Nội dung:
Hai năm nay chỉ nói về giáo, nên tôi giảng kinh luận cho đại chúng. Kể từ phần này nói thẳng về thiền, chúng ta sẽ thấy ngỡ ngàng, khó hiểu. Người tu thiền phải hiểu căn bản của thiền là không bao giờ nói trắng như bình thường. Lục Tổ đã dạy các đệ tử sau này khi gặp người hỏi trắng thì lấy đen đáp, như hỏi “thế nào là trắng”, đáp “vì không phải đen”. Hỏi “thế nào là đen”, đáp “vì không phải trắng”. Trắng và đen chỉ là những cặp giả lập đối đãi nhau không có thật. Nếu xác nhận trắng là trắng thì không đúng lý, lại gây thêm tình chấp. Vì thế khi nói nó không phải đen để biết rằng trắng không tự có, vì có đen mà lập trắng, chúng đối đãi nhau chứ không có thật. Nếu nhân đó mà thấu hiểu thì thấy đạo, nếu không hiểu thì nghe đáp vẫn không có gì mới. Chúng ta đáp kỹ quá, xác định quá nên trở thành đóng đinh gắn chặt không cho sai chạy, không cho tháo rời gỡ bỏ, đó là gốc của chấp nê.
Sư họ Du quê ở Cối Kê. Thuở nhỏ theo thầy tụng kinh Bát-nhã đến câu “vô nhãn nhĩ tỹ thiệt thân ý”, Sư chợt lấy tay rờ mặt hỏi thầy:
– Con có mắt, tai, mũi, lưỡi… cớ sao trong kinh nói không?
Ông thầy kinh lạ, bảo:
– Ta chẳng phải thầy của ngươi.
Ông giới thiệu Sư đến núi Ngũ Duệ làm lễ thiền sư Linh Mặc xin xuất gia. Năm hai mươi mốt tuổi, Sư đến Tung Sơn thọ giới Cụ túc.
Ngài Động Sơn là Tổ của tông Tào Động truyền bá đến nay vẫn còn. Ngài đã có mặt khoảng đầu thế kỷ thứ IX, đến giờ là thế kỷ XX, hơn một ngàn năm, dòng thiền của ngài vẫn được lưu giữ, nhất là ở Nhật Bản, để thấy tông Tào Động rất dài lâu bền bỉ.
Mở đầu là câu chuyện của ngài Động Sơn lúc còn bé, theo thầy tụng kinh Bát-nhã, đến câu “vô nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý” nghĩa là không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, ngài rờ mặt thấy có mắt, tai, mũi, lưỡi rõ ràng, tại sao kinh nói không, bèn xuống hỏi thầy. Câu chuyện nhỏ thôi nhưng có điều kỳ đặc, ngài Động Sơn lúc này chỉ mười hai mười ba tuổi mà đã nghi ngờ lời kinh, kinh nói không mà hiện mình có thì ngài khởi nghi thắc mắc hỏi. Như chúng ta thì kinh nói sao cứ tụng hết rồi thôi, không nghi gì hết. Trí tuệ của ngài nhạy bén từ lúc còn bé, với tinh thần học đạo là dù kinh nói mà thấy không đúng thì phải nghi. Nếu cho rằng kinh nói thì không có quyền nghi, không hiểu cũng cứ tụng cho có phước, đó là không biết học đạo.
Thầy ngài kinh ngạc, nói: Ta chẳng phải thầy ngươi. Biết người đệ tử này có chủng tử thiền nên giới thiệu đến thiền sư Linh Mặc. Khi học ở đây ngài đã lãnh hội được một phần nào lý thiền, năm hai mươi mốt tuổi thọ giới Cụ túc rồi, ngài liền đi du phương, tức là đi tham vấn nơi này nơi kia. Ngày xưa tinh thần học đạo không bị hạn cuộc vào một chỗ, học nơi thầy này rồi có thể tùy phương tiện đến các vị thầy khác học hỏi thêm để tìm ra lẽ thật.
Sư du phương, trước yết kiến Nam Tuyền Phổ Nguyện. Gặp ngày kỵ trai Mã Tổ, Nam Tuyền hỏi chúng:
– Cúng trai Mã Tổ, vậy Mã Tổ có đến hay chăng?
Cả chúng đều không đáp được. Sư bước ra thưa:
– Đợi có bạn liền đến.
Nam Tuyền bảo:
– Chú nhỏ này tuy là hậu sinh rất dễ giũa gọt.
Sư thưa:
– Hòa thượng chớ ép kẻ lành thành đứa giặc.
Ngài đến chỗ ngài Nam Tuyền là đệ tử Mã Tổ. Gặp ngày kỵ trai cúng dường Mã Tổ, ngài Nam Tuyền hỏi chúng: Cúng trai Mã Tổ, vậy Mã Tổ có đến hay chăng? Cả chúng đều không đáp được. Sư bước ra thưa: Đợi có bạn liền đến.
Câu hỏi của ngài Nam Tuyền, cúng trai Mã Tổ có đến hay chăng, là hỏi giác linh của Mã Tổ đến hay cái gì đến? Ý hỏi về thực thể bất sanh bất diệt có đi có đến không. Chúng ta nhớ Bàng Uẩn hỏi Mã Tổ: Người không cùng muôn pháp làm bạn là người gì? Mã Tổ liền bảo: Khi nào ông hớp một ngụm cạn hết nước Tây Giang, tôi sẽ vì ông nói. Người không cùng muôn pháp làm bạn cũng là chỉ cho Mã Tổ ở đây, nhớ như vậy, nên khi hỏi có đến hay chăng, Động Sơn liền thưa: Đợi có bạn liền đến. Bạn là ai? Người đó không cùng muôn pháp làm bạn, nhưng đợi có bạn liền đến, nghĩa là thực thể đó không dính kẹt gì cả, nói có đến có đi hợp lý không? Đợi có bạn liền đến, tức là khởi diệu dụng độ sinh thì đến, không khởi thì không đến. Ngài Nam Tuyền khen: Chú nhỏ này tuy là hậu sinh rất dễ giữa gọt.
Câu đó có phạm lỗi gì mà ngài thưa: Hòa thượng chớ ép kẻ lành thành đứa giặc? Theo tâm niệm người thường, khi được khen thì dễ sanh ngã mạn. Vì thế lúc chưa được khen thì mình là người tốt, được khen rồi thì sanh tâm ngã mạn thành kẻ hèn. Hòa thượng khen con là Hòa thượng đã ép người tốt thành kẻ hèn.
Người xưa sợ tiếng khen, sợ mình đâm ra ngạo mạn. Chúng ta sợ chê, ngược với người xưa phải không? Người xưa muốn dẹp cái ngã qua một bên, chúng ta thì muốn đưa cái ngã lên cao, cho nên sợ chê. Tâm niệm của người học đạo hơn kém ở chỗ này. Như vậy ở chỗ ngài Nam Tuyền, Động Sơn đã thố lộ được một đôi phần, sau đi tiếp đến chỗ ngài Quy Sơn.
Kế đến tham vấn Quy Sơn Linh Hựu. Sư thưa:
– Được nghe Quốc sư Huệ Trung nói “vô tình thuyết pháp”, con chưa hiểu thấu chỗ vi diệu ấy?
Quy Sơn bảo:
– Ta ở đây cũng có, chỉ là ít gặp được người kia.
Sư thưa:
– Con chưa hiểu, xin Thầy chỉ bày.
Quy Sơn dựng đứng phất tử, hỏi:
– Hội chăng?
Sư thưa:
– Chẳng hội, thỉnh Hòa thượng nói. Quy Sơn bảo:
– Miệng do cha mẹ sanh, trọn không thể vì ngươi nói.
Sư thưa:
– Lại có người cùng Thầy đồng thời mộ đạo chăng? Quy Sơn bảo:
– Ở Lễ Lăng tại huyện Du, trong các thất đá nối nhau, có đạo nhân Vân Nham, nếu hay bạt cỏ dại đón gió lành, ắt vị ấy là người kính trọng.
Sư bèn từ Quy Sơn, thẳng đến Vân Nham.
Tham vấn Quy Sơn, ngài dẫn câu: Được nghe Quốc sư Huệ Trung nói “vô tình thuyết pháp”, con chưa hiểu thấu chỗ vi diệu ấy? Quy Sơn nói: Ta ở đây cũng có, chỉ là ít gặp được người kia. Người kia là người nào? Người kia là người vô tình, vì không gặp nên không hiểu nhau được.
Sư thưa: Con chưa hiểu, xin Thầy chỉ dạy. Ngài Quy Sơn dựng đứng phất tử, hỏi: Hội chăng? Nói: Chẳng hội, thỉnh Hòa thượng nói. Quy Sơn nói: Miệng do cha mẹ sanh, trọn không thể vì ngươi nói. Qua hình ảnh đó Quy Sơn có thuyết pháp cho ngài chưa? Thuyết bằng cách nào?
Trong nhà thiền thủy chung không có khác, đức Phật Thích-ca trong hội Linh Sơn đưa cành hoa sen lên nhìn toàn thể hội chúng, không nói gì. Ai nấy ngồi yên không hiểu, chỉ có ngài Ca-diếp chúm chím cười, Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm… phó chúc cho Ca-diếp.” Phật thuyết pháp bằng cách nào mà phó chúc cho ngài Ca-diếp? Phật đưa cành sen, có khác với ngài Quy Sơn đưa phất tử không? Hoa sen khác với cây phất tử nhưng đưa lên không khác. Việc làm của đức Phật và tổ Quy Sơn xưa nay cùng một ý, thuật đó chúng ta phải thấy rõ.
Ngài Quy Sơn đưa phất tử lên là đã nói rồi còn thỉnh nói gì nữa, nên ngài Quy Sơn bảo, miệng do cha mẹ sanh trọn không thể vì ngươi nói. Dùng miệng nói là còn trong ngôn ngữ đối đãi, không thể chỉ được lẽ thật nên không nói. Động Sơn chưa lãnh hội, nên hỏi thăm ngài Quy Sơn có người đồng thời ngộ đạo chỉ cho để tìm tới. Ngài Quy Sơn chỉ đến ngài Vân Nham.
Đến Vân Nham, Sư hỏi:
– Vô tình thuyết pháp, người nào được nghe?
Vân Nham bảo:
– Vô tình thuyết pháp, vô tình được nghe.
Sự hỏi:
– Hòa thượng nghe chăng?
Vân Nham bảo:
– Ta nếu nghe, ngươi đâu thể được nghe ta thuyết pháp.
Sư thưa:
– Con vì sao chẳng nghe?
– Vân Nham dựng phất tử, hỏi:
– Lại nghe chăng?
Sư thưa:
– Chẳng nghe.
Vân Nham bảo:
– Ta thuyết pháp mà ngươi còn chẳng nghe, huống là vô tình thuyết pháp?
Sự hỏi:
– Vô tình thuyết pháp gồm những kinh điển gì?
Vân Nham bảo:
– Đâu không thấy kinh Di-đà nói: “Nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật niệm Pháp”
Ngay câu này Sư liền tỉnh ngộ, thuật bài kệ:
Dã đại kỳ! Dã đại kỳ!
Vô tình thuyết pháp bất tư nghì
Nhược tương nhĩ thính chung nan hội
Nhãn xứ văn thanh phương đắc trị.
Dịch:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Vô tình nói pháp chẳng nghĩ nghì
Nếu đem tai ngóng trọn khó hội
Phải lấy mắt nghe mới liễu trị.
Sư thưa:
– Con còn dư tập (thói quen) chưa hết.
Vân Nham hỏi:
– Ngươi từng làm gì?
Sư thưa:
– Thánh đế cũng chẳng làm.
Vân Nham hỏi:
– Được hoan hỷ chưa?
Sư thưa:
– Hoan hỷ thì chẳng không, như trong đống rác lượm được hòn ngọc sáng.
Đến Vân Nham thì thắc mắc ôm ấp trong lòng cũng là vô tình thuyết pháp, nên khi đến ngài liền hỏi: Vô tình thuyết pháp, người nào được nghe? Vân Nham trả lời: Vô tình thuyết pháp, vô tình được nghe. Dễ quá, phải không? Ai muốn nghe vô tình thuyết pháp thì phải là người vô tình mới được nghe.
Động Sơn liền hỏi thêm: Hòa thượng nghe chăng? Con không hiểu không nghe, Hòa thượng nghe chăng? Nếu Hòa thượng nghe tức là Hòa thượng thành vô tình.
Vân Nham trả lời rất khéo: Ta nếu nghe, ngươi đâu thể được nghe ta thuyết pháp. Nếu ta là vô tình mà ngươi chưa vô tình làm sao nghe ta được?
Ngài vẫn thắc mắc: Con vì sao chẳng nghe? Ngài Vân Nham cũng y như cũ đưa cây phất tử lên, chúng ta thấy thuật này cụ thể rõ ràng. Hỏi: Lại nghe chăng? Động Sơn thưa: Chẳng nghe. Ngài Vân Nham bảo: Ta thuyết pháp mà ngươi còn chẳng nghe, huống là vô tình thuyết pháp? Đó là thuật khéo của các thiền sư, vô tình thuyết pháp là như vậy.
Động Sơn có học kinh, nên xoay qua hỏi: Vô tình thuyết pháp gồm những kinh điển gì? Nói kinh thì con hiểu, nói như ngài con không hiểu nổi. Ngài Vân Nham liền dẫn kinh: Đâu không thấy kinh Di-đà nói: “Nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật, niệm Pháp”?
Ngay câu đó Động Sơn tỉnh ngộ vô tình thuyết pháp, ngài làm bài kệ:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Vô tình nói pháp chẳng nghĩ nghì
Nếu đem tai ngóng trọn khó hội
Phải lấy mắt nghe mới liễu trị.
Tại sao tai nghe không hội, mắt thấy mới liễu trị? Khi đưa cây phất tử lên, lấy lỗ tai nghe được gì? Ngay nơi đó mà nhìn thấy thì liễu tri vô tình thuyết pháp, nếu cứ tìm lời để nghe thì không bao giờ hiểu được vô tình thuyết pháp. Khi ngộ được điều này, Động Sơn hiểu vô tình thuyết pháp không phải do lỗ tai nghe mà chính mắt thấy.
Qua bài kệ này Động Sơn đã ngộ, có thể lần thứ hai, trước là đã lãnh hội ở thiền sư Nam Tuyền nên trả lời ngày giỗ Tổ: Đợi có bạn mới đến. Đây là chỗ ngộ sâu hơn, xem như ngài Vân Nham là bậc thầy của mình, nên ngài thưa: Con còn dư tập chưa hết, tuy thấy thì thấy vậy nhưng tập khí còn nhiều.
Ngài Vân Nham hỏi: Ngươi từng làm gì? Động Sơn thưa: Thánh để cũng chẳng làm. Thói quen cũ thì còn chứ hiện giờ thì không làm gì.
Hỏi: Được hoan hỷ chưa? Thánh đế không làm tức là ông đã thấy được chỗ đó rồi, nhưng ông có hoan hỷ hay chưa? Động Sơn thưa: Hoan hỷ thì chẳng không, như trong đống rác lượm được hòn ngọc sáng.
Câu này rất rõ ràng, hoan hỷ thì chẳng không, vì khi thấy đạo, nhận ra bản lai diện mục rồi thì làm sao không hoan hỷ, nhưng như trong đống rác lượm được hòn ngọc sáng, thấy được hòn ngọc trong đống rác là rất mừng nhưng còn dơ lắm. Lấy ra được phải gạt bỏ rác rến, chùi rửa sạch sẽ mới thành hòn ngọc quý. Đống rác dụ cho dư tập, hòn ngọc quý dụ cho tâm chân thật.
Nói theo chúng ta bây giờ là “Hoan hỷ thì chưa có, nhưng tin ở trong đống rác có hòn ngọc”, phải không? Tin thôi, chưa có được hoan hỷ, vì chưa thốt lên tiếng “À!”. Phải có một hai lần “À” thì mới có hoan hỷ. Vậy nên chỉ tin trong đống rác, nghe Phật tổ nói mà tin thôi chứ chưa thấy, huống nữa là lấy ra. Người học thiền phải biết cách nói của các ngài mượn hình ảnh, không nói rõ như ngôn ngữ thường trong kinh sách.
Sư từ Vân Nham đi nơi khác. Vân Nham hỏi:
– Đi nơi nào?
Sư thưa:
– Tuy lìa Hòa thượng mà chưa định chỗ ở?
Vân Nham hỏi:
– Phải đi Hồ Nam chăng?
Sư thưa:
– Không.
Vân Nham hỏi:
– Phải đi về quê chăng?
Sư thưa:
– Không.
Vân Nham hỏi:
– Bao lâu trở lại?
Sư thưa:
– Đợi Hòa thượng có chỗ ở thì trở lại.
Vân Nham bảo:
– Từ đây một phen đi khó được thấy nhau.
Sư thưa:
– Khó được chẳng thấy nhau.
Sắp đi, Sư lại thưa:
– Sau khi Hòa thượng trăm tuổi, chợt có người hỏi “Tả được hình dáng của Thầy chăng?”, con phải đáp làm sao?
Vân Nham lặng thinh hồi lâu, bảo:
– Chỉ cái ấy.
– Sư trầm ngâm giây lâu. Vân Nham bảo:
– Xà-lê Lương Giới thừa đương việc lớn phải xét kỹ.
Sư vẫn còn hồ nghi.
Ngài từ giã Vân Nham đi. Ngài Vân Nham bảo: Từ đây một phen đi khó được thấy nhau. Ngài nói: Khó được chẳng thấy nhau.
Ngài Vân Nham biết khi Động Sơn đi một thời gian thì ngài tịch, thầy trò không gặp lại nên nói câu có tính cách huyền ký. Động Sơn liền thưa: Khó được chẳng thấy nhau. Thầy và trò đã khế hợp thì dầu ở xa ngàn dặm cũng hằng thấy nhau. Như kinh Phật nói, người làm đúng lời Phật dạy thì ở xa Phật ngàn dặm cũng như ở bên Phật, ngược lại làm khác lời Phật thì dù ở gần bên cũng không thấy Phật.
Khi ngài từ giã đi còn hỏi câu này: Sau khi Hòa thượng trăm tuổi, chợt có người hỏi “Tả được hình dáng của Thầy chăng?”, con phải đáp làm sao? Vân Nham lặng thinh hồi lâu, bảo: Chỉ cái ấy.
Câu hỏi tả hình dáng của thầy chúng ta tưởng dễ, nhưng không phải tả hình dáng tướng mạo bằng xương thịt, mà là thật thể của thầy. Thể đó nếu có người bảo diễn tả thì làm sao con nói? Ngài Vân Nham lặng thinh một lúc rồi nói: Chỉ cái ấy. Chỉ cái ấy là cái gì? Động Sơn đã ngộ rồi mà đến đây cũng vẫn còn hơi suy nghĩ, bởi còn suy nghĩ nên ngài Vân Nham dặn dò: Xà-lê Lương Giới thừa đương việc lớn phải xét kỹ. Việc như vậy còn chưa xét kỹ, ngộ một phen không phải là xong việc.
Sau, Sư nhân qua suối nhìn thấy bóng, đại ngộ ý chỉ trước, liền làm một bài kệ:
Thiết kỵ tùng tha mịch
Điều điều dữ ngã sơ
Ngã kim độc tự vãng
Xứ xứ đắc phùng cừ.
Cừ kim chính thị ngã
Ngã kim bất thị cừ
Ưng tu nhậm ma hội
Phương đắc khế như như.
Dịch:
Rất kỵ tìm nơi khác
Xa xôi bỏ lảng ta,
Ta nay riêng tự đến
Chỗ chỗ đều gặp va.
Va nay chính là ta
Ta nay chẳng phải va
Phải nên như thế hội
Mới mong hợp như như.
Các thiền sư thường dùng một lời nói mang hai hình ảnh, đạo lý và sự vật, hai cái gắn liền sít sao với nhau. Đó là thuật khéo léo. Khi chúng ta đứng trên cầu, nhìn bóng mình ở dưới nước thì bóng và thân mình là một hay khác? Bóng chính là mình nhưng mình không phải bóng. Nếu không có thân ta thì làm sao có bóng nhưng thân tứ đại nặng nề, bóng không có sức nặng tuy không phải khác mà cũng không phải một.
Bài kệ này nói ý nghĩa người học đạo. Thiết kỵ tùng tha mịch, tức là tối kỵ không nên tìm ở nơi khác. Điều điều dữ ngã sơ, xa xôi cùng ta xao lãng, nếu tìm ở nơi khác thì càng ngày càng cách xa mình. Ngã kim độc tự vãng, nay tôi riêng tự đến. Xứ xứ đắc phùng cừ, chỗ chỗ đều gặp nó, nơi nào chốn nào cũng đều thấy nó.
Nó ra sao? Cừ kim chính thị ngã, nay nó chính là tôi. Ngã kim bất thị cừ, tôi không phải là nó, tại sao? Hai hình ảnh rõ ràng, bóng của ta và chính ta. Thân ta không phải là bóng vì là thân tứ đại có tướng sắc chất, còn bóng không có hình tướng nặng nề. Đây cũng ngầm ý thể chân thật kia không có tướng mạo nên không sanh diệt, còn thân này có tướng mạo nên sanh diệt. Thân không phải là thể chân thật kia, nhưng thể kia chính là thân này, vì nếu không có thể kia thì thân này không thành, không thân này thì làm sao nhận ra thể kia. Hai cái không rời nhau như hình với bóng, nhưng thân này không phải thể kia, nếu thân này là thể kia thì thân này hoại, thể kia cũng mất.
Ưng tu nhậm ma hội, tức là phải hiểu như thế ấy. Phương đắc khế như như, mới khế hợp với như như.
Đây là lần triệt ngộ của Động Sơn, hiểu được ý chỉ của ngài Vân Nham, khi nói về chỗ tả hình dáng của thầy. Người học thiền học đạo không phải chỉ ngộ một lần, mà phải qua năm bảy phen, đến cuối cùng mới gọi là triệt ngộ, lúc đó mới viên mãn. Chúng ta mới lơ mơ hiểu được chút gì rồi vỗ ngực xưng ta thế này thế nọ là chưa đến đâu, phải triệt ngộ thì mới không còn nghi ngờ.
Sư đến Lặc Đàm yết kiến Thủ tọa Sơ. Thủ tọa dạy chúng có câu:
– Dã đại kỳ! Dã đại kỳ!
Phật giới, đạo giới bất tư nghì.
Dịch:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Phật giới, đạo giới chẳng nghĩ nghì.
Sự hỏi:
– Phật giới, đạo giới chẳng hỏi, người nói Phật giới đạo giới là gì? Chỉ xin nói một câu?
Thủ tọa làm thinh không đáp. Sư giục:
– Sao chẳng nói mau?
Thủ tọa bảo:
– Nói chẳng được.
Sư thưa:
– Nói cũng chưa từng nói, cái gì mà “nói chẳng được”.
Thủ tọa cũng không đáp. Sư thưa:
– Phật với đạo chỉ là danh tự, sao chẳng dẫn kinh.
Thủ tọa hỏi:
– Kinh nói thế nào?
Sư thưa:
– Được ý quên lời (Đắc ý vong ngôn).
Thủ tọa bảo:
– Vẫn còn đem ý kinh để trong tâm làm thành bệnh.
Sư thưa:
– Nói Phật giới, đạo giới bệnh lớn nhỏ?
Thủ tọa không đáp được, sáng hôm sau tịch. Thời nhân gọi Sư là “hỏi chết Thủ tọa”.
Ngài đến tham vấn Thủ tọa Sơ, Thủ tọa nói một câu rằng:
Dã đại kỳ! Dã đại kỳ!
Phật giới, đạo giới bất tư nghì.
Dịch:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Phật giới, đạo giới chẳng nghĩ nghì.
Phật giới và đạo giới, hai cái không thể nghĩ nghì. Ngài hỏi: Phật giới, đạo giới chẳng hỏi, người nói Phật giới, đạo giới là gì? Thông thường chúng ta cứ hỏi về câu nói, đây không hỏi câu nói mà hỏi về người nói câu ấy là gì. Thủ tọa không đáp được, ngài cứ thúc hoài, Thủ tọa bảo: Đáp không được. Hai ba phen như thế. Ngài bảo: Phật đạo chỉ là danh tự, sao chẳng dẫn kinh? Thủ tọa hỏi: Kinh nói thế nào? Ngài thưa: Được ý quên lời.
Thủ tọa bèn bẻ lại: Vẫn còn đem ý kinh để trong tâm làm thành bệnh. Nói như vậy vẫn là bệnh. Động Sơn bẻ lại câu khác: Nói Phật giới, đạo giới bệnh lớn nhỏ? Phật giới, đạo giới cũng từ kinh ra, tôi bảo dẫn kinh thì ngài nói bệnh, như ngài nói Phật giới, đạo giới thì bệnh lớn hay nhỏ?
Đến chỗ này Thủ tọa bí luôn, sáng hôm sau thị tịch. Không phải tức mà tịch, Thủ tọa chứng minh mình đã nhập đạo, nhưng ngôn ngữ có lẽ không được lanh lẹ, bị hỏi thì lúng túng, tuy lúng túng mà sanh tử tự tại. Ngài tịch là để giữ uy tín, tuy trả lời không được nhưng đã nhận được tánh thật rồi, nên muốn sống thì sống, muốn chết thì chết. Đó là đặc biệt của người đã thấy đạo.
Đến cuối niên hiệu Đại Trung (847-860) đời Đường, Sư trụ núi Tân Phong tiếp dẫn học chúng, về sau giáo hóa thạnh hành ở Động Sơn thuộc Cao An, Dự Chương.
Một hôm nhân ngày thiết trai cúng kỵ Vân Nham, có vị tăng hỏi:
– Hòa thượng ở chỗ Tiên sư được chỉ dạy gì?
Sư đáp:
– Tuy ở trong ấy mà chẳng nhờ Tiên sư chỉ dạy. Tăng hỏi:
– Đã chẳng nhờ chỉ dạy, lại thiết trai cúng dường làm gì?
Sư bảo:
– Tuy nhiên như thế, đâu dám trái lại Tiên sư. Tăng hỏi:
– Hòa thượng trước yết kiến Nam Tuyền tìm được manh mối, vì sao lại thiết trai cúng dường Vân Nham?
Sư bảo:
– Ta chẳng trọng Tiên sư đạo đức, cũng chẳng vì Phật pháp, chỉ trọng chẳng vì ta nói phá.
Về sau, ngài giáo hóa thạnh hành ở Động Sơn. Nhân ngày thiết trai cúng Vân Nham, có vị tăng hỏi: Hòa thượng ở chỗ Tiên sư được chỉ dạy gì? Ngài đáp: Tuy ở trong ấy mà chẳng nhờ Tiên sư chỉ dạy. Nghe thật là bạc bẽo, ở chỗ tiên sư mà không nhờ chỉ dạy gì hết.
Tăng hỏi: Đã chẳng nhờ chỉ dạy, lại thiết trai cúng dường làm gì? Nếu không nhờ chỉ dạy thì có ân nghĩa gì mà cúng dường. Ngài trả lời: Tuy nhiên như thế, đâu dám trái lại Tiên sư. Tuy nhiên như thế tức là tuy không nhờ chỉ dạy mà không dám trái lại tiên sư, luôn trung thành không sai một mảy. Đây là chỗ khéo léo, trung thực với đường lối của thầy. Thầy chỉ dạy chỗ tu thì mình gắng thực hành tu tập, không phải tổ chức lễ giỗ lớn gọi là trung thành có hiếu với thầy.
Tăng hỏi: Hòa thượng trước yết kiến Nam Tuyền tìm được manh mối, vì sao lại thiết trai cúng dường Vân Nham? Ngài bảo: Ta chẳng trọng Tiên sư đạo đức, cũng chẳng vì Phật pháp, chỉ trọng chẳng vì ta nói phá. Không trọng tiên sư đạo đức, vì đạo đức là chuyện riêng của thầy, cũng không trọng Phật pháp vì Phật pháp là chuyện của Phật, mà trọng chỗ chẳng vì ta nói phá.
Đây là một lối giáo dục kỳ đặc. Thông thường thế gian, người giáo dục giỏi khi giảng bài cho học trò nghe thì khéo dùng những ví dụ khiến cho học trò dễ hiểu. Người dạy càng giỏi thì càng nhiều ví dụ. Hay hơn nữa là khi dạy đến đề tài gì đều có hình ảnh hay những vật cụ thể cho học trò thấy hiểu. Lối giáo dục của nhà thiền lại có một cái kỳ đặc khác, không giảng mà chỉ gợi cho người ta nghi, nghi rồi ôm cái nghi đó bất chợt phát ngộ ra. Như vậy ông thầy chỉ đưa học trò đến chỗ phải nghi ngờ, rồi từ nghi vỡ ra thì học trò tự hiểu, tự phát minh.
Thầy không chỉ dạy, chỉ làm cho tự mình phát minh thì điều đó không bao giờ quên. Không nói trắng cho hiểu theo lời thầy dạy, chỉ gợi cho nghi ngờ rồi tự tìm, sáng lên. Ngài quý trọng tiên sư Vân Nham tạo điều kiện cho ngài phát minh, đó là điều đáng phục nhất, mang ơn đời đời. Tinh thần nhà thiền muốn chúng ta tự nhận ra để muôn đời không quên. Nếu thầy giải thích rõ ràng thì đó là chuyện của thầy nói, người nghe cũng phơn phớt thôi không nhớ lâu, còn tự mình tìm được, nhận ra được, đó mới thật là của mình. Đây là điều kỳ đặc của nhà thiền, nên Động Sơn nói chỉ trọng chẳng vì ta nói phá.
Sau, Sư quyền khai Ngũ vị để giáo hóa học đồ. Ngũ vị là: 1- Chánh trung thiên (正 中 偏 ). 2- Thiên trung chánh (偏 中 正 ). 3- Chánh trung lai (正 中 來 ). 4- Thiên trung chí (偏 中 至 ). 5- Kiêm trung đáo (兼 中 到).
( Đại ý Ngũ vị: Chánh là chỉ cho Thể, Không, Lý. Thiên là chỉ cho Dụng, Sắc, Sự. Chánh trung thiên: Chánh vị thể có đủ thiên vị dụng sự tướng. Cái hay đủ là thể, cái bị đủ là dụng. Cho nên lấy cái thể hay đủ định làm Quân vị (vị vua). Trong ngũ vị quân thần nó thuộc về vị quân. Người tu mới nhận được dụng đủ nơi thể, sự trong lý, là vị tu hành hữu vi. Về ngũ vị công huân nó thuộc vị thứ nhất. Phối hợp vị thứ của Đại thừa thì cùng vị Tam hiền trước thập địa tương đương.
Thiên trung chánh: Thiên vị dụng có đủ chánh vị thể. Nhân cái dụng hay đủ, định là Thần vị (vị tôi). Trong ngũ vị quân thần nó thuộc về vị thần. Trên phương diện tu hành mà luận, người tu nhận được lý đủ nơi sự, thể sẵn trong dụng, là vị liễu đạt được lý các pháp đều không, chỉ một chân như bình đẳng. Đứng về mặt Đại thừa là Kiến đạo.
Chánh trung lai: Các pháp hữu vi như lý tùy duyên, như tánh duyên khởi. Là vị quân thị thần (vua xem tôi) vậy. Người tu nơi đây như lý tu sự, như tánh khởi hành. Là tương đương với Bồ-tát từ Sơ địa đến Thất địa, tu hành còn dụng công.
Thiên trung chí: Sự dụng toàn hợp nơi thể, trở về vô vi. Tức là vị thần hướng quân (tôi nhằm vào vua). Người tu đến đây trọn ngày tu mà lìa niệm tu, trọn đêm dụng mà chẳng thấy dụng công. Là tương đương với hàng Bồ-tát từ Bát địa đến Thập địa, trong vị tu đạo vô công dụng.
Kiêm trung đáo: Thể dụng đồng đến, sự lý cùng hành. Tức là vị quân thần hiệp (vua tôi hiệp) vậy. Là Phật quả tột cùng tối thượng.
Theo Tào Sơn giải: Chánh vị tức là không giới xưa nay không vật. Thiên vị là sắc giới có muôn hình tượng. Chánh Trung thiên, bỏ lý theo sự. Thiên Trung chánh, bỏ sự về lý. Kiêm đới, thầm ứng hợp các duyên, không rơi vào các cõi, chẳng phải nhiễm, tịnh, chánh, thiên. Cho nên nói: Đại đạo hư huyền, chân tông vô trước. (Tào Sơn Ngũ Vị Quân Thần Chỉ Quyết)
Có bài tụng ngũ vị:
Chánh trung thiên
Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền
Mạc quái tương phùng bất tương thức
Ẩn ẩn do hoài cựu nhật hiềm.
Thiên trung chánh
Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh
Phân minh địch diện biệt vô chân
Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh.
Chánh trung lai
Vô trung hữu lộ cách trần ai
Đản năng bất xúc đương kim hủy
Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.
Thiên trung chí
Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tỵ
Hảo thủ do như hỏa lý liên
Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí.
Kiêm trung đảo
Bất lạc hữu vô thùy cảm hòa
Nhân nhân tận dục xuất thường lưu
Chiết hợp hoàn quy khôi lý tọa.
Dịch:
Chánh trung thiên
Đêm tối canh ba trăng rọi hiên
Lạ chi cùng gặp chẳng cùng biết
Ẩn ẩn vẫn còn ôm hận phiền.
Thiên trung chánh
Mất sáng lão bà tìm cổ kính
Rõ ràng đối diện đâu riêng chân
Thôi chớ quên đầu theo nhận bóng.
Chánh trung lai
Đường cái trong không cách trần ai (bụi bặm)
Chỉ hay chẳng chạm ngày nay kỵ
Cũng thắng tiền triều cắt lưỡi tài.
Thiên trung chí
Hai kiếm đua nhau cần gì tránh
Tay khéo vẫn như lò lửa sen
Nguyên vẹn nơi mình xung thiên chí.
Kiêm trung đáo
Chẳng rơi có không ai dám hòa
Người người trọn muốn vượt dòng thường
Tan hợp trở về ngồi trong tro.
Sau, ngài quyền khai Ngũ vị để giáo hóa học đồ. Ngũ vị là: 1- Chánh trung thiên. 2- Thiên trung chánh. 3- Chánh trung lai. 4- Thiên trung chí. 5- Kiêm trung đáo.
Bài kệ thứ nhất:
Chánh trung thiên
Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền
Mạc quái tương phùng bất tương thức
Ẩn ẩn do hoài cựu nhật hiềm.
Chánh là chỉ cho thể, thiên là chỉ cho dụng. Chánh trung thiên là trong thể có dụng, trong lý có sự. Thể tượng trưng cho cái tối, nên nói Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền, đêm tối canh ba lúc nửa đêm rất tối, lại là trước khi có trăng. Đã tối thì có gặp cũng không biết nhau, nên nói Mạc quái tương phùng bất tương thức, chớ cho là lạ khi gặp nhau mà không biết nhau. Khi chúng ta nhận được bản thể, bản thể ấy từ đâu mà có? Thể không rời dụng.
Chủ trương của tông Tào Động dùng hai chữ hồi hỗ là xoay lại với nhau, nghĩa là cái này với cái kia không tách rời mà chuyển qua xoay lại, trong cái này có cái kia, trong cái kia có cái này. Vì thế nói trong thể có dụng, thể thì tượng trưng cho cái tối, nên nói Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền, đã là trong tối thì gặp nhau không thấy biết nhau.
Ấn ẩn do hoài cựu nhật hiềm, thầm thầm ôm lòng hận của ngày xưa. Đó là để chỉ cho khi người tu ở bước thứ nhất ngộ được bản thể, nhận ra nơi mình có bản thể bất sanh bất diệt, là chỗ ví như nửa đêm không trăng. Nhận ra được rồi nhưng tập khí của muôn đời vẫn chưa sạch hết nên mới nói Ẩn ẩn do hoài cựu nhật hiềm. Những tập khí như vướng víu khiến hòn ngọc chưa phát huy hết tánh sáng của nó. Đây là giai đoạn thứ nhất, người tu khi ngộ được bản thể nhưng thói quen, tập khí nhiều đời vẫn còn ôm ấp chưa tan hết. Vì thế nói trong chánh có thiên, tức là trong thể có dụng, nhưng dụng chưa đến chỗ rốt ráo.
Bài kệ thứ hai:
Thiên trung chánh
Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh
Phân minh địch điện biệt vô chân
Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh.
Thiên là chỉ cho dụng, trong dụng có thể. Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh, thất hiểu là mất sáng, lão bà thì đầu bạc, cổ cảnh là gương xưa, hai cái này sáng hết, vừa mới mất sáng thì gặp sáng. Những hình ảnh đó để nói lên chữ thiên tức là dụng, dụng là sáng của gương. Từ cái dụng này khởi công tu hành, nghĩa là đã nhận được thể rồi, còn phải khởi công tu hành để trở về với nó. Đây là chỗ rõ ràng sáng suốt, nên nói phân minh địch diện biệt vô chân, rõ ràng đối diện không còn cái chân nào riêng khác nữa.
Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh, thôi chớ quên đầu theo nhận bóng, tại sao? Đây dẫn kinh Lăng-nghiêm, Diễn-nhã-đạt-đa một hôm nhìn vô gương, thấy đầu mặt trong gương rõ ràng, cho đó là đầu mặt thật của mình. Khi úp gương lại không thấy đầu mặt thì hoảng sợ, ôm đầu chạy la “tôi mất đầu rồi!” Đó là quên đầu mà nhận bóng, quên cái thật mà nhận cái giả. Như người mê không nhận ra thể chân thật mà chỉ chấp nhận cái giả dối cho là mình.
Thể chân thật ấy là tâm không sanh diệt, tất cả bóng ảnh là thân giả dối là vọng tưởng lăng xăng. Chúng ta quen sống với vọng tưởng, bất chợt lúc vọng tưởng lặng hết thì tưởng như mất mình. Như Diễn-nhã- đạt-đa úp gương lại, không thấy bóng liền hoảng la mất đầu rồi. Cái đầu thật có mất không? Chỉ mất cái bóng trong gương. Cũng vậy, niệm vọng tưởng lăng xăng khiến chúng ta nghĩ suy tính toán, khi niệm lặng xuống thì hết vọng tưởng, nhưng cái thấy được niệm vọng tưởng không mất. Cũng như cái đầu thật thấy được bóng trong gương không mất bao giờ, chỉ mất cái bóng trong gương. Người tu đến giai đoạn này không còn quên cái thật nhận cái giả nữa mà hằng trở về với cái thật. Như thế Thiên trung chánh là trong dụng có thể, dụng luôn luôn hướng về thể, tức là dụng công tu hành để trở về thể, đó là ý bài kệ thứ hai.
Bài kệ thứ ba:
Chánh trung lai
Vô trung hữu lộ cách trần ai
Đản năng bất xúc đương kim hủy
Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.
Chánh trung lai, tức là trong chánh có thiên, lai là đến, như Động Sơn nói đợi có bạn liền đến, nơi thể có diệu dụng đến hỗ trợ.
Vô trung hữu lộ cách trần ai, trong chỗ không mà có đường thì bị bụi bặm ngăn cách. Trong không tức là trong lý không mà còn dùng phương tiện thì còn có cái ngăn cách bụi bặm. Đản năng bất xúc đương kim hủy, chỉ hay khéo đừng chạm húy đương triều. Dùng tất cả ngôn ngữ phương tiện trình nói cho người mà không kẹt không dính, không để cho người chấp chặt lời nói. Như chúng ta nói bản lai diện mục, chân như, Phật tánh… chính là húy kỵ của nhà thiền. Vì nói ra là gây chấp, chỉ nhớ tên mà không thấy được thể. Nên đây bảo phải khéo đừng chạm húy. Các thiền sư không bao giờ nói đến chân như, Phật tánh…, chỉ nói những lời không dính dáng. Đó là cái khéo của các ngài ứng dụng mà không bị kẹt.
Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài, cũng thắng tiền triều cắt lưỡi tài. Động Sơn sanh ở đời Đường, trước đó đời Tùy có vị quan có tài biện luận rất giỏi, khi biện luận hay chỉ trích lỗi của vua nên bị kết tội tử hình. Sắp hành hình ông kêu con trai đến dặn dò: cha chết là vì cái lưỡi, từ đây về sau con lấy kim châm vào lưỡi của mình để nhớ rằng chính cái lưỡi này đã giết mình. Bảo con lấy kim châm lưỡi cho đau cho nhớ đời đời. Đó là châm lưỡi mà đây gọi là cắt lưỡi, nghĩa là dầu cho biện luận đại tài rồi cũng phải bị tử hình, không bằng người khéo nói, không bị dính kẹt trong danh từ. Đây là diệu dụng đã nhập thể, bởi diệu cho nên rất khéo.
Bài kệ thứ tư:
Thiên trung chí
Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tỵ
Hảo thủ do như hỏa lý liên
Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí.
Chữ Thiên ở đây có bản khác để chữ Kiêm, Kiêm trung chí. Đến chỗ này không còn thiên không còn chánh mà gồm hết tức là diệu dụng đầy đủ.
Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tỵ, hai mũi kiếm giao tranh không cần né tránh. Hảo thủ do như hỏa lý liên, người tay khéo cũng tự như hoa sen ở trong lò lửa. Thường hoa sen để vô lửa thì khô héo cháy rụi, đây hoa sen trong lò lửa mà tươi nhuần. Người đến chỗ này có diệu dụng hoàn hảo thì giống như hoa sen trong lò lửa, như lưỡi kiếm nhắm thẳng vào mình, khỏi cần tránh né cũng không bị thương tích. Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí, uyển nhiên tức là rõ ràng, tự có chí xung thiên nghĩa là vượt hơn hết.
Sự tu tập của chúng ta, theo mười mục chăn trâu thì Chánh trung lai là mục thứ tám, một vòng tròn trắng, trâu và chăn đều mất, còn Thiên trung chí là diệu dụng nhập thể giống như mục thứ chín trở về nguồn gốc.
Bài kệ thứ năm:
Kiêm trung đảo
Bất lạc hữu vô thùy cảm hòa
Nhân nhân tận dục xuất thường lưu
Chiết hợp hoàn quy khôi lý tọa.
Kiêm trung đáo đặc biệt hơn. Kiêm là gồm, trung đáo tức là gồm hết những phần ở trên, đến đây là viên mãn.
Bất lạc hữu vô, đến đây không còn có không, tức là không còn đối đãi; thùy cảm hòa, đã không còn đối đãi thì lấy gì hòa hợp. Nói hòa hợp là còn cái này với cái kia, đến chỗ không đối đãi nên không có gì hòa hợp. Nhân nhân tận dục xuất thường lưu, mỗi người đều muốn ra khỏi dòng thường. Dòng thường là dòng đối đãi sanh tử. Người đến chỗ viên mãn đạo quả, vượt khỏi sanh tử thường tình.
Chiết hợp hoàn quy khôi lý tọa, tan hợp lại trở về ngồi trong tro. Đây là trở về thể. Thể là chỗ tối như bài kệ ban đầu, nên đây dùng chữ ngồi trong tro. Từ dụng nhập thể viên mãn không còn cách biệt. Như bức tranh số mười thõng tay vào chợ, hình ảnh thiền sư áo bày ngực, chân không giày dép đi vào chợ, làm việc bình thường như mọi người.
Như vậy Ngũ vị của Động Sơn nói lên sức tu hành của người từ khi ngộ đạo rồi khởi dụng tu, từ chỗ khởi dụng ban đầu chưa viên mãn, kế đó là công dụng càng ngày càng tiến càng đầy đủ, đến vị sau cùng viên mãn. Ý nghĩa của năm vị này nói đầy đủ chỗ dụng công, không có gì khó hiểu.
Qua giai đoạn nói về Hướng, Phụng, Công, Cộng Công, Công Công. Động Sơn thấy năm vị đó còn nặng về lý thuyết, người ta khó ứng dụng, nên ngài nói qua năm cái này để ứng dụng được rõ ràng.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Khi Hướng làm sao? Khi Phụng làm sao? Khi Công làm sao? Khi Cộng Công làm sao? Khi Công Công làm sao?
Có vị tăng đứng ra hỏi:
– Thế nào là Hướng?
Sư đáp:
– Khi ăn cơm thì sao?
– Thế nào là Phụng?
– Khi trái thì sao?
– Thế nào là Công?
– Khi buông cuốc thì sao?
– Thế nào là Cộng Công?
– Chẳng được sắc.
– Thế nào là Công Công?
– Chẳng chung.
Sư nói tụng:
Hướng
Thánh chúa do lai pháp đế Nghiêu
Ngự nhân dĩ lễ khúc long yêu
Hữu thời náo thị đầu biên quá
Đáo xứ văn minh hạ thánh triều.
Phụng
Tịnh tẩy nùng trang vi a thùy
Tử quy thanh lý khuyến nhân quy
Bách hoa lạc tận đề vô tận
Cánh hướng loạn phong thâm xứ đề.
Công
Khô mộc hoa khai kiếp ngoại xuân
Đảo kỵ ngọc tượng sấn kỳ lân
Nhi kim cao ẩn thiên phong ngoại
Nguyệt kiểu phong thanh hảo nhật thần.
Cộng công
Chúng sanh chư Phật bất tương xâm
Sơn tự cao hề thủy tự thâm
Vạn biệt thiên sai minh để sự
Chá cô đề xứ bách hoa tân.
Công Công
Đầu giác tài sanh dĩ bất kham
Nghĩ tâm cầu Phật hảo tu tâm
Điều điều không kiếp vô nhân thức
Khẳng hướng nam tuần ngũ thập tam.
Dịch:
Hướng
Thánh chúa từng dùng pháp đế Nghiêu
Kẻ hầu theo lễ khúc long yêu
Chợ ồn có lúc đi qua thẳng
Đến chỗ văn minh mừng thánh triều.
Phụng
Tắm sạch máu me đấy là ai?
Trong tiếng đỗ quyên khuyến người về
Trăm hoa rụng hết, kêu không bặt
Lại đến núi sâu hót mải mê.
Công
Hoa nở cây khô, xuân kiếp ngoại
Cưỡi ngược voi ngọc đuổi kỳ lân
Ngoài ngàn chót núi hôm nay ẩn
Trăng sáng gió lành buổi sáng tươi.
Cộng Công
Chúng sanh chư Phật nào lẫn xen
Núi tự cao chừ nước tự sâu
Ngàn sai muôn khác rõ việc ấy
Chá cô vừa hót trăm hoa cười.
Công Công
Đầu mới mọc sừng việc chẳng nên
Đem tâm cầu Phật thật hư hèn
Xa xôi không kiếp nào ai biết
Chịu hướng về nam năm mươi ba.
Tăng hỏi: Thế nào là Hướng? Ngài đáp: Khi ăn cơm thì sao? Hướng là nhìn lên nhắm vào vật gì đó. Như nhắm đến cái đèn, hay nhắm về tượng Phật, hướng về tượng Phật. Hướng là luôn luôn nhìn lên, hỏi nhìn lên mà ngài nói khi ăn cơm thì sao? Tức là hỏi trắng lấy đen đáp, hỏi ngước lên thì đáp nhìn xuống. Đó là cái thuật của nhà thiền, nếu không nắm được thuật này thì nghe rất kỳ lạ. Hỏi thế nào là Hướng, trả lời khi ăn cơm thì sao? Ăn cơm có ai nhìn lên không? Nhìn xuống mâm mới ăn được, chứ nhìn lên làm sao ăn? Đây là đáp khéo.
Hỏi: Thế nào là Phụng? Đáp: Khi trái nhau thì sao? Phụng là vâng, là tuân theo, ngược với vâng là trái. Như vậy hỏi Phụng thì lấy trái đáp.
Hỏi: Thế nào là Công? Công tức là công phu. Nói: Khi buông cuốc thì sao? Nếu cầm cuốc cuốc đất thì có công, còn buông cuốc nghỉ là không công. Hỏi công thì lấy không công đáp.
Hỏi: Thế nào là Cộng công? Cộng công tức là chung cái công lại hai ba lớp. Đáp: Chẳng được sắc. Tức là sao? Công phu chung lại đầy đủ là thành hình tướng. Như nói tôi đóng cái bàn, bàn đóng xong thì có hình tướng. Đây trả lời cộng công là chẳng được sắc, nghĩa là không có hình tướng.
Hỏi: Thế nào là Công công? Đáp: Chẳng chung. Công công tức là hai lớp công chung, trả lời chẳng chung, tức là lấy cái riêng đáp. Đó là ngài ứng dụng lối đáp trái lại để trả lời các câu hỏi. Người học thiền không nắm vững thuật này thì không hiểu gì hết, hỏi một đàng trả lời một ngả.
Đến bài tụng này chúng ta càng thấy rõ ý, nhìn các hình vẽ tô đen trắng sẽ dễ hiểu. Hình đen nhiều trắng ít, đen là tượng trưng cho Chánh. Chánh trung thiên là Hướng, Thiên trung chánh là Phụng, Chánh trung lại là Công, Thiên trung chí là Cộng công, Kiêm trung đáo là Công công, mỗi cái theo nhau, hiểu được một cái thì mấy cái kia đều hiểu. Tuy ngôn ngữ khác nhưng hình ảnh hay lối tu không khác, hiểu rồi thì xem trong các bài kệ thấy rất rõ.
Hướng
Thánh chúa do lai pháp đế Nghiêu
Ngự nhân dĩ lễ khúc Long yêu
Hữu thời náo thị đầu biên quá
Đáo xứ văn minh hạ thánh triều.
Thánh chúa tức là vua, tượng trưng cho chánh, là thể; thần là tượng trưng cho thiên, là dụng. Thánh chúa do lai pháp đế Nghiêu, Thánh chúa từ xưa pháp vua Nghiêu, đó là nói về thể. Ngự nhân dĩ lễ khúc Long yêu, ngự nhân tức là thần, dùng khúc lễ nhạc tên là Long yêu, là nói về dụng. Hữu thời náo thị đầu biên quá, có khi ở chỗ ồn náo mà đi qua. Đáo xứ văn minh hạ thánh triều, đáo xứ là tới cuối cùng, hạ thánh triều tức là vào triều chầu vua.
Phần Hướng này là nhắm trở về thể, nhận ra thể, rồi có chút ít dụng công để trở về với nó. Như bầy tôi về triều chầu vua. Phối hợp với Ngũ vị tức là Chánh trung thiên.
Phụng, tương tự Thiên trung chánh. Phụng tức là vâng, vâng là chỉ cho Thiên là thực hành.
Phụng
Tịnh tẩy nùng trang vi a thùy
Tử quy thanh lý khuyến nhân quy
Bách hoa lạc tận đề vô tận
Cánh hướng loạn phong thâm xứ đề.
Tịnh tẩy nùng trang vi a thùy, tịnh tẩy nùng trang là tắm gội máu me sạch, vi a thùy là vì cái gì. Máu me tượng trưng cho ô nhiễm không sạch, tắm gội là cố gắng tu hành, dẹp bao nhiêu thứ phiền não. Bài trước ý nói ngộ rồi nhưng phiền não chưa hết, như biết có viên ngọc ở trong đống rác. Bây giờ vẹt rác ra nhặt lấy viên ngọc đem đi rửa sạch, đó là giai đoạn Phụng nên dùng chữ tắm sạch máu mủ. Khi dọn dẹp nhớp nhúa cho chính mình cũng là làm lợi ích cho chúng sanh.
Tử quy thanh lý khuyến nhân quy, tử quy là con chim tử quy, trong tiếng chim tử quy khuyên người trở về. Chim tử quy còn gọi là chim đỗ quyên hay chim quốc. Chim tử quy luôn luôn hót, tiếng nó thiết tha như kêu nhắc. Câu này nói ý gì? Đem hết thân tâm, khả năng của mình giáo hóa, khuyến dụ chúng sanh thấy đạo, trở về với đạo.
Bách hoa lạc tận đề vô tận, trăm hoa rụng hết mà tiếng hót của chim tử quy cũng không hết, ý chỉ sự lợi tha không có bờ bến. Cánh hướng loạn phong thâm xứ đề, lại nhằm trong núi sâu chập chùng hót luôn không ngừng. Ý nói người đến giai đoạn dụng công này bản thân đã dẹp sạch hết những ô uế phiền não, lại còn luôn luôn nhắc nhở khuyến hóa dạy dỗ mọi người cùng trở về, không kể thời gian không gian, không kể khi an khi nguy. Đó là tiếng hót không ngừng của chim tử quy. Dùng hình ảnh đời mà nói đạo, như thế không phạm húy.
Công
Khô mộc hoa khai kiếp ngoại xuân
Đảo ky ngọc tượng sấn kỳ lân
Nhi kim cao ẩn thiên phong ngoại
Nguyệt kiểu phong thanh hảo nhật thần.
Công, tương tự Chánh trung lai. Khô mộc hoa khai kiếp ngoại xuân, khô mộc là cây khô, hoa khai là hoa nở, kiếp ngoại xuân là mùa xuân ở ngoài thời gian. Đây là giai đoạn Chánh trung lai, cây khô là tượng trưng thể, cây khô nảy hoa là được thể rồi khởi ra dụng. Đây là cái dụng phi thường, nên giống như trong cây khô trổ hoa, hoa ấy vượt ngoài thời gian, biểu hiện bằng kiếp ngoại xuân.
Đảo ky ngọc tượng sấn kỳ lân, đảo ky là cưỡi ngược, ngọc tượng là voi ngọc, sấn kỳ lân là đuổi kỳ lân, cưỡi ngược con voi ngọc mà đuổi kỳ lân. Diệu dụng này giống như người cưỡi voi bằng ngọc mà đuổi kỳ lân. Voi ngọc có chạy được không? Mà đây cưỡi ngược chứ không cưỡi xuôi, rồi đuổi theo con kỳ lân. Đây ví dụ người thể nhập chỗ này rồi thì công phu giáo hóa, tiếp độ chúng sanh không còn chướng ngại. Diệu dụng không thể lường, không thể biết hết được, nên mượn hình ảnh đó diễn tả tính bất tư nghì.
Người có những diệu dụng như thế bản thân họ thì sao? Nhi kim cao ẩn thiên phong ngoại, mà nay ở ẩn ngoài ngàn ngọn núi, ở ngoài ngàn ngọn núi làm mọi việc lợi ích chúng sanh mà không dính không kẹt.
Nguyệt kiểu phong thanh hảo nhật thần. Đến lúc này trăng sáng, gió mát, mặt trời đẹp, tất cả đều tươi sáng. Đó là lúc ở trong cảnh rất nhàn hạ thảnh thơi, đẹp đẽ, làm lợi ích cho chúng sanh mà không có gì bận nhọc.
Cộng Công
Chúng sanh chư Phật bất tương xâm
Sơn tự cao hề thủy tự thâm
Vạn biệt thiên sai minh để sự
Chá cô đề xứ bách hoa tân.
Cộng Công, tức là Thiên trung chí hay gọi là Kiêm trung chí, không còn đối đãi nữa. Chúng sanh chư Phật bất tương xâm, chúng sanh hay chư Phật không xâm phạm nhau. Đến đây thì không còn danh từ Phật, danh từ chúng sanh, không thấy Phật khác với chúng sanh. Sơn tự cao hề thủy tự thâm, núi thì tự cao, nước thì tự sâu không còn nằm trong đối đãi riêng biệt.
Trên cái thiên sai vạn biệt của muôn sự muôn vật đều hiện bày chân thật, cho nên vạn biệt thiên sai minh để sự, tức là ngàn sai muôn khác đều rõ được việc đó. Thể chân thật trùm khắp trên muôn vật không còn có riêng tư. Chính chỗ này, ngài Thiền Lão thiền sư trả lời vua Lý Thái Tông. Vua hỏi Hòa thượng ở đây bao lâu? Ngài đáp: Đản tri kim nhật nguyệt, thùy thức cựu xuân thu. Chỉ biết ngày nay, ai biết những năm về trước. Hỏi: Ngài ở đây làm gì? Đáp: Thủy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh, bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân. Nghĩa là trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác, trăng trong mây bạc hiện toàn chân. Như vậy tất cả đều thể hiện chân thực, chính chỗ này diễn tả rõ ràng trong vạn biệt thiên sai đó chính là làm sáng rõ việc này.
Chá cô đề xứ bách hoa tân, chỗ chim chá cô hót trăm hoa tươi. Đó là lúc người và cảnh không còn phân chia, không còn thấy mình khác, chúng sanh khác.
Công Công
Đầu giác tài sanh dĩ bất kham
Nghĩ tâm cầu Phật hảo tu tàm
Điều điều không kiếp vô nhân thức
Khẳng hướng nam tuần ngũ thập tam.
Cuối cùng, Công Công tức sánh ngang Kiêm trung đáo. Đầu giác tài sanh dĩ bất kham, đầu vừa mọc sừng đã không kham nhận. Đã thể nhập cái chân thật đó rồi thì còn khởi gì nữa, vì thế xem như đầu mọc sừng không chấp nhận được. Nhà thiền hay nói đầu thêm đầu là thế, đã tới nơi rồi mà còn khởi tâm mong cầu là trật, là bệnh.
Câu sau nói rõ Nghĩ tâm cầu Phật hảo tu tâm, vừa khởi tâm cầu Phật thì phải nên hổ thẹn. Điều điều không kiếp vô nhân thức, điều điều là xa xôi vời vợi, không kiếp là từ cái kiếp không, vô nhân thức là không ai biết. Thể chân thật ấy sẵn từ thuở nào xa xôi, không ai nhận biết được.
Khẳng hướng nam tuần ngũ thập tam, nhận đi về phương nam năm mươi ba. Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm khi phát tâm tu, nhờ sự khuyến khích của ngài Văn-thù đi tham vấn năm mươi ba vị thiện tri thức, cuối cùng gặp lại ngài Văn-thù, tức là trở về căn bản trí. Khởi tâm ban đầu từ căn bản trí, cuối cùng thể nhập viên mãn cũng về căn bản trí. Phối hợp với bài tụng Kiêm trung đáo thì đây là chỗ trở về ngồi trong tro (Chiết hợp hoàn quy khôi lý tọa). Chỗ thể nhập này, bức tranh thứ mười diễn tả thiền sư đầu trần chân đất, đi vào hàng thịt hàng cá dạy người tu. Đây là chỗ đặc biệt của thiền sư, các ngài nói không kẹt không dính, không lập ngôn để chúng ta không vướng trên ngôn ngữ.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn bửa củi, bèn bó một bó củi ném trước mặt Sư. Sự hỏi:
– Nặng nhiều ít?
Tuyết Phong thưa:
– Người khắp trên mặt đất chung giở không nổi.
Sư hỏi:
– Sao đem đến đây được?
Tuyết Phong đáp không được.
Tuyết Phong bửa củi, bó một bó ném trước mặt ngài. Ngài hỏi: Nặng nhiều ít? Nếu chúng ta thì chắc nổi giận, người ta đang ngồi mà vác bó củi quăng ngang trước mặt, vô lễ không? Nhưng người xưa lúc nào cũng chỉ nhắm vào cái đó, không để tâm thương ghét, lễ phép hay không. Ngài hỏi nặng nhiều ít? Đó là giương bẫy, nói nhiều nói ít gì cũng đều mắc kẹt trong bẫy hết. Ngài Tuyết Phong khéo trả lời: Người khắp trên mặt đất chung giở không nổi. Như vậy là gỡ được cái bẫy rồi.
Phá được hầm bẫy nhưng lại kẹt cái khác. Ngài liền hỏi: Sao đem đến đây được? Không ai giở nổi, làm sao đem đến đây? Ngang đó Tuyết Phong không đáp được. Cách đối đáp của người xưa rất khéo, nhanh như chớp không chậm trễ như chúng ta.
Có vị tăng hỏi:
– “Luôn luôn siêng lau chùi”, vì sao không được y bát? Chẳng biết người nào nên được?
Sư bảo:
– Người không vào cửa được.
Tăng thưa:
– Vả nhưngười không vào cửa lại được hay không?
Sư bảo:
Tuy nhiên như thế, chẳng được chẳng trao cho người kia. Nói thẳng rằng “xưa nay không một vật” vẫn chưa nên được y bát kia. Ngươi hỏi người nào nên được, nơi đây nên có một chuyển ngữ, hãy nói có chuyển ngữ gì?
Lúc ấy có tăng nói đến chín mươi sáu chuyển ngữ mà chưa khế hợp, một chuyển ngữ sau rốt mới khế hợp ý Sư. Sư bảo:
– Xà-lê sao không nói chuyển ngữ ấy trước?
Một vị tăng hỏi: “Luôn luôn siêng lau chùi” vì sao không được y bát? Chẳng biết người nào được? Câu hỏi này lấy ý trong bài kệ của ngài Thần Tú, câu “thời thời cần phất thức”. Ngài Thần Tú không được y bát, chẳng biết người nào được? Ai không biết Lục Tổ, tại sao lại hỏi? Ngài trả lời: Người không vào cửa được.
Tăng hỏi lại: Vả người không vào cửa lại được hay không? Nếu đã không vào cửa thì còn thấy gì là được hay không được. Ngài trả lời: Tuy nhiên như thế, chẳng được chẳng trao cho, tức là tuy không vào cửa mà không từ chối truyền y bát, nên nói: Nói thẳng rằng “xưa nay không một vật” vẫn chưa nên được y bát kia. Đây là câu trích trong bài kệ của Lục Tổ: “Bản lai vô nhất vật”, xưa nay không một vật, câu đó chỉ được vào cửa chứ chưa được truyền y bát. Tại sao? Nếu câu đó xứng đáng truyền y bát thì đâu đợi Ngũ Tổ phải nói kinh Kim Cang. Ngũ Tổ nói đến đoạn “Bất ưng trụ sắc sanh tâm… Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Lục Tổ mới thốt lên “đâu ngờ đâu ngờ.” cũng như “A!” lên một tiếng. “Đâu ngờ tự tánh xưa nay thanh tịnh…” ngang đó mới được truyền y bát. Đây là dẫn tích này tích nọ một cách khéo léo không nói trắng ra.
Có vị tăng hỏi:
– Bình thường Thầy dạy chúng con đi đường chim (điểu đạo), chưa biết thế nào là đường chim?
Sư bảo:
– Chẳng gặp một người. Tăng thưa:
– Đi thế nào?
Sư bảo:
– Phải ngay dưới chân không việc khác. Tăng thưa:
– Như đi đường chim, phải là “bản lai diện mục” chăng?
Sư bảo:
– Xà-lê nhân đâu mà điên đảo?
Tăng thưa:
– Chỗ nào là con điên đảo?
Sư bảo:
– Nếu không điên đảo vì sao lại nhận giặc làm con?
Tăng thưa:
– Thế nào là bản lai diện mục?
Sư bảo:
– Chẳng đi đường chim.
Ở thế gian có đường thủy đường bộ, cũng có đường chim là hàng không. Đường thủy đường bộ thì gặp tàu bè xe cộ, người, vật…, đường chim thì không gặp ai cả. Ngài trả lời cụ thể: Chẳng gặp một người. Ý nói không gặp ai cũng có nghĩa không còn thấy có ngã nhân đối đãi. Còn ngã nhân là chưa phải đi đường chim. Câu này hay ở chỗ vừa là hình ảnh cũng vừa là ý thâm trầm bên trong.
Hỏi: Đi thế nào? Đã không gặp ai thì đi thế nào? Đáp: Phải ngay dưới chân không việc khác. Đi thì phải cất bước, rất thực tế. Nhưng còn mang ngụ ý rằng, cái đó ngay ở dưới chân ông, ngay ở nơi ông thôi chứ không đâu xa lạ. Một câu mà hai ý rõ ràng.
Tăng chưa hiểu, liền chuyển qua câu khác: Như đi đường chim, phải là “bản lai diện mục” chăng? Ngài bảo rằng: Xà-lê nhân đâu mà điên đảo? Đó là chỗ không gặp một người, huống nữa có danh tự. Đã dùng danh tự bản lai diện mục, đó là điên đảo.
Tăng không chịu: Chỗ nào là con điên đảo? Ngài nói: Nếu không điên đảo vì sao lại nhận giặc làm con? Cái thật mà không thấy lại chấp vào ngôn ngữ văn tự, đó là nhận giặc làm con.
Tăng lại hỏi: Thế nào là bản lai diện mục? Nói như vậy mà vẫn còn chấp danh từ bản lai diện mục. Ngài nói: Chẳng đi đường chim. Nếu còn chấp giữ thì chẳng bao giờ đi đường chim. Chúng ta thấy đối đáp rất khéo, nếu không hiểu thì thấy dường như nói trên trời trên mây.
Ban đêm tham vấn mà không thắp đèn. Có vị tăng ra thưa hỏi, hỏi xong thối lui. Sư bảo thị giả thắp đèn và gọi vị tăng vừa thưa hỏi đến. Vị tăng ấy ra đến gần Sư. Sư bảo:
– Lấy ba lạng bột đến cho Thượng tọa này.
Vị tăng ấy phủi áo trở lui. Từ đây tỉnh giác bèn đem tất cả y và dụng cụ cho hết, thiết trai cúng dường. Ba năm sau vị tăng ấy đến từ giã Sư. Sư bảo:
– Đi vui vẻ!
Lúc đó Tuyết Phong đứng hầu, hỏi Sư:
– Vị tăng này từ giã bao lâu sẽ trở lại?
Sư bảo:
– Y chỉ biết một lần đi, mà không biết trở lại. Vị tăng ấy về nhà tăng đến chỗ để y bát, ngồi tịch. Tuyết Phong đến báo tin cho Sư. Sư bảo:
Tuy nhiên như thế, so với lão tăng vẫn còn ba đời.
Ban đêm tham vấn đặc biệt không đốt đèn, thầy trò đối đáp nhau. Có vị tăng tham vấn hỏi xong rồi lui ra, có thể ngài thấy vị này sắp tỉnh giác nên bảo đốt đèn và gọi Tăng vừa tham vấn. Tăng đến gần, ngài bảo thị giả lấy ba lạng bột cho ông tăng này. Nói vậy thì ông tỉnh liền. Tại sao? Hiểu được ý trên không có gì khó. Tối là thể, sáng là dụng, ông nhận được thể thì phải khởi dụng mới thành công. Tăng ngộ được ý chỉ đó, phủi tay áo lui ra. Từ đây tỉnh giác tu tập ba năm, thấy được tự tại nên đến từ giã, ngài khen, bảo: Đi vui vẻ!
Tăng đó đi, ngài Tuyết Phong đứng hầu hỏi: Vị tăng này từ giã bao lâu sẽ trở lại? Ngài nói: Y chỉ biết một lần đi, mà không biết trở lại. Ngài biết Tăng từ giã là đi luôn.
Tăng tịch xong tin báo đến ngài, ngài nói: Tuy nhiên như thế mà so với lão tăng vẫn còn ba đời. Tức là còn thua Lão tăng ba đời. Người xưa chết sống tự tại, tuy nhiên câu nói của Động Sơn cho chúng ta hiểu rõ hơn. Trong nhà thiền, có người ngộ tới đó mà duyên độ sanh không có, có người ngộ tới đó mà duyên độ sanh mạnh. Nhiều người ngộ rồi tịch vì thấy duyên độ sanh không có, người có duyên thì nỗ lực giáo hóa, không phải người nào ngộ rồi đều cũng như nhau.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Lại có người không đền đáp bốn ơn ba cõi chăng?
Chúng đều không đáp, Sư lại bảo:
– Nếu chẳng thể nhận ý này, làm sao vượt khỏi hoạn trước sau. Hẳn phải tâm tâm chẳng chạm vật, bước bước không chỗ nơi, thường không gián đoạn mới được tương ưng. Cần phải nỗ lực, chớ nhàn rỗi qua ngày!
Sư thượng đường dạy chúng: Lại có người không đền đáp bốn ơn ba cõi chăng? Chúng ta tu luôn luôn nguyện đem hết sức mình đền đáp bốn ơn ba cõi. Nghĩa là đền đáp ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, ơn đàn-na thí chủ, ơn đất nước, ơn thầy tổ giáo hóa… Có thân thì phải đền đáp. Có một cái không ăn uống, không thọ dụng của ai, cũng không ai sanh ra được nên không có đền đáp.
Tăng đáp không được. Ngài nói: Nếu chẳng thể nhận ý này, làm sao vượt khỏi hoạn trước sau. Nếu không nhận ra con người đó thì khó thoát khỏi họa sanh tử luân hồi tiếp nối. Hẳn phải tâm tâm chẳng chạm vật, tâm phải luôn luôn không dính mắc vật nào hết, bước bước không chỗ nơi, đi mà không bước đi vì không dính nơi này chốn nọ. Thường không gián đoạn mới được tương ưng, phải hằng sống không dính không kẹt, luôn luôn miên mật không xen hở, chánh niệm mới có thể tương ưng. Cần phải nỗ lực, chớ nhàn rỗi qua ngày! Đây là lời nhắc nhở của ngài. Tu phải cẩn mật tha thiết, tu lếu lếu như chúng ta thì chắc là lâu xa lắm.
Tào Sơn Bổn Tịch đến từ Sư, Sư bèn phó chúc:
Ta ở chỗ tiên sư Vân Nham thân được ấn chứng “Bảo cảnh tam-muội” là yếu chỉ cùng tột, nay phó chúc cho ngươi. Lời rằng:
Như thị chi pháp
Phật tổ mật phó
Nhữ kim đắc chi
Nghi thiện bảo hộ.
Ngân uyển thạnh tuyết
Minh nguyệt tàng lộ
Loại chi phất tề
Hỗn tắc tri xứ
Ý bất tại ngôn
Lai cơ điệc phó.
Động thành khòa cữu
Sai lạc cố trữ
Bối xúc câu phi
Như đại hỏa tụ
Đản hình văn thể
Tức thuộc nhiễm ô.
Dạ bán chánh minh
Thiên hiểu bất lộ
Vi vật tác tắc
Dụng bạt chư khổ
Tuy phi hữu vi
Bất thị vô ngữ.
Như lâm Bảo cảnh
Hình ảnh tương đố
Nhữ bất thị cừ
Cừ chánh thị nhữ
Như thế anh nhi
Ngũ tướng hoàn cụ.
Bất khứ bất lại
Bất khởi bất trụ
Bà bà hòa hòa
Hữu cú vô củ
Chung bất đắc vật
Ngữ vị chánh cố.
Trùng ly lục hào
Thiên chánh hồi hỗ
Điệp nhi vi tam
Biến tận thành ngũ
Như trì thảo vị
Như Kim cang xử.
Chánh trung điệu hiệp
Xao xướng song cử
Thông tông thông đồ
Hiệp đới hiệp hộ
Thổ nhiên tắc kiết
Bất khả phạm ngỗ.
Thiên chân nhi điệu
Bất thuộc mê ngộ
Nhân duyên thời tiết
Tịch nhiên chiêu trước.
Tế nhập vô gián
Đại tuyệt phương sở
Hào hốt chi sai
Bất ưng luật lữ.
Kim hữu đến tiệm
Duyên lập tông thủ
Tông thủ phân kỹ
Tức thị quy củ
Tông thông thủ cực
Chân thường lưu chú.
Ngoại tịch trung dao
Hệ câu phục thử
Tiên thánh bị chi
Vi pháp đàn độ
Tùy kỳ điên đảo
Dĩ truy vi tố.
Điên đảo tưởng diệt
Khẳng tâm tự hứa
Yếu hợp cổ triệt
Thỉnh quán tiền cổ
Phật đạo thùy thành
Thập kiếp quán thọ.
Như hổ chi khuyết
Như mã chi chú
Dĩ hữu hạ liệt
Bảo kỷ trân ngự
Dĩ hữu kinh dị
Ly nô bạch cổ.
Nghệ dĩ xảo lực
Xạ trúng bách bộ
Tiễn phong tương trị
Xảo lực hà dự.
Mộc nhân phương ca
Thạch nữ khởi vũ
Phi tình thức đáo
Ninh dung tư lự.
Thần phụng ư quân
Tử thuận ư phụ
Bất thuận phi hiếu
Bất phụng phi phụ.
Tiềm hành mật dụng
Như ngu như lỗ
Đản năng tương tục
Danh chủ trung chủ.
Dịch:
Pháp như thế ấy
Phật tổ thầm trao
Nay ngươi được đó
Nên khéo giữ gìn.
Chén bạc đựng tuyết
Trăng sáng che cò
Loại đó chẳng đồng
Lẫn thì biết chỗ
Ý chẳng ở lời
Cơ đến cũng đến.
Động thành hang ổ
Sai rơi đoái giữ
Tránh chạm đều lỗi
Như đống lửa lớn
Chỉ bày màu vẻ
Liền thuộc nhiễm ô.
Nửa đêm sáng tỏ
Trời sáng chẳng bày
Vì vật làm phép
Dùng nhổ các khổ
Tuy chẳng hữu vi
Chẳng phải không nói.
Như đến gương báu
Hình bóng thấy nhau
Ngươi chẳng phải y
Y chính là ngươi
Như trẻ trong nôi
Năm tướng đầy đủ.
Chẳng đi chẳng lại
Chẳng dậy chẳng đứng
Tu oa! Tu oa!
Có câu không câu
Trọn chẳng được vật
Vì lời chưa rõ.
Trùng ly sáu hào
Thiên chánh hồi hỗ
Chồng chất làm ba
Biến khắp thành năm
Như vị trì thảo
Như chày Kim cang.
Chánh trung khéo gộp
Nhịp xướng đồng cử
Thông tông thông đồ
Hiệp đới hiệp lộ
Cẩn thận thì tốt
Chẳng nên phạm nghịch.
Thiên chân mà diệu
Chẳng thuộc mê ngộ
Thời tiết nhân duyên
Lặng lẽ rành rõ.
Nhỏ vào chẳng hở
Lớn tột chỗ nơi
Sai trong mảy may
Chẳng hợp luật lữ.
Nay có đốn tiệm
Duyên lập tông thú
Tông thú phân vậy
Tức là quy củ
Tông thông thú tột
Chân thường trôi chảy.
Ngoài yên trong loạn
Cột ngựa dẹp chuột
Thánh trước thương đó
Vì làm pháp thí
Tùy kia điên đảo
Lấy đen làm trắng.
Tưởng điên đảo diệt
Khứng tâm tự nhận
Cốt hợp vết xưa
Xin xem xưa trước
Phật đạo sắp thành
Mười kiếp quán cây.
Như khuyết của cọp
Như đốm của ngựa
Do có thấp kém
Bàn báu xe quý
Do có sợ hãi
Mèo nhà bò trắng.
Nghệ do sức khéo
Trăm bước bắn trúng
Tên nhọn sắp chạm
Sức khéo làm gì?
Người gỗ vừa ca
Gái đá đứng múa
Tình thức chẳng đến
Đâu cho suy nghĩ.
Thần phụng nơi vua
Con thuận nơi cha
Không thuận chẳng hiếu
Không phụng chẳng phụ.
Làm thầm dụng kín
Như ngu như ngốc
Chỉ hay tiếp nối
Gọi chủ trong chủ.
Sau đây là bài Bảo cảnh tam-muội của tổ Vân Nham truyền cho Động Sơn, ngài truyền lại cho Tào Sơn. Sao gọi là Bảo cảnh tam-muội? Bảo cảnh là gương báu, tam-muội là chánh định, nghĩa là chánh định như gương báu. Chánh định thâm sâu tột cùng thì trong định vẫn sáng suốt, như gương sáng không lay động. Các thiền sư thường nói: “Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán”, nghĩa là nó vẫn yên tịnh sáng suốt, không phân biệt, tuy không phân biệt nhưng cái gì ra cái nấy. Khi người tu trở về với tâm thể chân thật thì hằng yên lặng sáng suốt giống như gương báu không lay động chiếu soi hình bóng trung thực. Đây dùng hình ảnh gương báu để ví dụ cho chánh định này.
BẢO CẢNH TAM MUỘI
Như thị chi pháp
Phật tổ mật phó
Nhữ kim đắc chi
Nghi thiện bảo hộ.
Pháp như thế ấy tức là pháp Bảo cảnh tam-muội, Phật tổ thầm trao pháp ấy cho ông, nay ông được đó phải khéo bảo hộ.
Mở đầu là lời dặn dò, đến phần nội dung bên trong:
Ngân uyển thành tuyết
Minh nguyệt tàng lộ
Loại chi phất tề
Hỗn tắc tri xứ
Ý bất tại ngôn
Lai cơ điệc phó.
Ngân uyển thạnh tuyết, minh nguyệt tàng lộ. Chén bạc đựng tuyết, trăng sáng che cò. Đây là những hình ảnh rất khó phân biệt. Chén bằng bạc là trắng mà đựng tuyết cũng trắng, thì có thể phân biệt cái nào là tuyết, cái nào là chén được không? Mặt trăng sáng và con cò trắng đậu ngoài đồng, khi mặt trăng sáng dễ thấy con cò không? Tuy hai cái tương tự khó so sánh khó phân biệt, nhưng còn có thể phân biệt được.
Loại chi phất tề, loại đó chẳng đồng, giống loại không đồng, chén bạc với tuyết tuy khó phân biệt nhưng còn có thể biết, thể chân thật này không thể xếp vào loại nào để so sánh cho bằng được. Cái này chỉ có thể hỗn tắc trị xứ, hỗn là mờ tối, là thầm lặng, trong cái thầm lặng mà tự nhận biết. Chỉ có thầm lặng mà biết được chỗ đó, không thể dùng trí suy xét hay dùng thức phân biệt đến chỗ đó được. Ý nói thể chân thật không hình tướng, không đối đãi so sánh ví dụ gì được, người muốn biết được chỉ là thầm lặng mà biết, trí hay thức đều không biết tới được.
Ý bất tại ngôn là ý không ở nơi lời, nghĩa là lời nói và ý của nó không ở một chỗ. Thường chúng ta căn cứ nơi lời mà hiểu được ý, nhưng lời của các Tổ sư ở ngoài ý. Như ngài Vân Môn nói “Hướng mặt về nam để xem sao bắc đẩu”, sao bắc đẩu ở phía bắc mà xây mặt về nam làm sao thấy? Lời nói và ý không giống nhau, nếu căn cứ trên lời nói thì không thể nào hiểu ý Tổ sư, tuy vậy nhưng gặp cơ đến thì cũng trao. Tức là gặp những người căn cơ bén nhạy hay đã chín muồi thì một câu một lời liền được trao phó, vì thế nói Lai cơ diệc phó.
Động thành khòa cữu
Sai lạc cố trữ
Bối xúc câu phi
Như đại hỏa tụ
Đản hình văn thể
Tức thuộc nhiễm ô.
Động thành khòa cữu, vừa dấy niệm phân biệt thì đã thành hang ổ rồi. Sai lạc cố trữ, sai lạc tức là sai đi thì rơi vào chỗ cố trữ là kìm giữ. Như chúng ta nghe nói tâm thể thanh tịnh không có vọng niệm, muốn sống với tâm thể thanh tịnh đó, bèn đè xuống kìm giữ vọng niệm. Như vậy là sai lạc hay trúng? Hiểu sai thì thành ra kìm giữ.
Bối xúc câu phi, trái chạm đều chẳng được. Bối là trái có nghĩa là ly, xúc là chạm có nghĩa là hợp. Có cái gì chạm nhau mà không hợp? Ví dụ tay tôi muốn chạm cái bàn thì phải hợp đến cái bàn. Bối là xây lưng lại, tức là lìa ra. Hai bên nào ly nào hợp đều chẳng phải, nghĩa là không mắc kẹt hai bên.
Như đại hỏa tụ giống như đống lửa lớn, quăng cái gì vô đều cháy tuốt hết, không còn lại gì. Tất cả thuận nghịch, thị phi… những gì đối đãi hai bên đến chỗ này đều tiêu hết, không còn một vật gì. Đây chỉ cho thể chân thật không dính một vật gì.
Đản hình văn thể, tức thuộc nhiễm ô. Chỉ có hình, có văn, có thể, thì liền thuộc về nhiễm ô. Nếu đem hình tướng diễn tả hay đem văn thể để nói về nó thì đều thuộc về nhiễm ô, không phải là thể thanh tịnh.
Dạ bán chánh minh
Thiên hiểu bất lộ
Vi vật tác tắc
Dụng bạt chư khổ
Tuy phi hữu vi
Bất thị vô ngữ.
Dạ bán chánh minh, nửa đêm chính sáng. Chỗ này không tách rời giữa thể và dụng, giữa sự và lý, cho nên nửa đêm tối cũng là đúng ngọ là sáng. Tối và sáng, hai cái không rời nhau, như trong bài tụng Chánh trung thiên, Thiên trung chánh. Chánh là thể, thiên là dụng, thể dụng không tách rời nhau, hay sự lý không có riêng biệt.
Thiên hiểu bất lộ, thiên hiểu là trời sáng, bất lộ là không hiển bày, tức là giữa trời sáng vẫn tối. Sáng và tối cũng không tách rời. Hai câu này nói lên ý rằng người muốn đạt đến chỗ đó thì không nên chia riêng đây là dụng kia là thể, đây là lý kia là sự, mà phải ngay nơi sự có lý, ngay nơi thể có dụng. Ứng dụng như vậy thì tu hành không sai lệch.
Vi vật tác tắc, vì vật mà làm phép tắc. Đây chỉ cho cái thể trùm hết muôn vật, nó là chủ của muôn vật nên nó vì vật làm phép tắc. Câu này tương tự câu kệ: “Hữu vật tiên thiên địa, vô hình bản tịch liêu”, tức là có vật trước cả trời đất, không có hình tướng, luôn luôn vắng lặng. Nó chính là nguyên tắc của muôn sự muôn vật. Dùng cái đó để làm gì? Để nhổ hết gốc khổ của chúng sanh, nên nói dụng bạt chư khổ. Như vậy, thể chân thật ấy nếu chúng ta nhận được rồi thì mới nhổ hết gốc khổ cho chúng sanh.
Tuy phi hữu vi, bất thị vô ngữ. Tuy chẳng phải hữu vi, mà không phải không nói. Thể này không phải hữu vi nhưng không phải không nói, vẫn có phương tiện để nói. Nói bằng cách nào? Như có người hỏi ngài Triệu Châu: “Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?” Ngài trả lời: “Cây bá trước sân.” Ý Tổ sư từ Ấn độ sang là hữu vi hay vô vị? Ngài trả lời cây bá ở trước sân, thì tuy không phải hữu vi mà vẫn có lời nói. Không phải vì vô vi rồi làm thinh. Tuy nói được mà không thể nói đến cái đó.
Như lâm bảo cảnh
Hình ảnh tương đổ
Nhữ bất thị cư
Cừ chánh thị nhữ
Như thế anh nhi
Ngũ tướng hoàn cụ.
Như lâm bảo cảnh, hình ảnh tương đổ. Như đến trước gương báu hình ảnh đều hiện rõ ràng. Gương báu là dụ cho thể chân thật. Thể chân thật thì không có bóng dáng hình tượng, gương báu không có hình nhưng tùy duyên, người đến thì hiện người, vật đến thì hiện vật. Không có hình tướng tùy duyên hiện ra muôn hình muôn tướng.
Nhữ bất thị cừ, cừ chánh thị nhữ. Nhữ là ngươi, cừ là y. Ngươi không phải là y, y chính là ngươi, tại sao? Mình không phải là cái đó vì mình là thân tứ đại sanh diệt mà cái đó thì không sanh diệt. Cái đó chính là thể của mình, không có thể chân thật này thì không có mình. Chúng ta lầm nhận tướng sanh diệt cho là mình là nhận cái giả, còn thể chân thật chính là mình thì quên nó. Người quên lãng thể chân thật nên gọi là mê. Đây chỉ rõ cho chúng ta thấy có một cái chân thật không phải là cái thân này, cái chân thật đó chính là chúng ta mà chúng ta không biết, nên nói ngươi không phải là y mà y chính là ngươi.
Như thế anh nhi, như đứa bé ở đời, bé này còn ở trong nôi. Ngũ tướng hoàn cụ là năm tướng đầy đủ. Năm tướng là thân thể đủ năm vóc đầu mình tay chân.
Bất khứ bất lai
Bất khởi bất trụ
Bà bà hòa hòa
Hữu cú vô củ
Chung bất đắc vật
Ngữ vị chánh cố.
Bất khứ bất lai, bất khởi bất trụ. Đứa bé còn nằm trong nỗi không đi không lại, không ngồi không đứng. Bà bà hòa hòa là tiếng bập bẹ của đứa bé. Hữu cú vô cú, có câu không câu, dù nó nói bi bô mà cũng không thành câu thành lời có ý nghĩa.
Đứa bé có năm tướng nhưng thể của nó là một, ví dụ cho một thể chân, phân biệt có năm thứ Chánh trung thiên, Thiên trung chánh…
Chung bất đắc vật, ngữ vị chánh cố. Lời khóc của đứa bé oa oa thầm nói cái gì? Không nói ra vật gì, không thành câu, không có nghĩa vì lời của nó chưa đúng, nên nói ngữ vị chánh, lời chưa chánh. Các thiền sư khi muốn diễn tả chỗ không lời, các ngài nói những câu giống như đứa bé, như “hư!” hay một tiếng hét. Những câu đó chỉ có tiếng mà không thành câu không thành lời.
Trùng ly lục hào
Thiên chánh hồi hỗ
Điệp nhi vi tam
Biến tận thành ngũ
Như trì thảo vị
Như Kim cang xử.
Trùng ly lục hào, ly là quẻ ly, trùng là lặp lại, quẻ ly mà lặp lại hai lần thành ra sáu hào, hào là các vạch âm dương của quẻ trong kinh Dịch. Thiên chánh hồi hỗ hồi hỗ tức là xoay qua xoay lại trộn lẫn nhau. Trong Ngũ vị quân thần thì thiên và chánh xen lẫn.
Điệp nhi vi tam, biến tận thành ngũ, điệp là chồng chất, nghĩa là chồng chất lại thì thành ba, biến khắp ra thì thành năm. Thành ba là chỉ cho Bát-nhã, Pháp thân, Giải thoát, thành năm là từ Chánh trung thiên, tới Kiêm trung đáo là năm vị.
Như trì thảo vị, trì thảo là cây ngũ vị tử, cây này trong thuốc nam thuốc bắc có dùng, trái nó có năm thứ mùi: đắng, cay, ngọt, chua, mặn. Một trái có năm mùi nhưng thể chỉ là một, dụ cho chia ra thì có năm vị mà chỉ là một thể.
Như Kim cang xử. Xử là cái chày, không phải chày giã gạo mà là chày đóng chuông như người ta nói chày kình. Cái chày có hai đầu lớn, ở giữa nhỏ, như chày giã gạo của người miền Thượng. Đây nói chày Kim cang, vì lực sĩ Kim cang thường cầm chày để dẹp quân ma. Đây ý dùng Ngũ vị thiên chánh hồi hỗ như phương tiện tu tập, như thuốc hay, như vũ khí phá dẹp ma.
Chánh trung diệu hiệp
Xao xướng song cử
Thông tông thông đồ
Hiệp đới hiệp lộ
Thổ nhiên tắc kiết
Bất khả phạm ngỗ.
Chánh trung điệu hiệp, trong chánh có cái khéo hợp tức là trong Chánh có Thiên, trong Thiên có Chánh, rất khéo hòa hợp. Xao xướng song cử, xao là gõ, xướng là hát, gõ và xướng đồng cất lên, như người gõ nhịp và người hát, tiếng nhịp và tiếng hát cử lên một lượt, ăn khớp với nhau.
Thông tông thông đồ, tông là chỉ cho thiền hay chỉ cho tâm, đồ là chỉ cho giáo, thiền và giáo đều thông suốt. Hiệp đới hiệp lộ, hợp dãy hợp đường không sai chạy. Thiền và giáo hợp đường để dẫn đạo chúng sanh không tách lìa.
Thố nhiên tắc kiết, chữ thố nhiên đây là cẩn thận, cẩn thận thì tốt. Bất khả phạm ngỗ, không nên phạm trái, trái tức là điều sai trái.
Thiên chân nhi diệu
Bất thuộc mê ngộ
Nhân duyên thời tiết
Tịch nhiên chiêu trước.
Thiên chân nhi diệu, thiên chân mà diệu, thiên chân là cái chân thật sẵn có, không phải mới làm ra, mới tạo nên. Nó sẵn có mà rất nhiệm mầu, không thuộc về mê hay ngộ, nên nói bất thuộc mê ngộ. Thường chúng ta cho rằng ngộ mới thấy được thiên chân, tại sao đây nói không thuộc mê ngộ? Như chúng ta có một món đồ quý cất giữ để chỗ nào đó rồi quên, tìm kiếm khắp hết không ra. Lúc quên là dụ cho mê. Một hôm bỗng dưng nhớ lại, đến chỗ cất lấy món đồ quý ra. Món đồ đó khi quên có mất không? Khi nhớ có thêm gì không? Chỉ là quên nhớ tại mình thôi.
Thể thiên chân cũng vậy, sẵn có nơi mình mà quên tức là mê, nhớ nhận ra tức là ngộ. Mê hay ngộ nơi người, vật ấy xưa nay không đổi, nên nói không thuộc mê ngộ. Khi thời tiết nhân duyên đến thì lặng lẽ rành rõ, đúng thời hợp cơ thì chợt tỉnh, thân tâm sáng suốt tĩnh lặng. Như gương lặng lẽ sáng tỏ lúc nào cũng chiếu soi rõ ràng.
Tế nhập vô gián
Đại tuyệt phương sở
Hào hốt chi sai
Bất ưng luật lữ.
Tế nhập vô gián, nếu nhỏ thì không chút xíu chỗ hở, không thể chen vào. Nhà thiền thường nói mũi kim dùi không thủng, nếu mũi kim dùi thủng tức là có chỗ hở, còn đây ý nói chỗ không hở cách, mũi kim qua không lọt. Tại sao? Phàm cái gì có hình tướng là do nhân duyên. Do nhân duyên nên có khoảng cách xen hở. Như thân chúng ta do duyên hợp, nhìn tưởng như khít khao liền lặn, nhưng mũi kim đâm qua được, bơm thuốc vô đầy trong đó rồi tan từ từ, tức là nó có trống có hở mới xen vào được. Vì có những tế bào ráp nối với nhau mới có chỗ trống hở. Vật chất ở bên ngoài do các nguyên tử hợp với nhau nên có trống hở, còn cái này không do nhân duyên hợp thì làm sao có trống hở?
Đại tuyệt phương sở, lớn bặt không nơi chốn. Nếu lớn như núi như biển thì cũng có bờ mé giới hạn, còn cái này không có hình tướng thì lấy đâu làm giới hạn? Lớn như biển Thái Bình cũng có giới hạn giữa bờ này là châu Á bờ kia là châu Mỹ. Cái không hình tướng không có gì làm giới hạn, tuy không thấy chỗ nơi nhưng trùm kín khít khao. Vì thế nói nhỏ thì đầu mũi kim cũng nhét không được, còn lớn thì dứt bặt nơi chốn.
Hào hốt chi sai, hào hốt là một tý xíu, sai chạy một chút xíu. Bất ưng luật lữ, luật lữ là chỉ cho âm nhạc, không ứng hợp âm nhạc. Âm nhạc nếu sai một nốt hay một nhịp thì phép tắc đã trật rồi. Hai câu này ý chỗ khít khao tương ứng, không cho sai lệch một tý xíu nào.
Kim hữu đốn tiệm
Duyên lập tông thủ
Tông thủ phân kỹ
Tức thị quy củ
Tông thông thủ cực
Chân thường lưu chủ.
Kim hữu đốn tiệm, duyên lập tông thủ. Từ câu đầu đến đây là nêu lên bản thể có diệu dụng bất tư nghì. Tới đây nói về phương tiện, nay có đốn tiệm, tùy duyên lập ra tông thú.
Tông thủ phân kỹ, tức thị quy củ. Tông thú đã phân chia rồi thì liền đó trở thành quy củ phép tắc. Từ sau Lục Tổ đến đời ngài Động Sơn lập ra tông Tào Động, đời ngài Lâm Tế lập tông Lâm Tế. Tông Tào Động có Ngũ vị quân thần, tông Lâm Tế có Tam huyền Tam yếu… Mỗi tông phái có quy củ riêng, đó là phương tiện của chư Tổ tiếp người.
Tông thông thủ cực, tông thông là thấu suốt về tâm hay về thiền, thú cực tức là thấu suốt về lý hay giáo. Hai chỗ đó thấu suốt nhưng chân thường lưu chủ, nghĩa là chỗ chân thường trôi chảy. Tại sao? Tức là dù có trí tuệ lanh lẹ hiểu biết tột cùng nhưng trên niệm vi tế dẹp chưa hết vẫn còn thầm trôi chảy.
So sánh với phần phá ngũ ấm ma theo kinh Lăng-nghiêm thì chỗ này tương đương phần phá hành ấm. Hành ấm là sức trôi chảy liên tục như thác nước đổ, nhìn xa như một vạt trắng đứng yên nhưng đến gần thì từng hạt từng hạt nước tuôn chảy. Chúng ta cũng vậy, tu tới chỗ này thì bên ngoài thấy dường như rất lặng lẽ, nhưng sâu bên trong vẫn còn những niệm tế nhị luôn hoạt động nên gọi chân thường trôi chảy.
Ngoại tịch trung dao
Hệ câu phục thử
Tiên thánh bị chi
Vi pháp đàn độ Tùy kỳ điên đảo
Dĩ truy vi tố.
Ngoại tịch trung dao, ngoài lặng lẽ mà trong còn dao động. Người tu đã hiểu thông thiền và giáo, có sức tu tập thuần thục nhưng vẫn còn niệm tế nhị trôi chảy, nên ngoài yên trong động. Đây nói chỗ khó khăn sâu kín để đừng lầm lẫn cho là xong việc.
Hệ câu phục thử, hệ câu là cột ngựa, phục thử là dẹp chuột. Người xưa khéo dùng hình ảnh, như thường ta nói “tâm viên ý mã”, tâm ý ví như khỉ ngựa. Tu là cột con ngựa, nhốt con khỉ. Còn con chuột có lỗi gì mà dẹp nó? Con chuột thường lén đi ăn ban đêm, dụ cho tâm niệm lén thầm thầm trốn đi mình không hay, nên phải trừ dẹp. Đây dùng hình ảnh rất hay, con ngựa chạy đông chạy tây phải cột nó lại, con chuột lén bò đi ăn trong đêm tối cũng dẹp luôn. Chỗ tu hành là phải canh chừng trừ bỏ, từ những vọng tưởng nổi cho tới những vọng tưởng chìm thầm lặng. Ý tưởng chạy rong dễ thấy, còn tâm lén thầm khó thấy. Như khi ngồi thiền sực nhớ chuyện này chuyện kia, đó là bề nổi, còn khi ngồi thấy như yên mà vẫn có những niệm nhỏ tế nhị dấy lên rất nhẹ. Đó là mấy chú chuột lén đi, không thành chuyện, không phải là việc lớn nên chúng ta không thấy rõ, cần phải để ý kỹ mới biết.
Tiên thánh bi chi, tiên thánh là bậc thánh trước, chỉ cho Phật tổ, bị chi là thương đó. Vi pháp đàn độ, vì lập pháp giáo hóa, đàn độ là bố thí, tức là bố thí pháp cho chúng ta. Tùy kỳ điên đảo, tùy chúng sanh kia có những điên đảo, dĩ truy vi tố, lấy đen làm trắng. Câu này có hai ý. Một là các bậc tiên thánh thấy sự điên đảo của chúng ta mà khởi lòng thương, các ngài trong chỗ vô ngôn phải dùng hữu ngôn, trong cái không hình tướng mà phải mượn hình tướng. Chỗ vô ngôn không hình tướng là đen, chỗ có hình tướng có ngôn ngữ là trắng, các ngài trên chỗ đen mà dùng trắng để chỉ bày. Ý thứ hai là nói chúng sanh điên đảo cho trắng là đen, cho đen là trắng, nhận giặc làm con nên chịu luân chuyển.
Điên đảo tưởng diệt
Khẳng tâm tự hứa
Yếu hợp cổ triệt
Thỉnh quán tiền cổ
Phật đạo thùy thành
Thập kiếp quán thọ.
Điên đảo tưởng diệt, tư tưởng điên đảo diệt, chúng ta nhờ các bậc tiên thánh dùng pháp thí dạy cho cách dẹp trừ điên đảo nơi thân tâm. Lúc ấy thì khẳng tâm tự hứa, ngay nơi tâm mình tự chấp nhận, khẳng tức là bằng lòng, tự hứa tức là tự nhận. Ngay nơi tâm mình tự nhận lấy, không phải ai làm việc đó giùm mình. Khi chúng ta diệt hết tưởng điên đảo rồi thì tự mình nhận ra thể chân thật đó, không phải Phật tổ cho chúng ta chân thật. Phật tổ chỉ dạy cho cách diệt điên đảo, cái chân thật thì tự mình nhận ra, không nhờ bên ngoài. Nhận ra rồi đừng tự mãn. Đây là lời ngài dạy kỹ, chúng ta có bệnh khi nhận hiểu rồi tưởng là đúng trăm phần trăm, tự xưng Thánh, nói pháp oang oang, cái đó chưa bảo đảm.
Khi nhận rồi yếu hợp cổ triệt, cốt phải hợp với vết xưa, vết xưa tức là đường lối của Phật tổ đi. Nghĩa là mình đã nhận được cái đó rồi, phải đối chiếu lại với đường lối của người trước. Thỉnh quán tiền cổ, hãy xem xét quán sát xưa trước. Những gì người trước đã đi đã làm, mình cần xem kỹ đừng tự ý, tự ý sẽ dễ lầm lạc.
Chúng ta thấy rõ chỗ này, khi diệt được điên đảo, nhận ra bản tâm rồi cũng đừng tự phụ, tưởng như vậy là đủ; mà còn phải đối chiếu với lời Phật dạy trong kinh, đối chiếu với lời Tổ chỉ dẫn, xem cái thấy cái nhận của mình có đúng hay chưa? Nếu đúng thì y theo đó mà tu, không nên nhận ra rồi tự thấy thỏa mãn sau trở thành bệnh.
Phật đạo thùy thành, thập kiếp quán thọ, như Phật sắp thành đạo, mười kiếp xem cây. Kinh Pháp Hoa nói đức Phật Đại Thông Trí Thắng sắp thành đạo rồi mà còn phải mười kiếp ngồi dưới cội Bồ-đề, sau đó Phật pháp mới hiện tiền. Câu này ý nhắc chúng ta ngộ rồi đừng thỏa mãn, còn phải công phu dài lâu mới đến chỗ Phật pháp hiện tiền. Có một số nông nổi người tu vừa được chút ít liền cho là đủ, khoe khoang mà không nỗ lực cố gắng tu. Tự cho mình là Thánh rồi uống rượu ăn thịt, ngồi quán ngồi tiệm, nói mình không nhiễm. Những bệnh như vậy cần biết để tránh. Nếu không hiểu, tưởng thấy đạo là xong việc, không ngờ tập khí muôn đời còn rất nặng, tham sân si chẳng dễ hết.
Đoạn trước ngài có nói như trong đống rác lượm được viên ngọc sáng. Tuy có viên ngọc sáng nhưng còn dơ bẩn, phải công phu chùi rửa bụi nhơ rồi mới sáng. Người thời nay cứ thấy đạo liền cho là đủ, chưa chắc là thấy triệt, chưa phải là triệt ngộ mà chỉ là một lóe sáng nào đó, rồi sanh tự mãn. Từ chỗ đó đi đến tai họa như ngoại đạo phá hoại Phật pháp. Tu mà thiếu học thiếu hiểu đưa tới tai họa, nói thì nghe rất hợp đạo lý, chúng ta nói không bằng họ, phải không? Lý thì nói hay lắm nhưng hành thì không, đó là đại bệnh. Ngài dạy rất kỹ, nghĩa là đã diệt hết điên đảo rồi mới khẳng tâm tự hứa, nhưng cần phải hợp với dấu vết xưa, phải xem chỗ làm của bậc đi trước. Dẫn chứng đức Phật Đại Thông Trí Thắng đã ngộ đạo rồi, mười kiếp ngồi dưới cội Bồ-đề, Phật pháp mới được hiện tiền, huống chi ngày nay quá sơ sài cứ cho là xong việc.
Như hổ chi khuyết
Như mã chi chú
Dĩ hữu hạ liệt
Bảo kỷ trân ngự
Dĩ hữu kinh dị
Ly nô bạch cổ.
Như hổ chi khuyết, như mã chi chú, như vết khuyết của cọp, như đốm của ngựa. Nghĩa là tu cho đến khi công phu đầy đặn giống như chỗ khuyết của con cọp. Truyền thuyết nói rằng khi cọp ăn thịt một người thì vành tai nó khuyết một dấu, nếu ăn thịt nhiều người thì lỗ tai nó như cái răng cưa. Nhìn con cọp nào mà lỗ tai như răng cưa thì biết nó đã ăn thịt rất nhiều người. Dùng hình ảnh ví dụ này để nói bước tiến của người tu, người tiến được nhiều, công phu đầy đủ giống con cọp có vành tai như răng cưa, nên nói như khuyết của cọp.
Như đốm của ngựa, con ngựa hay nhất giỏi nhất thì chân trái hay chân phải phía sau có hai cái đốm. Nếu con ngựa có hai đốm trắng ở chân trái thì đó là ngựa giỏi, chạy nhanh như gió. Vì vậy ngài khuyên chúng ta phải có công phu như con cọp vành tai như răng cưa, như con ngựa đuổi gió. Công phu như vậy mới xứng đáng, không nên tưởng ngộ rồi là xong việc.
Dĩ hữu hạ liệt, bởi có kẻ hạ liệt, hạ liệt tức là tâm thấp kém. Bảo kỷ trân ngự, bảo kỷ là ghế báu, trân ngự tức là đồ nhà vua sang trọng. Đây lấy ý trong kinh Pháp Hoa, phẩm Tín Giải. Khi chàng cùng tử về quê thấy ông cha ngồi trên ghế báu mặc đồ sang trọng như vua bèn sợ hãi bỏ chạy. Cha biết đó là con mình, thấy cha sang trọng mà sợ bỏ chạy vì tâm hạ liệt. Ông trưởng giả từ bỏ ghế báu, cởi y phục sang trọng lại mặc áo rách, cầm đồ hốt phân, dẫn dụ con đến gần, nói chuyện nó mới chịu nghe. Dùng hình ảnh này để dụ cho sau khi được công đức viên mãn rồi, khởi tâm giáo hóa, gặp kẻ căn cơ hạ liệt thì phải bỏ những cái cao quý, dùng phương tiện thấp để giáo hóa họ, không phải một bề nói cao tột.
Chính chỗ này chúng ta thấy lối dạy mà gặp ai cũng bảo khán công án thoại đầu thì không hợp. Người căn cơ thấp thì dạy thấp, người căn cơ cao thì dạy cao, không phải gặp người nào cũng một bề chỉ dạy nói việc đó. Đây là phương tiện giáo hóa, vì vậy ngài Ngưỡng Sơn nói như có một tiệm tạp hóa bán đủ thứ, ai cần phân chuột thì bán phân chuột, ai cần vàng ròng thì bán vàng ròng. Chúng sanh có nhiều hạng, kẻ nghèo người giàu kẻ trung bình, tùy duyên mà giáo hóa. Nếu chỉ bán vàng ròng thì người mua vàng mới đến, còn những người nghèo làm sao tới. Đây cũng vậy, nếu gặp kẻ hạ liệt thì những gì sang quý mình phải ẩn đi, chỉ dùng những cái thấp, cái gần giáo hóa họ.
Dĩ hữu kinh dị, kinh dị tức là kinh ngạc lạ lùng, do có hạng người lạ thường thì ly nô bạch cổ, làm sao hiểu? Ly nô là mèo nhà, bạch cổ là trâu trắng, nếu có kẻ kỳ đặc thì mèo nhà, trâu trắng. Nghĩa là nếu gặp hàng đặc biệt thì chỉ dạy họ đói ăn mệt ngủ, như con trâu khát thì uống nước, đói thì gặm cỏ, con mèo cũng vậy, sống một cách trực tiếp không dùng tâm suy tính trí phán đoán hơn thua. Đây là chỗ sống với cái chân thật như ngây như ngô. Như vậy gặp hạng người kỳ đặc thì chỉ thẳng đến chỗ như đói ăn mệt ngủ. Gặp hạng tầm thường mà nói đói ăn mệt ngủ thì càng làm biếng thêm. Chỗ khéo léo của người xưa là dạy kỹ càng, gặp hạng nào phải dạy thế nào, không phải chỉ có một bề.
Nghệ dĩ xảo lực
Xạ trúng bách bộ
Tiễn phong tương trị
Xảo lực hà dự.
Nghệ dĩ xảo lực, nghệ tức là Hậu Nghệ trong truyền thuyết Trung Hoa, xảo là khéo, lực là sức, tức là có sức mạnh và có tài khéo léo. Tương truyền có một năm hạn hán thiêu đốt thế gian, trên bầu trời xuất hiện mười mặt trời, Hậu Nghệ bắn rụng chín mặt trời để cứu trái đất. Đó là thần thoại hóa một người bắn giỏi thời cổ đại. Xạ trúng bách bộ, bắn trúng trăm bước. Nếu có cái đích cách mình một trăm bước, bắn trúng cái đích đó thì phải có hai điều kiện: một là nhắm cho khéo, hai là sức mạnh. Sức mạnh và nhắm khéo bắn mới trúng đích, nên nói Nghệ dĩ xảo lực, xạ trúng bách bộ.
Tiễn phong tương trị, xảo lực hà dự, tiễn là mũi tên, phong là mũi nhọn, hai cái đó chọi nhau. Đây là chỗ quá kỳ diệu, không thể dùng sức hay tài khéo nữa. Như người này bắn mũi tên, người kia bắn mũi tên, hai mũi tên chạm nhau thì làm sao nhắm? Đó là chỗ diệu ngoài sức luyện tập. Vì thế nên nói xảo lực hà dự, cái khéo và cái mạnh không thể dự vào chỗ đó được.
Mộc nhân phương ca
Thạch nữ khởi vũ
Phi tình thức đáo
Ninh dung tư lự.
Đây là diệu dụng không thể nghĩ bàn, như hai mũi tên chọi nhau. Mộc nhân phương ca, thạch nữ khởi vũ, người gỗ vừa ca, gái đá đứng múa, người gỗ gái đá không tình thức mà kẻ thì ca người thì múa. Ngày xưa không có chuyện đó nhưng bây giờ có mấy chú rô-bốt bằng gỗ bằng sắt cũng hát múa được. Nhưng ở đây cốt ý nói đến chỗ không do tình thức, mà là chỗ diệu của người đạt đạo.
Vì thế nói Phi tình thức đảo, ninh dung tư lự, chẳng phải tình thức đến, đâu cho tư lự. Nhận được thể này không còn dùng tình thức, không cần suy nghĩ, diệu dụng tự phát. Chúng ta còn sống với tình thức nên điều gì tình thức hiểu biết qua thì có ai hỏi mới nói được, nếu chưa có hiểu biết thì nói không được. Đối với đức Phật, ngài không cần học thiên văn địa lý, nhưng vũ trụ vô lượng thế giới ngài đều biết rõ. Đây không do tình thức mà là diệu dụng không thể lường.
Thần phụng ư quân
Tử thuận ư phụ
Bất thuận phi hiếu
Bất phụng phi phụ.
Đây trở lại phần hồi hỗ trong Chánh trung thiên. Chánh là chỉ cho vua, thiên là chỉ cho thần. Hai cái đó hỗ tương với nhau, sự về lý, dụng về thể, nên nói Thần phụng ư quân, thần phụng nơi vua, thần là sự vua là lý. Tử thuận ư phụ, con thuận nơi cha, con là dụng cha là thể. Bất thuận phi hiếu, nếu không thuận không phải là hiếu. Bất phụng phi phụ, không phụng sự vua không phải là bề tôi, tức là không thể nhập chỗ chân thật cứu cánh. Thể nhập rồi thì cuộc sống hàng ngày ra sao?
Tiềm hành mật dụng
Như ngu như lỗ
Đản năng tương tục
Danh chủ trung chủ.
Tiềm hành mật dụng, tiềm hành là hành thầm, mật dụng là dụng kín. Như ngu như lỗ, như ngu như đần. Người đó bề ngoài thấy như ngu dốt mà có hành thầm, dụng kín ở trong, khi cần hiểu thì hiểu, cần nói chuyện gì cũng nói được. Chúng ta bây giờ thấy như sáng suốt lanh lẹ lắm nhưng khi đến chỗ cao siêu thì không nói được. Các ngài có diệu thể ẩn mật bên trong nên ứng cơ tiếp vật dễ dàng.
Đản năng tương tục, chỉ hay tương tục, nghĩa là nối tiếp luôn luôn cái đó không gián đoạn. Chúng ta tuy cũng có một hai phút được chỗ này, nhưng chỉ trong chốc lát, còn các ngài luôn mãi như vậy. Đó mới là Danh chủ trung chủ, gọi là chủ trong chủ.
Trọn một bài Bảo cảnh tam-muội chỉ dạy chúng ta đường hướng tu hành rất rõ ràng. Bắt đầu giới thiệu thể chân thật ấy không nằm ở ngôn ngữ. Làm sao thể nhập, thể nhập rồi làm sao để biết đúng sai, khi ứng dụng phải thế nào, đến đâu mới gọi là viên mãn. Đây là tinh yếu được chư Tổ tông Tào Động truyền nhau để làm mẫu mực trong sự tu hành.
Nếu chúng ta chỉ học sơ sài, không biết đầu đuôi gốc ngọn, tu cũng càn bướng nên khi được chút gì kỳ lạ thì cho là đủ là tốt, rồi bày ra nhiều chuyện. Đó là vì chúng ta không theo gương người trước, không hiểu được đường lối người xưa đã làm đã tu. Phải hiểu rõ chỗ này để không lầm lạc.
Sư lại bảo:
– Thời mạt pháp người nhiều càn tuệ, nếu cần nghiệm rõ chân ngụy có ba thứ sấm lậu (rỉ chảy). Một là Kiến sấm lậu, căn cơ không rời địa vị, rơi trong biển độc. Hai là Tình sấm lậu, dính mắc tại xoay về và bỏ đi, chỗ thấy chênh lệch khô khan. Ba là Ngữ sấm lậu, giỏi nghiên cứu mất chân tông, căn cơ mờ mịt trước sau, trí ô trọc trôi chảy. Đối ba thứ này, ngươi phải khéo biết.
Kiến sấm lậu, kiến là kiến chấp, cái thấy bị rơi lọt, chấp vào cái thấy hỏng của mình gọi là kiến sấm lậu. Người tu cho mình được cái này cái kia, chứng địa vị như thế như thế… thấy có chứng đắc là còn ở trong địa vị, rơi trong biển độc, không giải thoát. Đa số người tu thường có bệnh mong chứng đắc, đạt quả vị, nghe ai nói chứng quả A-la-hán thì thích lắm, đảnh lễ. Ngài gọi đó là rơi trong biển độc.
Hai là Tình sấm lậu, dính mắc tại xoay về và bỏ đi, xoay về tức là hợp, bỏ đi tức là ly. Tình sấm lậu là rơi lọt vào tình chấp hai bên, dính mắc bởi hai bên. Chỗ thấy chênh lệch khô khan, vì còn thấy bên này bên kia nên chấp thiên lệch, như chủ trương chết rồi còn mãi, thuộc về thường, chủ trương chết rồi mất hết thuộc về đoạn. Nghiêng về một bên không tròn đầy nên gọi là chênh lệch khô khan.
Ba là Ngữ sấm lậu, giỏi nghiên cứu mất chân tông, ngữ sấm lậu là rơi lọt vào danh ngôn tự ngữ, nghiên cứu thông suốt, diễn bày rành rẽ mà thiếu tu hành, căn cơ mờ mịt trước sau, trí ô trọc trôi chảy, căn cơ mê muội không rõ gốc ngọn, có trí mà trí ấy ô nhiễm lưu chuyển luân hồi.
Đây là lời dạy để nghiệm xét người có ba thứ bệnh. Chúng ta tu hiện giờ đang kẹt cái nào? Nếu nói tôi đang chứng quả vị gì, hoặc được đệ tam thiền, đệ tứ thiền… đó là kẹt về kiến sấm lậu. Hoặc nghĩ rằng mình tu thì sau khi chết rồi còn mãi để hưởng thụ, đó là kẹt về tình sấm lậu. Hoặc thông minh học hiểu rất giỏi nói thông suốt nhưng đó là trí ô trọc không thanh tịnh. Việc tu rất khó, có trí trong lặng thì mới thanh tịnh, dùng trí suy gẫm là ô trọc. Như gương sáng không động mà chiếu soi rõ ràng, không động mà sáng, còn dùng trí suy nghĩ mà hiểu, đó là trí ô trọc không phải trí sáng thanh tịnh.
Sư lại làm ba bài kệ cương yếu:
1- XAO XƯỚNG CÂU HÀNH
Kim châm song tỏa bị
Hiệp lộ ẩn toàn cai
Bảo ấn đương phong điệu
Trùng trùng cẩm phùng khai.
2- KIM TỎA HUYỀN LỘ
Giao hỗ minh trung âm
Công tề chuyển giác nan
Lực cùng vong tiến thối
Kim tỏa võng man man.
3- BẤT ĐỌA PHÀM THÁNH
Sự lý câu bất thiệp
Hồi chiếu tuyệt u vi
Bối phong vô xảo chuyết
Điện hỏa thước nan truy.
Dịch:
1- NHỊP XƯỚNG ĐỒNG HÀNH
Kim vàng đính lại mảnh
Trọn giấu kín đường may
Ấn báu tài chống gió
Lớp lớp gấm dệt bày.
2- XÍCH VÀNG BỦA ĐƯỜNG HUYỀN
Lẫn nhau sáng trong tối
Chuyển giác khó, công bằng
Sức tột quên lui tới
Xích vàng bủa khắp nơi.
3- CHẲNG RƠI PHÀM THÁNH
Sự lý đều chẳng mắc
Soi lại bặt u vi
Trái gió không khéo vụng
Điện chớp khó theo tầm.
Sư lại làm kệ rằng:
Đạo vô tâm hợp nhân
Nhân vô tâm hợp đạo
Dục thức cá trung ý
Nhất lão nhất bất lão.
Dịch:
Đạo không tâm hợp người
Người không tâm hợp đạo
Muốn biết ý trong đó
Một già một chẳng già.
Ngài làm ba bài kệ cương yếu:
1- XAO XƯỚNG CÂU HÀNH
Kim châm song tỏa bị
Hiệp lộ ẩn toàn cai
Bảo ấn đương phong diệu
Trùng trùng cẩm phùng khai.
97
Xao xướng câu hành, nhịp và hát đồng một lượt, tức là ngầm ý nói thể và dụng không tách rời. Kim châm song tỏa bị, thể và dụng như hai mảnh được cây kim may khâu liền lạc. Hiệp lộ ẩn toàn cai, là kim vàng hay tay thợ khéo giấu nên không thấy đường khâu, tức là thể và dụng hai cái đan trùm nhau, không tách rời như không thấy dấu nối.
Thể và dụng hay lý và sự phải trùm nhau, được như vậy thì Bảo ấn đương phong diệu, tức là ấn báu ngay đầu gió mà được nhiệm mầu. Trùng trùng cẩm phùng khai, tức là lớp lớp gấm tự mở tự bày ra. Người nào tu buổi đầu nhận được thể không rời dụng, ngay nơi thể khởi dụng hay ngay dụng mà trở về thể, hai cái song hành như một thì người đó sẽ có diệu dụng như ấn báu để đối với gió lành, hay là bao nhiêu lớp gấm đều bày ra. Đó là bước đầu.
2- KIM TỎA HUYỀN LỘ
Giao hỗ minh trung âm
Công tề chuyển giác nan
Lực cùng vong tiến thối
Kim tỏa võng man man.
Giao hỗ minh trung ám. Giao hỗ là xen lẫn nhau, cái này với cái kia xen lẫn, minh trung ám là trong sáng có tối. Chánh là tối Thiên là sáng. Trong chánh có thiên và ngược lại, hai cái giao xen lẫn nhau, sự lý không thể tách rời hay thể dụng không thể tách rời.
Công tề chuyển giác nan, nghĩa là công thì bằng mà chuyển giác khó. Người tu đến đây công phu đã bình ổn nhưng chuyển lên giác hết sức khó. Như kinh Lăng-nghiêm nói đến giai đoạn phá hành ấm. Người tu phá hành ấm rồi thấy tâm mình dường như lặng lẽ, nhưng còn dòng lưu chú bên trong mà không biết, đến chỗ này thì chìm lặng ở đó, muốn vượt qua không nổi, phải nhờ chư Phật chư Bồ-tát gia bị mới qua được. Vì thế nói công phu đến đây rồi chuyển lên giác rất khó! Nhà thiền thường gọi là đến đầu sào trăm trượng phải nhảy ra khỏi mới được viên mãn. Trong mười mục chăn trâu thì đây tương đương mục thứ tám, còn một vòng tròn, không trâu không chăn. Muốn tiến lên thật rất khó, vì không còn chỗ dụng công.
Lực cùng vong tiến thối, sức cùng rồi tiến không được mà thối cũng không được, lên tới đầu sào rồi không lẽ tuột xuống, mà bước qua nữa, chỗ nào bước? Kim tỏa võng man man, xích vàng phủ bốn bề. Đó là lúc bị vòng xích vàng phủ chụp chung quanh. Tuy xích vàng là đẹp là quý nhưng bị chết trong chỗ quý đó. Chư Tổ thường nói chìm trong biển vô sanh, chỗ hết sức khó là chỗ này.
3- BẤT ĐỌA PHÀM THÁNH
Sự lý câu bất thiệp
Hồi chiếu tuyệt u vi
Bối phong vô xảo chuyết
Điện hỏa thước nan truy.
Sự lý câu bất thiệp, sự lý đều chẳng dính mắc. Đến chỗ này là không còn phân chia phàm thánh, không còn nói sự lý, nghĩa là sự lý đã dung thông, phàm thánh đã một nhà. Trong kinh thường nói “tâm, Phật, chúng sanh, tam vô sai biệt”, đây không còn riêng cách nữa. Hồi chiếu tuyệt u vi, soi về bặt u vi, u vi tức là tối tăm nhỏ nhiệm còn gọi là vô minh vi tế, lúc này dứt bặt không còn nữa.
Bối phong vô xảo chuyết, ngược gió không khéo vụng. Lúc này không cần dụng công khéo hay vụng, vẫn đi ngược với gió lục trần, như gió thổi sau lưng không can dự. Điện hỏa thước nan truy, lửa chớp sáng khó đuổi kịp. Nghĩa là lửa của lằn chớp chợt nháng lên thì khó đuổi theo, khó tìm kiếm nó được. Ý nói đến chỗ này diệu dụng nhanh lẹ như lửa xẹt, không thể lường, không thể lấy tâm để suy xét. Đây là bước cuối cùng của người tu.
Sư lại làm kệ rằng:
Đạo vô tâm hợp nhân
Nhân vô tâm hợp đạo
Dục thức cá trung ý
Nhất lão nhất bất lão.
Dịch:
Đạo không tâm hợp người
Người không tâm hợp đạo
Muốn biết ý trong đó
Một già một chẳng già.
Đạo vốn không tâm, bởi không tâm nên hợp với người, người muốn hợp với đạo cũng phải không tâm mới hợp. Chúng ta tu muốn trở về với đạo, phải không tâm mới trở về hợp đạo. Không tâm thế nào? Buông bỏ tất cả suy tư phàm thánh, dấy nghĩ lăng xăng… Nếu còn có tâm so đo tức là không hợp đạo.
Muốn biết được ý này thì một già một không già. Vì chỗ đạo hợp với người, người thì già còn đạo không già. Đây ý chỉ chỗ đạo không già là không bị vô thường. Ngài đã chỉ rõ không giấu giếm. Chỉ ra đạo không già, không bị sanh diệt chi phối, đạo ấy hợp với người vô tâm. Muốn được đến đó phải thôi dứt tâm sanh diệt thì tự nhiên ứng hợp.
Sư bệnh, sai Sa-di báo tin Vân Cư hay. Sư dặn Sa-di:
– Vân Cư hoặc hỏi Hòa thượng an vui chăng, ngươi chỉ nói “con đường Vân Nham sắp dứt”. Ngươi nói xong phải đứng xa, e y đánh ngươi.
Sa-di lãnh mệnh đi báo tin, nói chưa dứt lời đã bị Vân Cư đánh một gậy.
Ngài sắp tịch, bảo Sa-di báo cho Vân Cư biết, chỉ nói rằng “con đường Vân Nham sắp dứt”, bảo nói rồi thì phải đứng xa, coi chừng y đánh ngươi. Sa-di vâng lời đi báo tin, vừa nói xong liền bị ăn đòn. Tại sao?
Bởi vì Vân Nham tịch, nhưng con đường Vân Nham tức là truyền thừa của Vân Nham không có dứt, nếu nói dứt thì không người tiếp nối. Ngài Động Sơn Lương Giới kế thừa ngài Vân Nham và truyền pháp rất nhiều đệ tử, trong đó có Vân Cư Đạo Ưng. Nghe nói con đường Vân Nham dứt, ngài Vân Cư liền đánh. Lời nói của Động Sơn cũng là dọ thử đồ đệ có thấy biết được chỗ tâm truyền của mình, có thể kế thừa tiếp nối hay không. Nếu ngang đó mà làm thinh thì chắc con đường dứt; đánh cho Sa-di một gậy thì biết con đường còn tiếp nối.
Ngài biết Sa-di nói vậy là ăn đòn, nên bảo nói rồi phải tránh xa. Vân Cư thấy rõ chỗ này nên ra tay liền. Nếu chúng ta nghe báo tin như thế thì thế nào? Lo chùi nước mắt, không biết phản ứng gì hết. Đạo lý của người xưa rất thâm sâu, một lời nói sai là trị liền, không như chúng ta nghe nói thì cứ sống theo tình, không thấy được chỗ cao siêu đó.
Sắp viên tịch, Sư bảo chúng:
– Ta có tiếng tăm ở đời, người nào vì ta trừ được?
Cả chúng đều không đáp được, lúc đó có Sa-di ra thưa:
– Xin pháp hiệu Hòa thượng.
Sư bảo:
– Tiếng tăm của ta đã hết.
Có vị tăng hỏi:
– Hòa thượng bệnh lại có cái chẳng bệnh chăng?
Sư đáp:
– Có.
Tăng thưa:
– Cái chẳng bệnh lại thấy Hòa thượng chăng?
Sư bảo:
– Lão tăng xem y có phần.
Tăng thưa:
– Chưa biết Hòa thượng làm sao xem y?
Sư bảo:
– Khi lão tăng xem chẳng thấy có bệnh.
Sư lại hỏi Tăng:
– Lìa cái hình hài rỉ chảy này, ngươi đến chỗ nào thấy ta?
Tăng không đáp được.
Sư bèn làm bài kệ:
Học giả hằng sa vô nhất ngộ
Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ
Dục đắc vong hình dẫn tung tích
Nỗ lực ân cần không lý bộ.
Dịch:
Kẻ học hằng sa không người ngộ
Lỗi tại tìm y trên ngữ ngôn
Muốn được quên thân bặt dấu vết
Ân cần nỗ lực bước trong không.
Sư sai cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Đại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo:
– Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật là tu hành chân chánh. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?
Sư bảo chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường. Chúng vẫn luyến mến quá, kéo dài đến ngày thứ bảy. Khi thọ trai, Sư cũng tùng chúng thọ. Thọ trai xong, Sư bảo chúng:
– Nhà tăng không việc, sắp đến giờ ra đi, chớ làm ồn náo.
Sư vào trượng thất ngồi yên mà tịch.
Bấy giờ là tháng ba năm thứ mười niên hiệu Hàm Thông nhà Đường (869). Sư thọ 63 tuổi, được 42 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ngộ Bổn thiền sư.
– Ngài sắp tịch, bảo chúng: Ta có tiếng tăm ở đời, người nào vì ta trừ được? Cả chúng đều không đáp được, lúc đó có Sa-di ra thưa: Xin pháp hiệu Hòa thượng. Ngài liền bảo: Tiếng tăm của ta đã hết.
Chúng ta thấy người xưa quá khôn ngoan, ngài nói ta có danh tiếng ở đời, tức là nổi tiếng ai cũng nghe. Động Sơn thời ấy năm sáu trăm tăng chúng không phải thường. – Bây giờ ta muốn dẹp cái tiếng tăm đó, ai dẹp giùm ta đây? Không ai đáp được. Nếu là mấy chú thì đáp sao? Đừng bắt chước ông Sa-di này. Sa-di rất khôn, đứng ra xin pháp hiệu Hòa thượng. Như vậy bao nhiêu danh tiếng đồn đãi là vì cái gì? Như nói vị Bồ-tát này tên gì, vị Bồ-tát kia tên gì… đó là danh tiếng. Tiếng tăm từ danh xưng mà có, xin pháp hiệu tức là mất tên, mất tên rồi thì tiếng tăm không còn. Nên ngài bảo, tiếng tăm của ta đã hết.
Câu chuyện đối đáp rất thường mà cũng rất lý thú. Hỏi: Ngài bệnh mà có cái không bệnh chăng? Đáp: Có. Chúng ta khi bệnh có thấy cái không bệnh chăng? Tại sao cứ sống với cái bệnh mà không sống với cái không bệnh? Lại hỏi: Cái không bệnh thấy Hòa thượng chăng? Ngài đáp: Ta thấy y chứ y không thấy ta. Người ngộ đạo hay đạo ngộ người? Người ngộ đạo thì ta thấy y chứ y không thấy ta, tức là dụng trở về thể, nếu không có thể thì không khởi dụng. Lại hỏi: Hòa thượng xem y làm thế nào? Ngài nói: Khi lão tăng xem chẳng thấy có bệnh. Bệnh là thân tứ đại bệnh chứ cái đó không bệnh.
Ngài lại hỏi tăng: Lìa cái vỏ lủng này, ngươi đến chỗ nào cùng ta thấy nhau? Tăng không đáp được. Nghĩa là khi thân này hoại rồi thì ta với ngươi gặp nhau ở đâu? Câu hỏi đó làm tăng trả lời không được.
Ngài làm bài kệ:
Học giả hằng sa vô nhất ngộ
Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ
Dục đắc vong hình dẫn tung tích
Nỗ lực ân cần không lý bộ.
Hai câu đầu là quở học giả nhiều như số cát sông Hằng mà không có một người ngộ. Tại sao không ngộ? Quá tại tầm tha thiệt đầu lộ, lỗi tại tìm y trên đầu lưỡi. Kẻ ấy ở chỗ nào? Không biết chỗ làm sao nói. Kẻ ấy làm gì có chỗ nơi, có tung tích để chỉ ra. Vì thế mắc kẹt trong lời nói của các vị Hòa thượng, tìm kiếm nơi lời làm sao thấy được mà đối đáp.
Hai câu sau là dạy: Dục đắc vong hình dẫn tung tích, muốn được quên thân mất dấu vết. Nỗ lực ân cần không lý bộ, cố gắng siêng năng đi trong không. Làm sao đi trong không? Tức là đừng dính bên này, bên kia… tất cả không dính, chỗ khác gọi là “nhất thiết bất thọ”, không dính tất cả chỗ thì mới có thể đi tới đó được, mới có thể gặp người không lủng chảy. Lời của ngài dạy rất rõ ràng thấu đáo.
Đến giờ thị tịch, Sư sai cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Đại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo: Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật là tu hành chân chánh. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?
Ngài ngồi tịch an nhiên, đại chúng khóc quá, thấy có vẻ phiền, ngài mở mắt quở: Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật là tu hành chân chánh. Chúng ta có tu hành chân chánh không? Hai xấp vải, một đẹp một xấu, người nào gặp vải xấu thì có vẻ buồn, giả sử không cãi mà buồn, đó là dính mắc nơi vật. Còn dính mắc những cái đó thì chưa phải người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật, chưa thể tự tại. Đối với ngài thì sống mệt thích chết. Chết là cái người ta thích mà còn khóc lóc thương xót làm chi. Người còn sợ chết khổ, thương giùm là phải, còn người thích chết đến đó khỏe mà còn thương người khỏe sao?
Ngài quở rồi bảo chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường, đãi chúng tiệc chay ngu si, tu hành bao nhiêu năm mà chưa thấy đạo, còn ngu lắm. Trong bảy ngày ngài cũng vẫn ăn uống như thường, ngày thứ bảy xong rồi từ giã chúng nói: Nhà tăng không việc, sắp đến giờ ra đi chớ làm ồn náo. Ngài vào trượng thất ngồi yên, tịch. Ngài ra đi rất thảnh thơi, muốn đi là đi, muốn ở là ở. Sở dĩ ngài tu hành đến mức cao siêu như vậy là nhờ cái gì?
Tôi đọc ở bản khác có một đoạn ghi rằng: Một hôm ở trong chúng, ngài đi xuống nhà bếp thăm, cũng như tôi lâu lâu xuống nhà bếp ngó qua. Hôm đó thấy mấy thầy làm bún, gạo đổ lang lệ dưới đất, ngài quở: Tu hành phải tiết kiệm của đàn-na thí chủ, mấy ông hoang phí như vậy là phải tội! Ngài quở xong thì thấy có một người quỳ ở trước mặt, ngài hỏi: Ông là ai? Bạch ngài, con là thổ địa ở đây. Hỏi: Ông tới đây có chuyện gì? Bạch ngài, ba mươi năm nay con muốn ra mắt ngài mà tìm không thấy, hôm nay con mới thấy ngài. Tại sao hôm nay thấy? Vì ngài khởi tâm rầy chúng nên mới thấy, còn ba mươi năm tìm không ra. Ngài như vậy nên sanh tử tự tại, chúng ta thì khởi tâm liên miên, đi vô đi ra thổ địa cũng thấy, giờ ngồi thiền mà cũng thấy giở mùng chạy. Có khi chạy tới tương lai, có khi chạy về quá khứ, có khi chạy về Sài Gòn… không có gì tự do tự tại. So với sự tu hành của ngài không bằng một góc.
Ngài Động Sơn có những lá thư gửi về nhà và lá thư của mẹ ngài gửi lại cho ngài, đọc rất cảm động. Đây là thư thứ nhất ngài gửi về nhà:
Được nghe, chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân, muôn loài sinh trưởng thảy nhờ trời đất che chở. Cho nên, không có cha mẹ thì chẳng sanh, không có trời đất thì chẳng trưởng, thảy nhờ ơn dưỡng dục, đều thọ đức chở che.
Song mà tất cả hàm thức, vạn tượng hình nghi đều thuộc vô thường chưa lìa sanh diệt. Tuy ơn bú sú nặng nề, công nuôi dưỡng sâu thẳm, nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng trọn khó đáp đền, dùng máu thịt dâng hiến cũng không được bền chắc. Trong Hiếu Kinh nói: “Dù một ngày giết đôi ba con vật để cúng hiến cha mẹ vẫn là bất hiếu. Vì sẽ lôi nhau vào vòng trầm luân chịu muôn kiếp luân hồi.” Muốn đền ơn sâu dày của cha mẹ đâu bằng công đức xuất gia. Vì sẽ cắt đứt dòng sông ái sanh tử, vượt qua khỏi biển khổ phiền não, đáp ơn cha mẹ ngàn đời, đền công từ thân muôn kiếp, bốn ơn ba cõi thảy đều đền đáp. Kinh nói: “Một đứa con xuất gia, chín họ đều sanh lên cõi trời.” Con thệ bỏ thân mạng đời này, chẳng trở về nhà, đem căn trần muôn kiếp chóng tỏ sáng Bát-nhã.
Cúi mong cha mẹ mở lòng hỷ xả, ý chớ trông mong, học theo gương phụ vương Tịnh Phạn và thánh mẫu Ma-da. Hẹn đến sau kia sẽ gặp nhau trong hội Phật, còn hiện nay cam chịu lìa nhau. Con chẳng phải quên ơn dưỡng dục, chỉ vì thời giờ chẳng đợi người. Cho nên nói: “Thân này chẳng thẳng đời này độ, lại đợi đời nào độ thân này?” Xin cha mẹ lòng chớ nhớ mong.
Tụng rằng:
Vị liễu tâm nguyên độ số xuân
Phiên ta phù thế mạn thuân tuần
Cơ nhân đắc đạo không môn lý
Độc ngã yêm lưu tại thế trần
Cân си xích thư từ quyến ái
Nguyện minh đại pháp bảo từ thân
Bất tu sái lệ tần tương ức
Thi tự đương sơ vô ngã thân.
Dịch:
Chưa rõ nguồn tâm trải mấy xuân
Thương thay mê mãi luống bâng khuâng.
Cửa không đã lắm người được đạo
Riêng kẻ thô hèn mãi phong trần.
Viết lá thư này từ cha mẹ
Nguyện thông đại pháp báo từ thân.
Không nên rơi lệ nhiều thương nhớ
Xem tự buổi đầu con không thân.
Đây là lá thư thứ hai viết về cho mẹ:
Con từ lìa cha mẹ chống tích trượng dạo phương Nam, tháng ngày trôi qua tính đã mười năm, trên đường con đã trải qua muôn dặm.
Cúi mong mẹ đem hết tâm ý hướng về Phật pháp, đừng ôm ấp tình ly biệt, chớ đứng tựa cửa trông con. Mọi việc trong nhà tùy thời sắp đặt, việc nhiều thì phiền não thêm nhiều. Phần anh Cả thì nên tận tâm hiếu thuận, học đòi gương Vương Tường nằm giá, còn tiểu đệ thì hết sức bắt chước theo Mạnh Tông khóc măng. Phàm người ở đời thì phải biết tu thân hiếu đễ mới hợp lòng trời. Kẻ làm tăng trong cửa Không thì mộ đạo tham thiền để đáp ơn cha mẹ. Ngày nay hai đường xa cách muôn sông ngàn núi, mượn giấy mực viết vài hàng để tỏ bày tấc dạ.
Tụng rằng:
Bất cầu danh lợi bất cầu nho
Nguyện nhạo không môn xả tục đồ
Phiền não tận thời sầu hỏa diệt
Ân tình đoạn xứ ái hà khô
Lục căn giới định hương phong dẫn
Nhất niệm vô sanh huệ lực phò
Vị báo Bắc đường hưu trướng vọng
Thí như tử liễu thí như vô.
Dịch:
Chẳng cầu danh lợi chẳng cầu nho
Ưa thích cửa Không bỏ thế đồ
Phiền não hết rồi lửa sầu tắt
Ân tình dứt bặt sông ái khô.
Sáu căn giới định gió thơm cuốn
Một niệm vô sanh sức huệ phò
Xin nhắc mẹ già thôi trông ngóng
Ví con đã chết, ví như không.
Tâm hồn của ngài Động Sơn như thế. Khi ra đi là dứt khoát từ đó về sau không về, quyết đạt đạo để đền ơn cha mẹ, ngài xin mẹ đừng trông con, xem như con không có… như vậy có phải là bất hiếu không? Chúng ta dám viết như vậy không? Thư của mẹ ngài trả lời thật là cảm động:
Mẹ cùng con đời trước có nhiều nhân duyên mới kết thành tình mẹ con. Kể từ ôm thai trong lòng, sớm chiều cầu thần khấn Phật nguyện sanh được con trai. Thai bào đủ tháng mạng sống như chỉ mành, sanh con được toại nguyện quý như châu bảo. Không nề sự hôi hám của phẩn uế, chẳng ngại sự bú sú nhọc nhằn. Con vừa thành người dắt đến trường lo học tập. Hoặc khi con đi chơi về trễ, mẹ đứng tựa cửa trông mong.
Con viết thư về quyết xin xuất gia. Cha đã mất, me già, anh yếu, em nghèo nàn, mẹ trông cậy vào ai? Con có ý bỏ mẹ, chứ mẹ nào có tâm quên con. Từ khi con cất bước tha phương, ngày đêm mẹ thường rơi lệ! Khổ thay! Khổ thay!
Nay con lại thệ chẳng về quê, mẹ cũng tùy chỉ nguyện của con. Mẹ không dám mong con như Vương Tường nằm giá, Đinh Lan khắc cây, chỉ mong con như tôn giả Mục-liên độ mẹ thoát khỏi trầm luân tiến lên Phật quả. Nếu mẹ không như vậy e phải có tội. Con cần phải giải quyết cho xong.
Chúng ta thấy ở ngài có ba điểm đặc biệt. Điểm thứ nhất là ngay từ lúc còn bé đã có tinh thần nhận thức, việc nào đúng mới tin, không đúng không tin. Dù tụng kinh Phật mà kinh nói không nhãn nhĩ tỹ thiệt thân ý, sờ thấy mình có mắt tai mũi lưỡi, nhất định không tin, phải hỏi thầy. Đó là tinh thần không tự mãn, không tuân phục nếu không đúng.
Điểm thứ hai, từ tinh thần đó đến tinh thần dứt khoát, một đi không trở về. Bao nhiêu tâm niệm dồn hết trong sự tu, không nghĩ rằng tháng bảy tháng tám về thăm má hay về ăn giỗ. Tâm của ngài lúc nào cũng có một việc; chúng ta thì vừa nghĩ về nhà, sửa soạn ba bốn ngày ngủ không được, về rồi trở lại chùa cũng cả tuần lễ chưa ổn, mất bao nhiêu thì giờ. Ngài chí quyết nhất tâm tu phải đến nơi, không nghĩ việc gì khác, dù là người thân nhất. Con người dứt khoát, nhất quyết như vậy thật là gan dạ cùng mình, thái độ đó làm cho ngài tiến đến nơi đến chốn.
Điểm thứ ba là tâm từ bi, khi thấy đạo rồi thì tạo phương tiện để dẫn dắt người sau. Lập ngũ vị quân thần, tạo phương tiện để dẫn dắt người khiến cho ngọn đèn chánh pháp nối tiếp không cùng.
Nơi ngài có đủ ba yếu tố ấy, nên tông Tào Động đến giờ lưu truyền không dứt, nhất là tại Nhật Bản. Từ đời ngài đến chúng ta hơn một ngàn năm mà dòng mạch vẫn còn. Người xưa làm được việc lớn phải có những yếu tố đó. Chúng ta học gương xưa để hiểu rõ. Đôi khi cứ nghĩ về thăm cha mẹ là hiếu thảo, đã tu làm không ra tiền, không có gì hết thì hiếu thảo cái gì, về chỉ thêm tốn cơm tốn gạo, thăm lếu lếu rồi cũng chạy đi, có làm gì được? Lăng xăng ít bữa nhớ nhà nhớ cha mẹ, trong đạo làm không tròn, ngoài đời cũng không xong, đời đạo đều không ra gì hết, đó là bệnh. Đây là tấm gương dứt khoát, làm việc gì xong việc đó, không lừng chừng. Làm xong là đền đáp tứ ân, còn nửa chừng không được gì, tu không thành, đời cũng không xong. Hiếu thảo có làm đồng xu nào được đâu mà nuôi cha nuôi mẹ, về chỉ tốn cơm, nói dóc rồi đi, tu cũng không xong vì đi tới đi lui hoài thì giờ đâu mà tu? Rồi cũng không ra gì!
Phải tập ý chí người xưa quyết chiến là phải thắng chứ không thua, không thất bại. Nếu là cha mẹ, thầy tổ, khả dĩ tôi còn cho về thăm, đến những vị sư thúc sư bá rồi Phật tử đàn-na thí chủ. càng thêm bận rộn mất thì giờ. Không tu thì thôi, biết tu thì phải gan dạ quyết tử không lôi thôi, nếu lừng chừng qua ngày qua tháng uống một đời. Chúng ta học gương người xưa là học những việc như thế, nên khi đọc những bức thư này tôi thấy thực là thiết yếu, đem ra dạy thêm cho đại chúng biết để ứng dụng.
Sư ở chỗ Nam Tuyền đang rây bột. Nam Tuyền thấy hỏi:
– Làm gì?
Sư đáp:
– Rây bột.
Nam Tuyền hỏi:
– Ông lấy tay rây hay chân rây?
Sư thưa:
– Thỉnh Hòa thượng nói hộ.
Nam Tuyền bảo:
– Hãy ghi nhớ rõ ràng đợi sau gặp người tác gia sáng mắt chỉ kể lại như thế.
Thiền sư Tăng Mật, có chỗ gọi là Mật sư bá, vì ngài với Động Sơn là huynh đệ, đệ tử ngài Động Sơn rất đông, thường gọi ngài là Sư bá. Vì vậy sách sử ghi là Mật sư bá.
Đây là chỗ đối đáp lúc hai ngài học với ngài Nam Tuyền. Tăng Mật rây bột, ngài Nam Tuyền hỏi: Làm gì? Tăng Mật thưa: Rây bột. Nam Tuyền hỏi: Ông lấy tay rây hay lấy chân rây? Tăng Mật trả lời: Thỉnh Hòa thượng nói hộ. Nam Tuyền nói: Hãy ghi nhớ rõ ràng, đợi sau gặp người tác gia sáng mắt chỉ kể lại như thế.
Người xưa lúc nào cũng ở trong đạo lý, khi nói rây bột thì ngài Nam Tuyền liền hỏi: tay rây hay chân rây? Đó là giương bẫy cho mắc kẹt hai bên. Nếu trả lời là tay cũng kẹt, trả lời là chân cũng kẹt. Tăng Mật biết được cái bẫy đó nên phá: Thỉnh Hòa thượng nói hộ, thỉnh nói hộ tức là dẹp cái bẫy. Ngài Nam Tuyền ngang đó dừng thì xem như thua, nên nói một câu gượng: việc này để đem ra trình với bậc tác gia sáng mắt. Nói để cho qua không quan trọng nữa.
Người xưa một câu nói mang hai ý, một là ngay chỗ đang sống đang làm, hai là đạo lý thầm bên trong.
Sư cùng Động Sơn qua suối. Động Sơn bảo:
– Chớ lầm hạ chân.
Sư bảo:
– Lầm tức qua chẳng được.
Động Sơn bảo:
– Việc chẳng lầm thì sao?
Sư bảo:
-Cùng Trưởng lão qua suối.
Khi ngài cùng Động Sơn qua suối, Động Sơn bảo: Chớ lầm hạ chân. Tức là chớ bước xuống vũng lầy mắc kẹt, đó là chuyện thực mà cũng có ý hạ chân là hạ thủ công phu, coi chừng ông tu đừng lầm. Ngài trả lời rất hay: Lầm tức qua chẳng được. Nếu bước lầm sụp xuống hố, mắc kẹt ở dưới làm sao qua suối được, tôi qua được tức là không lầm. Cũng ngụ ý nếu tu lầm thì tôi không thể đi chung với huynh được.
Ngài Động Sơn hỏi lại: Việc chẳng lầm thì sao? Ông nói không lầm thì việc đó ra sao? Trả lời: Cùng Trưởng lão qua suối. Không lầm thì cả hai cùng qua, nếu lầm tôi mắc kẹt lại, không lầm nên được qua suối. Đây là cái khéo của người xưa, nói như chuyện chơi mà đạo lý thâm trầm trong đó.
Một hôm Sư cùng Động Sơn cuốc cỏ trong vườn trà. Động Sơn ném cây cuốc xuống đất bảo:
– Hôm nay tôi mệt không còn một chút khí lực.
Sư bảo:
– Nếu không khí lực làm sao nói được như thế?
Động Sơn bảo:
– Huynh cho rằng có khí lực là phải chăng?
Một hôm ngài Tăng Mật cùng ngài Động Sơn cuốc vườn trà, Động Sơn quăng cuốc nói: Hôm nay tôi mệt không còn một chút khí lực. Ngài liền hỏi: Nếu không khi lực làm sao nói được như thế? Có hơi sức mới nói, không còn khí lực thì làm gì nói được? Ngài Động Sơn bẻ lại một cách khéo: Huynh cho rằng có khí lực là phải chăng? Chỗ đó là chỗ khí lực sao? Tăng Mật không đáp được.
Sư cùng Động Sơn đi núi, chợt thấy một con thỏ trắng chạy qua. Sư khen:
– Giỏi thay!
Động Sơn hỏi:
– Cái gì?
Sư bảo:
– Rất giống bạch y bái tướng. Động Sơn nói:
– Già cả rồi mà còn nói lời ấy.
Sự hỏi:
– Huynh thì sao?
Động Sơn nói:
– Bậc trâm anh thời xưa tạm thời mất hồn.
Hai huynh đệ đi núi, thấy con thỏ trắng chạy ngang, ngài khen: Giỏi thay! Động Sơn hỏi: Cái gì? Nói: Rất giống bạch y bái tướng. Ngài Động Sơn quở: Già cả rồi mà còn nói lời ấy. Sư hỏi: Huynh thì sao? Đáp: Bậc trâm anh thời xưa tạm thời mất hồn.
Những câu này mới nghe rất khó hiểu. Ngài Tăng Mật nói đúng hay sai mà bị ngài Động Sơn quả?
Thấy con thỏ bạch chạy ngang khen, tại sao? Thỏ bạch tượng trưng cho trắng, là Thiên, là dụng công tu hành. Việc tu hành giống như bạch y bái tướng, bạch y là hàng dân thường, bái tướng là được cử làm soái tướng, được thăng chức cao, như vậy là còn kẹt ngôi vị, nên bị Động Sơn quở, già cả rồi mà còn nói ra lời ấy. Tăng Mật hỏi, huynh thì sao? Động Sơn nói, bậc trâm anh thời xưa tạm thời mất hồn. Bậc trâm anh là chỉ hàng tôn quý, mất hồn là suy thoái, mất vị trí. Nghĩa là chỗ này không còn ngôi vị, phải thoát hết ngôi vị mới được. Câu chuyện này rất hay, cho thấy công phu của ngài Tăng Mật chưa đến.
Sư đang may đồ. Động Sơn thấy, hỏi:
– Làm gì?
Sư đáp:
– May đồ.
Động Sơn hỏi:
– Việc may đồ thế nào?
Sư bảo:
– In tuồng may may.
Động Sơn bảo:
– Hai mươi năm đồng hành, nói ra lời ấy đâu có được công phu.
Sự hỏi:
– Huynh nói sao?
Động Sơn nói:
– Đạo lý này như đại địa phát hỏa.
Sự hỏi:
– Chỗ trí thức đã thông đều có dấu vết, chỗ thẳng tắt thỉnh huynh một lời.
Động Sơn bảo:
– Sư bá ý đâu được chấp công.
Sư nhân đây đốn giác, lời nói phi thường.
Ngài may đồ. Động Sơn hỏi: Việc may đồ thế nào? Ngài trả lời: In tuồng may may. Cũng hay chứ! May thì chỉ biết may may. Động Sơn quở: Hai mươi năm đồng hành, nói ra lời ấy đâu có được công phu. Nghĩa là hai mươi năm anh cùng tôi tu mà anh nói vậy là công phu chưa đến. Nghe một câu nói mà biết công phu chưa tới, chưa tới ở chỗ nào? Thấy còn may may tức là còn dụng công, chưa thoát được. Tăng Mật hỏi: Huynh thì nói thế nào? Động Sơn đáp: Đạo lý này như đại địa phát hỏa. Nghĩa là cháy rụi không còn một mảy may dụng công mới được, còn thấy một chút công phu là chưa tới.
Tăng Mật hỏi lại: Chỗ trí thức đã thông đều có dấu vết, còn chỗ thẳng tắt thỉnh huynh nói cho một lời để thoát được. Động Sơn bảo: Sư bá ý đâu được chấp công. Vì ông còn chấp công nên qua không được. Ngay đó Tăng Mật lãnh hội dứt hết chấp công, từ đây ứng xử linh động.
Sư cùng Động Sơn qua cây cầu khỉ, Động Sơn qua trước rồi, giở cây cầu lên bảo:
– Qua đây! Qua đây!
Sư gọi:
– Xà-lê Giới!
Động Sơn bèn hạ cây cầu xuống.
Hai huynh đệ qua cầu khỉ, Động Sơn qua trước rồi giở cây cầu lên bảo: Qua đây! Qua đây! Cây cầu mà giở tuốt làm sao qua? Tăng Mật gọi: Xà-lê Giới! Động Sơn liền hạ cầu xuống. Tại sao? Đây là chỗ thử thách của ngài Động Sơn. Vì người tu đến chỗ thấu hiểu rồi thường nghĩ tới thần thông, nên giở cầu để xem ngài Tăng Mật làm sao qua được. Nếu người có thần thông thì vén áo bước trên nước mà đi qua. Nhưng đây không nghĩ đến việc đó, chỉ thực tế là kêu tên ngài Động Sơn, tôi chỉ là lẽ thực không có thần thông. Động Sơn hạ cầu xuống, đúng là chỗ huynh đệ cùng qua.
Bùi Hưu hỏi chúng tăng:
– Cúng dường Phật có đến ăn chăng?
Chúng tăng đáp:
– Như Đại phu tế gia thần.
Bùi Hưu đem câu này đến hỏi Vân Nham. Vân Nham đáp:
– Có bao nhiêu thức ăn đồng thời đem đến.
Vân Nham lại hỏi Sư:
– Đồng thời đem đến, sau làm gì?
Sư đáp:
– Gom dẹp chén bát.
Vân Nham gật đầu.
Bùi Hưu hỏi chúng tăng: Cúng dường Phật có đến ăn chăng? Chúng tăng đáp: Như Đại phu tế gia thần. Tức là tế thì cứ tế, gia thần thổ địa ăn hay không chẳng thành vấn đề. Bùi Hưu đem câu đó kể lại cho ngài Vân Nham nghe. Vân Nham đáp thay: Có bao nhiêu thức ăn đồng thời đem đến. Vân Nham lại hỏi Sư: Đồng thời đem đến, sau làm gì? Sư trả lời: Gom dẹp chén bát.
Như vậy thì chuyện đến hay không đến không thành vấn đề, khi cúng thì cứ cúng. Đây nói, bao nhiêu thức ăn đem hết lên, là ý gì? Nói cúng Phật, Phật là chỉ cho thể, muốn trở về thể là toàn dụng nhập thể, nên bao nhiêu thức ăn đồng đem đến. Khi dụng nhập thể rồi thì sau đó thế nào? Đói ăn, khát uống xong rồi gom chén bát, đó là chuyện tự nhiên không có gì lạ. Ngài Vân Nham hài lòng với câu trả lời của ngài Tăng Mật.
Sau, Sư về trụ tại Thần Sơn thuộc Đàm Châu. Có vị tăng đến hỏi:
– Thế nào không có chỗ nghe mới là nghe kinh?
Sư bảo:
– Ghét hội chăng?
Tăng thưa:
– Cần hội.
Sư bảo:
– Chưa hiểu nghe kinh.
Tăng hỏi:
– Tại sao Nhất địa chẳng thấy Nhị địa?
Sư bảo:
– Ông chẳng lầm ư? Ông là địa nào?
Khi ngài Tăng Mật làm thầy độ chúng, có vị tăng hỏi: Thế nào không có chỗ nghe mới là nghe kinh? Ngài hỏi: Ghét hội chăng? Hội là hiểu, ông ghét hiểu ư? Tăng nói: Cần hội. Ngài bảo: Chưa hiểu nghe kinh. Tăng hỏi, không có chỗ nghe mới là nghe kinh. Nếu không có chỗ nghe thì không có chỗ hiểu, không nghe không hiểu mới là nghe kinh chân thật. Nếu nói ghét hiểu thì cũng trúng, vì không nghe thì không hiểu, nhưng đây ông nói cần hiểu, như thế thì đâu có biết nghe kinh. Đó là ý hết sức rõ.
Tăng hỏi: Tại sao Nhất địa chẳng thấy Nhị địa? Sư bảo: Ông chẳng lầm ư? Ông là địa nào? Đó là bệnh của chúng ta. Có nhiều người tu nói không biết sau khi nhập Niết-bàn rồi ra sao? Chưa Niết-bàn mà hỏi sau khi Niết-bàn, đó chẳng phải là nói dóc sao, chừng nào nhập Niết-bàn rồi mới thấy, chưa tới được mà hỏi trước thì làm sao nói? Cũng như chưa được địa nào hết mà hỏi Nhất địa sao không thấy Nhị địa. Đó là hỏi lầm, hỏi chơi thôi, không có nghĩa lý gì hết. Người học đạo bây giờ có bệnh tu chưa ra gì mà cứ hỏi trên trời trên mây, khi đó mình chưa ứng dụng được gì hết. Ngài quở ông tăng là chỗ này.
Có một cư sĩ hỏi:
– Vì việc sanh tử xin Thầy một lời.
Sư bảo:
– Ngươi khi nào sanh tử?
Cư sĩ thưa:
– Con chẳng hội, thỉnh Thầy nói.
Sư bảo:
– Chẳng hội cần một phen chết đi.
Cư sĩ Đào Lý Vỹ hỏi rằng: Vì việc sanh tử xin Thầy một lời. Một lời để con thoát ly sanh tử. Ngài nói: Ngươi khi nào sanh tử? Tức ông hết sanh tử chưa? Cư sĩ thưa: Con chẳng hội, thỉnh Thầy nói. Ngài trả lời: Chẳng hội cần một phen chết đi. Nghĩa là ông muốn hết sanh tử thì ông đừng còn một niệm nào. Chết là tâm chết đi thì hết sanh tử. Chúng ta nghe, tưởng ngài xúi người chết, không hiểu ý nghĩa thâm trầm. Các thiền sư không nói chuyện tầm thường, nếu không nghiên cứu sách thiền khi nghe câu nói của các ngài tưởng như không có đạo lý. Không nói chân như, Niết-bàn, Bồ-đề, Bát-nhã… nhưng chính đó mới là cái thật.
Sư họ Trần quê ở Tân Cam, Lê Lăng. Năm mười ba tuổi, Sư theo thiền sư Thiệu Loan xuất gia, hai mươi ba tuổi đến Tung Nhạc thọ giới Cụ túc, sang Lạc Dương học luật. Tuy học luật, Sư vẫn biết là tông Tiệm. Sư lại sang Đại Quy, vào pháp hội làm mễ đầu (tri khố).
Một hôm, Sư ở trong liêu sàng gạo, Quy Sơn Linh Hựu đến bảo:
– Vật của thí chủ chớ ném bỏ.
Sư thưa:
– Chẳng dám ném bỏ.
Quy Sơn lượm trên đất một hạt gạo, bảo:
– Ngươi nói chẳng ném bỏ, cái này từ đâu đến?
Sư lặng câm. Quy Sơn lại bảo:
– Chớ khi một hạt này, trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh.
Sư thưa:
– Trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh, chưa biết một hạt này từ chỗ nào sanh?
Quy Sơn cười ha hả trở về phương trượng. Đến chiều, Quy Sơn thượng đường bảo chúng:
– Đại chúng! Trong gạo có sâu. Các ông chú ý!
Thiền sư Thạch Sương Khánh Chư khi học với ngài Quy Sơn, làm tri khố ở trong liêu sàng gạo. Quy Sơn đến bảo: Vật của thí chủ chớ ném bỏ. Nhà thiền thường mượn cảnh thực tế để nói về một cái không hình tướng. Sàng gạo nếu không khéo thì gạo văng tứ tung, đó là ném bỏ của thí chủ, nhưng trong đó cũng có ngầm ý nhắc phải tu khéo léo, đừng để tâm chạy tứ tung. Sư thưa: Chẳng dám ném bỏ. Ý tỏ rằng mình là thật tình đàng hoàng.
Khi ấy ngài Quy Sơn tìm lượm một hạt gạo, bằng chứng cụ thể là có ném bỏ, ngài đưa hạt gạo lên, nói: Ngươi nói chẳng ném bỏ, cái này từ đâu đến? Thạch Sương bị mắc kẹt, vì đã nói không ném bỏ mà bây giờ có một hột gạo ngoài sàng, nên ngài lặng câm không đáp được. Lúc đó ngài Quy Sơn biết, muốn mở một đường mới cho Thạch Sương nên nói câu: Chớ khi một hạt này, trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh. Có người hiểu rằng một hạt gạo đó khi gieo lên cây lúa thì sanh trăm ngàn hạt gạo, nhưng gạo ươm đâu có ra lúa, phải không? Đến đây không còn nghĩa một hạt gạo nữa mà ngài chuyển qua ý khác rõ ràng rồi. Khi chuyển qua thì Thạch Sương liền có cớ để khởi nghi. Như vậy một hạt này không còn là hạt gạo nữa, nó là cái gì có thể tự biết.
Ngài Thạch Sương nói: Trăm ngàn hạt từ một hạt này sanh, chưa biết một hạt này từ chỗ nào sanh? Cái đó hay sanh ra tất cả cái kia, nó từ cái gì sanh ra? Câu hỏi mới nghe dường như hợp lý, nhưng nên nhớ rằng cái chân thật đó không có tướng mạo, không sanh diệt. Chỗ không còn ngôn ngữ, không còn suy tư mà đặt vấn đề hỏi cái gì sanh ra nó là sai lầm. Vì thế, buổi chiều ngài Quy Sơn bảo: Đại chúng! Trong gạo có sâu. Ngài Thạch Sương không lãnh hội được chỗ này nên buồn bỏ đi nơi khác.
Sư đến tham Đạo Ngô, hỏi:
– Thế nào chạm mắt là Bồ-đề?
Đạo Ngô gọi: – Sa-di!
Sa-di ứng thanh: – Dạ!
Đạo Ngô bảo: – Thêm nước trong tịnh bình.
Đạo Ngô lại hỏi Sư:
– Ông vừa hỏi cái gì?
Sư định nêu câu hỏi trước. Đạo Ngô đứng dậy đi. Sư nhân đây tỉnh giác.
Đến ngài Đạo Ngô, Thạch Sương đặt câu hỏi: Thế nào chạm mắt là Bồ-đề? Nghĩa là ở đâu khi mắt mình chạm đến đều là Bồ-đề. Chúng ta nhìn khắp có thấy Bồ-đề không? Tại sao nói chạm mắt là Bồ-đề? Ngài không trả lời trực tiếp mà xoay qua gọi Sa-di, Sa-di dạ!
Với hình ảnh người kêu người dạ đó là để chỉ chỗ chạm mắt tức Bồ-đề, nhưng ngài Thạch Sương còn dửng dưng, chưa thấy được chỗ đó. Ngài Đạo Ngô buộc lòng phải nói, thêm nước trong tịnh bình. Câu nói đó để đánh lừa, người không hiểu thì đến đây cũng ngơ ngác. Kêu Sa-di là để chỉ bày ý nghĩa, ngài Thạch Sương ngay đó không hội được nên ngài Đạo Ngô phải nói thêm một câu.
Ngài Đạo Ngô lại hỏi Sư: Ông vừa nói cái gì? Tức là thấy chỗ không hội của ngài Thạch Sương nên hỏi lại câu này. Ngài quá thật thà định lặp lại câu hỏi, ngài Đạo Ngô đứng dậy đi, nhân đó ngài tỉnh. Ngài tỉnh chỗ đứng dậy đi hay tỉnh chỗ nào? Tỉnh chỗ chạm mắt tức là Bồ–đề. Ở đây giữa thầy và trò không nói trắng, vì vừa nói trắng thì thành bệnh chấp nê danh tự. Chỉ khéo léo nhìn bên này nói bên kia, đối đáp với Sa-di mà trả lời cho ngài Thạch Sương. Lúc đó ngài còn hiền lành quá không hiểu, đến khi nghe hỏi lại mới giật mình, định nêu câu hỏi thì ngài Đạo Ngô đứng dậy đi. Nhân đó ngài Thạch Sương hiểu câu trả lời dứt khoát, chạm mắt tức Bồ-đề.
Đạo Ngô sắp tịch, bảo chúng:
– Trong tâm ta có một vật để lâu thành bệnh, người nào hay vì ta dẹp nó?
Sư thưa:
– Tâm vật đều phi, dẹp đó thêm bệnh.
Đạo Ngô khen:
– Hiền thay! Hiền thay!
Ngài Đạo Ngô sắp thị tịch, bảo chúng: Trong tâm ta có một vật để lâu thành bệnh, người nào hay vì ta dẹp nó? Như chúng ta nghe nói như vậy thì tìm thuốc, phải không? Người xưa khéo nói, nói bên đây phải hiểu ở bên kia chứ đừng hiểu ở lời nói, nếu hiểu ngay lời nói là mắc kẹt. Mượn cái có hình thức để nói cái không hình thức.
Ngài Thạch Sương hiểu ý nên bước ra thưa: Tâm vật đều phi, dẹp đó thêm bệnh. Không phải tâm không phải vật, nếu nói dẹp là mang bệnh. Câu này giống như câu của Lục Tổ nói bản lại vô nhất vật, vốn không phải vật, chẳng dẹp bỏ chẳng thêm bớt. Ngài Đạo Ngô biết đã thâm nhập được nên khen: Hiền thay! Hiền thay!
Làm tăng mới được hai tuổi hạ, Sư bèn ẩn trong dân gian, vào xóm thợ gốm vùng Lưu Dương, Trường Sa, sáng sớm dạo đi, đến chiều trở về, mọi người không biết được Sư.
Nhân một vị tăng từ Động Sơn đến. Sự hỏi:
– Hòa thượng có lời gì dạy chúng?
Tăng đáp:
– Hôm giải hạ, Hòa thượng thượng đường dạy: “Đầu thu cuối hạ, huynh đệ hoặc đi đông đi tây, nên đi thẳng đến chỗ muôn dặm không có một tấc cỏ.” Im lặng giây lâu, nói: “Chỗ muôn dặm không một tấc cỏ, làm sao đi?”
Sự hỏi:
– Có người đáp được chăng?
Tăng thưa:
– Không.
Sư bảo:
Tăng trở về thuật lại cho Động Sơn nghe. Động Sơn bảo:
– Ở Lưu Dương có cổ Phật.
Ngài ở ẩn trong vùng thợ gốm ở Lưu Dương. Nhân có vị tăng từ Động Sơn đến, ngài hỏi: Hòa thượng có lời gì dạy chúng? Tăng đáp: Hôm giải hạ, Hòa thượng thượng đường dạy: “Đầu thu cuối hạ, huynh đệ hoặc đi đông đi tây, nên đi thẳng đến chỗ muôn dặm không có một tấc cỏ.” Đi đến chỗ muôn dặm không một tấc cỏ là chỗ nào? Ngài Thạch Sương hỏi: Có người đáp được chăng? Tăng nói: Không. Ngài bảo: Sao chẳng nói “Ra khỏi cửa liền là cỏ”. Đi là khi sáu căn vừa phóng ra, gặp sáu trần là cỏ, chỗ muôn dặm không cỏ là căn trần không tiếp xúc. Ý ngài Thạch Sương nói, vừa có phóng ra là cỏ rồi, nếu không phóng ra thì cỏ ở đâu?
Tăng trở về thuật lại cho Động Sơn nghe. Động Sơn bảo: Ở Lưu Dương có cổ Phật. Ngài Động Sơn nói có quá đáng hay không? Như tôi nói mấy chú là cổ Phật mấy chú dám nhận không? Thực ra Phật không xa chúng ta chỉ vì chúng ta quên Phật nên làm chúng sanh. Nhớ lại thì thành Phật sẵn có, mà Phật sẵn tức là xưa rồi, không phải Phật mới. Phật từ xưa tức là cổ Phật. Nếu chúng ta nhớ như ngài Thạch Sương thì cũng được gọi là cổ Phật.
Chúng thỉnh Sư trụ trì tại núi Thạch Sương, Sư cũng cho đây là nơi hợp với chí mình.
Đạo Ngô sắp viên tịch giải tán chúng, thân tìm đến Thạch Sương, chọn Sư làm Trưởng tử. Sư hàng ngày chuyên cần hầu hạ, giữ đúng tư cách thờ thầy. Sau khi Đạo Ngô quy tịch, học chúng quy tụ thường trên năm trăm.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?
Sư đáp:
– Trong không, một phiến đá. Tăng lễ bái. Sự hỏi:
– Hội chăng?
Tăng thưa:
– Chẳng hội.
Sư bảo:
– May mà ngươi chẳng hội, nếu hội ngươi đã bị vỡ đầu.
Có vị tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Ngài đáp: Trong không, một phiến đá. Trong hư không chứa được phiến đá không? Câu trả lời của ngài có cho chúng ta suy nghĩ không? Tăng lễ bái, tưởng như ngộ rồi. Ngài hỏi: Hội chăng? Tăng thưa: Chẳng hội. Ngài bèn kết thúc một câu: May mà ngươi chẳng hội, nếu hội tức bị vỡ đầu. Nghĩa là nếu ngươi hội thì phiến đá rơi, ngươi vỡ đầu. Chỗ này vừa khởi hiểu thì mắc kẹt hình tướng, mắc kẹt sự vật, nên ngài nói nếu hội thì bị vỡ đầu. Đó là chỗ khéo léo của ngài không để cho người mắc kẹt.
Sư ở trong phương trượng, có vị tăng ở ngoài cửa sổ hỏi:
– Cách nhau mấy tấc, vì sao chẳng thấy mặt Thầy?
Sư đáp:
– Ta nói khắp hết chẳng từng giấu.
Vị tăng ấy đến hỏi Tuyết Phong:
– Khắp hết chẳng từng giấu, ý chỉ thế nào? Tuyết Phong đáp:
– Chỗ nào chẳng phải Thạch Sương.
Vị tăng trở lại thuật lời Tuyết Phong cho Sư nghe. Sư bảo:
– Cái lão này sao mà chết gấp.
Tuyết Phong nghe lời này, tự nói:
– Lão tăng tội lỗi.
Sư ngồi trong phương trượng, Tăng đứng ngoài cửa hỏi: Cách nhau mấy tấc, vì sao chẳng thấy mặt Thầy? Mặt Thầy đây là mặt thật của Thầy hay là mặt nào? Sư đáp: Khắp hết chẳng từng giấu. Mặt này là bản lai diện mục, khắp hết chẳng từng giấu. Tăng không hiểu đến hỏi Tuyết Phong: Khắp hết chẳng từng giấu, ý chỉ thế nào? Tuyết Phong nói: Chỗ nào chẳng phải Thạch Sương. Câu đó nói trắng ra rõ ràng. Ngài nghe được bảo: Cái lão này sao mà chết gấp. Câu đó khen hay chê? Như chúng ta gọi là rủa đó. Ông nói như vậy là quá đáng, tức làm cho người dễ thấy, người ta coi thường. Ngài Tuyết Phong nghe câu đó liền tự hối, nói rằng: Lão tăng tội lỗi. Người xưa hiểu nhau, khi nói một câu liền biết mình nói hớ nên hối lỗi.
Vân Cái đến hỏi:
– Muôn cửa đều đóng chẳng hỏi, khi muôn cửa đều mở thì thế nào?
Sư bảo:
– Trong nhà làm việc gì?
Vân Cái đáp:
– Không người tiếp được y.
Sư bảo:
– Nói đến tột chỗ, chỉ nói được tám chín phần.
Vân Cái hỏi:
– Chẳng biết Hòa thượng nói thế nào?
Sư đáp:
– Không người biết được y.
Ngài Vân Cái cũng là hàng tác gia trong thời đó, đến hỏi: Muôn cửa đều đóng chẳng hỏi, khi muôn cửa đều mở thì thế nào? Ngài liền khéo ở trong cảnh đó trả lời: Trong nhà làm việc gì? Nếu căn nhà mở hoác cửa thì lúc đó trong nhà có chủ hay không, hoặc chủ đang làm gì đều thấy hết. Nên đây trả lời khéo, các cửa đều mở thì thấy trong nhà làm việc gì.
Ngài Vân Cái là một tay tác gia nên đáp: Không người tiếp được y. Nghĩa là chỗ đó không ai hết. Ngài chê: Nói đến tột chỗ, chỉ được tám chín phần. Vân Cái hỏi lại: Chẳng biết Hòa thượng nói thế nào? Ngài đáp: Không người biết được y. Chữ biết, chữ tiếp có ý nghĩa sai biệt. Chữ tiếp là có hình tướng, khi tiếp ai, mình và người đều có hình tướng. Còn cái biết không hình tướng, không biết được vì cái đó hoàn toàn không hình tướng, con mắt ngàn thánh cũng không thấy. Đó là để chỉ cho ông chủ trong nhà.
Tú tài Trương Chuyết đến tham vấn, Sư hỏi:
– Tú tài tên họ gì?
Tú tài thưa:
– Tôi họ Trương tên Chuyết.
Sư bảo:
-Tìm cái xảo (khéo) còn không thể được, cái Chuyết (vụng) từ đâu lại?
Chuyết chợt tỉnh ngộ, trình kệ:
Quang minh tịch chiếu biến hà sa
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục căn tài động bị vân già.
Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh
Thú hướng chân như diệc thị tà.
Tùy thuận thế duyên vô quái ngại
Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa.
Dịch:
Quang minh lặng chiếu khắp hà sa
Phàm thánh hàm linh vốn chung nhà.
Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện
Sáu căn vừa động bị che lòa.
Phá trừ phiền não càng thêm bệnh
Tìm đến chân như âu cũng tà.
Tùy thuận các duyên không chướng ngại
Niết-bàn sanh tử thảy không hoa.
Tú tài Trương Chuyết, có câu chuyện mà trong đây không ghi, trong phần Quảng Lục có ghi. Ông này không phải mới lần đầu đi hỏi đạo mà đã tham vấn nhiều nơi. Ông đến hỏi ngài Tây Đường: Có thiên đường địa ngục không? Ngài trả lời: Có. Ông hỏi lại: Hòa thượng có lầm chăng? Tôi hỏi ngài Kính Sơn có thiên đường địa ngục chăng, Ngài trả lời đều không, tại sao Hòa thượng lại nói có? Ngài Tây Đường hỏi: Ông có vợ không? Có. Ngài Kính Sơn có vợ không? Không. Ngài Tây Đường nói: Bởi ngài Kính Sơn không có vợ nên cái gì cũng nói không, còn ông có vợ nên cái gì ta cũng nói có. (Đoạn này Bích Nham Lục cũng ghi lại như vậy. Tuy nhiên nếu xét niên đại thì vị tú tài không phải Trương Chuyết.)
Tham vấn rất nhiều nơi nên chỗ đó ông cũng sắp ngộ, sắp tỉnh rồi, khi đến ngài Thạch Sương, đầu tiên vô nhà khách gặp ba người: Thái Bố Nạp, Tề Kỷ, Quán Hưu. Ba vị này lanh lợi, đàm luận thao thao. Trương Chuyết nói: Trong ba vị sao không chọn một người làm Trưởng lão? Ý ngầm chê ngài Thạch Sương. Thái Bố Nạp bảo: “Hòa thượng đường đầu là nhục thân Bồ-tát. Chúng đây một ngàn năm trăm người, phân nửa bằng như chúng tôi, phân nửa hơn chúng tôi.” Người xưa khi nghe chê thầy mình, khen mình thì liền hạ mình xuống, tôi là hạng thấp nhất trong chúng đây. Nói như vậy nên Trương Chuyết mới nể phục, đến hỏi đạo với ngài Thạch Sương.
Ngài Thạch Sương hỏi: Tú tài tên họ gì? Tôi họ Trương tên Chuyết. Ngài bảo: Tìm cái xảo còn không thể được, cái chuyết từ đâu lại? Xảo là khéo, chuyết là vụng, cái khéo còn không có huống nữa cái vụng. Nghe câu đó là ông tỉnh liền. Xảo và chuyết là do đối đãi mà lập, xảo không thật thì chuyết làm gì có? Thấy tất cả đối đãi đều là không thật nên ông tỉnh ngộ, làm bài kệ. Bài kệ này trong nhà thiền thường nhắc đến.
Quang minh tịch chiếu biến hà sa
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia.
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục căn tài động bị vân già.
Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh
Thủ hướng chân như diệc thị tà.
Tùy thuận thể duyên vô quái ngại
Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa.
Bài kệ này gồm bốn phần. Ý thứ nhất, hai câu đầu diễn tả thể chân thật của mọi người sẵn có. Ý thứ hai, hai câu ba bốn chỉ cách tu để trở về thể chân thật. Ý thứ ba, hai câu năm sáu chỉ cho chúng ta biết nếu không khéo tu, chấp phiền não thật chân như thật thì lại càng thêm bệnh. Ý thứ tư, hai câu bảy tám chỉ cho chúng ta biết cách sống.
Quang minh tịch chiếu biến hà sa, quang minh là sáng suốt, tịch chiếu là lặng lẽ chiếu soi, nghĩa là thể sáng suốt lặng lẽ mà chiếu soi này đầy khắp mọi nơi. Thế giới nhiều như cát sông Hằng, thể quang minh tịch chiếu này cũng trùm hết muôn ngàn triệu ức thế giới. Thể ấy ở đâu?
Phàm thánh hàm linh cộng ngã gia, phàm thánh và chúng hàm linh đều chung trong một thể, gọi là cộng ngã gia, chung nhà của ta. Nhưng đừng hiểu lầm tất cả chỉ có một, tất cả chỉ về một thể đó thôi. Như tôi chỉ bình bông ở trên bàn, tất cả người ở đây đồng thời nhìn thấy nó. Cái thấy đó có khác nhau, có chướng ngại nhau không? Cái thấy đó là của một người hay của chung tất cả người? Thấy thì đồng nhưng riêng ai người ấy thấy chứ không phải là một. Đứng về mặt đồng thì nói chung nhà của ta, đừng hiểu tất cả là một khối. Hai câu này là chỉ cho cái thể chân thật đó.
Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện, một niệm chẳng sanh, toàn thể hiện. Muốn trở về thể chân thật ấy mà vừa dấy niệm thì đã khuất rồi, nếu không có niệm nào dấy lên thì thể chân thật hiện tiền rõ ràng. Lục căn tài động bị vân già, sáu căn vừa dấy động thì bị mây che. Nơi con mắt mình mở ra có bị mây che không? Lỗ mũi thở ra hít vào có bị mây che không? Các căn thấy nghe rõ ràng, mây che lúc nào? Như trước nói, sáu căn mở hoác mà vừa có niệm phóng ra là cỏ, đi ra là cỏ. Đây cũng vậy, nơi sáu căn vừa có một niệm chạy ra thì đã bị mây che, nếu không có niệm chạy thì mây không che được. Hai câu này chỉ dạy cách tu để trở về.
Hai câu tiếp theo là dẹp trừ bệnh chấp. Phá trừ phiền não trùng tăng bệnh, dẹp trừ phiền não càng tăng bệnh. Chúng ta tu luôn luôn nghĩ phải làm sao dẹp hết phiền não. Nhưng đây nói dẹp phiền não là thêm bệnh, như vậy để nguyên phiền não phải không? Chỗ này phải hiểu rõ. Trong ba thứ tham sân si thì sân là thô nhất, ai cũng sợ mà ai cũng có. Sân ở đâu, chỉ ra được không? Nếu sân là thật thì phải có chỗ nơi, không có chỗ nơi tức là không thật. Đợi khi gặp duyên như nghe một tiếng chửi mắng, thấy một dáng vẻ bực bội thì sân mới nổi lên. Cái gì đợi duyên mới có là không thật. Sân là chúa phiền não, nhưng sân không thật mà muốn dẹp trừ cái không thật làm sao dẹp trừ. Như hiện nay đang ngồi nghe giảng, có thấy sân ra sao không? Người nào người nấy hiền như Phật đâu có ai nổi sân gì. Chỉ cần gặp duyên đừng chạy theo, vừa khởi niệm không tiếp tục khởi thì sân đâu còn. Ngay sáu căn mà không có niệm chạy ra thì sân có mặt không? Như vậy không cần dẹp trừ, chỉ không theo niệm thì tự nó hết. Như khi nghe ai nói câu gì, mình chạy theo câu đó suy nghĩ, suy nghĩ rồi mới bực bội nổi sân. Nếu nghe rồi bỏ qua, nghe rồi bỏ qua thì sân không có mặt. Rõ ràng nếu chúng ta cho phiền não là thật để dẹp để trừ, đó là bệnh. Nghĩa là vì nó không thật mà cố dẹp trừ tức là thấy nó thật, là bệnh.
Thủ hướng chân như diệc thị tà, thú hướng chân như cũng là tà. Thú hướng là tìm đến. Chân như ở đâu mà tìm đến? Chỉ khi niệm không sanh thì nó hiện tiền. Như mặt biển khi không có gió, không dậy sóng là mặt biển lặng. Muốn tìm mặt biển lặng thì đợi khi dừng sóng, chính lúc đó hiện ra, không cần tìm kiếm nơi khác, càng tìm càng sai. Cũng như không cần tìm chân như, khi tất cả ngoại duyên buông hết, một niệm không sanh đó là phải. Sơ tổ Đạt-ma dạy: muôn duyên buông hết, một niệm không sanh, tâm như tường vách khả dĩ vào đạo. Lúc ấy chân như hiện tiền không có gì khác; vừa khởi tâm tìm kiếm đã lạc vào đường tà, đã không đúng lẽ thật.
Hai câu kết là chỉ cách sống. Tùy thuận thế duyên vô quái ngại, Niết-bàn sanh tử đẳng không hoa, tùy thuận các duyên không có gì chướng ngại, Niết-bàn sanh tử đều như hoa đốm trong hư không. Tại sao? Vì đối sanh tử nói Niết-bàn, danh từ sanh tử không thật, danh từ Niết-bàn cũng không thật. Người tu thường sợ sanh tử ưa Niết-bàn, mà chúng đều không thật thì còn gì làm trở ngại? Hàng ngày phải làm sao để tùy thuận chúng duyên? Chúng ta cũng đi đứng nằm ngồi, cũng ăn mặc, cũng sống như mọi người không khác. Trong khi ăn, mặc, sống như mọi người mà không có gì làm chướng ngại, luôn nhớ và thấy rõ tất cả đối đãi đều không thật, đó là tùy thuận chúng duyên. Trong tất cả cảnh không khởi phiền não, không dấy niệm chạy theo, đó là vô quái ngại. Còn khởi phiền não, còn dấy niệm chướng thì bị quái ngại.
Tú tài Trương Chuyết là cư sĩ, khi ngộ rồi làm bài kệ, trong đó nói về thể chân thật, chỗ tu, cách dẹp bệnh, cuộc sống của người tu thế nào, chỉ gọn có tám câu mà rất đầy đủ. Cái thấy của ông đến nơi đến chốn, vì thế bài kệ này đa số ở trong nhà thiền đều thuộc.
Bùi tướng công đến. Sư nắm giở cái hốt của Bùi công hỏi:
– Cái này ở trong tay thiên tử gọi là Khuê, ở trong tay quan nhân gọi là Hốt, ở trong tay lão tăng gọi nó là gì?
Bùi Công lặng câm. Sư giữ cái hốt lại.
Bùi tướng công tức là Tướng quốc Bùi Hưu cũng là tay cự phách trong nhà thiền, đến gặp ngài tay cầm cái hốt, ngài liền nắm cái hốt đưa lên nói: Cái này ở trong tay thiên tử gọi là Khuê, ở trong tay quan nhân gọi là Hốt, ở trong tay lão tăng gọi nó là gì?
Lời ngài như là đùa chơi, nhưng mà trong đó có ngầm ý gì không? Như vậy thì vua có, quan có, tôi có, cái đó gọi là gì? Bùi Hưu lặng thinh, ngài giữ cái hốt lại.
Sư dạy chúng:
– Kẻ sơ học chưa gặp được việc lớn, trước phải nhận ra đầu thì đuôi tự đến.
Sơ Sơn hỏi:
– Thế nào là đầu?
Sư đáp:
– Cần phải biết có.
– Thế nào là đuôi?
– Dẹp hết hiện giờ.
– Khi có đầu không đuôi thì sao?
– Mửa được vàng ròng kham làm việc gì?
– Khi có đuôi không đầu thì sao?
– Vẫn còn nương tựa.
– Khi đầu đuôi được cân xứng thì sao?
– Y chẳng khởi giải hội, cũng chưa cho y ở.
Ngài dạy chúng: Kẻ sơ học chưa gặp được việc lớn, trước phải nhận ra đầu thì đuôi tự đến. Câu nói có ý nghĩa rất thâm trầm. Tất cả chúng ta tu học, chưa gặp việc lớn tức là chưa ngộ đạo, cần phải nhận ra đầu thì đuôi tự đến. Cái gì là đầu, cái gì là đuôi? Như chúng ta nghe có thầy nào biết quá khứ vị lai, có thần thông, bay lên hư không, muốn hóa rồng thì thành rồng, hóa cọp thì thành cọp… thích không? Tất cả thần thông biến hóa đó là cái dụng nhiệm mầu, từ thể chân thật mà ra. Người tu cần phải trở về thể chân thật, không nên mê diệu dụng. Nhưng đa số người lại mê cái đó. Những thần thông phép lạ làm mọi người mê thích đó là cái đuôi, dụng là đuôi không phải đầu. Chính vì vậy Phật cấm các vị A-la-hán không được dùng thần thông. Bệnh của chúng sanh là thích những gì lạ lùng thỏa mãn tánh hiếu kỳ, nghe biến hóa thần thông thì nể phục, nếu cứ chạy theo thần thông là tu theo đuôi, không phải theo đầu. Chủ yếu tu để tâm thanh tịnh, tất cả phiền não lặng hết, thể nhập chân thật, đó là đầu, khi thể nhập rồi thì diệu dụng tự có, nên nói, trước phải nhận ra đầu thì đuôi tự đến.
Sơ Sơn hỏi: Thế nào là đầu? Ngài đáp: Cần phải biết có. Ai cũng có cái đó hết, phải thẳng nhận cái của chính mình.
Hỏi: Thế nào là đuôi? Đáp: Dẹp hết hiện giờ, tức là mọi động tác hiện giờ đều là dụng của cái đó.
Khi có đầu không đuôi thì sao? Ngài đáp: Mửa được vàng ròng kham làm việc gì? Có đầu tức là nhận được thể mà chưa có đủ dụng, giống như trong bụng chứa vàng ròng, mửa ra thêm bệnh không lợi ích gì.
Khi có đuôi không đầu thì sao? Vẫn còn nương tựa, tức là chỉ theo cái đuôi thì còn nương tựa chưa làm chủ được.
Khi đầu đuôi được cân xứng thì sao? Ngài đáp: Y chẳng khởi giải hội, cũng chưa cho y ở. Nếu còn nói cân xứng là còn so sánh, còn so sánh đầu đuôi thì còn giải hội, chưa thể nhập được.
Sư ở Thạch Sương hai mươi năm, học chúng thường ngồi chẳng nằm, ngồi thẳng như gốc cây. Thời nhân gọi là “Chúng cây khô”.
Vua Đường Hy Tông nghe đạo hạnh của Sư, sai sứ đem tử y ban cho. Sư cố từ chối không nhận.
Niên hiệu Quang Khải năm thứ tư (888), ngày hai mươi tháng hai năm Mậu Thân, Sư có chút ít bệnh, báo tin chúng hay sắp tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi hạ.
Vua sắc phong là Phổ Hội đại sư, tháp hiệu Kiến Tướng.
Chúng của ngài ở núi Thạch Sương hai mươi năm thường ngồi chẳng nằm, ngồi thẳng như gốc cây, thời nhân gọi là Chúng cây khô. Các thiền sư dạy người có chỗ khác nhau, như ở chỗ ngài Lâm Tế lại dạy không ngồi thiền. Vương thường thị hỏi ngài: Chúng đông quá như thế này có tụng kinh không? Không. Có ngồi thiền không? Không. Như vậy dạy họ làm gì? Dạy làm Phật làm Tổ.
Ngài Lâm Tế không đặt nặng tụng kinh ngồi thiền. Còn ở đây ngài Thạch Sương thì bắt phải ngồi thiền, ngồi thẳng như cây khô. Ngài Thạch Sương có hiểu đạo không mà bắt ngồi? Về chỗ ngộ vị nào cũng ngộ tương đương, nhưng trên phương tiện tu, mỗi vị có chủ trương khác nhau, không nên cố chấp một bên. Nói tu thiền là không ngồi, thấy ai ngồi thì cười chê; hoặc mình ngồi giỏi rồi thấy ai ngồi dở hơn, cũng cười chê… Như thế không đúng, có người không ngồi thiền nhưng tâm không chạy, còn nếu mình ngồi mà tâm không chạy thì càng hay.
Vua Đường Hy Tông nghe đạo hạnh của ngài, sai sứ đem tử y ban cho. Ngài cố từ chối không nhận. Vua ban tử y là một danh dự lớn, là khen tặng vị tăng đó. Lệnh nhà vua ban mà từ chối không khéo thì bay đầu. Nếu nhận thì được danh dự lại khỏi nguy hiểm, ngài chấp nhận không danh dự và nguy hiểm, chúng ta có dám như vậy không? Học về ngài Thạch Sương để thấy đặc điểm này, không phải ai cũng làm được.
Sư họ Lưu người Hoài Ninh, Thư Châu. Thuở bé Sư xuất gia với thiền sư Mãn ở Bảo Đường, Lạc Dương. Ban đầu Sư tập quán hơi thở, kế xem kinh Hoa Nghiêm phát minh tánh hải, lại đến núi Thúy Vi nơi hội của thiền sư Vô Học tham vấn và được thâm ngộ.
Một hôm Sự hỏi:
– Thế nào là Phật lý?
Thiền sư Vô Học đáp:
– Phật tức chẳng lý.
– Chẳng rơi vào không chăng?
– Chân không chẳng không.
Thiền sư Vô Học lại dùng bài kệ sấm ký rằng:
Phật lý hà tằng lý
Chân không hựu bất không.
Đại Đồng cư tịch trụ
Phu diễn ngã sư tông.
Dịch:
Phật lý đâu từng lý
Chân không lại chẳng không.
Đại Đồng ở tịch trụ
Bày diễn đạo cha ông.
Sau Sư về ở ẩn tại núi Đầu Tử cất am tranh tên Tịch Trụ.
Thiền sư Đại Đồng đến thiền sư Vô Học ở núi Thúy Vi hỏi: Thế nào là Phật lý? Thiền sư Vô Học đáp: Phật tức chẳng lý. Câu hỏi và đáp thường có sự và lý. Sự là những gì có hình tướng hiển bày, lý là cái ẩn trong hình tướng đó. Hỏi thế nào là Phật lý. Phật là giác, giác là giác, không còn có lý, không còn cái ẩn khuất ở trong, nên hỏi Phật lý thì thiền sư Vô Học đáp Phật tức chẳng lý.
Ngài hỏi: Chẳng rơi vào không chăng? Nếu Phật không lý thì e rơi vào không chăng? Ngài Thúy Vi đáp: Chân không chẳng không. Tại sao? Nghĩa là cái Không chân thật chẳng phải không. Như cái hằng nghe hằng thấy hằng biết của chính mình, có thể diễn tả hình dáng không? Nó không có hình tướng, nó là chân không nhưng chẳng không. Nếu là không thì làm sao chúng ta có thấy có nghe? Vì vậy chân không chẳng phải không Ngài Đại Đồng đã ngộ qua kinh Hoa Nghiêm, nên thiền sư Vô Học lại dùng bài kệ sấm ký rằng:
Phật lý đâu từng lý
Chân không lại chẳng không
Đại Đồng ở tịch trụ
Bày diễn đạo cha ông.
Ý nói sau này ông ở am Tịch Trụ diễn nói đạo của thầy tổ. Quả nhiên sau ngài về ở viện Đầu Tử, cất am tên là Tịch Trụ.
Một hôm Triệu Châu Tùng Thẩm đến huyện Đồng Thành, Sư cũng có việc xuống núi, giữa đường hai người gặp nhau mà không biết nhau. Triệu Châu hỏi thăm những người cư sĩ biết là Đầu Tử, liền đón hỏi:
– Phải chủ núi Đầu Tử chăng?
Sư đáp:
– Cho tôi xin tiền trà muối.
Triệu Châu đi thẳng đến am trước, ngồi chờ. Sư mang một bình dầu về am. Triệu Châu hỏi:
– Nghe danh Đầu Tử đã lâu, đến đây chỉ thấy ông già bán dầu.
Sư đáp:
– Thầy chỉ thấy ông già bán dầu là không biết Đầu Tử.
– Thế nào là Đầu Tử?
Sư đưa bình dầu lên đáp:
– Dầu! Dầu!
Tùng Thẩm Triệu Châu là vị thiền sư lanh lẹ lợi khẩu nhất, nghe tên ngài cũng tìm tới. Ngài Đầu Tử ở trên núi đi xuống, ngài Triệu Châu ở dưới núi đi lên, hai người gặp nhau giữa đường mà không biết. Triệu Châu hỏi thăm cư sĩ thì biết đó là Đầu Tử, nên đón hỏi: Phải chủ núi Đầu Tử chăng? Hỏi chủ núi Đầu Tử là người ta trọng mình, mình phải thấp xuống, nên ngài đáp: Cho tôi xin tiền trà muối. Đây là hàng tác gia khéo léo, khi người đưa lên thì mình phải hạ xuống, hiểu nhau liền.
Ngài Triệu Châu về am trước, ngồi chờ, thấy ngài Đầu Tử mang bình dầu bèn nói: Nghe danh Đầu Tử đã lâu, đến đây chỉ thấy ông già bán dầu. Câu nói có vẻ coi thường hạ thấp mình. Ngài Đầu Tử đáp: Thầy chỉ thấy ông già bán dầu là không biết Đầu Tử. Như thế là đưa mình lên. Đối đáp của bậc tác gia khéo ở chỗ đó, khi hạ xuống thì dùng vươn lên đáp.
Ngài Triệu Châu liền hỏi: Thế nào là Đầu Tử? Tôi không nói ông bán dầu, biết ông là Đầu Tử rồi. Ngài liền đưa bình lên nói: Dầu! Dầu! Vừa thấp mình xuống mà cũng vừa chỉ hiện tại. Đó là cái khéo léo của hàng tác gia đối đáp.
Triệu Châu hỏi:
– Khi ở trong chết được sống là thế nào?
Sư đáp:
– Chẳng cho đi đêm, đợi sáng sẽ đến.
Triệu Châu nói:
– Ta sớm là trắng, y lại là đen.
Ngài Triệu Châu hỏi: Khi ở trong chết được sống là thế nào? Lời hỏi lấy ý từ câu “tuyệt hậu tái tổ”, sau khi chết rồi sống trở lại. Người tu đến chỗ cao tột thì thường diễn tả bằng hình ảnh đầu sào trăm trượng, hay nói là cây cột trăm thước cho dễ hiểu. Từ dưới trèo lên mút đầu cây cột đó dễ hay khó? Khó mà trèo còn được vì có chỗ nương, lên tới đầu cây cột rồi, muốn nhảy ra nữa dễ hay khó? Đó là chỗ chết, nhảy ra khỏi đầu cột rồi sống trở lại gọi là tuyệt hậu tái tô.
Người tu đến giai đoạn này, gọi là giai đoạn thoát khỏi hầm vô minh, hầm sanh tử. Đến đó mới là cái sống thực. Trong mười mục chăn trâu, chỗ đầu sào trăm trượng tương đương bức tranh thứ tám, mất cả trâu và chăn, chỉ còn một vòng tròn. Nhảy qua khỏi vòng tròn đó là trở về nguồn cội, tranh thứ chín, là chỗ sống lại sau khi chết.
Ngài đáp: Chẳng cho đi đêm, đợi sáng sẽ đến. Một hình ảnh rất tầm thường, không cho đi đêm đợi sáng sẽ đến. Nghĩa là nếu còn ở trong mê thì làm gì biết được cái đó, khi giác rồi sẽ thấy, khi sống rồi sẽ biết.
Ngài Triệu Châu nói, ta sớm là trắng, tức là ngài hỏi rõ, y lại là đen, tức là ngài Đầu Tử mượn hình ảnh không cho đi đêm đợi sáng sẽ đến, nói một cách ẩn mật, không nói trắng.
Từ đó đạo hạnh của Sư đồn khắp, khách tầm đạo đua nhau kéo đến.
Sư bảo chúng rằng:
Ngài dạy chúng: Các ngươi đến đây nghĩ tìm ngôn ngữ hay đẹp, góp lời văn vẻ, trong miệng quý có nói ra. Tức là tìm những lời hay, văn đẹp từ miệng các vị Hòa thượng nói ra để ghi chép. Lão già này khi lực yếu kém, môi lưỡi chậm lụt. Nếu các ngươi hỏi ta, ta tùy câu hỏi mà đáp. Đối đáp không có gì huyền diệu có thể kịp được ngươi, cũng không dính gì đến tai ngươi. Tức là không có gì quan trọng chủ yếu. Trọn không nói hướng thượng hướng hạ, có Phật có pháp, có phàm có thánh. Ngài không nói ra điều gì dính mắc hai bên. Trong chỗ các ngươi bị trói buộc, biến hiện ngàn thứ, thảy đều khiến các ngươi sanh hiểu rồi tự mang gánh lấy, sau này tự làm tự chịu. Trong tâm tư mọi người bị đủ thứ trói buộc rồi biến hiện ngàn muôn thứ, nghe nói gì cũng sanh hiểu, rồi tự ôm lấy để sau này tự nói tự khoe, đó là mình làm mình chịu. Trong ấy không có gì cho các ngươi. Trong cái thật đó không có gì cho các ngươi. Chẳng dám lừa dối các ngươi. Không phải như các ông thầy nói, đến đây tôi ấn chứng cho, đến đây tôi điểm đạo cho, đến đây tôi thọ ký cho… Chỗ này là mỗi người tự có, khéo nhắc để tự nhận, ngoài ra không có gì cho các ngươi. Nếu có cho cái này kia là lừa dối các ngươi rồi. Không ngoài không trong. Thể ấy không ngoài cũng không trong. Có thể nói được na ná. Nói thì nói na ná chứ không bao giờ nói tới được cái đó. Các ngươi lại biết chăng? Cái đó mỗi người tự thấy tự biết, người khác không làm cho thấy biết được.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn đứng hầu, Sư chỉ một phiến đá trước am bảo:
– Chư Phật ba đời thảy ở trong ấy.
Tuyết Phong thưa:
– Nên biết có cái chẳng ở trong ấy.
Sư bảo:
– Thùng sơn chậm lụt.
Ngài Tuyết Phong đứng hầu, ngài Đầu Tử chỉ một phiến đá trước am bảo: Chư Phật ba đời thảy ở trong ấy. Tuyết Phong thưa: Nên biết có cái chẳng ở trong ấy. Ngài bảo: Thùng sơn chậm lụt.
Tại sao trong một phiến đá lại có ba đời chư Phật ở trong? Khi giác ngộ thấy cái cây, cục đá, tất cả đều có tánh giác tức là có Phật trong mọi vật, đều không khác nhau. Chúng ta thấy thì cứ khen đẹp chê xấu… không thấy tính giác ngộ nơi mọi vật. Vì thế đây nói một phiến đá ba đời chư Phật đều ở trong đó, đều là giác như nhau không khác.
Ngài Tuyết Phong thì muốn nói đến cái khác, cái không ở trong đó tức là ý ngài muốn nói có cái ngoài cái đó. Ngài Đầu Tử liền quở, thùng sơn chậm lụt. Thùng sơn ý chỉ chỗ đen hắc như thùng sơn đen. Người không thông đạo lý, còn dày đặc tình chấp cũng như thùng sơn. Khi ngộ rồi thì gọi là thùng sơn lủng đáy, vì tất cả khối nghi đặc cứng đều tuột ra hết, bung ra hết. Ngài Đầu Tử luôn gọi ngài Tuyết Phong là thùng sơn, ý răn nhắc còn chỗ kẹt dính.
Một hôm Tuyết Phong theo Sư đi thăm am chủ Long Miên. Tuyết Phong hỏi:
– Đường Long Miên đi về phía nào?
Sư lấy cây gậy chỉ tới trước mặt. Tuyết Phong hỏi:
– Đi bên đông hay đi bên tây?
Sư bảo:
– Thùng sơn chậm lụt.
Một hôm Tuyết Phong theo ngài đi thăm am chủ Long Miên. Tuyết Phong hỏi: Đường Long Miên đi về phía nào? Ngài cầm cây gậy chỉ tới trước mặt. Tuyết Phong cố tìm cách gạt lão già này một chút, liền nói: Đi bên đông hay đi bên tây? Ông già này cứng quá nên nói: Thùng sơn chậm lụt. Ông còn thấy đông tây là còn chậm lụt không thông đạo lý.
Hôm khác Tuyết Phong hỏi:
– Khi một chùy liền thành thì thế nào?
Sư đáp:
– Chẳng phải kẻ tánh thô tháo.
– Khi chẳng nhờ một chùy thì sao?
– Thùng sơn chậm lụt.
Hôm khác, ngài Tuyết Phong hỏi: Khi một chùy liền thành thì thế nào? Ngài đáp: Chẳng phải kẻ tánh thô thảo.
Những câu này nghe qua khó hiểu. Nhà thiền thường gọi chỗ thiện tri thức là chỗ lô bị. Lô bị là lò rèn, rèn đúc nên những đồ vật hữu dụng. Người học như cây sắt vô dụng phải qua tay thiện tri thức rèn luyện mới thành tựu. Một cây sắt muốn thành hình thì phải đập nhiều lần, đập một lần mà thành thì đó là thô tháo. Vì thế hỏi khi một chùy liền thành thì thế nào, ngài đáp rằng chẳng phải kẻ tánh thô tháo. Kẻ thô tháo được một chút liền cho là đủ.
Tuyết Phong hỏi: Khi chẳng nhờ một chùy thì sao? Ngài đáp: Thùng sơn chậm lụt. Nghĩa là không có Phật tự nhiên, không có người đạt đạo tự nhiên, mà phải qua những cuộc rèn luyện, đập đánh cho tiêu tan những thứ sét gỉ rồi mới thành đồ hữu dụng. Nếu không nhờ mài giũa mà thành là chuyện vô lý, nên nói thùng sơn chậm lụt. Ý quở trách không hội được ý chỉ.
Sư ngồi trong am, Tuyết Phong hỏi:
– Hòa thượng độ này có người tham vấn chăng?
Sư với lấy cây cuốc dưới sàn ném trước mặt Tuyết Phong. Tuyết Phong thưa:
– Thế ấy thì chính chỗ này cuốc đi.
Sư bảo:
– Thùng sơn chậm lụt.
Tuyết Phong từ biệt Sư ra đi, Sư tiễn ra cửa, liền gọi:
– Đạo giả.
Tuyết Phong ngoái đầu lại:
– Dạ!
Sư bảo:
– Đi đường vui vẻ.
Sư ngồi trong am, Tuyết Phong hỏi: Hòa thượng độ này có người tham vấn chăng? Sư với lấy cây cuốc dưới sàn ném trước mặt Tuyết Phong. Như vậy là có người tham vấn không? Cây cuốc để dưới sàn là đang xài hay đang nghỉ? Đó là ý ngài nói thiền. Tuyết Phong liền thưa: Thế ấy thì chính chỗ này cuốc đi. Như vậy con đến đây tham vấn. Ngài đáp: Thùng sơn chậm lụt.
Có một câu chuyện lý thú không ghi ở đây, ghi ở chỗ khác, tôi chép vào sổ của tôi: Một hôm có bà già tìm tới núi Đầu Tử: “Bạch Ngài đêm qua con mất trâu, thỉnh Hòa thượng bói giùm một quẻ xem còn hay mất?” Ngài là thiền sư sao lại thỉnh bói quẻ? Như vậy mà ngài liền gọi: “Bà già.” Bà: “Dạ.” Ngài nói: “Còn đó.” Bà vái chào rồi đi. Bà già cừ khôi không? Chúng ta cũng phải nể phục.
Tuyết Phong từ biệt Sư ra đi, Sư tiễn ra cửa, liền gọi: Đạo giả. Tuyết Phong ngoái đầu lại: Dạ! Sư bảo: Đi đường vui vẻ.
Đó là vẫn con trâu còn mà Tuyết Phong không nhận ra, nên bị câu sau Đi đường vui vẻ. Chúng ta tưởng ngài lại nhắc đi đường bình ổn, không ngờ kêu nhắc con trâu còn.
Có vị tăng hỏi Triệu Châu:
– Trẻ con mới sanh có đủ sáu thức chăng?
Triệu Châu đáp:
– Trên dòng nước chảy xiết, đá cầu.
Sau, vị tăng ấy đến hỏi Sư:
– Trên dòng nước chảy xiết đá cầu, ý nghĩa thế nào?
Sư đáp:
– Niệm niệm chẳng tạm dừng.
Đến ngài Triệu Châu, có vị tăng hỏi Triệu Châu: Trẻ con mới sanh có đủ sáu thức chăng? Triệu Châu đáp: Trên dòng nước chảy xiết, đá cầu.
Câu này nghe ít người hiểu nổi. Trẻ con mới sanh thì sáu căn có đủ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nhưng sáu thức nó có hoạt động như mình hay không? Con mắt thường phân biệt đẹp xấu không? Lỗ tai có biết khen chê không? Khi đó sự phân biệt theo từng cơ quan của nó không nhạy bén, nhưng dòng tâm thức luôn trôi chảy liên miên, tuy có dụng mà chưa phát ra đầy đủ. Vì thế ngài Triệu Châu nói trên dòng nước chảy xiết, đá cầu, là chỉ cho dòng tâm thức trôi chảy liên miên bên trong chứ không phải không.
Sau, vị tăng ấy đến hỏi ngài: Trên dòng nước chảy xiết, đá cầu, ý nghĩa thế nào? Ngài đáp: Niệm niệm chẳng tạm dừng. Thì đây nói thẳng.
Có vị tăng hỏi Sư:
– Cũng đồng là nước, tại sao ở biển mặn, ở sông lạt?
Sư đáp:
– Trên trời sao, dưới đất cây.
– Hòa thượng lâu nay ở đây có cảnh giới gì?
– Bé gái chừa hai chỏm, đầu bạc như tơ.
– Thế nào là Tỳ-lô (pháp thân)?
– Đã có danh tự.
– Thế nào là Tỳ-lô sư (thầy pháp thân)?
– Khi chưa có Tỳ-lô hội lấy.
Khi bốn núi (sanh, lão, bệnh, tử) ép ngặt làm thế nào?
– Năm uẩn đều không.
– Khi một niệm chưa sanh là thế nào?
– Thật là lời nói dối.
– Trên trời dưới đất chỉ ta là hơn hết, thế nào là ta?
– Xô té ông già Hồ (Phật) có lỗi gì?
– Thế nào là Hòa thượng sư?
– Đón đó chẳng thấy đầu, theo đó chẳng thấy hình.
– Khi mặt trời mặt trăng chưa sáng, Phật cùng chúng sanh ở chỗ nào?
– Thấy lão tăng giận liền nói giận, thấy lão tăng mừng liền nói mừng.
Có vị tăng hỏi ngài: Cũng đồng là nước, tại sao ở biển mặn, ở sông lạt? Ngài đáp: Trên trời sao, dưới đất cây. Hỏi mặn lạt thì ngài nói trên trời sao, dưới đất cây, dùng hai hình ảnh để đối lại.
Tăng hỏi: Hòa thượng lâu nay ở đây có cảnh giới gì? Tức là hỏi sự tu hành đạt được của ngài, ngài đáp: Bé gái chừa hai chỏm, đầu bạc như tơ. Bé gái chừa hai chỏm là còn rất nhỏ mà đầu bạc như tơ là bà già. Ngài còn theo hệ của ngài Động Sơn, dùng hình ảnh hồi hỗ. Trong Chánh có Thiên, đứa bé là chỉ cho Chánh, bà già đầu bạc là chỉ cho Thiên, Thiên và Chánh không rời nhau, trong Chánh có Thiên và ngược lại, tức là thể dụng không rời. Đó là ý nói cảnh giới của ngài.
Tăng hỏi: Thế nào là Tỳ-lô? Ngài đáp: Đã có danh tự. Vừa đặt tên Tỳ-lô hay pháp thân thì kẹt danh tự, không thể thấy được.
Hỏi: Thế nào là Tỳ-lô sư? Ông thầy này cũng bướng, đã nói kẹt danh từ còn hỏi thầy của pháp thân. Ngài đáp: Khi chưa có Tỳ-lô hội lấy. Nghĩa là muốn biết cha, thì lúc có con gọi là cha. Đây ngài nói ngược, muốn biết thầy nhằm khi chưa có tên pháp thân nhận ra thầy của pháp thân.
Tăng hỏi: Khi bốn núi ép ngặt làm thế nào? Ngài trả lời rất rõ: Năm uẩn đều không. Sở dĩ thấy sanh lão bệnh tử ép ngặt là vì thấy năm uẩn thật có. Thấy thật nên thấy có già đuổi gấp theo, lo sợ chết gần đến. Nếu thấy năm uẩn đều không thì sanh lão bệnh tử làm gì được.
Tăng hỏi: Khi một niệm chưa sanh là thế nào? Ngài đáp: Thật là lời nói dối. Vừa khởi nghĩ hỏi là có niệm, hỏi niệm chưa sanh tức là nói dối.
Hỏi: Trên trời dưới đất chỉ ta là hơn hết, thế nào là ta? Đây là hỏi khi Thái tử sanh ra, tay chỉ trời tay chỉ đất nói Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn, như vậy thế nào là ngã (ta)? Ngài đáp: Xô té ông già Hồ có lỗi gì? Chữ ngã (ta) trong câu Thái tử mới đản sanh là chỉ cho pháp thân, không phải thân của ngài. Muốn thấy cái ngã đó thì đừng kẹt trên hình tướng, nên nói: Xô té ông già Hồ có lỗi gì?
Hỏi: Thế nào là Hòa thượng sư? Tức là thầy của Hòa thượng. Ngài đáp: Đón đó chẳng thấy đầu, theo đó chẳng thấy hình. Thầy của tôi là ông đón không thấy đầu, ông theo không thấy bóng dáng.
Hỏi: Khi mặt trời mặt trăng chưa sáng, Phật cùng chúng sanh ở chỗ nào? Ngài nói: Thấy lão tăng giận liền nói giận, thấy lão tăng mừng liền nói mừng. Khi mặt trời mặt trăng chưa sáng là lúc hỗn độn sơ khai chưa có trời đất rõ ràng thì Phật, chúng sanh ở đâu? Ngài liền đáp: Thấy lão tăng giận liền nói giận, thấy lão tăng mừng liền nói mừng. Câu này muốn nói gì? Người tu chỉ nhìn thẳng thực tại hiện hữu, đừng nghĩ tới quá khứ xa xôi. Thực tại hiện hữu nên thấy tôi giận thì nói giận, thấy tôi mừng thì nói mừng, ngay đây không nói chuyện xa vời.
Chính ý nghĩa này làm sáng tỏ tinh thần bài kinh Tiễn Dụ trong Trung A-hàm. Có Sa-môn hỏi Phật: Thế giới hữu biên hay vô biên, con người sau khi chết là thường hay đoạn?… Nếu Phật trả lời thì con theo ngài tu, không trả lời thì con hoàn tục. Phật quở ngu si, ngươi hãy nhìn thẳng thân này là khổ hay không khổ, thấy thẳng cái hiện tại đây để giải quyết, còn cái xa vời kia chưa cần biết. Cái khổ hiện tại có hay không? Hãy giải quyết nó đi.
Sư hỏi một vị tăng mới đến:
– Ở đâu đến?
Tăng thưa:
– Ở núi đông núi tây lễ Tổ sư mới đến.
Sư bảo:
– Tổ sư không ở núi đông núi tây.
Tăng lặng câm.
Trà đầu (Tăng phụ trách nước uống) vào phương trượng thưa hỏi. Sư bảo:
– Hãy đi, đợi khi không người sẽ đến, ta vì Xà-lê nói.
Hôm sau, Trà đầu rình đợi lúc không người đến thưa:
– Thỉnh Hòa thượng nói.
Sư bảo:
– Lại gần đây.
Trà đầu đến gần. Sư bảo:
– Liền chẳng đặng nói lại cho người.
Trà đầu vào phương trượng thưa hỏi, ngài bảo: Hãy đi, đợi khi không người sẽ đến, ta vì Xà-lê nói. Hôm sau Trà đầu rình đợi lúc không người đến thưa thỉnh. Ông tăng này quá lương thiện. Ngài bảo đợi khi không người đến sẽ nói, không người này là lúc vắng, lúc tôi rảnh hay lúc nào? Ngài khéo nhắc chỗ dẹp sạch tình thức, nhưng Trà đầu tưởng Hòa thượng bảo mình khi nào vắng người đến. Ông đến thỉnh, thì ngài bảo: Lại gần đây. Tăng lại gần, ngài nói: Liền chẳng đặng nói lại cho người. Câu gì mà bảo chẳng đặng nói lại? Chưa nói bảo đừng nói lại, vậy là có nói chưa? Đó là một cách nói khéo làm cho Trà đầu bị gạt. Ngài cố tình gạt chăng? Một lối chỉ dạy không dùng ngôn ngữ.
Tăng hỏi:
– Sư tử là vua trong loài thú, tại sao bị sáu trần nuốt?
Sư đáp:
– Đừng ngạo mạn, không ngã nhân.
Tăng hỏi: Sư tử là vua trong loài thú, tại sao bị sáu trần nuốt? Sư tử tức là chỉ cho ông chủ, bị sáu trần nuốt tức là sáu căn bị sáu trần kéo lôi. Ngài đáp: Đừng ngạo mạn, không có ngã nhân.
Sư ở núi Đầu Tử hơn ba mươi năm, những thiền khách qua lại tham vấn thường đầy cả thất. Sư dùng biện tài vô úy tùy hỏi liền đáp, ứng cơ đối đáp lời lẽ tinh vi rất nhiều, đây lược ghi ít phần mà thôi.
Đời Đường niên hiệu Trung Hòa (881-885) giặc cướp nổi dậy, dân chúng tán loạn, có bọn cuồng đồ cầm đao lên núi, hỏi Sư:
– Ở đây làm gì?
Sư tùy nghi thuyết pháp, bọn chúng nghe đều bái phục, cởi y phục cúng dường, rồi giải tán.
Thời Ngũ Đại niên hiệu Càn Hóa năm thứ tư (914) ngày mùng sáu tháng tư, Sư có chút ít bệnh. Đại chúng rước thầy thuốc. Sư bảo chúng:
– Động tác của tứ đại họp tan là phép thường, các ngươi chớ lo, ta tự giữ lấy.
Nói xong, Sư ngồi kiết già an nhiên thị tịch. Thọ 96 tuổi, vua ban hiệu là Từ Tế đại sư, tháp hiệu Chân Tịch.
Ngài sắp tịch, có chút ít bệnh. Đại chúng rước thầy thuốc, ngài bảo: Động tác của tứ đại họp tan là phép thường, các ngươi chớ lo, ta tự giữ lấy. Nói xong, ngồi kiết già an nhiên thị tịch. Thường người đời nói rằng có sanh có tử, nhưng với ngài thì không có sanh tử. Thân này do tứ đại, khi hợp gọi là sanh, khi tan gọi là tử. Họp hay tan là việc của tứ đại, còn ta không có sanh tử. Người xưa khi thấy đạo rồi, không bị mắc kẹt trong họp tan của tứ đại. Các ngài không thấy có sanh tử thật, ngay trong sanh tử thể nhập được lý vô sanh. Đây là điều đặc biệt.
Sư họ Liêu, quê ở Hiện Đình, Quảng Châu. Lúc chín tuổi, Sư xuất gia tại núi Long Nha, Lễ Châu. Sau, Sư đến Giang Lăng tập học kinh luận chuyên luyện tam học và gắng sức tham thiền. Sư trụ trì tại Kinh Khẩu (Lễ Châu), một hôm nhân Đạo Ngô Viên Trí đi đến, rồi mách Sư đến tham vấn Hoa Đình Thuyền Tử, do đó được ngộ đạo. Sư trốn ẩn nơi vắng vẻ, mà học giả vẫn tấp nập tìm đến.
Đời Đường niên hiệu Hàm Thông thứ mười một (870), toàn chúng thỉnh Sư đến trụ tại Giáp Sơn, nơi đây liền biến thành thiền viện.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Từ có Tổ đến đây, người ta lầm hội, nối nhau nay đều lấy lời Phật tổ làm mô phạm dạy người. Như thế, trở thành kẻ cuồng người vô trí rồi. Kia chỉ bày tỏ cho các ngươi: “Không pháp vốn là đạo, đạo không một pháp; không Phật có thể thành, không đạo có thể đắc, không pháp có thể thủ, không pháp có thể xả.” Cho nên lão tăng nói: Trước mắt không pháp, ý tại trước mắt (mục tiền vô pháp, ý tại mục tiền). Kia chẳng phải là pháp trước mắt. Nếu nhằm bên Phật tổ mà học, người này chưa có mắt sáng, đều thuộc về pháp có chỗ nương không được tự tại, vẫn là thức tánh sanh tử mênh mang không có phần tự do.
Ngàn muôn dặm tìm thiện tri thức, cốt có cái thấy chân chánh hằng thoát khỏi hư dối, định lấy cái sanh tử trước mắt xem là thật có hay là thật không? Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát.
Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nhằm trong sanh tử mà nhận lấy? Chỗ nào lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sanh tử cho ông được sao? Người trí sẽ cười ông. Nghe kệ đây:
Lao trì sanh tử pháp
Duy hướng Phật biên cầu.
Mục tiền mê chánh lý
Bát hỏa mịch phù âu.
Dịch:
Nhọc gìn pháp sanh tử
Chỉ nhằm bên Phật cầu.
Trước mắt lầm lý chánh
Trong lửa bọt có đâu.
Ngài thượng đường dạy chúng: Từ có Tổ đến đây, người ta lầm hội, nối nhau đến nay đều lấy lời Phật tổ làm mô phạm dạy người. Như thế, trở thành kẻ cuồng người vô trí rồi. Lấy lời Phật lời Tổ làm mô phạm dạy người là hợp lý, tại sao ngài nói trở thành kẻ cuồng người vô trí? Chúng ta phải nghiệm thật kỹ chứ không thì mắc kẹt. Như tôi lấy tay chỉ cái đèn ở đây, người nào muốn thấy cái đèn thì nương ngón tay mà thấy. Có người nhìn ngay đầu ngón tay tôi, nói cái đèn chỗ đầu ngón tay này thì được không? Có phải cuồng vô trí không?
Kinh Phật lời Tổ là phương tiện để chỉ cái chân thật, nếu chấp vào phương tiện cho đó là thật rồi bám vào đó, chẳng khác nào chấp ngón tay quên mặt trăng. Ý ngài nhắc người học không chịu nhận cái thật của mình, chỉ theo phương tiện truyền tụng của kinh Phật lời Tổ lấy đó đi nói đi khoe. Dẫn chứng câu này lời nọ nghe như hay, nhưng thật tình không thấy được mình. Đó gọi là kẻ cuồng, người vô trí.
Kia chỉ bày tỏ cho các ngươi: Không pháp vốn là đạo. Kia tức là lời trong kinh trong luận. Đạo không một pháp, đạo là tâm thể thanh tịnh không có một pháp nào, nên nói đạo không một pháp. Không Phật có thể thành, không đạo có thể đắc, không pháp có thể thủ, không pháp có thể xả. Những câu này nghe rất nặng. Không Phật có thể thành, như vậy tu để làm chi? Có người nào không nghĩ rằng tôi tu để thành Phật không? Tại sao ngài nói Không Phật có thể thành?
Ví dụ tấm gương vốn trong sáng, bây giờ bị bụi phủ mờ, chúng ta lấy đồ chùi lau gương sáng ra. Cái sáng ra đó mới được hay là có sẵn? Gương bị bụi tối, khi chùi thấy sáng tưởng như mới, bản chất gương là sáng, tối là tại bụi, không phải tại gương, khi sáng là trở về cái cũ của nó, không có gì mới thành. Phật là Phật sẵn có mà bị vô minh phiền não che phủ, khi dẹp sạch vô minh phiền não thì Phật hiện như xưa không có gì để thành. Như chúng ta đem mấy tấm ván ráp đóng thành cái bàn, thì nói cái bàn là cái mới có. Còn đây là Phật sẵn, hết vô minh Phật vẫn như xưa, vì thế nói không Phật có thể thành.
Không đạo có thể đắc, đạo là thể tánh chân thật cũng không phải mới được. Không pháp có thể thủ, không pháp có thể xả, chúng ta có xả phiền não không? Xả rồi đổ ở đâu? Phàm những gì bỏ đi, đem đổ chỗ chứa rác. Còn xả phiền não thì đem đi đâu? Không chỉ được chỗ đổ thì có xả gì? Nó không thật lấy gì xả. Chỉ vì chúng ta quen chấp những thứ không thật cho là thật, nên nói xả phiền não này kia. Đó là chỉ lối nói không có thật.
Cho nên nói: Trước mắt không pháp, ý tại trước mắt. Rõ ràng trước mắt không pháp, ý ở ngay trước mắt. Kia chẳng phải là pháp trước mắt. Kia tức là chỉ cho thể chân thật không phải là pháp trước mắt. Nếu nhằm bên Phật tổ mà học, người này chưa có mắt sáng, đều thuộc về pháp có chỗ nương không được tự tại, vẫn là thức tánh sanh tử mênh mang không có phần tự do. Nghĩa là còn trông vào Phật còn tựa vào Tổ thì người đó còn nương tựa, chưa sáng mắt, không được tự tại, vẫn bị nghiệp thức lôi đi trong sanh tử.
Ngàn muôn dặm tìm thiện tri thức, cốt có cái thấy chân chánh hằng thoát khỏi hư dối. Cái thấy chân chánh là thấy tâm chân thật để thoát khỏi hư dối. Cái gì là hư dối? Tứ đại là hư dối, tất cả những tư tưởng nghĩ suy là hư dối. Biết rõ chúng hư dối, nhận ra chân thật ngay nơi mình, nên nói cốt tìm cái thấy chân chánh để thoát khỏi hư dối.
Định lấy cái sanh tử trước mắt xem là thật có hay là thật không? Như vậy thì quyết định xem, cái sanh tử hiện giờ là thật có hay thật không? Quyết định được chăng? Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát. Nếu quyết định rằng sanh tử hiện giờ là không thật có, chắc chắn các ông sẽ giải thoát. Nếu nói nó thật có, chắc chắn các ông trầm luân không nghi ngờ, tại sao? Vì thấy sanh tử thật thì thân này thật. Thấy thân thật mà mất thì nguy quá nên rất sợ mất thân. Bởi sợ mất thân nên nó vừa mất liền tìm thân khác gá sanh, không để mất. Như thế luôn đi trong luân hồi.
Như có người rất sợ chết, họ đang trèo lên cây cau hoặc cây dừa cao mười mấy thước, gần đó có bụi tre gai. Khi đang lên trên cao chợt sảy tay rớt, thì họ chụp đại tre gai hay để rớt xuống đất chết? Tuy biết nó là cây gai nhưng vì sợ chết vẫn níu chụp. Cũng vậy, khi thân này sắp hoại chúng ta sợ mất thân, nên dù đi trong lục đạo tốt xấu đều chạy đến chụp thọ sanh không có lựa chọn. Nhiều khi gặp thân xấu xí như con chó con heo cũng chui đại vô đó, miễn làm sao có chỗ nương là được. Đây là bệnh thấy thân là thật, phải chấp nhận luân hồi. Nếu thấy thân không thật, sanh tử không thật, không bận tâm tìm kiếm níu kéo, thì thảnh thơi hết sanh tử. Do đó ngài nói dứt khoát: Nếu có người định được lẽ này, hứa nhận ông sẽ giải thoát.
Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nhằm trong sanh tử mà nhận lấy? Chỗ nào lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sanh tử cho ông được sao? Người trí sẽ cười ông. Nghe kệ đây:
Nhọc gìn pháp sanh tử
Chỉ nhằm bên Phật cầu
Trước mắt lầm lý chánh
Trong lửa bọt có đâu.
Nhọc gìn pháp sanh tử, vì gìn giữ pháp sanh tử nên khi nghe nói thân đau nặng, thì tâm hoảng hốt, bắt đầu nước mắt tuôn ra, kêu người này cầu người kia… Chỉ nhằm bên Phật cầu, nghĩa là tìm cầu xin cứu giúp, rủ huynh đệ đến cầu an, nếu chết thì xin cầu siêu giùm. Cứ như vậy mà cầu, không nhận ông Phật của mình. Nếu nhận ra Phật của mình thì tự do không cầu bên ngoài nữa. Chúng ta dạy Phật tử nên nhận ra cái đó hay chỉ một bề hướng về Phật cầu?
Trước mắt lầm lý chánh. Lý chân thật hiện tiền trước mắt, Phật hiện tại ở ngay nơi mình lại không nhận ra. Vì mê lầm nên tu lầm, chỉ dạy lầm, không đưa người đi đúng đường. Trong lửa bọt có đâu. Trong lò lửa có bọt nước không? Chỉ làm việc không công. Tổ quở chúng ta làm việc không ra gì, qua suông một đời tu.
Lời dạy của ngài rất tha thiết, chỉ thẳng chỗ chân thật. Vì thương chúng ta không nhận ra Phật của chính mình, tìm cầu Phật bên ngoài, mệt nhọc chạy theo sanh tử. Cầu nguyện là thói quen khó bỏ, tuy biết là không thực tế, như tìm bọt trong lò lửa, nhưng đa số lầm mê cứ đi theo. Đạo lý chân thật là quay trở về với chính mình, nhận rõ ý này chúng ta hiểu lời dạy của thiền sư Thiện Hội.
Có vị tăng hỏi:
– Từ trước lập ý Tổ và ý kinh, vì sao độ này Hòa thượng nói không?
Sư đáp:
– Ba năm chẳng ăn cơm, trước mắt không người đói.
– Đã không người đói, tại sao con chẳng ngộ?
– Chỉ vì ngộ mê đuổi Xà-lê.
Sư nói tụng:
Minh minh vô ngộ pháp
Ngộ pháp khước mê nhân
Trường thư lưỡng cước thùy
Vô ngụy diệc vô chân.
Dịch:
Rõ ràng không pháp ngộ
Pháp ngộ đuổi người mê
Duỗi thẳng hai chân ngủ
Không ngụy cũng không chân.
Có vị tăng hỏi: Từ trước lập ý Tổ và ý kinh, vì sao độ này Hòa thượng nói không? Nghĩa là từ các bậc tiên thánh đều nói có ý Tổ ý kinh rõ ràng, tại sao Hòa thượng nói không? Ngài đáp: Ba năm chẳng ăn cơm, trước mắt không người đói. Câu đáp này ý nói gì? Nếu có ăn mới no là thuộc hình tướng sanh diệt không ăn mà không đói là chỉ cái không sanh diệt sẵn có không cần bồi bổ gì hết. Tăng hiểu được ý này nên hỏi: Đã không người đói, tại sao con chẳng ngộ? Ngài nói: Chỉ vì mê ngộ đuổi Xà-lê. Vì còn thấy hai bên cho nên ông không ngộ.
Ngài nói tụng:
Rõ ràng không pháp ngộ
Pháp ngộ đuổi người mê.
Duỗi thẳng hai chân ngủ
Không ngụy cũng không chân.
Người tu rất mong được chứng ngộ, khởi tâm tìm cầu pháp ngộ. Ngài khẳng định không có pháp nào gọi là mê hay ngộ, chỉ vì thấy có ngộ có mê, là hai pháp đuổi nhau. Người không còn thấy có hai bên mê ngộ khác nhau, duỗi thẳng hai chân ngủ, không còn ngụy cũng không còn chân.
Chúng ta thử suy nghĩ, điều gì không dính hai bên, không kẹt mê ngộ, phàm thánh… lúc đó tâm thế nào? Rõ ràng không dính hai bên là chỗ chân thật, nếu còn suy nghĩ đây là Niết-bàn kia là sanh tử, đây là chân như kia là phiền não… đều còn có hai bên, còn có xao xuyến. Không còn có niệm hai bên thì lúc đó an ổn, nằm duỗi thẳng chân ngủ. Như vậy đạo lý không xa vời, không cần tìm ngộ bỏ mê, chỉ cần không dính hai bên. Ngài thường dùng chữ “thùng sơn” ý quở trách cái dính khắn của người tu.
Sư có nuôi một đạo nhỏ theo làm thị giả đã lâu, sau khi Sư dừng trụ bèn khiến đi hành khước. Ông đạo đi khắp các thiền hội mà không có chỗ dụng tâm, nghe thầy họp chúng dạy đạo nổi danh vang dậy. Ông bèn trở về hầu hạ, thưa:
– Hòa thượng có việc kỳ đặc như thế, tại sao trước chẳng chỉ dạy cho con?
Sư bảo:
– Ngươi nấu cơm thì ta nhóm lửa, ngươi bưng dọn thì ta giở chén, có chỗ nào mà ta cô phụ ngươi?
Ông đạo nhân đây ngộ nhập.
Ngài có nuôi một ông đạo nhỏ sai làm thị giả đã lâu, sau ngài trụ Giáp Sơn bèn sai đi tham vấn các nơi. Ông thầy nhỏ này tham vấn các nơi, không được gì, nghe thầy mình dạy chúng nổi danh, ông trở về trách thầy: Hòa thượng có việc kỳ đặc như thế, tại sao trước chẳng chỉ dạy cho con? Ngài trả lời: Ngươi nấu cơm thì ta nhóm lửa, ngươi bưng dọn thì ta giở chén, có chỗ nào mà ta cô phụ ngươi? Ngay đó ngộ nhập, ông thầy này cũng lanh lợi.
Có đại đức đến hỏi:
– Về ý kinh thì con chẳng nghi, chỉ việc trong thiền môn là thế nào?
Sư đáp:
– Lão tăng cũng chỉ biết biến sống thành chín. – Thế nào là lý thật tế?
– Cây trên đá không rễ, núi ngậm mây chẳng động.
– Thế nào là sư tử ra khỏi hang?
Hư không chẳng hình bóng, dưới chân mây đồng nội dậy.
Có đại đức đến hỏi: Về ý kinh thì con chẳng nghi, chỉ việc trong thiền môn là thế nào? Ngài đáp: Lão tăng cũng chỉ biết biến sống thành chín. Trong thiền môn chỉ có việc biến sống thành chín. Như trái xoài hay trái mít, sống và chín cũng là trái đó, chỉ khác là khi sống thì chua chát không ăn được, chín thì ngọt thơm. Nhà thiền cũng vậy, chúng sanh sẵn có cái đó mà khi chưa nhận ra, chưa được viên mãn thì các ngài nói là sống, khi chỉ cho nhận ra rồi các ngài nói là chín, biến sống thành chín, không cho thêm gì cả.
Tăng hỏi: Thế nào là lý thật tế? Ngài đáp: Cây trên đá không rễ, núi ngậm mây chẳng động. Lý thật tế là như vậy, cây mọc trên đá không có rễ, núi ngậm mây không dấy động.
Hỏi: Thế nào là sư tử ra khỏi hang? Sư tử là ông chủ, ra khỏi hang là dụng. Khi sư tử ra khỏi hang đi tìm mồi, đó là khi ông chủ đã khởi dụng. Ngài trả lời: Hư không chẳng hình bóng, dưới chân mây đồng nội dậy. Trong hư không có hình bóng gì không? Trong bầu hư không đó, khi nắng rồi mưa, hơi dưới đất bốc lên thành mây, mây nổi lên trong hư không. Đó là trả lời câu hỏi sư tử ra khỏi hang. Sư tử dụ cho hư không, ra khỏi hang là dụ cho mây đồng nội dậy.
Trong hội của Sư có một vị tăng đi đến Thạch Sương, vào cửa liền nói:
– Chào Thầy!
Thạch Sương bảo:
– Chẳng cần, Xà-lê. Tăng liền nói:
– Thế ấy thì trân trọng.
Tăng lại đi đến Nham Đầu, cũng nói:
– Chào Thầy!
Nham Đầu bèn “Hư! Hư”
Tăng nói:
– Thế ấy thì trân trọng.
Tăng vừa bước trở ra, Nham Đầu bảo:
– Tuy là hậu sanh cũng khá sắp xếp.
Tăng về tường thuật cho Sư. Hôm sau, Sự lên tòa bèn gọi:
– Vị tăng hôm qua từ Thạch Sương Nham Đầu về, ra đây thuật lại lời trước xem.
Tăng thuật xong, Sư bảo:
– Đại chúng lại hội chăng? Nếu không người nói, lão tăng chẳng tiếc hai sợi lông mày để nói ra.
Thạch Sương tuy có dao sát nhân mà không có kiếm hoạt nhân. Nham Đầu có dao sát nhân cũng có kiếm hoạt nhân.
Có vị tăng trong hội của ngài đi đến Thạch Sương, vào cửa liền nói: Chào Thầy! Ngài Thạch Sương bảo: Chẳng cần, Xà-lê. Tăng liền nói: Thế ấy thì trân trọng. Trân trọng là chào ra đi.
Tăng lại đi đến ngài Nham Đầu nói: Chào Thầy! Nham Đầu bèn Hư! Hư! Hai tiếng “hư hư” đâu có gì để nói, Tăng cũng trân trọng chào đi. Khi ra đi, ngài Nham Đầu nói thêm một câu: Tuy là hậu sanh cũng khá sắp xếp. Đó là câu khen, nếu vị tăng này lanh lợi thì có hành động để đối lại. Nhưng ông không nói câu gì, về thuật lại với ngài Thiện Hội. Ngài bảo: Đại chúng lại hội chăng? Nếu không người nói, lão tăng chẳng tiếc hai sợi lông mày để nói ra. Bèn nói: Thạch Sương tuy có dao giết người, không có kiếm cứu người. Nham Đầu cũng có dao giết người cũng có kiếm cứu người.
Tăng hỏi:
– Thế nào là cảnh Giáp Sơn?
Sư đáp:
Vượn bồng con về ngọn núi biếc
Chim ngậm hoa đậu trước non xanh.
Giáp Sơn là cảnh của ngài ở. Giả sử có người đến hỏi: Thế nào là cảnh Thường Chiếu? Chúng ta trả lời thế nào? Cửa bước vào có hai hàng dương, bên phải là ruộng, bên trái là hàng đào hay vườn đào. Đó là cảnh của đất đai cây cối, không phải cảnh của mình. Nói về cảnh của mình tức là nói chỗ sở đắc. Vì thế ngài trả lời: Vượn bồng con về ngọn núi biếc, chim ngậm hoa đậu trước non xanh. Câu này nên thơ, cảnh Giáp Sơn là như vậy, phải không? Ý ở đây còn liên hệ tông Tào Động, cứu cánh là nhiếp dụng quy thể. Vượn chim trở về núi, đó là dụng trở về thể.
Đời Đường niên hiệu Trung Hòa năm đầu (881) ngày mùng bảy tháng mười một, Sư gọi Chủ sự bảo:
– Ta cùng chúng tăng nói pháp nhiều năm, ý chỉ thâm sâu của Phật pháp mỗi người nên tự biết. Nay chất huyễn của ta khi hết liền đi, các ông khéo gìn giữ như ngày ta còn, chớ giống như người đời sinh ra buồn thảm.
Ngay đêm ấy, Sư an nhiên mà tịch, thọ 77 tuổi, 57 tuổi hạ. Vua phong là Truyền Minh đại sư, tháp hiệu Vĩnh Tế.
Ngài sắp tịch, dặn dò đệ tử, ngài dạy đã lâu nói đã nhiều, việc tu hành mỗi người hãy gắng tự biết.
Nay chất huyễn của ta khi hết liền đi, các ông khéo gìn giữ như ngày ta còn, chớ giống như người đời sinh ra buồn thảm. Người đạt đạo thấy thân này như huyễn, hết duyên liền đi, nhất định giải thoát không ràng buộc. Nếu còn thấy thật tức còn trầm luân. Ngài để lại lời căn dặn: Các ông phải khéo giữ gìn như ngày ta còn. Nghĩa là khi ta còn thì việc tu hành như vậy, ta đi thì cũng phải giữ như vậy, đó là tốt. Không nên bày ra khóc lóc giống như phàm tình. Đó là tinh thần của người tu.
Học ngôn hạnh các thiền sư, chúng ta thấy rõ con đường sanh tử không khó thoát ra. Thấy khó là tại chúng ta chấp mê thân không thật, tâm duyên theo sáu trần không thật. Từ cái chấp đó mà dính hết sáu trần, vì vậy cứ chìm trong sanh tử. Nếu phá được chấp mê đó, thấy thân này như huyễn hóa, đủ duyên thì hợp thiếu duyên thì tan, còn có một cái không sanh diệt. Như thế là giải thoát không nghi ngờ.
Ngài Lâm Tế đối với Phật giáo Việt Nam rất hệ trọng, tất cả tăng ni cư sĩ đều có ít nhiều liên hệ tới tông Lâm Tế. Như các Hòa thượng khi thị tịch, trên bài vị đều có câu “Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam, Tứ Thập Tứ…”, nghĩa là kế thừa dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ bốn mươi ba hoặc bốn mươi bốn… Các Phật tử trước đây quy y, lá phái bằng chữ Hán luôn luôn để Lâm Tế Chánh Tông hoặc Lâm Tế Gia Phổ. Như vậy kế thừa dòng Lâm Tế mà có biết tổ Lâm Tế là ai, ngài tu làm sao, ngài dạy cái gì? Nếu không biết thì đó là kế thừa rỗng, chỉ có danh tự không có thực chất.
Tổ Lâm Tế ra đời khoảng thế kỷ thứ IX, hệ phái của ngài đến bây giờ vẫn còn truyền bá, chứng tỏ sức dài lâu mạnh bền. Muốn thấy chỗ kỳ đặc của ngài, muốn biết sự truyền thừa bền vững lâu dài đó, chúng ta phải tìm hiểu rõ chỗ thâm ngộ và tinh thần truyền bá của ngài như thế nào. Hiểu được thì mới thấy cái hay của người xưa, nếu không hiểu thì đọc sử của ngài mà không biết nói gì. Nhất là ngài Lâm Tế có nhiều việc kỳ đặc, lời dạy của ngài rất lạ, người tầm thường không hiểu nổi.
Sư hiệu Nghĩa Huyền họ Hình quê ở Nam Hoa thuộc Tào Châu. Thuở nhỏ Sư đã có chí xuất trần, đến lớn xuất gia thọ giới Cụ túc. Thường dừng các nơi giảng pháp, nghiên cứu tinh tường giới luật, thâm hiểu kinh luận, Sư than rằng: “Đây là phương thuốc cứu đời, chưa phải yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền.” Sư liền đi du phương.
Ngài Lâm Tế khi xuất gia, thọ giới Cụ túc rồi thường dừng ở các nơi giảng pháp, ngài đến đó học hỏi, nghiên cứu tinh tường giới luật và thâm hiểu kinh luận. Tuy thông hiểu kinh luật luận, nhưng ngài không hài lòng mà than rằng: Đây là phương thuốc cứu đời, chưa phải yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền.
Kinh luật luận là phương thuốc cứu đời, cứu được cái khổ chúng sanh là điều quý, tại sao ngài lại không bằng lòng, đòi phải được giáo ngoại biệt truyền? Đức Phật thuyết pháp như thầy thuốc trị bệnh cho chúng sanh, chúng sanh có bệnh nào thì ngài nói pháp đó. Nếu là bệnh rét thì dùng thuốc rét trị, bệnh đau bụng thì dùng thuốc đau bụng trị… Mỗi thứ thuốc trị mỗi thứ bệnh, đó là pháp đối cơ, là phương tiện tùy thời. Nếu người không bệnh có cần thuốc không? Lục Tổ nói “Phật nói tất cả pháp vì độ tất cả tâm, ta không tất cả tâm đâu cần tất cả pháp”. Như vậy người có bệnh mới cần thuốc, kinh luật luận như là phương tiện, còn giáo ngoại biệt truyền là chỉ thẳng tâm người thấy tánh thành Phật, ai cũng có cái đó, ai cũng thành Phật, không đợi riêng có bệnh mới trị.
Trước nhất, Sư đến hội Hoàng Bá. Ở đây, Sư oai nghi nghiêm chỉnh đức hạnh chu toàn. Thủ tọa (Trần Tôn Túc) thấy khen rằng: “Tuy là hậu sanh cùng chúng chẳng giống.” Thủ tọa bèn hỏi:
– Thượng tọa ở đây được bao lâu?
Sư thưa:
– Ba năm.
– Từng tham vấn chưa?
– Chưa từng tham vấn, cũng chẳng biết tham vấn cái gì?
– Sao Thầy không đến hỏi Hòa thượng đường đầu, thế nào là đại ý Phật pháp.
Sư liền đến hỏi. Chưa dứt lời, Hoàng Bá liền đánh. Sư trở xuống, Thủ tọa hỏi:
– Hỏi thế nào?
Sư thưa:
– Tôi hỏi lời chưa dứt, Hòa thượng liền đánh, tôi chẳng hội.
– Nên đi hỏi nữa.
Sư lại đến hỏi, Hoàng Bá lại đánh. Như thế ba phen hỏi, bị ba lần đánh. Sư đến bạch Thủ tọa:
– Nhờ lòng từ bi của Thầy dạy tôi đến thưa hỏi Hòa thượng, ba phen hỏi bị ba lần đánh, tôi tự buồn chướng duyên che đậy không lãnh hội được thâm chỉ. Nay xin từ giã ra đi.
– Nếu khi Thầy đi nên đến giã từ Hòa thượng rồi sẽ đi.
Sư lễ bái trở về phòng. Thủ tọa đến thất Hòa thượng trước, thưa:
– Người đến thưa hỏi ấy, thật là đúng pháp, nếu khi đến từ, Hòa thượng dùng phương tiện tiếp y, về sau đục đẽo sẽ thành một gốc đại thọ che mát người trong thiên hạ.
Sư đến từ. Hoàng Bá bảo:
– Chẳng nên đi chỗ nào khác, ngươi đi thẳng đến Cao An chỗ thiền sư Đại Ngu, ông ấy sẽ vì ngươi nói.
Ngài du phương đến Hoàng Bá, trong hội này ngài oai nghi nghiêm chỉnh đức hạnh chu toàn. Nghĩa là đi đứng nằm ngồi, hoạt động nào cũng đầy đủ oai nghi không thô tháo như người thường. Ngài ở trong hội ngài Hoàng Bá ba năm mà chưa hỏi một câu. Tại sao? Vì ngài là người rất nghiêm túc điềm đạm không bộp chộp hấp tấp. Chúng ta thì tới đâu cũng muốn khoe kiến giải, hỏi chỗ này hỏi chỗ kia lăng xăng mà rốt cuộc chưa có cái nhìn thấu đáo. Còn ngài tuy ở lâu, nhưng để nghiệm xem huynh đệ hỏi thế nào, Hòa thượng dạy thế nào, từ từ cho thấm. Thủ tọa Trần Tôn Túc là bậc thấy đạo, nhìn qua hành động tư cách của ngài Lâm Tế nên lưu tâm.
Mới nghe dường như ngài là người dốt, nhưng kỳ thực không phải. Thủ tọa chú ý đến ngài, Hòa thượng đường đầu có chú ý không? Ngài Hoàng Bá cũng đã chấm ngài rồi. Nghĩa là tuy chưa hỏi câu nào mà đã đánh dấu trước, nên khi lên hỏi thì xử sự khác, đâu phải ai hỏi cũng cho ăn đòn. Thuật đó chỉ dùng với người tương đối đã chọn lựa kỹ. Đừng tưởng rằng ai hỏi ngài Hoàng Bá cũng đánh, không phải vậy. Tất cả người khác hỏi ngài không đánh, mà tới Lâm Tế hỏi ngài đánh. Tại sao Thủ tọa không xúi người khác hỏi, lại xúi ngài Lâm Tế? Vì trong chúng ngài Lâm Tế có tư cách đặc biệt, nên dành riêng cái ưu tiên cho ngài. Ưu tiên bằng cách ăn gậy.
Qua đoạn này, chúng ta thấy như ngài Hoàng Bá tàn nhẫn, với câu hỏi có lý: Thế nào là đại ý Phật pháp? Đại ý Phật pháp là giác ngộ, giải thoát… Đó là ngôn ngữ bình thường. Nhưng với ngài Hoàng Bá, hỏi câu đó rồi liền đánh, không trả lời. Không phải một lần, hỏi lần thứ hai cũng đánh, tới lần thứ ba hỏi cũng đánh. Người đến hỏi mà cứ bị ăn đòn, không được dạy một câu một lời thì có tủi thân không? Nếu chúng ta bây giờ bị đánh một lần chắc xách gói đi liền, đừng nói tới lần thứ hai thứ ba. Ngài Lâm Tế ẩn nhẫn hỏi ba lần cũng đều bị đòn, tự nghĩ chướng duyên che đậy nên chuẩn bị ra đi.
Như thế là ngài Hoàng Bá cố tình đánh đuổi đi hay cố tình làm gì? Phàm việc gì có ảnh hưởng lâu dài sâu đậm là làm cho chúng ta rất đau khổ. Cái mà chúng ta đau khổ tột cùng thì cái đó nhớ suốt đời không quên. Đây là thuật đặc biệt của ngài Hoàng Bá đối với ngài Lâm Tế. Đánh cho đủ ba lần, không kham nữa mới từ giã ra đi, khi đó trong lòng đã đau khổ vô cùng. Tại sao mình thiếu duyên thiếu phúc mà ai nấy hỏi được giải đáp còn mình lại ăn đòn? Nỗi khổ ấy chồng chập thống thiết bên trong.
Khi từ giã đi, ngài Hoàng Bá chỉ bảo đến Cao An chỗ thiền sư Đại Ngu, sẽ vì ông mà nói. Trên đường đi này ít ra cũng năm bảy ngày, nỗi thống khổ dồn dập tích chứa trong lòng đến cả chục ngày.
Sư đến Đại Ngu. Đại Ngu hỏi:
– Ở chỗ nào đến?
Sư thưa:
– Ở Hoàng Bá đến.
– Hoàng Bá có dạy lời gì?
– Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?
– Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến đây hỏi có lỗi không lỗi?
Ngay câu nói ấy, Sư đại ngộ, thưa:
– Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Đại Ngu nắm đứng lại, bảo:
– Con quỷ đái dầm! Vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì, nói mau! Nói mau!
Sư liền cho vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu buông ra, nói:
– Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì việc của ta.
Sư từ tạ Đại Ngu trở về Hoàng Bá.
Như chúng ta cũng nói thế thôi, thưa hỏi mà không biết câu đó có xúc phạm Hòa thượng không? Cứ trình bày chỗ nghi trong lòng. Muốn nhờ ngài Đại Ngu phán xét là có lỗi hay không lỗi. Ngài Đại Ngu là bậc tri âm của ngài Hoàng Bá, nghe nói liền biết Hoàng Bá dùng thủ thuật gì với người này. Ngài nói: Bà già Hoàng Bá đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến đây hỏi có lỗi không lỗi?
Ngài nhấn mạnh ngài Hoàng Bá chỉ tận chỗ tột khổ rồi, tột khổ là tột cùng của nỗi khổ, nếu thấy được chỗ đó là qua khỏi hết khổ, ông còn nghĩ có lỗi không lỗi là còn nghĩ trong đối đãi, làm sao hiểu được Hoàng Bá? Nghe tới đó ngài Lâm Tế bừng ngộ, thấy được chỗ Hoàng Bá dạy, liền thốt lên câu: Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều.
Thật ra chân lý hết sức đơn giản, do vọng tưởng của chúng ta mà trở thành phiền toái. Khi thấy được chân lý đơn giản này ngài Lâm Tế thốt lên câu: Phật pháp Hoàng Bá không nhiều. Ngài Đại Ngu biết gã này đã thấy, nhưng còn e dè chưa biết thấy tột cùng hay mơ hồ, ngài bèn nắm lại bảo: Con quỷ đái dầm, vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì, nói mau! Nói mau! Đó là thúc giục trình chỗ thấy ra xem.
Ngài Lâm Tế bị ăn đòn ba lần thì phải trả bằng như vậy. Chỗ ngộ của ngài không qua một lời của Hoàng Bá, bây giờ trả lại chỗ ngộ đó bằng cái gì? Nếu dùng lời thì không phải chỗ mình thấy nên thoi lại ba thoi. Đó là trung thực chỉ cái thấy của mình cho ngài Đại Ngu. Ngài biết chú này xong việc, liền đẩy ra bảo: Thầy của ngươi là Hoàng Bá không can hệ gì tới ta.
Khi ngài Hoàng Bá giới thiệu Lâm Tế tới ngài Đại Ngu, ngài đã biết ý Hoàng Bá thế nào rồi. Khi xong việc thấy người đệ tử đó đã ngộ, thật ra nếu không có ba gậy của Hoàng Bá, thì làm gì tới đây ngộ được, nên ngài Đại Ngu trả Lâm Tế đâu về đó. Lời giải của ngài Đại Ngu chỉ là gạn lại, Hoàng Bá đã tột cùng với ông. Lâm Tế nghĩ đánh ba gậy là phạt, là quở là rầy, không ngờ vì nhiệt tình muốn đưa mình tới chỗ đạt đạo. Chừng biết được mới giật mình liền ngộ.
Hoàng Bá thấy Sư về, liền bảo:
– Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ.
Sư thưa:
– Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha, nên nhân sự đã xong, đứng hầu.
– Đến đâu về?
– Hôm trước vâng lời dạy của Hòa thượng đến tham vấn Đại Ngu trở về.
– Đại Ngu có lời dạy gì?
Sư liền thuật lại việc trước. Hoàng Bá bảo:
– Lão Đại Ngu này đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn đòn.
Sư tiếp:
– Nói gì đợi đến, ngay bây giờ cho ăn.
Sư liền bước tới sau lưng Hoàng Bá tát một tát. Hoàng Bá bảo:
– Gã phong điên này lại đến đây vuốt râu cọp.
Sư liền hét. Hoàng Bá gọi:
– Thị giả! Dẫn gã phong điên này lại nhà thiền.
Ngài Hoàng Bá thấy Lâm Tế về, không biết đã xong việc chưa. Chúng ta đừng nghĩ rằng người ngộ được bản tâm thì biết quá khứ vị lai, biết tâm của người khác. Biết được bản tâm mình, không phải là có thần thông, nên khi thấy đứa học trò đi mấy ngày nay trở về bèn hỏi: Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ. Lâm Tế thưa: Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha, nên nhân sự đã xong, đứng hầu. Ngài Hoàng Bá hỏi thêm: Đến đâu về? – Hôm trước vâng lời dạy của Hòa thượng đến tham vấn Đại Ngu trở về. – Đại Ngu có lời dạy gì? Ngài liền thuật lại việc trước. Hoàng Bá bảo: Lão Đại Ngu này đã buông lời, chỗ ta không có lời mà lão đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn đòn. Đại Ngu có đáng trách hay không? Nếu không buông lời thì làm gì Lâm Tế hiểu được ý Thầy. Lời hứa cho ăn đòn là ăn đòn thưởng, Lâm Tế biết liền nói: Nói gì đợi đến, ngay bây giờ cho ăn. Nói xong liền tát Hoàng Bá. Đây là đòn thưởng, không phải thưởng Đại Ngu mà thưởng Hoàng Bá, vì người làm cho ngộ là Hoàng Bá. Hoàng Bá bảo: Gã phong điên này lại đến đây vuốt râu cọp. Lâm Tế liền hét. Hoàng Bá gọi: Thị giả! Dẫn gã phong điên này lại nhà thiền.
Ngài Lâm Tế trước khi chưa thấy đạo, oai nghi cử chỉ rất điềm đạm đứng đắn, nhưng khi thấy đạo rồi lại như ngông cuồng, không có thứ tự oai nghi lễ tiết gì. Như vậy có phải là dở hay không? Trong nhà thiền thường nói khi xổ cờ ra trận thì không thấy có thầy. Thầy trò chỉ phân biệt ở lãnh vực bên ngoài, còn lúc cơ phong vấn đáp thì phải trổ hết tài để thắng. Hiểu như vậy, thì những đoạn sau mới hiểu chỗ ra tay của ngài Lâm Tế.
Sư trồng tùng, Hoàng Bá hỏi:
– Trong núi sâu trồng tùng làm gì?
Sư thưa:
– Một cho sơn môn làm cảnh trí, một cho người sau làm tiêu bảng.
Nói xong, Sư trở đầu cuốc đánh xuống đất ba cái. Hoàng Bá bảo:
– Tuy nhiên như thế, con đã ăn ba mươi gậy của ta rồi.
Sư lại dùng đầu cuốc đánh xuống đất ba cái, cất tiếng “Hư! Hư!” Hoàng Bá bảo:
– Tông của ta đến con rất hưng thịnh ở đời.
Trồng tùng thứ nhất để làm đẹp cho cảnh chùa, thứ hai là làm tiêu biểu cho người sau nhắm đến. Câu này cho thấy hàm ý truyền đạo lâu dài của ngài. Cho đến bây giờ người ta còn vâng theo tiêu bảng đó.
Nói xong, Sư trở đầu cuốc đánh xuống đất ba cái. Nghĩa là ăn ba gậy thì giờ làm gì cũng ba cái không còn ngôn ngữ gì. Hoàng Bá nói: Tuy nhiên như thế, con đã ăn ba mươi gậy của ta rồi. Nghĩa là tuy là ông làm được như vậy nhưng ông đã thua rồi. Sư lại dùng đầu cuốc đánh xuống đất ba cái, cất tiếng “Hư! Hư!” Ngài Hoàng Bá nói: Tông của ta đến con rất hưng thịnh ở đời.
Chỗ ngài Lâm Tế ngộ và ứng dụng là không còn dùng ngôn ngữ, mà chỉ thẳng chỗ tột cùng. Đây là chỗ rất khó, vì khó nên bền. Cái quý là cái khó, còn dễ quá thì không quý. Như vô nhà người có thấy được chỗ để gia tài quý báu của họ không? Đồ quý lúc nào cũng khó thấy, khó được, còn đồ quảng cáo thì rất dễ, nhan nhản trước mắt. Vì thế người đi học đi tu mà chỉ muốn tìm chỗ dễ, ăn ngon mặc đẹp, đó là người không muốn cầu đạo, chỉ muốn sung sướng. Chỗ nào thực tình vì đạo thì phải khó chứ không dễ. Dễ tìm dễ thấy thì không phải là vật quý.
Một hôm Sư ngồi trước tăng đường, thấy Hoàng Bá đến, liền nhắm mắt lại. Hoàng Bá làm thế sợ, liền trở về phương trượng. Sư theo đến phương trượng lễ tạ. Thủ tọa đứng hầu ở đó, Hoàng Bá bảo:
– Vị tăng đây tuy là hậu sanh lại biết có việc này.
Thủ tọa thưa:
– Hòa thượng già gót chân chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sanh.
Hoàng Bá liền vả trên miệng một cái. Thủ tọa thưa:
– Biết là được.
Một hôm Lâm Tế ngồi trước tăng đường, thấy Hoàng Bá đến liền nhắm mắt lại. Như mấy chú ngồi trước tăng đường, thấy tôi đến thì đứng dậy chào, như vậy mấy chú lễ phép hơn ngài rồi. Thấy học trò nhắm mắt, ông thầy giả bộ như sợ, né qua bên liền trở về phương trượng. Ngài Hoàng Bá về phương trượng rồi, Lâm Tế theo đến phương trượng lễ tạ. Như vậy là sao? Đây là khai chiến, nên khi thấy thầy đến, ngài Lâm Tế vẫn tỏ ra ở trong thế như như bất động. Thấy vậy ngài Hoàng Bá làm ra vẻ sợ. Nghĩa là người đối diện với mình tỏ vẻ hơn trên thì mình né qua, tránh đi. Nếu tránh đi mà người kia cứ giữ như vậy hoài thì đó là không hiểu gì hết. Ngài Lâm Tế thấy Hoàng Bá làm thế sợ trở về phương trượng, thì lúc đó thấp mình xuống đi tới đánh lễ. Đó là đối đáp đầy đủ.
Thủ tọa là ngài Trần Tôn Túc đứng hầu ở đó, Hoàng Bá bảo: Vị tăng đây tuy là hậu sanh lại biết có việc này. Thủ tọa thưa: Hòa thượng già gót chân chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sanh. Hoàng Bá liền vả vô miệng một cái. Thủ tọa nói: Biết là được.
Trong nhà thiền không cho nói trắng ra, đã nói trắng ra tức là phạm lỗi. Ngài Hoàng Bá mừng thấy có đứa đệ tử tốt như vậy, mới khoe với Thủ tọa. Khen biết có việc này. Đó là nói trắng rồi, nên Thủ tọa quở lại: Hòa thượng già gót chân chẳng dính đất, lại chứng cứ kẻ hậu sanh. Tức là hồi xưa tới giờ Hòa thượng không dính chút đất, bây giờ chứng cứ kẻ hậu sanh, tức là dính đất rồi. Ngài Hoàng Bá vả miệng, tức thấy lỗi của mình. Thủ tọa nói: Biết là được, vả miệng làm chi. Ý nghĩa đối đáp giữa thầy trò là như vậy.
Sư ngủ trong tăng đường, Hoàng Bá đến thấy, lấy gậy đánh bảng một tiếng. Sư ngóc đầu xem thấy Hoàng Bá liền nhắm mắt. Hoàng Bá lại đánh bảng một tiếng, lại đi đến gian trên thấy Thủ tọa ngồi thiền. Hoàng Bá bảo:
Gian dưới hậu sanh lại ngồi thiền, ông ở đây vọng tưởng làm gì?
Thủ tọa nói:
– Ông già làm gì?
Hoàng Bá đánh bảng một tiếng, liền đi ra.
Ngài ngủ trong tăng đường, Hoàng Bá đến thấy, lấy gậy đánh bảng một tiếng. Ngài ngóc đầu xem thấy Hoàng Bá liền nhắm mắt. Thật là ngỗ nghịch, nếu khi mấy chú ngủ, tôi đi tuần đánh bảng, mấy chú ngồi dậy thấy tôi thì ngồi luôn tới khuya, làm sao dám nằm nữa. Đây ngài Lâm Tế nằm nhắm mắt, có ngủ không? Nếu ngủ thì đâu có ngóc đầu dậy, không ngủ mà tại sao nằm không trổi dậy? Ngài Hoàng Bá đánh một tiếng bảng, lại đi đến gian trên thấy Thủ tọa ngồi thiền. Hoàng Bá bảo: Gian dưới hậu sanh ngồi thiền, ông trong đây vọng tưởng làm gì?
Rất kỳ lạ, người ngủ thì gọi là ngồi thiền, người ngồi thiền gọi là vọng tưởng. Bởi vì theo cái nhìn của ngài Hoàng Bá và Lâm Tế, thiền không phải chỉ có lúc ngồi. Đi đứng nằm ngồi cũng đều là thiền, thiền là không động, chính cái không động đó mới gọi là thiền. Ngài Lâm Tế thấy ông thầy đến, thấy rõ ràng mà vẫn nằm im ru, thì lúc đó động hay không động? Không động tức là thiền. Trên này Thủ tọa ngồi thiền tức là đang dụng công hàng phục vọng tưởng, còn dụng công cũng là một loại vọng tưởng. Nên ngài Hoàng Bá nói ông ở đây vọng tưởng. Thủ tọa nói: Ông già làm gì? Hoàng Bá đánh bảng một tiếng, liền đi ra.
Một hôm, ngày công tác công cộng, Sư đi đằng sau. Hoàng Bá ngó ngoái lại thấy Sư đi tay không bèn hỏi:
– Cuốc đâu?
Sư thưa:
– Có người đem đi rồi.
Hoàng Bá gọi:
– Lại gần đây cùng ngươi bàn luận một việc.
Sư lại gần. Hoàng Bá dựng đứng cây cuốc bảo:
Chỉ cái này, mọi người nắm bắt chẳng được.
Sư chụp tay giật lấy cây cuốc, đưa lên nói:
– Tại sao lại ở trong tay của con?
Hoàng Bá nói:
– Ngày nay đã có người thay công tác.
Hoàng Bá trở về viện.
Đây là câu chuyện rất lý thú. Một hôm, ngày công tác công cộng, ngài đi sau. Hoàng Bá ngó ngoái lại thấy đi tay không bèn hỏi: Cuốc đâu? Ngài thưa: Có người đem đi rồi. Đoạn này mới nghe qua, tưởng như ngài vô phép. Công tác công cộng chữ Hán gọi là phổ thỉnh, tức ngày tất cả làm việc chung, từ Hòa thượng đường đầu cho tới toàn chúng phải đi làm hết.
Như vậy Hòa thượng còn vác cuốc, mà chú đệ tử lại đi tay không. Nhưng đâu không phải là lòng hiếu thảo của ngài, vì muốn giật cuốc của ông thầy nên nếu đem cuốc đi thì dư. Đi tay không, không có nghĩa là làm biếng mà muốn thay cho ông thầy. Hoàng Bá biết ý rồi liền nói: Lại gần đây cùng ngươi bàn luận một việc. Ngài lại gần. Hoàng Bá dựng đứng cây cuốc bảo: Chỉ cái này, mọi người nắm bắt chẳng được. Ngài chụp tay giật lấy cây cuốc, đưa lên nói: Tại sao lại ở trong tay của con? Hoàng Bá nói: Ngày nay đã có người thay công tác, rồi trở về viện.
Thấy như thầy trò đùa chơi, nhưng có hai ý nghĩa. Thứ nhất, ngài Hoàng Bá vác cuốc đi, Lâm Tế thấy mới tay không đi sau, đó là lòng muốn thế công tác cho thầy. Ngài Hoàng Bá biết, muốn thử thêm một ý nữa, để cây cuốc xuống nói, chỉ cái này mọi người nắm bắt chẳng được. Chỉ cái này cũng vừa là chỉ cây cuốc cũng vừa là chỉ cái sẵn có của mọi người. Ngài Lâm Tế chụp cây cuốc nói: Tại sao ở trong tay của con. Đây là ý thâm trầm thứ hai, ý nói chỗ của thầy được, con cũng nắm bắt được. Như vậy là sự kế thừa hết sức đầy đủ.
Công tác công cộng cuốc đất, thấy Hoàng Bá đến, Sư bèn dựng cuốc đứng. Hoàng Bá hỏi:
– Gã này mệt sao?
Sư thưa:
– Cuốc vẫn chưa giở, mệt cái gì?
Hoàng Bá liền đánh. Sư chụp cây gậy đẩy một phát té nhào. Hoàng Bá gọi:
– Duy-na! Duy-na! Đỡ ta dậy.
Duy-na chạy lại đỡ dậy nói:
– Hòa thượng đâu dung được gã phong điên này!
Hoàng Bá vừa đứng dậy, liền đánh Duy-na. Sư cuốc đất nói:
– Các nơi thì hỏa táng, còn tôi một lúc chôn sống.
Công tác công cộng cuốc đất, thấy Hoàng Bá đến, ngài bèn dựng cuốc đứng. Như mấy chú đang cuốc đất thấy tôi tới thì sao? Nhiều khi ở xa đang dựng cuốc nghỉ, thấy thầy tới liền cuốc, phải không? Còn ngài Lâm Tế thấy Hoàng Bá tới bèn dựng cuốc nghỉ, ngược ngạo vậy đó. Ngài Hoàng Bá hỏi: Gã này mệt sao? Lâm Tế thưa: Cuốc vẫn chưa giở, mệt cái gì? Câu đáp nghe như là vô phép, nhưng rất có ý nghĩa. Bởi vì có làm mới thấy có mệt, có dẹp vọng tưởng dẹp phiền não thì mới có mệt, còn đây không vọng tưởng không phiền não lấy gì mệt. Đó là chỗ ngài Lâm Tế nói cuốc chưa giở lên, không có trừ dẹp.
Ngài Hoàng Bá liền đánh, ngài chụp cây gậy đẩy một phát té nhào. Đó là khai trận, không nhường nhịn. Hoàng Bá gọi: Duy-na! Đỡ ta dậy. Duy-na rất lương thiện, chạy lại vừa đỡ dậy vừa lẩm bẩm: Hòa thượng đâu dung được gã phong điên này! Tức là đuổi nó đi cho rồi, hỗn xược quá.
Hoàng Bá vừa đứng dậy, liền đánh Duy-na. Tại sao? Lâm Tế đánh ngài, ngài đánh Duy-na. Duy-na không hiểu được đối đáp của hai thầy trò. Ngài cầm cuốc cuốc đất nói: Các nơi thì hỏa táng, còn tôi một lúc chôn sống. Nếu động tới tôi, tôi chôn sống, như vậy có lễ phép không?
Sư mang thư Hoàng Bá đến Quy Sơn. Khi ấy Ngưỡng Sơn Huệ Tịch làm tri khách, tiếp được thư liền hỏi:
– Cái này là của Hoàng Bá, cái nào là của người đem thư?
Sư liền tát. Ngưỡng Sơn nắm đứng nói:
– Lão huynh biết việc ấy thì thôi.
Hai người đồng đến Quy Sơn. Quy Sơn hỏi:
– Sư huynh Hoàng Bá có chúng nhiều ít?
Sư thưa:
– Bảy trăm chúng.
– Người nào dẫn đầu?
– Vừa đem thư xong.
Sư lại hỏi Quy Sơn:
– Khoảng này Hòa thượng được bao nhiêu chúng?
Quy Sơn đáp:
– Một ngàn năm trăm chúng.
– Thật nhiều thay!
– Sư huynh Hoàng Bá cũng chẳng ít.
Sư từ Quy Sơn, Ngưỡng Sơn đưa ra cửa nói:
– Ông sau đi về phía bắc sẽ có một trụ xứ.
Sự hỏi:
– Há có việc ấy!
Ngưỡng Sơn bảo:
– Chỉ đi, về sau có một người phụ tá Lão huynh, người này có đầu không đuôi, có thủy không chung.
(Huyền ký Phổ Hóa. Sau Sư đến Trấn Châu, Phổ Hóa đã có ở trước đấy. Sư khai đường giáo hóa, Phổ Hóa phụ giúp. Sư trụ chưa bao lâu, Phổ Hóa toàn thân đều thoát.)
Ngài mang thư Hoàng Bá đến Quy Sơn. Khi ấy Ngưỡng Sơn Huệ Tịch làm tri khách, tiếp được thư liền hỏi: Cái này là của Hoàng Bá, cái nào là của người đem thư? Ngài liền tát một cái. Ngưỡng Sơn nắm lại nói: Lão huynh biết việc ấy? Muốn thấy thì cho một tát, đó là cái của người mang thư. Diệu dụng của ngài Lâm Tế rất đặc biệt, vừa hỏi tới là tỏ bày, vì thế Ngưỡng Sơn nắm lại nói: Lão huynh biết việc ấy thì thôi.
Cả hai vị đều hiểu nhau, cùng đến Quy Sơn. Quy Sơn hỏi: Sư huynh Hoàng Bá có chúng nhiều ít? Ngài thưa: Bảy trăm chúng. Bảy trăm đó là trung bình, chúng ta chỉ có bảy chục, không nhằm gì. Quy Sơn hỏi: Người nào dẫn đầu? Ngài thưa: Vừa đem thư xong. Không tự xưng nhưng nói chính là người đem thư, tức mặc nhiên tỏ ý mình. Ngài lại hỏi Quy Sơn: Khoảng này Hòa thượng được bao nhiêu chúng? Quy Sơn đáp: Một ngàn năm trăm chúng. Ngài nói: Thật nhiều thay! Nếu ngang đó Quy Sơn không có câu sau thì bị thua, vì còn thấy có nhiều ít, nên Quy Sơn liền nói: Sư huynh Hoàng Bá cũng chẳng ít. Đó là câu cứu lại để không mắc kẹt đối đãi.
Sư giữa hạ đến Hoàng Bá, thấy Hòa thượng xem kinh. Sư nói:
– Tôi tưởng là người đặc biệt, té ra chỉ là Hòa thượng già úm đậu đen.
Sư ở lại mấy hôm, bèn từ đi. Hoàng Bá bảo:
– Ngươi phá hạ đến, sao chẳng trọn hạ rồi đi?
Sư thưa:
– Con tạm đến lễ bái Hòa thượng.
Hoàng Bá bèn đánh đuổi đi. Sư đi được mấy dặm, nghĩ việc này liền trở lại ở trọn hạ.
Một hôm, Sư từ Hoàng Bá. Hoàng Bá hỏi:
– Đi đâu?
Sư thưa:
– Chẳng phải Hà Nam là về Hà Bắc.
Hoàng Bá liền đánh. Sư nắm đứng, cho một tát. Hoàng Bá cười to, gọi:
– Thị giả! Đem thiền bản kỷ án của tiên sư Bá Trượng ra đây.
Sư gọi:
– Thị giả! Đem lửa lại.
Hoàng Bá bảo:
– Đừng đốt, con vẫn đem đi, về sau ở đâu sẽ dẹp sạch ngôn ngữ của mọi người.
Ngài giữa hạ đến Hoàng Bá thấy đang xem kinh, ngài nói: Tôi tưởng là người đặc biệt, té ra chỉ là Hòa thượng già úm đậu đen. Nói vậy là khen hay chê? Vì pháp môn giáo ngoại biệt truyền không nằm trong kinh sách, hôm nay thấy Hòa thượng xem kinh, như vậy quá tầm thường nên nói Hòa thượng già nhai chữ nghĩa.
Ở lại mấy hôm, từ giã đi. Ngài Hoàng Bá bảo: Ngươi phá hạ đến, sao chẳng trọn hạ rồi đi? Ngài nói: Con tạm đến lễ bái Hòa thượng. Hoàng Bá bèn đánh đuổi đi. Ngài đi được mấy dặm, nghĩ việc này liền trở lại ở trọn hạ. Tức là nghĩ đây là chuyến chót, nên ở cho trọn rồi từ giã đi luôn. Sau hạ ngài từ giã Hoàng Bá, Hoàng Bá hỏi: Đi đâu? Ngài thưa: Chẳng phải Hà Nam là về Hà Bắc. Hà Bắc tức là phía Bắc sông Hoàng Hà, ngài Lâm Tế truyền thiền ở miền Bắc Trung Hoa. Hoàng Bá liền đánh. Ngài nắm đứng, cho một tát, đánh thì liền trả lại, Hoàng Bá cười to, gọi: Thị giả! Đem thiền bản kỷ án của tiên sư Bá Trượng ra đây. Như vậy có ý gì? Đó là truyền pháp.
Ngài gọi: Thị giả! Đem lửa lại. Chi vậy? Đốt hết, bởi vì tất cả cái đó là hình thức không phải là cái thật. Ngài Hoàng Bá liền bảo đừng đốt, tuy biết nó là hình thức không quan trọng, nhưng con vẫn đem đi; về sau ở đâu sẽ dẹp sạch ngôn ngữ của người. Vì thế lối giáo hóa của ngài phần nhiều là hét, đánh, không để cho người còn một chút ngôn ngữ.
Sư đến hòa thượng Bình ở Tam Phong. Bình hỏi: – Ở đâu đến?
Sư đáp:
– Ở Hoàng Bá đến.
– Hoàng Bá có dạy lời gì?
– Đêm qua trâu vàng gặp bùn than, thẳng đến hôm nay chẳng thấy dấu. (Kim ngưu tạc dạ tao đồ thán, trực chí như kim bất kiến tung.)
– Gió vàng thổi sáo ngọc, cái gì là tri âm? (Kim phong xuy ngọc quản, na cá thị tri âm.)
Sư đáp:
– Suốt thẳng muôn lớp cổng, chẳng dừng giữa trời trong. (Trực thấu vạn trùng quan, bất trụ thanh tiêu nội.)
– Một câu hỏi của ngươi cao tột trời xanh.
Sư nói:
– Rồng sanh con phượng vàng, vọt nát vách lưu ly. (Long sanh kim phượng tử, xung phá bích luu ly.)
Bình bảo:
– Hãy ngồi uống trà.
Lại hỏi:
– Vừa ở đâu đến?
Sư thưa:
– Long Quang.
Bình hỏi:
– Long Quang gần đây thế nào?
Sự liền ra đi.
Ngài đi du phương, nghe ở đâu có những bậc thiện tri thức, đều đến để thăm dò học hỏi. Đến Hòa thượng Bình ở Tam Phong, Hòa thượng hỏi: Ở đâu đến? Đáp: Ở Hoàng Bá đến. Hỏi: Hoàng Bá có dạy lời gì? Ngài đáp: Đêm qua trâu vàng gặp bùn than, thẳng đến hôm nay chẳng thấy dấu. Nghĩa là con trâu vàng lăn dưới đất sình lầy, bây giờ tìm lại không thấy dấu. Hình ảnh đó thật là đẹp, chúng ta có con trâu vàng không? Nó lăn dưới sình hay lăn ở đâu? Nó vẫn chạy tứ tung thấy mà rượt hoài không kịp, không phải không thấy dấu. Hai câu này để nói cái sẵn có, hòa trong tứ đại, nhưng bây giờ tìm không còn dấu vết. Diễn tả như vậy là quá tuyệt.
Ngài Tam Phong hỏi lại: Gió vàng thổi sáo ngọc, cái gì là tri âm? Gió vàng là gió gì? Chữ Hán là kim phong, còn gọi là gió tây. Gió này thổi vào cuối thu, tất cả cây cối bắt đầu rụng lá, vì vậy gọi là gió vàng. Gió thổi sáo, gió và sáo cả hai đều không có tâm thức. Vì vậy hỏi, cái gì là tri âm? Ngài Lâm Tế đáp: Suốt thẳng muôn lớp cổng, chẳng dừng giữa trời trong. Nghĩa là đi tuốt luôn mọi lớp cổng, không kẹt không dính lại ở chỗ nào. Đó là nói khí thế của ngài. Ngài Tam Phong liền nói: Một câu hỏi của ngươi cao tột trời xanh. Như vậy là quá tuyệt rồi. Ngài Lâm Tế liền nói: Rồng sanh con phượng vàng, vọt phá vách lưu ly.
Như vậy có ý nghĩa gì? Người tu khi đến chỗ hoàn toàn thanh tịnh, chính chỗ đó thường bị mắc kẹt. Như trong mười mục chăn trâu, đến mục thứ tám không còn trâu không còn chăn, chỉ một vòng tròn trắng, tượng trưng chỗ thanh tịnh gọi là đất vô sanh. Đến đây nếu không khéo kẹt lại, gọi là bị nhốt trong vách lưu ly trong sáng. Phải qua khỏi đó mới tới mục thứ chín là lá rụng về cội, mục thứ mười buông thõng tay vào chợ, không thì chết chìm tại chỗ. Ngài Lâm Tế nói vọt nát vách lưu ly, nghĩa là tôi không dừng ở chỗ đó, vượt qua.
Hòa thượng Tam Phong mời ngồi uống trà. Khi uống trà hỏi: Vừa ở đâu đến? Ngài đáp: Long Quang. Tam Phong hỏi: Long Quang gần đây thế nào? Ngài liền ra đi.
Sư đến Phụng Lâm, Lâm hỏi:
– Có việc đem hỏi nhau được chăng?
Sư đáp:
– Đâu được khoét thịt làm thương tích.
Phụng Lâm nói:
– Trăng biển lặng không bóng, cá lội riêng tự lầm. (Hải nguyệt trừng vô ảnh, du ngư độc tự mê.)
Sư nói:
– Trăng biển đã không bóng, cá lội đâu thể lầm. (Hải nguyệt ký vô ảnh, du ngư hà đắc mê.)
Phụng Lâm:
– Xem gió biết sóng dậy, nhìn nước đoán buồm bay. (Quán phong tri lãng khởi, ngoạn thủy dã phàm phiêu.)
Sư nói:
– Một vầng riêng chiếu non sông lặng, chợt cười một tiếng đất trời kinh. (Cô luân độc chiếu giang sơn tịnh, tự tiếu nhất thanh thiên địa kinh.)
Phụng Lâm:
– Mặc đem ba tấc soi trời đất, một câu hợp lý thử bàn xem. (Nhậm tương tam thốn huy thiên địa, nhất cú lâm cơ thí đạo khan.)
Sư nói:
– Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ. (Lộ phùng kiếm khách tu trình kiếm, bất thị thi nhân mạc hiến thi.)
Phụng Lâm liền thôi. Sư để bài tụng:
Đại đạo tuyệt đồng
Nhậm hướng tây đông.
Thạch hỏa mạc cập
Điển quang võng thông.
Đại đạo hẳn đồng
Mặc hướng tây đông.
Đá lửa chẳng kịp
Lằn chớp không thông.
Ngài đến Phụng Lâm, Lâm hỏi: Có việc đem hỏi nhau được chăng? Ngài đáp: Đâu được khoét thịt làm thương tích. Tại sao như thế? Nghĩa là khi chưa niệm khởi, tâm chúng ta tròn trịa trong sáng, vừa dấy niệm là thương tích. Đặt câu hỏi là khoét thịt thành thương tích.
Phụng Lâm cũng là một tay cừ khôi, liền đáp: Trăng biển lặng không bóng, cá lội riêng tự lầm. Như trăng lưỡi liềm ở trên trời thì nhìn ở dưới mặt biển thấy bóng lưỡi liềm giống như lưỡi câu, cá thấy bóng nó sợ. Nay trăng biển lặng lẽ không có bóng dưới nước, chỉ cá tự lầm tự sợ. Ý ngài nói rằng trong chỗ đối đáp mà không khởi tâm thì lấy gì ngại, mà ông nói khoét thịt thành thương tích. Ngài Lâm Tế nói: Nếu được lặng lẽ sáng tỏ như thế thì đâu có gì lầm. Không lầm mà hỏi có phải tự mình làm thương tích không?
Ngài Phụng Lâm nói: Xem gió biết sóng dậy, nhìn nước đoán buồm bay. Chỗ này, như chúng ta thấy gió mạnh gió yếu thì biết sóng nhỏ hay sóng lớn, không đợi thấy sóng mới biết. Cũng như nhìn mặt nước thấy đùa về phía nào thì đoán buồm sẽ hướng về phía đó. Thấy cái này biết được cái kia, nên tuy ngài nói không động tâm nhưng tôi nhìn sơ đã biết cái này cái kia rồi.
Ngài Lâm Tế đáp: Một vầng riêng chiếu non sông lặng, chợt cười một tiếng đất trời kinh. Ông đừng xem thường tôi, tôi đã đến chỗ chỉ còn một vầng trăng trong sáng, một tiếng hét lên thì trời đất đều rúng động, đó là diệu dụng của tôi. Ngài Phụng Lâm nói: Mặc đem ba tấc soi trời đất, một câu hợp lý thử bàn xem. Dù cho ông có đem ba tấc lưỡi nói động trời động đất đi nữa, thử bàn một câu hợp lý coi. Lâm Tế đáp: Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ. Khi nào gặp đúng người tôi mới nói. Ngài để lại bài tụng:
Đại đạo hẳn đồng
Mặc hướng tây đông
Đá lửa chẳng kịp
Lằn chớp không thông.
Đại đạo rất đồng nhất, tùy ý nhằm bên này bên kia tìm kiếm. Dù nhanh như chọi đá nháng lửa hay như lằn chớp cũng không kịp, không thể dùng suy nghĩ, tính toán đến được.
Đã được Hoàng Bá ấn khả, Sư tìm đến Hà Bắc ở góc đông nam thành Trấn Châu, gần sông Hô Đà đất Lâm Tế trụ trì một viện nhỏ. Nơi đây Phổ Hóa đã ở trước.
Một hôm Sư gọi Phổ Hóa, Khắc Phù đến bảo:
– Ta muốn ở đây dựng lập tông chỉ Hoàng Bá, hai ông hãy giúp đỡ ta.
Hai vị trân trọng lui ra. Ba ngày sau Phổ Hóa đến hỏi:
– Ba ngày trước Hòa thượng nói gì?
Sư liền đánh. Ba ngày sau Khắc Phù lại lên hỏi:
– Ba ngày trước Hòa thượng đánh Phổ Hóa là sao?
Sư cũng đánh.
Ngài đến Hà Bắc góc đông nam thành Trấn Châu, gần sông Hô Đà đất Lâm Tế lập một viện nhỏ. Người xưa thường gọi tên các thiền sư phần nhiều bằng tên chùa hoặc tên đất. Như ở bên mình, cung kính tổ Khánh Anh ở chùa Phước Hậu thì gọi ngài là Sư cụ Phước Hậu. Tổ Lâm Tế là một vị nổi tiếng, người ta không gọi tên viện mà gọi tên đất, đất Lâm Tế.
Khi đến ở viện nhỏ này, thì trước đã có Phổ Hóa với Khắc Phù ở rồi. Phổ Hóa là đệ tử ngài Bàn Sơn, Bàn Sơn là đệ tử Mã Tổ. Phổ Hóa với Khắc Phù hai vị đều ngộ đạo, nhưng duyên hóa độ của các ngài không rộng. Khi ngài Lâm Tế tới rồi, hôm sau kêu hai vị lên nói: Ta muốn ở đây dựng lập tông chỉ Hoàng Bá, hai ông hãy giúp đỡ ta.
Câu nói đó rất hiền lành bình dị, nói vậy rồi thì hai vị kia chào lui đi. Ba hôm sau, Phổ Hóa mới khai chiến: Ba ngày trước Hòa thượng nói gì? Khai chiến thì không còn ngôn ngữ, ngài Lâm Tế liền đánh. Ba ngày sau, Khắc Phù lại lên hỏi: Ba ngày trước Hòa thượng đánh Phổ Hóa là sao? Ngài cũng đánh. Lúc nào khai chiến là khác, lúc nào nói thường là khác.
Phủ chủ Vương Thường Thị cùng các quan thỉnh Sư đăng tòa. Sư thượng đường bảo:
– Hôm nay sự bất đắc dĩ sơn tăng chiều theo nhân tình mới lên tòa này. Nếu nhằm dưới cửa Tổ tông khen ngợi việc lớn, hẳn là mở miệng chẳng đặng, không có chỗ các ông để chân. Hôm nay do Thường Thị cố thỉnh, sơn tăng đâu có thể ẩn cương tông. Trong đây nếu có tác gia chiến tướng liền xổ cờ bày trận đi! Đối chúng chứng cứ xem.
Tăng hỏi:
– Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư liền hét. Tăng lễ bái. Sư bảo:
– Ông thầy này lại nên bàn luận.
Tăng hỏi:
– Thầy tuyên dương gia khúc tông phong ai? Nối pháp vị nào?
Sư bảo:
– Ta ở chỗ Hoàng Bá ba phen thưa hỏi ba lần bị đánh.
Vị tăng suy nghĩ, Sư liền hét, và theo sau đánh, nói:
– Không thể đến trong hư không mà đóng cọc.
Phủ chủ Vương Thường Thị, phủ chủ đương tương tỉnh trưởng, cùng các quan thỉnh Sư đăng tòa.
Ý ngài nói việc lớn đó, hay việc dưới cửa Tổ tông thì không có lời để nói, không có chỗ để các ông đặt chân dọ dẫm. Hôm nay do Thường Thị cố thỉnh, sơn tăng đâu có thể ẩn cương tông. Đó là chỗ bất lập văn tự, nói không thể đến, nhưng vì đại chúng mọi người tha thiết nên ngài tạm dùng phương tiện hé mở chỗ bí mật của Tổ sư. Trong đây nếu có tác gia chiến tướng liền xổ cờ bày trận đi! Đối chúng chứng cứ xem. Đây là ra trận, không có nhường ai hết.
Tăng bước ra hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài liền hét! Tăng lễ bái. Ngài bảo: Ông thầy này lại nên bàn luận. Tức là thấy như vị tăng này có phần hiểu. Vị tăng hỏi: Thầy tuyên dương gia khúc tông phong ai? Nối pháp vị nào? Ngài trả lời: Ta ở chỗ Hoàng Bá ba phen thưa hỏi ba lần bị đánh. Vị tăng suy nghĩ, ngài liền hét và theo sau đánh, nói: Không thể đến trong hư không mà đóng cọc. Vì chỗ ngài ngộ ở Hoàng Bá, ba lần hỏi ba lần bị đánh, chỗ đó không có hình tướng. Nếu ông nghe tôi nói rồi suy nghĩ, thì chẳng khác nào đem cọc đóng trong hư không, uổng công vô ích.
Có Tọa chủ hỏi:
– Ba thừa mười hai phần giáo đâu chẳng phải chỉ rõ Phật tánh?
Sư đáp:
– Cỏ hoang chưa từng cuốc.
Tọa chủ:
– Phật đâu dối người?
Sư bảo:
– Phật ở chỗ nào?
Tọa chủ không đáp được. Sư tiếp:
– Ở trước Thường Thị định lừa lão tăng, lui mau! Lui mau! Làm chướng ngại người khác thưa hỏi.
Lại nói:
– Hôm nay pháp hội vì một đại sự, lại có người thưa hỏi chăng? Mau đến hỏi đi. Ông vừa mở miệng đã chẳng dính dáng. Vì sao như thế? Đâu chẳng nghe Thích Tôn nói: “Pháp lìa văn tự vì chẳng thuộc nhân chẳng ở duyên.” Bởi các ông tin chẳng đến, cho nên ngày nay mới dùng phương tiện sợ e Thường Thị cùng các quan viên lầm Phật tánh ấy, chi bằng hãy lui.
Sư hét một tiếng, nói tiếp:
– Người gốc tin kém, trọn không có ngày xong. Đứng lâu, trân trọng!
Có Tọa chủ hỏi: Ba thừa mười hai phần giáo đâu chẳng phải chỉ rõ Phật tánh? Tức là tất cả kinh điển của Phật là chỉ rõ Phật tánh. Ngài đáp: Cỏ hoang chưa từng cuốc. Nghĩa là sao? Chúng ta từng nghe câu rừng nho biển thánh, đạo lý nhà Nho hay là giáo lý của Phật rộng như biển, mênh mông như rừng. Vì thế ví giáo lý mù mịt như cỏ hoang chưa từng cuốc. Tọa chủ không hiểu, hỏi: Phật đâu dối người? Ngài nói: Phật ở chỗ nào? Tọa chủ không đáp được. Ngài tiếp: Ở trước Thường Thị định lừa lão tăng, lui mau! Lui mau! Làm chướng ngại người khác thưa hỏi.
Ngài nói: Hôm nay pháp hội vì một đại sự, lại có người thưa hỏi chăng? Mau đến hỏi đi. Ông vừa mở miệng đã chẳng dính dáng. Ngài bảo hỏi, mà nói mở miệng không dính dáng. Vì sao như thế? Đâu chẳng nghe Thích Tôn nói: Pháp lìa văn tự vì chẳng thuộc nhân chẳng ở duyên. Câu đó hiểu không?
Chúng ta nghe nói pháp thì cứ tưởng Phật pháp là giáo lý. Chữ pháp này trong bài kệ của Phật truyền cho tổ Ca-diếp.
Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp,
Nay khi trao không pháp,
Mỗi pháp đâu từng pháp.
Phật nói pháp gốc vốn không phải là pháp, tức không phải pháp có hình tướng. Tuy không có hình tướng mà nó vẫn có chứ không phải không, nên nói không pháp cũng là pháp. Nay khi trao cái không pháp ấy thì mỗi pháp mỗi pháp không từng pháp, vì nó không thuộc hai bên.
Bởi các ông tin chẳng đến, cho nên ngày nay mới dùng phương tiện sợ e Thường Thị cùng các quan viên lầm Phật tánh ấy, chi bằng hãy lui. Vì mọi người không nhận được pháp ấy nên mượn phương tiện nói ra, nói ra rồi sợ lầm chỗ ấy cho nên phải lui.
Ngài hét một tiếng, nói: Người gốc tin kém, trọn không có ngày xong, đứng lâu, trân trọng! Gốc tin là tin cái gì? Tin Tam bảo phải không?
Sư thượng đường bảo:
– Trên cục thịt đỏ có vô vị chân nhân, thường từ cửa mặt các ông ra vào. Người chưa được chứng cứ hãy xem! Xem!
Có vị tăng ra hỏi:
– Thế nào là vô vị chân nhân?
Sư bước xuống tòa nắm đứng bảo:
– Nói! Nói!
Vị tăng ấy suy nghĩ. Sư liền buông ra nói:
– Vô vị chân nhân là que cứt khô gì.
Sư liền trở về phương trượng.
Cái gì là cục thịt đỏ? Thân này lột lớp da ra thì chỉ là một khối thịt đỏ, trên đó có vô vị chân nhân, vô vị chân nhân là gì? Chân nhân là người chân thật, vô vị là không có chỗ nơi. Người chân thật đó trùm khắp không có chỗ nơi, vì có chỗ nơi là còn có hình tướng, vô vị chân nhân này không có hình tướng, thường từ cửa mặt các ông ra vào, chỗ nào? Ngay trên mặt chúng ta đây, thường thấy thường nghe, tiếp xúc trần cảnh, từ đó mà không thấy được vô vị chân nhân.
Tăng muốn thấy, nên hỏi thế nào là vô vị chân nhân? Ngài không trả lời, bước xuống tòa nắm lại bảo:
Nói! Nói! Cái đó không chỉ được, nếu biết thì tự thốt ra. Như khi ngài đem thư sang Quy Sơn, Ngưỡng Sơn hỏi, cái này của Hoàng Bá, cái kia là của người đem thư. Ngài liền đánh thì biết cái nào. Đây ngài bảo nói, Tăng không tỏ ra được gì, mà lại suy nghĩ, suy nghĩ tức là sai. Ngài buông ra nói một câu: Vô vị chân nhân là que cứt khô gì.
Lúc tôi dạy ở đại học Vạn Hạnh, cũng có một ít giáo sư giải thích que cứt khô này mấy trang giấy. Họ cứ nghĩ rằng que cứt khô là giải thích vô vị chân nhân, không ngờ đây là lời quở kẻ ngu. Như bây giờ có chú nào lên hỏi tôi thế nào là Phật tánh? Tôi bảo nói, nói không được. Tôi nói, Phật tánh gì, đồ bỏ! Vậy là nói Phật tánh đồ bỏ hay chú là đồ bỏ. Đó là quở mấy chú là đồ bỏ, không hiểu gì mà làm bộ hỏi.
Đây cũng vậy, vô vị chân nhân là cái gì? Tức là ông không hiểu gì hết, đồ bỏ. Tại sao thiền sư nói thô tháo vậy? Bởi vì chúng ta là phàm tình, nên lựa lời hay tiếng đẹp để nói cho người ta mến thương. Thiền sư thấy ngôn ngữ không thật nên không cần lựa lời.
Tham vấn buổi chiều, Sư dạy chúng:
– Có khi đoạt nhân chẳng đoạt cảnh. Có khi đoạt cảnh chẳng đoạt nhân. Có khi nhân cảnh đều đoạt. Có khi nhân cảnh đều chẳng đoạt.
Khắc Phù hỏi:
– Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh?
Sư đáp:
– Ngày ấm nảy sanh gấm trải đất, trẻ con rủ tóc trắng như tơ. (Hú nhật phát sanh phố địa cẩm, anh hài thùy phát bạch như ty.)
Khắc Phù hỏi:
– Thế nào đoạt cảnh chẳng đoạt nhân?
Sư đáp:
– Lệnh vua vừa ban khắp thiên hạ, tướng quân biên ngoại khói mù tan. (Vương lệnh dĩ hành thiên hạ biến, tướng quân tái ngoại tuyệt yên trần.)
Khắc Phù hỏi:
– Thế nào nhân cảnh đều đoạt?
Sư đáp:
– Tịnh Phần bặt tin, riêng ở một cõi. (Tịnh phần tuyệt tín, độc xử nhất phương.)
Khắc Phù hỏi:
– Thế nào nhân cảnh đều chẳng đoạt?
Sư đáp:
– Vua lên điện báu, lão quê hát ca. (Vương đăng bảo điện, dã lão âu ca.)
Khắc Phù ngay đó lãnh hội ý chỉ.
Sư lại bảo:
– Thời nay người học Phật pháp cần yếu có kiến giải chân chánh. Nếu được kiến giải chân chánh thì sanh tử chẳng nhiễm, đi đứng tự do chẳng cần cầu thù thắng mà thù thắng tự đến. Đạo lưu (đồng đạo, chỉ chúng tăng)! Các bậc tiên đức từ xưa đều có con đường đưa người, như sơn tăng chỉ chỗ cho người. Cốt các ông đừng bị người gạt, cần dùng liền dùng, lại chớ ôm ngờ vực. Hiện nay học giả chẳng được, bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại chỗ chẳng tin. Các ông nếu tự tin chẳng đến, là rộn ràng theo tất cả cảnh chuyển, bị muôn cảnh lôi, lại chẳng được tự do. Các ông nếu hay bặt được tâm luôn luôn chạy tìm, liền cùng Phật tổ chẳng khác. Các ông muốn biết được Phật tổ chăng? Chính trước mặt các ông hiện nghe pháp ấy vậy. Học nhân tin chẳng đến, liền chạy tìm ra ngoài. Dù có tìm được, cũng chỉ là tướng thù thắng của văn tự, trọn chẳng đặng ý của Phật tổ sống. Chớ lầm!
Tham vấn buổi chiều, ngài dạy chúng: Có khi đoạt nhân chẳng đoạt cảnh. Có khi đoạt cảnh chẳng đoạt nhân. Có khi nhân cảnh đều đoạt. Có khi nhân cảnh đều chẳng đoạt. Đây gọi là Tứ liệu giản, chữ Liệu là trị liệu, chữ Giản là giản trạch. Nghĩa là chọn lựa phương pháp để trị liệu đúng bệnh, đúng căn cơ. Bốn pháp tu này ngài giải thích theo thứ bậc tùy trình độ thấp cao của người học, cho họ dễ học dễ tu.
Khắc Phù hỏi: Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh? Ngài đáp: Ngày ấm nảy sanh gấm trải đất, trẻ con rủ tóc trắng như tơ. Ngày ấm là những ngày của mùa xuân, vì ngài ở miền bắc Trung Hoa, mùa thu thì lá rụng, mùa đông thì cây cỏ héo tàn, tới mùa xuân mới nảy mầm ra lộc. Vì vậy mùa xuân cỏ xanh tươi, giống như gấm trải dưới đất. Câu đầu này là nói về cảnh còn nguyên vẹn. Câu thứ hai, trẻ con rủ tóc trắng như tơ. Câu này nhìn theo tông Tào Động, đó là hình ảnh hồi hỗ, trong trẻ có già; nhưng với tông Lâm Tế thì không phải. Tông Tào Động có tân chủ, tông Lâm Tế cũng có tân chủ. Tân là khách, chủ là chủ. Trong Tào Động, tân là chỉ cho dụng, chủ chỉ cho thể. Tông Lâm Tế, tân là chỉ cho người hỏi, chủ là chỉ cho người đáp. Hai cách khác nhau.
Đây nói đứa bé đầu bạc như tơ, là để chỉ cho người bị vô thường biến đổi, mà cảnh thì y nhiên xinh tươi, đó là đoạt nhân không đoạt cảnh. Chữ đoạt là dẹp, dẹp người không dẹp cảnh, dẹp người như thế nào? Như tôi hằng nói chúng ta tu tùy theo trường hợp. Có khi bảo mấy chú cứ nhìn chừng, kiểm soát những vọng tưởng của mình, vừa dấy lên đừng theo, thì đó thuộc về đoạt nhân. Nghĩa là chăm chú vào con người của mình, nội tâm của mình để làm chủ, không theo vọng tưởng, cảnh ngoài mặc nó, mình không động tới.
Đến câu thứ hai, Khắc Phù hỏi: Thế nào đoạt cảnh chẳng đoạt nhân? Ngài đáp: Lệnh vua vừa ban khắp thiên hạ, tướng quân biên ngoại khói mù tan. Lệnh vua là chỉ cho nhân, tướng quân biên ngoại khói mù tan tức là dẹp tan giặc, đó là cảnh. Cảnh bị phá vỡ, người vẫn y nguyên. Như có trường hợp tôi bảo, nếu nhìn như vậy lâu có thể hơi đau đầu, thì nhìn ra ngoài thấy trời mây cây cỏ, cái gì cũng biết là tướng duyên hợp hư dối không thật, tất cả là tướng huyễn hóa. Không cần dẹp vọng tâm chỉ cần biết cảnh huyễn đó gọi là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân.
Khắc Phù hỏi: Thế nào nhân cảnh đều đoạt? Ngài đáp: Tịnh Phần bặt tin, riêng ở một cõi. Tịnh Phần là tên xứ, tên đất. Cũng như mấy chú ở Long Thành lên Đà Lạt một thời gian. Gặp người hỏi: “Huynh lâu nay có được tin tức gì ở Long Thành không?” Nếu không có tin thì nói sao? “Tôi bặt tin ở Long Thành”, nghĩa là tin tức ở Long Thành không đến với mình. Đây là ví dụ để thấy rằng người và cảnh đến đây đã lặng hết không còn dính dáng. Việc tu của mình nếu trình độ sơ cơ thì bảo dẹp tâm không dẹp cảnh. Rồi trình độ cũng sơ cơ mà người đó nặng về cảnh, bảo họ dẹp cảnh không dẹp tâm thì chỉ có một phần thôi. Sau khi dẹp cảnh rồi cũng phải dẹp tâm. Cho nên tâm cảnh đều phải dẹp.
Khắc Phù hỏi: Thế nào nhân cảnh đều chẳng đoạt? Ngài đáp: Vua lên điện báu, lão quê hát ca. Đây là đến chỗ thuần thục, xong xuôi, mọi việc đều êm đềm vui vẻ. Như là vua lên ngôi, mọi người dân đều được an ổn vui tươi không có gì lo sợ. Đó là chỗ cuối cùng.
Pháp tu này thấy đặc biệt nhưng không khác với pháp của các thiền sư. Thiền sư Duy Tín nói rằng: “Ba mươi năm khi chưa học thiền thấy núi là núi, sông là sông. Sau gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, thấy núi chẳng phải núi, sông chẳng phải sông.” Đây là nhân cảnh đều đoạt. “Rồi nay thể nhập chỗ yên vui tịch tĩnh thấy núi là núi, sông là sông.” Đây là nhân cảnh đều không đoạt.
Ngài lại bảo: Thời nay người học Phật pháp cần yếu có kiến giải chân chánh. Nếu được kiến giải chân chánh thì sanh tử chẳng nhiễm, đi đứng tự do, chẳng cần cầu thù thắng mà thù thắng tự đến. Kiến giải chân chánh là thấy hiểu chân chánh. Nếu người được thấy hiểu chân chánh thì sanh tử không nhiễm, đi đứng tự do, chẳng cần cầu thù thắng mà thù thắng tự đến. Cũng như không cầu thành Phật mà cũng vẫn thành Phật.
Đạo lưu! Các bậc tiên đức từ xưa đều có con đường đưa người, như sơn tăng chỉ chỗ cho người. Nói rằng những vị tiên đức trước chỉ dạy người, tôi bây giờ cũng có lối để chỉ dạy cho các ông. Cốt các ông đừng bị người gạt, cần dùng liền dùng, lại chớ ôm ngờ vực. Đừng bị người gạt, ai gạt mình? Như khi đang ngồi thiền muốn được yên tĩnh thảnh thơi, mà niệm khởi chạy rồi rủ đi chỗ này dẫn đi chỗ kia, rủ chạy hoài không cho mình thảnh thơi. Chúng ta bị vọng tưởng gạt không cho yên, ngài bảo đừng bị người gạt.
Tôi nhắc thêm điều này. Chúng ta tu cốt yếu cầu giải thoát, không nên đặt nặng phương tiện cầu cúng. Khi Phật tử có việc thì nhờ chúng ta cầu an cầu siêu, đến khi tăng ni có việc thì nhờ ai cầu? Mục đích đầu tiên của người tu là giải thoát, không bị vọng tưởng gạt, điều này hết sức tốt đẹp. Chính mình không gạt mình thì sự tu hành mới đến nơi đến chốn. Nếu cứ lo việc cầu xin bái lạy, không chịu tỉnh giác, nhiều khi bị gạt mà không hay. Phải gan dạ, cố gắng nỗ lực chấn chỉnh lấy mình, phương tiện tùy duyên chỉ là phần phụ.
Hiện nay học giả chẳng được, bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại chỗ chẳng tin. Các ông nếu tự tin chẳng đến, là rộn ràng chạy theo tất cả cảnh chuyển, bị muôn cảnh kéo lôi, lại chẳng được tự do. Chính vì mình còn rộn ràng nên bị cảnh chuyển, bị cảnh kéo lôi thì mất tự do. Nếu tâm còn lăng xăng lộn xộn là mình có chạy theo cảnh hay không chạy theo cảnh? Chạy theo cảnh thì ngày nhắm mắt tự do hay không? Tu là cốt giải thoát sanh tử mà còn bị cảnh kéo lôi thì làm sao giải thoát được. Đó là một lẽ thật không chối cãi.
Các ông nếu hay bặt được tâm luôn luôn chạy tìm, liền cùng Phật tổ chẳng khác. Các ông muốn biết được Phật tổ chăng? Chính trước mặt các ông hiện nghe pháp ấy vậy. Tâm phàm phu luôn luôn chạy tìm, tìm cái tầm thường là dục lạc, tìm cao thượng hơn là giáo lý, dù cao hay thấp cũng là chạy tìm. Chỉ cần tâm chạy tìm dừng lại thì cùng Phật tổ không khác.
Phật tổ không ở đâu xa, ngay khi dừng vọng tưởng chạy tìm là ở trước mắt. Chỗ này nếu khéo tu thì thấy rõ. Khi chúng ta lắng nghe kinh nghe pháp, lúc đó nếu nơi tâm không nghĩ gì, có cái lắng nghe không tướng mạo, sáng suốt mà hằng trong sạch không dấy nhiễm. Cái thanh tịnh sáng suốt hiện hữu đó là Phật mà mình không nhận, cứ tìm kiếm Phật ngồi trên tòa sen phóng hào quang. Nói tới Phật cứ nghĩ Phật có hào quang, Phật ngồi tòa sen, còn ông Phật sáng suốt thanh tịnh đang nghe pháp đây lại không nhận.
Ai không có Phật? Có mà không dám tin, nên nói tự tin không đến. Chúng ta tu để lắng vọng niệm, tâm sáng suốt thanh tịnh hiện tiền thì ngay lúc đang nghe pháp đây, không có niệm khởi, tự nhiên sáng suốt thanh tịnh, đó là Phật.
Học nhân tin chẳng đến, liền chạy tìm ra ngoài. Dù có tìm được, cũng chỉ là tướng thù thắng của văn tự, trọn chẳng đặng ý của Phật tổ sống. Chớ lầm! Mỗi người đều có Phật tổ sống vậy mà không nhận, cứ kiếm Phật gỗ, Phật xi-măng… thật là si mê. Ngài Lâm Tế dùng nhiều thủ thuật đặc biệt không lường được, khi nói thì ngài cũng nhiệt tình nói thẳng nói trắng hết lẽ thật, chỉ tại vì chúng ta lòng tin không đến.
Chư Thiền đức! Thời nay chẳng gặp, muôn kiếp ngàn đời luân hồi tam giới, chạy theo cảnh ưa thích rồi phải sanh trong bụng trâu bụng lừa… Đạo lưu! Nhằm chỗ thấy của sơn tăng cùng Thích-ca không khác. Hiện nay nhiều chỗ ứng dụng, kém thiếu cái gì? Sáu đường thần quang chưa từng cách dứt. Nếu hay thấy được như thế, chỉ một đời làm người vô sự.
Chạy theo cảnh ưa thích, tức là đuổi theo vọng trần rốt cuộc rồi sanh trong lục đạo luân hồi. Đạo lưu! Nhằm chỗ thấy của sơn tăng cùng Thích-ca không khác. Hiện nay nhiều chỗ ứng dụng, kém thiếu cái gì? Đây là câu ngài muốn xác chứng để chúng ta đủ lòng tin lời nói của ngài. Nếu ngài thấy khác với Phật thì lời nói của ngài không đủ mạnh để tin. Chính cái thấy của ngài với Phật Thích-ca không khác, tại sao chỉ thẳng mà mình không tin? Hiện tại ứng dụng rõ ràng có kém thiếu gì.
Sáu đường thần quang chưa từng cách dứt. Nếu hay thấy được như thế, chỉ một đời làm người vô sự. Thế nào là sáu đường thần quang? Thế nào là sáu tên giặc? Chúng ta đang sống với sáu đường thần quang hay sống với lục tặc? Nếu sống với sáu đường thần quang, đó là Phật hiện; sống với sáu chú giặc, đó là ngạ quỷ súc sanh… hiện. Như mắt thấy rõ ràng mà không khởi niệm đẹp xấu so sánh hơn thua khinh ghét, đó là sáu đường thần quang. Tai nghe tiếng dù tiếng chửi cũng biết là chửi mà không giận không buồn, đó là sáu đường thần quang. Khi thấy phân tích đẹp xấu, đẹp thì ưa, xấu thì ghét, khi nghe phân tích khen chê, chê thì giận, khen thì mừng, đó là lục tặc. Ai cũng có sáu đường đó, nếu khéo sống với sáu đường thần quang thì được lục thông, nếu sống với lục tặc thì của cải sự nghiệp tan hoang.
Việc tu không phải xa lạ, mà chính mình sẵn có cái đó, khéo đừng để nó dẫn đi chỗ khác là đúng. Phật trước đã có, Tổ trước đã có, mình cũng đã có nhưng cứ chạy theo lục tặc thì bị mất. Muốn được vô sự thì theo sáu đường thần quang, cứ làm là được, không ai bắt buộc chúng ta phải dính cái này kẹt cái kia. Tự do chọn, muốn dính kẹt thì theo dính kẹt, muốn thong thả tự do thì theo thong thả tự do. Nếu thấy được như thế chỉ một đời làm người vô sự thảnh thơi.
Đại đức! Ba cõi không yên như trong nhà lửa, đây không phải là chỗ các ông dừng ở lâu, quỷ vô thường giết người trong khoảng chớp mắt chẳng lựa sang hèn già trẻ. Các ông muốn cùng Phật tổ chẳng khác, chỉ chớ tìm kiếm bên ngoài. Trên một tâm niệm thanh tịnh sáng suốt là Phật pháp thân trong nhà của ông. Trên một tâm niệm vô phân biệt sáng suốt là Phật báo thân trong nhà của ông. Trên một tâm niệm vô sai biệt sáng suốt là Phật hóa thân trong nhà của ông. Ba thứ thân này là người hiện nay ở trước mắt nghe pháp của ông. Chỉ không tìm kiếm bên ngoài, liền có công dụng này. Theo các nhà Kinh Luận lấy ba thân này làm nguyên tắc tột cùng. Nhằm chỗ thấy của sơn tăng thì chẳng phải vậy. Ba thân này là danh ngôn, cũng là ba thứ y. Người xưa nói: “Thân y nghĩa lập, cõi theo thể bàn. Pháp tánh thân, pháp tánh độ biết rõ là quang ảnh (bóng sáng).”
Dẫn chứng kinh Pháp Hoa: Ba cõi không yên như trong nhà lửa. Lửa này không phải lửa nóng mà là lửa vô thường thiêu đốt. Tất cả người vật đều bị thiêu đốt rồi đi tới chỗ hủy hoại. Không thể nghĩ rằng bây giờ còn trẻ tu sơ sơ, đợi đến già tu rút. Quỷ vô thường không hẹn, không cam đoan ngày giờ, nó muốn rước chúng ta lúc nào thì rước, ngày nay còn có mặt ở đây thì phải ráng tu. Đừng đợi lúc vô thường dẫn đi, mình không có khả năng trốn thoát, phải chịu nó dẫn vào trong những chỗ khổ đau, chừng đó hối hận không kịp. Vì thế ngài Lâm Tế nói quỷ vô thường giết người trong khoảng chớp mắt chẳng lựa sang hèn già trẻ. Không ai thoát khỏi tay nó, chúng ta đừng chần chừ không chịu tu rút.
Các ông muốn cùng Phật tổ chẳng khác, chỉ chớ tìm kiếm bên ngoài. Ngài nhắc tới nhắc lui, muốn cùng Phật tổ không khác thì đừng chạy ra ngoài tìm. Trên một tâm niệm thanh tịnh sáng suốt là Phật pháp thân trong nhà của ông. Tâm không dấy khởi loạn động là niệm thanh tịnh sáng suốt, chính đó là Phật pháp thân của mình, ai cũng sẵn có. Chỉ trong tâm này thanh tịnh sáng suốt là Phật pháp thân.
Trên một tâm niệm vô phân biệt sáng suốt là Phật báo thân trong nhà của ông. Trên một tâm niệm vô sai biệt sáng suốt là Phật hóa thân trong nhà của ông. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không có niệm khởi phân biệt đó là vô phân biệt, đó là Phật báo thân ngay trên sáu căn. Tâm niệm vô sai biệt là Phật hóa thân của ông. Vô phân biệt và vô sai biệt khác nhau ra sao? Vô phân biệt là chỉ cho sáu căn tiếp xúc sáu trần mà không bị ô nhiễm, không phân biệt dính mắc. Vô sai biệt là không có niệm trước khác niệm sau khác, chỉ thẳng nơi ý mình niệm niệm bình đẳng. Bình đẳng tức là vô sai biệt.
Như vậy chúng ta sẵn có Phật pháp thân, Phật báo thân, Phật hóa thân không thiếu. Ba thử thân này là người hiện nay ở trước mắt nghe pháp của ông. Phật của ông hiện nay ở trước mắt đang nghe pháp, đây là điệp khúc thứ hai ngài nhắc lại. Hiện nghe pháp mà lắng nghe cái sáng suốt thanh tịnh đó là ba tướng Phật nằm trong đó đủ rồi.
Chỉ không tìm kiếm bên ngoài liền có công dụng này. Đừng đuổi theo đừng tìm kiếm bên ngoài thì công dụng ba thân Phật đó hiện tiền. Theo các nhà Kinh Luận lấy ba thân này là nguyên tắc tột cùng. Nhằm chỗ thấy của sơn tăng thì chẳng phải vậy. Ba thân này là danh ngôn cũng là ba thứ y. Người xưa nói: “Thân y nghĩa lập, cõi theo thể bàn. Pháp tánh thân pháp tánh độ biết rõ là quang ảnh.”
Trong bài tụng sám hối có những câu Thường Tịch Quang Tịnh Độ A-di-đà Như Lai là nói pháp thân, Thật báo trang nghiêm độ là nói về báo thân. Những tên hiệu này là danh ngôn, đối với ngài là bóng dáng không thật. Ông Phật đang nghe pháp đây mới là Phật thật, Phật thật này đang đùa với quang ảnh, không phải quang ảnh là chủ của ông Phật này. Chúng ta mắc kẹt trên danh ngôn cứ nghĩ đến Phật pháp thân, tìm kiếm pháp thân pháp tánh trên danh ngôn mà không thấy ông Phật thật của chính mình.
Đại đức! Các ông hãy nhận biết người đùa quang ảnh là nguồn gốc của chư Phật, tất cả chỗ là chỗ các ông về nhà. Sắc thân tứ đại của các ông không biết thuyết pháp, nghe pháp. Gan mật phèo phổi không biết thuyết pháp, nghe pháp. Hư không không biết thuyết pháp, nghe pháp. Cái gì biết thuyết pháp, nghe pháp? Là một cái riêng sáng hiện bày rõ ràng ở trước mắt ông biết thuyết pháp, nghe pháp. Nếu thấy được như thế đã cùng Phật tổ không khác, chỉ trong tất cả thời đừng cho gián đoạn, chạm mắt đều phải. Chỉ vì tình sanh trí cách, tưởng dấy thể sai, do đó luân hồi trong tam giới chịu các thứ khổ. Nếu nhằm chỗ thấy của sơn tăng thật là rất sâu, thật là giải thoát.
Người đùa quang ảnh là Phật thật đang nghe pháp, là chỗ các ông về nhà chứ không đâu xa. Thử phân tích xem thân này cái gì biết thuyết pháp, biết nghe pháp? Tứ đại đất nước gió lửa là vô tri làm sao biết thuyết pháp nghe pháp. Gan ruột phèo phổi… làm sao biết thuyết pháp nghe pháp. Cái biết thuyết pháp nghe pháp là ông Phật hiện hữu của mình mà mình không nhận ra, sẵn có ông Phật vậy mà không biết. Vì thế nói rằng cái riêng sáng hiện bày rõ ràng ở trước mắt ông biết nghe pháp thuyết pháp, cái đó là chính ông chứ gì nữa.
Nếu thấy được như thế đã cùng Phật tổ không khác, chỉ trong tất cả thời đừng cho gián đoạn, chạm mắt đều phải. Trong tất cả các thời đều thấy ông Phật đang nghe pháp đó, đừng có cái gì chen vô. Như thế là sống rõ ràng, nếu có chen vô bị gián đoạn thì Phật đi vắng. Nếu sống được như vậy thì chạm mắt tức là Bồ-đề, thấy cái gì cũng là Bồ-đề, nghe cái gì cũng là Bồ-đề. Nếu để Phật đi vắng thì thấy nghe cái gì cũng trở thành lục tặc. Như vậy khó hay dễ, đủ lòng tin chưa? Đây là lần thứ ba, trong một đoạn mà ba lần lặp đi lặp lại chỉ cái đang nghe pháp của mình là ông Phật thật của mình. Nói như vậy là tận tình còn giấu giếm chỗ nào mà không tin?
Chỉ vì tình sanh trí cách, tưởng dấy thể sai. Tình là gì? Buồn giận thương ghét… vừa dấy lên thì trí đã cách. Vừa khởi tưởng này tưởng nọ thì đã sai mất chân thể. Tình và tưởng lặng đi thì chân Phật hiện tiền. Do đó luân hồi trong tam giới chịu các thứ khổ. Nếu nhằm chỗ thấy sơn tăng thật là rất sâu, thật là giải thoát. Tổ Lâm Tế không giấu giếm gì với chúng ta, ngài chỉ thẳng ông Phật thật mà ai ai cũng có, chỉ vì không tin không nhận. Phải tin sâu nhận chắc chắn thì mới thấy được ông Phật của mình.
Đạo lưu! Tâm pháp không hình thông suốt mười phương, ở mắt gọi thấy, ở tai gọi nghe, ở mũi gọi ngửi, ở miệng nói bàn, ở tay nắm bắt, ở chân đi chạy, vốn là một tinh minh phân làm sáu hòa hợp. Một tâm đã không, tùy chỗ giải thoát. Sơn tăng nói thế ấy, ý ở chỗ nào? Chỉ vì tất cả các ông chạy tìm tâm không thể dừng, leo lên cơ cảnh nhàn của cổ nhân.
Đạo lưu! Theo chỗ thấy của sơn tăng, quét sạch Báo Hóa Phật. Hàng mãn tâm Thập địa ví như nhận khách làm con. Bậc Đẳng giác Diệu giác là kẻ mang gông xiềng. La-hán Bích-chi ví như xí uế. Bồ-đề Niết-bàn như cọc cột lừa. Vì sao như thế? Chỉ vì các ông không thấu được ba kỳ kiếp là không, nên có chướng ngại này. Nếu là đạo nhân chân chánh trọn chẳng như thế, chỉ “tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, tâm không một niệm mong cầu quả Phật. Bởi đâu như thế? Cổ nhân nói: “Nếu muốn làm việc cầu Phật, Phật là điềm lớn sanh tử”
Đại đức! Thời giờ đáng tiếc, chỉ tính đến nhà bên lăng xăng học thiền học đạo, nhận danh nhận cú, cầu Phật cầu Tổ, cầu thiện tri thức độ. Chớ lầm! Các ông sẵn có một cha mẹ, lại cầu vật gì? Các ông tự phản chiếu xem! Cổ nhân nói:
Diễn-nhã-đạt-đa quên mất đầu
Tâm cầu dứt sạch liền vô sự.
Ngài dạy cho chúng ta thấy bệnh của người tu là chạy đi tìm cầu. Tìm cầu mọi nơi, nào là học thiền học đạo, nào là cầu Phật cầu Tổ, cầu thiện tri thức… Tìm cầu nhiều thứ mà chính cái chân thật của mình lại không cầu. Cho nên nói các ông sẵn có một cha mẹ, lại cầu vật gì? Chữ “cha mẹ” ở đây là chỉ cho cái chân thật sẵn có của chính mình. Vua Trần Thánh Tông khi sắp tịch có nói, tuy rằng nóng bức đổ mồ hôi nhưng chưa từng thấm ướt khố mẹ sanh. Chữ khố mẹ sanh là chỉ cho ông chủ hay bản lai diện mục có sẵn nơi mọi người. Ai cũng có mà không chịu tìm, không chịu trở lại, cứ cầu bên ngoài. Vì vậy ngài mới dẫn câu Diễn-nhã-đạt-đa quên mất đầu.
Kinh Lăng-nghiêm Phật dạy, Diễn-nhã-đạt-đa một buổi sáng đứng soi gương, thấy đầu mặt trong gương rõ ràng, úp gương lại không thấy đầu mặt đâu, hoảng sợ chạy la: “Tôi mất đầu rồi!” Chúng ta có giống vậy không? Đầu của Diễn-nhã-đạt-đa không mất, chỉ mất cái bóng trong gương. Như khi chúng ta đang ngồi chơi chợt bặt dứt không suy nghĩ gì hết, lúc đó cho là mất mình. Vì quen cho rằng cái suy nghĩ là mình, nên không suy nghĩ tưởng là mất mình. Nếu không mất thì ở đâu? Suy nghĩ là bóng duyên theo sáu trần, còn cái ta đang hiện hữu, tai vẫn nghe mắt vẫn thấy, các cơ quan vẫn còn sáng rỡ. Suy nghĩ lặng thì như khi úp gương lại không thấy bóng, cái ta thật thì không mất. Trên thế gian trăm người như một có ai nói cái suy nghĩ là không phải mình không? Ai cũng nói tôi nghĩ tôi tính, cái nghĩ tính là tôi, khi không nghĩ không tính thì không có tôi. Nhưng khi đó ai ngồi, ai đứng, ai làm việc… tôi vẫn ở đó chứ đâu. Đây là sự lầm lẫn lớn lao. Tưởng rằng Diễn-nhã-đạt-đa rất ngu si, vô lý mất bóng trong gương mà cho là mất đầu, ôm đầu chạy tìm đầu. Chúng ta cũng giống hệt, cũng ngu si như vậy.
Ngài Lâm Tế dẫn câu chuyện đó để kết luận: Tâm mong cầu tìm kiếm đuổi theo mà dứt được rồi thì liền đó vô sự.
Đại đức! Cần yếu bình thường chớ tạo hình thức. Có một bọn tớ trọc chẳng biết tốt xấu, thấy thần thấy quỷ, chỉ đông vẽ tây, thích mưa thích tạnh. Bọn như thế đáng quở trách, có ngày đến trước lão Diêm vương bị nuốt hòn sắt nóng. Kẻ nam nữ tốt tại gia bị bọn tinh mỵ dã hồ này mê hoặc liền tác quái, mù mắt nhiều đời, có ngày bị đòi tiền cơm gạo.
Tại sao dùng danh từ “tớ trọc” nặng nề như vậy? Tu sĩ là người có trọng trách hướng dẫn chỉ dạy cho Phật tử đường lối tu hành, không phải người chịu sự sai bảo. Nhưng có nhiều nơi học trò đệ tử đòi gì thầy chiều nấy. Bảo thầy sắm đồ vàng mã có nhà lầu xe hơi để cúng tuần thất, bảo thầy xin xăm bói quẻ, cúng sao giải hạn… những điều Phật không dạy mà cũng ráng làm theo. Đây nói “kẻ tớ” là chỗ đó, tức coi như mình lệ thuộc chứ không phải làm chủ. Nếu mình làm chủ, tín đồ bảo cái gì đáng thì mình làm giùm cho họ, không đáng thì mình rầy họ, không cho họ làm. Không giữ đúng tư cách làm thầy nên bị ngài quở là kẻ tớ trọc không biết tốt xấu.
Lại còn thêm chuyện thấy thần thấy quỷ. Như Phật tử có bệnh, thầy bảo bệnh này tại quỷ hay ma gì bắt, nên đem đồ lại thầy cúng cho. Như vậy thầy là người làm trung gian của quỷ thần, khi bị nó xâm phạm thì có thầy cúng cho phải không? Chỉ đông vẽ tây, như người chết ngày nay để ngày mai ngày mốt chôn là phải, nhưng thầy bấm ngón tay nói ngày mốt là ngày sát chủ để bữa khác hãy chôn. Đó là bày thêm chuyện cho người ta. Hoặc muốn đi chôn nhưng người chết gặp ngày trùng thì phải vẽ lá bùa gì, câu chú gì để trong hòm, chứ để vậy thì về bắt con cháu,… Đó là chỉ đông vẽ tây, bày biện đủ thứ chuyện làm cho người ta phải khùng theo. Thích mưa thích tạnh tức là bói toán tính lúc này thời tiết tốt hay xấu ngày giờ đó lành hay dữ… Ngài quở Bọn như thế đáng quở trách có ngày đứng trước lão Diêm vương bị nuốt hòn sắt nóng. Gạt được thế gian chứ xuống Diêm phủ không gạt được, đến lúc đó rồi phải nuốt hòn sắt nóng.
Kẻ nam nữ tốt tại gia bị bọn tinh mỵ dã hồ này mê hoặc liền tác quái. Người nam nữ tại gia không biết, chỉ tại thầy bày vẽ xúi dại, họ làm theo không trúng đâu vào đâu, nên nói là tác quái.
Những điều này không đúng tinh thần đạo lý. Chúng ta tu mà không khéo thì thật là đáng trách. Người tu là người hướng dẫn tín đồ, dạy bảo tín đồ mà hướng dẫn không đúng chánh pháp, lại chỉ họ theo đường tà, để từ người phát tâm tốt trở thành mê tín dị đoan.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là chân Phật, chân Pháp, chân Đạo, xin Thầy chỉ dạy?
Sư đáp:
– Phật là tâm thanh tịnh, Pháp là tâm sáng suốt, Đạo là ánh sáng thanh tịnh tỏa khắp nơi không ngại. Tuy ba mà một, đều là danh từ suông không thật có. Đạo nhân chân chánh niệm niệm tâm không gián đoạn. Đại sư Đạt-ma từ phương Tây đến, chỉ tìm cái người chẳng bị người gạt. Nhị Tổ một câu nói liền liễu ngộ, mới biết từ trước uổng dụng công phu. Hiện nay sơn tăng chỗ thấy cùng Phật tổ không khác. Nếu trong đệ nhất cú tiến được, kham làm thầy Phật tổ. Nếu trong đệ nhị cú tiến được, kham làm thầy trời người. Nếu trong đệ tam cú tiến được, tự cứu chẳng xong.
Đạo nhân chân chính mỗi niệm mỗi niệm tâm không gián đoạn, sống được với tâm thanh tịnh chân thật sáng suốt của chính mình. Đó là Phật thật là pháp thật của chính mình.
Đại sư Đạt-ma từ phương Tây đến, chỉ tìm cái người chẳng bị người gạt. Chúng ta có bị người gạt không? Chúng ta luôn luôn bị gạt, bên trong gạt, bên ngoài gạt, gạt đủ mọi nơi. Như mình đang ngồi chơi bình thản vô sự, chợt dấy niệm lên, hôm qua hôm kia ai nói câu gì đó hay quá, ôn lại. Mới định sống bình thản vô sự, bây giờ phải ôn lại như thế thì làm sao? Có bị nó gạt không? Tâm mình liên miên suy nghĩ, nhớ câu này đến câu khác, vô sự biến thành đa sự. Như thế là mình gạt mình.
Người khác gạt mình cũng vậy, nhiều khi chính mình tu mà không làm chủ được. Nay nghe nói ở đằng kia có thầy tu hay lắm, biết quá khứ vị lai gì đó, liền xách gói tới đảnh lễ cầu thầy dạy. Rồi mai mốt nghe trên núi có ông thầy tu hay lắm có hào quang, cũng xách gói chạy… Cứ chạy theo cái bên ngoài mà không biết trở lại chính mình. Có ai làm cho mình thành Phật được không? Chính cái tu của mình, làm chủ của mình mới là giác ngộ, mới giải thoát. Vì thế nói tổ Bồ-đề Đạt-ma từ An sang tìm người không bị gạt. Người đó là tổ Huệ Khả.
Nhị Tổ một câu nói liền liễu ngộ, mới biết từ trước uổng dụng công phu. Nhị Tổ nghe tổ Đạt-ma nói một câu liền liễu ngộ, chừng đó mới thấy tất cả công phu từ trước đều luống uống.
Tăng hỏi:
– Thế nào là đệ nhất cú?
Sư đáp:
– Tam yếu ấn khai điểm son hẹp
Chưa cho nghĩ nghị chủ khách phân.
(Tam yếu ấn khai chu điểm trách
Vị dung nghĩ nghị chủ tân phân.)
– Thế nào là đệ nhị cú?
– Diệu giải đâu cho Vô Trước hỏi
Bọt tan nào dễ chặn dòng sông.
(Diệu giải khởi dung Vô Trước vấn
Âu hòa tranh phụ tiệt lưu cơ.)
– Thế nào là đệ tam cú?
– Chỉ xem tượng gỗ diễn tuồng hát
Lôi kéo toàn nhờ người ẩn trong.
(Khán thủ bằng đầu lộng khôi lỗi
Trừu khiên toàn tạ lý đầu nhân.)
Sư lại bảo:
– Phàm người diễn xướng tông thừa trong một câu phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ tam yếu. Có quyền có thật, có chiếu có dụng. Các ông làm sao được hội?
Câu sau làm rõ nghĩa của ý trước, chưa cho nghĩ nghị chủ khách phân. Nếu có chủ có khách thì còn đối đãi, nằm trong nghĩ suy. Đệ nhất cú là câu chưa thể nghĩ, chưa phân chủ khách đối đãi.
Tăng hỏi: Thế nào là đệ nhị củ? Ngài đáp:
Diệu Giải đâu cho Vô Trước hỏi
Bọt tan nào dễ chặn dòng sông.
Chữ Vô Trước có hai nghĩa mà tôi còn đang phân vân. Chữ Diệu Giải theo nghĩa thường là cái hiểu nhiệm mầu, hiểu thấu đáo, nhưng cũng nghi là tên của ngài Văn-thù. Ngài Văn-thù, Trung Hoa dịch nghĩa là Diệu Đức, nên cũng có thể nghĩ Diệu Đức thành Diệu Giải. Còn chữ Vô Trước là tên người mà tôi đang phân vân. Nếu chữ Diệu Giải là ngài Văn-thù thì chữ Vô Trước phải là ngài Văn Hỷ.
Trong nhà thiền có ghi chuyện ngài Vô Trước gặp Bồ-tát Văn-thù. Nếu chữ diệu giải là nghĩa diệu giải thì chữ Vô Trước này có thể là tên ngài Vô Trước, anh của ngài Thế Thân. Sở dĩ tôi nghi chữ Vô Trước không phải là ngài Văn Hỷ vì ngài Văn Hỷ sau này ngộ đạo ở hội ngài Ngưỡng Sơn. Tổ Lâm Tế ngang với Ngưỡng Sơn, nếu câu này nói chuyện của đệ tử ngài Ngưỡng Sơn thì đứng về thời gian không hợp. Còn nếu là ngài Vô Trước ở Ấn Độ thì câu chuyện đó mình chưa thấu rõ.
Câu sau thì rõ được ý, bọt nước nào dễ chặn dòng sông. Dòng sông chảy mà trên mặt nước có những lượn sóng bủa nổi bọt, bọt gặp gió thổi tan ra, bọt tan đó có chặn được dòng sông chảy không? Như vậy để thấy đệ nhất cú là nói về thể, đệ nhị cú là nói về dụng. Thể đó không phân chủ khách, không cho nghĩ nghị, nhưng nếu người đạt đến chỗ siêu xuất rồi thì có diệu dụng như dòng sông chảy, bao nhiêu trở ngại giả dối không ngăn chặn được, cũng như bọt nước không chặn dòng sông. Người được thể rồi thì diệu dụng của họ không gì ngăn trở.
Tăng hỏi: Thế nào là đệ tam cú? Ngài đáp:
Chỉ xem người gỗ diễn tuồng hát
Lôi kéo toàn nhờ người ẩn trong.
Tại sao nói đệ tam cú tiến được, tự cứu chẳng xong? Như có những hình nhân bằng gỗ bên trong có ống tre luồn sẵn sợi dây, muốn cho người gỗ đó múa may diễn trò thì phía sau có người giật dây. Tự người gỗ không diễn trò được phải nhờ người điều khiển, như hiện nay có tuồng múa rối. Cũng vậy nếu người tu không tự nhận, không tự ứng dụng được chỗ chân thật của mình mà phải cậy nhờ vào người này người kia thì tự cứu được mình không? Nên nói tự cứu chẳng xong là vậy.
Ngài lại bảo: Phàm người diễn xướng tông thừa trong một câu phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ tam yếu. Có quyền có thật, có chiếu có dụng. Các ông làm sao được hội? Những danh từ riêng của tông Lâm Tế như: ba huyền môn, tam yếu, quyền thật, chiếu dụng… Tuy đặt ra nhiều tên, trên thật thể thì không chia riêng. Chủ yếu ngay đó liền nhận liền ngộ chứ không có những tướng mạo. Nếu còn thấy tướng mạo thì chưa thấy được tột. Sau này các ngài không phân biệt chia chẻ, do đó chúng ta không cần phải giải thích.
Sư dạy chúng:
– Đạo lưu! Cốt tìm lấy kiến giải chân chánh, dọc ngang trong thiên hạ, khỏi bị bọn yêu tinh hoặc loạn. Vô sự là người quý, chớ tạo tác, chỉ là bình thường. Các ông nghĩ hướng nhà bên cầu vượt qua, tìm ngón tay gót chân. Lầm rồi! Chỉ nghĩ cầu Phật, Phật là danh cú. Các ông lại biết chạy tìm chăng? Ba đời mười phương Phật tổ ra đời cũng chỉ vì cầu pháp. Như Đạo lưu hiện nay tham học cũng chỉ vì cầu pháp, được pháp mới xong, chưa được vẫn như trước luân hồi trong năm đường.
Thế nào là pháp? Pháp là tâm pháp, tâm pháp không hình thông suốt mười phương, hiện dụng trước mắt. Người tin không đến, bèn nhận danh nhận cú, hướng trong văn tự cầu, ý suy xét Phật pháp, cách xa trời đất.
Ngài bảo chúng ta cần có kiến giải chân chánh. Lúc đó dọc ngang trong thiên hạ, tức là thong dong tự tại. Không bị yêu tinh làm hoặc loạn, là không bị những trò huyễn lừa gạt. Mình là người vô sự, không làm những việc gì lạ, chỉ sống bình thường.
Tôi sợ chúng ta lầm chữ vô sự này nên nói rõ. Tổ dạy mình vô sự mà Thầy bắt mình đi cuốc đất trồng khoai cấy lúa… làm đủ thứ việc hết, làm cả ngày làm sao vô sự? Ngồi chơi thảnh thơi là vô sự phải không? Vô sự nghĩa là tâm không có vấn đề vướng bận. Dù cuốc đất cả ngày mà không có vấn đề vướng bận trong tâm cũng là vô sự. Còn ngồi không chơi mà nghĩ đủ thứ chuyện thì đó là đa sự chứ không phải vô sự. Không nên hiểu lầm vô sự kiểu làm biếng vô tích sự. Vô sự đây là tâm không việc chứ không phải là thân không làm.
Chúng ta không cần tìm kiếm gì khác hơn là cầu pháp. Pháp tức là pháp bản pháp vô pháp, là pháp gốc, nó là pháp mà không phải pháp. Pháp đó chỉ cho thể chân thật của mình, dưới đây ngài sẽ nói tới. Người học đạo cốt đạt được pháp đó, nó là chủ của tất cả. Nếu đạt được thì thấy được ông chủ của mình.
Thế nào là pháp? Pháp là tâm pháp, tâm pháp không hình thông suốt mười phương, hiện dụng trước mắt. Người tin không đến, bèn nhận danh nhận cú, hướng trong văn tự cầu, ý suy xét Phật pháp, cách xa trời đất. Tâm pháp không hình thông suốt mười phương mà hiện dụng trước mắt. Nếu đem tâm tìm kiếm qua văn tự, so lường suy xét thì rất cách xa.
Đạo lưu! Sơn tăng nói pháp là nói pháp gì? Nói pháp tâm địa hay vào phàm vào thánh, vào tịnh vào uế, vào chân vào tục. Hẳn chẳng phải là chân tục phàm thánh của ông, mà hay cùng chân tục phàm thánh an bài danh tự. Chân tục phàm thánh cùng người này an bài danh tự chẳng được.
Đạo lưu! Nắm được liền dùng chẳng mắc danh tự, gọi đó là huyền chỉ. Sơn tăng nói pháp cùng mọi người khác. Như có Văn-thù, Phổ Hiền xuất hiện trước mắt, mỗi vị hiện một thân hỏi pháp, vừa nói “Thưa Hòa thượng”, ta đã biết rõ. Lão tăng ngồi yên, lại có đạo lưu đến gặp, ta trọn hiểu rành. Tại sao như thế? Chỉ vì chỗ thấy của ta khác, ngoài chẳng nhận phàm thánh, trong chẳng trụ căn bản, thấy suốt chẳng còn nghi lầm.
Pháp của ngài nói là tâm địa pháp môn hay là tâm pháp. Tâm pháp này vào phàm thánh tịnh uế đều được. Nó đặt tên phàm thánh tịnh uế mà phàm thánh tịnh uế đặt tên nó không được. Pháp này là chủ, nên vào tất cả, đặt ra tên tất cả mà tất cả không đặt tên được nó.
Ngài nói thánh đến thì ngài hiểu thánh, phàm đến thì ngài rõ phàm, phàm thánh đến ngài đều phân biệt rành rẽ. Tại sao? Vì nơi tâm của ngài, ngoài không mắc kẹt phàm thánh tức không mắc kẹt đối đãi, trong không trụ căn bản, tức là không kìm giữ bên trong. Bệnh của chúng ta hoặc phóng ra ngoài chạy tìm những điều lạ, hoặc kìm trong ngực trong tim. Kìm cho tim nhảy thịch thịch đau tức ngực rồi rên rỉ nói tim tôi bệnh. Hoặc phóng ra ngoài hoặc kìm ở trong đều không thấy được đạo lý chân thật. Đạo lý chân thật là không kẹt ở hai bên, không kìm giữ ở trong hay ở ngoài. Nhận được như vậy sống được như vậy thì phàm thánh không lầm.
Sư dạy chúng:
– Đạo lưu! Phật pháp không có chỗ dụng công, chỉ bình thường vô sự. Đi đại đi tiểu, mặc áo ăn cơm, nhọc đến thì nằm, người ngu cười ta, kẻ trí biết ta. Người xưa nói: “Làm công phu bên ngoài, thảy là kẻ ngu si.” Các ngươi phải tùy thời làm chủ, ngay đó đều chân, cảnh đến lôi kéo chẳng được, dù có tập khí nghiệp địa ngục vô gián, tự chuyển thành biển lớn giải thoát.
Người học thời nay hoàn toàn không biết pháp, ví như con dê có vật chạm mũi liền đớp vào miệng, không biện kẻ tớ người sang, chẳng rành chủ khách. Bọn như thế tâm tà vào đạo, gặp chỗ ồn liền vào, chẳng được gọi là người chân xuất gia, chính là người chân tục gia.
Người xuất gia phải biện được kiến giải chân chánh bình thường, biết Phật biết ma, rành chân rành ngụy, rõ phàm rõ thánh. Nếu biện được như thế, gọi là chân xuất gia. Nếu ma Phật không biết, chính là xuất gia này vào gia kia, gọi là chúng sanh tạo nghiệp, chưa được gọi là người chân xuất gia.
Hiện nay có một cái ma Phật đồng thể chẳng phân, như nước với sữa hợp. Chỉ có con ngỗng chúa mới biết uống sữa chừa nước. Hàng đạo lưu mắt sáng ma Phật đều đánh. Các người nếu mến thánh ghét phàm, thì phải trôi nổi trong biển sanh tử.
Những lời này dễ bị hiểu lầm. Phật pháp không có chỗ dụng công, chỉ cần vô sự trong những việc bình thường như đi đại đi tiểu, mặc áo ăn cơm… nghe thì rất dễ. Chỗ bình thường đó lại không bình thường, vì tâm chúng ta cứ nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia. Khi thì nghĩ chuyện phàm phu, khi thì nghĩ chuyện thân nhân, chuyện trâu bò heo dê… chuyện đâu đâu xa lơ xa lắc không dính gì đến mình, có nhiều cái vô cớ tầm phào cũng nghĩ. Đó là không bình thường. Bình thường là lặng thì cứ lặng, yên thì cứ yên. Tâm không nghĩ một việc thì có gì bất thường? Như mặt nước bình thường tức là không dậy sóng, nổi sóng tức là mất thăng bằng mất bình thường.
Nhưng nếu có ai nói chúng ta bất thường thì mình không chịu, vì cho là họ nói mình “điên”. Chúng ta có điên không? Điên là thấy ngược ngạo, lộn xộn. Như có người đưa tấm giấy trắng hỏi trắng hay đen, mình nói đen thì người ta nói “điên, thấy bậy” nhưng khi hỏi chúng ta thân này thật hay giả? Mình nói thật, có điên không. Thân giả mà nói thật. Cái điên của mình là cái điên tập thể nên không thấy điên. Chúng ta sống điên đảo không thấy lẽ thật. Vì vậy lẽ ra cái gì cần nghĩ thì cho nó nghĩ, không cần thì phải cho nó lặng. Như đang đi đại đi tiểu, thì cứ làm một việc, nghĩ lan man chuyện khác làm chi. Khi ăn cơm thì cứ biết ăn cơm, nhai kỹ nuốt chậm rãi để ăn cho xong. Có mấy ai được như vậy? Ăn cơm thì cứ nghĩ chuyện này chuyện kia. Bình thường là làm việc nào ra việc nấy, còn làm việc này lại xáo trộn việc kia thì có bình thường được đâu. Vậy mà ai nói mình điên là giận lắm.
Người xưa nói Người ngu cười ta, kẻ trí biết ta. Câu này rất thâm thúy. Như trong đại chúng có một người sống bình thường, không gắng gổ ngồi thiền nhiều, cũng không gắng gổ tụng kinh nhiều. Nhưng nếu huynh đệ chọc họ cũng không giận, mắng họ cũng không buồn. Đến bữa ăn ngon cũng không khen, dở cũng không chê. Lại có một người khác ngồi thiền nhiều, tụng kinh nhiều, có hình thức dễ thấy, người ta khen. Nhưng người này tâm tánh dễ nổi bực. Người kia thì thường thường vậy thôi, có mắng họ cũng cười, gặp cảnh duyên không nổi sân, không bực bội, không có những cái hơn thua. Như vậy tuy thấy như họ tu ít mà tâm đã thuần, còn người thấy như tu nhiều mà tâm chưa thuần. Người ngu chỉ thấy trên hình thức tụng kinh ngồi thiền nhiều nên khen. Người trí thì đánh giá trên tâm niệm tu hành chứ không đánh giá hình thức.
Các ngươi phải tùy thời làm chủ, ngay đó đều chân, cảnh đến lôi kéo chẳng được, dù có tập khí nghiệp địa ngục vô gián, tự chuyển thành biển lớn giải thoát. Đây là điều chúng ta phải cố gắng ứng dụng cho được. Phải tùy thời làm chủ, những lúc đi đại đi tiểu, mặc áo ăn cơm… đều làm chủ, không cho niệm khác chen vô. Chúng ta vẫn sống bình thường, tâm không bị cái khác làm động đó là làm chủ. Nếu không bị các cảnh khác lôi kéo thì dù có tập khí địa ngục vô gián cũng tự chuyển thành biển lớn giải thoát. Vì sao dễ quá vậy?
Như có người ghiền rượu rất nặng, tập khí khó bỏ. Nhưng gặp thầy thuốc giải thích tai hại của rượu làm cho bị trăm thứ bệnh tật, làm cho say sưa điên cuồng mất trí tuệ… Người đó nghe giải thích kỹ rồi nhận định hiểu rõ, cương quyết bỏ rượu. Ngày nay cương quyết bỏ rượu thì ngày mai có bạn bè rủ đi nhậu, dù tập khí nghiện rượu chưa hết, nhưng tâm bỏ rượu vững mạnh, nghe lời mời rủ vẫn cương quyết thắng. Như vậy ngang đây nghiệp rượu chuyển được không? Rõ ràng còn tập khí mà chuyển được. Cũng vậy, nếu chúng ta trước kia phạm tội có thể đọa địa ngục nhưng ngay đây cương quyết làm chủ thì nghiệp địa ngục cũng chuyển được như thường.
Trong kinh nói, người sắp chết thì nghiệp ác nghiệp thiện đến bức bách. Nghiệp thiện thì mời rủ đi vào những chỗ tốt. Nghiệp ác thì thấy cảnh ác. Như giết hại ai thì thấy người đó tới đòi mạng, làm ác với các loài vật thì thấy trâu bò heo chó rượt đuổi. Lúc đó hoảng sợ chạy tìm chỗ trốn, hoặc lủi vô lùm bụi hoặc ẩn vô bóng tối. Cái chạy trốn là cái đọa của mình.
Khi ngộ đạo, thấy biết thân này không thật, tất cả cảnh không thật, thấy rõ như vậy thì khi đó những gì hiện tới đều thấy không thật. Mình làm chủ không sợ, thân không sợ chết, dù thấy rượt đuổi cũng không thật, không chạy trốn thì không xuống địa ngục. Làm chủ được như vậy thì ngang đó tất cả nghiệp liền chuyển. Vì thế nói, địa ngục vô gián tự chuyển thành biển lớn giải thoát.
Đó là sự gan dạ làm chủ chuyển được nghiệp. Nếu không gan dạ thì hôm nay bỏ rượu ngày mai uống lại, tật ghiền không hết bị rượu lôi.
Hỏi:
– Thế nào là Phật là ma?
Sư đáp:
– Ngươi vừa khởi một niệm tâm nghi ấy là ma. Nếu ngươi đạt được muôn pháp không sanh, tâm như huyễn hóa, không có một hạt bụi, một pháp, ngay đó liền thanh tịnh là Phật. Song Phật cùng ma là hai cảnh nhiễm tịnh. Nếu chỗ thấy của sơn tăng, không Phật không chúng sanh, không xưa không nay, được liền đó được, chẳng trải qua thời tiết, không tu không chứng, không được không mất, trong tất cả thời lại không có một pháp riêng. Dù là một pháp vượt hơn cái này, ta nói như mộng như hóa.
Ngài giảng quá rõ. Vừa dấy một niệm nghi hay là khởi một niệm đó là ma. Thấy muôn pháp mà biết không thật, không sanh, như huyễn như hóa, một pháp dù nhỏ bằng hạt bụi cũng không thật. Thấy không có một pháp thật thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh đó là Phật. Nếu chúng ta không chạy theo ma tức là chúng ta sống với Phật. Đừng cầu Phật mà đừng chạy theo ma, chúng ta mơ ước thấy Phật mà cứ chạy theo ma thì làm sao thấy Phật được? Nếu có thấy Phật thì đó là Phật của ma hiện, không phải Phật thật. Phải biết rõ ngay nơi chính mình, không có một niệm chạy theo cảnh đó là Phật hiện tiền. Nếu dấy niệm chạy theo cảnh phân biệt khen chê đẹp xấu thì Phật mất. Nghe cứ nghe thấy cứ thấy không thêm niệm, sống được như vậy người ta chê mình cũng cười, khen mình cũng bình thản, Phật ở ngay trước mắt.
Cách sống của tổ Lâm Tế, không còn thấy có ma có Phật, không còn thấy có tu có chứng. Trong tất cả thời thấy không có một pháp nào riêng mà chỉ hiện tại, hiện tiền, không phân biệt Phật ma, không nghĩ tu chứng. Ngài dẫn câu: Dù là một pháp vượt hơn cái này, cái này là cái hiện tiền, ta nói như mộng như hóa. Trong kinh Đại Bát-nhã có câu Phật dạy rằng: “Dù có một pháp vượt hơn Niết-bàn, ta vẫn nói như mộng như huyễn.” Đây thay vì nói Niết-bàn, ngài nói có cái này, là cái hiện hữu, nói vậy để không mắc kẹt trong danh tự.
Sơn tăng nói ra, đều là hiện nay trước mắt đạo lưu riêng sáng rỡ lắng nghe. Người này nơi nơi chẳng kẹt, thấu suốt mười phương, tự tại trong tam giới, vào tất cả cảnh sai biệt không thể lôi kéo, trong khoảng sát-na vào tột pháp giới, gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ, gặp La-hán nói La-hán, gặp ngạ quỷ nói ngạ quỷ, đi tất cả chỗ dạo các cõi nước giáo hóa chúng sanh mà chưa từng lìa một niệm, tùy chỗ thanh tịnh, ánh sáng thấu mười phương, muôn pháp nhất như.
Người nào mà vào được tất cả chỗ như vậy? Người hiện nay trước mắt đạo lưu riêng sáng rỡ lắng nghe. Chúng ta ai cũng có người đó. Người đó không kẹt chỗ nơi, thông suốt mười phương, tự tại trong tam giới, không có gì lôi kéo người đó được. Cái nghe cái thấy của chúng ta không ai lôi kéo được. Niệm khởi sau là cái bị lôi, còn người đó không bị lôi. Nghe thì cứ nghe, nếu lôi được tại sao tiếng này tiếng khác tới đều nghe. Như đồng thời bên đây đánh trống bên kia gióng chuông, đằng nọ tụng kinh đánh khánh, chúng ta nghe hết tất cả tiếng. Nếu lôi được thì cái nghe chạy theo trống theo chuông rồi. Nhưng nó không chạy đâu hết, rõ ràng mà nghe tất cả. Chỉ có niệm duyên tiếng gì nhiều thì tiếng đó có phần ưu. Tánh nghe bình đẳng không kẹt ở chỗ nào.
Cái đó gặp Phật nói Phật, gặp Tổ nói Tổ, gặp La-hán nói La-hán, gặp quỷ nói quỷ, đi tất cả chỗ nói tự do, sáng khắp mười phương, muôn pháp nhất như, sống được với cái đó là như vậy. Có ai tủi thân rằng mình tu không được không? Người nào mà không nghe, ngay cả người điếc cũng nghe ù ù trong lỗ tai. Mỗi nơi chúng ta đều có cái sáng rỡ đó mà không nhớ không nhận, cứ sống với cái lăng xăng ở trong đầu. Cái lăng xăng đó chợt có chợt không, giống hệt như hai sợi dây điện chạm nhau thì xẹt chút lửa, gỡ dây ra thì hết. Khi chúng ta chú ý suy nghĩ thì trong đầu xẹt nháng một vòng, gỡ ra thì hết. Nó không thật, chúng ta lại cho cái xẹt nháng chút xíu là mình, còn cái hiện hữu tràn đầy thì không nhận.
Kinh Lăng-nghiêm Phật nói chúng sanh cứ nhận một hòn bọt trên mặt biển cho đó là toàn thể mặt biển, không bao giờ thấy mặt biển. Chúng ta nhận hòn bọt lăn tăn trong đầu mình, cho đó là mình thì tất cả toàn thể mình không biết. Cái lăn tăn vụn vặt khi có khi không, nhận lầm nó mà quên toàn thể lúc nào cũng hiện tiền thì thật là khờ dại.
Đạo lưu! Kẻ đại trượng phu hiện đây mới biết xưa nay vô sự. Chỉ vì các ngươi chẳng tin đến, niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu tìm đầu, tự không thể thôi. Như hàng Bồ-tát viên đốn vào trong pháp giới hiện thân, nhằm trong tịnh độ mà chán phàm mến thánh. Bọn người như thế chưa quên bỏ lấy, tâm nhiễm tịnh vẫn còn. Kiến giải Thiền tông chẳng phải như vậy, thẳng trong hiện tại lại không thời tiết.
Sơn tăng nói ra đều là một lúc thuốc bệnh trị nhau, trọn không có pháp thật. Nếu thấy được như vậy là người chân xuất gia, mỗi ngày tiêu muôn lượng vàng ròng cũng được.
Nếu biết thì ngay nơi đây là người vô sự, chỉ vì mình tin không đến. Phải tin chắc chắn không nghi ngờ. Nếu tin hơi yếu còn nghe nhắc còn tin, ra ngoài hết tin, lo chạy theo mấy chú ma mà quên mất ông Phật. Bởi tin chưa đến nên niệm niệm tìm cầu, bỏ đầu đi tìm đầu, cái thật ngay đó không chịu nhận cứ đi tìm thứ khác. Vì vậy không có lúc thôi dứt.
Như hàng Bồ-tát viên đốn vào trong pháp giới hiện thân, nhằm trong tịnh độ mà chán phàm mến thánh. Bọn người như thế chưa quên bỏ lấy, tâm nhiễm tịnh vẫn còn. Kiến giải Thiền tông chẳng phải như vậy, thẳng trong hiện tại lại không thời tiết. Theo thường tình thì nói phàm là nhiễm, thánh là tịnh, nên bỏ nhiễm cầu tịnh. Kiến giải thiền tông thì ngay nơi đây đã có tịnh sẵn, chỉ không theo nhiễm đó là sống với tịnh. Không cần chờ chết đây sanh về cõi tịnh.
Sơn tăng nói ra đều là một lúc thuốc bệnh trị nhau, trọn không có pháp thật. Nếu thấy được như vậy là người chân xuất gia, mỗi ngày tiêu muôn lượng vàng ròng cũng được. Lời ngài nói đều là thuốc bệnh trị nhau. Nghĩa là vì có bệnh nên mới có thuốc, nếu bệnh hết thì thuốc cũng không dùng. Thuốc trị bệnh chỉ là tạm thời. Pháp đối trị phiền não cũng là pháp tạm thời không thật. Nếu người thấy tất cả đều không có một pháp thật, gọi là người chân xuất gia. Người như vậy một ngày tiêu muôn lượng vàng cũng được.
Như chúng ta xài ngày một lượng vàng có tội. Tại sao? Vì thấy cái gì cũng thật, từ người cho đến đồ vật, y phục… cả cảnh giới cũng thật. Vì thật nên tiêu xài theo lòng tham, tham đắm cất giữ thì không tội lỗi là gì? Nếu thấy không có một pháp thật, thì còn xài muôn cây vàng để làm chi? Nói xài muôn lượng vàng chứ sự thật tới đó không còn tham, không thấy cần tiêu xài.
Đạo lưu! Chớ chấp lấy, sẽ bị các bậc Lão sư đập bể cửa mặt. Nói rằng ta hiểu thiền hiểu đạo, biện luận thao thao như nước chảy, đều là người tạo nghiệp địa ngục. Nếu là người chân chánh học đạo, chẳng tìm lỗi của thế gian, cấp bách cầu kiến giải chân chánh. Nếu được chân tâm ngộ tánh tròn sáng mới xong xuôi.
Nếu chấp mình là người hiểu thiền hiểu đạo, biện luận giỏi… đó là người tạo nghiệp địa ngục, người chấp như vậy là bị Tổ sư đập bể cửa mặt, do cái mê muội cố chấp của mình mà ra.
Người chân chánh học đạo chẳng tìm lỗi của thế gian, lỗi của thế gian không tìm, huống nữa là lỗi của huynh đệ. Người sống chân thật thì ít thấy lỗi người, người sống với vọng tưởng điên đảo thì thấy người chung quanh rất nhiều lỗi. Thấy rồi sanh phiền não, chẳng ích gì. Cấp bách cầu kiến giải chân chánh, có được kiến giải chân chánh rồi, tu hành đắc lực được chân tâm ngộ tánh tròn sáng, lúc đó mới xong xuôi.
Hỏi:
– Thế nào là kiến giải chân chánh?
Sư đáp:
– Ngươi chỉ tất cả vào phàm vào thánh, vào nhiễm vào tịnh, vào cõi nước chư Phật, vào lầu các đức Di-lặc, vào pháp giới Tỳ-lô-giá-na, chỗ chỗ đều hiện, cõi nước thành trụ hoại không. Phật ra đời chuyển đại pháp luân lại nhập Niết-bàn, chẳng thấy có tướng mạo đi lại, tìm cái sanh tử của ngài trọn không thể được. Liền vào pháp giới vô sanh, nơi nơi dạo qua các cõi nước, vào thế giới Hoa tạng, trọn thấy các pháp không tướng, đều không có pháp thật, chỉ có đạo nhân Vô y (không chỗ nương) nghe pháp. Đó là mẹ chư Phật, bởi vì chư Phật đều từ Vô y sanh. Nếu ngộ Vô y, Phật cũng không thể được. Nếu người thấy được như thế là kiến giải chân chánh.
Người học không hiểu chấp danh cú, bị danh phàm thánh làm ngại, do đó chướng ngại đạo nhãn không được phân minh. Mười hai phần giáo nói ra đều cốt biểu hiển lẽ này, học giả không hội, bèn nhằm trên danh cú biểu hiển sanh hiểu, đều là nương tựa rơi tại nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong tam giới.
Các ngươi nếu muốn trong sanh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người nghe pháp này. Y không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở, mà rất linh hoạt, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi đó, càng tìm càng xa, càng cầu càng trái, gọi đó là bí mật.
Đạo lưu! Các ngươi chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn, trong khoảng sớm chiều sẽ trở về vô thường. Các ngươi đến trong thế giới này tìm vật gì làm giải thoát? Tìm lấy một bữa cơm mà ăn, mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt phỏng tầm tri thức. Chớ theo đuổi thú vui, ngày giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường, nếu thô thì bị bốn thứ đất nước lửa gió ép ngặt, tế thì bị sanh trụ dị diệt bức bách.
Đạo lưu! Thời nay cần biết bốn cảnh vô tướng, mới khỏi bị cảnh kéo lôi.
Kiến giải chân chánh là thấy tất cả phàm thánh, nhiễm tịnh, Phật Di-lặc, Tỳ-lô-giá-na tức là pháp thân, cõi nước thành trụ hoại không, Phật ra đời chuyển pháp luân… tất cả đều không thật. Thấy được như vậy thì ngay đó liền được pháp giới vô sanh. Quan trọng nhất chỉ có Đạo nhân vô y là người đang nghe pháp. Vô y là không chỗ nương. Người nghe pháp là đạo nhân vô y, thấy người đó chưa? Ngay đó sao không thấy, không thấy sao nghe pháp được?
Trong nhà thiền có câu chuyện lý thú là chỗ Văn Hỷ đến Ngũ Đài Sơn gặp Bồ-tát Văn-thù mà không biết.
Được mời vô trong động uống nước, ngài Văn-thù đưa cái tách lên hỏi phương Nam có cái này không? Văn Hỷ nói không có. Không có cái này lấy gì uống nước? Câu chuyện rất bình dị mà rất thấm. Nếu không có đạo nhân vô y thì làm gì biết nghe, phải không? Không có cái này thì làm sao mà uống? Vậy mà không dám nhận.
Đạo nhân đó ở đâu? Nếu nói ở đây thì bên kia không có, nói ở đâu cũng không được, vì đạo nhân đó không chỗ nơi. Nhiều người không hiểu, dùng phương pháp phản quan tự tánh, nghe lại cái nghe trong lỗ tại thành ra bệnh. Đã không có chỗ nơi mà nghe trong lỗ tai là có chỗ cố định. Như vậy nên nói rằng cái đó là đầy khắp.
Chỉ có đạo nhân Vô y nghe pháp. Đó là mẹ chư Phật, bởi vì chư Phật đều từ Vô y sanh. Nếu ngộ Vô y, Phật cũng không thể được. Nếu người thấy được như thế là kiến giải chân chánh. Tại sao đó là mẹ chư Phật? Có ông Phật nào không nhân cái đó mà được thành Phật đâu, không phải mẹ chư Phật là gì? Như thế đã có mẹ chư Phật, chính cái đó sanh ra Phật, không cần tìm kiếm Phật ở đâu. Ngay nơi mình có sẵn, chỉ cần nhận ra là xong. Vô y đây là chỉ cho không có chỗ tựa nương mà trùm khắp, không có nơi chốn.
Tóm lại, kiến giải chân chánh là thấy tất cả pháp không thật, chỉ có một đạo nhân vô y đang nghe pháp. Nếu thấy tất cả pháp thật là quên đạo nhân vô y. Tổ Lâm Tế nói rất rõ, lặp lại không biết bao nhiêu lần đạo nhân vô y đang nghe pháp, để cho chúng ta nhận ra, vì chúng ta có bệnh chạy theo danh tướng, quên người đang nghe pháp đây mà thấy tất cả pháp đều thật.
Chúng ta mê lầm những tạm bợ của cuộc đời, còn cái chân thật nghe được muôn pháp thì không nhận ra. Cái nghe đó hồi bé cũng nghe, về già cũng nghe, không lúc nào không nghe mà không nhớ không biết. Chỉ biết những thức ăn ngon chút xíu ở chót lưỡi, những thanh sắc tạm bợ thoáng qua. Cả đời sống với cái tạm bợ giả trá, mê theo nó rồi quên hết cái chân thật hiện hữu của mình. Vì vậy Phật tổ nhắc tới nhắc lui để chúng ta phải nhớ lại cái đó.
Người học không hiểu chấp danh củ, bị danh phàm thánh làm ngại, do đó chướng ngại đạo nhãn không được phân minh. Mười hai phần giáo nói ra đều cốt biểu hiển lẽ này, học giả không hội, bèn nhằm trên danh củ biểu hiển sanh hiểu, đều là nương tựa rơi tại nhân quả, chưa khỏi sanh tử trong tam giới.
Bao nhiêu chữ nghĩa danh cú trong kinh là cốt chỉ thẳng cái đó. Như trong kinh Pháp Hoa nói, chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, tức là vạch bày chỉ cho chúng sanh nhận thấy, vào được tri kiến Phật của mình. Tri kiến là cái thấy biết của mỗi người. Nhận được cái đó là mục đích ra đời của chư Phật.
Người thông suốt chữ nghĩa thì giải nghĩa khai là thế nào? Ngộ là thế nào? Nhập là thế nào?… Phân tích dài dòng quên ngay chỗ Phật muốn chỉ, rốt cuộc chỉ biết trên danh tự, quên ông Phật thật của mình. Đó là bệnh của học giả. Vì thế càng học càng đi xa lẽ thật, chỉ nhớ danh cú. Học biết Niết-bàn là chữ Phạn, chữ Phạn viết làm sao? Niết-ba-na là gì?… Học rồi không biết Niết-bàn, chỉ nói giỏi mà thôi. Nếu biết rõ Niết-bàn là chỗ chân thật không sanh diệt, cái đó hiện thời nghe pháp đây. Sống với cái đó thì không sanh diệt, vô sanh là Niết-bàn, đâu cần mất thời giờ giải nghĩa. Đơn giản vậy. Cho nên thiền là chỉ thẳng không quanh co, không kẹt trong ngôn cú.
Các ngươi nếu muốn trong sanh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người nghe pháp này. Ý này lặp lại bao nhiêu lần? Nếu muốn tới lui tự tại, sanh tử tự do, thì phải biết người hiện nghe pháp này. Người đó ra sao? Nếu khéo nhìn khéo thấy, rõ ràng sáng rỡ thanh tịnh đầy đủ ở mình không có chỗ tựa. Sống với cái đó thì thảnh thơi biết bao nhiêu, tự do trong sanh tử, tự tại tới lui không có gì chướng ngại.
Y không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở, mà rất linh hoạt, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi đó, càng tìm càng xa, cầu đó thì trái, gọi đó là bí mật. Phật ở hiện đây mà không chịu nhận, còn đi tìm Phật, càng tìm thì càng xa. Phật có ở núi Cấm không? Chạy lên núi tìm thì gần Phật hay xa Phật? Có sẵn đó mà không chịu nhận, cầu tìm thì trái với Phật chính mình, đó là chỗ bí mật. Với cái rất thật, rất gần gũi mà chúng ta tưởng như là huyền ảo, những cái huyền ảo lại tưởng là thật. Nghe nói ở đâu có Phật phóng quang, Phật ngồi tòa sen… lại tưởng thật, chạy lăng xăng tìm cầu, còn ông Phật hiện nghe pháp của mình, tưởng như huyền ảo xa vời. Thật trái ngược, cái thật của mình thì không nhận, cái bên ngoài mình lại ham.
Đạo lưu! Các ngươi chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn, trong khoảng sớm chiều sẽ trở về vô thường. Câu này nghe rất đau. Chớ nhận lấy kẻ bạn mộng huyễn, ai là kẻ bạn mộng huyễn? Tưởng là cái này, cái nọ, cái kia… mà không ngờ tứ đại là chú bạn mộng huyễn. Bởi vậy tôi tâm đắc nhất câu Gá thân mộng. Thân là cái mộng huyễn, không phải thật mình, thấy nó thật mình nên những nhu cầu của nó đều thỏa mãn. Giả sử tất cả đòi hỏi của thân đều tìm được đầy đủ, nhưng cuối cùng có giữ được nó không?
Rõ ràng thân này là tạm bợ mà mình tưởng là thật, đó là cái si mê đáo để. Tìm cầu để thỏa mãn những đòi hỏi của nó, phải chịu khổ sở, sân hận, phiền não… Tưởng rằng thỏa mãn rồi nó còn hoài, không ngờ càng thỏa mãn nhiều chừng nào càng chết sớm, càng mộng huyễn hơn. Như vậy thỏa mãn để nuôi dưỡng nó sống, hay là làm cho nó tiêu diệt? Một ví dụ nhỏ, chúng ta thường ăn rau đơn sơ, hôm nào có món chiên xào thì thấy vui thích thỏa dạ. Chiên xào thì dầu mỡ nhiều, ăn nhiều sanh bệnh, biết vậy nhưng cái lưỡi đòi hỏi nên phải chiều theo. Nếu cứ bình thường làm sao dồn đầy bao tử cho khỏi đói, nó đòi mặc nó, không quan trọng, đơn giản vô cùng. Nhưng người ta quan trọng cái lưỡi, con mắt, lỗ tai, lỗ mũi… Quan trọng cái thân, xúc chạm thân, thích tìm cho thỏa mãn các căn, càng tìm càng khổ sở.
Tất cả phiền não khổ đau trong cuộc sống này, gốc từ sự đòi hỏi của các cơ quan của thân. Nếu thỏa mãn được mà nó bền lâu thì cũng cho là phải, không ngờ thỏa mãn quá lại chết sớm, như vậy theo nó làm chi? Phải thấy thật đứa bạn mộng huyễn, trong khoảng sớm chiều trở về vô thường, đừng có tin cậy, trông chờ vào nó quá. Có một cái thật không ai làm hoại được mà không chịu sống với nó. Trên thế gian này năm sáu tỷ dân, hỏi có mấy người biết được lẽ này? Lời kệ nói Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, chúng ta được tao ngộ, thọ trì rồi mà không cố gắng thì thật đáng tiếc.
Kinh điển Phật dạy rõ ràng, lời Tổ nói cũng đầy đủ mà ít có người biết, cứ sống chạy theo dục lạc thế gian. Dục lạc thì thỏa mãn để nuôi thân, thân lại là cái vô thường bại hoại. Lo cho cái bại hoại, quên ngay nơi đó có cái không bại hoại, Phật tổ thương chúng sanh là thương chỗ đó, không phải đợi nghèo mới thương, giàu không thương. Kể cả giàu nghèo cũng là mê muội, cho nên đều đáng thương.
Các ngươi đến trong thế giới này tìm vật gì làm giải thoát? Tìm lấy một bữa cơm mà ăn, mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt phỏng tầm tri thức. Chớ theo đuổi thú vui, ngày giờ đáng tiếc, niệm niệm vô thường, nếu thô thì bị bốn thứ đất nước lửa gió ép ngặt, tế thì bị sanh trụ dị diệt bức bách. Chúng ta hiện tại cốt làm sao được giải thoát. Ăn cơm hẩm mặc áo vá qua ngày, chỉ cốt tìm thiện tri thức để được nghe hiểu đạo lý, chớ đuổi theo thú vui. Nếu sống theo thú vui tầm thường, ngày giờ đáng tiếc qua rồi, tìm lại không được. Mỗi niệm mỗi niệm vô thường, vô thường thô là đất nước gió lửa ép ngặt, vô thường tế là sanh trụ dị diệt bức bách.
Đất nước gió lửa ép ngặt là sao? Thân này là tứ đại đất nước gió lửa, chúng ta sống đây là điều hòa bốn chú này. Nghe hơi nóng tức là lửa nhiều thì kiếm đồ mát uống cho nước tăng lên quân bình với lửa. Nếu gió mạnh thổi đất rung rinh, cả người uể oải nhức nhối thì kêu là đánh gió, cạo cho gió ra bớt. Có khi đất ép gió, như cổ mình đang thở, có một cái gì nổi lên làm cho nghẹt thở, phải tìm cách cho tiêu nó đi… Sống là điều hòa bốn thứ này. Kinh Niết-bàn Phật dụ có bốn con rắn độc để chung trong cái hộp, chúng thù địch nhau. Người chủ nuôi nó, cả ngày cứ kìm giữ không cho chúng cắn nhau. Bốn con rắn sống chung mà phải sống đủ bốn con, không cho con nào chết. Người chủ nhà sống có lý thú gì không? Sống với bốn con rắn này cực quá phải không? Giá trị của cuộc sống là gì? Có điều hòa bốn con rắn được không? Cuối cùng rồi cũng đành thua, mỗi con đi mỗi nơi, không có giá trị gì hết, nếu cứ làm hoài như vậy thì thật là vô vị.
Đạo lưu! Thời nay cần biết bốn cảnh vô tướng, mới khỏi bị cảnh kéo lôi.
Ngay trong cái tạm bợ của tứ đại có cái chân thật, phải biết được cái đó mới có con đường giải thoát, nếu không thì uổng một đời. Vô vị làm sao, ngày này qua ngày nọ cứ làm bao nhiêu việc ấy, cuối cùng thắng không được, rã rời, bốn đứa chạy bốn nơi, hết việc.
Hỏi:
– Thế nào là bốn cảnh vô tướng?
Sư đáp:
– Các ngươi một niệm tâm nghi bị đất làm ngại. Các ngươi một niệm tâm ái bị nước nhận chìm. Các ngươi một niệm tâm sân bị lửa đốt cháy. Các ngươi một niệm tâm hỷ bị gió thổi bay. Nếu khéo biện được như thế chẳng bị cảnh chuyển. Nơi nơi dùng được cảnh, vọt bên đông lặn bên tây, vọt bên nam lặn bên bắc, vọt ở giữa lặn ở bên, vọt ở bên lặn ở giữa, đi trên nước như đất, đi trên đất như nước. Bởi sao được như vậy? Vì đạt bốn đại như mộng huyễn.
Đạo lưu! Các ngươi hiện nay biết nghe pháp, chẳng phải tứ đại của các ngươi, cái biết ấy hay dùng được tứ đại. Nếu khéo thấy được như thế là đi đứng tự do. Chỗ thấy của sơn tăng chẳng ngờ pháp ấy. Các ngươi nếu mến thánh thì thánh chỉ là tên thánh. Có một nhóm người học đạo nhắm trong Ngũ Đài Sơn tìm Văn-thù, trọn đã lầm vậy. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn-thù. Các ngươi muốn biết Văn-thù chăng? Chỉ cái dùng trước mắt các ngươi trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi, cái ấy là Văn-thù sống. Các ngươi một tâm niệm sáng không sai biệt, nơi nơi thảy là chân Phổ Hiền. Các ngươi một tâm niệm tự hay mở trói, tùy chỗ giải thoát, đây là Quan Thế Âm. Ba pháp lẫn nhau làm chủ bạn, ra thì đồng thời ra, một tức ba, ba tức một. Hiểu được như thế, mới nên xem kinh.
Các ngươi một niệm tâm nghi bị đất làm ngại. Các ngươi một niệm tâm ái bị nước nhận chìm. Các ngươi một niệm tâm sân bị lửa đốt cháy. Các ngươi một niệm tâm hỷ bị gió thổi bay. Nếu khéo biện được như thế chẳng bị cảnh chuyển. Bốn thứ đất nước gió lửa biểu hiện bằng bốn tâm niệm nơi chúng ta. Niệm nghi ngại là đất, niệm ái là nước, niệm sân là lửa, niệm hỷ là gió. Niệm hỷ là gió cũng không khó hiểu, như hồi nhỏ mỗi khi ba má đi chợ về, có quà bánh thì chúng ta mừng nhảy lên. Hỷ là sự vui mừng làm cho mình phấn khởi muốn nhảy vọt lên, đó là gió thổi bay. Bốn tâm niệm đó có sẵn ở trong tâm mỗi người, nếu thắng được nó thì không bị cảnh lôi kéo. Nếu chúng ta khéo biết nghi là đất, ái là nước, sân là lửa, hỷ là gió, chinh phục được nó, không khởi tâm khỏi bị cảnh chuyển.
Nơi nơi dùng được cảnh, vọt bên đông lặn bên tây, vọt bên nam lặn bên bắc, vọt ở giữa lặn ở bên, vọt ở bên lặn ở giữa, đi trên nước như đất, đi trên đất như nước. Bởi sao được như vậy? Vì đạt bốn đại như mộng huyễn. Thấy rõ bốn đại như mộng huyễn cho nên đối với cảnh tự tại tự do, được thần thông, vào nước vào đất không trở ngại. Như vậy, biết thân này mộng huyễn, là sức mạnh rất lớn. Nếu nó là mộng huyễn thì còn giận ai? Còn tham ái gì? Còn nghi ngờ gì? Có gì mà vui mừng? Cho thân này là thật thì bị bốn tướng chuyển, chỗ nào cũng không tự do.
Đạo lưu! Các ngươi hiện nay biết nghe pháp, chẳng phải tứ đại của các ngươi, cái biết ấy hay dùng được tứ đại. Nếu khéo thấy được như thế là đi đứng tự do. Chỗ thấy của sơn tăng chẳng ngờ pháp ấy. Ngài nói thật là chí tình. Cái mà ông biết nghe pháp đó, không phải là tứ đại mà hay dùng được tứ đại. Nó không phải là tứ đại nhưng nương tứ đại phát ra những diệu dụng. Chỗ thấy của ngài không còn nghi ngờ người nghe pháp đó.
Các ngươi nếu mến thánh thì thánh chỉ là tên thánh. Có một nhóm người học đạo nhắm trong Ngũ Đài Sơn tìm Văn-thù, trọn đã lầm vậy. Trong Ngũ Đài Sơn không có Văn-thù. Các ngươi muốn biết Văn-thù chăng? Chỉ cái dùng trước mắt các ngươi trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi, cái ấy là Văn-thù sống. Văn-thù là gì? Là cái dùng trước mắt trước sau chẳng khác, nơi nơi chẳng nghi. Thời gian trước, thời gian sau đều sử dụng như thế, nơi nơi không có nghi. Đó là Văn-thù sống.
Các ngươi một tâm niệm sáng không sai biệt, nơi nơi thảy là chân Phổ Hiền. Nơi tâm niệm chúng ta không có niệm sai biệt, đó thật là Phổ Hiền.
Các ngươi một tâm niệm tự hay mở trói, tùy chỗ giải thoát, đây là Quan Thế Âm. Quan Thế Âm cứu khổ, mỗi niệm mỗi niệm mở trói. Mở làm sao? Nghĩa là vừa thấy cái đó đẹp, biết nó là giả dối là mở được nó. Nghe câu gì mà nổi bực giận, biết lời nói đó là giả dối, cái giận cũng giả dối, bỏ đi thì đó mở rồi. Đức Quan Âm cứu mình liên miên phải không? Hiện tại cứu khổ cho mình được giải thoát.
Ba pháp lẫn nhau làm chủ bạn, ra thì đồng thời ra, một tức ba, ba tức một. Hiểu được như thế, mới nên xem kinh. Các kinh điển đại thừa nói về Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Phổ Hiền, Bồ-tát Quan Âm đều hướng về mình mà nói, không phải nói Bồ-tát ở ngoài. Chúng ta cứ hướng bên ngoài lên Ngũ Đài Sơn tìm Văn-thù… Cứ tìm các ngài mà không thấy ở nơi mình.
Hỏi:
– Ý Tổ sư từ phương Tây sang thế nào?
Sư đáp:
– Nếu có ý tự cứu chẳng xong.
Hỏi:
– Đã không ý làm sao Nhị Tổ được pháp?
Sư đáp:
– Được đó là chẳng được.
– Nếu đã chẳng được, thế nào là ý chẳng được?
– Vì nhằm tất cả chỗ tìm kiếm, tâm không thể thôi. Do đó Tổ sư nói: “Dốt thay! Đại trượng phu đem đầu tìm đầu.” Ngươi ngay lời nói này liền tự hồi quang phản chiếu, chẳng cầu cái gì khác, biết thân tâm cùng Phật tổ chẳng khác, liền đó vô sự mới gọi là được pháp.
Đại đức! Sơn tăng hôm nay bất đắc dĩ nói ra khá nhiều điều vụng về. Các ngươi chớ nhận lầm. Theo chỗ thấy của tôi, thật không chấp nhận các thứ đạo lý nhiều như thế, cần dùng liền dùng, chẳng dùng liền thôi. Các nơi nói lục độ vạn hạnh cho là Phật pháp. Tôi nói đó là cửa trang nghiêm, cửa Phật sự, chẳng phải là Phật pháp. Cho đến trì trai giữ giới như bưng đĩa dầu chẳng nghiêng, nếu đạo nhãn chẳng sáng trọn có ngày phải đền lại nợ cơm tiền. Vì sao như thế? Vì học đạo chẳng thông lý, đem thân đền tín thí, trưởng giả tuổi tám mốt, cây kia chẳng sanh nhĩ. Nhẫn đến ở trên chót núi, một ngày ăn một bữa, thường ngồi chẳng nằm, sáu thời hành đạo, vẫn là người tạo nghiệp. Hoặc đem đầu mắt tủy não, vợ con đất nước, voi ngựa bảy báu hoàn toàn thí xả; hành động như thế đều là làm khổ thân tâm, lại chuốc quả khổ. Đâu bằng vô sự thuần nhất không tạp. Cho đến hàng Bồ-tát Thập địa mãn tâm muốn tìm dấu vết của vị này trọn không thể được. Do đó chư thiên vui mừng, địa thần nâng chân, chư Phật mười phương thảy đều khen ngợi. Duyên gì như thế? Vì đạo nhân hiện nghe pháp, chỗ dùng không dấu vết vậy.
Ý chẳng được là gì? Là cái chạy tìm mãi không thôi. Nếu dừng đừng tìm thì được không? Ngài nói rõ ràng rất thấm thía. Dẫn lời Tổ quở, đại trượng phu đem đầu tìm đầu là ngu ngốc. Đại trượng phu thì phải mạnh mẽ, trí tuệ. Chúng ta thường vỗ ngực xưng tôi là bậc trượng phu, phải ráng cho đúng nghĩa trượng phu, đừng đem đầu chạy tìm đầu.
Ngươi ngay lời nói này liền tự hồi quang phản chiếu, chẳng cầu cái gì khác, biết thân tâm cùng Phật tổ chẳng khác, liền đó vô sự mới gọi là được pháp. Người vô sự thì gọi là được pháp. Ý này thầm hợp với Tâm Kinh Bát-nhã, “Do không chỗ được, Bồ-tát y theo Bát-nhã tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, viễn ly mộng tưởng điên đảo cứu cánh Niết-bàn… Ba đời chư Phật… được đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác…” Như vậy từ vô sở đắc đó mà đắc. Đây cũng vậy, nếu chúng ta không có sở đắc, mới gọi là đắc pháp.
Tại sao? Mắt tại mũi lưỡi thân ý đối với sáu trần không dính không kẹt, gọi đó là giải thoát. Nói là được giải thoát, mà có được giải thoát nào không? Không dính không kẹt thì giải thoát, đâu phải có ai đưa chúng ta lên trời mây mới là giải thoát. Nếu còn dính còn kẹt thì bị trầm luân gỡ không ra, vậy thôi. Rõ ràng là khi chúng ta không dính với sáu trần, gọi đó là vô sự, là được pháp.
Đại đức! Sơn tăng hôm nay bất đắc dĩ nói ra khá nhiều điều vụng về. Các ngươi chớ nhận lầm. Theo chỗ thấy của tôi, thật không chấp nhận các thứ đạo lý nhiều như thế, cần dùng liền dùng, chẳng dùng liền thôi. Ngài Lâm Tế thường làm gì? Hỏi là hét hoặc đánh, đó là thuật của ngài. Hôm nay vì thương chúng ta mà nói nhiều, những điều nói ra đều là vụng về, bất đắc dĩ. Nếu thật chỗ thấy của ngài thì ngay nơi đó không cho có gì để suy xét.
Các nơi nói lục độ vạn hạnh cho là Phật pháp. Tôi nói đó là cửa trang nghiêm, cửa Phật sự, chẳng phải là Phật pháp. Phật pháp theo ngài là cái chân thật hiện hữu của mình, đó là Phật, là pháp bản lại. Còn nói lục độ vạn hạnh là chỉ phân tích cho có phương tiện để người nghe dần dần tìm tới đạo, không phải Phật pháp.
Cho đến trì trai giữ giới như bưng đĩa dầu chẳng nghiêng, nếu đạo nhãn chẳng sáng trọn có ngày phải đền lại nợ cơm tiền. Dầu cho chúng ta tu cẩn mật, trì trai giữ giới nghiêm trang như bưng đĩa dầu đầy không cho rơi một giọt… xem như rất chín chắn cẩn mật, nhưng nếu đạo nhãn chẳng sáng thì trọn có ngày phải đền lại nợ cơm tiền, vì chưa được giải thoát. Đạo nhãn là con mắt đạo, con mắt đó nhận ra được người nghe pháp hiện giờ, gọi là đạo nhãn sáng. Không nhận ra được thì đạo nhãn không sáng. Nếu có tu phước đức thì được hưởng trong vòng luân hồi cõi lành, nếu không có phước đức mà nhận của tín thí thì phải đền nợ cơm tiền.
Vì sao như thế? Vì, học đạo chẳng thông lý, đem thân đền tín thí, trưởng giả tuổi tám mốt, cây kia chẳng sanh nhĩ. Đây dẫn câu kệ của Tổ ngày xưa nói, người tu nhận của thí chủ nuôi, tu hành chưa giác ngộ, nên sau làm nấm để trả nợ cho thí chủ.
Nhẫn đến ở trên chót núi, một ngày ăn một bữa, thường ngồi chẳng nằm, sáu thời hành đạo, vẫn là người tạo nghiệp. Ngài nói thẳng rằng dù một mình ở chót núi, ngày ăn một bữa, thường ngồi không nằm, sáu thời hành đạo, không được chân thật giải thoát thì cũng chỉ là tạo nghiệp lành. Tạo nghiệp lành thì sanh cõi lành chứ chưa giải thoát.
Hoặc đem đầu mắt tủy não, vợ con đất nước, voi ngựa bảy báu hoàn toàn thí xả; hành động như thế đều là làm khổ thân tâm, lại chuốc quả khổ. Có một cái chân thật mà không nhận không sống với nó, chỉ hành hạ thân thì chuốc khổ thôi. Trọng tâm tu ở chỗ này, đây là ma, đây là Phật, đừng sống với ma mà phải sống với Phật, đơn giản vậy, khỏi lên non lên núi xa xôi. Nếu lên non lên rừng mà không biết Phật không biết ma tức là tạo nghiệp, nghiệp lành thì hưởng lành, nghiệp ác thì hưởng ác. Chúng ta ngồi đây cũng có Phật, năm chục người có năm chục ông Phật. Ngay chỗ này biết thì có Phật, không biết thì không có Phật. Người ta thích tu ở núi để tìm Phật, không ngờ Phật ngồi sẵn ở đây.
Đâu bằng vô sự thuần nhất không tạp. Cho đến hàng Bồ-tát Thập địa mãn tâm muốn tìm dấu vết của vị này trọn không thể được. Do đó, chư thiên vui mừng, địa thần nâng chân, chư Phật mười phương thảy đều khen ngợi. Duyên gì như thế? Vì đạo nhân hiện nghe pháp, chỗ dùng không dấu vết vậy. Đạo nhân hiện nghe pháp, người đó không dấu vết. Nhận được người đó thì chư thiên vui mừng, địa thần nâng chân, mười phương chư Phật đều khen ngợi. Đó là cái gốc.
Một hôm Sư cùng Hà Dương, trưởng lão Mộc Tháp đồng ở tại tăng đường ngồi quanh lò lửa. Nhân nói chuyện Phổ Hóa mỗi ngày ở ngoài phố chợ giả điên khùng, biết y là phàm là thánh? Nói chưa xong, Phổ Hóa đi vào. Sự liền hỏi:
– Ông là phàm là thánh?
Phổ Hóa nói:
– Ông hãy nói tôi là phàm là thánh?
Sư liền hét. Phổ Hóa lấy tay chỉ nói:
– Hà Dương kẻ tân phụ), Mộc Tháp thiền lão bà, Lâm Tế đứa tớ nhỏ, lại đủ một con mắt.
Sư bảo:
– Kẻ giặc.
Phổ Hóa nói:
– Giặc! Giặc!
Liền đi ra.
Người xưa đã là bậc tác gia rồi, nên Phổ Hóa nghe nói không biết là phàm là thánh, bèn bước vào hỏi tôi là phàm là thánh? Người biết rồi thì không bị gạt, nên ngài liền hét! Đó là đập tan cái bẫy. Phổ Hóa liền chỉ nói: Hà Dương kẻ tân phụ, tức là cô dâu mới, Mộc Tháp thiền lão bà, Lâm Tế là đứa tớ nhỏ, lại đủ một con mắt. Ngài nói: Kẻ giặc, kẻ giặc. Nói đủ con mắt tức là khen, ngài nói kẻ giặc tức là chê. Đối đáp theo Lục Tổ.
Vương Thường Thị đến thưa hỏi Sư, theo Sư đến trước tăng đường, xem xong liền hỏi:
– Tăng cả nhà này có xem kinh chăng?
Sư đáp:
– Chẳng xem kinh.
Thường Thị hỏi:
– Lại học thiền chăng?
Sư đáp:
– Chẳng học thiền.
Thường Thị nói:
– Kinh đã chẳng xem, thiền lại chẳng học, cứu cánh làm cái gì?
Sư đáp:
– Thảy dạy y làm Phật tác Tổ.
Thường Thị nói:
– Mạt vàng tuy quý, rơi vào con mắt thành bệnh, lại làm sao?
Sư bảo:
Sẽ bảo ông là kẻ thế tục.
Làm sao để thành Phật tổ? Tức là ngay nơi ông Phật của mình, sống với chính mình, rất đơn giản không cần dài dòng quanh co. Ngay nơi đó chỉ cho họ làm Phật làm Tổ. Câu nói đó làm cho Vương Thường Thị nói: Mạt vàng tuy quý, rơi vào con mắt thành bệnh. Câu đó là khen hay chê? Chê cái gì? Nếu còn nói làm Phật làm Tổ, danh từ tuy là cao nhưng giống như mạt vàng rơi vào con mắt. Đó là lời trách, mới biết Vương Thường Thị là con người thế nào. Nếu ngang đó làm thinh tức là ngài thua, nên ngài liền bảo: Sẽ bảo ông là kẻ thế tục. Đó là câu cứu lại.
Một hôm, Phổ Hóa ở trong chợ đến mọi người xin chiếc áo dài, mọi người đều cho, Phổ Hóa đều chẳng nhận. Sư dạy Viện chủ mua một quan tài. Phổ Hóa về đến, Sư bảo:
– Tôi đã vì ông sắm chiếc áo dài rồi.
Phổ Hóa liền tự vác đi. Phổ Hóa đi quanh đường chợ rao:
– Lâm Tế cho tôi chiếc áo dài rồi, tôi sang cửa Đông tịch.
Người trong chợ đua nhau đến xem. Phổ Hóa bảo:
– Tôi ngày nay chưa tịch, ngày mai sang cửa Nam mới tịch.
Như thế đến ba ngày, mọi người đều chẳng tin. Đến ngày thứ tư, không ai theo xem, một mình Phổ Hóa tự chun vào quan tài, nhờ người đi đường đậy nắp lại. Tin truyền đi mọi người trong chợ đua nhau đến giở quan tài xem, không thấy thi hài Phổ Hóa, chỉ nghe trong hư không tiếng mõ xa dần rồi mất.
Chúng ta thấy chỗ nhận hiểu của tổ Lâm Tế và ngài Phổ Hóa bằng nhau nhưng duyên giáo hóa không giống. Như trong lớp học, mấy chú là huynh đệ nhau, học hiểu tương đương nhau. Giả sử về sau người trụ trì chùa này, người trụ trì chùa kia. Chùa A thì tín chúng đông đảo, Phật sự vẻ vang. Chùa B thì vắng vẻ, Phật sự ít ỏi. Tuy học thì như nhau, nhưng duyên truyền bá mỗi người có khác. Đừng vì lẽ một huynh đệ mình được cái hay, nhiều người quy phục rồi mình đố kỵ, đó là tâm phàm phu. Làm sao nếu huynh đệ được điều hay điều tốt mà mình tán thưởng khen ngợi thêm, đó thật là tâm tùy hỷ, tâm trượng phu.
Sư sắp tịch ngồi yên bảo:
– Sau khi ta tịch chẳng được diệt mất chánh pháp nhãn tạng của ta.
Tam Thánh Huệ Nhiên thưa:
– Đâu dám diệt mất chánh pháp nhãn tạng của Hòa thượng.
Sư bảo:
– Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?
Tam Thánh liền hét. Sư bảo:
– Ai biết chánh pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất.
Sư nói kệ truyền pháp:
Diên lưu bất chỉ vấn như hà?
Chân chiếu vô biên thuyết tự tha?
Ly tướng ly danh như bất bẩm
Xuy mao dụng liễu cấp tu ma.
Dịch:
Theo dòng chẳng dứt hỏi thế nào?
Chân chiếu khôn ngằn nói với ai?
Lìa tướng lìa danh như chẳng nhận
Gươm bén dùng rồi gấp phải mài.
Nói xong, Sư ngồi an nhiên thị tịch. Nhằm niên hiệu Hàm Thông năm thứ tám (867), ngày mười tháng tư năm Đinh Hợi.
Vua ban thụy là Huệ Chiếu thiền sư, tháp hiệu Trừng Linh.
Ý ngài bảo rằng ta có mất rồi, các ông nên kế thừa truyền bá, đừng cho diệt mất chánh pháp. Ngài Huệ Nhiên nói: Đâu dám diệt mất chánh pháp nhãn tạng của Hòa thượng. Tức là chúng con sẽ nối, sẽ kế thừa không cho mất. Ngài hỏi về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào? Ngài Tam Thánh Huệ Nhiên liền hét! Thủ thuật ở tổ Lâm Tế, ngay đó được thì dùng không cho suy nghĩ. Thuật ấy ngài Huệ Nhiên nắm được, mà nắm được thì tất nhiên kế thừa được.
Tại sao ngài lại nói: Ai biết, chánh pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất? Câu này nghe rất khó hiểu, nhưng theo quan niệm xưa mười hai năm xoay vần theo mười hai con giáp, trong đó không có năm con lừa. Như vậy để nói rằng sự truyền bá của ngài không có dứt. Nếu có thì tới năm nào đó có tên, chỗ này con lừa không có năm nên không có chỗ cùng. Lại là con lừa mù, mù không thấy thì làm sao biết đâu là nơi chốn. Vì thế không có chỗ nơi nhất định, cũng không có thời gian nhất định. Nó là liên miên, mãi mãi không cùng, bởi vậy cho nên không có ai biết tới đâu. Đó là ngài đã thọ ký.
Sư nói kệ truyền pháp:
Diên lưu bất chỉ vấn như hà?
Chân chiếu vô biên thuyết tự tha?
Ly tướng ly danh như bất bẩm
Xuy mao dụng liễu cấp tu ma.
Diên lưu bất chỉ vấn như hà? Diên là tiếp tục, lưu là trôi chảy, bất chỉ là không dừng. Sự tiếp tục trôi chảy mãi không dừng. Vấn như hà, là hỏi thế nào. Không thể trả lời được. Câu đầu của bài kệ này nói đạo lý của ngài truyền mãi, không thể hỏi đến đâu là dừng.
Chân chiếu vô biên thuyết tự tha? Cái chân thật chiếu soi này không có ngằn mé, chỉ tự chứng biết, đâu thể nói với người ngoài. Tức là không thể nói được. Sự tiếp nối này đứng về thời gian không có ngằn mé, đứng về không gian không có giới hạn.
Ly tướng ly danh như bất bẩm. Sự truyền bá này không mắc kẹt trên tướng trên danh, cả hai đều không dính không nhận.
Xuy mao dụng liễu cấp tu ma. Xuy mao là cây kiếm bén, sợi lông vừa thổi qua liền đứt, như vậy bén đến cỡ nào? Mà dùng rồi phải mài gấp, luôn mài giũa không chậm trễ.
Đây là lời dạy của ngài về sự truyền pháp nối tiếp không cùng, khi truyền bá đừng mắc kẹt trên danh tướng. Người truyền bá tông thiền, sau khi nhận rõ rồi đem ra giáo hóa cũng phải giữ cho mình không bị tổn hao, không mất phẩm chất đạo đức của mình, như thanh kiếm bén xài rồi phải gấp mài giũa, đừng để cùn lụt. Nghĩa là người thấy đạo, khi giáo hóa không thể quên mất mình, đó là cái gốc.
Sư họ Trần quê ở Giang Nam. Thuở bé, Sư dung nhan kỳ đặc, nhân đến chùa Khai Nguyên lễ Phật, thấy tăng như đã quen trước. Về, Sư xin phép cha mẹ xuất gia, cha mẹ đồng ý cho.
Sau khi làm tăng, Sư giữ giới tinh nghiêm học thông ba tạng. Đi du phương, Sư thâm ngộ nơi tổ Hoàng Bá. Được mọi nơi kính trọng gọi là Tôn Túc nên thành danh Trần Tôn Túc.
Về sau, Sư về ở chùa Khai Nguyên thường dùng cỏ bồ đan giày bán nuôi mẹ. Do đó cũng có tên là Trần Bồ Hài. Tăng chúng mến trọng Sư, lần lượt tìm đến tham vấn. Lời lẽ đối đáp của Sư rất bí hiểm khó người nhận nổi. Thế nên những kẻ căn cơ thô thiển đều chẳng thích. Chỉ những bậc tánh sáng am hiểu huyền học mới khâm phục.
Những vị có duyên giáo hóa chúng sanh đều là người đã từng tu hành nhiều đời về trước. Như ngài Trần Tôn Túc nếu chưa từng tu thì làm sao vô chùa thấy chư tăng như đã quen trước? Thấy như đã quen tức là đã có tu rồi.
Khi làm tăng, ngài giữ giới luật và thông suốt ba tạng kinh, sau đó mới tham thiền và ngộ nơi tổ Hoàng Bá. Nếu tham học mà không thông giáo lý và luật nghi sẽ thành người cố chấp. Tư cách ngài như thế nên được trong chúng tôn kính gọi là Tôn Túc, nghĩa là bậc trên trước rất tôn trọng.
Đây có một điểm mà tất cả chúng ta phải học. Khi ngài về trụ trì chùa Khai Nguyên, trong chúng thời đó ở ít ra cũng phải năm trăm trở lên. Như thế sá gì có một bà mẹ, lâu lâu xin của Tam bảo chút ít nuôi bà cũng được, mà ngài phải đan giày bán lấy tiền nuôi mẹ. Người xưa làm việc Tam bảo, phân biệt rành rẽ cái nào là của công, cái nào là của tư. Nếu là của công thì không được dùng cho việc tư. Mẹ mình thì bổn phận phải nuôi, đó là việc tư. Cho nên thà là đan giày để lấy tiền nuôi mẹ, còn tiền của chúng thì dù là trụ trì ngài vẫn không lạm dụng. Như thế mới đúng tinh thần đạo đức, tôn trọng của chung và giữ phần phước cho cha mẹ không để tổn giảm.
Tham vấn buổi chiều, Sư bảo chúng:
– Các ngươi lại được chỗ vào chưa? Nếu chưa được chỗ vào, cần được chỗ vào, nếu đã được chỗ vào, về sau chớ cô phụ lão tăng.
Có một vị tăng bước ra lễ bái thưa:
– Con trọn chẳng dám cô phụ Hòa thượng.
Sư bảo:
– Ngươi trước đã cô phụ ta rồi.
Sư lại bảo:
– Ta đã nói rõ với ngươi, ngươi còn chẳng hội, huống là che đậy mai sau.
Ngài có nói gạt chúng ta không? Bảo rằng nếu chưa được chỗ vào cần được chỗ vào, nếu đã được chỗ vào, về sau chớ cô phụ lão tăng. Có vị tăng thật thà bước ra nói: Con trọn chẳng dám cô phụ Hòa thượng. Đó là hợp lý, tại sao ngài nói ngươi trước đã cô phụ ta rồi. Cô phụ chỗ nào? Đây là cái hay của người xưa, khéo léo nói rằng chưa được chỗ vào thì cần chỗ vào, nếu đã được chỗ vào thì chớ cô phụ lão tăng.
Vị tăng này nói con không dám cô phụ Hòa thượng tức là tự xưng mình đã được chỗ vào. Nếu thật đã được chỗ vào, phải có hành động nào đó, ở đây đáp thật thà như vậy làm sao chắc đã được chỗ vào. Nên ngài nói, ngươi trước đã cô phụ ta rồi. Đó là điều chúng ta thấy cái khéo của người xưa. Ngài bảo: Ta đã nói rõ với ngươi, ngươi còn chẳng hội, huống là che đậy mai sau. Nghĩa là nói trắng ra vậy mà còn không biết.
Sư lại bảo:
– Lão tăng trụ trì ở đây chẳng từng thấy một người vô sự đi đến. Các ngươi sao chẳng lại gần?
Có một vị tăng mới bước lại gần. Sư bảo:
-Duy-na chẳng có ở đây, ngươi tự đi ra ngoài cửa lãnh hai mươi gậy.
Tăng thưa:
– Con lỗi ở chỗ nào?
Sư bảo:
– Đã đeo còng lại mang gông.
Lão tăng trụ trì ở đây chẳng từng thấy một người vô sự đi đến. Các ngươi sao chẳng lại gần? Lối dạy của ngài khó hiểu. Vừa nói trụ trì chưa thấy người vô sự đến, rồi hỏi: Các ngươi sao chẳng lại gần? Tăng bước lại gần, ngài lại bảo: Duy-na không có ở đây. Nếu có Duy-na thì bị đánh hai mươi gậy đuổi đi, phải không? Duy-na không có ở nhà, thôi ông tự đánh hai mươi gậy rồi đi ra cửa. Tự nhiên mình cũng thắc mắc, lỗi ở chỗ nào? Ngài nói: Đã đeo còng lại mang gông.
Như vậy đeo còng ở đâu? Nếu câu hỏi con lỗi chỗ nào là mang gông thì cũng chịu được. Tại sao trước đeo còng? Bởi vì bị đầu lưỡi Lão hòa thượng lừa, bảo lại gần thì cứ lại gần, không biết gì hết. Đó là đeo còng, rồi bị rầy bảo tự lãnh hai mươi gậy. Như vậy mà còn trách: Con lỗi ở chỗ nào? Đó là thêm lớp gông.
Lối dạy của ngài rất nhanh lẹ, người không sáng liền bị gạt.
Bình thường Sư thấy tăng đến liền đóng cửa. Hoặc thấy giảng sư đến, Sư gọi: “Tọa chủ!” Tọa chủ: “Dạ!” Sư bảo: “Kẻ vác bảng.” Hoặc bảo: “Ở đây có thùng cho tôi gánh nước.”
Những câu nói Kẻ vác bảng hoặc Ở đây có thùng cho tôi gánh nước… có ý nghĩa gì không? Thật ra chỉ kêu dạ là xong, từ bi đáo để rồi. Nhưng vì Tăng không hiểu nên ngài nói gạt: cho mượn thùng lấy nước… Cái ngài muốn chỉ đã qua rồi.
Một hôm Sư đứng ngoài hành lang, có vị tăng đến hỏi:
– Phòng Trần Tôn Túc ở chỗ nào?
Sư liền cởi giày, đè đầu vị tăng ấy đập. Vị tăng ấy chạy. Sư gọi:
– Đại đức!
Tăng xoay đầu nhìn lại. Sư chỉ bảo:
– Đi bên này.
Sao ngài tàn nhẫn quá vậy? Người ta hỏi phòng Trần Tôn Túc ở chỗ nào, chỉ hay không chỉ thì thôi, tại sao đè đầu người ta xuống mà đánh? Lỗi tại đâu?
Đối diện Trần Tôn Túc mà không biết, đó là trường hợp hình thức ở ngoài. Như cái hiện tiền bên trong sẵn đủ mà còn đi tìm, đó là đánh chỗ không nhận ra hiện tiền mà còn chạy tìm. Đánh thì ông tăng chạy, với lòng từ bi ngài gọi: Đại đức! Tăng xoay đầu lại mà không biết gì. Ngài mới bảo: Đi bên này. Đây là câu nói đùa chơi không có ý nghĩa.
Có vị sứ thần đến viếng. Sứ thần hỏi:
– Ba cửa đều mở, từ cửa nào vào?
Sư gọi:
– Thượng thư.
Sứ thần ứng thanh:
– Dạ!
Sư bảo:
– Từ cửa tín vào.
Sứ thần nhìn lên vách thấy tượng vẽ, hỏi:
– Hai tôn giả đối mặt luận việc gì?
Sư gõ cây cột nói:
– Trong ba thân cái nào chẳng nói pháp?
Sứ thần này có thông minh không? Như chùa chúng ta có ba cửa, một vị khách quan trọng đến hỏi: Ba cửa này, tôi vô cửa nào? Nếu chúng ta trọng khách thì mời khách đi cửa giữa. Đó là lẽ thường, nhưng với thiền sư thì không đơn giản như vậy.
Khi Sứ thần hỏi đi cửa nào, không phải là không biết ba cửa, mà hỏi là có lý do. Ngài kêu, Thượng thư! Sứ thần Dạ! Như thế từ cửa đó mà vô. Ngài liền thêm câu: Từ cửa tín mà vào. Lối dạy này có giống tổ Lâm Tế không? Tổ Lâm Tế luôn luôn nhắc chúng ta người đang nghe pháp đó, chỉ vì các ông tin không đến. Ai cũng có người đang nghe pháp mà không dám tin, không dám nhận nên rồi bỏ qua.
Đây ngài kêu Thượng thư. Thượng thư ứng lên: Dạ. Đó là chỉ người đang nghe thấy rõ ràng, phải tin nhận cửa đó mà vào.
Sứ thần nhìn lên vách thấy tượng vẽ, hỏi: Hai tôn giả đối mặt luận việc gì? Ngài gõ cây cột nói: Trong ba thân cái nào chẳng nói pháp? Dường như ngài nói lạc đề, nhưng không phải. Hình vẽ trên vách là từ tâm nghĩ tưởng mà vẽ ra, trong nhà thiền gọi là hóa thân. Như vậy pháp thân nói pháp, báo thân nói pháp thì hóa thân này cũng nói pháp. Nếu nhìn đó mà hiểu, nhìn đó mà ngộ, nhìn đó mà tin thì trong ba thân, thân nào cũng nói pháp.
Tăng hỏi:
– Thế nào là ý Tào Khê?
Sư bảo:
– Lão tăng ưa sân chẳng ưa hỷ.
Tăng hỏi:
– Vì sao như thế?
Sư đáp:
– Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ nói thơ.
Muốn biết ý Tổ sư thì cứ nhìn thấy cái sân cái hỷ của người hiện tại đây, đừng tìm nơi nào khác. Vừa khởi ý tìm đã trật rồi, ngay trong hiện tại mà nhận. Tăng không hiểu, tưởng Hòa thượng hay giận, nên hỏi vì sao như thế? Ngài nói, gặp tay kiếm khách nên trình kiếm, chẳng phải nhà thơ chớ nói thơ. Vì ông không phải kiếm khách nên tôi không cho xem kiếm, không phải nhà thơ nên tôi không nói thơ. Tức là chê Tăng không xứng tay với ngài.
Tăng hỏi:
– Giáo ý Tổ ý là đồng là khác?
Sư bảo:
– Núi xanh tự núi xanh, mây trắng tự mây trắng.
Tăng hỏi:
– Thế nào là núi xanh?
Sư bảo:
– Trả một hạt mưa cho ta.
Tăng thưa:
– Nói chẳng được, thỉnh Thầy nói.
Sư bảo:
– Pháp Hoa xông trước trận, Niết-bàn câu chót thâu.
Khi nhìn lên những ngọn núi cao, chúng ta thấy mây vây phủ núi, mây với núi có dính nhau không? Mây là mây, núi là núi, mây tạm có hợp rồi tan, còn núi vẫn y nguyên không tan hợp. Núi là ngầm nói ý Tổ, là lẽ thật, mây là ngầm nói ý kinh giáo, tùy duyên dựng lập vì chúng sanh.
Tăng hỏi: Thế nào là núi xanh? Ngài bảo: Trả một hạt mưa cho ta. Đó là muốn hỏi thẳng ý Tổ. Tại sao ngài trả lời một câu vẻ ngớ ngẩn? Hỏi thế nào là núi xanh thì hoặc nói núi xanh là bất sanh bất diệt, núi xanh là gì đó, lại đòi hạt mưa? Vì núi xanh là chỗ không còn lời, không có niệm nghĩ, ông hỏi như thế đã là ngớ ngẩn, nên ngài đáp lại bằng một câu ngớ ngẩn: Trả một hạt mưa cho ta.
Tăng thưa: Nói chẳng được, thỉnh Thầy nói. Ngài bảo: Pháp Hoa xông trước trận, Niết-bàn câu chót thâu. Ngài bảo con trả hạt mưa, câu này con bí rồi đáp không được, xin ngài đáp giùm. Câu đáp này có ý nghĩa gì không? Đó chỉ là một câu đáp cho có lời không giải thích gì cả.
Sư xem kinh, thượng thư Trần Tháo đến hỏi:
– Hòa thượng xem kinh gì?
Sư bảo:
– Kinh Kim Cang.
Tháo bảo:
– Lục triều phiên dịch, đây là thứ mấy dịch?
Sư đưa quyển kinh lên bảo:
– Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh.
Kinh Kim Cang do sáu nhà phiên dịch từ Phạn sang Hán, mỗi nhà phiên dịch ở một triều đại, như triều Ngụy, triều Lương, triều Đường… nên gọi là Lục triều phiên dịch. Nói theo Lục triều phiên dịch là nói theo danh số thứ tự, nếu đáp bằng danh số thứ tự thì mắc kẹt.
Vì thế khi hỏi triều thứ mấy, ngài bèn đưa quyển kinh lên, rồi nói: Tất cả pháp hữu vi như mộng huyễn bào ảnh. Đó là lối gỡ bẫy khéo léo không mắc kẹt vào thời đại hay thứ tự.
Sư xem kinh Niết-bàn, có vị tăng hỏi:
– Hòa thượng xem kinh gì?
Sư đưa quyển kinh lên bảo:
– Cái này là phẩm trà-tỳ rốt sau.
Vị tăng mới đến lễ bái Sư, Sư quở:
– Xà-lê tại sao trộm trái cây của Thường trụ ăn?
Tăng thưa:
– Con vừa mới đến, vì sao Hòa thượng nói trộm trái cây?
Sư bảo:
– Tang vật vẫn còn.
Sao tàn nhẫn vậy? Người ta mới bước vô chùa, liền rầy ăn trộm trái cây làm mất mặt quá phải không? Chúng ta có ăn trộm trái cây của thường trụ không? Lúc nào? Khi chúng ta bước vào chùa, con mắt nhìn bên đây ngó bên kia, rồi ý chạy duyên theo cảnh tượng phân biệt… đó là đã đi ăn trộm rồi. Như vậy mà còn nói mới vào chùa đâu có ăn trộm. Ngài nói tang vật vẫn còn, cãi chối tức rõ ràng chú ăn trộm mà chưa biết lỗi.
Có vị đại đức được vua ban tử y đến lễ bái. Sư cầm cái mũ lên, hỏi:
– Cái này gọi là gì?
Đại đức đáp:
– Mũ triều thiên.
Sư bảo:
– Thế ấy thì lão tăng chẳng đội.
Sự hỏi:
– Ông chuyên về sự nghiệp gì?
– Duy thức.
Sư lại hỏi:
– Nói thế nào?
Đại đức đáp:
– Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức.
Sư chỉ cánh cửa hỏi:
– Cái ấy là gì?
Đại đức đáp:
– Sắc pháp.
Sư bảo:
– Trước rèm ban tử y, đối vua thuyết pháp, tại sao không giữ năm giới?
Đại đức không đáp được.
Vị tăng này phạm giới gì? Đây có hai điều: Thứ nhất, ông tăng được vua ban tử y, nên khi vào triều, đội mũ triều thiên là chầu thiên tử, vua như con trời, nên phải chầu vua. Mình là người xuất gia cầu giải thoát, có chầu vua không? Cho nên ngài nói ta không có đội mũ đó. Thứ hai, Tăng nói rằng: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Ngài chỉ cánh cửa hỏi cái ấy là gì? Tăng đáp là sắc pháp. Ngài liền kết tội đối vua mà phạm tội nói dối. Bởi vì tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, thì tất cả pháp có ra đều từ thức, cánh cửa là cũng thức biến, tại sao ông nói là sắc pháp ngoài thức. Như vậy có nói dối không? Nên nói tại sao không giữ năm giới?
Sư thượng đường:
– Xé tan ra cũng là ta, gom nhóp lại cũng là ta.
Có vị tăng ra hỏi:
– Thế nào là xé tan ra?
Sư bảo:
– Ba lần chín là hai mươi bảy, Bồ-đề Niết-bàn chân như giải thoát tức tâm tức Phật. Ta đã nói thế ấy, ngươi lại nói thế nào?
Tăng thưa:
– Con chẳng nói thế ấy.
Sư bảo:
– Cái chén đánh rơi xuống đất, cái đĩa bể thành bảy miếng.
Tăng hỏi:
– Thế nào là gom nhóp lại?
Sư bèn ngồi khoanh tay.
Biết thế nào là xé tan, thế nào là gom góp không? Hỏi xé tan, ngài đáp: Ba lần chín là hai mươi bảy. Tức là làm toán nhân theo cửu chương chồng lên. Bởi do một thể không tên nhưng phân tích chồng chất thành tên này tên nọ tên kia. Phân tích thế nào? Là đặt tên Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, giải thoát, tức tâm tức Phật… Một cái không tên mà đặt rất nhiều tên, không phải xé tan ra là gì?
Thế nào là gom góp? Ngài ngồi khoanh tay rồi thôi, không nói một lời. Trở về bản vị của nó thì không lời, còn xé tan ra manh mún thì có lời, khi có nhiều tên gọi đó là manh mún vụn vặt.
Sư dạy chúng:
– Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ.
Câu này nghe có lạ không? Nếu việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ là phải, việc lớn đã sáng tại sao như đưa ma mẹ? Đây là câu tôi tâm đắc nhất, vì thấy rõ chủ yếu tu hành của người xưa. Chúng ta tu nếu chưa sáng được việc lớn, tức là chưa nhận ra bản tâm chưa thấy bản tánh, thì phải luôn luôn thao thức trăn trở, cố gắng tu hành để làm sao cho thấy, làm sao cho đạt được. Chúng ta không bao giờ hài lòng, phải nỗ lực, phải luôn luôn cố gắng, đó là việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ.
Khi đã sáng việc lớn, thấy được tâm chân thật, như bài kệ tôi thường dẫn: Đốn ngộ tuy đồng Phật, chóng ngộ tuy đồng chư Phật, nhưng còn gì nữa? Đa sanh tập khí thâm. Nhiều đời tập khí còn sâu dày, không phải một lần ngộ một lần thấy là xong. Ngộ được rồi thấy được rồi, đó mới là giai đoạn đầu, nếu ngang đó mà tự mãn hài lòng, phát sanh tật ca hát làm thơ vịnh phú… rồi có khi rượu chè be bét, nói ta ngộ rồi, ta cũng như Phật, không còn gì phải sợ nữa… Chúng ta thấy hiện nay có nhiều người như vậy, cũng nói thấy đạo rồi, giới không giữ, ăn nhậu bừa bãi, đó là cái bệnh. Cho nên sau khi thấy đạo rồi cũng phải nỗ lực tu hành, để tập khí nhiều đời mòn mỏng, đến bao giờ thật hết thì chừng đó mới xong.
Như có một số người đi tìm trầm hoặc đi ăn ong ở rừng. Họ cùng đi với nhau sâu trong rừng, đi mãi quên lối về, khi đó hết lương thực, loanh quanh lẩn quẩn trong rừng, thật là khổ sở. Cho tới khi mệt đừ, đói khát kiệt lực, bỗng dưng có người tìm được lối về, thấy được đầu đường lúc mới vào rừng. Người đó mừng vui, coi như mình thoát được mê lầm, hết lạc đường rồi. Nhưng mà có tới nhà chưa? Thấy đường về chưa phải là kẻ tới nhà, nhớ như vậy. Muốn tới nhà phải còn gì nữa? Còn phải tận lực đi cho tới bao giờ về ngồi được trong nhà. Chừng đó mới nhẹ nhàng thoải mái, khỏi lo đói khát. Nếu thấy đường về mà không chịu đi thì cũng còn đói khổ như thường. Người tu cũng vậy, bao nhiêu kiếp luân hồi quay vòng trong sanh tử không biết lối ra, bây giờ thức tỉnh tu hành tức là thấy được lối đi, thấy được lối đi gọi là sáng được việc lớn.
Sáng được việc lớn nhưng ngang đó rồi chưa? Bao nhiêu tập khí muôn đời còn đầy ắp ở trong. Cho nên ngang đó rồi phải nỗ lực tiến tu, đến bao giờ tập khí tan hết chừng đó mới xong. Như Huệ Trung quốc sư, sau khi ngộ ở Lục Tổ rồi lên núi Bạch Nhai ở bốn mươi hai năm, lúc đó mới gọi là xong việc. Ngài Triệu Châu ngộ đạo ở tổ Nam Tuyền rồi, mà còn nói: Ba mươi năm sau mới thấy thân tâm là một. Như vậy có đơn giản không? Chúng ta bây giờ mới hiểu được chút chút thì lo nói dóc, rồi sẽ đi tới đâu? Đó là chuyện hết sức lớn lao không phải thường.
Câu nói này là câu răn, chúng ta phải biết rõ, nếu chúng ta có duyên sáng được việc lớn, đừng tự mãn, rồi còn phải nỗ lực tu cho tới bao giờ sạch hết những tập khí, chừng đó mới xong. Vì thế sáng việc lớn rồi cũng như đưa ma mẹ.
Lại dạy:
– Ta thấy tổ Bá Trượng không biết tốt xấu, đại chúng vừa họp lấy gậy đồng thời đánh đuổi, lại gọi “Đại chúng!” Chúng xoay đầu lại, bèn bảo: “Ây là gì? Có chỗ nào cùng nói?” Lại Hòa thượng Hoàng Bá cũng vậy, đánh chúng chạy, lại gọi “Đại chúng!” Chúng xoay đầu lại, bèn bảo “Trăng tợ cung loan mưa ít gió nhiều.”
Ngài Trần Tôn Túc giống hệt như tổ Lâm Tế, đặt nặng trọng tâm ở chỗ làm sao mình thấy được con người đang nghe pháp, cho nên dẫn câu chuyện tổ Bá Trượng và tổ Hoàng Bá.
Các ngài khéo léo, chúng đang nhóm họp lại xách gậy đuổi đi, rượt chạy mịt mù, ai biết cái gì! Khi chạy rồi, lại gọi: Đại chúng! Chúng xoay đầu lại, tổ Bá Trượng nói: Ấy là gì?
Ấy là gì? Tức là đưa cho câu nghi vấn để xem chúng có hiểu không, biết chỗ ngài muốn dạy không? Nếu không biết, không thấy thì ngài nói có chỗ nào cùng nói, như vậy là hết nói rồi. Dồn mình tới chỗ bí, rồi kêu để cho dễ thấy. Kêu mà chưa ngộ, nên thêm một câu “Ấy là gì?” để cho nhớ sực lại cái mà ngài muốn chỉ. Nếu cũng không thấy thì ngài phải nói sao? Có chỗ nào cùng nói? Hết chỗ nói mấy ông rồi, dốt như vậy là hết chỗ nói rồi, chỉ hai lần mà còn không biết. Tổ Bá Trượng từ bi quá chừng.
Ngài Hoàng Bá cũng từ bi giống như vậy: Đại chúng họp rồi cũng đánh chúng chạy, chạy rồi lại gọi: Đại chúng! Chúng xoay đầu lại, bèn bảo: Trăng tợ cung loan mưa ít gió nhiều. Ngài nói kiểu nên thơ quá. Câu thơ này để giải nghĩa chỗ ngài đánh đuổi, hay là để chị? Chỉ là câu nói vuốt đuôi, không có ý nghĩa gì. Có ý nghĩa là đánh đuổi rồi kêu cho mình xoay lại, đó là chủ tâm của ngài. Nhưng xoay lại mà không hiểu gì hết, nên nói một câu cho vui. Người đọc sách thiền không hiểu, cứ lo giải nghĩa câu: Trăng tợ cung loan mưa ít gió nhiều, thật là tức cười.
Sư sắp tịch gọi môn đồ lại nói:
– Nơi đây hết duyên, ta sẽ đi vậy.
Rồi ngồi kiết già thị tịch, thọ 98 tuổi được 76 tuổi hạ. Người trong quận dùng củi thơm trà-tỳ, thu được xá lợi nhiều như mưa, dựng tháp thờ tại chùa.
Các ngài đi sung sướng quá chừng, hết duyên thì đi, không bận rộn lo lắng sợ sệt gì cả.
Thiền sư Huệ Tịch quê ở Hoài Hóa, Thiều Châu, con nhà họ Diệp. Lên chín tuổi, Sư theo thiền sư Thông xuất gia ở chùa Hòa An tại Quảng Châu. Năm mười bốn tuổi, cha mẹ bắt về tính chuyện hôn nhân cho Sư, Sư không chịu. Sư chặt hai ngón tay, đến trước cha mẹ quỳ thệ cầu chánh pháp để báo ơn sanh thành dưỡng dục. Cha mẹ mới cho xuất gia.
Sư trở lại chỗ thiền sư Thông, được cạo tóc đắp y ở chùa Nam Hoa. Chưa được thọ giới Cụ túc, Sư đã đi du phương.
Tinh thần xuất gia của ngài, chúng ta sánh kịp không? Phần nhiều xin ba má đi xuất gia, nếu không cho thì năn nỉ, năn nỉ không được thì khóc, khóc không được thì trốn, chứ không dám chặt hai ngón tay, dâng lên xin nguyện cầu chánh pháp để báo ơn sanh thành dưỡng dục. Ý chí xuất gia của ngài rất mạnh. Mười bốn tuổi đã phát tâm, do đâu mà thâm ngộ sớm như thế? Có thể nói đó là chủng tử quá khứ thúc đẩy ngài, không phải là chuyện mới.
Lần trở lại này thì thầy bổn sư qua Việt Nam, nên ngài cũng đi hành cước sớm.
Sư đến yết kiến Đam Nguyên, nhân đây được huyền chỉ.
Đam Nguyên bảo:
– Quốc sư lúc đương thời truyền cho chín mươi bảy viên tướng (tướng tròn) của sáu đời tổ sư, trao cho Lão tăng dặn rằng: “Sau khi ta tịch diệt ba mươi năm, có ông Sa-di từ phương Nam đến, sẽ làm hưng thịnh tông giáo này, ngươi nên thứ lớp truyền trao chớ để đoạn dứt.” Nay ta trao cho con, con phải vâng giữ.
Nói xong, Đam Nguyên trao bản ấy qua cho Sư. Sư nhận được, xem qua một lượt, bèn đem đốt.
Hôm khác, Đam Nguyên hỏi Sư:
– Những tướng ta trao cho hôm trước cần phải quý trọng giữ kín.
Sư thưa:
– Hôm ấy xem xong, con đốt quách rồi.
Đam Nguyên bảo:
– Pháp môn này của ta không người hội được, chỉ có thầy ta và các bậc đại thánh tổ sư mới hiểu hết, sao con lại đốt đi?
Sư thưa:
– Con một phen xem qua đã biết ý chỉ trong đó, ứng dụng được chẳng cần cầm bản.
Đam Nguyên bảo:
– Tuy như thế, nơi con thì được, người sau làm sao tin đến được?
Sư thưa:
– Hòa thượng nếu cần, con chép lại chẳng khó.
Sư liền chép hết lại thành một tập chẳng sót một điều, trình lên. Đam Nguyên khen là đúng.
Qua giai đoạn đến với thiền sư Đam Nguyên, chúng ta thấy ngài đã tu nhiều đời. Đam Nguyên là thị giả Quốc sư Huệ Trung. Ngài Huệ Trung được truyền chín mươi bảy viên tướng tròn, trong đó hoặc vẽ chữ “Phật”, chữ “ngưu”… mỗi tướng có ý nghĩa riêng. Quốc sư Huệ Trung dặn rằng, sau khi ta tịch ba mươi năm có ông Sa-di từ phương Nam đến sẽ làm hưng thịnh tông này, nên mang cái đó mà truyền. Sa-di này là người đã có căn tánh lâu đời mà Quốc sư biết trước sẽ đến đây hay là Sa-di này là thân sau của Quốc sư? Chưa biết thế nào nhưng dặn dò như vậy.
Nếu ngài Ngưỡng Sơn chưa từng học cái này, một phen coi qua làm sao nhớ được? Phải chi hai ba tướng thì nhớ nổi, chín mươi bảy tướng mà coi qua một lần đốt phứt đi, vậy mà biểu chép lại thì chép đầy đủ không thiếu. Chứng tỏ ngài đã từng coi bao nhiêu lần rồi. Quả thật ngài là người tái lai, không phải là hạng thường.
Sư giặt y, Đam Nguyên hỏi:
– Chính bây giờ làm gì?
Sư đáp:
– Chính bây giờ nhằm chỗ nào thấy?
Câu hỏi này, nếu tôi hỏi mấy chú làm gì thì mấy chú sẽ đáp gọn là giặt đồ, hay giặt y. Như vậy nghe cũng hay, nhưng cái hay đó không bằng câu ngài đáp ở đây. Chính bây giờ nhằm chỗ nào thấy? Vì thể đó con mắt Phật còn không thấy, ngài nói chính bây giờ, tức là ngay cái đó, ngay bây giờ muốn hỏi cái đó, chỗ đó thì không ai thấy được. Ngài chỉ thẳng chỗ đã chứng được hay là đã ngộ được. Nói như vậy rất rõ ràng.
Sư còn Sa-di đến tham vấn Quy Sơn Linh Hựu.
Quy Sơn hỏi:
– Ngươi là Sa-di có chủ hay Sa-di không chủ?
Sư thưa:
– Có chủ.
– Chủ ở chỗ nào?
Sư từ bên đông sang bên tây đứng. Quy Sơn biết con người kỳ lạ nên cố tâm chỉ dạy.
Sự hỏi:
– Thế nào là chỗ ở của chân Phật?
Quy Sơn đáp:
– Dùng cái diệu tư (nghĩ nhớ) mà không tư (nghĩ nhớ), xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng, tư cùng tận trở về nguồn, tánh tướng thường trụ, sự lý không hai, chân Phật như như.
Ngay câu nói ấy, Sư đốn ngộ, dừng lại đây hầu hạ Quy Sơn.
Câu chuyện đối đáp này, nếu ai hỏi chắc là mấy chú đáp câu đầu trúng phải không? Ví dụ hỏi: Chú là Sa-di hay Tỳ-kheo? Nói: Dạ con là Sa-di. Hỏi: Sa-di có chủ hay không chủ? Tự nhiên là có chủ rồi. Nhưng hỏi chủ ở chỗ nào thì mấy chú nói sao? Chỉ trên đầu hoặc nơi tim. Ngài Ngưỡng Sơn chỉ ông chủ bằng cách từ bên đông qua bên tây đứng. Đó là ông chủ hiện tiền, không phải ông chủ suy nghĩ ở trên trán, cái tưởng tượng ở trong tâm. Do đó ngài Quy Sơn biết là người kỳ đặc.
Ngài hỏi: Thế nào là chỗ ở của chân Phật? Chân Phật là Phật thật, không phải Phật gỗ Phật xi-măng, cũng không phải Phật sanh diệt bằng thân ba mươi hai tướng tốt.
Quy Sơn đáp: Dùng cái diệu tư mà không tư, xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng, tư cùng tận trở về nguồn, tánh tướng thường trụ, sự lý không hai, chân Phật như như. Cái diệu tư mà không tư, tức là cái nghĩ nhớ nhiệm mầu rất đặc biệt, nghĩ nhớ mà không nghĩ nhớ. Xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng, tư cùng tận trở về nguồn, tới đó là tánh tướng thường trụ, sự lý không hai, chân Phật như như.
Lối dạy này nghe hơi vòng vo một chút, nhưng chủ yếu không khác với lối dạy của tổ Bồ-đề Đạt-ma: Đem tâm ra ta an cho. Khi đó ngài Huệ Khả làm gì? Dùng cái nghĩ mà tìm xem tâm ở đâu, đó là diệu tư. Khi xoay lại tìm, tìm tột cùng chỗ tinh anh sáng suốt rồi, lúc đó mới nói: Con tìm tâm không được. Sơ Tổ nói: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Như vậy, tột cùng đến chỗ không còn hình dáng, không còn tướng sanh diệt, gọi là chân Phật như như.
Sư sang Giang Lăng thọ giới ở lại một hạ để học luật. Sau đó Sư đến tham vấn Nham Đầu. Nham Đầu thấy Sư liền giở phất tử lên. Sư trải tọa cụ. Nham Đầu đưa phất tử lại sau lưng. Sư vác tọa cụ lên vai đi ra. Nham Đầu bảo:
– Ta chẳng nhận ông buông, chỉ nhận ông thâu.
Hai vị có đối đáp gì không? Đây có hai điểm cần phải nhớ:
Điểm thứ nhất ngài Ngưỡng Sơn ngộ đạo mà vẫn còn phải học luật, nhớ như vậy. Bây giờ có nhiều người mới hiểu chút chút mà nghênh ngang, nói ta phá tướng, phá chấp… Đó là điên khùng, không biết thật biết hư. Người ngộ rồi vẫn giữ giới luật tinh nghiêm chứ không phải ngộ rồi làm bậy làm bướng. Hiểu được một chút, giả nói ta là người thấy đạo, là người không chấp hình tướng, tưởng như vậy là hay.
Điểm thứ hai là khi tới Nham Đầu, Nham Đầu giở phất tử lên dọ thử người đó đã thấy đạo chưa. Đưa phất tử lên ngài đáp lại bằng cách trải toạ cụ xuống. Người đưa lên thì người trải xuống. Khi đó ngài Nham Đầu biết gã này là đối địch rồi, liền đưa cây phật tử lại sau lưng. Đưa lại sau lưng thì đầu phất tử chúi xuống, vác tọa cụ lên vai trả lời như vậy liền bước ra đi.
Trong cách đối đáp lạ lùng này, biết người đó có thầy hay không thầy. Nhưng nếu ra đi mà ngài Nham Đầu làm thinh thì không được câu chót, nên mới nói câu: Ta chẳng nhận ông buông, chỉ nhận ông thâu.
Sư đến tham vấn Thạch Thất, hỏi:
– Phật với đạo cách nhau bao nhiêu? Thạch Thất đáp:
– Đạo như xòe tay, Phật như nắm tay.
Sư từ Thạch Thất, Thạch Thất tiễn ra tới cổng bảo rằng:
– Ngươi chớ một bề đi, về sau ở lại bên ta.
Đạo với Phật cách xa bao nhiêu mà nói: Đạo như xòe tay, Phật như nắm tay? Dầu xòe dầu nắm hình dáng dường như hai, nhưng thể của bàn tay không hai. Như vậy nói đạo nói Phật không phải là hai việc.
Vi Trụ đến Quy Sơn xin một bài kệ. Quy Sơn bảo:
– Thấy mặt trình nhau vẫn là kẻ độn, huống là bày trên giấy mực.
Vi Trụ đến xin Sư. Sư vẽ trên giấy một tướng tròn, chú rằng: “Nghĩ mà biết là rơi vào đầu thứ hai, chẳng nghĩ mà biết là rơi vào đầu thứ ba.”
Chúng ta thấy, xin bài kệ mà tổ Quy Sơn quở thấy mặt trình nhau còn là độn thay, huống nữa là viết chữ viết nghĩa trên giấy. Hai ba lớp độn.
Vi Trụ tới ngài xin, ngài liền vẽ một vòng tròn, ghi chú rằng: Nghĩ mà biết là rơi vào đầu thứ hai, chẳng nghĩ mà biết là rơi vào đầu thứ ba.
Cái nào lỗi nhiều, cái nào lỗi ít? Đầu thứ ba lỗi nhiều hơn đầu thứ hai phải không? Thường trong nhà thiền hay nói lỗi hai bên, nghĩ mà biết là thuộc hai bên, là đầu thứ hai. Đầu thứ ba ở chỗ nào? Đó là một câu nói chỉ thẳng mà gạt, không nghĩ mà biết thì là lẽ thật, nhưng đây gạt một cách khéo léo, nói đầu thứ ba tưởng đâu lỗi hơn nữa.
Một hôm Thượng tọa ở Quy Sơn đưa phật tử lên bảo:
– Nếu người nào làm được đạo lý liền cho phất tử.
Sư thưa:
– Tôi làm được đạo lý, lại được chăng?
Thượng tọa bảo:
– Chỉ làm được đạo lý liền được.
Sư bèn chụp tay giật cây phất tử đi.
Đạo lý ở chỗ nào? Ở chỗ biết làm ngay hiện tại, không qua lời nói. Nếu nói cái này, cái nọ, cái kia… thì đạo lý qua ngôn ngữ, không phải thật, vì vậy ngài giật phất tử đi luôn. Đó là đã làm đạo lý rồi.
Quy Sơn cùng Sư du hành, bỗng chim tha quả hồng chín đánh rơi trước mặt. Quy Sơn lượm quả hồng đưa Sư. Sư nhận quả hồng đi lấy nước rửa, rửa xong Sư dâng Quy Sơn. Quy Sơn bảo:
– Ở chỗ nào con được quả này?
Sư thưa:
– Đây là đạo đức của Hòa thượng cảm nên. Quy Sơn nói:
– Con đâu phải không có.
Liền bẻ nửa quả hồng cho Sư.
Câu chuyện này có gì lạ? Hay là chuyện thầy lượm đưa trò, trò rửa rồi thầy chia cho trò ăn thôi?
Ban đầu tổ Quy Sơn thấy quả hồng lượm đưa cho ngài, ngài đi rửa, rửa xong đưa lên. Quy Sơn biết rõ hồi nãy mình đưa chứ ai, mà còn hỏi: Ở chỗ nào con được quả này? Hỏi để chi vậy? Ngài Ngưỡng Sơn đã ngộ ở Đam Nguyên rồi mới tới Quy Sơn, được một lần ngộ nữa tức là triệt ngộ. Nhưng chưa biết Ngưỡng Sơn định tôn ai làm thầy, nhận ai làm thầy của mình, nên mới đặt câu hỏi: Ở chỗ nào con được quả này? Quả này không phải là trái hồng, mà ngầm chỉ chỗ ông sống được, ông nhận được. Ngài Ngưỡng Sơn trả lời vừa thật thà vừa ngầm ý: Đây là đạo đức của Hòa thượng cảm nên. Con được quả này là nhờ đạo đức của Hoà thượng, như vậy nhận Quy Sơn làm thầy. Đó là một cách khéo lạ. Ngài Quy Sơn nói, con đâu phải không có, tức là con cũng có phần ở trong đó, thôi chia hai.
Trong một sự việc thấy như chơi, mà có ngầm ý rất thâm sâu. Vì vậy sau này ngài kế thừa Quy Sơn, chứ đầu tiên ngài đã biết lý huyền ở ngài Đam Nguyên rồi.
Sư đang chăn trâu ở sườn núi phía trước, thấy một vị tăng lên núi không bao lâu lại xuống. Sư bèn hỏi:
– Thượng tọa sao không lưu lại trong núi? Tăng nói:
– Chỉ vì nhân duyên chẳng hợp.
Sự hỏi:
– Có nhân duyên gì thử nói xem. Tăng nói:
– Hòa thượng hỏi tôi tên gì, tôi đáp Quy Chân. Hòa thượng hỏi Quy Chân ở đâu, tôi đáp không được.
Sư bảo:
– Thượng tọa trở lên thưa với Hòa thượng: con nói được. Hòa thượng hỏi nói thế nào, chỉ đáp: trong mắt trong tai trong mũi.
Vị tăng trở lại nói đúng như Sư dạy. Quy Sơn quở:
– Kẻ nói suông vô ích, đây là lời của thiện tri thức năm trăm người.
Vị tăng này đến với tổ Quy Sơn, tổ Quy Sơn nghe nói tên là Quy Chân bèn hỏi quy chân ở chỗ nào? Tức là trở về cái chân thật ở đâu? Ông tăng bí không biết chỗ chỉ. Cho nên xuống nói lại thì Ngưỡng Sơn biết, bảo trở lên nói: Trong mắt, tai, mũi… Tăng trở lên nói đúng như vậy là trúng rồi, nhưng tại sao bị tổ Quy Sơn quở: Kẻ nói suông vô ích? Bởi vì nếu biết thì khi hỏi đã chỉ rồi, đợi xuống núi trở lên nói, đó là đợi suy nghĩ mới biết, hoặc nghe ai nói mới nói lại. Như vậy tức là nói suông, không phải tự mình nói đúng. Người nói được câu đó là thiện tri thức của năm trăm người.
Chúng ta thấy trở về chỗ chân thật không xa, ngay nơi sáu căn mình khéo thì được trở về, không khéo thì nó đi tuốt.
Sư nằm mộng thấy vào nội viện của đức Di-lặc, trong nhà tăng các tòa đều có người ngồi, chỉ có tòa thứ hai trống, Sư liền lên tòa ngồi. Có vị tôn giả bạch chùy (khai kẻng) rằng:
– Hôm nay tòa thứ hai nói pháp.
Sư đứng dậy bạch chùy rằng:
– Pháp Đại thừa ly tử cú tuyệt bách phi, lắng nghe! Lắng nghe!
Chúng đều giải tán. Sư thức giấc đem việc ấy thuật lại Quy Sơn. Quy Sơn bảo:
– Con đã vào vị thánh.
Sư lễ tạ.
Đây là một điểm mà lâu nay nhiều người nghi ngờ, tôi cũng đã từng nói nhiều lần, sẵn dịp này nói lại cho rõ. Trong nhà thiền thường nói, người tu đến chỗ miên mật thì khi ngủ cũng như khi thức, ngủ thức không hai. Có nhiều người nói như vậy tối không được ngủ, phải tỉnh luôn, ban ngày tỉnh thì tối cũng phải tỉnh. Người tu miên mật rồi thì ngày đêm tỉnh luôn khỏi ngủ, mà nếu không ngủ chừng ba tháng phát điên, vì đó là bệnh. Như vậy thì làm sao trúng? Nếu không ngủ thì ngài Ngưỡng Sơn đâu có nằm mộng. Rõ ràng ngài nằm mộng. Dầu mộng lên cung trời Đao-lợi hay cung trời Đâu-suất cũng là mộng trong giấc ngủ. Ngài được miên mật chưa? Như vậy nói miên mật không ngủ là sai lầm. Nhưng khác ở chỗ này, khi miên mật rồi lúc ngủ cũng như lúc thức không hai.
Ví dụ khi chúng ta mới tu trong vòng vài ba năm, lúc thức thì giữ giới luật, ăn chay đàng hoàng. Nhưng khi ngủ mộng thấy bà con rủ đi ăn đám, có tiệc tùng rượu thịt, mình có từ chối nói tôi ăn chay không? Mình vẫn thấy ăn mặn như bình thường. Tại sao? Vì chủng tử đạo mới huân, mà chủng tử thế gian còn nặng. Bởi vậy nên trong giấc ngủ mình sống trở về với chủng tử cũ, không nhớ cái mới.
Như mấy chú mới tu, khi nằm ngủ ít thấy ở chùa, thấy ở nhà thường hơn, thấy đi làm việc này việc nọ ngoài đời. Đó là chủng tử cũ còn mạnh. Mấy chú ở chùa mười năm hoặc hơn nữa, nếu người nào thật tu, mộng thấy mình ở chùa, việc gì trái với đạo lý không làm. Đó là đã tiến lên.
Đây ngài Ngưỡng Sơn nghe bảo rằng tòa thứ hai thuyết pháp, thì ngài liền lên tòa nói: Pháp đại thừa ly tứ cú tuyệt bách phi, lắng nghe! Lắng nghe! Như vậy lúc tỉnh ngài thuyết pháp cũng như lúc mộng ngài thuyết pháp, không khác chút nào. Tỉnh như thế nào mộng cũng như thế ấy, gọi là thức ngủ như nhau. Đừng hiểu lầm thức ngủ như nhau rồi thức luôn suốt đêm thành bệnh. Học mà không biết tới nơi dễ sanh bệnh hoặc buông lung hoặc tinh tấn thái quá.
Như vậy thì bao giờ mấy chú tu, lúc mộng thấy mình miên mật công phu, cái gì trái với việc tu liền từ chối, đó là khá rồi, đó là chủng tử đạo sâu dày. Nếu khi mộng thấy việc gì không phải giới luật mà mình cứ làm thì biết mình tệ lắm, mình chưa thật sạch.
Sư vẫn theo Quy Sơn ngót mười lăm năm. Được Quy Sơn mật ấn, Sư lãnh chúng ở núi Vương Mãng. Hóa duyên ở đây không hợp, Sư dời đến Ngưỡng Sơn, học chúng đua nhau đến đấy rất đông.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Hết thảy các ngươi mỗi người tự hồi quang phản quán, chớ ghi ngôn ngữ của ta. Các ngươi từ kiếp vô thủy đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng tưởng quá sâu khó nhổ mau được. Do đó, giả lập phương tiện dẹp thức thô của các ngươi, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, có gì là phải. Như người đem các thứ hàng hóa cùng vàng lập tiệm bán, bán hàng hóa chỉ nghĩ thích hợp với người mua. Vì thế, nói “Thạch Đầu là tiệm chân kim, chỗ ta là tiệm tạp hóa”. Có người đến tìm phẩn chuột ta cũng bết cho, kẻ khác đến cầu chân kim ta cũng trao cho.
Tăng hỏi:
– Chẳng cần phẩn chuột, xin Hòa thượng cho chân kim?
Sư bảo:
– Cắn tên định mở miệng, năm lừa cũng chẳng hội. Tăng không đáp được. Sư tiếp:
– Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói Thiền tông, bên thân cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng? Nếu ta nói đông nói tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để gạt con nít, trọn không có thật. Nay ta nói rõ với các ngươi việc bên thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Vì sao? Vì đây là việc mé ngọn của thánh. Hiện nay cần thức tâm đạt bản, cốt được cái gốc chẳng lo cái ngọn. Sau này khi khác sẽ tự đầy đủ. Nếu chưa được gốc, dù cho đem tâm học y cũng chẳng được. Các ngươi đâu chẳng nghe Hòa thượng Quy Sơn nói: “Tình phàm thánh hết, bày hiện chân thường, sự lý chẳng hai, tức như như Phật.”
Hết thảy các ngươi mỗi người tự hồi quang phản quán, chớ ghi ngôn ngữ của ta. Các ngươi từ kiếp vô thủy đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng tưởng quá sâu khó nhổ mau được… Những câu này là lời người xưa dạy hết sức tha thiết, chúng ta mỗi người phải phản quán lại chính mình, chớ chạy theo ngôn ngữ. Từ kiếp vô thủy đến giờ chúng ta trái sáng hợp tối. Thế nào là trái sáng, hợp tối? Con mắt chạy theo sắc trần, lỗ tai chạy theo thanh trần, lỗ mũi chạy theo hương trần… sáu căn theo sáu trần là tối hay sáng? Sáu trần là hình ảnh bên ngoài, là tối. Nơi sáu căn chúng ta có cái sáng suốt tinh anh mà lại quên, cứ chạy theo ngoại cảnh nên gọi là trái sáng hợp tối. Danh từ chuyên môn gọi là bối giác hợp trần.
Khi mê chúng ta bối giác hợp trần, khi tỉnh thì phải bối trần hợp giác. Nhưng đặt câu hỏi lại, mấy chú đang tỉnh hay đang mê? Đi tu rồi mà mê sao? Đi tu tức là phản tỉnh, là bối trần hợp giác. Giả sử mình đang ngồi chơi, ai kêu tên mình chửi, lúc đó bối trần hợp giác thì nổi giận hay cười? Bối trần tức là không dính với trần cảnh ở ngoài, vì mình đang sống với tánh giác nên lúc đó chỉ cười. Nếu giận thì lúc đó là bối giác hợp trần, nếu mình vẫn tỉnh bơ mỉm cười thì đó là bối trần hợp giác.
Với đức Phật, dù cho ai chửi mắng ngài vẫn thản nhiên không dính gì hết, ngài nói: Ngươi có món đồ tặng ta, ta không nhận thì về ai? Như vậy không phải bối trần hợp giác là gì! Chúng ta thì ai tặng gì cũng nhận, chưa đưa tới tay cũng chụp liền. Tu mà cứ bối giác hợp trần hoài sẽ đến đâu? Phải biết rõ người tu khác với người thế tục, người thế tục thì bối giác hợp trần, người tu là phải bối trần hợp giác. Thấy sắc nghe tiếng… mà vẫn không dính, vẫn nhớ cái thấy cái nghe của mình, đó là bối trần hợp giác. Nếu thấy sắc đẹp liền dính sắc, nghe tiếng hay liền dính tiếng, đó là bối giác hợp trần, kinh Lăng-nghiêm gọi là quên mình theo vật. Người xưa khéo một chút chỉ ra chỗ này.
Ngài Cảnh Thanh ngồi ở trong thất có thị giả đứng bên hầu, ngoài kia mưa ào ào, ngài hỏi: Tiếng gì đó? Thị giả thưa: Tiếng mưa rơi. Ngài nói: Chúng sanh quên mình theo vật. Một chút đó thấy chúng ta quên mình theo vật, cứ đợi có tiếng, nghe hỏi thì nhớ tiếng ở ngoài, không bao giờ nhớ mình.
Cũng như vậy ngài ngồi ở trong thất, có thị giả đứng hầu, nghe con rắn bắt nhái éc éc, ngài hỏi tiếng gì đó? Thị giả trả lời: Tiếng con rắn bắt nhái. Ngài nói: Chúng sanh khổ lại có khổ chúng sanh. Câu đó thấm thía làm sao! Con rắn bắt con nhái, con nhái đang khổ đó là chúng sanh khổ, mà có khổ chúng sanh là ai? Tức là thị giả quên mình theo vật, đó là khổ chúng sanh. Chúng ta có bệnh đó không? Như vậy thì thật là khổ chúng sanh.
Học những câu này rồi mới thấy chúng ta quên mình hồi nào không hay. Thấy cái này phân tích, thấy cái kia phân tích, tưởng là mình hay không ngờ chính đã quên mình. Như thế nghĩa bối giác hợp trần, bối trần hợp giác rất rõ. Chúng ta tu là phải bối trần hợp giác, người thế gian chưa biết tu nên bối giác hợp trần. Bởi vậy họ cứ chạy theo ngoại cảnh luân hồi sanh diệt. Chúng ta biết tu rồi không nên để ngoại cảnh chi phối, phải trở về với mình.
Nếu trở về với mình cả ngày thì sắc đẹp có quyến rũ được không? Tiếng khen chê có làm phiền hà không? Không biết trở về, để ngoại cảnh quấy nhiễu mình, rồi đổ thừa: Tôi bị cảnh chung quanh làm cho khó tu. Tại sao khó tu? Tại vì bối giác hợp trần, chạy theo ngoại cảnh, nó rủ gì mình làm nấy, nên nói tu không được. Nếu bối trần hợp giác thì có gì khó, có gì trở ngại việc tu của mình đâu?
Lời nói của ngài hết sức đơn giản, mang ý nghĩa cụ thể cho chúng ta thấy chỗ tu đúng thật rõ ràng hay sai lầm là ngay chỗ này. Nếu trái sáng hợp tối, đó là mê, gốc vọng tưởng quá sâu. Không phải mới có vọng tưởng trong đời này, mà cả nhiều đời nhiều kiếp, cho nên rất sâu dày, khó nhổ mau được. Biết nó là vọng tưởng mà bỏ không đứt, dứt không rời. Bỏ rồi lại duyên theo, bỏ rồi lại khởi lên nữa, chỉ vì ăn sâu nhiều đời.
Do đó, giả lập phương tiện dẹp thức thô của các ngươi, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, có gì là phải. Vì vọng tưởng quá sâu khó nhổ, nên chư Tổ lập phương tiện, dạy bảo ngồi thiền quán tưởng, thấy vọng đừng theo… Đó là dùng phương tiện dẹp thức thô của chúng ta, như cầm lá vàng trong tay dỗ con nít khóc. Như bà mẹ đi chợ, đứa con nhỏ đòi đi theo, giãy khóc, bà mẹ cầm chiếc lá dỗ: Bánh đây, má cho con nè! Nín đi, nín đi. Đứa bé tưởng thật tạm nín khóc, đợi mẹ đi chợ về cho bánh thật.
Cũng thế, các phương tiện Phật tổ dạy tu để trở về cái thật của chính mình, khi cái thật thấy rồi thì cái kia là đồ chơi thôi. Kinh Kim Cang nói, như người nương bè qua sông, khi qua bờ rồi thì chiếc bè phải bỏ, qua bờ rồi mà còn vác bè theo là ngu. Phương tiện Phật tổ dạy để dẹp thức thô của chúng ta, khi thức thô lặn rồi, trở về được cái chân thật thì những phương tiện đó không còn giá trị gì nữa.
Như người đem các thứ hàng hóa cùng vàng lập tiệm bán, bán hàng hóa chỉ nghĩ thích hợp với người mua. Vì thế, nói “Thạch Đầu là tiệm chân kim, chỗ ta là tiệm tạp hóa”. Có người đến tìm phẩn chuột ta cũng bết cho, kẻ khác đến cầu chân kim ta cũng trao cho. Thạch Đầu là quán chân kim, vì các thiền sư thường nói đường Thạch Đầu trơn. Làm gì thì ngài chỉ nói ròng cái đó thôi nên ít người nhận được. Ngài Ngưỡng Sơn nói quán ngài là quán tạp hóa nhưng có cả chân kim ở trong. Nếu người nào cần phân chuột thì có phân chuột, người nào cần vàng bạc thì có vàng bạc. Đó là tùy nhu cầu, tùy phương tiện lập bày.
Như bây giờ có người tới nói: Thưa Thầy ba má con mất, con thỉnh chư tăng ni tụng kinh cầu nguyện, như vậy có phước không? Tôi trả lời nếu Phật tử vì lòng hiếu thảo cha mẹ trăm tuổi rồi thỉnh chư tăng ni cầu nguyện, có hai điều tốt. Một là lòng hiếu của con, hai là tăng ni tụng kinh. Đó là có phước. Khi người ta hỏi việc nào thì nói đúng việc đó, nếu nói trên lý tánh, không ngôn ngữ… thì người ta phủi áo đi liền.
Nếu có người cần chỉ dạy chân thật thì chúng ta nói về tâm về tánh. Đó là cần chân kim thì bán chân kim, cần phân chuột thì bán phân chuột. Như có bà cụ tới hỏi tôi: Thưa Thầy một đêm con niệm Phật mười chuỗi, như vậy có đúng không? Tôi nói niệm vậy tốt, nhưng nếu muốn có kết quả hơn thì bà cụ niệm từng câu nghe cho rõ để tâm được định, mình nhớ Phật không nhớ nghĩ chuyện này chuyện kia, như vậy tốt. Chúng ta không thể nói: “niệm Phật không được, chỉ quay về chân tâm thôi”, như thế mất niềm tin làm sao người ta tu. Mỗi trường hợp tùy duyên mà hướng dẫn sao có lợi ích cho người và lòng tin họ tăng trưởng, đó là đúng. Còn nói để mất lòng tin, để người không biết làm sao tu, đó là điều không hay.
Tăng hỏi: Chẳng cần phẩn chuột, xin Hòa thượng cho chân kim? Sư bảo: Cắn tên định mở miệng, năm lừa cũng chẳng hội. Tăng không đáp được. Người ta thì muốn mua thứ này thứ kia, riêng con muốn mua vàng ròng. Như vậy cho chân kim đó. Chân kim là sao? Ở đây chúng ta đừng nhớ hết mọi chữ, chỉ cần nhớ ba chữ đoạn sau là đủ, định mở miệng năm lừa cũng chẳng hội. Tăng không biết đáp.
Sư tiếp: Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói Thiền tông, bên thân cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng? Nếu ta nói đông nói tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để gạt con nít, trọn không có thật. Nay ta nói rõ với các ngươi việc bên thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Vì sao? Vì đây là việc mé ngọn của thánh. Hiện nay cần thức tâm đạt bản, cốt được cái gốc chẳng lo cái ngọn. Sau này khi khác sẽ tự đầy đủ. Nếu chưa được gốc, dù cho đem tâm học y cũng chẳng được. Các ngươi đâu chẳng nghe Hòa thượng Quy Sơn nói: “Tình phàm thánh hết, bày hiện chân thường, sự lý chẳng hai, tức như như Phật.”
Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói Thiền tông, bên thân cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng? Nếu ta nói đông nói tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để gạt con nít, trọn không có thật. Có tìm hỏi, đáp lại tức là có trao đổi, kẻ qua người lại, nếu không tìm hỏi thì không ta (vô ngã). Bởi ngay nơi chỗ đó mà không tìm cầu nữa thì còn thấy có mình có người không? Cho nên nếu nói theo Thiền tông thì không có một người, đừng nói năm bảy trăm. Chứng Đạo Ca nói thường độc hành thường độc bộ, cũng như Bàng Uẩn hỏi Mã Tổ người không cùng muôn pháp làm bạn. Đó là hỏi ngay bên Thiền tông. Nếu chúng ta nghe nói rồi chạy giành nhau mà học thì chỉ bị gạt thôi.
Nay ta nói rõ với các ngươi việc bên thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Vì sao? Vì đây là việc mé ngọn của thánh. Chỗ này ngài nói việc bên thánh tức là việc của thánh, việc đó là gì? Là chớ đem tâm nghĩ tính. Nếu muốn có việc của thánh thì đừng đem tâm khởi nghĩ, đừng tính toán, chỉ nhằm vào biển tánh của chính mình mà tu hành như thật. Biển tánh như thế nào? Nếu có tu rồi mới thấy chỗ này không nghi ngờ. Đôi khi tôi tự thấy tức cười, thể tánh đó trùm khắp mà chúng ta cứ cho cái suy nghĩ loáng thoáng ở trong đầu, nháng chút rồi mất, thoáng xẹt qua rồi mất, cho cái đó là mình, còn cái trùm hết thì không thấy. Cái trùm hết trong kinh Lăng-nghiêm gọi là biển, còn cái loáng thoáng trong đầu là hòn bọt. Chúng sanh mê lầm nhận bọt cho là biển.
Thể kia trùm hết không có hình tướng, cái loáng thoáng trong đầu mình có hình tướng. Vừa động vừa có tướng chợt sanh chợt diệt mà chúng sanh lầm nhận cái chợt sanh chợt diệt là mình thì làm sao qua khỏi luân hồi? Cả một biển pháp tánh lặng lẽ trong sáng thì quên mất không ai biết. Nên đây ngài nói đừng đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm biển pháp tánh chính mình mà tu hành như thật. Chẳng cần tam minh lục thông. Nhiều người tu ham thích thần thông, mong biết quá khứ vị lai, mong biết bay, độn thủy độn thổ… những thứ đó là phụ, là phần trên ngọn thôi.
Hiện nay cần thức tâm đạt bản, cốt được cái gốc chẳng lo cái ngọn. Sau này khi khác sẽ tự đầy đủ. Khi thức tâm đạt bản rồi, gốc nắm vững thì ngọn tự tới, ngọn là chỉ tam minh lục thông. Nếu không được gốc thì ngọn có tới cũng chỉ là vô ích, không làm gì được. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói thế nào? Thức tâm đạt bản danh viết Sa-môn. Sa-môn là người biết được tâm mình, thấu suốt được nguồn gốc; không phải cạo đầu thọ hai trăm năm mươi giới thành Sa-môn. Các kinh từ lớp Sơ đẳng đã dạy chúng ta phải thấy nghĩa Sa-môn là như vậy, không phải Sa-môn trên hình thức suông.
Nếu chưa được gốc, dù cho đem tâm học y cũng chẳng được. Các ngươi đâu chẳng nghe Hòa thượng Quy Sơn nói: “Tình phàm thánh hết, bày hiện chân thường, sự lý chẳng hai, tức như như Phật.” Ngài dạy cho chúng ta biết tổ Quy Sơn thường nói tình phàm thánh hết, tức là có phàm có thánh gọi là tình chấp hai bên, dứt sạch. Nếu tình chấp dứt sạch thì chân thường bày hiện không đâu xa. Khi sự và lý không còn hai tức là Phật như như, khỏi tìm kiếm. Chúng ta thử một giờ đi đứng nằm ngồi đừng thấy hai bên thì Phật hiện tiền. Ráng tập làm Phật một giờ rồi từ từ tập làm Phật hai giờ. Thường suốt ngày chúng ta cứ thấy hai bên, người này dễ thương, người kia khó thương, người này học giỏi, người kia học dở… thấy hai hoài nên cứ mãi làm phàm phu không thành thánh.
Thánh với phàm dễ hay khó? Chỉ một chút thôi, đừng nghĩ nhớ hai bên là thành thánh, còn mắc kẹt hai bên là phàm, rất dễ. Nghe thì dễ mà làm thì khó, chỉ tại mình chưa thực hành được.
Tăng hỏi:
– Thế nào là ý Tổ sư?
Sư lấy tay vẽ vòng tròn trong hư không, giữa vòng tròn viết chữ Phật. Tăng không đáp được. Sư gọi đệ nhất tọa bảo:
– Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác, chính khi ấy là gì?
Đệ nhất tọa đáp:
– Chính khi ấy là chỗ buông thân mạng của con.
Sư bảo:
– Sao không hỏi lão tăng?
Đệ nhất tọa đáp:
– Chính khi ấy chẳng thấy có Hòa thượng.
Sư bảo:
– Đỡ tông giáo của ta chẳng đứng.
Đây là cái khéo của ngài khi Tăng hỏi ý Tổ sư. Ý Tổ sư nói được không? Tổ Lâm Tế nói, nếu có ý thì tự cứu chẳng xong. Ngài vẽ vòng tròn trong hư không, viết chữ Phật, Tăng không đáp, ngài liền kêu đệ nhất tọa bảo chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác chính khi ấy là gì? Đệ nhất tọa liền đáp chính khi ấy là chỗ buông thân mạng của con, như thế đệ nhất tọa này là người xứng đáng.
Ngài muốn gạn lại nên bảo sao chẳng hỏi lão tăng? Đệ nhất tọa này xác định không nghi, chính khi ấy chẳng thấy có Hòa thượng thì còn gì mà bảo con hỏi. Ngài bảo đỡ tông giáo của ta chẳng đứng. Như vậy khen hay chê?
Sư về Quy Sơn thăm, Linh Hựu hỏi:
– Con đã xưng là thiện tri thức, có biện được những người các nơi đến: biết có chẳng biết có, đã kế thừa thầy hay không kế thừa thầy, là nghĩa học là huyền học, con thử nói xem.
Sư thưa:
– Con có chỗ nghiệm, khi thấy Tăng các nơi đến liền dựng phất tử hỏi y: Các nơi lại nói cái này hay chẳng nói? Lại bảo: Cái này hãy gác lại, ý lão túc các nơi thế nào?
Linh Hựu khen:
– Đây là nanh vuốt trong tông môn từ trước!
Linh Hựu lại hỏi:
– Chúng sanh trên quả đất nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ có cùng chẳng có?
Sư thưa:
– Con có chỗ nghiệm.
Lúc ấy có vị tăng đi qua trước mặt, Sư gọi:
– Xà-lê!
Vị tăng xoay đầu lại. Sư thưa:
– Bạch Hòa thượng! Cái này là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa.
Linh Hựu bảo:
– Đây là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa.
Biết có tức là tri hữu, biết ngay mình có cái đó hay không có cái đó. Kế thừa thầy tức là được thầy truyền trao. Nghĩa học tức là học kinh, huyền học là học thiền.
Ngài thưa: Con có chỗ nghiệm, khi thấy Tăng các nơi đến liền dựng phất tử hỏi y: Các nơi lại nói cái này hay chẳng nói? Lại bảo: Cái này hãy gác lại, ý lão túc các nơi thế nào? Đó là cách ngài Ngưỡng Sơn nghiệm được người đã biết có hay chẳng biết có, đã được truyền thừa hay chưa được truyền thừa. Ngài đưa phất tử lên, nếu người được truyền thừa thì thấy đưa phất tử lên liền biết phải làm gì. Hoặc hỏi ông ở đâu đến, hỏi thầy dạy cái gì? Đó là những câu dọ dẫm để biết người thế nào.
Linh Hựu khen: Đây là nanh vuốt trong tông môn từ trước! Linh Hựu lại hỏi: Chúng sanh trên quả đất nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa, con làm sao biết họ có cùng chẳng có? Tức là có thấy được mình hay không thấy được mình.
Sư thưa: Con có chỗ nghiệm. Lúc ấy có vị tăng đi qua trước mặt, Sư gọi: Xà-lê! Vị tăng xoay đầu lại. Sư thưa: Bạch Hòa thượng! Cái này là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa. Linh Hựu bảo: Đây là một giọt sữa sư tử làm tan sáu đấu sữa lừa. Chỉ một tiếng gọi liền biết người đó thế nào, nên thường thường các Tổ hay dùng tiếng gọi. Người nghe tiếng gọi mà biết thì ứng đối thích hợp, người chưa biết thì ngơ ngác không hiểu gì. Đó là nghiệp thức mênh mang không gốc có thể tựa.
Có vị tăng người Ấn Độ từ hư không đến, Sự hỏi:
– Vừa rời chỗ nào?
Tăng thưa:
– Tây Thiên.
Sự hỏi:
– Rời Tây Thiên lúc nào?
Tăng thưa:
– Sớm mai.
Sư bảo:
– Sao mà chậm lắm vậy?
Tăng thưa:
– Vì còn dạo núi xem nước.
Sư bảo:
– Thần thông du hý thì chẳng không, Phật pháp của Xà-lê cần trao lại cho lão tăng mới được.
Tăng thưa:
– Định sang Đông độ lễ Văn-thù, lại gặp Tiểu Thích-ca.
Bèn đem sách chữ Phạn bằng lá bối trao cho Sư, làm lễ rồi nương hư không mà đi.
Từ đây Sư có hiệu là Tiểu Thích-ca.
Từ Ấn Độ sang Trung Hoa, đường xa diệu vợi, phải đi mất nhiều năm tháng, tăng Ấn Độ này đi hồi
sớm mai, trưa tới Trung Hoa mà ngài chế sao chậm trễ. Chúng ta nghĩ không hiểu lý do. Nếu thật là thần thông thì phải như ý, tức là ý vừa nghĩ Ấn Độ thì thấy ở Ấn Độ, ý vừa nghĩ ở Trung Hoa thì thấy ở Trung Hoa. Tâm vừa khởi nghĩ thì thân tới liền. Sớm mai đi mà trưa mới tới cũng là thần thông nhưng chưa phải Như ý túc. Tăng nói sở dĩ con đến chậm là còn đi mấy chỗ kia nữa. Như vậy để thấy người xưa biết được thần thông là thế nào, không phải như chúng ta nghe lóm hiểu lóm, không đúng lẽ thật.
Ngài cũng biết vị tăng ấy có mang theo kinh lá bối nên bảo đưa lại cho ngài. Hai bên dường như đã từng gặp nhau. Tăng tặng ngài danh hiệu Tiểu Thích-ca.
Quy Sơn niêm một mặt gương gửi cho Sư. Sư thượng đường đưa lên bảo:
– Chúng hãy nói, là gương Quy Sơn hay gương Ngưỡng Sơn? Có người nói được thì không đập nát.
Toàn chúng đều không nói được. Sư liền đập nát.
Như vậy có phụ lòng thầy cho không? Việc làm của ngài Ngưỡng Sơn với việc làm của ngài Nam Tuyền có khác nhau không? Ngài Nam Tuyền thì hai bên giành nhau con mèo, ngài liền đưa dao lên bảo nói được thì tha, không nói được thì chặt con mèo. Làm một việc bức thiết, gấp rút để thử lòng của chúng, thấy sao thì trình vậy, nếu trình đúng thì cứu được con mèo, trình không đúng thì giết con mèo. Đó vì muốn thấy chúng có người nào đến được chỗ đó chưa. Đây là lòng từ bi muốn thấy được sở ngộ của chúng, không phải ác ý muốn giết con mèo.
Cũng như ở đây đưa cái gương lên, ai cũng biết là của Thầy gửi cho, nhưng ngài bảo nói được thì để, không nói được thì đập. Cũng là dùng cách bức thiết. Nếu biết thì phải nói liền, không nói được thì ngài đập. Nhà thiền thường nói lệnh đã ra thì phải thi hành không dừng được. Nếu dừng thì lệnh không nghiêm, chúng không sợ.
Ngài Ngưỡng Sơn đập gương thì không ai kết án, ngài Nam Tuyền chặt con mèo thì bị người kết tội sát sanh. Ngài có cố tình sát sanh không? Đến chiều ngài Tùng Thẩm vào thì ngài lặp lại câu chuyện hồi sáng, ngài Tùng Thẩm lấy dép đội lên đầu đi ra, ngài nói: “Phải chi sáng có ngươi thì đã cứu được con mèo!” Ngài trông có người trình được nhưng không thấy, buộc lòng phải thi hành. Vì muốn thấy được có người ngộ đạo chứ không phải vì việc hiện tại. Nếu căn cứ việc trước mắt mà kết tội là không biết trọng tâm của các ngài ở chỗ nào.
Sư hỏi Song Phong:
– Gần đây chỗ thấy của Sư đệ thế nào?
Song Phong đáp:
– Cứ chỗ thấy của tôi, thật không một pháp có thể xứng tình.
Sư bảo:
– Ngươi hiểu vẫn còn tại cảnh.
Song Phong hỏi:
– Tôi chỉ hiểu như thế, Sư huynh thế nào?
Sư đáp:
– Ngươi đâu chẳng biết, không một pháp có thể xứng tình.
Quy Sơn nghe khen:
– Một câu của Huệ Tịch nghi chết người trong thiên hạ.
Cái hay cái dở ở chỗ nào? Người ta nói như vậy không chịu, hỏi lại mình thì mình cũng nói y như vậy. Đó thật là chỗ đặc biệt của người xưa.
Câu không có một pháp có thể xứng tình là bối trần hợp giác. Nếu có một pháp nào mà tâm mình thích thì đó là xứng tình, không một pháp nào để tâm thích ứng, đó là bối trần hợp giác. Như vậy là đúng rồi, nhưng ngài biết Song Phong còn ngờ vực nên lặp lại một cách khéo léo, để lòng tin của Song Phong được vững. Câu sau là câu xác nhận chắc chắn chỗ thấy của Song Phong.
Sư cùng một vị tăng nói đạo, bên cạnh có vị tăng thưa:
– Người nói là Văn-thù, người nín là Duy-ma.
Sư bảo:
– Người chẳng nói chẳng nín, đâu chẳng phải là ngươi?
Tăng lặng thinh. Sư bảo:
– Sao chẳng hiện thần thông?
Tăng thưa:
– Chẳng từ chối hiện thần thông, chỉ ngại Hòa thượng bắt vào dạy.
Sư bảo:
– Xét rõ chỗ đến của ngươi chưa có con mắt giáo ngoại biệt truyền.
Tăng nghe ngài nói chuyện đạo lý với người bên cạnh, mới xen vô để tỏ rằng ta đây cũng thâm nhập đạo lý nên nói, người nói là Văn-thù, người nín là Duy-ma. Ý câu này rút từ phẩm “Pháp môn bất nhị” trong kinh Duy-ma. Ngài hỏi người chẳng nói chẳng nín, đâu chẳng phải là ngươi. Như vậy ông là người không nói không nín phải chăng? Tăng lặng thinh chấp nhận. Ngài bảo, nếu ông tới đó thì hiện thần thông coi. Tăng nói hiện thần thông cũng được, nhưng sợ Hòa thượng bắt vô dạy.
Vì hiện thần thông là chuyện bên ngoài. Ngài nói xét rõ chỗ đến của ngươi chưa có con mắt giáo ngoại biệt truyền. Ngươi nói như thế chứ chưa đến được.
Tăng hỏi:
– Ý vào cửa Thiền tông đốn ngộ thế nào?
Sư bảo:
– Ý này khó tột. Nếu người thượng căn thượng trí trong tông môn của Tổ phải một nghe ngàn ngộ được đại tổng trì. Căn cơ bậc này thật khó có. Còn hàng căn trí kém nhỏ, như cổ đức nói “Nếu chẳng an thiền tịnh lự đến đây trọn không biết gì cả”.
Tăng thưa:
– Trừ ngoài bậc đặc cách này, lại riêng có phương tiện khiến kẻ học được vào chăng?
Sư bảo:
– Có.
Tăng thưa:
– Thế nào là đúng?
Sư bảo:
– Ngươi là người xứ nào?
Tăng thưa:
– Người U Châu.
Sư bảo:
– Ngươi có nhớ xứ ấy chăng?
– Thường nhớ.
– Hay nghĩ nhớ là tâm, bị nghĩ nhớ là cảnh. Xứ ấy lầu đài vườn rừng người ngựa rộn ràng, ngươi xoay cái nhớ lại xem có nhiều thứ chăng?
– Con đến chỗ ấy tất cả đều chẳng thấy có.
– Ngươi hiểu còn ở tâm, tín vị thì phải, nhân vị thì chẳng phải.
Tăng thưa:
– Ngoài chỗ này, lại riêng có ý gì không?
Sư bảo:
– Riêng có riêng không khiến tâm ngươi chẳng an.
Tăng thưa:
– Đến chỗ đó thế nào mới đúng?
Sư bảo:
– Căn cứ chỗ hiểu của ngươi chỉ được một huyền, được ngồi mặc y, về sau tự xem.
Tăng lễ tạ lui ra.
Ngài nói người muốn vào cửa Thiền tông đốn ngộ thì phải một nghe ngàn ngộ. Nghe có một mà ngộ tới ngàn, làm sao nhiều vậy? Như chuyện bà già mất trâu. Bà nói, bạch Hòa thượng bói giùm con một quẻ, xem trâu của con còn hay mất, ngài kêu: Bà già! Bà dạ. Ngài nói: Còn đó! Nếu ngay đó bà ngộ thì tất cả tiếng kêu của các thiền sư bà đều biết. Nghe một cái đó mà ngộ thì biết hết cả ngàn cái, nên gọi là một nghe ngàn ngộ.
Chúng ta thì không được như vậy, nên nói hàng căn trí kém nhỏ, như cổ đức nói “Nếu chẳng an thiền tịnh lự đến trong đó trọn không biết gì cả”. Không phải bậc thượng căn thì phải an thiền tịnh lự tức là phải tọa thiền, phải lóng tâm. Được như vậy thì còn mong biết được đôi chút, nếu không thì trọn chẳng biết gì. Nên biết tập tọa thiền là phương tiện để tâm yên lặng, tâm lặng thì trí mới sáng.
Ông tăng này muốn ngài chỉ phương tiện để vào cửa Thiền tông đốn ngộ. Ngài hỏi ông là người ở đâu. Như tôi hỏi mấy chú ở đâu? Mấy chú nói con ở Châu Đốc. Ở Châu Đốc thấy những gì, nhớ những gì, chú kể coi? Kể nào bến đò, bến xe, nhà lầu, chùa chiền… cả trăm thứ. Cảnh thì có trăm ngàn thứ nhưng cái nhớ cảnh thì có mấy thứ? Cái nhớ đó con tìm thì nó mất tiêu.
Tăng nói con đến chỗ ấy tất cả đều chẳng thấy có. Như vậy để chỉ, nếu đừng mắc kẹt ở cảnh mà tìm lại cái hay biết cảnh, tìm lại thì tự nhiên nó hết. Tín vị là được niềm tin, còn thuộc về tâm, nên ngài nói hiểu còn ở tâm, chưa phải nhân vị. Theo Tứ liệu giản của ngài Lâm Tế gọi là “đoạt cảnh chẳng đoạt nhân”. Đối với tam huyền của Lâm Tế thì được một huyền, cũng xứng đáng khoác y Sa-môn.
Sư trước ở Ngưỡng Sơn, sau dời về Quan Âm chỉ dạy Tăng chúng làm tiêu chuẩn cho Thiền tông. Còn vài năm tịch, Sư có làm bài kệ:
Niên mãn thất thập thất
Lão khứ thị kim nhật
Nhậm tánh tự phù trầm
Lưỡng thủ phan quật tất.
Dịch:
Năm đầy bảy mươi bảy
Chính là ngày tôi đi
Mặc tánh tự chìm nổi
Hai tay ngồi bó gối.
Khi Sư sắp tịch ở tại núi Đông Bình, có vài vị tăng đứng hầu, Sư nói kệ:
Nhất nhị nhị tam tử
Bình mục phục ngưỡng thị
Lưỡng khẩu nhất vô thiệt
Thử thị ngô tông chỉ.
Dịch:
Một hai hai ba con
Mắt thường lại ngước xem
Hai miệng một không lưỡi
Đây là tông chỉ ta.
Nói xong, Sư ngồi hai tay bó gối tịch, thọ 77 tuổi. Vua ban thụy Trí Thông thiền sư, tháp hiệu Diệu Quang.
Hai miệng một không lưỡi tức là hai miệng mà không có lưỡi, đó là tông chỉ của ngài, tông chỉ không lời. Ở Việt Nam chúng ta có thiền sư Vô Ngôn Thông, Sơ tổ thiền phái Vô Ngôn Thông, chính là bổn sự thế phát cho Ngưỡng Sơn. Từ nhỏ ở với thầy năm năm, chính Sư được ý chỉ từ đây.
Về niên đại của ngài, có thuyết là ngài sanh năm 814, 815, chúng ta đã thấy là không phù hợp rồi, huống nữa là sanh năm 840.
Sư quê ở Thanh Châu, chán tục xuất gia, đi tham vấn các nơi. Khi ở chỗ tổ Bá Trượng, Sư tánh thức minh mẫn, tham thiền chẳng ngộ. Đến tổ Bá Trượng tịch, Sư theo tham học với Quy Sơn Linh Hựu.
Một hôm Quy Sơn bảo:
– Ta nghe ngươi ở chỗ tiên sư Bá Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp trăm, đó là ngươi thông minh lanh lợi, ý hiểu thức tưởng là cội gốc sanh tử. Giờ đây thử nói một câu khi cha mẹ chưa sanh xem?
Sư bị một câu hỏi này mờ mịt không đáp được. Trở về liêu, Sư soạn hết sách vở đã học qua, tìm một câu đáp trọn không thể có. Sư than: “Bánh vẽ chẳng no bụng đói!” Đến cầu xin Quy Sơn nói phá. Quy Sơn bảo:
– Nếu ta nói cho ngươi, về sau ngươi sẽ chửi ta; ta nói là việc của ta đâu can hệ gì đến ngươi?
Sư bèn đem những sách vở đã thu thập được đồng thời đốt hết. Sư nói:
– Đời này chẳng học Phật pháp nữa, chỉ làm tăng thường làm việc cơm cháo, khỏi nhọc tâm thần.
Sư khóc từ giã Quy Sơn ra đi.
Nói một câu khi cha mẹ chưa sanh. Ngài Hương Nghiêm bị một câu hỏi này mờ mịt không đáp được. Trở về liêu soạn hết sách vở đã học qua, tìm một câu đáp trọn không thể có. Ngài than: Bánh vẽ chẳng no bụng đói. Đến cầu Quy Sơn nói phá.
Thẳng đến Nam Dương chỗ di tích Quốc sư Huệ Trung, Sư trụ tại đây. Một hôm nhân cuốc cỏ trên núi, lượm hòn gạch ném trúng cây tre vang tiếng, Sư chợt tỉnh ngộ phá lên cười. Sư trở về tắm gội thắp hương nhắm hướng Quy Sơn đảnh lễ, ca tụng rằng:
– Hòa thượng từ bi ơn như cha mẹ, khi trước nếu vì con nói rồi thì làm gì có ngày nay.
Sư làm bài tụng:
Nhất kích vong sở tri
Cánh bất giả tu trì.
Động dung dương cổ lộ
Bất đọa thiểu nhiên kỵ (cơ).
Xứ xứ vô tung tích
Thanh sắc ngoại oai nghi.
Chư phương đạt đạo giả
Hàm ngôn thượng thượng kỵ (cơ).
Dịch:
Một tiếng quên sở tri
Chẳng cần phải tu trì.
Đổi sắc bày đường xưa
Chẳng rơi cơ lặng yên.
Nơi nơi không dấu vết
Oai nghi ngoài sắc thanh.
Các nơi bậc đạt đạo
Đều gọi thượng thượng cơ.
Bài tụng này, chúng ta xét kỹ cái hay ở chỗ nào? Nhất kích vong sở tri, tức là nghe một tiếng chạm vào cây trúc, liền quên hết hiểu biết. Cánh bất giả tu trì, lại chẳng nhờ tu gì hết. Động dung dương cổ lộ, dung tức là dung nhan, gương mặt vừa biến động thì đã bày đường xưa, như nói nheo mày, chớp mắt… đều hiện bày cái biết xưa. Bất đọa thiểu nhiên ky (cơ), không rơi cơ lặng yên. Nghĩa là chỗ thấy của ngài ngay trong hiện tại chứ không phải ngồi yên mới thấy. Xứ xứ vô tung tích, nơi nơi không có dấu vết. Thanh sắc ngoại oai nghi, thể của nó ngoài hình sắc tiếng tăm. Chư phương đạt đạo giả, hàm ngôn thượng thượng ky, những người thật đạt đạo đều gọi là cơ tối thượng. Như vậy cho thấy cái ngộ của ngài đúng là Tổ sư thiền.
Quy Sơn nghe được, nói với Ngưỡng Sơn:
– Kẻ này đã triệt ngộ.
Ngưỡng Sơn thưa:
– Đây là máy tâm ý thức trước thuật được, đợi con đến nơi khám phá mới chắc.
Ngưỡng Sơn đến thăm Sư, bảo:
– Hòa thượng khen ngợi sư đệ đã phát minh đại sự, thử nói tôi nghe?
Sư đọc bài tụng trước cho Ngưỡng Sơn nghe. Ngưỡng Sơn bảo:
– Đó là do trước kia học tập ghi nhớ mà thành, nếu thật chánh ngộ hãy làm bài tụng khác.
Sư nói tụng:
Khử niên bần vị thị bần
Kim niên bần thủy thị bần
Khử niên bần do hữu trác chùy chi địa
Kim niên bần chùy đã vô.
Dịch:
Năm xưa nghèo chưa thật nghèo
Năm nay nghèo mới thật nghèo
Năm xưa nghèo vẫn còn có đất cắm dùi
Năm nay nghèo dùi cũng không.
Ngưỡng Sơn bảo:
– Sư đệ ngộ Như Lai thiền mà chưa ngộ Tổ sư thiền.
Sư lại nói bài tụng:
Ngã hữu nhất kỵ (cơ)
Thuấn mục thị y
Nhược nhân bất hội
Biệt hoán Sa-di.
Dịch:
Ta có một ky (cơ)
Chớp mắt chỉ y
Nếu người chẳng hội
Riêng gọi Sa-di.
Ngưỡng Sơn gật đầu và về thưa lại Quy Sơn:
– Đáng mừng! Sư đệ Trí Nhàn đã ngộ Tổ sư thiền.
Ngộ Như Lai thiền mà chưa ngộ Tổ sư thiền. Câu này làm thiên hạ thắc mắc. Tại sao bài kệ này lại nói là Như Lai thiền, không phải Tổ sư thiền?
Đa số người học Phật nghe nói Như Lai thiền tưởng là bậc cao, Tổ sư thiền là bậc thấp. Không phải vậy, Như Lai thiền là thiền phổ thông, Phật dạy chung cho tất cả người tu. Nếu ai tu đến chỗ nhân ngã đều dứt hay thân cảnh đều không kẹt thì nhập quả vị A-la-hán. Nên câu cuối bài kệ nói, năm ngoái nghèo còn có đất cắm dùi, năm nay nghèo dùi cũng không, đúng với bài kệ thứ tám trong Mười mục chăn trâu. Tới đây trâu và chăn không còn, ngã ngã sở hết, được quả A-la-hán, đó là Như Lai thiền, chưa phải Tổ sư thiền. Phải hiểu chỗ này mới thấy sự sai biệt hai bên.
Sư lại nói bài tụng. Bốn câu hết sức là đơn giản. Ngã hữu nhất ky, ta có một cơ. Thuấn mục thị y, chớp mắt chỉ y tức trong chớp mắt là thấy y liền. Nhược nhân bất hội, biệt hoán Sa-di, nếu người chẳng hội, riêng gọi Sa-di. Chỗ chớp mắt thấy y là ngay hiện tiền mà thấy, không đợi qua trình độ tu chứng như các bậc thiền Như Lai. Ngay hiện tại thấy rõ như trước nói vừa đổi mặt liền bày nét xưa. Nếu người ngay đó mà chẳng hội thì riêng gọi Sa-di, cũng chỉ cái hiện tiền không đâu xa.
Ngưỡng Sơn gật đầu và về thưa lại Quy Sơn: Đảng mừng! Sư đệ Trí Nhàn đã ngộ Tổ sư thiền. Hai pháp thiền có giá trị đặc biệt riêng của nó, nếu người không nghiền ngẫm kỹ chỗ này rất dễ hoang mang. Tại sao bài kệ trước là ngộ Như Lai thiền, bài kệ sau lại nói ngộ Tổ sư thiền? Trước nói ngã pháp hay năng sở đều dứt thì ngang chỗ bặt dứt đó là Như Lai thiền. Bài sau nói ngay hiện tại trong chớp mắt, trong tiếng gọi mà thấy, đó là Tổ sư thiền.
Sau, Sư về trụ tại Hương Nghiêm, tăng chúng nghe danh kéo nhau đến tham vấn. Sư thượng đường:
– Đạo do ngộ mà đạt, chẳng tại ngữ ngôn, huống là thấy miên mật rỡ rỡ chưa từng cách rời, chẳng nhọc tâm ý. Tạm nhờ hồi quang phản chiếu, hàng ngày công dụng trọn vẹn, kẻ mê thì tự trái.
Ngài nói rõ ràng: Đạo do ngộ mà thấu suốt được chứ không phải ở tại ngôn ngữ, huống là cái này miền mật rỡ rỡ hiện tiền chưa cách rời bao giờ. Vì chưa cách rời nên khỏi phải nhọc tâm ý tìm kiếm đâu xa. Tạm nhờ hồi quang phản chiếu, tức là quay ánh sáng đó trở lại đừng cho chạy theo sáu trần. Hàng ngày có công dụng như thế dần dần được trọn vẹn. Người tu hồi quang phản chiếu là việc cần thiết. Hàng ngày chúng ta buông bỏ ánh sáng của mình, chạy theo cái tối bên ngoài, bây giờ mỗi niệm không chạy theo mà quay ánh sáng soi xét chính mình thì lâu ngày thuần thục đầy đủ. Kẻ mê thì trái sáng hợp tối, luôn chạy theo trần cảnh nên không thấy đạo. Chúng ta muốn mình tỉnh hay mê?
Tăng hỏi:
– Khi chẳng mộ chư thánh, chẳng trọng tánh linh mình thì thế nào?
Sư đáp:
– Muôn cơ thôi bỏ, ngàn thánh chẳng đeo.
Khi ấy có Sơ Sơn ở trong chúng phát tiếng ụa, hỏi:
– Ấy là tiếng gì?
Sự hỏi:
– Ai đó?
Chúng thưa:
– Sư thúc.
Sư hỏi:
– Chẳng bằng lòng lão tăng sao?
Sơ Sơn bước ra nói:
– Phải.
Sự hỏi:
– Ngươi nói được chăng?
Sơ Sơn nói:
– Nói được.
– Ngươi thử nói xem.
– Nếu bảo tôi nói cần phải dùng lễ thầy trò mới được.
Sư liền bước xuống tòa lễ bái, hỏi lại câu trước. Sơ Sơn nói:
– Sao chẳng nói, khẳng (nhận) trọng chẳng được toàn.
Sư bảo:
– Ngươi nói thế ấy, ba mươi năm tiêu ngược, dù ở núi không có củi đốt, ở gần nước không có nước uống. Rõ ràng nhớ lấy!
(Sau Sơ Sơn bị bệnh mửa hai mươi bảy năm mới bớt, còn ba năm sau mỗi khi ăn xong cũng lấy tay móc cho mửa ra. Đúng như lời Hương Nghiêm thọ ký.)
Chỗ này có gì lạ? Hỏi rằng người mà ngoài không mộ chư thánh, trong chẳng trọng tánh linh là người thế nào? Ngài nói một câu cũng tương đối rõ, muôn cơ thôi bỏ, ngàn thánh chẳng mang tức là nếu được như vậy thì không còn gì để dính. Sơ Sơn không bằng lòng, lên tiếng “ụa” coi như mửa ra. Ngài hỏi ai, chúng nói sư thúc, tức là đàn em của ngài.
Sơ Sơn bảo nếu bảo tôi nói phải làm lễ thầy trò mới được. Ngài không tự ái liền bước xuống tòa đánh lễ. Đảnh lễ rồi, tưởng nói sao: Khẳng trọng chẳng được toàn. Khẳng là nhận, trọng là quý trọng. Chẳng được toàn là không được hoàn toàn. Nguyên câu này có nghĩa là xem trọng thì không được toàn, có khác gì muôn cơ buông bỏ, ngàn thánh chẳng mang? Vậy mà bắt người ta lạy, nên ngài thọ ký cho, nói thế ấy thì ba mươi năm tiêu ngược, tức là đảo ngược chứ có gì lạ đâu! Mà đúng vậy, sau Sơ Sơn mửa hai mươi bảy năm mới bớt, còn ba năm nữa thì mỗi lần ăn xong phải lấy tay móc ra, đúng là ba chục năm.
Tăng hỏi:
– Thế nào là đạo?
Sư đáp:
– Trong cây khô trổi nhạc.
– Con chẳng hội.
Sư bảo:
– Tròng con mắt trong đầu lâu.
Hỏi:
– Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Hòa thượng nói?
Sư đáp:
– Trước thợ săn chẳng được nói giới của Bổn sư.
Hỏi thế nào là đạo, ngài đáp trong cây khô trổi nhạc. Tăng không hiểu, ngài đáp thêm câu nữa tròng con mắt trong cái sọ khô. Sọ khô có tròng con mắt không? Trong cây khô có khúc nhạc không? Chúng ta quen tìm đạo ở nơi này nơi kia mà không biết đạo ở hiện tiền. Ngay trong thân vô thường sanh diệt đã có cái chân thật, nên nói trong cây khô trổi nhạc hay tròng con mắt trong đầu lâu cũng không khác câu hoa sen tươi trong lò lửa.
Nhưng khi Tăng hỏi ly tử cú tuyệt bách phi thỉnh Hòa thượng nói. Lìa lý luận mà hỏi đạo, đó là chỗ không lời, nên ngài nói trước thợ săn chẳng được nói giới của Bổn sư. Trước thợ săn mà nói Phật dạy cấm sát sanh, được không? Chỉ vô ích.
Sư bảo chúng:
– Ví như người leo lên cây cao, dưới là vực thẳm ngàn thước. Người ấy miệng ngậm cành cây, chân không đạp chỗ nào, tay không bám vào đâu. Chợt có người đến hỏi “Ý Tổ sư từ Ấn Độ sang”. Nếu mở miệng đáp thì mất mạng nát thân, bằng chẳng đáp thì phụ lòng người hỏi. Chính khi ấy phải làm sao?
Khi ấy có thượng tọa Chiêu bước ra thưa:
– Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thì thế nào?
Sư cười rồi thôi.
Ngài diễn tả một cảnh không thể nào mở miệng được. Như người leo lên cây cao, miệng cắn cành cây, dưới chân không có chỗ bám. Nếu có người hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, mở miệng đáp thì rớt nát thây, không đáp thì mích lòng người hỏi. Như vậy làm sao?
Chắc phải chịu mích lòng, chứ không bao giờ dám mở miệng. Câu hỏi đó phần nhiều các Tổ hay đập hay đánh là vậy, vì mở miệng là đã trật rồi.
Khi ấy có thượng tọa Chiêu bước ra thưa: Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thì thế nào? Chưa leo lên mà người ta hỏi thì sao? Ngài cười rồi thôi, chỗ đó không mở miệng được.
Có vị tăng từ Quy Sơn đến, Sư hỏi:
– Những ngày gần đây Hòa thượng có dạy những câu gì?
Tăng thưa:
– Có người hỏi thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, Hòa thượng liền dựng đứng phất tử.
Sư hỏi tiếp:
– Trong ấy huynh đệ hiểu ý Hòa thượng thế nào? Tăng thưa:
– Trong ấy bàn với nhau rằng “chính nơi sắc mà rõ tâm, gá nơi vật mà hiển lý”.
Sư bảo:
– Hội thì liền hội, chẳng hội mắc kẹt nơi ấy chết gấp.
Tăng lại hỏi Sư:
– Ý Thầy thế nào?
Sư liền đưa phất tử
Câu đó chỉ có thể làm thinh hoặc đưa phất tử lên hoặc đập một gậy, không có lời để nói. Ai dùng suy nghĩ để hiểu thì càng trật xa.
Sư có làm bài kệ:
Tử thốt mẫu trác
Tử giác mẫu xác
Tử mẫu câu vong
Ứng duyên bất thác.
Dịch:
Con kêu mẹ mổ
Con biết mẹ vỏ
Con mẹ đều quên
Hợp duyên chẳng lố.
Con kêu mẹ mổ: Đây là hình ảnh gà mẹ ấp trứng, khi gà con trong trứng tượng hình có đủ các bộ phận rồi, nó muốn chui ra thì ở trong nó kêu chíp chíp. Nghe tiếng kêu chíp chíp ở trong thì gà mẹ liền mổ vỏ bể để gà con chui ra.
Con biết mẹ vỏ, tức là con vừa biết kêu thì mẹ liền làm bể vỏ trứng.
Con mẹ đều quên, tức là con và mẹ đều quên hết.
Hợp duyên chẳng lố, chẳng còn ở hai bên, tùy duyên mà giáo hóa không lầm lẫn.
Đây nói gà con với gà mẹ giống như học trò với ông thầy. Học trò khi thấy đạo, trình bày chỗ sở ngộ thì thầy liền ấn chứng cho, cũng như gà con kêu thì gà mẹ mổ vỏ. Tông Quy Ngưỡng gọi là “sư tư tương hội” tức là thầy trò hợp nhau.
Sư tùy cơ dạy chúng những lời đơn giản, và có làm trên hai trăm bài tụng đối cơ ứng dụng không theo quy luật, các nơi truyền bá rất thạnh.
Chúng ta học đạo rồi cảm thấy hổ thẹn vì chưa xứng đáng. Người tu phải bối trần hợp giác mà chúng ta mải chạy theo trần, đó là bổn phận chưa tròn, chưa xứng. Đã chưa tròn chưa xứng mà cứ nhận người lạy cúng dường, có hổ thẹn không? Nếu hàng ngày mình bối trần hợp giác thì lãnh bao nhiêu cũng được, tiêu muôn lượng vàng ròng cũng xong. Hiểu rồi mới thấy cái yếu cái dở của chúng ta.
Đúng theo tinh thần người tu là hàng ngày phải bối trần hợp giác, bao nhiêu thanh sắc đều không dính… Nhưng chúng ta vẫn còn bối giác hợp trần, cảnh đến thì dính như keo, chưa xứng đáng với người đi ngược con đường thế tục. Như vậy ngang đây phải biết hổ thẹn, nhớ luôn luôn bối trần. Hôm nào huynh đệ thử kêu tên chửi mà mình vẫn cười không dính mắc, lúc đó là đi ngược với trần. Nếu mới nói nặng một câu mà đỏ mặt đỏ mày thì vẫn còn hợp trần lắm. Tu phải thực tu, có vậy mới được.
Câu hỏi: Bạch Hòa thượng, trong chỗ ngài Hương Nghiêm thọ ký cho Sơ Sơn phải bị ói ba mươi năm, như vậy có trái lòng từ bi không?
Trả lời: Không phải ngài Hương Nghiêm nói với tâm ác. Vì hành động của Sơ Sơn là do nghiệp khiến như vậy, nên ngài nói theo nghiệp của Sơ Sơn, đâu phải do thọ ký mà bị bệnh. Như thời Phật có những vị Tỳ-kheo tạo nghiệp dữ, Phật thọ ký đọa địa ngục. Đó là do nghiệp lực, không phải do Phật thọ ký. Cũng có các vị tu tới cỡ nào rồi Phật thọ ký cho bao nhiêu đời nữa thành Phật.
Đó là do Phật thọ ký mà thành Phật hay do sức tu của vị đó? Do sức tu. Cũng vậy, việc này do nghiệp của Sơ Sơn khiến như thế, thiếu gì cách nói nhưng ông lại lên tiếng “ụa”. Ngài Hương Nghiêm thấy trước cái nghiệp mà thọ ký vậy thôi, không phải vì thọ ký mà Sơ Sơn bị bệnh.
Sư họ Lý quê ở Hình Châu, vào núi Thước xuất gia. Năm hai mươi tuổi, Sư trở về chùa Khai Nguyên ở bản châu thọ giới, ở đây học kinh luật bảy năm.
Su tu than:
Ma-đằng sang Hán dịch ra văn này, Đạt-ma đến Lương nói rõ việc gì?
Ngài học kinh bảy năm rồi lại tự than rằng: Ma-đằng sang Hán dịch ra văn này, Đạt-ma đến Lương nói rõ việc gì? Văn này là văn gì? Theo lịch sử Phật giáo Trung Hoa, hai ngài Ma-đằng và Trúc Pháp Lan là người đầu tiên sang Trung Hoa dịch kinh từ chữ Phạn sang chữ Hán, vậy nói văn này là chỉ cho văn kinh. Kinh thì đã được học nhưng Đạt-ma đến Lương tức là tổ Đạt-ma khi sang Trung Hoa, đầu tiên đến nước Lương, nói về thiền nhưng chưa biết nói rõ việc gì. Vì thế ngài phát tâm đi tham vấn các thiền sư để tìm cho ra lý thiền.
Sư bèn cất bước du phương, đến tham vấn Hòa thượng Trường Sa. Trường Sa hỏi:
– Ngươi người ở xứ nào?
Sư thưa:
– Ở Hình Châu.
– Ta bảo chẳng phải từ kia đến.
– Hòa thượng đã từng ở đây chăng?
Trường Sa chấp nhận, cho vào thất.
Câu hỏi và đáp có đạo lý gì không? Hỏi Người người ở xứ nào, như tôi hỏi mấy chú người ở xứ nào, có chú nói ở An Giang, có chú nói ở Sa Đéc… Đáp như vậy là việc thường, nhưng ngài Trường Sa nói thêm Ta bảo chẳng phải từ kia đến. Câu nói đó có ý nghĩa gì? Người ở Hình Châu đến là con người hiện thực của ông, còn cái kia không phải từ đó đến. Ngài Thường Thông liền hỏi lại: Hòa thượng đã từng ở đây chăng? Nếu vậy Hòa thượng đã từng ở đó chăng? Ngay đó ngài Trường Sa thấy ông tăng này có tinh thần gần với đạo, nên ngài chấp nhận cho vào thất. Trong nhà thiền, hàng đệ tử nhập thất là hàng căn cơ lanh lợi.
Sau, Sư đến Động Sơn, Thạch Sương, thấy pháp không có vị khác. Khoảng cuối niên hiệu Hàm Thông (860-874), Sư dạo Tuyên Thành, Quận thú lập Thiền uyển nơi núi Tạ Tiên để hiệu Thụy Thánh Viện thỉnh Sư trụ trì. Tăng chúng tìm đến tham vấn.
Sau ngài đến Động Sơn tham vấn, đến Thạch Sương tham vấn nhưng ở những nơi đó thấy không có gì khác hơn chỗ của ngài đã thấy. Ngài trở về nhận trụ trì.
Tăng hỏi:
– Thế nào là mật thất?
Sư đáp:
– Chẳng thông tin tức.
Tăng hỏi:
– Thế nào là người trong mật thất?
Sư đáp:
– Các thánh tìm xem chẳng thấy.
Lại nói:
-Ngàn Phật không thể nghĩ, muôn thánh chẳng thể bàn, càn khôn hoại mà không hoại, hư không bao mà chẳng bao, tất cả so sánh không bằng, ba đời xướng mà chẳng khởi.
Khi ngài đã là trụ trì, có Tăng đến hỏi: Thế nào là mật thất? Mật thất là thất kín. Ngài trả lời: Chẳng thông tin tức. Câu trả lời dễ hiểu, vì nếu thất kín thì chẳng có gì lọt vào. Khi Tăng hỏi, thế nào là người trong mật thất? Ngài đáp: Các thánh tìm xem chẳng thấy. Không chỉ thánh thôi mà ngàn Phật không thể nghĩ, muôn thánh chẳng thể bàn, càn khôn hoại mà người trong thất không hoại, hư không bao bọc mà cũng không bao bọc được người trong thất đó, tất cả đều không sánh bằng, ba đời xướng mà chẳng khởi. Xướng tức là đề lên, dù có kêu gọi đề khởi cũng không động. Người trong mật thất là người nào? Chúng ta có người trong mật thất không? Nếu có thì liền biết người đó ở đâu.
Khoảng niên hiệu Quang Khải (885-888) giặc cướp nổi loạn, Sư đem đồ chúng đến Tứ Minh. Đến niên hiệu Đại Thuận năm thứ hai (891), Quận thủ thỉnh Sư ở núi Tuyết Đậu, ở đây sự giáo hóa được hưng thịnh.
Niên hiệu Thiên Hựu năm thứ hai (905) tháng bảy, Sư có chút ít bệnh, nhóm chúng thắp hương phó chúc xong, chắp tay thị tịch, thọ 72 tuổi.
Ở đây ngài không có gì đặc biệt lắm, chỉ một vài đoạn đối đáp. Ngài là đệ tử của ngài Trường Sa, Trường Sa là đệ tử của ngài Nam Tuyền. Hệ thống của Lục Tổ chia làm hai chi: chi phái Hoài Nhượng và chi phái Hành Tư. Từ ngài Hoài Nhượng truyền xuống Mã Tổ. Mã Tổ truyền xuống Nam Tuyền. Đến ngài Thường Thông là đời thứ năm sau Lục Tổ.
Hòa thượng Quán Khê Nhàn đi du phương đến núi này, tự nói: “Nếu khế hợp thì ở, chẳng vậy thì xô ngã giường thiền.” Nhàn vừa vào tăng đường, Liễu Nhiên sai thị giả đến hỏi:
đến?
– Thượng tọa du phương đến hay vì Phật pháp
Nhàn đáp:
– Vì Phật pháp đến.
Các thiền sư tăng thì lịch sử ghi rất rõ sanh ở đâu? Năm nào? Học trò của ai? Đi tham vấn hiểu đạo ra sao? Còn đây thiền sư ni Liễu Nhiên này là đệ tử của ngài Đại Ngu, mà sách sử không nói gì, không nói sanh năm nào, ở đâu. Sở dĩ có ghi được đoạn này là nhờ ngài Quán Khê Nhàn, đệ tử của ngài Lâm Tế, cũng là một thiền sư nổi danh đi tham vấn các nơi. Bởi có ngài tới đây nên mới ghi chuyện đối đáp với ni Liễu Nhiên, nếu ngài không đến chắc không ai nhắc tới. Lệ thường hồi xưa trọng nam khinh nữ là như vậy.
Khi thiền sư Nhàn ở Quán Khê đến chỗ ni Liễu Nhiên, ngài là trụ trì ở núi Mạt Sơn, nên khi tới thì ngài sai thị giả hỏi: Thượng tọa đi du phương đến, hay vì Phật pháp đến? Tới chùa là đi xem cảnh chơi hay đi hỏi đạo lý? Thiền sư Quán Khê Nhàn nói tôi tới đây vì Phật pháp.
Liễu Nhiên lên tòa, Nhàn đến tham. Liễu Nhiên hỏi:
– Hôm nay Thượng tọa rời ở đâu đến?
Nhàn đáp:
– Rời cửa đường đến.
Liễu Nhiên bảo:
– Sao chẳng đậy lại?
Nhàn không đáp được, mới lễ bái hỏi:
– Thế nào là Mạt Sơn?
Liễu Nhiên đáp:
– Chẳng bày đánh.
Nhàn hỏi:
– Thế nào chủ Mạt Sơn?
Nhiên đáp:
– Chẳng phải tướng nam nữ.
Nhàn nạt rằng:
– Sao chẳng biến đi?
Nhiên đáp:
– Chẳng phải thần chẳng phải quỷ, biến cái gì?
Nhàn mới kính phục, ở lại làm Tri viên ba năm.
Vì Phật pháp nên ngài lên tòa bắt đầu xổ cờ ra trận. Ngài hỏi ngài Quán Khê: Hôm nay Thượng tọa rời ở đâu đến? Nếu thông thường thì nói tôi ở chỗ nào đó, nhưng ngài Quán Khê muốn khám nghiệm nên nói: Rời cửa đường đến. Như đường cái có ngã ba, ngã tư thì đầu đường gọi là cửa đường.
Ni Liễu Nhiên bảo: Sao chẳng đậy lại? Sao không đậy cửa đó lại? Ông thầy bí đáp không được, bèn lễ bái. Như thế đã phá lệ rồi. Theo luật Phật dạy, vị ni một trăm tuổi hạ gặp Tỳ-kheo tăng mới thọ giới cũng phải lễ bái. Ở đây Thượng tọa bế tắc, đáp không được phải lễ bái ngược lại, rồi hỏi: Thế nào là Mạt Sơn? Đó là cách dọ dẫm người. Ngài liền đáp: Chẳng bày đảnh. Núi này cao chót vót không thấy đảnh, ý nói cơ phong rất cao. Nhàn hỏi: Thế nào là chủ Mạt Sơn, Ni liền đáp: Chẳng phải tướng nam nữ. Ngài là người nữ, khi hỏi chủ Mạt Sơn thì người ta cứ tưởng ngài là chủ vì trụ trì ở đó, nhưng ngài nói rõ Chẳng phải tướng nam nữ.
Ngài Quán Khê liền nạt: Sao chẳng biến đi? Nếu không phải là nam là nữ thì có lẽ là quỷ thần, vậy thì biến đi. Ngài đáp: Chẳng phải thần, chẳng phải quỷ, biến cái gì? Cái đó không phải tướng nam nữ cũng không phải thần quỷ, đừng bảo nó biến. Nhàn mới kính phục ở lại làm Tri viên ba năm.
Khi Quán Khê đi du phương đến Mạt Sơn, ngài nói tới đây hỏi đáp không xong thì xô ngã giường thiền, tức là dẹp mất danh tiếng Mạt Sơn. Nếu hỏi đáp được thì sẽ ở lại làm Tri viên ba năm. Bây giờ thua rồi nên ở lại làm Tri viên.
Có vị tăng đến tham vấn, Nhiên bảo:
– Rất lam lũ vậy?
Tăng đáp:
– Tuy nhiên như thế vẫn là sư tử.
Nhiên bảo:
– Đã là sư tử, vì sao bị Văn-thù cưỡi?
Tăng không đáp được.
Vị tăng ăn mặc có vẻ xốc xếch hay là lam lũ rách rưới. Ngài nói: Rất lam lũ vậy? Vị tăng này nói: Tuy bên ngoài dáng lam lũ chứ gốc là sư tử. Đã là sư tử, vì sao bị Văn-thù cưỡi? Truyền thuyết Bồ-tát Văn-thù cưỡi sư tử, Tăng tự xưng sư tử mà bị một câu nói, đáp không được.
Tăng hỏi:
– Thế nào là tâm cổ Phật?
Nhiên đáp:
– Thế giới nghiêng đổ.
Tăng hỏi:
– Thế giới vì sao nghiêng đổ?
Nhiên đáp:
– Trọn không thân ta.
Tâm cổ Phật là tâm của chư Phật từ ngàn xưa sẵn có, cũng là chỉ cho ông Phật sẵn muôn đời của mình và của mọi người. Ông Phật đó không bị tất cả tướng sanh diệt che lấp, mà ngược lại hay làm chủ tất cả tướng sanh diệt. Tâm cổ Phật là chỗ không còn cảnh không còn người, vì thế hỏi tâm cổ Phật thì ngài trả lời thế giới nghiêng đổ, là không còn cảnh. Hỏi tại sao nghiêng đổ, trả lời trọn không thân ta, là không còn người. Như vậy còn thấy có ngã có pháp thì thấy được cổ Phật không? Bởi không còn ngã không còn pháp, đó mới là cổ Phật.
Tra khảo nơi bản khác thì thấy ngài có làm bài kệ Pháp thân:
Ngũ uẩn sơn đầu cổ Phật đường,
Tỳ-lô trú dạ phóng hào quang.
Nhược năng ư thử phi đồng dị,
Tức thị Hoa Nghiêm biến thập phương.
Dịch:
Chót núi năm uẩn nhà Phật xưa,
Pháp thân hằng lúc phóng hào quang.
Nếu hay nơi ấy không đồng dị,
Quả thật Hoa Nghiêm khắp mười phương.
Ngũ uẩn sơn đầu cổ Phật đường, tức là trên đầu núi năm uẩn có nhà Phật xưa. Chúng ta có thân năm uẩn này, trong đó có ngôi nhà Phật xưa. Tất cả núi năm uẩn đều có Phật, Phật đó hiện ra như thế nào?
Tỳ-lô trú dạ phóng hào quang. Tỳ-lô tức là Tỳ-lô-giá-na chỉ cho pháp thân. Pháp thân ngày đêm luôn phóng hào quang. Hào quang sáng suốt phóng khắp thân, hào quang ở mắt tại mũi lưỡi thân ý, suốt đêm ngày không lúc nào dừng. Hai câu này ý nói tất cả chúng ta đều có pháp thân lồng ở trong thân năm uẩn. Pháp thân đó lúc nào cũng phóng hào quang ra sáu cửa không thiếu. Vì vậy chúng ta tin chắc nơi mình sẵn có pháp thân.
Nhược năng ư thử phi đồng dị. Nếu hay nơi đây mà không thấy có đồng dị, tức là thấy hai bên. Người nào phá được cái chấp bên này bên kia, không thấy có đồng dị, không còn phải quấy, tốt xấu, đúng sai… chấp hai bên chấm dứt thì sao? Tức thị Hoa Nghiêm biến thập phương. Hoa Nghiêm tức là kinh Hoa Nghiêm, trong đó phẩm quan trọng nhất là Nhập Pháp giới. Nói về Hoa Nghiêm là nói về pháp giới. Như vậy câu thứ tư này nói tánh pháp giới trùm khắp mười phương. Hai câu sau nói lên cái dụng của người tu.
Nếu người biết trong thân sẵn có Phật xưa luôn phóng ánh sáng. Ngay đây đừng khởi niệm phân biệt đối đãi hai bên. Niệm phân biệt đối đãi hai bên dứt rồi thì pháp giới tánh hay là Hoa Nghiêm tánh sẽ trùm khắp cả mười phương.
Phần tiểu sử của thiền sư ni Liễu Nhiên tuy ngắn gọn nhưng bài kệ rất đầy đủ ý nghĩa. Ngài Liễu Nhiên nối pháp thiền sư Đại Ngu, thuộc hàng đệ tử đời thứ năm sau Lục Tổ.
Sư họ Chu quê ở Kiếm Nam, Giản Châu, xuất gia lúc hai mươi tuổi, cũng năm ấy thọ giới Cụ túc. Sư nghiên cứu tinh thâm Luật tạng, thông suốt chỉ thú các kinh thuộc Tánh tông và Tướng tông. Vì thường giảng kinh Kim Cang Bát-nhã, nên thời nhân gọi Sư là Chu Kim Cang. Sư thường nói với đồng học: “Một sợi lông nuốt bể cả, tánh bể không thiếu; hạt cải nhỏ ném trên mũi nhọn, mũi nhọn chẳng động, học cùng không học chỉ có ta biết thôi.”
Ông già Đức Sơn thật là gay cấn, đọc tiểu sử ngài nếu không khéo thì chúng ta sẽ giật mình rởn óc.
Ngài Đức Sơn là một người đã từng tham học kinh luật luận. Về luật thì ngài tinh thâm, về kinh ngài thông cả Tướng tông và Tánh tông. Tánh tông ở đây có thể là Không tông, vì kinh Kim Cang Bát-nhã thuộc về Không tông mà ngài thông cả hai, bên Tướng tông và Không tông. Ngài diễn đạt chỗ thấy hiểu của mình bằng câu Một sợi lông nuốt bể cả, tánh bể không thiếu, đứng về mặt tánh Không, thì tất cả pháp không có lớn nhỏ. Sợi lông trên hình tướng là nhỏ, biển cả là lớn, nhưng trên tánh không thì tánh không của sợi lông, tánh không của biển cả không có lớn nhỏ, cho nên dung nhau. Hạt cải nhỏ ném trên mũi nhọn, mũi nhọn chẳng động, mũi nhọn đây cũng có nghĩa là chót núi. Trên tánh thì nhỏ như sợi lông có thể nuốt biển cả, nhỏ như một hạt cải có thể trùm cả một quả núi. Học, không học chỉ có ta biết thôi, những điều đó tự mình nhận, trên tánh thì không có hơn thua, lớn nhỏ.
Nghe phương Nam Thiền tông thạnh hành, Sư bất bình nói: “Kẻ xuất gia muôn kiếp học oai nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật, còn chẳng được thành Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói “trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”. Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết những giống ấy để đền ơn Phật.” Sư bèn khăn gói lên đường mang theo bộ Thanh Long Sớ Sao, ra khỏi đất Thục, nhắm Lễ Dương tiến bước.
Ngài Đức Sơn là một con người kỳ đặc, đây là chỗ chúng ta phải lưu tâm. Thường nếu chúng ta là người tự mãn thì mình hiểu đạo tu yên thân là đủ rồi, chung quanh ai sao thì mặc họ, hay nhờ dở chịu, không can dự gì đến ta. Nhưng với ngài Đức Sơn, khi hiểu Phật pháp rồi, thấy Phật pháp là chân lý là cứu cánh, ba tạng kinh luật luận là tối ưu, vậy mà giờ đây những người tu thiền lại nói khác với kinh luật. Kinh nói người xuất gia phải trải qua ba vô số kiếp tu mới thành Phật. Thiền tông lại nói trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật dễ quá. Như vậy là trái với kinh, trái lời Phật nói, là ma nói. Vì thế ngài nhất định phải quảy gánh kinh đi dẹp bọn ma này, ruồng đuổi tận hang ổ, diệt hết họ để đền ơn Phật. Nhiệt tình của ngài là khi mình thấy điều hay mà người khác làm trái ngược thì nhất định phải làm sao dẹp cái dở đó, không thể để mặc họ làm gì thì làm. Nhiệt tình đặc biệt của ngài Đức Sơn, chúng ta sẽ thấy qua những việc làm sau này của ngài.
Trên đường, Sư gặp một bà già bán bánh, bèn dừng nghỉ chân và bảo bà lấy ít bánh điểm tâm. Bà già chỉ gánh của Sư hỏi:
– Gói ấy là sách vở gì?
Sư bảo:
– Thanh Long Sở Sao.
Bà hỏi:
– Thầy thường giảng kinh gì?
Sư đáp:
– Kinh Kim Cang.
Bà nói:
– Tôi có một câu hỏi, nếu Thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp chẳng được, mời Thầy đi nơi khác. Kinh Kim Cang nói “quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc”, xin hỏi Thượng tọa điểm tâm nào?
Sư đáp không được, bèn hỏi đường lên Long Đàm.
Lúc đầu, ngài có vẻ ngạo nghễ khinh mạn, bà già bán bánh mà có giá trị gì, phải không? Mình là người thông kinh luận, bà hỏi một câu có gì mà sợ? Bà già rất kỹ, thấy gói kinh hỏi kinh gì, rồi hỏi Thầy giảng kinh gì. Nếu như chúng ta bất thần nghe nói giảng kinh Kim Cang thì cũng không biết hỏi sao, vì không thuộc kinh. Còn bà thuộc kinh Kim Cang nên đem ra hỏi. Kinh Kim Cang nói quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Tâm quá khứ đã qua tìm không được, tâm vị lai chưa đến cũng không thể được, còn tâm hiện tại sanh diệt từng phút từng giây, cũng không thể được. Ba thời tìm tâm đều không thể được mà ông nói điểm tâm là điểm tâm nào?
Nghe bà già hỏi ngài đứng sựng, ngỡ ngàng quá nên mới hỏi gần đây có thiền sư không? Bà già chỉ đường lên núi Long Đàm là chỗ thiền sư Sùng Tín. Bây giờ ngài mới bớt kiêu khí tìm đến Long Đàm.
Đến pháp đường gặp Long Đàm, Sư nói:
– Lâu nay nghe danh Long Đàm, đi đến nơi Đàm (đầm) chẳng thấy, mà Long (rồng) cũng không hiện.
Sùng Tín bảo:
– Ngươi đã gần đến Long Đàm.
Sư không đáp được, liền dừng lại đây.
Bên đường gặp bà già bị chinh phục một lần, bây giờ tới ngay Long Đàm, câu nói của Long Đàm dễ quá, nhưng tại sao ngài đáp không được? Theo thuật của nhà thiền, mới đến gặp vị nào thì người ta hay dùng phương tiện hạ uy tín người đó trước để thử coi dáng vẻ người đó ra sao. Có sân hay bực bội không? Nên nói, Lâu nay nghe danh Long Đàm, đi đến nơi Đàm chẳng thấy, mà Long cũng chẳng hiện. Nghe danh Long Đàm đã lâu mà tới đây thì thấy tầm thường quá không có gì. Ngài Long Đàm chỉ nói rằng: Ngươi đã gần đến Long Đàm, câu đó làm ngài phục. Phục ở chỗ nào?
Theo kinh giáo, Bồ-tát tu hành đến chỗ buông cả ngã và pháp. Đức Sơn nói không thấy đầm là pháp, không thấy rồng là ngã, nên ngài Long Đàm nói nếu ông không còn thấy có ngã có pháp thì gần ta rồi, như vậy không phải Bồ-tát là gì? Phải lanh lợi mới nhận ra chỗ này. Mang kinh sách đi chinh phục người mà tới đây ngược lại bị người chinh phục. Một bà lão bán bánh, rồi đến gặp thiền sư nói cho một câu là bó tay đầu hàng. Dừng lại đây tức là xin làm đệ tử, nhưng với nhiệt tình đó nên khao khát mong sao sớm được thầy khai ngộ.
Một đêm Sư đứng hầu. Sùng Tín bảo:
– Đêm khuya sao chẳng xuống?
Sư kính chào bước ra, lại trở vào, thưa:
– Bên ngoài tối đen.
Sùng Tín thắp đèn cầy đưa Sư. Sư toan tiếp lấy, Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó Sư đại ngộ, liền lễ bái. Sùng Tín hỏi:
– Ngươi thấy cái gì?
Sư thưa:
– Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư Lão hòa thượng trong thiên hạ.
Hôm sau Sùng Tín lên tòa bảo chúng:
– Trong chúng đây có một gã răng như kiếm bén, miệng tợ chậu máu, đánh một gậy chẳng ngó lại, khi khác y lên ngọn núi cao vót dựng lập đạo của ta.
Sư đem bộ sớ sao chất đống trước pháp đường nổi lửa đốt, nói:
– Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không; hết sạch các trọng yếu ở đời như một giọt nước gieo trong hồ lớn.
Sư lễ từ Sùng Tín đi du phương.
Lúc ngài mới ra đi thì thấy kinh điển là chân lý, là vàng ngọc không thể rời nên đi đâu cũng quảy theo. Đến khi ngộ rồi thì liền đốt hết, như vậy còn nhiệt tình không? Khi trước thiết tha bao nhiêu thì bây giờ thấy sai rồi ngài liền dứt khoát dẹp hết, không vì sự thiết tha buổi đầu mà tiếc nuối.
Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không. Tất cả biện luận siêu huyền dù hay khéo tột đỉnh cũng là lời nói bên ngoài. Cái chân thật đó nói không đến, vì thế nói như một sợi lông ném trong hư không. Hết sạch các trọng yếu ở đời, những gì gọi là quan trọng ở đời đối với cái đó chẳng khác nào một hạt nước gieo vào trong hồ lớn, không thấm vào đâu. Người thấy được sống được với cái đó rồi thì không còn thấy gì quan trọng ở trên đời nữa. Tất cả thứ thiên hạ cho là quan trọng đều là tướng vô thường sanh diệt. Danh lợi tài sắc… đều là giả tướng sanh diệt, được đó rồi mất đó, có còn mãi không? Cái chân thật này muôn đời không mất, thấy được rồi nhìn lại mấy cái kia không ra gì. Người tu khi nhận được cái này rồi, đối với danh lợi tài sắc mới xem thường, nếu chưa nhận được thì cũng mang thân vô thường chạy theo cảnh vô thường. Cuối cùng kết quả tất cả đều là vô thường, không đi đến đâu.
Đến Quy Sơn, Sư vào pháp đường từ phía tây đi qua phía đông, lại từ phía đông sang phía tây, hỏi:
– Có chăng? Có chăng?
Quy Sơn ngồi lặng lẽ không ngó tới. Sư nói:
– Không, không.
Liền đi thẳng ra cửa, tự nói:
– Tuy nhiên như thế cũng chẳng đặng thô xuất. Sư bèn đầy đủ oai nghi đi trở vào. Vừa bước qua cửa, Sư đưa tọa cụ lên, gọi:
– Hòa thượng
Quy Sơn toan nắm phất tử, Sư liền hét, phủi áo ra đi.
Chiều, Quy Sơn hỏi Thủ tọa:
– Vị tăng mới đến khi sáng còn ở chăng?
Thủ tọa thưa:
– Ngay khi đó, y trở ra pháp đường mang giày cỏ đi luôn.
Quy Sơn bảo:
– Gã ấy về sau, lên tận ngọn núi cao, cất am có ở, để rồi quở Phật mắng Tổ.
Giai đoạn ngài đi du phương đến Quy Sơn. Người xưa khi thấy hành động liền biết người đó sau kết quả thế nào. Thường khi tới Quy Sơn thì người ta đảnh lễ để hỏi, còn ngài tới thì đi đông qua tây, rồi tây qua đông. Đó là đã trình ông chủ, như Ngưỡng Sơn trình ông chủ với ngài Quy Sơn để xem Quy Sơn có thái độ nào? Ngài Quy Sơn làm thinh, nên Đức Sơn hỏi: Có chăng? Có chăng? Ngài Quy Sơn làm thinh, Đức Sơn lại nói: Không, không. Rồi đi ra cửa. Tuy nhiên như vậy chưa được, phải đủ oai nghi vô trở lại để coi sao. Ngài đầy đủ oai nghi bước vào, vừa tới cửa đưa tọa cụ lên gọi Hòa thượng. Ngài Quy Sơn ngay đó mới ra tay, vừa sửa soạn nắm phất tử, Đức Sơn hét một tiếng phủi áo ra đi. Chưa đợi phất tử đưa lên, ngài đã hét rồi đi, chỗ thấy của ngài nhanh như lằn chớp, không cần nói là biết thêm. Ngài Quy Sơn biết con người kỳ đặc nên thọ ký gã này sau sẽ quở Phật mắng Tổ.
Sư dừng lại Lễ Dương ba chục năm. Gặp lúc Đường Võ Tông phế giáo, Sư tỵ nạn ở một mình trong thạch thất tại Phù Sơn. Đến thời Đại Trung năm đầu (847), thái thú Vũ Lăng tên Tiết Đình Vọng tái trùng tu tịnh xá Đức Sơn để hiệu là Cổ Đức thiền viện, tìm kiếm những vị đạo hạnh trụ trì. Nghe tiếng Sư, Đình Vọng nhiều phen đến thỉnh, Sư chẳng chịu xuống núi. Đình Vọng lập kế, lấy trà, muối đến phao vu Sư phạm cấm pháp, điệu Sư về Châu chiêm lễ. Đình Vọng cố thỉnh cho được Sư ở Đức Sơn. Sau cùng Sư chấp nhận. Ở đây Sư xiển dương tông phong rất thạnh.
Sư dừng lại Lễ Dương ba chục năm. Tuy thấy biết như vậy mà phải dừng trụ ba chục năm, không phải như chúng ta ở một hai năm, mà than sao con chưa hết vọng tưởng? Gặp lúc Đường Võ Tông phế giáo, Sư tỵ nạn ở một mình trong thạch thất tại Phù Sơn. Thời gian đó ngài ở một mình trong thạch thất ba mươi năm.
Lúc sau, Thái thú muốn thỉnh ngài tại sao dùng trà, muối để phao vu? Hồi xưa thường có tiếng đi bán muối lậu, nếu người nào chứa muối hay trà nhiều mà không khai báo thì gọi là mắc tội bán đồ lậu, vì vậy phao vu để rước ngài về chứ không có gì lạ.
Sư thượng đường bảo chúng:
– Nơi mình vô sự thì chớ vọng cầu, vọng cầu mà được cũng chẳng phải được. Các ông chỉ vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự thì hư mà linh, không mà diệu.
Nếu có nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối. Còn có mảy may nghĩ nhớ, là nghiệp nhân tam đồ. Bất chợt sanh tình (vọng khởi) là muôn kiếp bị khóa kín (địa ngục). Danh thánh hiệu phàm trọn là tiếng rỗng, tướng đặc biệt hình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó, mà không bị lụy sao? Và các ông chán đó, lại thành bệnh lớn. Cả hai đều là vô ích.
Bao nhiêu đó đủ cho chúng ta tu. Nơi mình vô sự là ngồi không chơi hoài, phải không? Vô sự là không vọng cầu. Vọng cầu mà được cũng chẳng phải được, vọng cầu mà được là cái vô thường biến hoại, nên được mà không phải được. Chỉ cần vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự. Nghĩa là trong tâm mình thì rỗng thênh không có việc, không có vấn đề, đối với cảnh ngoài thì tâm không dính với cảnh. Trong không niệm khởi, ngoài không đuổi theo cảnh, bao nhiêu đó đủ để tu suốt đời.
Có lúc nào trong lòng chúng ta không chứa một cái gì không? Không chứa mà rồi ở đâu nó chạy ra! Theo kinh giáo nói tu phải qua nhiều ngôi vị, theo tinh thần thiền tông thì chỉ một việc nơi tâm vô sự, không có vấn đề nào làm cho nó mờ tối. Nếu khi tâm vô sự thì hư mà linh, nghĩa là rỗng mà sáng, không mà diệu, thấy như không có mà nhiệm mầu. Đây là chỗ rất quan trọng, trong không tâm, ngoài không theo cảnh, lúc đó rỗng suốt mà sáng rỡ, không việc gì không thông. Đó mới thực là sống với ông chủ của mình. Chúng ta hiện nay sống với ai? Sống với đám lâu la ở ngoài, phải không? Nó dẫn mình chạy đầu này đầu kia… hết cái này sanh, cái kia diệt, có khi thì mang tướng hiền thánh hiện vô, có khi mang tướng ma quái. Hiện đủ thứ cảnh, dẫn chúng ta chạy cả sáng đến chiều, luôn cả tối không cho yên lúc nào. Vì thế mà lặn lội trong luân hồi.
Nếu có nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối. Thực ra có một lời gì khác cũng là dối gạt, cái gốc chỉ chừng ấy, vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự, đó là cái gốc. Còn có mảy may nghĩ nhớ, là nghiệp nhân tam đồ.
Vừa còn có nghĩ cái này nhớ cái kia là nghiệp tam đồ. Bất chợt sanh tình là muôn kiếp bị khóa kín. Bất chợt dấy niệm sanh tình chấp là muôn kiếp bị đóng kín trong hầm vô minh không thoát nổi. Như vậy thật đáng sợ.
Danh thánh hiệu phàm trọn là tiếng rỗng, tướng đặc biệt hình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó, mà không bị lụy sao? Và các ông chán đó, lại thành bệnh lớn. Cả hai đều là vô ích. Chúng ta tu luôn luôn bỏ phàm cầu thánh, phải không? Nhưng danh hiệu đó chỉ là cái giả bên ngoài, là tiếng rỗng thôi. Hình tướng đẹp xấu có quan trọng không? Đẹp như tiên hay xấu như ma thì cũng chỉ là một thây thúi. Nếu muốn cầu thân tướng đẹp thì có khỏi bị lụy không? Vì còn đuổi theo giả tướng vô thường thì còn bị vô thường cuốn đi trong luân hồi, làm sao chạy khỏi? Ngược lại chán thân huyễn hóa này, cho nó là xấu là dở, là nhớp nhúa… chán nó muốn bỏ nó thì có lụy không, có thành bệnh không? Nó đã là không thật thì chán chi cầu chi? Cái không thật mà cầu cũng bệnh, chán cũng bệnh.
Sư thượng đường bảo:
– Hôm nay tối không được thưa hỏi, ai thưa hỏi sẽ ăn ba mươi gậy.
Khi ấy có một vị tăng bước ra lễ bái, Sư liền đánh. Tăng ấy thưa:
– Con chưa thốt ra lời hỏi, vì sao Hòa thượng đánh con?
Sự hỏi:
– Ông là người xứ nào?
– Con người Tân La (Triều Tiên).
Sư bảo:
– Ông khi chưa xuống thuyền đã đáng ăn ba mươi gậy rồi.
Ngài giao hẹn rằng tối không cho hỏi, hỏi thì ăn ba mươi gậy. Tăng ra lễ bái vì nghĩ rằng lễ bái thì đâu có lỗi gì. Vừa lễ bái ngài đánh liền, Tăng hỏi con chưa nói lời nào tại sao Hòa thượng đánh? Ngài hỏi ông ở đâu? Nói con ở xứ Tân La tức Triều Tiên bây giờ. Ngài bảo: Ông sửa soạn xuống thuyền lúc đó ăn gậy rồi không đợi đến nơi. Lời nói là hư dối, do ngôn ngữ đối đãi mà ra, nhưng khi khởi nghĩ chưa nói, cũng đã đáng ăn gậy rồi, nên đánh trước khi hỏi.
Long Nha hỏi:
– Khi con cầm kiếm Mạc Da toan chặt đầu Thầy thì sao?
Sư đưa cổ đến trước. Long Nha nói:
– Roi.
Sư cười ha hả.
Sau, Long Nha đến Động Sơn thuật lại việc ấy.
Động Sơn hỏi:
– Đức Sơn nói thế nào?
Long Nha thưa:
– Đức Sơn không nói.
Động Sơn bảo:
– Chớ nói Đức Sơn không nói, hãy đem đầu Đức Sơn trình lão tăng xem?
Long Nha biết lỗi xin sám hối.
Có người đem việc ấy thuật lại Sư, Sư bảo:
– Ông già Động Sơn không biết tốt xấu, gã ấy đã chết được bao lâu, cứu được chỗ dụng gì?
Ngài Long Nha này cũng là tay cừ khôi, đến Đức Sơn không hỏi đạo mà nói rằng con có cây kiếm bén muốn chặt đầu Thầy thì sao? Kiếm Mạc Da là cây kiếm bén trong truyền thuyết. Ngài đưa cổ, ông muốn chặt ta đưa cổ cho chặt, Long Nha nói: Rơi. Ngài cười thôi. Long Nha tưởng như mình đã nắm được cái gì của Đức Sơn rồi. Khi thuật lại cho ngài Động Sơn nghe, ngài hỏi lúc đó Đức Sơn nói gì, Long Nha nói không nói gì. Ngài Động Sơn hỏi: Nếu ông được thì trình đầu của Đức Sơn cho ta xem. Ngang đó Long Nha bí, biết rằng mình chưa được cái gì ở Đức Sơn nên sám hối. Câu chuyện đó thuật lại cho ngài Đức Sơn nghe, ngài nói ông già Động Sơn không biết tốt xấu, không biết tốt xấu tức là không suy xét giản trạch hay để chỉ bày cho người ta có lợi gì. Gã ấy đã chết được bao lâu, cứu được chỗ dụng gì? Ngài thấy Long Nha như không nắm được, không thấu hiểu, bây giờ có cứu cũng không dùng được.
Sư thượng đường bảo:
– Hỏi tức có lỗi, chẳng hỏi lại trái.
Có vị tăng bước ra lễ bái, Sư liền đánh. Tăng thưa:
– Con mới lễ bái vì sao Hòa thượng đánh?
Sư bảo:
– Đợi ngươi mở miệng làm gì kịp.
Vừa chuẩn bị mở miệng, đánh trước rồi, đợi mở miệng là đã đi xa làm gì kịp. Câu nói vừa như cợt đùa nhưng ý nghĩa hết sức thâm sâu. Chúng ta đợi hành động ngôn ngữ phát ra mới cho là hành động xấu hoặc lời nói xấu. Nhưng vừa khởi niệm đã xấu từ trong ý, chặn ngay chỗ khởi niệm đó mới là tu giỏi. Như khi giận người, vừa nổi giận là dở rồi, đến lúc nói ra lời thì đã hư việc. Vì thế phải chặn ngay trong tâm, đợi nói làm sao kịp! Việc tu muốn nhanh thì phải thấy ngay ý nghĩ trong lúc vừa manh nha, đừng đợi nó thành hình.
Sư sai thị giả gọi Nghĩa Tồn, Nghĩa Tồn đến. Sư bảo:
– Ta bảo kêu Nghĩa Tồn, ngươi đến làm gì? Nghĩa Tồn không đáp được.
Có phải ngài đùa không? Nếu là người thấy đạo thì khi nghe kêu đến phải nói lời gì khác để vị thầy thấy chỗ được của mình. Nếu đáp không được là mình không biết. Ngài Nghĩa Tồn lúc này chưa ngộ nên đáp không được.
Sư thấy vị tăng đến, liền đóng cửa. Vị tăng gõ cửa. Sư hỏi:
– Ai?
Tăng thưa:
– Sư tử.
Sư mở cửa. Tăng lễ bái. Sư liền leo lên cổ cưỡi, nói:
– Súc sanh này từ xứ nào đến?
Thấy những hành động như ngài quái đản, nhưng đó là lối chỉ dạy rất chính xác. Vì ông tăng tự xưng mình là sư tử, trong nhà thiền, nói sư tử là người kế thừa trách nhiệm của tông môn. Đã xưng là sư tử phải có hành động của sư tử, đây mới mở cửa mà lễ bái quỳ mọp thì đâu phải là sư tử. Ngài trèo lên cổ cưỡi, rồi nói súc sanh này từ đâu đến? Ông tăng bí, thực là không phải sư tử.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn hỏi:
– Tông thừa từ trước, riêng con có phần chăng?
Sư đánh một gậy bảo:
– Nói gì?
Nghĩa Tồn thưa:
– Chẳng hội.
Hôm sau, giờ thưa hỏi Sư nói:
– Tông ta không ngữ cú, thật không có một pháp dạy người.
Tuyết Phong nhân câu này được tỉnh.
Ngài Tuyết Phong hỏi: Tông thừa từ trước riêng con có phần chăng? Nghe câu đó ngài đánh cho một gậy, hỏi: Nói gì? Ngay đó mà không ngộ, nên Nghĩa Tồn thưa: Chẳng hội. Đến giờ thưa hỏi, ngài nói: Tông ta không ngữ cú, thật không có một pháp dạy người. Ngài không có một lời để dạy, cái đánh đó đã là dạy rồi. Nhân đây Nghĩa Tồn mới tỉnh.
Sư dạy chúng:
– Các ông từ sáng đến chiều có việc gì? Chẳng cần khoe môi lừa mỏ ngựa hỏi lão già Đức Sơn sao? Ta chẳng sợ các ông, chưa biết các ông có những nghi vấn gì?
– Gần đây trong thời kỳ mạt pháp, có rất nhiều bọn quỷ thần chạy bên ngoài nói “ta là Thiền sư”. Chẳng biết học được bao nhiêu thiền đạo, nói tương tợ cho lão tăng nghe? Các ông! Những lão trọc ở mọi nơi dạy các ông tu hành thành Phật, chạy bên ngoài thành được bao nhiêu ông Phật? Các ông nếu không thể học, lại chạy tìm cái gì? Nếu có học, các ông thử đem cái học được trình cho lão tăng xem. Một câu chẳng tương đương phải ăn một gậy đau điếng mới được.
Ngài bắt đầu đi từng bước nặng dần, nói rằng nhiều bọn quỷ thần ở bên ngoài tự xưng “ta là thiền sư”. Chẳng biết học được bao nhiêu thiền đạo, nói tương tợ cho lão tăng nghe? Thiền là học được hay không học được? Đạo là học được hay không học được? Không học được sao bắt mấy chú học? Thực ra thiền đạo không phải học mà được, chỉ vì chúng ta sẵn có viên ngọc quý mà không tự biết lấy ra dùng. Viên ngọc quý đó đang nằm ở dưới đáy thùng rác, dạy học là phương tiện dạy hốt rác bỏ ra, quăng sạch hết rác rồi thì viên ngọc hiện lồ lộ. Hòn ngọc ấy do học mà được, do liệng rác ra mà được hay tự nó sẵn có? Nó sẵn có nhưng bị rác che phủ nên không thấy được. Khi chúng ta quăng sạch rác, ném hết những thứ che phủ thì viên ngọc hiện ra.
Lời dạy của Phật tổ là phương tiện dẹp bớt phiền não, phá bớt những chấp nê mê tối của mình, phiền não và chấp nê hết sạch thì chân thật hiện ra. Cái chân thật đó không do tu học mà được, nó đã có sẵn ngay bây giờ. Nói học mà được là không đúng sự thật.
Nói dạy tu hành thành Phật, Phật ở đâu mà thành? Nếu chạy ra ngoài tìm kiếm thì muôn kiếp không có Phật để thành, vì Phật là cái giác sẵn của chính mình. Nếu nói ráng tu để thành Phật thì đó là lối nói cầu cạnh không bao giờ được. Các ông nếu không thể học, lại chạy tìm cái gì? Chỗ đó không phải do học mà được, thì tìm cái gì? Nếu có học, các ông thử đem cái học được trình cho lão tăng xem? Cái chân thật đó đã sẵn tại nơi mỗi người chúng ta, chỉ là không thấy không nhận, cứ nghĩ tìm kiếm ở bên ngoài.
Các ông bị những lão trọc ở khắp nơi mê hoặc, nói ta là người tu hành, làm ra hình thức in tuồng bộ mặt người đắc đạo. Chớ có nhận dụng tâm như thế, muôn kiếp ngàn đời luân hồi trong tam giới đều là “Có tâm”. Vì cớ sao? Vì tâm sanh thì các thứ pháp sanh. Nếu khéo một niệm chẳng sanh thì hằng thoát khỏi sanh tử, chẳng bị sanh tử trói buộc, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, lại còn có việc gì?
Đây nói những người tu mê hoặc kẻ khác, nói ta là người tu hành, làm ra hình thức in tuồng bộ mặt người đắc đạo, giả bộ như người đắc đạo. Như có vài huynh đệ đang ngồi ăn uống hoặc bàn tán ồn náo, chợt có khách tới liền ra vẻ nghiêm trang tề chỉnh. Đó là làm ra vẻ chứ không phải thật. Tu mà còn làm ra vẻ thì tu không đến đâu. Tu là ngay trong tâm mình, mỗi niệm dấy lên đã thấy, đã buông rồi, không cần hình thức bên ngoài. Càng làm ra vẻ thì càng xa với đạo.
Đây nói có tâm là muôn kiếp ngàn đời luân hồi trong tam giới. Biết còn có tâm là còn kẹt, vì sao? Vì tâm sanh thì các thứ pháp sanh. Nếu khéo một niệm chẳng sanh thì hằng thoát khỏi sanh tử. Một niệm không sanh là gốc ra khỏi sanh tử. Tất cả niệm dấy lên là chạy theo thanh sắc ở thế gian. Niệm vô thường, thanh sắc vô thường, dấy niệm chạy theo thanh sắc tức là bị cuốn trong vô thường, không bị luân hồi là gì? Dù thanh sắc đẹp hay xấu cũng là đi trong vô thường. Không có một niệm đó là giải thoát, còn cái gì cuốn mình được, còn cái gì lôi mình được.
Nhân giả! Ta thấy các ông đi khắp nơi phát tâm, đến trong hội những lão trọc học Phật pháp, gánh vác chẳng tiếc thân mạng, rốt cuộc các ông đều bị đâm đui mắt, đoạn dứt mạng căn. Có hai ba trăm kẻ tự như dâm nữ, nói: “Ta làm hóa chủ dựng lập pháp tràng, vì người sau mở mắt cho họ.” Kẻ ấy tự cứu được chăng?
Ngài nói rất mạnh, đến chỗ mấy lão trọc học Phật pháp, gánh vác chẳng tiếc thân mạng, nghĩa là hy sinh lo cho Phật pháp. Rốt cuộc rồi bị đâm đui mắt, đoạn dứt mạng căn. Người học đạo lấy trí tuệ làm mạng căn. Học hết sức rồi vẫn chìm trong mê lầm không phát sanh trí tuệ, nên nói đoạn dứt mạng căn, bị đâm đui con mắt trí tuệ. Đôi khi không khéo chúng ta tu học rồi bị mắc kẹt hết cái này tới cái kia.
Đây lại nói có hai ba trăm kẻ tự như dâm nữ, tại sao? Người nào chỉ lo đón khách đưa khách, ngài nói là dâm nữ. Làm hóa chủ tức là trụ trì, dựng lập pháp tràng, nói vì người sau mở mắt cho họ. Chính mình cứu mình chưa được mà mở mắt cho ai?
Nhân giả! Nói tu hành như thế, các ông đâu chẳng nghe nói lão Hồ (ông già Ấn Độ, chỉ đức Phật) trải ba kiếp a-tăng-kỳ tu hành mà nay còn đâu? Sau tám mươi năm chết mất, cùng các ông có khác gì?
Các ông chớ cuồng! Khuyên các ông không gì hơn Thôi Hết đi, Vô Sự đi. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới.
Các ông thấy Đức Sơn ra đời, năm người mười người đồng nghĩ tụ họp nhau đến nạn vấn, mong ta đó lưỡi không lời. Các ông thật là người giỏi giang, nay sao chẳng bước ra. Cây dùi đựng trong đấy rách mà chẳng ló đầu mới là cao thủ. Ta muốn hỏi các ông, người thật thì chớ lầm.
Nếu tu để cầu phước, cầu các nghiệp lành thì như trong kinh nói Phật tu vô số kiếp, tích công lũy đức nên khi sanh ra ngài có tám mươi vẻ đẹp, ba mươi hai tướng tốt. Tướng tốt vẻ đẹp đó bây giờ tìm còn không? Tướng tốt tướng xấu rồi cũng hoại, nếu nghĩ rằng tu để được tướng tốt thì bây giờ kiếm không còn.
Ngài lặp tớ lặp lui câu Thôi hết, Vô sự. Nghĩa là trong lòng đừng chứa chấp buồn thương giận ghét, mọi vấn đề hơn thua phải quấy… đó là thôi hết. Đối với ngoại cảnh không bị quyến rũ khiến phải khởi niệm chạy theo, đó là vô sự. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới.
Trong nhà thiền thường ví dụ thiền sư, thiền khách là cao thủ, giống như cây dùi đựng trong đãy rách mà không ló đầu.
Nhân giả! Các ông chạy lăng xăng bên ngoài, nói ta hiểu thiền hiểu đạo; chỉ ngực chỉ sườn, khen ngợi, trịnh trọng… Những cái ấy cần phải mửa hết mới được vô sự.
Các ông chỉ cần ngoài không mắc thanh sắc, trong không hiểu biết năng sở. Vì thể không phàm thánh, lại học cái gì? Dù học được trăm ngàn diệu nghĩa, chỉ là con quỷ ăn ghẻ bướu, thảy đều là tinh mỵ. Ta trong ấy rỗng thênh, nói có chẳng phải có, nói không chẳng phải không, nói phàm chẳng phàm, nói thánh chẳng thánh, tất cả chỗ đặt để y chẳng được, mà làm thầy muôn pháp, cái ấy ta chẳng dám chê y.
Ngài dạy chúng ta buông sạch tận cùng, ngoài không mắc thanh sắc, trong không có niệm khởi phân biệt năng sở hai bên. Tại sao? Vì thể không phàm thánh, lại học cái gì? Thể đó không có đối đãi, không đối đãi thì lấy gì học?
Chỉ có cái đó là trên hết, còn trăm ngàn diệu nghĩa mình học được thì ngài cho rằng ăn ghẻ bướu của người. Tại sao? Vì đó là cái tích lũy trong bụng của họ, họ thốt ra cho mình nghe, tưởng là mình học hỏi chứng đắc. Không dè là ăn đàm dãi, ăn ghẻ bướu của người, không quan trọng. Có một cái rỗng thênh, nói có chẳng phải có, nói không chẳng phải không, nói phàm chẳng phàm, nói thánh chẳng thánh, tất cả chỗ để y chẳng được. Y không để chỗ nào được mà y làm chủ muôn pháp, đó là cái không thể cho được.
Sở dĩ lão Hồ mửa ra bao nhiêu phương tiện đàm dãi dạy các ông vô sự đi, chớ nhằm bên ngoài tìm. Các ông lại chẳng nhận, muốn được gom góp những ngôn cú thù thắng, dồn trong hông trong ngực, nói lời khéo léo, lấy đầu lưỡi biện đến quần vải, cốt mong cho người biết, nói ta là Thiền sư, mong có chỗ xuất đầu lộ diện. Nếu có kiến giải như thế là con quỷ ở xương trên, có ngày sẽ vào địa ngục Bạt thiệt. Đến đó rồi, tìm người nói ta là Thiền sư đi!
Ngài nói Sở dĩ lão Hồ mửa ra bao nhiêu phương tiện đàm dãi, lão Hồ là đức Phật, ngài nói bao nhiêu phương tiện ghi chép lại thành tam tạng giáo điển, đó chỉ là đàm dãi của ngài. Những lời đó cốt dạy chúng ta buông hết để trở thành vô sự, mình không buông lại cứ chứa hết. Pháp Phật dạy trong kinh có kinh nào dạy chứa không? Phá ngã, phá pháp, tất cả chấp đều phá hết. Bao nhiêu kinh điển để phá chấp mà chúng ta không phá, lại dồn chứa kinh điển đầy hông ngực cho là thù thắng. Khoe biện tài để cốt được xuất đầu lộ diện cho mọi người biết. Người như thế ngài gọi là con quỷ ở xương trên.
Kẻ khách trong nhà thiền vừa bị người hỏi đến việc bổn phận, miệng in cây cọc, liền trở lại nói với họ Bồ-đề Niết-bàn chân như giải thoát, dẫn rộng trong ba tạng, nói giáo là thiền là đạo, dối gạt người chung quanh, có gì là dính dáng, chê bai tiên tổ của ta.
Bổn phận chính trong nhà thiền mà bị người hỏi tới là bí, dẫn đầu này đầu kia, nói quanh co mà rốt cuộc không ra gì. Đó là người không làm được bổn phận của mình, vì thế người học đạo chân thật không thể quên việc bổn phận. Mục đích người xuất gia bổn phận chính là cốt giác ngộ giải thoát. Ai cũng vậy, mục đích đó là cái gốc của mình, hỏi đến chỗ đó mà không biết, lại dẫn chứng kinh tạng dối gạt người. Rất đáng quở trách.
Chỗ thấy của lão Đức Sơn này chẳng phải thế. Trong ấy Phật cũng không pháp cũng không, Đạt-ma là ông già Hồ tanh hôi, Bồ-tát Thập địa là kẻ gánh phẩn, Đẳng giác Diệu giác là kẻ phàm phu phá giới, Bồ-đề Niết-bàn là cây cọc cột lừa, mười hai phần giáo là bộ sổ của quỷ thần là giấy lau ghẻ, Tứ quả Tam hiền Sơ tâm Thập địa là quỷ giữ mồ xưa, tự cứu được chăng? Phật là cục phân của ông già Hồ.
Tại sao ngài nói quá mạnh như vậy? Đây là chỗ mà chỉ có ở tù rồi mới thông cảm, thương người ở tù. Vì trước ngài nhiệt tình với kinh điển đi đâu cũng gánh theo. Nhiệt tình như vậy, tin tưởng trăm phần trăm như vậy, tưởng kinh điển có thể làm cho mình ngộ đạo. Khi ngộ được lý thiền, thấy được cái chân thật, mới biết kinh điển là việc bên ngoài. Như tôi muốn chỉ mọi người thấy bóng đèn, tôi đưa tay chỉ. Mọi người nương ngón tay để thấy bóng đèn hay cứ nhìn đầu ngón tay mà cho là bóng đèn? Người như thế là khôn hay không khôn? Cũng vậy, kinh điển không phải là giác ngộ giải thoát, nương kinh điển để thấy đường đi, để tiến tới giác ngộ giải thoát. Nếu cứ đem kinh điển ra tụng đọc hết bộ này sang bộ kia, có giải thoát không? Như người chấp ngón tay cho là mặt trăng có được không? Phải nói mạnh để thức tỉnh chỗ này.
Phật là giác, danh từ Phật mà chúng ta thường xưng tụng là đồ bỏ, cái giác mới là cái thật. Vì thế ngài nói Phật là cục phân của ông già Hồ, danh từ không phải là cái thật đừng kẹt chấp trên danh từ. Như nói Bồ-đề, Niết-bàn, chân như, Phật tánh, Đẳng giác, Diệu giác… nghe rườm rà, nghe đầy lỗ tai, thực sự không có gì thật. Ngài muốn chỉ cho chúng ta thấy tất cả danh từ đó là phương tiện giả danh, tạm dùng để biểu thị cái chân thật. Không chịu nhận cái chân thật, cứ bám vào phương tiện giả danh cho là cứu cánh thì không trách sao được?
Kinh Kim Cang, Phật ví dụ kinh điển như chiếc bè đưa người qua sông. Đến bờ rồi thì phải bỏ bè mới lên bờ được, nếu cứ bám vào chiếc bè hoài chừng nào lên bờ? Có người xuống thuyền hài lòng quá, ngang đây mình khỏe rồi, cứ ở dưới thuyền đó năm này qua năm khác, cho tới thuyền lủng chìm luôn. Người như vậy là muốn qua bờ hay muốn chết chìm? Cũng thế, người không biết kinh điển không biết tu thì chết chìm luôn là phải, mình biết kinh điển rồi cứ bám vào ôm bao nhiêu đó làm sự nghiệp, có chết chìm theo không? Phải nương kinh điển làm phương tiện để tiến qua bờ kia, không nên xem đó là cứu cánh.
Ngài nói dường như phỉ báng, mười hai phần giáo là bộ sổ của quỷ thần, là giấy lau ghẻ. Nếu không thấy được cái thật thì giáo lý trở thành vô nghĩa. Như có người vẽ bản đồ hướng dẫn đường đi vào một thành phố lớn là chỗ mình cần đến. Rồi mình cầm bản đồ học thuộc lòng, đọc thao thao bất tuyệt mà không chịu đi, thì người vẽ bản đồ có tức không? Có muốn lấy xé không? Người đó nói đồ này đồ bỏ, tôi vẽ để ông đi, không phải vẽ cho ông đọc.
Chính ngài Đức Sơn là người ở trong cuộc, bị kẹt trong giáo lý cho đến khi thấy đạo rồi mới giật mình. Nhìn lại bạn đồng tu đang kẹt nên ngài phải nói nặng nề để người ta thức tỉnh. Nếu không thì cứ hài lòng cho đó là cứu cánh, như một số người tu học được mấy thời khóa tụng cho là đủ tu rồi. Sáng tụng, chiều tụng, bổn phận xong, tu như vậy chừng nào thành Phật?
Nhân giả! Chớ lầm thân mặc áo ghẻ bướu, học việc gì? Ăn cơm no rồi nói chân như Niết-bàn, dưới da lại có máu chăng? Cần phải có ý khí trượng phu mới được.
Các ông chớ mến thánh, thánh là danh từ rỗng. Đến tam giới mười phương thế gian, nếu có một hạt bụi, một pháp thật để cho các ông nhận lấy, sanh hiểu gìn giữ quý trọng, trọn rơi vào thiên ma ngoại đạo. Ấy là có học được, cũng là bọn tinh mỵ dã hồ nương cỏ dựa cây.
Áo ghẻ bướu là áo xác thịt này, là thân vô tích sự có học được gì. Ăn cơm no rồi nói chân như Niết-bàn, nói hoài chỉ nói dóc mà không thấy! Dưới da lại có máu chăng? Trong khắp cơ thể chúng ta chích chỗ nào mà không có máu. Cái đó là trùm khắp hết mà mình không nhận, cứ nói danh từ chân như, Phật tánh… Cái chân thật hiện hữu thì không nhận, như vậy có đáng tiếc không? Ngài bảo chúng ta phải có ý khí trượng phu, phải là con người gan dạ, xông tới vượt qua, không phải chỉ là con người hài lòng trên ngôn ngữ văn tự.
Tất cả danh từ, dù thánh hay phàm… cho đến khắp tam giới trọn không có một pháp thật. Nếu chấp vào đó thì rơi vào bọn tinh mỵ dã hồ nương cỏ dựa cây không có thật chất.
Các ông! Ta khoảng này không có một pháp cho các ông giải hội, tự mình cũng chẳng hội thiền. Ta cũng chẳng phải thiện tri thức, mọi việc đều không hiểu, chỉ biết đi ỉa đi đái, ăn cơm mặc áo, còn có việc gì?
Nói rằng khoảng này không có một pháp cho các ông giải hội, tức là cái đó không phải là pháp ngoài mình, tự mình phải nhận ra không ai cho được, ngài muốn chúng ta đừng nương tựa vào ngài nên nói tự mình cũng chẳng hội thiền. Ta cũng chẳng phải là thiện tri thức, nếu nói thiền đạo, nói tri thức cũng là danh từ, cái thật đó biểu hiện qua các oai nghi. Ngài nói: Đi ỉa đi đái, ăn cơm mặc áo, còn có việc gì? Như tôi thường nói mấy chú khi đi cầu chỉ đi cầu, khi ăn cơm chỉ ăn cơm, khi mặc áo chỉ mặc áo, khi đi tiểu chỉ đi tiểu… Có được vậy không, hay là ngồi trong cầu mà nghĩ đủ thứ chuyện? Lại có khi đứng trong chùa lại nghĩ chuyện ở đâu đâu, nghĩ tào lao tầm bậy. Không bao giờ chúng ta sống an ổn trong lòng, nó xao xuyến, lăng xăng lộn xộn, không trật tự, không có một chút làm chủ. Tu là gì? Tức là làm chủ tâm mình, khi làm cái gì biết cái đó, không thêm gì khác. Mấy chú thử ngồi năm phút bảy phút trong cầu thực là đi cầu thôi, không thêm cái gì, đó là tốt rồi. Đi tiểu, ăn cơm, mặc áo cũng như vậy. Đó là làm chủ được.
Lão Đức Sơn này khuyên các ông chi bằng giữ bổn phận đi, sớm thôi dứt đi, chớ học cuồng loạn, mỗi người gánh tử thi một cách linh hoạt đi.
Các lão trọc trong miệng ưa ăn đàm dãi của người, nói “Ta là người vào tam giới tu hạnh uẩn tích, nuôi lớn thai thánh, nguyện thành quả Phật”. Những bọn như thế, lão Đức Sơn này thấy như tên độc bắn vào tim, kim châm vào mắt, đã cô phụ tiên tổ, làm lụy tông của ta. Họ nói “Ta là kẻ xuất gia”, như thế ăn tiêu của thí chủ mười phương, thực sự một giọt nước cũng chẳng tiêu đặng, còn chẳng dám đi trên đất quốc vương, cha mẹ không nuôi món ngon vật lạ, đâu phải là không việc. Chớ lầm dụng tâm, vua Diêm-la sẽ thăm hỏi ngươi, sẽ xỏ mũi ngươi trói vào cột trụ để đền lại nợ trước. Chớ bảo lão tăng chẳng nói.
Ngài dạy chúng ta phải giữ bổn phận là cái gốc của mình. Chúng ta sống mang thân này gọi là gánh tử thi, gánh một cách linh hoạt đừng để nghiệp lỗi.
Bao nhiêu lời đó là nhiệt tình đáo để của ngài. Như tôi đã nói, nếu với tâm bình dị như mình thì ai làm gì mặc ai, không can dự gì tới mình. Nhưng với ngài thấy những người cho là học nhiều hiểu nhiều, gọi là nuôi dưỡng thánh thai, thành Phật quả, thấy như tên độc bắn vào tim, kim châm vào mắt chịu không nổi, rất đau đớn khổ sở, không thể làm thinh mà nhìn. Những người như vậy mà nói là xuất gia chẳng thể ăn tiêu của thí chủ mười phương, chính bản thân họ không nuôi cha mẹ, không tròn bổn phận với xã hội. Bây giờ thấy họ như không có việc gì, khi chết vua Diêm vương sẽ lôi xuống, trói vào cột đồng đền nợ trước, đừng tưởng vậy là sướng, là thong thả. Lúc đó chớ trách ngài sao chẳng nói. Vì thế tu mà không tìm đến nơi không thấy tới chốn thì dễ lầm lẫn, uổng một đời.
Các ông thật là có phước gặp Đức Sơn ra đời, vì các ông cởi dây trói buộc, thoát khỏi lồng giam, gỡ khỏi lưng ngựa, được làm người tốt, tam giới lục đạo bắt ông chẳng được. Lại không có pháp khác.
Cái sáng rỡ rỗng rang không ngại tự tại ấy, chẳng phải vật do các ông trang nghiêm được. Từ Phật đến Tổ đều truyền pháp này mà được xuất ly. Một Đại tạng kinh chỉ là chỉnh lý các ông hiện thời.
Ngài nói trắng giống như tổ Lâm Tế. Ngài muốn nhắc cho chúng ta có chỗ phấn khởi một chút, nên nói rằng gặp ngài ra đời vì cởi dây trói buộc thoát khỏi lồng giam. Vì chúng ta cố chấp, chấp thế này chấp thế kia, ngài gỡ những cái chấp đó là cởi dây trói buộc. Thoát khỏi lồng giam, lồng giam là lồng giam năm uẩn. Gỡ khỏi lưng ngựa, ngày xưa người ta trói những người bại trận trên lưng ngựa đem về. Ngài ra đời chỉ dạy cho chúng ta khỏi những cái khổ đó. Nhưng sự thật ngài nói không có pháp khác, chỉ có cái sáng rỡ rỗng rang không ngại tự tại ấy, ngài không nói nó ở đâu, không nói ở tai nghe như ngài Lâm Tế. Nhưng khi chúng ta ngồi yên năm phút mười phút trong lúc tọa thiền hay là lúc bình thường, tâm không có một niệm nào dấy khởi, con mắt có sáng không? Lỗ tai có thính không? Nó sáng rỡ không ngại. Vì dấy niệm là có ngại, lúc không có niệm thì cái đó là sáng rỡ vô ngại thênh thang, ngay nơi đó. Chính cái đó không phải do làm mà được, nên nói chẳng phải vật do trang nghiêm mà được. Từ Phật đến Tổ đều truyền cái ấy, một Đại tạng kinh để chỉnh lý mình cho thấy cái đó, nếu không chịu nhận thì rất là uổng.
Các ông chớ nhằm chỗ khác tìm kiếm, cho đến Đạt-ma – tiểu tăng mắt xanh nước Hồ – đến xứ này cũng chỉ dạy các ông Vô sự đi, dạy các ông chớ tạo tác, mặc áo ăn cơm, đi ỉa đi đái, lại không có sanh tử đáng sợ, cũng không Niết-bàn nên được, không Bồ-đề để chứng, chỉ là tầm thường một người Vô sự.
Nhất là, chớ khoanh tay làm thiền sư, tìm chỗ xuất đầu, dùng lời khéo léo lừa gạt kẻ hậu sanh, muốn được người gọi mình là Trưởng lão, trên phần của chính mình không chút dính dáng, vẫn là tâm thức lăng xăng ngày đêm tác quái chẳng dừng, tán thán trịnh trọng ta là tông đồ của Mã đại sư ở Giang Tây. Lão Đức Sơn này chẳng phải thế.
Chủ yếu của tổ Đạt-ma từ Tây sang là chỉ cho chúng ta làm người vô sự. Như lời của Tổ trong Thiếu Thất Lục Môn nói Vạn duyên buông hết, một niệm không sanh không phải vô sự là gì. Đây ngài nhắc lại, trong cuộc sống hiện tại khi ăn cơm, khi đi đại đi tiểu… những lúc đó cũng vẫn là vô sự. Làm gì thì cứ làm mà tâm không có một niệm, đó là tầm thường vô sự, không cần nói Niết-bàn Bồ-đề… Niết-bàn, Bồ-đề… là một lối nói, chỉ là văn tự không phải là cái thật.
Tỏ ra ta là thiền sư để tìm chỗ xuất đầu, tức là để cho mọi người biết đến quý trọng, thỉnh làm trụ trì chỗ này giáo hóa chỗ nọ. Như vậy là khéo léo lừa gạt kẻ hậu sanh, muốn được người tôn mình làm trưởng lão. Trên phần của chính mình không chút dính dáng, trong tâm thì còn lăng xăng lộn xộn. Vẫn là tâm thức lăng xăng ngày đêm tác quái chẳng dừng, chúng ta có khi nào không bị nó tác quái không? Nếu còn tác quái thì xứng đáng là thiền sư chưa? Như vậy để thấy rằng chuyện này không phải là chuyện thường, không phải là chuyện dễ.
Này hết thảy các ông! Ta thấy Hòa thượng Thạch Đầu ông già không biết tốt xấu, sở dĩ mắng các đồ đệ: “Các ngươi chớ mắc nơi thanh sắc, danh ngôn củ nghĩa, cảnh trí cơ quan, đạo lý thiện ác, phàm thánh, thủ xả, phan duyên, nhiễm tịnh, minh ám, hữu vô, trong các cái đáng nghĩ, được thế mới phải là người Vô sự. Phật cũng chẳng bằng ngươi, Tổ cũng chẳng bằng ngươi.”
Ngài dẫn lời của ngài Thạch Đầu để làm chứng. Ngài Thạch Đầu dạy chúng ta chớ mắc kẹt nơi thanh sắc, tất cả những gì đối đãi, những gì đáng ghi nhớ đừng kẹt đừng dính, như vậy mới là người vô sự. Được là người Vô sự rồi thì Phật cũng chẳng bằng ngươi, Tổ cũng chẳng bằng ngươi. Bởi vì được là người Vô sự rồi thì danh từ Phật tổ đối với mình đã vô nghĩa. Chỉ có cái đó mới là cái thật.
Nhân giả! Chớ chạy mòn gót chân các ông, không có thiền đạo nào khác có thể học. Nếu có học được, tức là hai đầu ba cổ, là kiến giải của ngoại đạo. Cũng không có thần thông biến hóa thật. Nếu ông nói thần thông là thánh thì chư thiên, long thần, tiên, ngoại đạo được ngũ thần thông và tu-la cũng có thần thông lý ưng là Phật sao?
Ở trên đảnh núi một mình, ngày ăn một bữa, ngồi mãi chẳng nằm, sáu thời lễ tụng, vẫn còn hồ nghi sanh tử. Lão Hồ (Phật) có nói: “Các hạnh vô thường là pháp sanh diệt.” Nếu nói nhập định ngưng thần tịnh lự mà được, bọn Ni-kiền Tử… các thầy ngoại đạo cũng nhập được đại định tám muôn kiếp, đâu chẳng phải là Phật ư? Phải biết rõ tà kiến tinh mỹ.
Ngài dạy chúng ta đừng chấp những hình thức huyền bí linh nghiệm, đừng ham thích thần thông biến hóa. Nếu thần thông biến hóa là Phật thì các vị thần tiên, ngoại đạo kể cả a-tu-la có thần thông cũng là Phật sao? Nếu cho thần thông là quan trọng thì không đúng.
Ngài quở lối chấp nhập định lâu, nếu nói nhập định được lâu là Phật, thì phái Ni-kiền Tử, các ngoại đạo… nhập định cũng thật lâu, như vậy họ cũng là Phật. Không nên lấy hình tướng bên ngoài cho là Phật. Cần thiết là phải thấy được cái chân thật chính mình, còn chạy theo bên ngoài tìm cầu thì tất cả đều sai, dầu cho ngồi thiền nhập định, đó chỉ là phương tiện để mình làm chủ, không phải là cái thật.
Nhân giả! Lão Hồ chẳng phải Thánh. Phật là cục cứt của lão Hồ. Cần thiết nhân giả biện rành tốt xấu, chớ mắc nhân ngã thì khỏi bị chư thánh cột, Bồ-đề cột, giải thoát, thù thắng, danh ngôn diệu nghĩa nhận chìm, trói buộc. Vì cớ sao? Vì một niệm vọng tâm chẳng sạch tức là sanh tử tiếp nối.
Nhân giả! Thời giờ chẳng đợi người, chớ để trôi qua tháng ngày, thời gian đáng tiếc. Lão tăng chẳng mong các ông làm kẻ tớ gánh vác ruộng nhà. Nếu các ông chấp nhận thì tin lấy, nếu chẳng chấp nhận thì mỗi người có một cái bát mang lên vai mà đi. Lão tăng cũng chẳng cần các ông.
Các lão trọc ở mọi nơi, một người chiếm cứ một xứ, nói thiền nói đạo, các ông mau đi học lấy chép lấy. Ta trong đây không có một pháp cho các ông.
Chúng ta cứ tưởng rằng Phật là trên hết, sự thật Phật chỉ là danh tự, danh tự đó là cái đồ bỏ của Phật không phải là cái thật. Bây giờ có những lối học rất là tội nghiệp, như giải thích danh từ Phật: đây là phiên âm tiếng Phạn của Buddha, Bud là gì? Dha là gì? Giải nghĩa, cổ âm… Cứ mắc kẹt ở danh từ, không biết Phật thật là gì. Càng học lại càng xa chân lý. Vì vậy ngài quở, nói đó là đồ bỏ, không đáng gì. Nếu còn mắc kẹt trên ngôn ngữ thì còn bị nhân ngã trói buộc. Những danh từ nào là Bồ-đề, giải thoát, thù thắng… đều là những cái trói buộc.
Vì một niệm vọng tâm chẳng sạch tức là sanh tử tiếp nối, chỉ lo chạy theo danh từ, khởi niệm tìm cầu thù thắng, vọng tâm không dứt nên sanh tử tiếp nối.
Ngài thiết tha khuyên chúng ta: Thời gian không đợi mình, cứ mỗi ngày qua mỗi ngày qua, hết ngày rồi đến già chết. Nếu để mất thời giờ vô ích như vậy thì rốt cuộc một đời rỗng không, có nghĩa lý gì! Ngài không muốn để chư tăng ở với ngài như kẻ tôi tớ săn sóc ruộng vườn. Mỗi người có một cái bát, nếu tin được thì ở tu, tin không được thì mang bát đi nơi khác.
Thiền viện chúng ta cũng vậy, ai tới để tìm thấy ứng dụng tu thì ở, nếu ai tới không bằng lòng mà để trôi hết thời giờ thì nên đi tốt hơn. Không phải cần nuôi người cho nhiều để tạo được nhiều ruộng vườn, đó là lợi dưỡng bên ngoài. Chủ yếu là làm sao mọi người thấy nơi mình có cái chân thật rồi ứng dụng tu, nên mọi phương tiện ở đây áp dụng cho mấy chú bớt tiếp khách, để sống được với cái thật của mình. Ở trong thiền viện đi tới đi lui cả buổi mà không ai nói chuyện với mình thì mới tập làm chủ được. Nếu mình ra khỏi nhà, khỏi chùa thì tới đâu cũng phải xã giao nói đủ chuyện. Tâm mình chạy nhảy chuyền cành như khỉ vượn, làm sao yên? Như ở đây ba tháng mà đi chừng mười bữa về thì tâm xáo trộn, rồi ở ba tháng đi mười bữa, xáo trộn, rất uổng công. Chúng ta phải uẩn tích cho thật mạnh, trí tuệ vững, cái gì đến mình không bị lay chuyển, chừng đó thì đi đâu không sao. Nếu mình chưa vững mà đi ra rồi tùy tục, tùy tục thì mất mình. Vì thế ở thiền viện hạn chế tiếp khách, hạn chế đi lại, mục đích làm sao cho tăng ni có thì giờ tập sống làm chủ từng phút từng giây. Như vậy khả dĩ mới tiến bộ, còn ở đây mà vẫn muốn đi nơi này nơi kia chơi cho thảnh thơi sung sướng, đó là niệm tu hành yếu đuối, không thật.
Nhân giả! Hỏi lấy học lấy để làm tri giải, lão tăng không thể vào địa ngục Bạt thiệt. Nếu có một hạt bụi, một pháp chỉ dạy cho người, nói rằng có Phật có pháp, có tam giới để ra, đều là dã hồ tinh mỹ.
Địa ngục Bạt thiệt là địa ngục cắt lưỡi. Tại sao đọa địa ngục đó? Vì nói dối, nếu học hỏi để làm tri giải thì ngài không thể dối gạt mà dạy cho kiến thức tri giải, vì như thế phải đọa địa ngục Bạt thiệt.
Nói có Phật pháp ngoài mình để cầu, để chỉ thì đó là dã hồ, tinh my, mỗi người phải tự thấy tự nhận ra cái thật của chính mình.
Chư nhân giả! Muốn biết được chăng? Chỉ là cái rỗng không, còn không có một mảy bụi có thể được, nơi nơi thanh tịnh, sáng rỡ rỗng suốt, trong ngoài đều sáng suốt, vô sự vô y, không chỗ nương gá thì có việc gì? Lão tăng từ sanh đến tử chỉ là lão Tỳ-kheo, tuy sanh trong tam giới mà không cấu nhiễm, còn muốn được ra khỏi chỗ nào? Dù có chỗ đi, cũng là lồng bẫy, ma sẽ có cơ hội thuận tiện.
Cái rỗng rang sáng suốt thanh tịnh không có một mảy bụi, cái đó là vô sự, vô y. Chính cái đó không có việc gì, không có chỗ để gá nương. Ai cũng sẵn có cái đó, chỉ cần vô sự. Chúng ta nếu muôn việc buông đi là vô sự, nếu đa mang nhiều quá thì không vô sự được. Sẽ có nhiều chú nói tôi làm tri khố buông đâu được, sáng trưa phải lo thức ăn cho chúng… Giờ nào lo thì lo chừng mười lăm phút rồi buông, ai bắt lo cả ngày? Nhiều cái không đáng lo mà cứ lo. Như mình đang ở trong liêu mà nghe ai nói chuyện trên chùa, chuyện không dính gì với mình mà cũng lắng nghe, lắng nghe rồi phê bình, như vậy có phải là can thiệp vào chuyện của người không? Chừng nào kêu tên mình hãy nói, còn chuyện đâu đâu cũng xúm lại thị phi rồi sanh sự. đây giờ tu thì tu, giờ học thì học, giờ ăn thì ăn, không lo sợ thiếu thốn, cứ thế mà tu, rất khỏe. Chỉ cần khéo một chút, chuyện của mình cố gắng làm cho tròn, chuyện không phải của mình thì bỏ qua. Đó là người vô sự.
Chỗ đến của ngài, sanh trong tam giới mà không cấu nhiễm. Đã không cấu nhiễm thì muốn ra khỏi không? Mong ra khỏi tam giới vì bị cột trói, nếu không bị cột trói thì mong ra khỏi làm gì? Cái gì cột chúng ta? Danh vọng, tiền tài, sắc đẹp… Ai cột? Chỉ ta tự dính thôi, chứ chẳng ai cột. Chính mình cột rồi kêu trời, nói tại trong tam giới ràng buộc quá, phải ra khỏi nó mới giải thoát.
Chỗ này rất hợp với câu của ngài Đạo Tín hỏi Tam Tổ, con muốn cầu giải thoát, nhờ Hòa thượng chỉ phương pháp giải thoát. Tổ hỏi, ai trói buộc ngươi? Đạo Tín thưa, không ai trói buộc. Tổ bảo, không trói buộc cầu giải thoát làm gì? Mình bị trói mới kêu người mở, không bị trói mà kêu mở làm gì? Nếu ở trong tam giới mà không nhiễm thì tự nó là giải thoát, đâu cần cầu giải thoát chi nữa. Giải thoát không ở ngoài mình, chúng ta cứ kêu nài cầu cứu cái gì ở ngoài đem lại cho mình, không ngờ chính mình là chủ nhân mở trói. Ta tự cột không chịu mở, lại đi nhờ người mở, mở mối này cột mối khác, ai mở cho nổi. Người bên ngoài chỉ giúp mình một phần nhỏ, chủ là mình tự giải quyết, không ai thay thế được. Khi chết có ai thế cho mình hết nghiệp được không? Hiểu như vậy mới thấy giá trị của việc tu.
Nhân giả! Chớ dụng thân tâm, vì không thể được, chỉ cần trong tất cả thời chớ kẹt nơi thanh sắc, cốt phải những hành lý từ trước một lúc ném hết, chóng thoát xiềng xích, hằng lìa cái (ngũ cái) triền (thập triền). Một niệm không sanh thì mé trước mé sau dứt, không nghĩ không nhớ, không một pháp hợp tình.
Ngài dạy chúng ta, đầu tiên là đừng kẹt thanh sắc, kế đó thì những hành vi từ trước một lúc ném hết. Hành vi từ trước là gì? Bao nhiêu buồn thương giận ghét, hiểu biết lăng xăng, những tích lũy từ bao nhiêu năm ném sạch đi. Như vậy mới thoát được xiềng xích, lìa được ngũ cái thập triền. Nếu một niệm không sanh thì mé trước mé sau đều dứt, không khởi niệm thì có niệm trước, niệm sau không? Không nghĩ không nhớ, không có một pháp hợp tình, tức là không có pháp thích ứng để mình đuổi theo.
Nhân giả! Làm sao cắm mỏ xuống, các ông nhiều tri giải, đã từng biết mặt mày y chăng? Kẻ xuất gia, cho đến bậc Bồ-tát Thập địa mãn tâm tìm dấu vết của y cũng chẳng được. Do đó, chư thiên hoan hỷ, địa thần đỡ chân, mười phương chư Phật khen ngợi, ma vương khóc lóc. Vì cớ sao? Bởi cái rỗng không này hoạt bát rạng ngời, không cội gốc, không chỗ nơi. Nếu người đến được trong ấy, con mắt đứng chớp đều không liên hệ.
Nếu chúng ta còn mang nhiều tri giải thì cắm mỏ xuống không nói được, không thể nào biết mặt y. Đó là chỗ hàng Bồ-tát Thập địa mãn tâm cũng không thấy dấu vết, người biết được cái đó rồi thì chư thiên hoan hỷ, địa thần đỡ chân, mười phương chư Phật đều khen ngợi, ma vương liền khóc lóc. Thế nào là ma vương khóc? Như trong chúng ta có một người bình thường hay nói chuyện vui vẻ với huynh đệ, đến một lúc họ tỉnh họ sống được với cái đó, họ lơ là không nói gì với ai, những người trước kia thân thiết với họ có buồn không? Buồn! Bạn tu thì buồn còn ma vương thì khóc. Có mấy con ma mang lốt người, nó thấy người đó dễ thương muốn tới nói chuyện dụ dỗ mà người đó không ngó ngàng gì tới, con ma thất bại nên khóc. Người tu phải đến chỗ đó mới là chỗ chân thật vững chắc.
Bởi vì cái rỗng không này nó hoạt bát rạng ngời không cội gốc, không chỗ nơi. Cái chân thật này hoạt bát hằng thấy hằng nghe, chẳng phải ù lỳ không biết gì. Ở mắt thì sáng ngời, ở tai thì rất thính, ở đâu cũng linh hoạt. Khi tâm chúng ta thanh thản rỗng thênh lúc đó các cơ quan rất sáng. Chính cái sáng hoạt bát rạng ngời không chỗ nơi là vô y, vô sự. Người đến được trong ấy thì con mắt dầu đứng lặng hay chớp nháy cũng đều trúng.
Nhân giả! Chớ cầu Phật, Phật là kẻ giặc đại sát nhân lừa bao nhiêu người rơi vào hầm ma dâm. Chớ cầu Văn-thù Phổ Hiền, là kẻ tớ ruộng nhà. Đáng tiếc, là bậc trượng phu đường đường mà uống thuốc độc của người. Bèn toan làm Thiền sư, trước mặt thấy thần thấy quỷ, về sau cuồng loạn chạy sang nhà bên tìm Sư bà đập ngói bói cho. Bị các lão trọc vô tri xủ quẻ bảo lễ quỷ Tổ sư, quỷ Phật, quỷ Bồ-đề Niết-bàn. Kẻ dâm nữ ấy chẳng hội, liền hỏi “Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?” Lão trọc kia liền đánh giường thiền làm cảnh, hoặc dựng phất tử, bảo “trời trong tốt, mưa tốt, lồng đèn tốt”, lời lẽ khéo léo gượng làm tiết mục, có huyền lộ, điểu đạo, xòe tay. Nếu nhận những lời nói như thế, khác nào đem bát báu đựng đồ dơ, như đem phẩn làm hương chiên-đàn.
Ngài nói tới nói lui để quở trách, chúng ta có một cái sáng rỡ thanh tịnh như vậy mà cứ chạy đi cầu Phật cầu Bồ-tát. Phật là kẻ giặc đại sát nhân, vì càng cầu càng mất, cầu Phật là mất mình. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: Cúng dường một trăm người không giữ giới chẳng bằng cúng dường một người giữ giới, cúng dường một ngàn người giữ giới không bằng cúng dường một vị Tỳ-kheo, cúng dường trăm ngàn vị Tỳ-kheo không bằng cúng dường một vị chứng A-la-hán… cho đến cúng dường trăm ngàn đức Phật không bằng cúng dường một đạo nhân vô tu vô chứng. Đạo nhân vô tu vô chứng là người sáng rỡ hiện tiền, Phật còn thua người này. Chỉ người đó là hơn hết, chúng ta quên người đó lại chạy đi cầu Phật, giết người này đi tìm Phật, nên nói Phật là kẻ đại sát nhân. Cho đến Văn-thù Phổ Hiền là kẻ tớ của người này, không nhận ra mà nổi loạn phát cuồng đi bói, bị lừa gạt chỉ dạy cầu người này, cầu cái kia, thờ chỗ nọ, bày biện đủ thứ chuyện… Ngay nơi mình đã có cái trong sạch sáng ngời mà không sống, không giữ được, đi tìm những cái khác giống như đem bát báu mà đựng đồ dơ. Chúng ta đã có cái sáng suốt thanh tịnh, không chịu nhận mà đi tìm những danh từ Phật, danh từ Bồ-tát… để dồn vô. Như vậy cái thanh tịnh mà dồn cái này cái kia vô làm lộn xộn, đó là bát báu mà đựng đồ dơ, đem phẩn trâu làm chiên-đàn.
Nhân giả! Kia đã là trượng phu, ta cũng vậy, khiếp nhược với ai mà trọn ngày đến các lão trọc mọi nơi nhận lấy đàm dãi của họ, trọn không biết hổ thẹn. Khổ thay! Khổ thay! Làm cuồng loạn ngươi, nhân quả rõ ràng sẽ làm thân trâu kéo cày mang bừa.
Hoặc kẻ tròng mắt chợt hiện, khí lực chẳng thêm, dùng gậy to đập xương sống ông, ăn cướp áo cơm của Phật, nói “Ta tu hành xong”.
Đức Phật đã nhận được như thế nên gọi ngài là Phật, chúng ta cũng có cái đó tại sao không nhận lại chạy đi cầu ngài? Phật là trượng phu mình cũng là trượng phu, vậy có gì thua mà khiếp nhược?
Ngài quở những người tròng mắt chợt hiện, tức là mới sáng một chút lóe một chút, hiểu được một chút, khí lực chẳng thêm, tức là đạo đức tu hành chưa tăng, lại dùng cách này cách kia để tỏ mình là thiền sư, nói Ta tu hành xong. Đó là lừa gạt chúng sanh. Gần đây có những gã học đạo tu hành có thấy được chút chút gì đó rồi tự mãn tự khoe, ăn thịt uống rượu, cho ta là xong việc, đó là cướp áo cơm tín thí.
Sư dạy chúng:
– Có khi cưỡi đầu cọp nắm đuôi cọp, câu thứ nhất rõ tông chỉ, khi không nói thấy bày cơ phong, như đồng điện chớp.
Ngài nói có khi cưỡi đầu cọp, cũng có khi nắm đuôi cọp, câu thứ nhất thông tông chỉ, như trong tam cú của Lâm Tế. Câu thứ nhất là thể, nên nói: Trong đệ nhất cú tiến được kham cùng Phật tổ làm thầy, câu thứ hai thì cùng thiên nhân làm thầy.
Sư có bệnh, Tăng hỏi:
– Lại có cái chẳng bệnh chăng?
Sư đáp:
– Có.
Tăng hỏi:
– Thế nào là cái chẳng bệnh?
Sư bảo:
– Ôi da! Ôi da!
Sư lại bảo chúng:
– Chụp không tìm tiếng luống nhọc tâm thần các ngươi; mộng tỉnh, tỉnh rồi trọn không có việc gì.
Nói xong, Sư ngồi yên mà tịch. Nhằm đời Đường niên hiệu Hàm Thông năm thứ sáu (865), ngày mùng ba tháng chạp năm Ất Dậu. Sư thọ 86 tuổi. Vua sắc thụy Kiến Tánh đại sư.
Cái biết rên đó là bệnh hay không bệnh? Chúng ta tu, giả sử lát nữa chết, thấy rõ thân lạnh từ dưới chân lạnh lần lên. Nếu thấy rõ cái chết thì mình khỏi chết. Thấy biết rõ tức là không theo cái chết, như vậy mới sống được với cái thật. Cái chẳng bệnh là cái biết đau, cái đó không bệnh. Bệnh là thân bệnh, chỗ này hư chỗ kia hoại, cái biết hư hoại đó không bệnh. Vì vậy khi Tăng hỏi cái gì chẳng bệnh, ngài nói Ôi da! Ôi da!
Chụp không tìm tiếng, muôn sự vật ở thế gian này đều là duyên hợp, không có thật. Chúng ta đuổi theo nó chẳng khác nào chụp bắt hư không. Âm thanh cũng thế, có thật đâu mà cứ đuổi theo nó khiến nhọc tâm thần. Mộng tỉnh, khi tỉnh mộng rồi thì trọn không có việc gì. Trong bài Mộng câu chót tôi nói Biết được mộng, tỉnh cơn mộng, ngang đây tỉnh rồi trọn không có việc gì.
Việc tu của chúng ta là phải biết rõ nơi mình có cái thật, những cái giả chúng ta đang mê đều như mộng, đuổi theo làm chi vô ích. Gìn giữ tứ đại, mê thanh sắc đều là đuổi theo mộng. Tứ đại, thanh sắc hiện tại thấy có rồi ngày sau đâu còn, không phải mộng là gì? Ngay nơi đó biết là mộng thì cái biết mộng không phải mộng.
Về cuộc đời của ngài Đức Sơn, nếu chúng ta không hiểu rõ thì dễ sanh chấp, rất có hại. Ngài Đức Sơn có những điểm:
Thứ nhất là nhiệt tình. Đối với đạo muốn tiến đến chỗ cứu cánh mà thiếu nhiệt tình cũng khó tiến, muốn lợi ích cho nhiều người mà thiếu nhiệt tình cũng khó làm được. Nhiệt tình là then chốt đưa chúng ta tới cứu cánh. Ngài Đức Sơn là một con người nhiệt tình, buổi đầu xông pha đi ruồng đuổi đám ma thiền, khi ngộ thiền rồi thì dám đem kinh đốt hết. Như vậy để thấy ngài hết sức gan dạ dứt khoát.
Thứ hai, ngài nói chỗ đã làm đã sống được, không phải nói để khoe ngôn ngữ khoe kiến giải. Bởi ngài đã sống được nên muốn dẹp hết cố chấp sai lầm của người tu. Ngài không dùng những lời văn vẻ, mà nói những lời thô nặng để mọi người thấy chỗ sai lầm dở yếu của mình. Thấy rồi thức tỉnh, sửa đổi để nhanh chóng thấy đạo. Ngài Đức Sơn vừa nhiệt tình vừa sống được với đạo, ngài nói như vậy làm như vậy không có lỗi. Nếu chúng ta nhiệt tình không có, đạo thì chưa sống được mà nói theo, bắt chước làm theo thì sao? Cửa địa ngục mở ra mời chúng ta.
Chúng tôi cố tránh né không dám lạm bàn những ngôn ngữ và hành động của chư thiền đức. Bởi lẽ không muốn độc giả nhai lại những bã xác mía khô, để mỗi độc giả tự thưởng thức vị cam lồ của chính mình phát minh.
Nhưng, qua ngôn ngữ của ngài Đức Sơn, nếu chúng tôi không bàn e có nhiều độc giả hiểu lệch lạc, khiến bản nguyện của chúng tôi không đạt được, mà có thể trái lại là khác. Do đó, chúng tôi có ít lời bình như sau:
Đức Sơn là một ngôi sao sáng trong thiền môn vào thời Đường mạt. Những thiền sinh đến tham vấn đa số được ngài cho ăn gậy. Mỗi khi thượng đường dạy chúng, ngài thường dùng những ngôn ngữ táo bạo, mà người ta gọi là “mắng Phật mạ Tổ”.
Vì sao Đức Sơn có hành động ngôn ngữ ấy? Bởi lẽ ngài quá NHIỆT TÌNH, nói theo danh từ nhà thiền là có “tâm lão bà”. Khi ngài cất gánh kinh lên vai sang phương Nam, không vì tìm hiểu thiền, mà cốt “tiêu diệt chúng ma quái (thiền tông) để báo ơn Phật”. Tâm niệm ấy, đã nói lên ngài là sứ giả của Luật, Giáo. Luật, Giáo là lý tưởng tối thượng đời ngài phải phụng thờ. Như vậy, ngài sang phương Nam với nhiệt tình hộ pháp “tồi tà phụ chánh” (dẹp tà giúp chánh).
Sau khi gặp Long Đàm, lý tưởng tối thượng của ngài tôn thờ đã trở thành hình ảnh chết, là cặn bã của người xưa. Chí nguyện “tồi tà phụ chánh” của ngài đã tan biến như mây khói, hay ngược lại chính ngài tự thấy mình là người “phụ tà tồi chánh” (giúp tà dẹp chánh). Đột biến bất thần ấy, khiến ngài mang gánh kinh ra trước pháp đường thiêu sạch.
Có ngồi nhà giam mới biết thương những người bị giam, đó là nhiệt tình của Đức Sơn qua giai đoạn hai.
Thiền, Đạo là cái linh minh hiện hữu nơi mình. Song vừa khởi tâm tìm nó liền mất, mong thấy nó đã chẳng hiện. Nó không phải những văn tự khô cằn, cũng không phải ngôn ngữ sanh diệt. Bám vào văn tự, vào ngôn ngữ để cầu thiền cầu đạo thật là đại sai lầm. Bỏ mình đi cầu thiền cầu đạo nơi người, thật là việc “cưỡi trâu tìm trâu”, “Bính Đinh cầu hỏa”.
Nhưng, nhà giam văn tự ngôn ngữ, dây xiềng cầu cạnh bên ngoài đã và đang giam giữ xiềng xích bao nhiêu người có thiện chí học đạo. Do đó, với nhiệt tình của Đức Sơn phải đập tan nó bằng gậy, mạt sát chúng bằng lời, hầu mong cởi trói cho mọi người. Đúng như lời bình của Vân Môn sau này “chỉ có Đức Sơn mới hay khen ngợi Phật, Tổ”.
Phật, Tổ cố lập mọi phương tiện để phá chấp cho chúng ta. Chúng ta không mượn phương tiện ấy để gột sạch vọng chấp của mình, trái lại bám lấy phương tiện cho là cứu cánh, thật là tự lấy dây trói mình. Khi đã bị trói rồi, chạy cầu người khác mở trói. Đó là từ sai lầm này sang sai lầm khác, cả đời lẩn quẩn làm sao thoát được!
Ai đã có “tâm lão bà” trông thấy thế mà chẳng thương? Huống nữa Đức Sơn là một nạn nhân vừa thoát nạn, trông thấy bạn đồng hành của mình đang bị bao vây, làm sao không có những cái đánh tóe lửa, những lời mắng tét tai, lấy làm phương tiện cứu cấp.
Cho nên đọc Đức Sơn, chúng ta đừng khó chịu bởi ngôn ngữ và hành động của ngài, vì biết đó là phương tiện cấp bách, cũng đừng bắt chước ngôn ngữ ấy để phỉ bảng Tam bảo mà phải đọa địa ngục. Chúng ta cần phải học nhiệt tình của Đức Sơn, và cốt nhận ra chỗ chí yếu mà ngài muốn chỉ dạy.