Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải

III. Phẩm Nghi Vấn



Chánh văn:

Mt hôm Vi th s vì T thiết đại hi trai, trai xong, Th s thnh T đăng tòa, quan liêu sĩ th đều thành kính l bái, hi rng:

– Đệ t nghe Hòa thượng thuyết pháp, tht không th nghĩ bàn, nay có mt ít nghi, cúi mong Ngài đại t đại bi đặc bit vì gii nói.

T bo:

– Có nghi lin hi, tôi s vì các ông mà nói.

Th s thưa:

– Hòa thượng nói pháp, đâu không phi là tông ch ca t Đạt-ma ư?

T bo:

– Đúng vy!

Th s thưa:

– Đệ t nghe t Đạt-ma khi mi đến vua Lương Võ Đế, Võ Đế hi: “Trm mt đời ct chùa độ tăng, b thí thiết trai có nhng công đức gì?” T Đạt-ma bo: “Tht không có công đứĐệ t chưa thu được l này, cúi mong Hòa thượng vì nói.

T bo:

– Tht không có công đức, ch nghi li ca bc tiên thánh. Võ Đế tâm tà, không biết chánh pháp, ct chùa độ tăng, b thí, thiết trai đó gi là cu phước, ch không th đem phước đổi làm công đứ Công đức là trong pháp thân, không phi do tu phước mà được.

T li nói:

– Thy tánh là công, bình đẳng là đức, mi nim không ngưng tr, thường thy bn tánh, diu dng chân tht gi là công đứ Trong tâm khiêm h là công, bên ngoài hành l phép là đức; t tánh dng lp muôn pháp là công, tâm th lìa nim là đức; không lìa t tánh là công, ng dng không nhim là đức. Nếu tìm công đức pháp thân, ch y nơi đây mà to là chân công đức. Nếu người tu công đức, tâm tc không có khinh, thường hành khp knh. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dt tc là không công, t tánh hư vng không tht tc t không đức, vì ngô ngã t đại thường khinh tt c. Này Thin tri thc, mi nim không có gián đon là công, tâm hành ngay thng là đức, t tu tánh là công, t tu thân là đức. Này Thin tri thc, công đức phi là nơi t tánh mà thy, không phi do b thí cúng dường mà cu được. y là phước đức cùng vi công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý, không phi T sư ta có li.

Th s li hi:

– Đệ t thường thy tăng tc nim Pht A-di-đà, nguyn sanh Tây phương, thnh Hòa thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng? Nguyn vì phá cái nghi này.

T bo:

– S quân khéo lng nghe, Hu Năng s vì nói. Thế Tôn trong thành Xá-v nói Tây phương dn hóa, văn kinh rõ ràng “cách đây không xa”. Nếu lun v tướng mà nói, s dm có mười muôn tám ngàn, tc là trong thân có mười ác và tám tà, lin là nói xa, nói xa là vì k h căn, nói gn là vì nhng người thượng trí. Người có hai hng nhưng pháp không có hai th, mê ng có khác, thy có mau ch Người mê nim Pht cu sanh v cõi kia, người ng t tnh tâm mình, s dĩ Pht nói: Tùy tâm tnh lin được cõi Pht tnh.

S quân, người phương Đông ch tâm mình tnh lin không có ti, tuy người phương Tây tâm không tnh cũng có li. Người phương Đông to ti nim Pht cu sanh v phương Tây, còn người phương Tây to ti, nim Pht cu sanh cõi nào? Phàm ngu không rõ t tánh, không biết trong thân tnh độ, nguyn đông, nguyn tây, người ng ch nào cũng vy, cho nên Pht nói: Tùy ch mình hng được an lc.

S quân, tâm địa ch không có bt thin thì Tây phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng chng thin, nim Pht vãng sanh khó đến. Nay khuyên thin tri thc trước nên dp tr thp ác tc là đi được mười muôn, sau tr tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mi nim thy tánh thường hành bình trc, đến như trong khy móng tay, lin thy đức Pht A-di-đà.

S quân, ch hành mười điu thin đâu cn li nguyn vãng sanh, không đon tâm thp ác thì Pht nào đón tiếp. Nếu ng được đốn pháp vô sanh, thy Tây phương ch trong khong sát-na. Còn chng ng, nim Pht cu sanh thì con đường xa làm sao đến được! Hu Năng vì mi người di cõi Tây phương trong khong sát-na trước mt khiến cho quý v được thy, quý v có mun thy hay chăng?

Chúng đều đảnh l thưa rng:

– Nếu cõi này mà thy được thì đâu cn phi nguyn vãng sanh, nguyn Hòa thượng t bi lin hin Tây phương khiến cho tt c được th

T bo:

– Này Đại chúng! Người đời t sc thân là thành, mt tai mũi lưỡi là ca, ngoài có năm ca, trong có ca ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua trên đất tâm, tánh còn thì vua còn, tánh đi mt thì vua mt; tánh thì thân tâm còn, tánh đi thì thân tâm ho Pht nhm trong tánh mà to, ch hướng ra ngoài mà cu. T tánh mê tc là chúng sanh, t tánh giác tc là Pht, t bi tc là Quán Thế Âm, h x gi là Đại Thế Chí, hay tnh tc là đức Thích-ca, bình trc tc là Pht Di-đà. Nhân ngã y là Tu-di, tà tâm là bin độc, phin não là sóng mòi, độc hi là rng d, hư vng là qu thn, trn lao là rùa trnh, tham sân là địa ngc, ngu si là súc sanh.

Này Thin tri thc, thường làm mười điu lành thì thiên đường lin đến, tr nhân ngã thì núi Tu-di ngã, dp được tham dc thì bin nước độc khô, phin não không thì sóng mòi mt, độc hi tr thì rng cá đều dt. trên tâm địa mình là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu ca thanh tnh hay phá sáu cõi tri dc, t tánh trong chiếu ba độc tc lin tr địa ngc v.v… các ti mt lúc đều tiêu dit, trong ngoài sáng tt, chng khác vi cõi Tây phương, không chu tu như thế này làm sao đến được cõi kia?

Đại chúng nghe nói ri đều rõ ràng thy được t tánh, thy đều l bái, đều tán thán: “Lành thay!” Thưa rng: “Khp nguyn pháp gii chúng sanh nghe mt thi lin ng hiu.” T bo:

– Này Thin tri thc, nếu mun tu hành, ti gia cũng được, không cn chùa, người ti gia mà hay hành như người phương Đông mà tâm được thin, còn người chùa mà không tu cũng như người phương Tây mà tâm ác. Ch tâm thanh tnh tc là t tánh Tây phươ

Th s Vi C li hi:

– Người ti gia làm sao tu hành? Cúi xin Ngài vì ch d

T bo:

– Tôi vì Đại chúng làm mt bài tng Vô tướng, ch y đây mà tu, thường cùng tôi đồng không khác, nếu không tu như thế này dù có co tóc xut gia đối vi đạo cũng không có ích gì. Tng rng:

Tâm bình không nhc gi gii,

Hnh thng không cn tu thin,

Ân thì nuôi dưỡng cha m,

Nghĩa thì trên dưới thương nhau.

Nhường thì trên dưới hòa mc,

Nhn thì các ác không n,

Nếu hay dùi cây ra la,

Trong bùn quyết mc sen hng.

Đắng ming tc là thuc hay,

Nghch tai là li ngay thng,

Sa li t sanh trí tu,

Gi quy trong tâm không hin.

Mi ngày thường làm li ích,

Thành đạo không do thí tin,

Bđề ch hướng tâm tìm,

Đâu nhc hướng ngoi cu huyn.

Nghe nói y đây tu hành,

Cc lc ch ngay trước mt.

(Tâm bình hà lao trì gii,

Hnh trc hà dng tu thin,

Ân tc hiếu dưỡng ph mu,

Nghĩa tc thượng h tương lân.

Nhượng tc tôn ty hòa mc,

Nhn tc chúng ác vô huyên,

Nhược năng ton mc xut ha,

định sanh hng liên.

Kh khu đích th lương dược,

Nghch nhĩ tt th trung ngôn,

Ci quá tt sanh trí tu,

H đon tâm ni phi hin.

Nht dng thường hành nhiêu ích,

Thành đạo phi do thí tin,

Bđề ch hướng tâm mích,

Hà lao hướng ngoi cu huyn.

Thính thuyết y th tu hành,

Tây phương ch ti mc tin.)

T li bo:

– Này Thin tri thc, thy phi y k đây mà tu hành, nhn ly t tánh, thng đó thành đạ Pháp không đợi nhau, mi người hãy gii tán, tôi tr v Tào Khê, chúng nếu có nghi, li đến hi nhau.

Khi y Th s quan liêu trong hi, k thin nam tín n mi người đều được khai ng, tin th vâng làm.

Giảng:

Mt hôm Vi th s vì T thiết đại hi trai, trai xong, Th s thnh T đăng tòa, quan liêu sĩ th đều thành kính l bái, hi rng:

– Đệ t nghe Hòa thượng thuyết pháp, tht không th nghĩ bàn, nay có mt ít nghi, cúi mong Ngài đại t đại bi đặc bit vì gii nói.

T bo:

– Có nghi lin hi, tôi s vì các ông mà nói.

Th s thưa:

– Hòa thượng nói pháp, đâu không phi là tông ch ca t Đạt-ma ư?

T bo:

– Đúng vy!

Th s thưa:

– Đệ t nghe t Đạt-ma khi mi đến vua Lương Võ Đế, Võ Đế hi: “Trm mt đời ct chùa độ tăng, b thí thiết trai có nhng công đức gì?” T Đạt-ma bo: “Tht không có công đứĐệ t chưa thu được l này, cúi mong Hòa thượng vì nói.

T bo:

– Tht không có công đức, ch nghi li ca bc tiên thánh. Võ Đế tâm tà, không biết chánh pháp, ct chùa độ tăng, b thí, thiết trai đó gi là cu phước, ch không th đem phước đổi làm công đứ Công đức là trong pháp thân, không phi do tu phước mà được.

Phẩm thứ ba là phẩm Nghi Vấn tức là nếu có những điều nghi ngờ, đem ra hỏi Lục Tổ.

Điều nghi đầu tiên là khi tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, đến yết kiến vua Lương Võ Đế, Vua liền hỏi: Trm mt đời ct chùa độ tăng, b thí thiết trai có nhng công đức gì? T Đạt-ma bo: Tht không có công đức. Chính câu nói này khiến nhiều người nghi, không biết tại sao làm những điều đó mà không công đức. Theo sử ghi: Vua Võ Đế thời đó cất mấy trăm ngôi chùa, độ tăng tu hành rất đông, thiết trai bố thí và chính nhà Vua giảng được kinh. Như vậy Võ Đế cho rằng những việc làm ấy là đầy đủ công đức, nhưng không ngờ khi hỏi Tổ, Tổ bảo: Không công đức. Đó là tạt một gáo nước lạnh vào mặt Võ Đế, nhà Vua nản quá không thiết nói chuyện nữa. Vì thế đang đêm Tổ phải lén bỏ đi qua nước Ngụy, đến chùa Thiếu Lâm, ngồi trong động đến chín năm…

Nhắc lại câu tổ Đạt-ma trả lời vua Lương Võ Đế, người học Phật chúng ta không ai không nghi ngờ, cất chùa, độ chư tăng tu hành, làm nhiều việc phước mà Tổ bảo không công đức. Thật là vô lý! Khi làm các việc như vậy, các chùa thường bảo là công đức vô lượng vô biên, vì sao tổ Đạt-ma lại nói không công đức? Trong phần này Lục Tổ giản trạch: Công đức thuộc về nội tâm, không phải ở bên ngoài. Công đức là do ngộ đạo đạt được tự tánh, rồi từ tánh khởi dụng, những dụng ấy gọi là công đức. Còn phước đức là do việc làm bên ngoài mà được, như cúng dường, bố thí v.v… Vua Võ Đế lầm nghĩa phước đức và công đức là một nên Tổ nói không công đức.

T li nói:

Thy tánh là công, bình đẳng là đức, mi nim không ngưng tr, thường thy bn tánh, diu dng chân tht gi là công đức. Trong tâm khiêm h là công, bên ngoài hành l phép là đức; t tánh dng lp muôn pháp là công, tâm th lìa nim là đức; không lìa t tánh là công, ng dng không nhim là đức. Nếu tìm công đức pháp thân, ch y nơi đây mà to là chân công đức. Nếu người tu công đức, tâm tc không có khinh, thường hành khp knh. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dt tc là không công, t tánh hư vng không tht tc t không đức, vì ngô ngã t đại thường khinh tt c. Này Thin tri thc, mi nim không có gián đon là công, tâm hành ngay thng là đức, t tu tánh là công, t tu thân là đức. Này Thin tri thc, công đức phi là nơi t tánh mà thy, không phi do b thí cúng dường mà cu được. y là phước đức cùng vi công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý, không phi T sư ta có li.

Thấy tánh tức là đạt được bản tánh mình là công, hành hạnh bình đẳng là đức. Trong tâm không ngô ngã rồi hành những hạnh cung kính mọi người đó là công đức v.v… Như vậy công đức là nhằm thẳng bản tâm mình, ngộ được tự tánh mình rồi từ đó khởi dụng làm những hành động hợp đạo lý, thuyết pháp độ sanh hay tu các công hạnh, đó gọi là công đức.

Chúng ta ngày nay hay lầm lẫn cho rằng cất chùa, giúp chư tăng, bố thí cúng dường là lập nhiều công đức và tự hào rằng mình làm công đức vô lượng vô biên cần phải được tán thán, không ngờ làm những việc ấy chỉ là tạo phước đức mà thôi. Lục Tổ giảng cho thứ sử Vi Cừ và cả hội chúng hiểu rõ, đừng lầm phước đức với công đức.

Th s li hi:

– Đệ t thường thy tăng tc nim Pht A-di-đà, nguyn sanh Tây phương, thnh Hòa thượng nói, được sanh nơi cõi kia chăng? Nguyn vì phá cái nghi này.

Điều nghi thứ hai là người tu hành niệm Phật A-di-đà cầu vãng sanh về Tây phương Cực lạc, việc ấy như thế nào?

T bo:

– S quân khéo lng nghe, Hu Năng s vì nói. Thế Tôn trong thành Xá-v nói Tây phương dn hóa, văn kinh rõ ràng “cách đây không xa”. Nếu lun v tướng mà nói, s dm có mười muôn tám ngàn, tc là trong thân có mười ác và tám tà, lin là nói xa, nói xa là vì k h căn, nói gn là vì nhng người thượng trí. Người có hai hng nhưng pháp không có hai th, mê ng có khác, thy có mau ch Người mê nim Pht cu sanh v cõi kia, người ng t tnh tâm mình, s dĩ Pht nói: Tùy tâm tnh lin được cõi Pht tnh.

S quân, người phương Đông ch tâm mình tnh lin không có ti, tuy người phương Tây tâm không tnh cũng có li. Người phương Đông to ti nim Pht cu sanh v phương Tây, còn người phương Tây to ti, nim Pht cu sanh cõi nào?

Tổ giải thích: Niệm Phật cầu sanh về Tây phương là vì người hạ căn; Tây phương cách chúng ta mười muôn ức cõi, nói xa như vậy là vì kẻ hạ căn. Nếu nói gần là vì người thượng trí, nói gần là: Tâm mình tịnh là cõi Phật tịnh, nếu tâm mình thanh tịnh thì ngay đây là Tịnh độ. Như vậy nói xa hay gần là tùy căn cơ, người mê hay người hạ căn niệm Phật cầu sanh về Tây phương tức về một cõi xa tít mù; người ngộ hay người thượng trí niệm Phật để tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức cõi Phật thanh tịnh, vậy cõi Phật thanh tịnh ở ngay tâm thanh tịnh của mình.

Tổ lại bảo: Từ đây đến cõi Cực lạc cách xa mười muôn tám ngàn, là chỉ cho mười ác và tám tà. Nếu chúng ta hành Thập thiện và tu tám điều chánh (Bát chánh đạo) là chúng ta qua được mười muôn tám ngàn, đến được cõi Cực lạc. Cõi Cực lạc là do chúng ta hành thiện và thấy đúng, chứ không phải do chúng ta bay qua không gian đến cõi ấy. Tổ lại nêu vấn đề như chúng ta hiện nay ở cõi Ta-bà mê lầm tạo tội, nên cố gắng niệm Phật để sanh về Tây phương cho hết tội lỗi; Tổ bảo người mê tạo tội ở phương Đông, niệm Phật cầu sanh về phương Tây, nếu người phương Tây lỡ tạo tội, niệm Phật cầu sanh về đâu? Chẳng lẽ cầu sanh trở lại phương Đông? Như vậy điều cần yếu là hết tội chứ không phải cầu sanh về nơi nào. Nếu chúng ta ở phương Đông mà hết tội thì phương Đông là Cực lạc; nếu ở phương Đông tạo tội, cầu về phương Tây, chúng ta mang tâm tham sân si về cõi Cực lạc thì cõi Cực lạc cũng trở thành ô uế. Thí dụ quý Phật tử ở thành phố ồn náo, lâu lâu lên núi thấy cảnh núi thanh tịnh, mong được lên núi cho thanh tịnh. Nếu khoảng một trăm vị lên núi, các vị này hay rầy rà gây gổ thì cảnh núi sẽ biến thành ồn náo như dưới chợ. Như vậy cảnh thanh tịnh là do tâm người thanh tịnh, sự thanh tịnh cốt ở tâm mình chứ không phải ở cảnh. Chúng ta ngày nay vì yếu đuối nên ỷ lại, niệm Phật cầu về Cực lạc; tội lỗi không trừ dẹp, hung dữ vẫn còn, dù niệm Phật được nhiều chuỗi, thử hỏi có sanh được về cõi kia không? Trong kinh A-di-đà có câu: “bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc”, nghĩa là không thể lấy một chút ít phước đức nhân duyên mà được sanh về cõi kia. Như vậy muốn được sanh về cõi kia, phải đầy đủ phước đức nhân duyên, tức là ngay đây phải hiền lành, phải thuần thiện mới được. Tổ chỉ thẳng cho chúng ta phải tịnh tâm mình thì cõi này là Tịnh độ. Nếu không tịnh tâm mà cầu sanh về cõi kia, điều đó khó thực hiện.

Phàm ngu không rõ t tánh, không biết trong thân Tnh độ, nguyn đông, nguyn tây, người ng ch nào cũng vy, cho nên Pht nói: Tùy ch mình hng được an lc.

S quân, tâm địa ch không có bt thin thì Tây phương cách đây không xa. Nếu ôm lòng chng thin, nim Pht vãng sanh khó đến. Nay khuyên thin tri thc trước nên dp tr thp ác tc là đi được mười muôn, sau tr tám cái tà bèn qua được tám ngàn, mi nim thy tánh thường hành bình trc, đến như trong khy móng tay, lin thy đức Pht A-di-đà.

S quân, ch hành mười điu thin đâu cn li nguyn vãng sanh, không đon tâm thp ác thì Pht nào đón tiếp. Nếu ng được đốn pháp vô sanh, thy Tây phương ch trong khong sát-na. Còn chng ng, nim Pht cu sanh thì con đường xa làm sao đến được!

Người phàm phu ngu muội không nhận được tự tánh của mình, ngay trong thân mình đã có sẵn Tịnh độ mà không biết, cứ cầu Tịnh độ ở ngoài. Còn người trí ngộ được tự tánh của mình, liền thấy tự tánh là Tịnh độ. Nếu chúng ta được chừng năm phút trong tâm không có niệm thương ghét buồn giận, thì ngay lúc ấy thấy đây là cõi tịnh. Trái lại nếu trong tâm còn buồn giận thương ghét thì đến chỗ nào cũng thấy toàn là phiền não. Vì thế chủ yếu của việc tu hành là tịnh ngay tâm mình, nhận được tự tánh thanh tịnh của mình và sống với nó, đó là Tịnh độ. Người không biết tu, cứ chạy tìm cầu bên ngoài, rốt cuộc không đi đến đâu, vì làm sao tìm được lẽ thật ở bên ngoài!

Ví dụ như người học trò khôn ráng học bài thuộc, đi thi đậu; người học trò biếng nhác không chịu học bài, khi gần thi lo chạy tìm các thầy giáo năn nỉ xin giúp đỡ, như vậy làm sao bảo đảm được thi đậu? Nếu người có thiện chí giúp, ít nhất chúng ta phải có khả năng tương đương, còn dốt mà muốn thi đậu, việc ấy rất khó. Sự tu hành cũng như thế, nếu chúng ta không siêng năng hành thiện, dẹp trừ tội lỗi mà cứ cầu sanh về Cực lạc, chờ Phật rước, làm sao Phật rước chúng ta về cõi Phật được, không sợ chúng ta làm nhơ cõi ấy hay sao? Như hiện nay có người hung dữ vào chùa xin tu, tuy chúng tôi phải độ người tu hành, nhưng chúng tôi phải dè dặt vì người hung dữ quá vào chùa làm ồn, chúng tu không được; huống là cõi Phật thanh tịnh mà đem những người ô uế về làm rối loạn nơi thanh tịnh sao? Thế nên phải biết rõ, điều cốt yếu là phải tịnh ngay tâm mình, đó là Tịnh độ.

Hu Năng vì mi người di cõi Tây phương trong khong sát-na trước mt khiến cho quý v được thy, quý v có mun thy hay chăng?

Chúng đều đảnh l thưa rng:

– Nếu cõi này mà thy được thì đâu cn phi nguyn vãng sanh, nguyn Hòa thượng t bi lin hin Tây phương khiến cho tt c được th

T bo:

– Này đại chúng! Người đời t sc thân là thành, mt tai mũi lưỡi là ca, ngoài có năm ca, trong có ca ý. Tâm là đất, tánh là vua, vua trên đất tâm, tánh còn thì vua còn, tánh đi mt thì vua mt; tánh thì thân tâm còn, tánh đi thì thân tâm ho Pht nhm trong tánh mà to, ch hướng ra ngoài mà cu. T tánh mê tc là chúng sanh, t tánh giác tc là Pht, t bi tc là Quán Thế Âm, h x gi là Đại Thế Chí, hay tnh tc là đức Thích-ca, bình trc tc là Pht Di-đà. Nhân ngã y là Tu-di, tà tâm là bin độc, phin não là sóng mòi, độc hi là rng d, hư vng là qu thn, trn lao là rùa trnh, tham sân là địa ngc, ngu si là súc sanh.

Này Thin tri thc, thường làm mười điu lành thì thiên đường lin đến, tr nhân ngã thì núi Tu-di ngã, dp được tham dc thì bin nước độc khô, phin não không thì sóng mòi mt, độc hi tr thì rng cá đều dt. trên tâm địa mình là giác tánh Như Lai phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu ca thanh tnh hay phá sáu cõi tri dc, t tánh trong chiếu ba độc tc lin tr địa ngc v.v… các ti mt lúc đều tiêu dit, trong ngoài sáng tt, chng khác vi cõi Tây phương, không chu tu như thế này làm sao đến được cõi kia?

Đại chúng nghe nói ri đều rõ ràng thy được t tánh, thy đều l bái, đều tán thán: “Lành thay!” Thưa rng: “Khp nguyn pháp gii chúng sanh nghe mt thi lin ng hiu.”

Đến đây Tổ hỏi đại chúng: Các người muốn thấy cõi Cực lạc không? Cả chúng đều hoan nghinh, xin được thấy, nghĩ rằng Tổ có thần thông hiện cõi Cực lạc ngay trước mắt. Tổ mới dạy: Muốn thấy cõi Cực lạc phải ngay nơi tâm mình thanh tịnh, trừ dẹp những tâm xấu xa ác độc thì cõi Cực lạc hiện tiền, không phải cầu sanh về nơi nào khác. Ngài bảo dẹp tham sân thì địa ngục mất, hết ngu si thì súc sanh không còn, dẹp phiền não thì sóng mòi lặng, dẹp tâm ác thì biển độc khô, dứt ngô ngã thì núi Tu-di ngã. Nếu dẹp sạch được các điều xấu xa nhơ nhớp thì cõi Cực lạc hiện tiền, không cần chạy đi đâu để tìm Cực lạc. Thế mà người thế gian không chịu dẹp cái xấu, cứ một bề đòi về Cực lạc thì làm sao đến được cõi ấy! Có nhiều vị tu hành cũng lâu, cũng khá rồi nhưng tâm sân chưa dẹp sạch. Mỗi khi nghe lời trái tai liền nổi giận rồi bảo: Tánh tôi như vậy! Nếu thật tánh mình là sân, như thế là chấp nhận mình ở địa ngục mãi sao? Đâu biết cái giận chỉ là một thói quen lâu ngày, biết nó là xấu phải mạnh dạn chừa bỏ, không nên chấp nhận và bảo đó là tánh của tôi. Điều cốt yếu của sự tu là tịnh tâm mình, tâm mình thanh tịnh rồi, dù ở đâu cũng là cõi thanh tịnh.

Ví dụ nơi trường học có cậu học trò nhỏ vừa bắt đầu học lớp một, rồi muốn vào đại học ngay, việc đó được không? Dù người cai quản đại học có cảm tình với nó, cũng không thể nào đưa đứa học trò ấy vào đại học được. Đứa học trò phải học từ từ, xong phần trung học rồi có đủ khả năng mới vào đại học. Việc tu hành cũng như thế, dù Phật có lòng từ vô lượng, muốn độ chúng ta về cõi Phật, nhưng nếu chúng ta xấu xa ô nhiễm, thử hỏi Phật có độ về cõi kia được chăng? Muốn về cõi Phật, chúng ta phải có đủ khả năng, tức là tâm phải thanh tịnh, thì Phật sẽ đưa về cõi tịnh, việc ấy là chắc chắn. Tổ lại nói rộng quan niệm của ngài về việc tu.

T bo:

– Này Thin tri thc, nếu mun tu hành, ti gia cũng được, không cn chùa, người ti gia mà hay hành như người phương Đông mà tâm được thin, còn người chùa mà không tu cũng như người phương Tây mà tâm ác. Ch tâm thanh tnh tc là t tánh Tây phươ

Như vậy người tại gia mong vào chùa để được yên ổn tu hành, dứt bỏ những điều xấu dở, nhưng khi vào chùa lại không bỏ những điều xấu dở ấy, vẫn còn phiền não thì khi ấy sẽ chạy về đâu? Vì lẽ đó Tổ mới sách tấn chúng ta: Ở đâu cũng tu được, miễn là biết làm lành, miễn là biết trừ những tâm xấu. Chính việc đó Tổ đã làm, mười mấy năm ngài sống chung với nhóm thợ săn dưới hình thức cư sĩ, tâm ngài vẫn thanh tịnh. Thế nên ngài dạy chúng ta ở chùa hay ở nhà mà biết tu cũng đều tốt, cũng đều quý. Tuy nhiên quý vị không nên hiểu lầm rồi sanh tự cao ngã mạn nói rằng: “Tôi ở nhà mà làm lành còn hơn các vị ở chùa mà làm ác.” Nếu các vị ở chùa mà làm lành nữa vẫn còn hơn các vị ở tại gia làm lành một bậc.

Th s Vi C li hi:

– Người ti gia làm sao tu hành? Cúi xin Ngài vì ch d

T bo:

– Tôi vì đại chúng làm mt bài tng Vô tướng, ch y đây mà tu, thường cùng tôi đồng không khác, nếu không tu như thế này dù có co tóc xut gia đối vi đạo cũng không có ích gì. Tng rng:

Tâm bình hà lao trì gii,

Hnh trc hà dng tu thin,

Ân tc hiếu dưỡng ph mu,

Nghĩa tc thượng h tương lân.

Người nào tâm bình rồi không nhọc phải giữ giới, hạnh được thẳng rồi không cần phải tu thiền. Tại sao? Tâm bình nghĩa là tâm không động, tâm không động đâu còn tạo nghiệp nữa mà phải trì giới. Tâm bình ví như mặt nước lặng, bằng phẳng, đâu có sóng gió. Tâm bình đâu có dấy niệm tham sân si. Sở dĩ chúng ta giữ giới là để ngừa tham sân si, nếu tâm đã bình, đâu còn tham sân si để ngừa! Thế nên nói: Tâm bình không cần trì giới, hạnh trực không cần phải tu thiền. Hạnh đây cũng là tâm, tức là tâm hạnh nếu ngay thẳng thì không cần phải tu thiền. Ngay thẳng là thế nào? Là không vướng bên này, không kẹt bên kia. Thường chúng ta hay dấy niệm chạy theo phải quấy tốt xấu, đó là hai bên. Nếu tâm mình ngay thẳng không kẹt hai bên, còn gì nữa mà tu thiền? Tu thiền là dứt tâm lăng xăng, nếu tâm lăng xăng không còn nữa, tu thiền là dư, nên nói hạnh trực không cần tu thiền.

Tuy nhiên nếu tâm chúng ta còn lăng xăng, nghĩ đây nghĩ kia thì cần tu thiền không? Dĩ nhiên là cần. Nếu tâm chúng ta chưa bình, gặp việc thì sân si nổi dậy, có cần giữ giới không? Tất nhiên là phải giữ giới, nếu không giữ giới, chắc tạo tội không sao kể xiết. Vì thế tâm chưa bình thì giới là quan trọng, hạnh chưa trực thì thiền rất thiết yếu. Khi nào tâm bình hạnh trực mới không cần giữ giới và tu thiền, nếu chưa được như thế mà đem hai câu này ra nói, là một điều lầm lỗi lớn. Thí dụ khi nghe ai khuyên trì giới thì nói: “Tâm bình cần gì trì giới, Tổ đã nói rõ ràng, các người còn hình thức quá!” Nghe ai dạy tu thiền thì bảo: “Hạnh trực đâu cần tu thiền, Tổ đã dạy rồi mà!” Nhưng thử hỏi tâm chúng ta đã bình chưa? Hạnh chúng ta đã trực chưa? Nếu tự biết tâm mình chưa bình, hạnh chưa trực thì trì giới và tu thiền rất cần thiết. Người học pháp thông thì ít, chấp thì nhiều, chấp chữ chấp nghĩa, đem kinh ra nói khoác mà không tu, trở thành công kích người khác, tạo tội ác khẩu, vậy chúng ta phải cẩn thận. Tóm lại muốn tu thiền, muốn giữ giới không gì hơn là tâm bình, hạnh trực. Tâm bình, hạnh trực là đủ cả giới, thiền trong đó.

Về cách xử sự tại gia, Tổ dạy: “Ân thì nuôi dưỡng cha mẹ, nghĩa thì trên dưới thương nhau.” Nói về ân, không ân nào cao bằng ân cha mẹ. Khi đọc đến đây chúng tôi thấy rõ tâm niệm Phật Tổ không hai. Chính trong kinh Tăng Nhất A-hàm có một bài kinh nói về báo ân, đức Phật bảo: “Người nào biết đền ân, giả sử ở xa ta ngàn dặm, cũng như ở bên cạnh ta, người không biết đền ân, dầu đứng hầu bên cạnh ta, cũng như cách xa ta ngàn dặm.” Phật giải thích: Không ân nào hơn ân cha mẹ, thân này có từ nơi cha mẹ, nên đem cả sanh mạng bù đắp cho cha mẹ cũng không phải là quá!

Thế nên người biết đền ân, trước phải nhớ ân cha mẹ, kế đó biết đền ân những người mình đã chịu ân, những người ấy, Phật bảo là gần với Phật. Trong đoạn này, Tổ cũng dạy: Người biết ân là phải nuôi dưỡng cha mẹ. Người biết ân như vậy đối với Tổ đó là người tốt, đối với Phật đó là người gần với Phật.

Nói về nghĩa, tình thâm nghĩa nặng nhất là tình nghĩa ruột thịt, không gì hơn tình nghĩa anh chị em, kẻ trên người dưới đều thương nhau. Tương lân là kẻ trên người dưới đều thương nhau. Như vậy đối với cha mẹ chúng ta hằng nhớ ân để đền đáp, đối với anh chị em hằng có tâm niệm thương nhau, đó là nền tảng đạo đức gia đình. Được như thế mới xứng đáng là người Phật tử biết đạo. Nếu chúng ta đi chùa vái lạy liên miên, khi về nhà gặp cha mẹ thì ngó ngang không chào hỏi, gặp anh em rầy rà lớn tiếng, người lối xóm nhìn vào sẽ bảo đó là đạo đức giả. Đây là điều không tốt, chúng ta không thể chấp nhận những người như vậy. Muốn đi chùa, muốn lạy Phật, trước hết chúng ta phải biết cha biết mẹ rồi biết anh em. Từ cha mẹ đến anh em chúng ta cư xử tốt, khi vào đạo chúng ta mới là người tốt. Nếu chúng ta là người ngoan đạo mà ở gia đình là kẻ bất hiếu bất nghĩa, sự ngoan đạo ấy chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Nếu trăm người Phật tử đều như vậy, chắc không ai dám vào đạo Phật nữa, vì vào đạo mà bất hiếu bất nghĩa thì vào làm gì? Chúng tôi nhắc lại, người Phật tử chân chánh phải có những bài thuyết pháp sống ngay nơi mình, nghĩa là trong cuộc sống gia đình phải là người mẫu mực biết làm lành, làm phải, biết ân cha mẹ, biết tình nghĩa anh em. Nếu chỉ có nếp sống đạo đức ở chùa mà không áp dụng nơi gia đình, đạo đức ấy không phải thật, vì người Phật tử không ở chùa thường, chỉ đến chùa một hay hai lần trong tháng, mà ở nhà thường trực hơn. Nếu sống thường trực nơi gia đình không ra gì thì sống một, hai ngày ở chùa có nghĩa lý gì đâu. Điều quan trọng là cách cư xử tại nhà: hiếu kính cha mẹ, thương mến anh em. Cha mẹ anh em là ân là nghĩa, là người ruột thịt gần gũi, nếu chúng ta không kể đến thì những người ngoài không có tình máu mủ, không ân nghĩa nặng nề, có làm điều trái ý, chúng ta có thể hại họ được. Tình thương ruột thịt không có thì tình thương xã hội khó mà tìm được. Hiểu được như vậy mới thấy rõ Phật, tổ đều dạy chúng ta điều căn bản là đối với cha mẹ phải lấy ân để đền đáp, đối với anh em phải lấy nghĩa mà thương mến nhau.

Nhượng tc tôn ty hòa mc,

Nhn tc chúng ác vô huyên,

Nhược năng ton mc xut ha,

định sanh hng liên.

Nhượng tức là nhường. Nhường nhịn nhau trên dưới mới được hòa mục. Anh em thương nhau chưa đủ, còn phải nhường nhịn nhau mới ổn, kẻ trên người dưới đều hòa hợp nhau. Người ẩn nhẫn thì những việc ác không còn làm ồn náo họ nữa. Người không ẩn nhẫn được thường hay mích lòng, bực tức dễ nổi sân si… nên việc ác làm ồn náo họ mãi. Nếu hay nhẫn được thì mọi sự ồn náo đều dứt sạch. Tóm lại Tổ dạy chúng ta ở tại gia phải làm sao cho tình anh em không mất, muốn được như vậy anh em phải nhường nhịn nhau, nhường nhịn nhau mới đem lại hòa mục, đem lại êm ấm cho gia đình.

Ngài dạy tiếp: Nếu chúng ta hay dùi cây cho ra lửa, trong bùn nhất định hoa sen hồng mọc lên. Ngài muốn chỉ rằng người tại gia ở trong cảnh ồn náo khó tu, nhưng trong cảnh ấy mà vẫn cố gắng tiến tu như dùi cây cho ra lửa, như hoa sen mọc trong bùn. Trong bùn mới có hoa sen còn trên tảng đá sạch sẽ này làm gì có hoa sen mọc. Vì thế người tại gia gặp nhiều phiền não mà khéo tu cũng như trong bùn mọc lên hoa sen, cũng như dùi cây ra lửa vậy. Đây là Tổ muốn khuyến khích người cư sĩ tại gia phải nỗ lực tiến tu dù ở hoàn cảnh khó khăn nào, không vì cảnh khó mà sanh tâm thối chuyển, như vậy mới biến được dở thành hay.

Kh khu đích th lương dược,

Nghch nhĩ tt th trung ngôn,

Ci quá tt sanh trí tu,

H đon tâm ni phi hin.

Kh khu là đắng miệng. Theo quan niệm xưa, thuốc hay tất phải đắng miệng, lời nói nghịch tai là lời ngay thẳng. Tại sao? Thí dụ chúng ta làm điều gì quấy, có người gan dạ chỉ lỗi giùm: huynh làm điều ấy sai, nếu chúng ta nghe lời chỉ dạy, biết nhận lỗi, đó là thuốc hay; nếu chúng ta nghe trái tai một chút liền nổi sân lên, đó là không tốt. Nhưng đa số người thế gian, ai cũng như ai đều thích được khen và không chịu bị chê. Giả sử chúng ta làm quấy một trăm phần trăm nhưng được người khác khen, chúng ta cũng vui thích. Ví dụ có người ăn trộm, trong xóm trong làng ai cũng biết mặt. Nếu chú ấy ăn mặc chải chuốt, có người khen: “Chà! Chú mày giống như một nhà văn, một tài tử v.v…” thử hỏi chú ấy có vui lên không? Có muốn gây với người khen chú không? Trái lại, nếu gặp chú ăn trộm ăn mặc chải chuốt, chúng ta liền nói: “kẻ ăn trộm mà cũng ăn diện bảnh bao”, tức nhiên chú ấy sẽ gây với mình ngay. Như vậy người đời lúc nào cũng thích được khen dù lời khen không đúng sự thật, còn lời nói thẳng dù đúng sự thật một trăm phần, người đời cũng vẫn giận, đây là nói chung cho tất cả mọi người, kể cả chúng ta. Vì thế chúng ta nên tập làm sao trước những lời nói trái tai vẫn vui vẻ nghe để sửa mình. Ai chỉ điều quấy, chúng ta liền nhận lỗi để sửa, như vậy mới là người biết tu. Những lời trái tai là lời trung thực, chúng ta ráng nghe để sửa mình.

Tổ dạy tiếp: Cải quá ắt sanh trí tuệ, còn gìn giữ hay bảo hộ điều quấy trong tâm là không phải người hiền. Người có lỗi mà che giấu là không phải người hiền, trái lại người làm quấy mà biết sửa là người trí tuệ. Đây là điều rất thiết yếu cho việc tu. Đa số chúng ta thường có quan niệm lầm lẫn, cứ nhìn vào người xuất gia, cho là những thần tượng, là những bậc hiền thánh, là những vị đã vượt qua người thế gian. Nhưng nếu được ở gần các vị ấy một thời gian, mới thấy các vị ấy thỉnh thoảng cũng lộ ra đôi chút phiền não; lúc bấy giờ các thần tượng đều sụp đổ, các Phật tử mới than: “Tưởng các vị tu hành là thánh hết, tại sao còn dở quá vậy?” Rồi chán nản không còn muốn tu theo. Như thế, quan niệm đó đúng hay sai? Đấy là điều tôi muốn nhắc quý vị. Người tại gia, kể cả người xuất gia, quý vị phải quan niệm cho đúng. Chúng tôi chưa có ai được vào hàng thánh, chúng tôi là phàm tăng, phàm ni; đã là phàm tức là đang tu, đang tu tức là chưa sạch. Quý vị nên nhớ rõ, người nào đang tu tức người đó chưa sạch, như chiếc áo còn đang giặt chưa phải là áo sạch, nếu sạch rồi không ai giặt nữa. Như vậy còn giặt là còn nhơ, còn tu là còn khuyết điểm; còn khuyết điểm nên mới tu cho hết điều dở, xấu; hết khuyết điểm thì tu làm chi nữa, vì đã là Phật rồi. Vì thế đối với người tu, không nên đòi hỏi các vị ấy phải là thần tượng, phải là hiện thân của chân lý. Tuy nhiên có thể đòi hỏi các người tu như thế này: Nếu người tại gia xấu một trăm phần thì ít ra người xuất gia cũng được năm chục phần tốt, chỉ còn năm chục phần xấu, điều đó khả dĩ được. Người còn tu chưa phải toàn vẹn trăm phần, toàn vẹn là khi nào thành Phật. Người đang tu hơn được quý vị chừng hai, ba mươi phần trăm, hay khá lắm là năm mươi phần trăm là được lắm rồi, không nên đòi hỏi quá đáng. Hiểu như vậy, quý vị mới có thể thông cảm được với người tu và ở gần không chán. Nhưng người tu có nhiều điểm khác người thế gian, như người thế gian nghe lời trái tai có thể giận mười năm không bỏ; với người tu thì khác, trong sách có câu “tăng hận bất cách túc” nghĩa là tăng giận không quá một đêm. Như vậy người tu hay người thế gian đều có giận nhưng người tu chỉ giận chốc lát rồi bỏ. Không nên đòi hỏi người tu không còn tâm giận, vì tham sân si là ba cái gốc của cõi luân hồi này, còn ở cõi này tức là còn tham sân si. Khi nào dẹp sạch ba độc này là chứng quả A-la-hán; song hiện nay mấy ai chứng quả A-la-hán? Nhưng có điều hay là người tu khi làm điều dở bị phê bình liền biết hối cải. Thí dụ như người biết tu khi vừa nổi sân liền bị người chỉ lỗi “đó là hắc phong”, người biết tu liền hối hận bỏ ngay. Như vậy là tốt, là đáng khen, chứ đừng bảo người tu không có giận. Tất cả quý Phật tử cũng vậy, khi làm việc gì dở, được sự chỉ dạy của người trên, hoặc sự nhắc nhở của đồng bạn hay tự mình biết điều đó là dở liền bỏ, đó là người trí tuệ. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình không có điều dở, chúng ta có dở, nhưng biết sửa đổi, đó là tốt, là trí tuệ. Nếu dở mà cứ che giấu trong lòng hoài, đó là người không hiền. Không hiền là người gì? Là kẻ dữ. Người che giấu lỗi hoài là kẻ dữ, còn người hiền có lỗi gì phơi bày ra rồi chừa bỏ, đó là người tốt, người khôn ngoan, người trí tuệ.

Tóm lại, lời dạy của Tổ thực tế vô cùng, ngài chỉ cho chúng ta tu một cách thiết thực. Ngài bảo ở trong gia đình, trên kính thờ cha mẹ, dưới thương anh em và nhường nhịn nhau cho trong nhà được an vui, đem lại sự hòa mục, nhẫn nhịn để lòng mình hết ồn náo. Được như vậy là mình khéo ở trong bùn mà mọc hoa sen.

Ngài lại dạy lời nói ngay nghe trái tai nhưng có lợi, vì đó là lời trung thực cũng như thuốc đắng đã tật vậy; có lỗi liền biết sửa, đó là trí tuệ, có lỗi mà che giấu thì không phải là người hiền, hay nói nặng hơn, đó là kẻ dữ.

Nht dng thường hành nhiêu ích,

Thành đạo phi do thí tin,

Bđề ch hướng tâm mích,

Hà lao hướng ngoi cu huyn.

Mỗi ngày thường làm những điều lợi ích cho mọi người, cho chúng sanh. Nhiêu ích là lợi ích cho nhiều người, cho chúng sanh. Người tu thành đạo không phải đem tiền thí mà thành đạo; thành đạo là do tu nơi tâm mình, thí tiền chỉ là phước ở bên ngoài. Thế nên người tu muốn giác ngộ là phải tự tâm mình giác ngộ, chứ không phải cúng thí nhiều mà giác ngộ. Cúng thí là tạo phước để mình được những quả tốt cho đời sau, chứ không phải là thành đạo. Bồ-đề chỉ cho tánh giác. Bồ-đề chỉ hướng trong tâm mà tìm, đâu có nhọc hướng ra ngoài cầu sự huyền diệu. Muốn giác ngộ phải ngay nơi tâm mình giác, đừng mong tìm ở bên ngoài, bên ngoài không có những huyền diệu đó.

Thính thuyết y thử tu hành,

Tây phương chỉ tại mục tiền.

Nghe nói y đây tu hành, Cực lạc chỉ ngay trước mắt. Ngài bảo người nào y theo bài kệ ngài dạy mà tu hành thì cõi Cực lạc ở ngay trước mắt, không có xa xôi, không có cách mười muôn ức cõi. Vậy muốn thấy Cực lạc thì hằng ngày ứng dụng đúng như bài kệ này sẽ thấy Cực lạc hiện tiền.

T li bo:

– Này Thin tri thc, thy phi y k đây mà tu hành, nhn ly t tánh, thng đó thành đạo. Pháp không đợi nhau, mi người hãy gii tán, tôi tr v Tào Khê, chúng nếu có nghi, li đến hi nhau.

Khi y Th s quan liêu trong hi, k thin nam tín n mi người đều được khai ng, tin th vâng làm.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.