúng ta cũng nhìn bình bông, nhưng không có niệm phân biệt đẹp xấu, là ngay bình bông mà lìa bình bông. Nếu vừa nhìn bình bông liền phân biệt đẹp xấu là dính mắc nơi bình bông, như vậy lìa bình bông là thấy mà không dính, chứ không phải nhắm mắt đừng thấy nó mới gọi là lìa. Điểm này phải hiểu thật rõ cho khỏi lầm, nghe nói lìa tướng rồi đi đâu cũng che mắt lại, không nhìn cảnh vật vì sợ thấy nó là kẹt với tướng. Không phải như thế. Ngay nơi tướng, thấy vẫn thấy nhưng không thêm niệm gì để phân biệt, để so sánh thì đó là lìa tướng; nơi tướng mà lìa tướng đó là vô tướng.

Vô niệm là thế nào? Đối với niệm mà không niệm.

Vô trụ là thế nào? Bản tánh của người là vô trụ nên mới lập vô trụ làm bản, tức là bản tánh của chúng ta không dính, không mắc, dính mắc đó là vọng chứ không phải bản tánh.

thế gian nào là thin ác, tt xu, cho đến nhng vic oán cùng vi thân, ngôn ng xúc chm, hư di tranh đua v.v… thy đều đem v không; không nghĩ tr thù hi li, trong mi nim không nghĩ cnh trước, nếu nim trước, nim hin ti, nim sau, trong mi nim tương tc không dt gi là h phược (trói buc).

Ở thế gian, tất cả những việc hơn thua, phải quấy, tốt xấu v.v… đều đưa về không. Tại sao? Thí dụ việc phải quấy ở thế gian, có cố định hay không? Một việc vào ngày xưa là phải, ngày nay cũng phải và muôn đời là phải? Hoặc vào ngày xưa là quấy, ngày nay cũng quấy và muôn đời là quấy? Hay việc phải quấy chỉ tùy thời? Vào một thời nào đó đặt cho một việc nào đó là phải thì nó phải, đến một thời khác đổi nó là quấy thì nó quấy. Như vậy phải quấy đâu có cố định, đã không cố định thì chấp làm gì? Không cố định nên nói nó là không. Tôi thí dụ một việc nhỏ như người Việt Nam ra đường đi phía tay mặt là phải, nếu sang Ấn Độ hay sang Anh thì đi phía tay trái là phải. Như vậy phải quấy là tùy địa phương và tùy thời, chứ không cố định. Thế nên chúng ta phải hiểu rõ rằng tất cả những việc phải quấy chỉ là đối đãi thôi, không có thật; đã không thật mà chấp là chân lý thì sai, cho nên nói tất cả đều đưa vào không. Cả tốt xấu cũng vậy, ví dụ như có một người nam hoặc một người nữ thật đẹp, nhưng bất thần một hôm họ bị nổi đơn thì lúc đó quý vị còn khen người đó đẹp nữa không? Như vậy cái đẹp xấu không cố định, nó không thật, những cái không thật mà chúng ta chấp, rồi mê say có phải là điên cuồng hay không? Nếu không thật thì đưa nó vào không!

Tóm lại, tất cả những phải quấy, tốt xấu, hơn thua đều không thật, nên khi nó xảy đến liền đưa vào chỗ hư giả thì mọi việc đều an bài. Trái lại, nếu chấp phải, chấp quấy thì buồn bực phiền não đủ thứ… Đó là Tổ chỉ cho chúng ta một lẽ thật. Thế nên tất cả đều đưa vào không, không nghĩ tr thù hi li, trong mi nim không nghĩ cnh trước, tức là trong mỗi niệm không suy nghĩ về cảnh này cảnh khác. Nếu nim trước, nim hin ti, nim sau, trong mi nim tương tc không dt gi là h phược. Nếu chúng ta quen nghĩ việc này việc kia rồi niệm trước mất, niệm kế hiện, niệm kế mất, niệm sau hiện liên tục không dừng thì đó là bị trói buộc.

Người nào cứ niệm niệm liên tục là kẻ bị trói buộc. Chúng ta có bị không? Tất cả chúng ta đều bị trói buộc là vì niệm niệm không dừng, nên không bao giờ chúng ta được an ổn. Nếu có những lúc lặng hết niệm, chúng ta đi tới đi lui, hoạt động mà vẫn an nhiên, đó là tự tại thì cảnh nào cũng là Tây phương, là Tịnh độ cả. Như vậy trói buộc là tại niệm của mình trói buộc nên nói là bị phược.

Đối trên các pháp mi nim không tr, tc là không phược. Đây là ly vô tr làm gc.

Đối với các pháp chúng ta không dấy niệm dính với nó là không bị trói, nếu dính với nó là bị trói. Chúng ta cứ nói rằng chúng ta ở trong cõi phiền não trần lao bị trói buộc, cảnh trói buộc hay ai trói buộc? Chính mình trói mình, mình trói mình với vật này, với cảnh kia, nên khi vật đó bị mất mình sầu khổ. Ví như quý đạo hữu đang mang một chiếc cà rá quý, khi nó rơi mất, hoặc bị ai giật mất thì thế nào? Nếu nó mất rồi thôi, thì an lành biết mấy, còn nếu mất rồi về nhà rầu rĩ v.v… như vậy là chiếc cà rá trói mình hay mình trói chiếc cà rá? Rõ ràng là mình trói nó. Nó chỉ là một bộ phận vô tình thôi, vì mình cứ nhớ nó thành mình khổ. Như vậy để thấy rằng vì chúng ta dính vào các pháp, nên chúng ta thấy pháp trói mình, chứ sự thật pháp nào có trói mình! Đây là lấy vô trụ làm gốc. Vô trụ là như thế, tức là không dính không mắc với pháp nào cả thì đó là vô trụ, đó là sống trở về với bản tánh của mình, vì bản tánh là vô trụ nên chính bản tánh là gốc.

Này Thin tri thc, ngoài lìa tt c tướng gi là vô tướng, hay lìa nơi tướng tc là pháp th thanh tnh, đây là ly vô tướng làm th. Này Thin tri thc, đối trên các cnh tâm không nhim gi là vô nim. Đối trên nim thường lìa các cnh, chng trên cnh mà sanh tâm.

Tổ lại định nghĩa thế nào là lấy vô tướng làm thể. Ngay các tướng chúng ta không dính mắc các tướng thì pháp thể của mình lúc nào cũng thanh tịnh. Ba điều này tuy nói là ba, nhưng nhìn kỹ thấy không có khác. Vô tướng là ngay nơi tướng mà lìa tướng, vô trụ là ngay nơi cảnh mà không dính cảnh, vô niệm là ngay nơi niệm mà buông xả không khởi; như vậy đối với cảnh không dính, không kẹt, không dấy niệm chạy theo cảnh thì đó là vô niệm, vô tướng, vô trụ. Rõ ràng là thế!

Nếu ch trăm vt chng nghĩ, nim phi tr hết, mt nim dt tc là chết, ri s sanh nơi khác, y là lm to.

Ngài lại nhắc đến cái bệnh ngài đã nói trong đoạn trước. Ngài sợ chúng ta ngồi rồi cứ đè không cho nghĩ gì hết. Phương pháp Tổ dạy chúng ta tuy khó, nhưng nếu biết tu thì rất nhàn. Chúng ta không phải ngồi suốt ba, bốn tiếng đồng hồ, chúng ta vẫn đi tới đi lui, tiếp xúc mọi cảnh, nhưng trên cảnh mà không dính cảnh là vô trụ, ngay nơi cảnh mà lìa cảnh là vô tướng, ngay nơi cảnh mà không dấy niệm là vô niệm. Như vậy ngài bắt chúng ta đối cảnh chứ không trốn cảnh, đối cảnh nhưng đi đứng nằm ngồi… trong mọi hoạt động đều thông lưu, không kẹt trên cảnh, đó là đúng lời dạy của ngài.

Trái lại nếu chúng ta cứ đè tâm mình cho nó không ngơ thì dứt niệm. Ngài bảo nếu niệm hết là chết, vì niệm là dụng của tâm thể mà tâm thể bặt rồi tức là chết, chết rồi là đi thọ sanh nơi khác. Như thế là lầm.

Người hc đạo suy nghĩ đó, nếu không biết cái ý ca pháp thì t lm còn có th, li dy người khác (là không nên), t mê không thy li còn chê bai kinh Pht, vì thế nên lp vô nim làm tông. Này Thin tri thc, thế nào lp vô nim làm tông? Ch vì ming nói thy tánh, người mê trên cnh có nim, trên nim li khi tà kiến, tt c trn lao vng tưởng t đây mà sanh.

Ngài lại giải thích: Tại sao lập vô niệm làm tông? Vì có nhiều người nói rằng mình thấy tánh, nhưng trên cảnh lại khởi niệm, rồi trên niệm lại sanh tà kiến. Thí dụ như trên cảnh này, tôi khởi niệm hoa hường đẹp, hoa hường quý. Nếu có người khác nói hoa hường không quý bằng hoa mẫu đơn chẳng hạn, tức nhiên tôi không chịu rồi cãi nhau… Hoa là hoa, không tự nói quý tiện. Chúng ta chấp cái này quý, cái kia tiện thì đó là tà kiến. Trên niệm khởi thêm tà kiến, người nghiêng bên này, người nghiêng bên kia thành ra chuyện cãi nhau vô ích, do đó sanh ra đủ thứ trần lao vọng tưởng.

T tánh vn không mt pháp có th được, nếu có s đắc, vng nói ha phước tc là trn lao tà kiến, nên pháp môn này lp vô nim làm tông.

Tổ chỉ chỗ tu của chúng ta. Người tu thâm sâu rồi thì sống với tự tánh thanh tịnh. Tự tánh thanh tịnh không có một pháp, như ngài đã từng nói “Bản lai vô nhất vật”; ở đây ngài cũng nhắc lại bản tánh không có một pháp. Đã không một pháp có thể được, nếu vừa hơi yên liền nói tôi được thanh tịnh, rồi nói chuyện họa phước của người… như ông kia ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn, bà này ba tháng nữa sẽ được phước gặp điều may v.v… thì đó là tà kiến. Chúng ta biết tự tánh vốn thanh tịnh, không có một pháp thì nói gì là sở đắc, không sở đắc thì có gì mà nói họa nói phước cho người. Nhưng hiện nay có một số người tu được chút ít hay nói họa nói phước, nói chuyện quá khứ vị lai v.v…, chúng ta biết những người đó là tà, không phải là người chân chánh.

Này Thin tri thc, vô là vô vic gì? Nim là nim vt nào? Vô đó là không có hai tướng, không có các tâm trn lao; nim là nim chân như bn tánh.

Ngài nhắc lại: Pháp môn của ngài lập vô niệm làm tông. Vô là vô việc gì? Ngài dạy: Vô là tất cả phiền não trần lao không dấy động. Niệm là niệm vật nào? Niệm là hằng nhớ chân như tự tánh của mình, hằng nhớ tánh giác của mình, không chạy theo cảnh…

Chân như tc là th ca nim, nim tc là dng ca chân như, chân như t tánh khi nim, không phi mt, tai, mũi, lưỡi hay khi nim, chân như có tánh cho nên khi nim, chân như nếu không có tánh thì mt tai sc thanh chính khi y lin hoi. Này Thin tri thc, chân như t tánh khi nim, sáu căn tuy có thy nghe hiu biết mà không nhim muôn cnh, mà chân tánh thường t ti, nên kinh nói “hay khéo phân bit các pháp tướng mà đối vi nghĩa đệ nht không có động”.

Sau cùng ngài chỉ cho chúng ta hiểu niệm khởi là từ chân như. Như vậy chúng ta khởi niệm để niệm chân như thì được, còn khởi niệm chạy theo cảnh thì sai. Khởi niệm chạy theo cảnh đó là dính với cảnh, còn xoay niệm trở về chân như là đúng. Nhưng xoay niệm niệm chân như là thế nào? Là nghe tiếng mà không chạy theo tiếng, hằng nhớ mình có cái hay nghe, có cái đang nghe mới biết nghe tiếng; cũng như thấy cảnh mình không phân biệt cảnh đẹp hay xấu mà biết mình đang thấy, đó là niệm chân như. Hằng nhớ tự tánh của chính mình, nhớ là niệm, niệm bản tánh của mình đó là niệm chân như.

Tóm lại, trong phần này Tổ nói về Định Tuệ. Theo Tổ, định tuệ bình đẳng không có trước sau, và điểm chủ yếu Tổ dạy chúng ta tu gồm có ba phần: vô niệm, vô tướng và vô trụ. Vô niệm là tông, vô tướng là thể, vô trụ là bản. Đó là những điều thiết yếu trong sự tu hành, ai tu theo Lục Tổ mà không biết ba điều này là không biết đường lối tu.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.